1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012

65 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Ban Chấp Hành TP. Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Năng lượng – Môi trường
Thể loại Nghiên cứu khoa học cấp thành
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 15,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những vấn đề trên, đề tài “Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của hộ gia đình quận Gò Vấp – thành phố Hồ Chí Minh” ra đời, góp phần giải quyết mộ

Trang 1

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM & HIỆU QUẢ

Mã số công trình : ………

Trang 2

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN NGÀNH: SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM & HIỆU QUẢ

Mã số công trình : ………

Trang 3

1 BVMT: Bảo vệ môi trường

2 CBVC: Cán bộ viên chức

3 HGĐ: Hộ gia đình

4 ÔNMT: Ô nhiễm môi trường

5 TKĐ: Tiết kiệm điện

6 TP HCM: thành phố Hồ Chí Minh

7 UBND: Ủy ban Nhân dân

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Cơ sở lý luận về nhận thức: 9

1.2 Định nghĩa thói quen: 11

1.3 Tổng quan về hộ gia đình: 11

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẬN GÒ VẤP 15

2.1 Các điều kiện tự nhiên: 15

2.2 Tình hình kinh tế - xã hội: 18

2.3 Thực trạng sử dụng điện: 19

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Thông tin về hộ gia đình: 25

3.2 Nhận thức về Tiết kiệm điện (TKĐ) của các hộ gia đình quận Gò Vấp: 26

3.3 Thói quen về việc sử dụng các thiết bị tiêu thụ điện của hộ gia đình quận Gò Vấp: 34

3.4 Nguồn thông tin tiếp nhận của hộ gia đình quận Gò Vấp về tiết kiệm điện: 45

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM ĐIỆN TRONG HỘ GIA ĐÌNH 49

4.1 Đề xuất của nhóm: 49

4.2 Các biện pháp của người dân: 53

KẾT LUẬN 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 58

Trang 5

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Điện năng là một trong những nguồn cung cấp năng lượng chính không những cho sản xuất mà cho cả sinh hoạt Không chỉ riêng ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia khác trên thế giới, hiện nay vấn đề sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng đang trở thành một vấn đề cấp bách Nhu cầu sử dụng điện năng ngày càng gia tăng, và để đáp ứng được sản lượng điện cần thiết đó đã kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng (điện năng được sản xuất chủ yếu từ nhiệt điện, sẽ kéo theo hàm lượng khí CO2 gia tăng nhanh chóng và đáng kể, góp phần làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, )

Cùng với mục tiêu ứng phó và khắc phục với Biến đổi khí hậu, giảm sự gia tăng nồng độ khí CO2, giảm sản lượng điện năng tiêu thụ là một trong những vấn đề then chốt

Việt Nam, để thực hiện mục tiêu này đã cho ra đời Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (giai đoạn 2006 – 2015); trong đó, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hộ gia đình là một trong những mục tiêu của Chương trình Chính vì những vấn đề trên, đề tài “Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của hộ gia đình quận Gò Vấp – thành phố Hồ Chí Minh” ra đời, góp phần giải quyết một phần nhỏ nhu cầu hiện tại

Đề tài đã làm đi sâu tìm hiểu được nhận thức và thói quen sử dụng một số thiết

bị điện chính trong gia đình của đối tượng nghiên cứu Nhận thấy có sự khác nhau về nhận thức cũng như thói quen sử dụng các thiết bị điện này giữa các nhóm hộ gia đình

Từ đây, đề tài đưa ra được sự chênh lệch, khác biệt đó giữa các nhóm đối tượng Đồng thời đề tài đã đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen sử dụng hiệu quả các thiết bị điện

Mặc dù chỉ có thể dừng lại ở việc nghiên cứu trên địa bàn quận Gò Vấp, thế nhưng kết quả của đề tài có thể đại diện cho nhận thức và thói quen sử dụng một số thiết bị điện chính của các hộ gia đình thành phố Hồ Chí Minh Và những đề xuất của

đề tài hy vọng không chỉ có thể được áp dụng thực tiễn ở quận Gò Vấp mà trên toàn thành phố Hồ Chí Minh và cả nước

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo, là cơ sở cho những công trình nghiên cứu khác, có quy mô lớn hơn

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề cung ứng và sử dụng điện luôn được sự quan tâm rất lớn ở tất cả các nước trên thế giới Sản lượng điện tiêu thụ liên tục tăng để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện trong sinh hoạt và các hoạt động sản xuất… Tuy vậy, sản lượng điện vẫn không đủ đáp ứng như cầu thực tế Trong khi đó, sản lượng điện sản xuất ra chủ yếu là nhiệt điện cho nên đòi hỏi phải có nguồn nguyên liệu đầu vào là than Sử dụng than sản xuất điện sẽ gây ô nhiễm trực tiếp đến môi trường không khí, hậu quả là có thể kéo theo các hiện tượng mưa axit, nghiêm trọng hơn là sản sinh các khí nhà kính, đặc biệt là khí CO2, một trong những tác nhân chính của biến đổi khí hậu toàn cầu Chính vì vậy vấn đề sử dụng điện một cách có hiệu quả luôn là một yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia trong tình trạng thiếu điện cho việc phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đó

Trong những năm gần đây quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng ở Việt Nam, quận Gò Vấp là một trong những quận chịu ảnh hưởng rõ nhất của quá trình này Để phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nên đòi hỏi nhu cầu tiêu thụ điện trên địa bàn quận ngày càng tăng Mặc dù được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương cũng như là sự cố gắng của ngành điện nhưng tình trạng thiếu điện luôn là thách thức lớn cho sự phát triển của địa phương Để đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững trong tương lai, đặc biệt là vấn đề cung ứng điện Đã có nhiều giải pháp về mặt kỹ thuật, cũng như pháp luật để sử dụng điện một cách hiệu quả và tiết kiệm Tuy nhiên, vấn đề nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đóng một vai trò rất quan trọng và thiết thực trong việc tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả vẫn chưa được chú trọng nhiều

Thông qua việc tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng điện của người dân trên địa bàn quận Gò Vấp Có thể giúp cho chúng ta có những nhìn nhận đúng hơn về thực trạng nhận thức và thói quen của người dân về tiết kiệm và sử dụng năng lượng

hiệu quả Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Tìm hiểu

Trang 7

nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận

Gò Vấp – thành phố Hồ Chí Minh”

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Hiện nay những đề tài nghiên cứu về nhận thức và thói quen sử dụng điện còn nhiều hạn chế Đa phần các đề tài nghiên cứu chỉ chú trọng đến việc quản lý sử dụng điện ở các tòa nhà hoặc cơ quan xí nghiệp lớn; như đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng giảm phát thải khí nhà kính trong các tòa nhà cao tầng ở Việt Nam” (2008 – 2009), đề tài “Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất hóa chất và ngành thép ở Việt Nam” (2008), đề tài “Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý

và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất giấy & bột giấy và công nghiệp thực phẩm ở Việt Nam” (2009) của PGS.TS Phạm Hoàng Lương Các đề tài này đã nêu ra được những biện pháp để hạn chế hoặc sử dụng điện một cách hợp lý

và tiết kiệm nhất có thể Trong các đề tài này việc quản lý một cách hiệu quả nhất đó

là sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện và việc thiết kế các văn phòng làm việc có nhiều ánh sáng mặt trời hơn Các nhân viên của các tòa nhà hay các đơn vị này kiểm tra một cách thường xuyên hơn việc sử dụng các thiết bị điện

Các để tài còn tập trung nghiên cứu vào các giải pháp kỹ thuật; như các luận văn thạc sĩ “Lựa chọn cấp điện áp tối ưu cho lưới điện cung cấp điện miền núi”, đề tài

“Lựa chọn tiết diện dây dẫn theo điều kiện kinh tế thị trường” Các giải pháp kỹ thuật

ở đây gổm có: sản xuất thiết bị tiết kiệm điện, nâng cấp đường dây, thiết kế lại kết cấu nhà ở để có độ chiếu sáng cao hơn… Mục đích chính của đề tài luận văn thạc sĩ “Lựa chọn cấp điện áp tối ưu cho lưới điện cung cấp điện miền núi” là tìm ra cấp điện áp tối

ưu có hiệu quả kinh tế đối với khu vực miền núi Trong đề tài này đã thực hiện được những việc như: nghiên cứu, phân tích đánh giá các ưu nhược điểm của các cấp điện

áp Nghiên cứu một số phương pháp lựa chọn điện áp Tính toán cấp điện áp tối ưu cho địa bàn huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên Mục đích của đề tài “Lựa chọn tiết diện dây dẫn theo điều kiện kinh tế thị trường” nhằm nghiên cứu áp dụng phương pháp lựa chọn tiết diện dây dẫn theo các chỉ têu kỹ thuật có tính đến các điều kiện kinh tế: dây dẫn chọn đảm bảo các tiêu chí về mặt kỹ thuật và phù hợp với các điều kiện về tài

Trang 8

chính, kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập và phát triển, nêu lên được sự ưu việt của phương pháp

Ngoài ra các đề tài còn tập trung vào việc truyên truyền tiết kiệm điện thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Mục tiêu của chương trình là tiết kiệm từ 3% đến 5% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn 2006 – 2010 và từ 5% đến 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn 2011 – 2015 so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng và phát triển kinh tế - xã hội theo phương án phát triển bình thường Đối tượng của chương trình là tất cả các cá nhân tổ chức trong xã hội Đây là một chương trình đang được thực hiện có thời gian từ năm 2006 đến 2015

3 Tính mới của đề tài:

Chúng tôi đã chọn và quyết định thực hiện đề tài này bởi lẽ đây là một vấn đề khá mới mẻ có tính thời sự cao trong giai đoạn hiện nay Vì việc tiết kiệm điện ở nước

ta đã trở thành một đề tài khá nóng trong những năm gần đây, nguyên nhân chính là do việc thiếu điện ở nước ta diễn ra khá thường xuyên, đặc biệt là vào mùa khô Chính vì vậy những nhận thức và thói quen sử dụng điện tiết kiệm sẽ góp phần làm giảm bớt tình trạng thiếu điện, bên cạnh đó góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường không khí nói riêng, hạn chế các hiện tượng nguy hại như mưa axit, làm giảm sự phát thải khí nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường trái đất

Việc nghiên cứu nhận thức và thói quen của các hộ gia đình trong việc sử dụng điện sẽ giúp cho các nhà quản lý có những biện pháp và chính sách pháp triển của ngành điện nói riêng và phát triển kinh tế nói chung được tốt hơn

Bên cạnh đó, qua tìm hiểu về nhận thức và thói quen sử dụng hiệu quả và tiết kiệm điện, đề tài sẽ giúp ta biết được thực trạng sử dụng điện của hộ gia đình, từ đó sẽ đưa ra những cách hiệu quả nhất cho từng nhóm đối tượng khác nhau

4 Mục đích của đề tài:

- Tìm hiểu nhận thức của các hộ gia đình về tiết kiệm năng lượng

- Tìm hiểu thói quen sử dụng các thiết bị điện trong gia đình

 Tìm hiểu mối liên hệ giữa nhận thức và thói quen sử dụng các thiết bị điện trong gia đình của các hộ gia đình được khảo sát trên địa bàn quận Gò Vấp

Trang 9

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức và thói quen sử dụng một số thiết bị điện chính trong gia đình

5 Nhiệm vụ của đề tài:

- Khảo sát thực tế quận Gò Vấp

- Lập đề cương chi tiết cho đề tài

- Lập bảng hỏi và tiến hành phát bảng hỏi

- Xử lý thông tin trong bảng hỏi và các tư liệu thứ cấp từ các cuộc khảo sát

- Đưa ra nhận xét và kết luận về thói quen và nhận thức của người dân về tiết kiệm điện

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:

6.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa là phương pháp rất quan trọng, để nắm rõ địa bàn cũng như tìm hiểu khái quát về quận Gò Vấp Chúng tôi đã tiến hành hai cuộc khảo sát chính: khảo sát sơ bộ và khảo sát chi tiết

- Ở lần khảo sát sơ bộ, tìm hiểu khái quát về Gò Vấp nhằm tiến hành lập đề cương cho

đề tài

- Ở lần khảo sát chi tiết, nhằm tìm hiểu rõ địa bàn cư trú của các đối tượng hộ gia đình,

và các cơ quan cần xin tư liệu Để tiến hành phát bảng hỏi và xin tư liệu

đề tài: Chọn mẫu thuận tiện, Chọn mẫu phán đoán, Chọn mẫu kim ngạch

Ưu điểm của phương pháp: có độ tin cậy cao trên tổng số mẫu được nghiên cứu

Nhược điểm: nghiên cứu trên các đối tượng mẫu được chọn có giá trị suy rộng thấp, không thể khái quát hóa ra ngoài phạm vi mẫu được nghiên cứu

Trang 10

Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng nghiên cứu, ở những nơi mà chúng tôi có nhiều khả năng gặp được đối tượng nghiên cứu

Do giới hạn về thời gian và kinh phí nên chúng tôi chỉ có thể thực hiện được

130 phiếu bảng hỏi Tuy số mẫu nghiên cứu không quá nhiều nhưng kết quả thu được cũng đủ để chứng thực cho mục đích nghiên cứu Nếu có thêm thời gian và kinh phí thực hiện, với số lượng mẫu được nghiên cứu tăng thêm chắc chắn sẽ củng cố thêm tính chính xác của đề tài

Các phiếu hỏi được điều tra ở các phường: Phường 1, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 10, Phường 11 và Phường 15 Do số lượng mẫu không quá nhiều, đồng thời do các phường trên tập trung hầu hết các thành phần hộ gia đình (nghề nghiệp chính trong gia đình) nên chúng tôi chọn các phường trên làm điểm phát bảng hỏi Như vậy đại diện mẫu sẽ chính xác hơn, tăng độ tin cậy cho đề tài

6.3 Phương pháp lập bảng hỏi:

Dựa vào mục đích của đề tài, bảng hỏi được thiết kế gồm 3 phần chính sau:

- Thông tin hộ gia đình

- Nhận thức hộ gia đình về tiết kiệm điện

- Thói quen sử dụng các thiết bị điện của hộ gia đình

Bảng hỏi với mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa nhận thức và thói quen sử dụng các thiết bị điện của các hộ gia đình ở quận Gò Vấp

6.4 Phương pháp xử lý thông tin sơ cấp:

Các số liệu được thu thập được thông qua phiếu bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS

SPSS là phần mềm chuyên dụng xử lý thông tin sơ cấp: thông tin được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu (người trả lời các câu hỏi) thông qua một bảng câu hỏi được thiết kế sẵn

Sau khi lọc số liệu, mã hóa số liệu và tiến hành nhập số liệu vào SPSS, chúng tôi sử dụng các công cụ chính sau:

Công cụ được sử dụng chủ yếu từ phần mềm SPSS là tạo ra các giá trị (%): Analyze  Discreptive Statistics  Frequencies nhằm tìm ra tần số xuất hiện của các giá trị được phỏng vấn trong bảng hỏi

Trang 11

Đối với các câu hỏi gồm nhiều biến trả lời, sau khi xử lý tần suất Frequencies, tiếp đến chúng tôi tạo biến gộp cho những câu hỏi này Các bước tiến hành như sau: Analyze  Multiple  Respones  Define Set

Chọn các biến sơ cấp ở Set Definition để chuyển sang Variables in Set, sau đó

ấn nút Add để đưa tên nhóm vừa xác định vào hộp Multi Response Sets; đặt tên cho nhóm đa biến (tối đa 7 ký tự) và nhãn (tối đa 40 ký tự) vào các hộp Name và Lable

Để xuất dữ liệu của biến gộp, tiến hành: Analyze  Multiple Response  Frequencies

Bên cạnh đó, để tìm hiểu mối liên hệ giữa hai biến với nhau, chúng tôi sử dụng công cụ Crosstabs Các bước tiến hành như sau: Analyze  Descriptive Statistics  Crosstabs Để xuất dữ liệu của biến Crosstabs, tiếp đến chọn Cell (chọn hình thức xuất

dữ liệu là lượng số phiếu được chọn hay tỉ lệ % theo cột, theo hàng, hay theo tổng cộng)  Chọn Continous

Với mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa ba biến với nhau, chúng tôi sử dụng công cụ: Analyze  Tables  Genaral Table

6.5 Phương pháp thu thập số liệu:

Dựa vào đề cương chi tiết, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin cho đề tài từ các cơ quan liên quan, như Phòng Tài Nguyên & Môi trường, Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội quận Gò Vấp

Trang 12

 Về địa bàn nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn quận Gò Vấp, phiếu bảng hỏi chỉ được khảo sát ở một số phường (Phường 1, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 10, Phường 11 và Phường 15)

 Về nội dung: bảng hỏi khảo sát còn thiếu tính chuyên sâu, một số câu hỏi mang tính cảm tính, chưa có giới hạn rõ ràng

8 Ý nghĩa của đề tài:

Kết quả thu được sau quá trình nghiên cứu, tìm hiểu sẽ phản ánh chính xác hơn

về thực trạng nhận thức cũng như thói quen sử dụng một số thiết bị điện chính trong gia đình của hộ người dân ở địa bàn quận Gò Vấp nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung

Từ kết quả thu được, đề tài đã đề xuất một số giải pháp về mặt kỹ thuật và phi

kỹ thuật nhằm góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen tốt trong việc sử dụng một số thiết bị điện gia dụng chính cho đối tượng nghiên cứu Mặc

dù thí điểm nghiên cứu ở quận Gò Vấp, nhưng những đề xuất này có thể áp dụng rộng rãi trên toàn địa bàn thành phố và các tỉnh, thành khác

Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo, là cơ sở cho các công trình nghiên cứu khác sau này

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cơ sở lý luận về nhận thức:

1.1.1 Khái niệm nhận thức:

Theo quan điểm triết học Mác-Lenin: “Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan”.(1)

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.(2)

1.1.2 Các giai đoạn của nhận thức:

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong

1.1.2.1 Nhận thức cảm tính:

Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn nhận thức mà con người, trong hoạt động thực tiễn, sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh các sự vật khách quan, mang tính cụ thể, với những biểu hiện phong phú của nó trong mối quan hệ với sự quan sát của con người Trong giai đoạn này nhận thức cảm tính được biểu hiện qua ba hình thức sau:

Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức Lenin viết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Nếu dừng lại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật Điều đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết

Trang 14

bản chất của sự vật phải nắm được một cách tương đối trọn vẹn sự vật Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn

Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi

sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người Tri giác là sự tổng hợp các cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng

có tính trực quan của sự vật Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu

là thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người Do vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn

Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp Bởi vì, nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp Cho nên biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật

1.1.2.2 Nhận thức lý tính:

Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức Đó là sự phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật khách quan Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán, và suy luận

Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật Nó là cơ sở hình thành nên những phán đoán trong quá trình con người tư duy về sự vật khách quan

Phán đoán: là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình thành thông qua việc liên kết các khái niệm với nhau theo phương thức khẳng định hay phủ định một đặc điểm hay một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức

Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới về sự vật Điều kiện để

có bất cứ một suy lý nào cũng phải là trên cơ sở những tri thức đã có dưới hình thức là

Trang 15

những phán đoán, đồng thời theo quy tắc lôgích của các loại hình suy luận, đó là suy luận quy nạp (đi từ cái riêng tới cái chung), và suy luận diễn dịch (đi từ cái chung tới cái riêng)

1.2 Định nghĩa thói quen:

Lối, cách sống hay hành động do lặp lại lâu ngày trở thành nếp rất khó thay đổi.(3)

Có thể nói, thói quen là khuôn mẫu nhất quán, đôi khi vô thức, thể hiện tính cách của chúng ta một cách thường xuyên, hàng ngày và quyết định tính hiệu quả hay không hiệu quả trong mọi hoạt động, tạo nên sức mạnh bên trong của chúng ta Nếu chúng ta có thói quen tốt và duy trì thói quen đó trong cuộc sống, thì sẽ mang lại nhiều hiệu quả hơn và thành công hơn trong mỗi con người Ngược lại, nếu chúng ta có thói quen xấu mà không nhận thức được, hiểu được đó là xấu, thì nó sẽ rất nguy hại cho bản thân và cộng đồng

1.3 Tổng quan về hộ gia đình:

1.3.1 Tổng quan về hộ gia đình trong cả nước:

Theo báo cáo thống kê từ điều tra hộ dân cư năm 2010 gồm có những tiêu chí

để đánh giá tổng quan về hộ gia đình như sau: nhân khẩu, chi tiêu, thiết bị sử dụng lâu bền, tỉ lệ hộ nghèo…

a Nhân khẩu:

Theo báo cáo thống kê tỉ lệ nhân khẩu bình quân của cả nước, khu vực thành thị, khu vực nông thôn được thể hiện như sau:

 Bình quân nhân khẩu cả nước là 3,89 người/hộ

 Bình quân nhân khẩu ở thành thị 3,82 người /hộ

 Bình quân nhân khẩu ở nông thôn 3,92 người/hộ

b Thu nhập:

Về thu nhập ta thấy có sự chênh lệch cao giữa các khu vực khác nhau Bình quân thu nhập ở thành thị (2129,7 ngàn/người) cao hơn nhiều so với cả nước (1387,2 ngàn/người) và nông thôn (1070,5 ngàn/người) Đây là tiêu chí khá quan trọng, qua tiêu chí này ta có thể thấy được mức sống của người dân, từ đó đưa ra những chính

(3)

http://vi.wiktionary.org/wiki/th%C3%B3i_quen

Trang 16

sách phát triển kinh tế phù hợp Tỉ lệ thu nhập bình quân đầu người được thể hiện như sau:

 Thu nhập bình quân cả nước là 1387,2 ngàn/người

 Thu nhập bính quân khu vực thành thị 2129,7 ngàn/ người

 Thu nhập bình quân khu vực nông thôn 1070,5 ngàn/người

c Chỉ tiêu:

Về chỉ tiêu chi tiêu cũng có sự khác biệt trong các khu vực, đây cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá mức sống của người dân Mức chi tiêu tăng có thể do đời sống người dân được nâng lên

 Chi tiêu bình quân 1 người/tháng của cả nước 1210,7 ngàn

 Chi tiêu bính quân 1 người/tháng của khu vực thành thị là 1827,9 ngàn

 Chi tiêu bính quân 1 người/tháng của khu vực nông thôn là 950,2 ngàn

Tủ lạnh

Đầu video

Tivi màu

Dàn nghe nhạc các loại

Máy điều hòa

Máy giặt

Bình nước nóng

Cả nước 17,0 128,4 39,7 54,2 85,9 12,6 9,4 17,6 13.3 Thành thị 38,2 180,1 63,8 57,2 97,6 15,9 26,2 41,0 28,9 Nông thôn 7,6 105,6 29,2 52,8 80,7 11,1 2.1 7,4 6,5

e Bình quân hộ nghèo:

Với tiêu chí này giúp đánh giá được công tác xóa đói giảm nghèo ở các khu vực trong cả nước, căn cứ vào tình hình thực tế mà ta có thể đưa ra những chính sách cụ thể để phát triển kinh tế từng vùng, miền

 Cả nước có số bình quân hộ nghèo là 14,2%

 Tỉ lệ hộ nghèo khu vực thành thị là 6,9%

 Tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn là 17,4%

Trang 17

Ngoài các tiêu chí trên bản báo cáo còn có các tiêu chí khác như: y tế, giáo dục, thu nhập bình quân…Nhìn chung các tiêu chí trên điều giúp đánh giá việc phát triển kinh tế - xã hội của các hộ gia đình trong cả nước

1.3.2 Tổng quan về hộ gia đình quận Gò Vấp:

Theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ đến một số chỉ tiêu như sau:

a Nhân khẩu:

Về nhân khẩu, hiện tại bình quân nhân khẩu của quận Gò Vấp năm 2010 là 4,02 người/hộ Tỉ lệ này cao hơn so với cả nước (3,89 người/hộ) và thành thị (3,82 người/ hộ) Bình quân nhân khẩu của quận cao hơn so với cả nước là 1,03 lần, so với khu vực thành thị thì cao hơn 1,05 lần

b Chỉ tiêu:

Về chỉ tiêu chi tiêu, chi tiêu bính quân 1 người/ tháng tại quận Gò Vấp là 2030 ngàn Cao hơn so với thu nhập bình quân cả nước (1210,7 ngàn) và thành thị (1827,9 ngàn) So với cả nước tỉ lệ chi tiêu bình quân của quận cao hơn 1,68 lần, so với khu vực thành thị là 1,11 lần

c Thiết bị sử dụng lâu bền:

Chỉ tiêu này cho ta thấy được tình hình sử dụng các thiết bị lâu bền, chủ yếu là các thiết bị điện Tỉ lệ sử dụng các thiết bị sử dụng lâu bền được thể hiện trong bảng 2

Bảng 2 Tỉ lệ (%) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp

so với cả nước và khu vực thành thị

Loại thiết bị

VIDEO,VCD Tủ lạnh Máy giặt

Trang 18

Bảng 3 Tỉ lệ (gấp bao nhiêu lần) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp

với cả nước và khu vực thành thị

Loại thiết bị

Đầu máy VIDEO,VCD Tủ lạnh Máy giặt

Trang 19

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẬN GÒ VẤP

2.1 Các điều kiện tự nhiên:

2.1.1 Vị trí địa lý:

Gò Vấp là một quận nội thành TP HCM với tọa độ địa lý từ 106o38’15” đến

106o42’15” kinh độ Đông và từ 10o48’41” đến 10o51’10” vĩ độ Bắc, tiếp giáp:

 Phía Đông: Giáp Quận 12 và Quận Bình Thạnh qua sông Bến Cát, Vàm Thuật

 Phía Tây: Giáp Quận 12 và Quận Tân Bình qua kênh Tham Lương

 Phía Nam: Giáp Quận Tân Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận

 Phía Bắc: Giáp Quận 12

Hình 1 Bản đồ hành chính quận Gò Vấp

2.1.2 Khí hậu:

Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu có liên quan sẽ gây ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình phát tán các chất ô nhiễm nước, không khí và chất thải rắn Quận

Trang 20

Gò Vấp nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của đồng bằng Nam Bộ hay khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa nắng mưa rõ rệt

Mùa mưa kéo dài trên dưới 6 tháng Trong đó tháng 10 có lượng mưa cao nhất

và tháng 2 hầu như không có mưa Thời gian nắng cả năm chiếm 2245,9 giờ, tháng 3

có số giờ nắng cao nhất 254,9 giờ, tháng 10 có số giờ nắng ít nhất là 135,6 giờ

Nhiệt độ trung bình năm là 270C, cao nhất là tháng 4 với 30,30C, thấp nhất là tháng 12, nhiệt độ hạ xuống 26,60C

Độ ẩm trung bình năm là 74%, tháng 10 cao nhất: 82%, tháng thấp nhất là tháng 2: 65% Lượng bốc hơi hàng năm là khá lớn

Quận có 2 hướng gió chính, gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa mang theo nhiều hơi nước, hướng gió thịnh hành nhất là hướng Tây - Nam; Gió mùa Đông mang

không khí khô hơn, thổi vào mùa khô, hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam 2.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng:

Quận Gò Vấp địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc trung bình dưới 1% và cao trình biến thiên từ 0,4 - 10m Cao nhất ở khu vực sân bay Tân Sơn Nhất (10m) và thấp nhất ở khu vực lưu vực sông Bến Cát (0,4m) Đây là vùng đất bong, phát triển trên nền đất phèn tiềm tàng sâu, thoát nước kém và bị ngập theo chiều thông qua sông Bến Cát Địa hình ở đây phân ra làm 2 dạng: Địa hình thấp trũng 0,4 - 2m và địa hình cao 2 - 10m, chiếm phần lớn diện tích của Quận

Dạng địa hình chuyển tiếp từ địa hình cao và địa hình trũng là phần chuyển tiếp giữa đất gò và đất bong của Quận, điều kiện địa chất công trình không thuận lợi cho việc xây dựng công trình, do mực nước ngầm cạn và hiện tượng chảy cát ảnh hưởng đến các vật liệu xây dựng dễ làm biến dạng, nứt nẻ hoặc nghiêng lệch các công trình xây dựng

2.1.4 Hệ thống sông rạch:

Hệ thống sông rạch trong Quận Gò Vấp là hệ thống sông Bến Cát Trong hệ thống này tùy theo vị trí phân bố, chúng được gọi là rạch Bến Cát, sông Bến Cát, sông Trường Đay, kênh Tham Lương… và một số chi lưu chằng chịt Sông Bến Cát là sự nối dài của rạch Bến Cát và được tính từ ngã ba sông Bến Phân theo hướng Đông Nam, đổ nước vào sông Sài Gòn Sông Trường Đay với chiều dài khoảng 2km bắt đầu

từ cầu Trường Đay đến ngã ba sông Bến Phân Nước được phân lưu một phần chảy về

Trang 21

sông Bến Cát, một phần chảy về hướng Tây Nam đổ ra rạch Chợ Mới, kênh Tham Lương là kênh được nối dài từ rạch Chợ Mới theo hướng Nam chảy vào cầu Xám đến Bình Chánh Ngoài ra trên địa bàn quận Gò Vấp còn có một số hồ nhỏ; tuy nhiên quy

mô không đáng kể

2.1.5 Địa chất thủy văn:

Tầng nước Holocen là tầng chứa nước không áp, mực nước nằm nông, động thái dao động theo mùa và theo thủy triều Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa, nước

mặt trong các kênh rạch ngấm trực tiếp vào tầng chứa nước

Tầng chứa nước Pleistocen phân bố rộng trên toàn vùng, lộ ra trên mặt phần lớn diện tích của quận Gò Vấp Tầng chứa nước được cấu tạo thành 2 phần: phần trên là

lớp cách nước yếu, phần lớn là lớp chứa nước

Tầng chứa nước Pliocen phân bố trên toàn vùng, không lộ ra trên mặt, bị tầng chứa nước Pleistocen phủ trực tiếp lên và nằm trên tầng Ploicen dưới Tầng chứa nước được chia thành hai phần: phần trên là lớp cách nước yếu, phần dưới là lớp chứa nước

Đối với nước khe nứt trong trong trầm tích Mezozoi phân bố trên toàn vùng Chiều dày của đới Mezozoi khoảng 200m, mức độ nứt nẻ kém nên khả năng chứa nước hạn chế

2.1.6 Tài nguyên:

Tài nguyên đất: Quận Gò Vấp có diện tích đất tự nhiên là 1974,0934 ha Đất xám trên phù sa cổ chiếm 69% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng cạn nhất là rau các loại Đất phèn tiềm tàng sâu chiếm 20% diện tích, thích nghi với các loại cây trồng chịu nước như lúa, cói, rau muống, đồng thời trồng mía, dừa và một số cây ăn trái Đất xám glay chiếm 8% diện tích thích nghi với lúa vào mùa mưa và rau vào mùa

khô

Tài nguyên và nước ngầm: Quận Gò Vấp có nguồn nước mặt khá phong phú (sông Bến Cát, sông Trường Đay, rạch Bến Thượng…) nhưng không thể sử dụng vào mục đích cấp nước mà chỉ sử dụng vào mục đích tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp

do ảnh hưởng của nước thải chưa xử lý

Nguồn nước ngầm tại vùng Gia Định nói chung và Quận Gò Vấp nói riêng có

trữ lượng khá phong phú

Trang 22

Đường bộ: Các đường chính như Nguyễn Kiệm, Nguyễn Oanh, Quang Trung,

Lê Quang Định, Nguyễn Văn Nghi, Phan Văn Trị… đều được trải nhựa và các đường khác đều ở trong trạng thái trung bình Tuy nhiên vẫn có một số đoạn đường xấu, ngập úng Các cầu đều ở trạng thái sử dụng tốt ngoại trừ cầu Cụt, cầu Gỗ 26/3 và cầu Bến Phân đang ở trong tình trạng xấu, tải trọng thấp Cầu An Lộc, cầu Trường Đay đều là

những cầu mới tải trọng cao

Đường sông: Quận có sông lớn là sông Bến Cát rộng trung bình 60 - 70m, sâu

trung bình 4m, có tiềm năng về giao thông đường thủy

Đường sắt: Trên địa bàn quận có đường tàu lửa Thống Nhất chiều dài 2,6km và một ga nhỏ là ga ở Gò Vấp Vì vậy hầu như không gây trở ngại đến giao thông đường

bộ

Cấp điện: Nguồn cung cấp điện cho Quận Gò Vấp là các trạm biến thế của lưới truyền tải điện quốc gia Hiện nay trên toàn quận có 178 trạm phân phối với tổng dung lượng là 21.975 KVA

2.2.3 Hoạt động kinh tế:

2.2.3.1 Sản xuất công nghiệp:

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 là 3.937 tỷ đồng, tốc độ phát triển của giá trị sản xuất công nghiệp từ 2004 - 2008 là 144,44% Toàn Quận năm 2008 có 47 công ty cổ phần, 574 công ty TNHH, 206 doanh nghiệp tư nhân và 3.123 cơ sở kinh doanh cá thể Các doanh nghiệp hiện đang hoạt động đã phát huy được năng lực vốn đầu tư, đổi mới công nghệ so với những năm trước, tăng được sản lượng và chất lượng sản phẩm, từng bước mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu Các ngành công nghiệp chính như chế biến thực phẩm, dệt may, thêu, thuộc da, cơ khí và thủ công mỹ

Trang 23

nghệ có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (Nguồn: Niên giám Thống kê quận Gò Vấp

2009)

2.2.3.2 Sản xuất nông nghiệp:

Tình hình sản xuất nông nghiệp thu hẹp dần về diện tích canh tác và chuồng trại chăn nuôi do quá trình đô thị hóa Cây kiểng chưa có chuyển biến về chủng loại và hiệu quả kinh tế Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tình hình sử dụng an toàn thuốc

bảo vệ thực vật còn hạn chế

2.2.3.3 Thương mại - dịch vụ - xuất nhập khẩu:

Thương mại và dịch vụ không phải là thế mạnh của một quận vùng ven như Gò Vấp, nhưng sau khi đất nước mở cửa đã nhanh chóng vượt qua hơn một thập niên trì trệ và có bước phát triển bền vững, năm sau khá hơn năm trước, bình quân tăng 16%/năm Kinh tế thị trường thúc đẩy hoạt động thương mại - dịch vụ của quận phát

triển mạnh mẽ

Các dịch vụ ở Gò Vấp chủ yếu là ẩm thực, khách sạn - nhà hàng có doanh số không đáng kể trong cơ cấu của ngành thương mại - dịch vụ Gò Vấp hiện không có điểm du lịch, khu vui chơi giải trí nào Tính đến thời điểm hiện nay, quận đã có một số

di tích được công nhận như: Chùa Sắc Tứ Trường Thọ, Đình Thông Tây Hội, Đình An

Nhơn, Tịnh Xá Ngọc Phương

Sự phát triển nhanh, đa dạng của các họat động thương mại - dịch vụ thì đến năm 2008, tổng mức thu là 17.254 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu là 210 triệu USD

(Nguồn: Niên giám Thống kê quận Gò Vấp 2009)

Nhìn chung họat động thương mại - dịch vụ phát triển nhanh, chuyển dịch theo

cơ cấu Công nghiệp - thương mại - dịch vụ

2.3 Thực trạng sử dụng điện:

Năm 2011 được đánh dấu là năm thành công của hoạt động tiết kiệm năng lượng Công tác tiết kiệm điện và sử dụng điện hiệu quả đạt kết quả tốt và chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực Trong năm 2011, tăng trưởng nhu cầu điện năng thấp hơn so với các năm trước có một phần là kết quả của công tác tiết kiệm điện Các ngành sản xuất và nhân dân đã thực hiện tích cực Chỉ thị số 171/CT-TTg ngày 26/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm điện trong sản xuất và tiêu dùng Hiệu quả sử dụng điện năng vì thế cũng được nâng cao hơn so với các năm

Trang 24

trước (năm 2011, tổng sản phẩm nội địa GDP cả nước tăng 5,89% so với năm 2010, điện thương phẩm nội địa chỉ tăng 9,59%, như vậy hệ số đàn hồi Điện/GPD bằng 1,63 giảm đáng kể so với các năm trước: 2008 là 2,02; 2009 là 2,42 và 2010 là 2,0) Năm

2011 sản lượng điện tiêu thụ của cả nước đạt 106,33 tỷ kWh; lượng điện tiết kiệm là 1,326 tỷ kWh (bằng 1,43% điện thương phẩm) và đã lắp đặt hơn 26.800 thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời quy mô gia đình, quy mô công nghiệp.(4)

Trong giai đoạn 2011 – 2015, để đảm bảo nhu cầu sử dụng điện, các giải pháp tiết kiệm điện rất được quan tâm thực hiện Mục tiêu của hoạt động tiết kiệm điện trong giai đoạn này là tiết kiệm 5 – 8% năng lượng tiêu thụ

TP HCM cũng nằm trong xu thế chung của cả nước Tiết kiệm điện là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của thành phố

Số liệu thu thập được từ Trung tâm tiết kiệm năng lượng TP.HCM (ECC) cho biết điện năng tiêu thụ của các hộ gia đình Việt Nam chiếm 35-75% tổng lượng điện năng, trong đó tại TP.HCM là 36% Các hộ gia đình sử dụng điện không bị ràng buộc bởi các văn bản, quy chuẩn pháp luật như đối với điện dùng trong sản xuất, điện công nghiệp, do đó kêu gọi tiết kiệm điện hộ gia đình trên tinh thần vận động sự tự nguyện Tiền điện các hộ gia đình ở TP.HCM phải trả là 5.200 tỷ đồng/năm, nên nếu mỗi hộ tiết kiệm 10% tiền điện thì số tiền sẽ rất lớn Do đó, thành phố đã kêu gọi người dân,

hộ gia đình thực hiện tiết kiệm năng lượng

Trung tâm tiết kiệm năng lượng TP.HCM đã phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ TP.HCM kêu gọi 100.000 hộ gia đình thực hành tiết kiệm điện diễn ra song hành với giờ trái đất năm 2010 Đây là lần đầu tiên chương trình thực hiện cấp thành phố theo diện rộng Đến nay, với việc tổ chức tích cực của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố từ tổ hội, chi hội phụ nữ ở 24 quận, huyện, trên thực tế đã có 87.000 hộ đăng ký với mức kêu gọi giảm 9% tiền điện trong năm 2010 Trong cuộc vận động này thành phố hướng đến phụ nữ vì đây là đối tượng tiềm năng, người nắm “tay hòm chìa khóa”, đồng thời

là người đóng vai trò lớn trong giáo dục con cái và cũng là người sử dụng điện thường xuyên nhất trong gia đình với nhiều vật gia dụng như: tivi, máy giặt, tủ lạnh, nồi cơm điện, lò vi sóng…

(4)

http://www.evn.com.vn/Home/Detail/tabid/84/TopicId/1/ItemId/3400/View/2/CateId/63/language/vi-VN/Default.aspx

Trang 25

Ngoài kêu gọi tiết kiệm điện năng trong hộ gia đình, tại một số quận trên địa bàn TP.HCM cũng triển khai các mô hình sử dụng điện năng từ năng lượng mặt trời Với hệ thống tấm Soler Panel(5) hệ thống Soler Energy(6) trong hộ gia đình đã biến đổi năng lượng mặt trời thành các dạng năng lượng khác như nhiệt năng và điện năng dùng cho sinh hoạt trong gia đình Hiện chính quyền TP.HCM đã hỗ trợ 1 triệu đồng cho mỗi hộ gia đình ứng dụng phương thức này

UBND TP HCM đưa ra mức “buộc” các đơn vị phải kéo giảm ít nhất 10% điện năng sử dụng Sở Giao thông Vận tải phải cắt giảm 50% số lượng đèn chiếu sáng công cộng tại các tuyến đường phố, công viên Công ty quảng cáo, cơ sở dịch vụ, hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng đèn quảng cáo có công suất lớn Các biển quảng cáo trên khắp thành phố được yêu cầu phải tắt đèn quảng cáo sau 22h tối

Bên cạnh đó, Điện lực thành phố còn tiến hành phát khoảng 600.000 tờ rơi tuyên truyền tiết kiệm điện đến người dân

Gò Vấp cũng là một trong những địa bàn tích cực thực thi các biện pháp tiết kiệm điện, và nằm trong xu thế chung của TP HCM nói riêng và cả nước nói chung Năm 2009, theo Thống kê quận Gò Vấp thì trên toàn địa bàn quận có 178 trạm phân phối với tổng dung lượng là 21.975 KVA

Cùng với TP HCM, quận Gò Vấp cùng triển khai một số chương trình nhằm mục đích tiết kiệm điện như sau:

(1) Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:

Trước thách thức về cạn kiệt nguồn năng lượng, vấn đề tiết kiệm năng lượng vừa là việc cấp thiết vừa là chiến lược an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo cho phát triển bền vững, vì thế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương về công việc hệ trọng này Thực hiện chủ trương đó, ngày 14/4/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Quyết định số 79/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”

(5)

Soler Panel:Bảng điều khiển quang điện, còn được gọi là mô đun quang điện; được sử dụng như một thành phần của một hệ thống quang điện lớn hơn để tạo ra và cung cấp điện trong các ứng dụng thương mại và dân cư Cấu tạo: bao gồm một loạt các tấm pin mặt trời, biến tần, pin và dây kết nối

mặt trời, điện nhiệt mặt trời và kiến trúc năng lượng mặt trời

Trang 26

Theo đó, Chương trình có 6 nhóm nội dung: (1) Tăng cường quản lý nhà nước

về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tổ chức hệ thống quản lý về tiết kiệm năng lượng; (2) Tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến thông tin, vận động cộng đồng, nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường; (3) Phát triển, phổ biến các trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng, từng bước loại bỏ các trang thiết bị hiệu suất thấp; (4) Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; (5) Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà; (6) Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động giao thông vận tải

Chương trình được triển khai theo hai giai đoạn: Giai đoạn I (2006 - 2010) và giai đoạn II (2011 - 2015)

Việc triển khai Chương trình trong giai đoạn I đã thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của toàn xã hội và bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ Tổng năng lượng tiết kiệm năng lượng của các Bộ/ngành, địa phương, doanh nghiệp trong giai đoạn này đạt 4.900 KTOE (đơn vị quy đổi ra tấn dầu) bằng 3,4% tổng năng lượng tiêu thụ Năm 2006 mới sử dụng 7 triệu bóng đèn compact, ước tính năm 2010 con số đó

đã lên tới 40 triệu bóng Khoảng 20 địa phương có phong trào xây bể biogas ở nông thôn, rất tiện ích, thay cho chất đốt truyền thống, giảm ô nhiễm môi trường Nhờ được

hỗ trợ kinh phí, nhiều gia đình đã lắp đặt hệ thống thu năng lượng mặt trời đun nước nóng Không ít gia đình đã dùng nhiều thiết bị gia dụng khác tiết kiệm điện, khí ga

Lộ trình thực hiện Chương trình đang được tiến hành, trong đó yêu cầu gắn nhãn mác “Sản phẩm tiết kiệm năng lượng” bước đầu là tự nguyện, sau đó tiến tới bắt buộc Để khuyến khích dùng các thiết bị tiết kiệm năng lượng, việc hỗ trợ kinh phí mua sắm, lắp đặt đã và đang được thực thi và mang lại hiệu quả rõ rệt

Đồng thời, góp phần quan trọng trong thắng lợi của Chương trình trong giai đoạn I còn có công tác thông tin, tuyên truyền, vận động công chúng, doanh nghiệp, các cơ quan chung tay sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Nhiều Cơ quan, các cấp chính quyền đã phối hợp với các Tổ chức quần chúng vận động cán bộ công chức

tự giác chấp hành nội quy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Nhiều Hội Liên hiệp phụ nữ lập mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, tổ chức các lớp tập huấn,

Trang 27

phát tài liệu, tờ rơi phổ biến cách thức sử dụng tiết kiệm năng lượng cho các gia đình

và hiệu quả được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khoá XII có hiệu lực từ 1/1/2011, việc tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn để từng bước đưa Luật vào cuộc sống

là một trong những trọng tâm của công tác tuyên truyền trong giai đoạn II

Một trong những điểm nhấn để triển khai công tác tuyên truyền trong giai đoạn

II là Văn phòng Tiết kiệm năng lượng - Bộ Công Thương chủ trì cùng với các đơn vị

có liên quan tổ chức sản xuất và phát sóng Chương trình truyền hình “Cuộc sống tươi

đẹp” trên cả hai kênh của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội Đây là cách làm mới

trong thủ pháp tuyên truyền nhằm xã hội hoá những vẫn đề quốc gia, để các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và công chúng, nhiệt thành hưởng ứng và thực hành triệt để việc tiết kiêm năng lượng

(2) Chương trình thi đua: “Gia đình tiết kiệm điện năm 2011”:

Tháng 4-2011, Tổng Công ty điện lực, Hội liên hiệp phụ nữ và Trung tâm tiết

kiệm năng lượng thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình thi đua: “Gia đình tiết kiệm điện năm 2011”

Đối tượng tham dự chương trình thi đua là các hộ gia đình có sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt, không thay đổi về mục đích sử dụng và không thay đổi về nội dung hợp đồng mua bán điện trong khoảng thời gian từ tháng 4/2010 Để khuyến khích cho hoạt động này, các ngành chức năng sẽ trao 10.240 giải thưởng với tổng trị giá trên 2 tỷ đồng cho 1000 hộ được công nhận gia đình tiết kiệm điện cấp quận, huyện (thưởng 200.000 đồng/giải) và 240 gia đình tiết kiệm điện cấp thành phố

Trang 28

(thưởng 500.000 đồng/giải) Các hộ dân được công nhận “Gia đình tiết kiệm điện tiêu biểu” là những hộ thực hiện tiết kiệm điện đạt kết quả cao nhất bằng cách xét tỉ lệ tiết kiệm điện của 3 tháng (4, 5, 6/2011) so với các tháng 4, 5, 6 của năm 2010 Tỉ lệ tiết kiệm điện này không thấp hơn 10% Để thực hiện tốt chương trình thi đua này, Thành phố đã xây dựng mạng lưới gồm 1.200 tuyên truyền viên ở 24 quận, huyện Mỗi tuyên truyền viên phụ trách 100 hộ gia đình có nhiệm vụ vận động, tuyên truyền người dân tiết kiệm điện Ngoài ra, Thành phố còn tăng cường thêm lực lượng học sinh - sinh viên, hội viên hội phụ nữ, hội viên cựu chiến binh tham gia tuyên truyền, vận động Trung tâm tiết kiệm năng lượng còn in 1,7 triệu cuốn “Cẩm nang tiết kiệm điện”, trong

đó có hướng dẫn chi tiết cách sử dụng các thiết bị điện trong gia đình như tủ lạnh, máy lạnh, quạt, máy bơm, ti vi, đèn chiếu sáng…sao cho tiết kiệm, an toàn

Chương trình chỉ mới bắt đầu, tuy nhiên đã mang lại hiệu quả thiết thực Trong vòng 3 tháng mùa khô (4, 5, 6/2011) các gia đình tại Thành phố đã tiết kiệm được 86 triệu kWh, tỷ lệ tiết kiệm đạt 5,5% so với điện năng tiêu thụ là 1.1564 kWh

Trang 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Bảng hỏi được thiết kế với mục đích tìm hiểu nhận thức, thói quen của hộ gia đình quận Gò Vấp – thành phố Hồ Chí Minh, gồm 18 câu hỏi, với các nội dung chính sau đây:

 Phần A: tìm hiểu một số thông tin về hộ gia đình được phỏng vấn: Nghề nghiệp chính trong hộ gia đình, số thành viên trong gia đình…

 Phần B: tìm hiểu về nhận thức của các hộ gia đình về tiết kiệm điện Phần này bao gồm từ câu 2 đến câu 6

 Phần C: gồm 10 câu, từ câu 7 đến câu 16; tìm hiểu về thói quen sử dụng một số thiết bị điện chính trong hộ gia đình

 Phần D: gồm 2 câu, câu 17 và câu 18 Câu 17 với mục đích tìm hiểu mức độ tự giác tìm hiểu các thông tin về tiết kiệm điện của các hộ gia đình và các nguồn tiếp nhận thông tin Câu 18 là một câu hỏi mở, nhằm tìm hiểu sâu hơn một số biện pháp tiết kiệm điện của các hộ gia đình được phỏng vấn

Qua quá trình điều tra khảo sát bằng phiếu bảng hỏi trên đối tượng hộ gia đình quận Gò Vấp về nhận thức và thói quen sử dụng năng lượng điện, chúng tôi thu được các kết quả sau:

3.1 Thông tin về hộ gia đình:

Các hộ gia đình được khảo sát nằm trên địa bàn quận Gò Vấp và trải rộng trên tất cả các phường của quận

Trong phần tìm hiểu về thông tin hộ gia đình chúng tôi hướng tới một số vấn đề chính sau:

 Địa chỉ hộ gia đình

 Tổng số thành viên trong hộ trong đình

 Nghề nghiệp chính trong hộ gia đình

Kết quả khảo sát cho thấy:

Trang 30

3.1.1 Số thành viên trong hộ gia đình:

Có sự khác nhau nhiều về số lượng thành viên trong các hộ gia đình Theo số liệu thống kê tại thời điểm ngày 31/12/2010, toàn quận Gò Vấp có 555.557 người với 138.333 hộ, như vậy, trung bình có 4,02 người/hộ

3.1.2 Nghề nghiệp chính trong hộ gia đình (Câu 1):

Với số phiếu bảng hỏi được khảo sát là 136 phiếu, chúng tôi thu được kết quả khảo sát về nghề nghiệp như sau:

Nghề nghiệp chính trong hộ gia

Với bảng số liệu trên, ta thấy:

 Có sự chênh lệch nhưng không quá cao giữa các ngành nghề, chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm đối tượng khảo sát là Lao động phổ thông (39.2%); tiếp đến là Cán bộ công chức với 22.3%, nhóm Kinh doanh chiếm 20%

 Ít nhất là nhóm các ngành nghề khác, chiếm 18.5% Theo khảo sát, các ngành nghề khác này chủ yếu là các nghề: sửa, vá xe, bán trái cây, bán vé số, mua bán

ve chai

 Như vậy, tỉ lệ phiếu bảng hỏi được điều tra trên tổng số hộ gia đình được khảo sát phân theo nhóm nghề nghiệp là tương đối cân đối Điều này càng làm tăng thêm tính tin cậy của đề tài

3.2 Nhận thức về Tiết kiệm điện (TKĐ) của các hộ gia đình quận Gò Vấp:

Các câu số 2 đến câu số 6 trong phiếu bảng hỏi nhằm mục đích tìm hiểu về nhận thức tiết kiệm điện Kết quả khảo sát cho thấy:

3.2.1 Hiểu về tiết kiệm điện (Câu 2):

Kết quả khảo sát được ghi nhận như sau:

Theo anh/chị như thế nào là tiết kiệm điện? Số lượng Tỉ lệ (%)

Tiết kiệm điện là sử dụng hợp lý, vừa đủ nhằm

giảm mức tiêu thụ nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu

sinh hoạt

Trang 31

Tiết kiệm điện là giảm ô nhiễm môi trường và

Kết quả trên được trình bày trực quan hơn thông qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1 Hiểu thế nào là tiết kiệm điện

Qua bảng số liệu và biểu đồ 1, ta thấy:

 Có sự chênh lệch rõ rệt về hiểu biết thế nào là tiết kiệm điện Kết quả cho thấy

tỉ lệ được chọn cao nhất là “Tiết kiệm điện là sử dụng hợp lý, vừa đủ nhằm giảm mức tiêu thụ nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt” (chiếm 42.1%)

 Tiếp đến là “Tiết kiệm điện là giảm tiền chi trả”, có 39.3% tỉ lệ hộ gia đình được khảo sát chọn phương án này

 Ở hai cách hiểu này thì hộ gia đình lao động phổ thông và nhóm nghề nghiệp khác quan tâm đến vấn đề này nhiều hơn so với hộ gia đình Cán bộ viên chức và kinh doanh Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Trang 32

Bảng 4 Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là

giảm tiền chi trả, do thu nhập hạn hẹp

phương pháp Genaral table (Analyze  tables  Genaral Table) trong SPSS, chúng tôi tiến hành phân tích mối liên hệ giữa ba câu: Nghề nghiệp chính trong

hộ gia đình với Nghe thông thông tin tiết kiệm điện từ chủ trương của Nhà nước, báo chí, truyền thông và Lý do tiết kiệm điện là Do ý thức sử dụng tiết kiệm tài nguyên và BVMT Kết quả nhận được như sau:

Bảng 5 Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là

nghe thông tin tiết kiệm điện từ chủ trường của Nhà nước,

là ý thức sử dụng tiết kiệm tài nguyên và BVMT

Nghề nghiệp chính

trong hộ gia đình

Nghe thông tin tiết kiệm điện từ chủ trương của nhà nước, báo chí, truyền thông

Do ý thức sử dụng tiết kiệm tài nguyên và BVMT

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
10. PGS.TS Phạm Hoàng Lương, Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng giảm phát thải khí nhà kính trong các tòa nhà cao tầng ở Việt Nam (cấp Bộ), 2008 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng giảm phát thải khí nhà kính trong các tòa nhà cao tầng ở Việt Nam (cấp Bộ)
Tác giả: PGS.TS Phạm Hoàng Lương
Năm: 2008 – 2009
11. PGS.TS Phạm Hoàng Lương, Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất hóa chất và ngành thép ở Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất hóa chất và ngành thép ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Phạm Hoàng Lương
Năm: 2009
12. PGS.TS Phạm Hoàng Lương, Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất giấy & bột giấy và công nghiệp thực phẩm ở Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập thông tin, soạn thảo và tổ chức tập huấn về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong ngành sản xuất giấy & bột giấy và công nghiệp thực phẩm ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Phạm Hoàng Lương
Năm: 2009
13. Tổng Công ty điện lực, Hội liên hiệp phụ nữ và Trung tâm tiết kiệm năng lượng thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình thi đua: “Gia đình TKĐ năm 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình thi đua: “Gia đình TKĐ năm 2011”
Tác giả: Tổng Công ty điện lực, Hội liên hiệp phụ nữ, Trung tâm tiết kiệm năng lượng thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
15. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy ết định số 79/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
1. Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thực hiện từ năm 2006 đến năm 2015 Khác
3. Luật điện lực – Luật số: 28/2004/QH1 – Luật của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về điện lực Khác
4. Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 Khác
5. Lựa chọn cấp điện áp tối ưu cho lưới điện cung cấp điện miền núi – Luận văn thạc sĩ Khác
6. Lựa chọn tiết diện dây dẫn theo điều kiện kinh tế thị trường – Luận văn thạc sĩ Khác
7. Quyết định số 80/2006/QĐ-TTg phê duyệt chương trình tiết kiệm điện giai đoạn 2006 – 2010 Khác
9. Nghị định số: 21/2011/NĐ-CP – Quy định chi tiết về biện pháp thi hnafh luật sử dụng năng lượng và tiết kiệm hiệu quả số: 50/2010/QH12 Khác
14. Trung tâm tiết kiệm năng lượng TP HCM - Cẩm nang tiết kiệm năng lượng trong gia đình Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tỉ lệ (%) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 2. Tỉ lệ (%) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp (Trang 17)
Bảng 3. Tỉ lệ (gấp bao nhiêu lần) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 3. Tỉ lệ (gấp bao nhiêu lần) sử dụng thiết bị lâu bền của quận Gò Vấp (Trang 18)
Hình 1. Bản đồ hành chính quận Gò Vấp - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Hình 1. Bản đồ hành chính quận Gò Vấp (Trang 19)
Bảng 4. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 4. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là (Trang 32)
Bảng 5. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 5. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và lý do tiết kiệm điện là (Trang 32)
Bảng này được trình bày bằng biểu đồ như sau: - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng n ày được trình bày bằng biểu đồ như sau: (Trang 33)
Bảng 6. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp, nhận thức về Mức độ   cần thiết của việc tiết kiệm điện và Mức độ hiệu quả tiết kiệm điện trong gia đình - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 6. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp, nhận thức về Mức độ cần thiết của việc tiết kiệm điện và Mức độ hiệu quả tiết kiệm điện trong gia đình (Trang 35)
Bảng 8. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và tiết kiệm điện là - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 8. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp và tiết kiệm điện là (Trang 37)
Bảng 9. Thói quen tắt các thiết bị điện khi không cần thiết của các nhóm hộ gia đình - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 9. Thói quen tắt các thiết bị điện khi không cần thiết của các nhóm hộ gia đình (Trang 39)
Bảng 12. Mối liên hệ giữa nhóm hộ gia đình, nhận thức, lý do tiết kiệm năng lượng là - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 12. Mối liên hệ giữa nhóm hộ gia đình, nhận thức, lý do tiết kiệm năng lượng là (Trang 48)
Bảng 13. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính trong hộ gia đình với - Tìm hiểu nhận thức và thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả điện của các hộ gia đình quận gò vấp – thành phố hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp thành năm 2012
Bảng 13. Mối liên hệ giữa nghề nghiệp chính trong hộ gia đình với (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w