1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thương cảng óc eo trong sự phát triển của vương quốc phù nam

154 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương cảng Óc Eo trong sự phát triển của Vương quốc Phù Nam
Tác giả Nguyễn Thị Huỳnh Như
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Thắng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 5,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ THƯƠNG CẢNG ÓC EO TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM LUẬN VĂ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ

THƯƠNG CẢNG ÓC EO TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ

THƯƠNG CẢNG ÓC EO TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC

Mã số: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG

Thành phố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

  

Với tinh thần trách nhiệm của một người làm công tác nghiên cứu khoa học, tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Những vấn đề trình bày trong luận văn là trung thực, là kết quả của sự tổng hợp đúc kết từ nhiều nguồn tài liệu và tư liệu hiện vật

Nếu có bất kỳ điều gì trái với tinh thần trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 9 năm 2015

Người cam đoan

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của học viên tại Khoa Đông Phương học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Thành phố Hồ Chí Minh Để hoàn thành luận văn này, học viên đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía nhà trường, nơi công tác, bạn bè và người thân trong gia đình

Học viên xin trân trọng cám ơn:

- PGS.TS Đặng Văn Thắng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho học viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn

- Các giảng viên và Thầy Cô khoa Đông Phương học và phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

- Ông Hoàng Anh Tuấn – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử - TP.HCM và Bà Nguyễn Khắc Xuân Thi – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản đã tạo mọi điều kiện

về thời gian, nguồn tư liệu để học viên hoàn thành luận văn Xin cám ơn tất cả các đồng nghiệp công tác tại Bảo tàng Lịch sử - Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình và bạn bè thân hữu đã giúp đỡ, hỗ trợ học viên về vật chất lẫn tinh thần để hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 9 năm 2015

Học viên Cao học

Nguyễn Thị Huỳnh Như

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 0

LỜI CÁM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DẪN LUẬN 5

Lý do chọn đề tài 5

Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

Mục đích nghiên cứu 11

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13

Bố cục đề tài 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15

1.1 Các khái niệm cơ bản 15

1.1.1 Định nghĩa cảng, cảng thị, thương cảng và điều kiện hình thành 15

1.1.2 Tầm quan trọng của việc hình thành các thương cảng 20

1.2 Khái quát về cảng Óc Eo 24

1.2.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 24

1.2.2 Yếu tố cảng của Óc Eo 26

1.2.3 Yếu tố thị của Óc Eo 29

1.3 Vương quốc Phù Nam 33

1.3.1 Sự hình thành vương quốc Phù Nam 33

1.3.2 Lược sử vương triều Phù Nam 36

1.3.3 Giai đoạn suy vong (thế kỷ VI – VII) 40

Chương 2 THƯƠNG CẢNG ÓC EO 45

2.1 Kinh tế tạo điều kiện cho hoạt động thương mại ở Óc Eo 45

2.1.1 Kinh tế nông nghiệp 45

2.1.2 Kinh tế thủ công nghiệp 49

2.2 Sản phẩm thương mại tìm thấy tại Óc Eo 55

Trang 6

2.2.1 Sản phẩm thô 56

2.2.2 Sản phẩm thủ công nghiệp 60

2.3 Những hiện vật dùng trong quá trình giao dịch 70

2.3.1 Tiền tệ 70

2.3.2 Con dấu 74

Chương 3 THƯƠNG CẢNG ÓC EO – TRUNG TÂM KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ CỦA PHÙ NAM 78

3.1 Kết nối mạng lưới thương mại trên con đường tơ lụa 78

3.1.1 Kết nối kinh tế vùng 78

3.1.2 Kết nối mạng thương mại quốc tế 83

3.2 Trung tâm tiếp biến và giao lưu văn hóa 86

3.2.1 Tiếp nhận văn hóa Ấn Độ 86

3.2.2 Các yếu tố văn hóa Trung Hoa 95

3.3 Tăng cường các mối quan hệ chính trị - ngoại giao trong khu vực100 3.3.1 Ngoại giao với Trung Quốc 101

3.3.2 Ngoại giao với Ấn Độ 103

3.4 Minh văn Apramada 104

3.4.1 Khảo sát các hiện vật chạm khắc minh văn Apramada 105

3.4.2 Apramada, dấu ấn sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa Ấn Độ và Phù Nam qua con đường thương mại 109

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 128

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ DI TÍCH KHẢO CỔ ÓC EO – PHÙ NAM 129

PHỤ LỤC 2: CÁC HIỆN VẬT VĂN HÓA ÓC EO 138

Trang 7

DẪN LUẬN

 Lý do chọn đề tài

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ khảo cứu đầu tiên về vương quốc Phù Nam của P Pelliot và hơn 70 năm sau phát hiện quan trọng của Louis Malleret về văn hóa Óc Eo, đồng thời với khuynh hướng đi sâu vào việc nghiên cứu và tiếp tục làm sáng tỏ những đặc tính riêng biệt, tiêu biểu của nền văn hóa này, nhiều nhà khoa học đã có những nổ lực lớn để làm rõ mối liên

hệ của văn hóa Óc Eo với các trung tâm văn hóa khác theo quan điểm liên ngành và khu vực học Óc Eo hay văn hóa Óc Eo là danh từ do Louis Malleret đặt ra khi ông tiến hành khai quật khảo cổ vào năm 1944 ở khu di tích Óc Eo -

Ba Thê (An Giang) và đã được ông công bố trong tác phẩm Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long (L’archéologie du delta du Mékong) Ông chính là người đầu tiên cho rằng Óc Eo là một cảng cổ của vương quốc Phù Nam Trên cơ sở các loại hình di tích, di vật, công trình kiến trúc cho thấy sự phát triển của một xã hội có nhà nước Từ những nghiên cứu của P Pelliot và Malleret, hàng loạt vấn đề được đặt ra liên quan đến nền văn hóa này như: vương quốc mang tên Phù Nam cường thịnh và sụp đỗ như thế nào, Óc Eo có

vị trí như thế nào đối với vương quốc Phù Nam

Sau năm 1975, trên cơ sở những tư liệu hiện có về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam cùng với việc nhiều hiện vật thuộc văn hóa Óc Eo được tìm thấy trên diện rộng không chỉ ở An Giang mà còn mở rộng ra cả khu vực Nam bộ Từ đó, công cuộc nghiên cứu về Óc Eo đã thật sự thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, cơ quan chuyên ngành trong và ngoài nước như Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ, Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

Hà Nội và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Pari – EFEO Năm

1977, một thư mục cơ bản về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam được xây dựng Năm 1978, di vật về văn hóa Óc Eo được Bảo tàng Lịch sử - Thành

Trang 8

phố Hồ Chí Minh trưng bày giới thiệu đến khách tham quan; năm 2009 được

sự tài trợ của Pháp, phòng trưng bày chuyên đề Văn hóa Óc Eo được nâng cấp

về trang thiết bị và mỹ thuật trưng bày hiện đại hơn Bên cạnh đó, văn hóa Óc

Eo và vương quốc Phù Nam cũng được nhiều Bảo tàng trên thế giới quan tâm Một số chuyên đề liên quan về Óc Eo – Phù Nam lần lượt được giới thiệu ở các nước như: “Việt Nam – quá khứ và hiện tại” trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Hoàng gia Bỉ (Bruxelles) 2003 và sau đó chuyên

đề này cũng được trưng bày tại Áo, “Việt Nam – từ truyền thuyết đến đương đại” tại Bảo tàng Văn minh Châu Á (Singapore) 2008, “Nghệ thuật cổ Việt Nam: từ châu thổ ra biển lớn” tại Bảo tàng nghệ thuật Châu Á ở Texas 2009

và Bảo tàng Hội Châu Á ở New York 2010, “Mỹ thuật cổ Đông Nam Á” tại Bảo tàng Metropolitan ở New York năm 2014 và gần đây nhất là chuyên đề

“Các kiệt tác Phật giáo sơ kỳ từ năm 100 trước Công nguyên đến năm 700 sau Công nguyên” tại Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc khai mạc vào tháng 9/2015 Như vậy, có thể thấy những vấn đề liên quan về Óc Eo – Phù Nam như văn

hóa, điêu khắc, đời sống kinh tế xã hội là một đề tài hấp dẫn và được giới

nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm

Lần đầu tiên học viên biết đến có sự tồn tại của vương quốc Phù Nam, văn hóa Óc Eo vào năm 2008 khi còn học tại trường Đại học Mở TP.HCM Học viên thật sự ngạc nhiên khi biết rằng trên mảnh đất hãy còn khó khăn mà người ta thường hay gọi là “Miền Tây nước lũ” cũng chính là quê hương của học viên đã từng tồn tại một nền văn minh rực rỡ, một vương quốc hùng mạnh đã chinh phục nhiều nước xung quanh vào thời cổ đại, đặc biệt có một thương cảng sầm uất mang tên Óc Eo Biến cố gì đã làm cho vương quốc này sụp đổ và còn lại là một vùng đất “rừng thiêng nước độc” mãi cho đến TK XVII khi người Việt, người Hoa đến khai hóa

Năm 2009, sau khi tốt nghiệp đại học, học viên được nhận vào công tác tại Bảo tàng Lịch sử - TP.HCM với nhiệm vụ là thuyết minh cho khách tham quan Như đã trình bày ở trên, tại đây có hẳn một phòng trưng bày với chủ đề

Trang 9

văn hóa Óc Eo Để đảm bảo công tác chuyên môn của bản thân, học viên phải tìm hiểu những thông tin, tư liệu về các phòng trưng bày Từ đó có dịp tìm hiểu về nền văn hóa Óc Eo này thêm một bước nữa Càng tìm hiểu, học viên phát hiện bản thân có một sự say mê, hứng thú với nền văn hóa Óc Eo, và tò

mò với cái được Malleret gọi là “cảng Óc Eo” Năm 2011, học viên được điều chuyển từ nhiệm vụ thuyết minh sang công tác ở kho hiện vật của Bảo tàng Tại đây, học viên được mở rộng hơn tri thức về văn hóa vật chất Óc Eo – Phù Nam bằng việc trực tiếp tiếp xúc với những hiện vật khá độc đáo của nền văn hóa này Một thuận lợi khác khi tìm hiểu về Óc Eo là số lượng lớn các bài viết xoay quanh chủ đề về nền văn hóa cổ Óc Eo Tuy nhiên, với trình độ còn hạn chế của học viên, vẫn còn một số vấn đề bản thân chưa rõ cần nghiên cứu kỹ, tìm hiểu sâu sắc hơn nữa

Khi nhắc tới Óc Eo người ta nghĩ ngay đến vương quốc Phù Nam Tại sao không phải là một địa danh nào khác, phải chăng đây là một nơi có tính chất quan trọng và mang tính điển hình của vương quốc Phù Nam Mặc dù, đến ngày hôm nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được chính xác địa điểm kinh đô của vương quốc này nhưng cũng có thể thấy rằng Óc Eo là một trung tâm tôn giáo – kinh tế quan trọng của vương quốc Phù Nam Với mong muốn tìm hiểu một nền văn minh bị lãng quên, một vương quốc cổ đại hùng mạnh, một thương cảng Óc Eo sầm uất đồng thời có điều kiện để tìm hiểu về những thắc mắc của bản thân; được sự định hướng, gợi ý của PGS.TS Đặng

Văn Thắng, học viên đã chọn đề tài “Thương cảng Óc Eo trong sự phát triển của vương quốc Phù Nam” làm luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ

Châu Á học

 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có thể nói, đi đầu trong việc nghiên cứu về Đông Nam Á nói chung và

Óc Eo – vương quốc Phù Nam nói riêng thì không thể phủ nhận công lao của những nhà nghiên cứu người Pháp Họ được xem là những người đầu tiên trong công cuộc “khai phá” về lịch sử văn hóa các nước Đông Nam Á Một số

Trang 10

nhà khoa học nghiên cứu về Đông Nam Á nói chung và Phù Nam nói riêng đáng chú ý gồm có Paul Pelliot, Louis Malleret, Pierre Paris, L Finot, G Coedes, Schlegel, E Aymonier, Kenneth R.Hall… Trong đó, quan điểm của một số tác giả như Schlegel, E Aymonier, Kenneth R.Hall còn gây nhiều tranh cãi như không công nhận Phù Nam là một thực thể riêng với Chân Lạp Paul Pelliot, Louis Malleret là 2 nhà nghiên cứu có công trình về Phù Nam có thể xem là khá đầy đủ

Paul Pelliot là một học gỉa người Pháp tinh thông chữ Hán đã dịch đầy

đủ và hệ thống thư tịch cổ liên quan đến Phù Nam ra tiếng Pháp (Le Fou Nan)

vào năm 1903 Ông là người đầu tiên dựa vào Tùy thư và Tân Đường thư, một

phần bia ký để khẳng định Phù Nam và Chân Lạp là hai thực thể khác nhau Phù Nam có trước và từng là nước tôn chủ của Chân Lạp

Như phần trình bày ở trên, di chỉ Óc Eo lần đầu tiên được phát hiện vào

năm 1944 bởi giám đốc Bảo tàng Blanchard de la Brosse – Louis Malleret

Kết quả của đợt khai quật này đã phát hiện ra một quốc gia đã bị biến mất và

là một đầu mối thương mại biển Đông Tây hay một đế chế hàng hải ở biển phương Nam Kết quả đợt khai quật đã được ông trình bày trong 4 tập của tác

phẩm L’archéologie du delta du Mékong Trong đó, 3 tập đầu đã được dịch

sang tiếng Việt Tác phẩm là tập hợp toàn bộ các kết quả điền dã, đào thám sát và khai quật từ năm 1937 – 1944 ở một số địa điểm như: Gò Cây Thị, Gò

Óc Eo, Giồng Cát…thuộc khu di tích Óc Eo, ở núi Ba Thê, đồng thời cũng tổng hợp các phát hiện và nghiên cứu trước đó về hàng trăm địa điểm khác ở miền tây sông Hậu (Tranbassac), hạ lưu sông Tiền và Đông Nam Bộ

(Cisbassac): Tập 1 in năm 1959: Thăm dò khảo cổ học và khai quật Óc Eo

(L’exploration archéologique et les fouilles d’Oc-Èo); Tập 2 in năm 1960:

Văn minh vật chất của Óc Eo (La civilisation matérielle d’Oc-Éo); Tập 3 in

năm 1962: Văn hóa Phù Nam (La culture du Fou-Nan); Tập 4 in năm 1963:

Vùng tả ngạn sông Hậu đến Đông Nam Bộ (Le Sisbassac) Đây được đánh giá

là tác phẩm viết về Phù Nam và Óc Eo đầy đủ nhất từ trước đến nay mặc dù

Trang 11

một số nhà nghiên cứu vẫn phàn nàn về cách trình bày còn “lộn xộn” của tác giả làm người đọc khó hình dung

G Coedes được xem là người mở đầu cho công cuộc tìm hiểu về các

quốc gia Đông Nam Á cổ đại Năm 24 tuổi (1910), ông viết cuốn sách đầu

tiên (Những văn bản của các tác giả có liên quan đến Viễn Đông từ thế kỷ IV

trước Công nguyên đến thế kỷ XVI) Từ đó, định hướng cho sự nghiệp học

thuật của ông là lịch sử và văn hóa cổ trung đại các quốc gia Đông Nam Á Năm 1942, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp Ông đã viết hàng trăm bài báo đăng trên nhiều tạp chí khoa học các

nước Năm 1944, ông cho ra đời tác phẩm Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở

Viễn Đông (Histoire ancienne des Etats hindouisés d’Extrême-Orient) đây là

công trình tổng hợp toàn diện những thành tựu nghiên cứu của mình về Đông Nam Á cổ đại và trung đại Tác phẩm này đã trở thành kinh điển đối với các học giả nghiên cứu về Đông Nam Á sau này

Sau năm 1975, khi đất nước được hoàn toàn thống nhất Công cuộc nghiên cứu về Óc Eo được nhiều thuận lợi hơn Nhiều hiện vật, di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam được tìm thấy khắp nơi ở khu vực Nam bộ Các công trình nghiên cứu về Óc Eo – Phù Nam trong nước cũng trên đà đó mà được đẩy mạnh, nhiều bài viết về những khám phá mới Óc Eo – Phù Nam được in thành sách và trên các tạp chí Khảo cổ học, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về Óc Eo – Phù Nam trong nước không thể không nhắc đến như: PGS Lê Xuân Diệm, TS Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải,

GS Hà Văn Tấn, GS Lương Ninh, PGS Cao Xuân Phổ, PGS.TS Ngô Văn Doanh, PGS.TS Đặng Văn Thắng, PGS.TS Phạm Đức Mạnh, TS Lê Thị Liên, TS Nguyễn Thị Hậu và nhiều nhà nghiên cứu khác Những bài viết về

Óc Eo – Phù Nam được đăng với nhiều nội dung và hình thức khác nhau, số lượng khá lớn tập trung vào các mảng đề tài chính như sau:

Trang 12

+ Công trình mang tính tổng hợp như Văn hóa Óc Eo, những khám phá

mới của Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn và Võ Sĩ Khải xuất bản năm 1995 Từ

việc phân loại các di tích, di vật, kiến trúc công trình đã phản ánh được đời sống vật chất và tinh thần của cư dân văn hóa Óc Eo – Phù Nam Kỷ yếu hội

thảo Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long,năm

1984 Kỷ yếu Hội thảo khoa học 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944 –

2004) – Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam và Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa

Óc Eo nhận thức và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích năm 2009 là

những công trình mang tính tổng hợp nhiều khía cạnh của văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam Tại đây nhiều bài viết của nhiều tác giả khác nhau đề cập đến các vấn đề về văn hóa, đời sống kinh tế xã hội, tín ngưỡng của cư dân văn hóa Óc Eo hay vương quốc Phù Nam thông qua các di tích khảo cổ + Công trình nghiên cứu nói về vương quốc Phù Nam nổi bật là GS

Lương Ninh Một số tác phẩm tiêu biểu của ông về lĩnh vực này như Vương

quốc Phù Nam – lịch sử và văn hóa xuất bản năm 2005, Vương quốc Phù Nam xuất bản năm 2006, đã giới thiệu một cách khái quát sự hình thành

vương quốc Phù Nam cũng như đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Phù Nam Tác giả chú ý đến sự phân chia các thời kỳ phát triển của vương quốc Phù Nam cũng như nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của vương quốc này

Bên cạnh đó, còn có Lê Hương với công trình Sử liệu Phù Nam

+ Công trình nói về kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu có luận án

Tiến sĩ Lê Thị Liên 2006, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng

sông Cửu Long trước thế kỷ X đã giới thiệu về mối liên hệ giữa Phật giáo và

Hindu giáo trong bối cảnh văn hóa xã hội Óc Eo Đặc biệt, thông qua những loại hình nghệ thuật tôn giáo này chúng ta thấy được đã có sự giao lưu về văn hóa tôn giáo tín ngưỡng tại vương quốc Phù Nam

+ Nói về tín ngưỡng tôn giáo thì ngoài công trình của GS Lương Ninh

nhắc đến trong Vương quốc Phù Nam, còn có những công trình nghiên cứu tiêu biểu như Trung tâm tôn giáo Óc Eo – Ba Thê (An Giang) của PGS.TS

Trang 13

Đặng Văn Thắng, Hà Thị Sương đăng trong tạp chí Khảo cổ học, số 1 – 2013

hay Óc Eo – Ba Thê trong vương quốc Phù Nam của PGS.TS Đăng Văn

Thắng đăng trong tạp chí Khảo cổ học, số 3 – 2013

+ Nói về nền thương mại Phù Nam nổi bật có các tác phẩm của GS

Nguyễn Văn Kim như Văn hóa Óc Eo – Phù Nam, vị thế lịch sử và các mối

quan hệ khu vực , PGS Cao Xuân Phổ xem Óc Eo là một trung tâm văn hóa thương mại ở nam Đông Dương trong 6 thế kỷ đầu công nguyên và một số

nhà nghiên cứu người Nhật như Noboru Karashima, Sakurai Yumio, Shigeru Ikuta Trong đó Phù Nam được nhắc đến với thương cảng Óc Eo được xem là trung tâm thương mại của vùng và khu vực Từ đó, cho thấy được vị trí của Phù Nam trên con đường thương mại Đông – Tây thời cổ đại

Như vậy, có thể thấy rằng các lĩnh vực về đời sống văn hóa vật chất, tinh thần cư dân Óc Eo – Phù Nam được các nhà nghiên cứu khá quan tâm Việc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học quốc gia TP.HCM đặt ra một môn học “Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam” dạy cho sinh viên chuyên ngành Khảo cổ học và môn học “Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam” dạy cho học viên cao học chuyên ngành lịch sử cho thấy được sự cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề này trong hiện tại và tương lai

 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về Óc Eo là một đề tài không còn xa lạ trong giới học thuật, mặc dù đề tài đã được nghiên cứu từ lâu nhưng mỗi năm luôn không ngừng xuất hiện những tài liệu mới, nhận thức mới Mặc dù có lịch sử nghiên cứu gần một thế kỷ nhưng hoạt động nghiên cứu về vấn đề này không ngừng sôi nổi Nhiều khía cạnh về văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam như kinh tế, chính trị, văn hóa dần được các nhà nghiên cứu đưa ra ánh sáng Thông qua

đề tài Thương cảng Óc Eo trong sự phát triển của vương quốc PhùNam,

học viên muốn tìm hiểu thương cảng Óc Eo có vai trò như thế nào đối với sự thịnh suy của vương quốc Phù Nam Vì vậy đề tài sẽ tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Trang 14

Thương cảng Óc Eo được hình thành trong bối cảnh nào?

Hoạt động thông thương nơi đây ra sao?

Vai trò của thương cảng Óc Eo đối với vương quốc Phù Nam được thể hiện ở những lĩnh vực, khía cạnh nào?

 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Vai trò của thương cảng Óc Eo đối với

sự thịnh suy của vương quốc Phù Nam trong đó học viên chủ yếu căn cứ vào những hiện vật Óc Eo để làm rõ vấn đề thương mại Óc Eo – Phù Nam

Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của thương cảng Óc Eo đối với sự thịnh suy của vương quốc Phù Nam, chúng ta có phạm

vi nghiên cứu của đề tài như sau:

Không gian: vương quốc Phù Nam tập trung với những di tích khảo cổ học về văn hóa Óc Eo – Phù Nam được khai quật tập trung ở vùng Óc Eo –

Ba Thê, Châu Đốc (An Giang) và các di tích ở Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An Trong đó, học viên tập trung chú ý nhiều đến vùng Óc Eo – Ba Thê (An Giang)

Thời gian: thế kỷ I đến thế kỷ VII

 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

+ Phương pháp nghiên cứu

Với nội dung đề tài như trên và khả năng nghiên cứu còn hạn chế của bản thân, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp hệ thống bao gồm các thao tác tổng hợp, hệ thống các tư liệu, tài liệu, hiện vật sau đó tiến hành phân tích các tư liệu Phương pháp nghiên cứu so sánh bao gồm các thao tác so sánh đối chiếu các nguồn tư liệu cũng như di vật lịch sử

có được về vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về thương cảng Óc Eo là một vấn

đề lịch sử vì vậy phương pháp lịch sử được sử dụng thông suốt đề tài Ngoài

ra, phương pháp liên ngành và khu vực học cũng được sử dụng xuyên suốt Kết hợp với ba phương pháp nghiên cứu trên là các thao tác kỹ thuật chuyên môn như phân loại di vật, thống kê, khảo tả , đo đạc và chụp ảnh … Song

Trang 15

song với những phương pháp, thao tác trên học viên còn vận dụng những kiến thức khoa học liên ngành như lịch sử học, kinh tế học, văn hóa học, khảo cổ học …để hoàn thành đề tài Để làm rõ hơn về những thông tin đưa ra, học viên còn trực tiếp nghiên cứu những hiện vật lịch sử, tư liệu có liên quan lưu trữ tại một số Bảo tàng khác trong nước cũng như những tư liệu, ấn phẩm chuyên ngành

+ Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chủ yếu được tác giả sử dụng là những sách, tạp chí được lưu trữ tại Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM, Bảo tàng Lịch sử - TP.HCM, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Thư viện Khoa học Xã hội và một số tư liệu khảo cổ học được công bố hàng năm về những vấn đề có liên quan

Bên cạnh đó, nguồn tư liệu di sản vật thể là các hiện vật thời kỳ văn hóa Óc Eo - Phù Nam được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử - TP.HCM, một số Bảo tàng khác và các nhà sưu tập tư nhân trong cả nước được học viên sử dụng để minh họa cho phần chính văn

 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trên cơ sở những kiến thức về Óc Eo của những nhà nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ tập trung sâu vào lĩnh kinh tế văn hóa của thương cảng Óc

Eo Kết quả nghiên cứu sẽ làm phong phú thêm về thông tin trong việc nghiên cứu Óc Eo về lĩnh vực kinh tế văn hóa, góp phần cùng hoàn thiện hơn bức tranh Óc Eo dưới nhiều phương diện Từ đó xác định được vị trí chiến lược và vai trò của kinh tế biển ở khu vực biển nam bộ trong quy hoạch phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của khu vực và cả nước

Luận văn sau khi hoàn thành có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho sinh viên trong việc nghiên cứu về Óc Eo, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế Có thể nói việc nghiên cứu về Óc Eo hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận, với việc thực hiện đề tài này sẽ giúp học viên có dịp tìm hiểu về những quan điểm khác nhau đó để thấy được nhiều phương diện của văn hóa Óc Eo

Trang 16

Đây có thể được xem là đề tài nghiên cứu mở, đồng thời cũng là cở sở định hướng cho việc nghiên cứu sau này của học viên nếu có điều kiện

 Bố cục đề tài

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn chia thành 3 chương chính Trong đó:

Chương 1 trình bày Cơ sở lý luận và thực tiễn Trong phần cơ sở lý

luận trình bày những khái niệm về cảng, cảng thị, thương cảng và sự xuất hiện của chúng, vai trò của thương cảng đối với một quốc gia, khu vực Từ

đó, xác định các yếu tố cảng và thương cảng tại Óc Eo Nhắc đến Óc Eo là nhắc đến vương quốc Phù Nam, giá trị của thương cảng Óc Eo phải đặt trong không gian văn hóa lịch sử của vương quốc Phù Nam Vì vậy, phần cơ sở thực tiễn cũng sẽ trình bày khái quát về lịch sử hình thành phát triển của vương quốc Phù Nam từ đó thấy được hoàn cảnh ra đời và phát triển của thương cảng Óc Eo

Chương 2 giới thiệu về Thương cảng Óc Eo tập trung về lĩnh vực kinh

tế cũng như hoạt động mua bán tại thương cảng Óc Eo gồm có tiền đề kinh tế, hoạt động thương mại thông qua các hàng hóa, sản phẩm thương mại là những hiện vật được tìm thấy

Sau khi trình bày về quy mô, hoạt động thương mại của thương cảng

Óc Eo, chương 3 sẽ trình bày về Vai trò của thương cảng Óc Eo đối với

vương quốc Phù Nam Trong đó, tập trung nhấn mạnh vào ba vai trò kinh tế văn hóa và chính trị

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Định nghĩa cảng, cảng thị, thương cảng và điều kiện hình thành

- Cảng: Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam thì “cảng” (giao thông, kinh

tế) là khu vực ở bờ biển hay bờ sông có những công trình xây dựng và trang thiết bị phục vụ cho tàu bè cập bến, bốc dỡ hàng hóa, hành khách lên xuống, sửa chữa phương tiện vận chuyển, bảo quản hàng hóa và thực hiện các công việc khác phục vụ quá trình vận chuyển đường thủy Cảng có cầu cảng, đường vận chuyển

Những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của cảng thường gồm có: khả năng thông tàu, thuyền, lượng luân chuyển hàng hóa và hành khách, khối lượng hàng vận chuyển, độ sâu luồng lạch ra vào và độ sâu ở các cầu tàu, tình hình kho bãi Theo vị trí địa lý, cảng có thể phân ra thành cảng bờ biển, cảng cửa sông và cảng nội địa Cảng biển có cảng thông dụng và cảng chuyên dụng Cảng là đầu mối giao thông vận tải quan trọng của mọi quốc gia (Từ điển Bách khoa Việt Nam 1995: 352)

- Cảng thị: Trước hết chúng ta cần tìm hiểu thế nào là thị (thành thị hay

đô thị) Theo từ điển bách khoa Việt Nam, thị hay thành thị xuất hiện do việc tách nghề thủ công ra khỏi nông nghiệp trong thời kỳ chế độ cộng sản nguyên thủy chuyển qua chế độ chủ nô Trong xã hội có giai cấp, thành thị dần dần khác hẳn và đối lập với nông thôn Thành thị là nơi tập trung công thương nghiệp, các tổ chức phục vụ đời sống, giáo dục, khoa học, văn hóa (Từ điển Bách khoa Việt Nam 2005: 158)

Theo định nghĩa trên thì thị hay thành thị ra đời đánh dấu sự phát triển của xã hội đã thoát ra khỏi chế độ cộng sản nguyên thủy và bước vào chế độ

xã hội mới cao hơn có sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước Thị thường đóng vai trò trung tâm của vùng hoặc quốc gia Thị hay thành thành thị là nơi

Trang 18

tập trung khá đông dân cư kéo theo sự hình thành của những tổ chức, hoạt động phục vụ cho đời sống như kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục, y tế Những hoạt động kinh tế có nhiều điều kiện phát triển với nhiều ngành nghề mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội như tiểu thủ công nghiệp, kim hoàn, điêu khắc, kiến trúc Song song đó là sự xuất hiện những đền đài phục vụ nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của người dân Thị ở phạm vi và qui mô nhỏ sẽ là nơi quần cư của một số đông dân cư phân biệt với nông thôn bởi thành phần kinh tế thủ công nghiệp và có những tổ chức phục vụ cho đời sống văn hóa tinh thần như tôn giáo, chính trị, giáo dục Thị hay thành thị ở quy mô lớn đối với một quốc gia sẽ thường là kinh đô, cũng được phân biệt với nông thôn bởi hoạt động kinh tế tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động phục vụ đời sống văn hóa tinh thần ở qui mô rất lớn và thường đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não về chính trị, văn hóa, kinh tế về quản lý xã hội

Từ hai định nghĩa về cảng và thị cho chúng ta một định nghĩa khái quát

về cảng thị như sau Cảng thị là cảng giao thương về kinh tế nằm ở thành thị

của một vùng hay một quốc gia Cảng xuất hiện ở thị sẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển đặc biệt là các ngành tiểu thủ công nghiệp (xã hội cổ đại) và công nghiệp (xã hội hiện đại) Từ đó, cảng thị trở thành một trung tâm

về kinh tế của vùng đối với thị có quy mô nhỏ và là trung tâm kinh tế của quốc gia đối với thị có quy mô lớn như kinh đô hay thành phố Nói đến cảng thị người ta thường nghĩ tới những hoạt động trao đổi mua bán, vận chuyển hàng hóa bằng tàu thuyền diễn ra nhộn nhịp tại các thành thị Về vị trí địa lý, cảng thị có thể gần các cửa sông lớn hoặc gần biển để tàu thuyền có thể lui tới mua bán hoặc nằm sâu trong đất liền gọi là cảng thị (nội địa) thì phải có hệ thống giao thông trong vùng để vận chuyển hàng hóa ra bến sông hoặc cửa biển

Như vậy, Cảng thị là khu vực có thành thị ở gần bờ biển hay bờ sông

hoặc trong đất liền, có những công trình xây dựng và trang thiết bị phục vụ cho tàu bè cập bến, bốc dỡ hàng hóa, hành khách lên xuống, sửa chữa phương

Trang 19

tiện vận chuyển, bảo quản hàng hóa và thực hiện các công việc khác phục vụ quá trình vận chuyển đường thủy

- Thương cảng: là cảng có chức năng về thương mại, trong đó thương

mại là toàn bộ hoạt động trao đổi và buôn bán các hàng hóa, dịch vụ, các chứng từ có giá trong xã hội Thương mại có vai trò rất quan trọng, là một khâu nối liền các ngành đặc biệt là giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa các vùng kinh tế, giữa trong nước và nước ngoài, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ đời sống, bảo đảm quá trình tái sản xuất nền sản xuất xã hội (Từ điển Bách khoa Việt Nam 2005: 352)

Theo định nghĩa trên, xét về quy mô chúng ta thấy rằng thương cảng bao hàm cảng thị và quy mô phát triển lớn hơn cảng thị Cả thương cảng và cảng thị đều thực hiện chức năng kinh tế thương mại là trao đổi, mua bán, vận chuyển hàng hóa và hành khách Điểm phân biệt giữa thương cảng và cảng thị

là yếu tố thương mại quốc tế với nước ngoài mang tính thường xuyên và quy

mô hơn cảng thị Ở cảng thị, có thể cũng có diễn ra hoạt động thương mại mang tính quốc tế nhưng không mang tính chất đặc trưng trong khi đó thương cảng có thể được xem là trung tâm buôn bán trao đổi của nhiều nước lui tới và

nó mang tính đặc trưng Như vậy, thương cảng là cảng ở các thành phố lớn gần cửa sông lớn, gần biển hoặc nằm trong đất liền được xem là trung tâm kinh tế của quốc gia, nơi đó diễn ra hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa nhộn nhịp trong vùng với các vùng miền khác trong nước và các nước ngoại quốc Nhắc đến cảng thị người ta sẽ chú ý nhiều đến yếu tố thị nhưng nhắc đến thương cảng người ta sẽ chú ý đến yếu thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế

+ Điều kiện hình thành cảng, cảng thị và thương cảng

Từ các định nghĩa về cảng, cảng thị và thương cảng cho chúng ta khái quát được điều kiện hình thành của chúng Nhìn chung phụ thuộc vào hai yếu

tố địa lý và yêu cầu của xã hội

Trang 20

Yếu tố địa lý Đây phải là khu vực gần biển, gần các sông lớn hoặc trong

nội địa nhưng phải có hệ thống giao thông đặc biệt là đường thủy kết nối Các cảng có thể xây dựng ở cửa gần cửa sông lớn gọi là cảng sông, ở cửa biển gọi

là cảng biển, hoặc sâu trong đất liền gọi là cảng nội địa Cùng với vị trí địa lý

ấy yêu cầu sẽ có những công trình phục vụ hoạt động vận chuyển hàng hóa, neo đậu thuyền và buôn bán được hình thành như cầu, chợ, bến thuyền Thông thường các cảng ở cửa biển hoặc cửa sông thường đóng vai trò là tiền cảng của một hệ thống gồm nhiều cảng và cảng chính thường nằm sâu trong đất liền hơn cảng sông và cảng biển Khi ấy, tàu thuyền có thể vào sâu bên trong để mua bán hàng hóa, lấy nước ngọt đặc biệt là tránh bão an toàn hơn ở các tiền cảng Chúng ta có thể thấy rõ điều kiện địa lý để hình thành cảng qua một số thương cảng nổi tiếng ở Việt Nam trong lịch sử Thương cảng Phố Hiến nằm cách biển 80 dặm với hệ thống giao thông đường thủy là sông Hồng và sông Thái Bình Cùng với các tuyến giao thông đường sông, các tuyến đường giao thương đường biển đã nối Phố Hiến với các thị trường xa hơn (Đăng Trường 2013b: 15 – 16) Thương cảng Hội An nằm dọc hai bên bờ sông Thu Bồn, với các cửa sông thông ra biển sâu và rộng, thuận tiện cho các tàu bè ra vào buôn bán (Đăng trường 2013a: 7) Hay thương cảng Sài Gòn nằm sâu ở trung tâm thành phố với sông Sài Gòn và sông Đồng Nai và các tiền cảng Cát Lái, cảng Cần Giờ

Như vậy, từ những thương cảng nổi tiếng trong lịch sử, chúng ta thấy rằng hầu hết những thương cảng lớn nổi tiếng thường không nằm sát biển mà nằm sâu bên trong nội địa cùng với hệ thống sông ngòi trong khu vực làm hệ thống giao thông vận chuyển ra ngoài cửa biển hay cửa sông lớn

Yêu cầu xã hội Cảng xuất hiện khi xã hội con người bước từ chế độ cộng

sản nguyên thủy vào xã hội có giai cấp có nhà nước Khi sản xuất hàng hóa tạo ra sản phẩm ngày càng nhiều đặc biệt là các sản phẩm thủ công nghiệp, con người có nhu cầu trao đổi với nhau Có thể ban đầu chỉ là hình thức trao đổi sơ khai theo phương thức vật đổi vật ở các nơi được gọi là chợ trong một

Trang 21

vùng với nhau Khi có sự xuất hiện yêu cầu của việc trao đổi hàng hóa giữa các vùng khác nhau, chợ sẽ được mở rộng về quy mô Lượng hàng hóa dồn về càng nhiều, nhu cầu được trao đổi những thứ khác lạ ngày càng tăng Từ đó, hình dáng của những cảng cổ đầu tiền xuất hiện Có thể khi ấy các cảng chỉ là các bến sông mà ở đó diễn ra hoạt động buôn bán và vận chuyển hàng hóa Sau khi trao đổi hàng hóa, các thương nhân giữa các vùng miền lại trở về với vùng miền của mình và phổ biến những hàng hóa mới lạ Từ đó, càng được

mở rộng nhu cầu buôn bán giữa các vùng miền Từ việc trao đổi buôn bán những sản phẩm nông lâm thủ công nghiệp lại thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển đặc biệt là ngành thủ công nghiệp, các thợ thủ công dần dần dồn về các chợ kéo theo sự xuất hiện của các thị hay thành thị Và hoạt động buôn bán trao đổi vận chuyển ở thành thị gần sông hoặc biển có cảng đã dẫn đến sự

Như vậy, chúng ta thấy rằng sự xuất hiện của cảng, cảng thị và thương cảng đánh dấu từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của loài người Cảng ra đời khi nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa xuất hiện Nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa xuất hiện gắn liền với bước chuyển của xã hội loài người từ thời

kỳ công cụ lao động đồ đá sang thờ kỳ công cụ lao động kim khí Bước vào

Trang 22

thời kỳ kim khí, những thành tựu về công cụ lao động đã đưa xã hội loài người phát triển cao hơn một bước, sản xuất hàng hóa ngày càng tăng, nhu cầu chiếm hữu xuất hiện tạo mầm móng cho sự ra đời của những nhà nước sơ khai Khi nhà nước ra đời kéo theo sự ra đời của những nơi đô hội gọi là thị

và khi đó cảng thị xuất hiện Như thế, sự ra đời của cảng thị có thể đươc xem

là mốc thời gian gắn liền với sự ra đời của những nhà nước cổ đại đầu tiên trên thế giới Và sau cùng là thương cảng ra đời gắn liền với sự phát triển của một quốc gia đạt trình độ thịnh vương

Lịch sử đã chứng minh rằng hầu hết các thương cảng cổ đều gắn liền với một đế chế hàng hải hay một quốc gia hùng mạnh, hoặc ít nhất là một quốc gia đang trong giai đoạn phát triển thịnh vượng và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển về kinh tế hàng hóa và có nhu cầu về ngoại giao chính trị với các nước bên ngoài Chúng ta thấy rõ điều này qua một số thương cảng trên thế giới Vào thời vua Asoka đã đưa vương triều Maurya (322 – 185 trước Công nguyên) phát triển cực thịnh Ông quan tâm khuyến ngoại thương giữa Ấn Độ với nước ngoài bằng cách mở mang đường xá, xây dựng bến cảng Từ đó hình thành các con đường buôn bán ven biển, ven sông và đường bộ qua các cảng nối sông Ấn với sông Hằng, từ đó ngoại thương với vương triều Seleucos ở Iran và thế giới Địa Trung Hải (Lương Ninh 2001: 101 – 103) Hay thương cảng Malacca với vương quốc cảng Malacca ở Đông Nam Á vào thế kỷ 15 Với vị trí thuận lợi về biển là nơi tàu bè từ Ấn Độ và Tây Á gặp nhau, là trạm trung chuyển lớn nhất là quan trọng nhất ở vùng biển Đông Nam, Malacca không chỉ là trung tâm của hoạt động thương mại trong vùng mà còn cả về chính trị (Shigeru Ikuta 1991: 253 – 254)

1.1.2 Tầm quan trọng của việc hình thành các thương cảng

Lịch sử thế giới đã chứng kiến sự hình thành và phát triển của những thương cảng cổ và cũng đã chứng minh được thương cảng có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của nhân loại như thế nào Hầu hết các nền văn minh lớn trên thế giới đều được hình thành ở những thềm sông lớn hoặc ở các

Trang 23

cửa biển, từ đó thuận lợi cho việc hình thành những thương cảng phục vụ giao thương và trao đổi văn hóa Từ những cảng biển của mình, các khu vực văn minh của nhân loại lại được kết nối hữu cơ với nhau thông qua các thương cảng quốc tế, các tuyến giao thương và hàng hải xuyên đại dương để hình thành các mối quan hệ thương mại và trao đổi văn hóa liên/xuyên châu lục và

mang tính toàn cầu từ rất sớm trong lịch sử

Kết nối kinh tế vùng và quốc tế Chúng ta thấy rằng ngoài yêu cầu về

vị trí địa lý để hình thành cảng, thương cảng thì yêu cầu về trao đổi kinh tế đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thịnh vượng của một thương cảng Nếu như ở các cảng sông nhỏ, cảng thị có quy mô nhỏ thì nhu cầu trao đổi hàng hóa bị giới hạn trong một vùng, một nhóm người cộng cư nhất định Thương cảng thì hoạt động thương mại được mở rộng với quy mô lớn, không chỉ trong vùng mà còn giữa các vùng miền trong khu vực và các nước bên ngoài Từ đó, các thương cảng vô hình trung đã trở thành điểm kết nối kinh tế trong vùng, giữa các vùng miền và các quốc gia với nhau Các thương cảng và kinh tế sản xuất hàng hóa, ngoại thương có mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau Thương cảng sầm uất thì kinh tế thương mại, thủ công nghiệp càng phát triển Song song đó, kinh tế thương mại và thủ công nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thương cảng duy trì và phát triển Khi thương cảng thúc đẩy kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều hàng hóa từ nhiều vùng miền đem đến để trao đổi với những vùng miền xa xôi khác, giúp thương cảng thực hiện được chức năng kết nối kinh tế vùng và khu vực của mình

Ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVI, thương cảng Hội An là một trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong và của cả nước Đại Việt Từ thương cảng này, hàng hóa trong nước với những sản phẩm nổi tiếng như tơ tằm, gốm sứ, trầm hương, yến sào được thuyền buôn các nước chuyển tải đến nhiều nước Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây Hàng hóa nước ngoài cũng từ Hội An được tỏa khắp mọi miền đất nước Từ

đó, Hội An là một thương cảng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình

Trang 24

thành nên “con đường gốm sứ” trên vùng biển Tây Nam Thái Bình Dương

Và đóng vai trò kết nối giữa vùng biển Đông Nam Á và Trung Hoa, cũng như giữa Nhật Bản và Trung Hoa trên con đường gốm sứ xuyên Thái Bình Dương trong kỷ nguyên đại thương mại của thế giới (Trần Ánh 1998: 38)

Thay đổi kết cấu dân cư vùng và thành phần dân cư Những biến đổi

mang tính vùng mà thương cảng đem đến dễ thấy nhất là sự đổ xô những người lao động ở vùng khác đến đề đáp ứng nhu cầu về kinh tế kéo theo sự thay đổi kết cấu thành phần dân cư và kinh tế vùng Những thợ thủ công lành nghề, những người dân cần bán sức lao động, những thương nhân, tiểu thương ở những vùng xa xôi cũng sẽ có cơ hội để hội tụ về đây Từ đó xuất hiện thành phần dân cư nhập cư về chung sống với những cư dân bản địa Song song đó, họ sẽ mang những nét văn hóa vùng miền của họ về đây làm giàu cho văn hóa tại chổ

Vì cảng là nơi tập trung hàng hóa từ nhiều vùng miền xa xôi, trong đó có những hàng hóa mang tính quý, hiếm đã thu hút nhiều thương nhân đặc biệt

có những thương nhân nước ngoài Với trình độ của kỹ thuật đóng tàu thuyền lúc bấy giờ, các thương thuyền ngoại quốc đến với các cảng chủ yếu theo chế

độ gió mùa Vì các nguồn hàng hóa quý hiếm, họ tìm đến những vùng đất lạ,

xa xôi tuy nhiên vì các thuyền đi lại phụ thuộc nhiều vào chế độ gió mùa nên đôi khi họ không thể quay lại chính quốc trong một thời gian ngắn Vì vậy buộc họ phải lưu trú lại đất khách để chờ mùa gió năm sau sẽ quay về chính quốc Quá trình chung sống với cư dân bản địa, một số trong số họ đã kết hôn

và sinh con Từ đó hình thành một nhóm các dân cư ngoại quốc và nhóm con lai của họ Và những cư dân ngoại quốc này cũng đã góp làm giàu thêm văn hóa ở nơi họ định cư Các cộng đồng dân nhập cư theo các cuộc giao dịch thương mại giữa Việt Nam và các nước trong lịch sử như người Nhật ở Hội

An, người Hoa ở Hội An và Nam Bộ Việt Nam

Giao lưu tiếp biến văn hóa Cùng với việc xuất hiện những cộng đồng

dân nhập cư là văn hóa truyền thống của họ Thông qua quá trình cộng cư,

Trang 25

những yếu tố văn hóa ngoại sinh dần dần được cư dân bản địa tiếp nhận, làm giàu thêm cho văn hóa bản địa Ngày nay, trên khắp lãnh thổ Việt Nam vẫn còn dấu vết của nhiều nền văn hóa ngoại quốc cổ xưa Đó không phải là sự truyền bá văn hóa một cách cưỡng bức bằng chiến tranh mà đó là kết quả của quá trình chung sống hòa bình và xây dựng văn hóa của những người địa phương và người ngoại quốc Đến với Hội An, chúng ta vẫn còn nhìn thấy những dấu ấn của Nhật để lại như Chùa Cầu cũng là sản phẩm của người Nhật

và ngày hôm nay gần như được xem là biểu tượng của Hội An Ngoài ra còn

có những ngôi mộ của thương nhân người Nhật Bản, đặc biệt có ngôi mộ của thương nhân Tani Yajirobei lâp năm Đinh Hợi, trên mộ khắc rõ hai chữ Nhật Bản và tấm bia ghi nội dung: Ông đã tìm mọi cách để sống với người yêu của mình là một cô gái người Hội An đến khi từ biệt cõi đời (Dấu ấn Nhật Bản trong lòng di sản thế giới Hội An, http://vietpictures.net/vi/thong-diep-co-vat/710-du-n-nht-bn-trong-long-ph-c-hi-an.pdf) Đó là kết quả của quá trình giao thương giữa người Nhật và Đại Việt tại thương cảng Hội An vào thế kỷ XVI – XVII

Hay đến với Thành phố Hồ Chí Minh và Hội An chúng ta cũng dễ dàng thấy được những dấu ấn văn hóa Trung Hoa để lại khá rõ nét, về tín ngưỡng

có tục lệ thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Thập Nhị Tiên Nương, Thái Thượng Lão Quân Nhiều công trình kiến trúc mang đậm văn hóa Trung Hoa còn lại đến ngày nay như Chùa, Hội quán Trong Hội quán

là nơi sinh hoạt của cộng đồng người Hoa theo nguồn gốc địa phương hay huyết tộc là loại hình khá đặc trưng ở các nước có thương nhân người Hoa đến buôn bán và nhập cư như Hội quán Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam

Tăng cường mối quan hệ chính trị ngoại giao với các nước Thông

qua các hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa, các mối quan hệ ngoại giao ngày càng được mở rộng Từ những mối quan hệ giao bang về thương mại và chính trị, các quốc gia có thương cảng phát triển

Trang 26

sẽ tranh thủ được những sự ủng hộ giúp đỡ từ các nước có mối quan hệ về thương mại diễn ra trước đó Và từ mối quan hệ chính trị cũng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động thương mại diễn ra thuận lợi hơn Trong lịch sử phát triển của mình, các quốc gia gắn liền với biển đã ý thức được vai trò và sức mạnh của biển trong hoạt động giao thương, quân sự và đối với an ninh phòng thủ

Những đế chế hùng mạnh nhất là những đế chế biển (G Coedès 2008: 13)

Như vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng của việc hình thành một thương cảng đối với một quốc gia, và khu vực Chúng tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - chính trị và xã hội của một quốc gia Trước hết là thúc đẩy các ngành nghề kinh tế địa phương phát triển, tạo điều kiện giao thương với các nước Từ đó, các mối quan hệ ngoại được mở rộng, các mối quan hệ chính trị cũng thông qua đó ngày càng được củng cố Tạo điều kiện thuận lợi

cho sự giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa các nước với nhau

1.2 Khái quát về cảng Óc Eo

1.2.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý

Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ học người Pháp là Louis Malleret đề nghị đặt cho một địa điểm nằm ở phía nam tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long (huyện Thoại Sơn) Nơi này có thể đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ I đến thế kỷ VII Sau này người ta dùng tên này để đặt tên cho thị trấn phát hiện ra di tích Óc Eo gọi là thị trấn

Óc Eo thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cách thành phố Long Xuyên 83,54km về hướng Tây Nam Phía Đông giáp xã Vọng Đông - An Giang, tây giáp tỉnh Kiên Giang, nam giáp xã Bình Thành – An Giang, bắc giáp xã Vọng Thê – An Giang1

Óc Eo chiếm địa thế duyên hải cách bờ biển hiện nay khoảng 85 km Quan sát trên bản đồ, chúng ta thấy vị trí Óc Eo nằm trong một vịnh lớn ở khu vực biển Hà Tiên

1 (https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%93c_Eo_%28th%E1%BB%8B_tr%E1%BA%A5n%29 )

Trang 27

Các di tích về Óc Eo dưới chân núi Ba Thê có chu vi khoảng 9km, tương ứng với một hình chữ nhật có cạnh dài 3,6km và cạnh ngắn là 1,5km Quan sát từ trên máy bay, núi Ba Thê được vây quanh bởi vành đai các con sông, lạch lớn nhỏ Từ đỉnh núi, chúng ta có thể quan sát mọi hướng đi xung quanh của vùng châu thổ Như thế, Óc Eo được bố trí trở thành trung tâm của một hệ thống giao thông thủy lộ Sự bố trí này chứng tỏ đã có một chính quyền đủ mạnh và văn minh để hoạch định toàn bộ kế hoạch (Louis Mallaret, Tập 1:

291 – 297) Trong bố trí như vậy ở Óc Eo có nhiều điểm giống với bố trí của những thành phố cổ ở Ấn Độ, tiêu biểu là thành phố Mohenjo-daro phát triển vào thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ II trước công nguyên với việc quy hoạch thành phố và công tác trị thủy (Chiêm Tế 1977: 158 – 159)

Theo các thư tịch cổ, thì Óc Eo nằm trong vùng có tên gọi là

Naravaranagara (Na Phất Na) Không ảnh P.Paris (1941) phát hiện một con

kênh thẳng tắp dài 100 km nối Óc Eo với Châu Đốc, một hệ thống sông cắt ngang, nối trục kênh chính với biển là chuỗi 5 kênh nối Châu Đốc với Angkor Borei Như vậy, toàn thể khu vực này được nối với nhau thành từng ấp, nối

Óc Eo với Châu Đốc rồi Angkor Borei và từ Óc Eo ra biển Từ đó, Óc Eo trở thành một khu vực trung tâm của vùng mà các nhà nghiên cứu còn cho rằng đây là khu vực lãnh thổ cơ bản, địa bàn ban đầu của Phù Nam Những đoạn tả đường sông, vị trí nằm trong vịnh lớn, nhà sàn, cây dừa nước của thư tịch cổ hoàn toàn phù hợp với điều kiện địa lý và tự nhiên ở Óc Eo – vị trí của Phù Nam (Lương Ninh 2006: 36)

Với địa thế này, đã mở cho Óc Eo những đường hàng hải tiếp xúc với bên ngoài đồng thời kích thích cho kinh tế trong vùng phát triển Những đồng bằng phì nhiêu là nơi nuôi sống của cư dân Phù Nam đông đúc và sự phồn vinh của chúng cho đến ngày nay vẫn được chứng minh đầy đủ Từ đó, khả năng trao đổi về kinh tế trở thành chổ dựa đồng thời trở thành phương tiện cho các tiếp xúc văn hóa

Trang 28

Hình 1: Vị trí Óc Eo ngày nay (Nguồn: Google maps)

Hình 2: Toàn cảnh khu di tích Óc Eo – Ba Thê ngày nay (Google maps)

1.2.2 Yếu tố cảng của Óc Eo

Theo phần định nghĩa về cảng thì cảng là một khu vực có những công trình xây dựng và trang thiết bị phục vụ cho tàu bè cập bến, bốc dỡ hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy Cảng có cảng sông, cảng biển và cảng nội địa Căn cứ vào vị trí địa lý mà các nhà khảo cổ học xác định về Óc Eo thì Óc

Trang 29

Eo có lẽ thuộc nhóm cảng nội địa với những tiền cảng là cảng cửa sông và cảng cửa biển Chúng được kết nối với nhau bằng hệ thống kênh đào như phần trình bày ở yếu tố địa lý Vì nằm sâu trong đất liền nên muốn đến được cảng Óc Eo, các thương thuyền phải đi qua một số tiền cảng khác mà theo kết quả khai quật có ba tiền cảng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại ở Óc Eo là Nền Chùa, Cạnh Đền và Cần Giờ Ngoài ra còn có một số cảng cổ khác đóng vai trò hỗ trợ trong hoạt động thương mại tại Óc Eo

Nền Chùa có tên gọi là Tã Kêv, có nghĩa “Ông Ngọc”, nay thuộc Tân

Hiệp – Kiên Giang, cách di tích Óc Eo 12 km về phía tây nam, cách thị xã Rạch Giá 12 km về phía bắc Có thể trước đây, Nền Chùa là một cửa sông lớn của con lung này và nhiều con lung khác Những di vật tìm thấy gồm có tiền kim loại đúc tia mặt trời, con dấu và những vật dụng dùng trong sinh hoạt như nồi, bình, cà ràng trong đó, tiền kim loại và con dấu được xem là những

di vật có liên quan đến hoạt động thương mại tại Nền Chùa Từ đó, cho chúng

ta nhận diện rằng, Nền Chùa có thể là một tiền cảng đồng thời cũng là một trung tâm thương mại ở phía tây nam Phù Nam (Lê Xuân Diệm 1984: 62), (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995: 43 – 48)

Cạnh Đền có tên gọi trước đây là Thnal M’ray, Thnol Moroy hay Cent

Rues (Trăm phố) thuộc ấp 2 Cạnh Đền, xã Vĩnh Phong (Vĩnh Thuận) – Kiên Giang Di tích cách thị xã Rạch Giá 70 km và di tích Óc Eo 90 km về phía đông nam Qua khảo sát của Louis Malleret đã tìm thấy rất nhiều đống vỏ sò

và vỏ trai khổng lồ Tất cả những vỏ sò ấy thuộc những giống trai biển, chứng

tỏ trước đây là một vùng biển (Louis Malleret, Tập 1: 245) Trong số 22 con dấu được tìm thấy thì tại Cạnh Đền, các nhà khảo cổ học đã thu thập được 13 con dấu làm bằng chất liệu đá quý và kim loại Đây là số lượng con dấu lớn nhất được tìm thấy trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ Từ đó, có thể liên tưởng rằng phải chăng Cạnh Đền là nơi tập trung quyền lực cao, một cửa ngỏ giao thương với thế giới bên ngoài ở phía nam của Phù Nam

Trang 30

Cần Giờ nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh Những di vật tìm thấy

trong các di tích mộ chum ở Cần Giờ cho chúng ta nhiều bằng chứng về hoạt động khai thác biển Đó là dấu tích vỏ hàu, sò, nghêu, cua trong tầng văn hóa; nổi bật là những đồ trang sức làm bằng vỏ nhuyễn thể, từ xương cá biển (Đặng Văn Thắng 2008: 164 – 167) Và từ cảng Cần Giờ này, các thương nhân tiếp tục xuôi thuyền về phương nam, theo các kênh rạch đến với Óc Eo Căn cứ vào những hiện vật tìm được đặc biệt là ở khu vực biển Cần Giờ đến khu vực bờ biển ở Kiên Giang, chúng thấy chúng có sự giống nhau về niên đại và phong cách chứng tỏ, đã có một sự hoạt động mang tính thông thương liên tục từ của biển Cần Giờ đến của biển ở Rạch Giá – Kiên Giang Tàu thuyền sau khi qua eo biển Kra (Thái Lan) vào vịnh Rạch Giá rồi theo sông rạch vào cảng Óc Eo trao đổi hàng hóa rồi ra vịnh Cần Giờ Theo sự hướng dẫn của người bản xứ, con tàu chở hai sứ thần Trung Hoa là Chu Ứng

và Khang Thái vượt mũi Vũng Tàu tiến về vịnh Cần Giờ rồi theo sông lớn đi

về phía mặt trời lặn để đến Óc Eo (Thương cảng quốc tế đầu tiên đầu công

nguyên trên đất Việt,

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/222660/thuong-cang-quoc-te-dau-cong-nguyen-tren-dat-viet.html đăng ngày 25/02/2015)

Như vậy, với điều kiện vị trí như trên thì vấn đề thủy lộ để các đoàn thương nhân đến với Óc Eo đã được đặt ra từ rất sớm Lộ trình giao thương này có ý nghĩa sống còn đối với một quốc gia như Phù Nam Trên thực tế, Phù Nam bị chi phối mạnh mẽ bởi con đường hương liệu băng qua vùng Đông Nam Á Theo đó, có hai hướng chính mà các thương nhân đến với thương cảng Óc Eo Các thương nhân từ Nam Ấn họ sẽ đi dọc vịnh Bengal đến eo biển Kra hoặc eo biển Malacca Từ hai eo biển này, họ sẽ đi vào vùng biển Vịnh Thái Lan và đến với tiền cảng Nền Chùa Từ Nền Chùa, ngược dòng kênh đào cổ Lung Lớn rồi đến Óc Eo Đối với các thương nhân từ phương Bắc xuống như Trung Quốc, họ sẽ men theo vùng duyên hải miền Trung đến cửa biển hạ lưu sông Mêkông, ngược dòng sông Tiền, sông Hậu sẽ gặp con kênh đào dẫn đến Óc Eo

Trang 31

Từ đó, thương cảng Óc Eo chia thành 2 khu vực với mục đích sử dụng khác nhau:

+ Khu vực phía Đông Ba Thê là các bến nước nằm dọc bờ kênh tạo thành hệ thống chợ nổi tương tự như Phụng Hiệp hay Cái Răng ngày nay Là nơi ghe thuyền lui tới trao đổi hàng hóa với cư dân tại chổ, cũng là nơi cung cấp lương thực cho cư dân nội thành Các kho hàng và xưởng luyện vàng, chế tác thủy tinh trang sức được tìm thấy tập trung phía sau hào nước vốn là cửa ngõ chính của mỗi đô thị (Hoàng Xuân Phương 2009: 450)

+ Khu phía Nam là nơi neo đậu của các tàu hàng viễn dương để tiếp nhận hàng hóa sản vật từ các tàu chợ trong vùng, cũng là nơi trao đổi hàng hóa giữa các con tàu đến từ phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản và các con tàu đến từ phương Tây như Ấn Độ, Ba Tư và Trung Đông biến nơi đây thành nơi hội tụ các đoàn tàu trên con đường hương liệu

Nhiều thư tịch cổ đề cập đến hoạt động nhộn nhịp của thương cảng Óc

Eo suốt nhiều thế kỷ đầu công nguyên, biến nơi đây thành nơi đô hội phồn vinh mà các thương nhân Đông Tây lui tới Mặt khác, vốn nằm trong một đất liền khá xa nên nơi đây cũng là nơi tránh bão lý tưởng đồng thời là nơi lưu trú chờ mùa gió thuận để tiếp tục dong thuyền ra biển Đông hay Ấn Độ Dương

Ở đây, người ta cũng dễ dàng thuê tàu đi Đông, đi Tây theo hải trình đã định

1.2.3 Yếu tố thị của Óc Eo

Óc Eo được xem là một thành phố quan trọng của Phù Nam thông qua những công trình khai quật và được các học giả phương Tây công nhận Bên cạnh đó, sự trùng khớp về mặt niên đại của những hiện vật được tìm thấy tại

Óc Eo với những nền văn minh lớn có liên quan như tiền La Mã, tượng Trung Quốc và tượng Ấn Độ cùng thời càng chứng minh được yếu tố thành phố với

quy mô lớn tại Óc Eo (Nancy Tingley 2009: 7) Trong Báo cáo khai quật

Beithano ở Myanmar năm 1996, (Report on the Excavation at Beithano),

Bennet Bronson (người trực tiếp tham gia khai quật) cho rằng: ở Đông Nam

Á có bốn khu di tích cổ là Óc Eo, U Thong, Chansen và Beithano thì chỉ có

Trang 32

hai nơi được coi là đô thị theo quy mô của nó ở thời kỳ sớm là Óc Eo và

Beithano Trong tác phẩm Le site de Go Oc Eo, Ancient port du Royaume de Founan (Di tích Óc Eo, cảng cổ của vương quốc Phù Nam), G Coedes đã

khẳng định Di tích Óc Eo là cảng cổ của vương quốc Phù Nam (Đặng Văn Thắng 2013a: 63)

Trong Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, Malleret có dẫn chứng về

hai bia ký mà theo ông đã đề cập đến cảng Óc Eo Một bia ký tìm được tại Phú Hữu, gốc ở biên giới phía nam Đồng Tháp Mười có nhắc đến tên thành phố Tamandarapura Một bia ký khác không rõ nơi tìm thấy được Doudart le

Lagrée chuyển từ Lovek về Sài Gòn khắc tên đô thị Samdrapura – thành phố

miền biển Theo Malleret thì đó là cảng Óc Eo có bề thế như một hải cảng

nhân tạo với một con lạch đón thuyền vào bờ, xây dựng với quy mô lớn có

thành lũy bao quanh xứng đáng với một thành phố miền biển (Louis Malleret,

Tập 3: 228)

Trong Các đô thị cổ Phù Nam, một lần nữa yếu tố đô thị ở Phù Nam

được GS Lương Ninh nhắc đến thông qua những dấu vết kiến trúc bằng đá hình vuông hay hình chữ nhật được tìm thấy ở khu vực xung quanh núi Ba Thê và Đá Nổi (An Giang) Cũng như ý kiến của Malleret cho rằng sự thay đổi chất liệu xây dựng từ gỗ bằng gạch và đá đánh dấu sự chuyển tiếp phát triển cao hơn, những vật liệu vững chắc xây dựng nền trên những phiến đá granit dùng làm nơi ngự trị của thần thánh hay các ông lớn? Mặc dù chưa hình dung được bình đồ của các đô thị cổ này, nhưng đây cũng có thể được xem là một trong những dấu vết về đô thị còn lại ở Óc Eo (Lương Ninh 1996:

Trang 33

kinh tế (kinh tế thủ công nghiệp), chính trị (quản lý) và văn hóa (các yếu tố liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng phục vụ đời sống tinh thần)

Chức năng kinh tế của đô thị Óc Eo được thể hiện ở cơ cấu kinh tế và

sự phân hóa ngành nghề kinh tế thủ công nghiệp Hàng ngàn hiện vật nguyên vẹn làm bằng các chất liệu như vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, thuỷ tinh, đá, gỗ, gốm và hàng trăm ngàn mảnh hiện vật được tìm thấy là nguồn tài liệu chủ yếu giúp các nhà khoa học nghiên cứu về nhiều mặt đời sống kinh tế văn hóa của

cư dân Óc Eo Nổi bật là các loại đồ trang sức, tượng thờ và đồ gốm gia dụng Đây cũng là sản phẩm cuả các nghề thủ công phát triển cao, đa dạng và tinh xảo Nhiều di chỉ - xưởng chế tạo đồ gốm, đồ trang sức được tìm thấy ở khu

di tích lớn như Óc Eo-Ba Thê, Nền Chùa, Cạnh Đền, Gò Tháp, Gò Hàng.Yếu

tố thương mại quốc tế cũng được tìm thấy tại Óc Eo với các hiện vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc, Địa Trung Hải như các tượng thần Ấn Độ, gương đồng Hậu Hán, tượng phật thời Bắc Ngụy hay đồng tiền La Mã đã góp phần mở rộng quy mô đô thị của Óc Eo Khi đó, Óc Eo không chỉ là một đô thị của quốc gia mà còn là một thành phố lớn, hay một trung tâm thương mại lớn trong khu vực (Sở Văn hóa Thông tin An Giang 1984; Lê Xuân Diệm - Đào Linh Côn - Võ Sĩ Khải 1995; Võ Sỉ Khải 2008)

Chức năng quản lý xã hội ở Óc Eo được thể hiện rõ nét qua các hiện

vật được xem là con dấu hay một hình thức ấn tín Việc sử dụng con dấu trong quản lý xã hội chứng tỏ sự phát triển xã hội đạt trình độ văn minh cao phổ biến vào thời cổ đại như Ấn Độ và La Mã Thông qua các loại hình con dấu hay ấn tín bằng nhiều chất liệu, hình dáng chứng minh sự quản lý chặt chẽ, mang tính hệ thống và có phân cấp phân tầng rõ rệt Các di tích khảo cổ được tìm thấy gần thị trấn Óc Eo, cách bờ biển khoảng 3 dặm, là khu cư trú thuộc thương cảng Phù Nam Các thương đoàn đến Phù Nam phải qua Óc Eo, thực hiện các thủ tục hành chính tại đây, rồi từ đó thông qua một mạng lưới kênh rạch nối Vịnh Thái Lan với Sông Cửu Long để vào kinh đô và các vùng khác trong cả vương quốc Hay các sứ bộ Trung Quốc đến Phù Nam đã ghi lại

Trang 34

trong thư tịch cổ về việc người dân ở đây đã thực hiện chế độ đóng thuế bằng vàng, bạc, ngọc trai, và hương liệu… Họ có sách vở, có nhà lưu giữ sách vở

và tài liệu Vua Phù Nam có khả năng viết sách chữ nước Thiên Trúc, có sách khoảng 3000 lời nói về nguyên do kiếp trước sau của vua… (Lương Ninh 2005: 26) Như vậy, chúng ta thấy được tính hành chánh quản lý xã hội cũng như hình thức thu thuế được áp được chặt chẽ ở Phù Nam, mà hầu hết được thực hiện tại đô thị Óc Eo

Chức năng văn hóa được thể hiện qua các di tích cư trú, kiến trúc đền

và mộ táng được phát hiện qua các cuộc khai quật khảo cổ học tại các di tích như Óc Eo – Ba Thê (An Giang), Đá Nổi (An Giang), Nền Chùa (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp) Đặc biệt tại Óc Eo các nhà khảo cổ học cũng phát hiện được các di tích quan trọng như di tích Gò Cây Thị, Gò Óc Eo, Gò Cây Trôm, Nam Sơn Tự Trong đó, di tích Gò Cây Thị trong cụm di tích Óc

Eo được xem là một trung tâm tôn giáo, chính trị của Óc Eo và phù Nam với

số lượng hiện vật lớn và đặc trưng nhất Các di tích kiến trúc khai quật được gồm có di tích cư trú, đền tháp và mộ táng còn sót lại gồm có các cọc nhà sàn

và một số cấu kiện trang trí hoa văn, phế tích hay nền móng đền tháp thờ hoặc đền tháp, mộ táng Bên cạnh những dấu vết về kiến trúc, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy hàng ngàn những hiện vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng như tượng thần, Phật và các biểu tượng tôn giáo của Bà la môn giáo và Phật giáo (Sở Văn hóa Thông tin An Giang 1984; Lê Xuân Diệm - Đào Linh Côn -

Võ Sĩ Khải 1995; Lương Ninh 2005) Như vậy, chứng tỏ được Óc Eo từng là một trung tâm tôn giáo của khu vực lúc bấy giờ Trung tâm văn hóa ra đời bao giờ cũng gắn với nhu cầu phục vụ người dân Từ đó cho thấy, Óc Eo là nơi có

số lượng cư dân cư trú khá lớn với nhiều thành phần cư dân khác nhau, kéo theo đó là hệ thống tôn giáo tín ngưỡng ra đời để phục vụ nhu cầu của cộng đồng cư dân đó

Như vậy, từ những phân tích ở trên chứng minh được Óc Eo hội đủ các yếu tố của một đô thị cảng hay còn gọi là cảng thị Và chính yếu tố kinh tế

Trang 35

thương mại quốc tế qua các hiện vật nước ngoài được tìm thấy tại các di tích nói trên đã mở rộng quy mô thành một thương cảng của khu vực Nơi đây không chỉ là chốn đô hội lớn với sự cộng cư của nhiều thành phần cư dân và nhiều ngành nghề kinh tế, một cảng thị, mà còn là một trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa lớn của vương quốc Phù Nam (Lê Xuân Diệm 2008: 331 – 332)

1.3 Vương quốc Phù Nam

1.3.1 Sự hình thành vương quốc Phù Nam

Người ta thường nhắc đến Phù Nam như một vương quốc cổ hùng

mạnh ở khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên lại không có một ghi chép chính thức nào về sự hình thành, phát triển và suy vong của vương quốc này Người

ta chỉ biết đến sự tồn tại của Phù Nam thông qua những thư tịch cổ của người Trung Quốc và các bia ký bằng chữ Phạn cổ được tìm thấy rải rác ở khu vực phía nam Đông Nam Á lục địa

Năm 1944, sau khi văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam được phát hiện thì ngày càng có nhiều bằng chứng khảo cổ học chứng minh về sự tồn tại của vương quốc này Nội dung trong các thư tịch đều xoay quanh một nội dung Vào lúc bấy giời phía Nam có một người con gái tên là Liễu Diệp, là thủ lĩnh của một bộ lạc còn “trần truồng” hay là ở trần và đóng khố Đây là tập quán bình thường của nhiều dân tộc ở Đông Nam Á Hỗn Điền - một chàng trai Ấn Độ, sau khi có một giấc mơ lạ đã khởi hành chuyến chinh phục của mình xuống phía Nam Tại đây, Liễu Diệp và Hỗn Điền gặp nhau, kết duyên và Hỗn Điền trở thành vua của nước đó

Tấn thư chép về sự hình thành của Phù Nam trong đó chàng trai Ấn Độ

lại tên là Hỗn Hội: “Vua nước đó vốn là đàn bà, tên Liễu Diệp Đương thời có người nước ngoài tên là Hỗn Hội, vốn thờ Thần, một đêm Hỗn Hội nằm mơ thấy Thần ban cho cây cung, lại chỉ bảo cho thuyền ra biển Sáng hôm sau, Hỗn Hội ra miếu thờ Thần, nhặt được cây cung, sau theo thuyền buôn vượt biển Khi thuyền đến ấp ngoài của Phù Nam, Liễu Diệp đem quân kháng cự

Trang 36

Hỗn Hội giương cung, Liễu Diệp sợ hãi, liền xin hàng Thế rồi Hỗn Hội lấy Liễu Diệp làm vợ và chiếm luôn Phù Nam.” (Lương Ninh 2005: 31; Nguyễn Hữu Tâm 2004: 267)

Nam Tề thư trích về Phù Nam có khác chút ít so với Tấn thư là Hỗn

Điền đến miếu thần và nhặt được cây cung dưới gốc cây Hỗn Điền lấy Liễu Diệp làm vợ, cai trị nước đó, con cháu truyền cho nhau Hỗn Điền ghét tục nước này ở trần, nên bảo nàng lấy vải quấn (Lương Ninh 2005: 31; Nguyễn Hữu Tâm 2004: 268)

Lương thư căn bản cũng viết giống như trên chỉ khác đôi chút về tên gọi

là Hỗn Hội và Diệp Liễu: “Tục nước Phù Nam vốn khỏa thân, vẽ mình, xõa tóc và không biết may quần áo, phụ nữ làm vua Vị nữ vương tên là Diệp Liễu, còn ít tuổi, khỏe mạnh như nam giới Hỗn Hội cai trị nước ấy, bèn cưới Diệp Liễu làm vợ, sinh con rồi chia nước làm 7 ấp cho các con cai trị” (Lương Ninh 2005: 32; Nguyễn Hữu Tâm 2004: 274)

Như vậy chúng ta thấy rằng, đều có thống nhất về nội dung ở các thư tịch

cổ Sự kết hợp Liễu Diệp và Hỗn Điền là sự kết hợp của hai nền văn hóa khác nhau Sự kết hôn của Hỗn Điền – Liễu Diệp hay Kaundinya – Soma là sự kết đôi của một chàng trai Bà La Môn Ấn Độ, con của một người Bà La Môn kiệt xuất, đại diện có một tầng lớp người giỏi đi biển, bắn cung và có nền kinh tế ngoại thương phát triển (đi thuyền buôn đến phía nam), với một người con gái bản địa, nơi mà phong tục và văn hóa mẫu hệ nguyên thủy, họ ở trần, xăm mình, xõa tóc Và từ nội dung trên thư tịch, kết hợp những minh văn khắc trên vàng lá tìm thấy ở Óc Eo và những bia ký cho chúng ta kết luận được thời điểm về sự thành lập của vương quốc Phù Nam là vào thế kỷ I sau công nguyên Đây cũng là thời điểm của quá trình hình thành các quốc gia cổ đang diễn ra khắp khu vực Đông Nam Á

“Trước đây, người ta vẫn nhấn mạnh đến vai trò của sự tiếp xúc với Ấn

Độ và Trung Quốc trong việc ra đời các quốc gia cổ đại Đông Nam Á Nhưng

Trang 37

sự phát triển của các cộng đồng dân cư Đông Nam Á đã chuẩn bị cho giai đoạn lịch sử mới này” (Mai Ngọc Chừ 1998: 356 – 357)

Mặc dù trước khi người Ấn Độ mang “văn minh” của họ đến vùng đất có nhiều phong tục nguyên thủy này thì họ - người chủ thể của vùng đất rộng lớn giàu tài nguyên này cũng đã có một nền tảng vững chắc để tiếp thu và phát huy những giá trị văn hóa mới, đưa đất nước trở thành một vương quốc hùng mạnh trong khu vực lúc bấy giờ “Vai trò Ấn Độ dù có quan trọng đến đâu cũng chỉ là “sự tiếp sức thêm vào sự phát triển tự nhiên đã đi gần tới” Và có một điều không thể phủ nhận rằng, cư dân văn hóa Đông Nam Á cổ tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ theo hướng lựa chọn và thích ứng, biết dung hợp với những yếu tố văn hóa bản địa tạo nên nhiều sắc thái văn hóa đa

dạng “Hình như mỗi nước Đông Nam Á đã chọn trong cây cổ thụ xum xuê

của Ấn Độ một vài cành lá thích hợp với mình” (Vũ Dương Ninh 2008: 26)

Theo các nhà nghiên cứu thì vương quốc Phù Nam được ra đời trong lòng nền văn hóa Óc Eo có nền tảng phát triển trước đó hàng trăm năm Trước khi người Ấn Độ đặt chân lên vùng đất này, cư dân bản địa đã xây dựng cho mình một nền tảng văn hóa vững chắc Căn cứ vào kết quả giám định niên đại C14 các hiện vật tìm được của các di tích thuộc văn hóa Óc Eo thì niên đại sớm nhất được ghi nhận là 530 BC và muộn nhất là 800 AD, kéo dài trong

1330 năm (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995: 438; Nguyễn Mạnh Cường 1996: 640) Như vậy, cư dân Phù Nam đã có một nền tảng gần

800 năm tiền đề phát triển trước khi bước vào thời kỳ vương quốc Phù Nam

Và giai đoạn này được các nhà khảo cổ học gọi là giai đoạn tiền Óc Eo Từ sự phát triển nội sinh của mỗi vùng là những ngã đường tiến tới hình thành nên nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam phát triển rực rỡ (Hà Văn Tấn 2003a: 840) Căn cứ vào các di tích và hiện vật khai quật được, các nhà khảo

cổ học bước đầu tạm chia thành 4 con đường hình thành văn hóa Óc Eo: con đường Gò Cao Su – Gò Ô Chùa, con đường Giồng Nổi, con đường Giồng Phệt – Giồng Cá Vồ và con đường Gò Cây Tung Trong đó con đường Gò

Trang 38

Cao Su thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp từ văn hóa Đồng Nai của cư dân văn hóa tiền Óc Eo Con đường Giồng Phệt – Giồng Cá Vồ là con đường tiến lên Óc Eo từ vùng duyên hải, ở đây có sự hòa quyện chặt chẽ giữa hai nền văn hóa rực rỡ: Đồng Nai và Sa Huỳnh Con đường Gò Cây Tung cho thấy đã có sự nhập cư của một nhóm cư dân Nam Đảo từ biển Đông vào mang theo yếu tố văn hóa biển, làm phong phú cho văn hóa Óc Eo sau này Con đường cuối cùng là con đường Giồng Nổi (Đặng Văn Thắng 2008: 164 – 169; Tống Trung Tín 2004: 200 - 228) Như thế, ngay từ rất sớm yếu tố biển

đã góp phần hình thành nền văn hóa Óc Eo sau này, tạo tiền đề cho sự phát triển của vương quốc Phù Nam với nền kinh tế thương mại biển

Như vậy, vào những năm đầu công nguyên (thế kỷ I), tại vùng đồng bằng nam bộ Việt Nam hiện nay, các cư dân cổ đã xây dựng một quốc gia cho riêng mình dựa trên nền tảng của sự phát triển của văn hóa tiền Óc Eo kéo dài gần 800 năm kết hợp với yếu tố văn minh từ bên ngoài (Ấn Độ) Các yếu tố nội tại của xã hội nam bộ cổ đã đạt được độ chín mùi của nó, tạo bước chuyển tiếp sang một trình độ cao hơn của tổ chức xã hội – xã hội có nhà nước ra đời – vương quốc Phù Nam

1.3.2 Lược sử vương triều Phù Nam

Theo như các thư tịch cổ thì sau khi Hỗn Điền và Liễu Diệp kết hôn,

Hỗn Điền thay Liễu Diệp làm vua nước Phù Nam Xã hội từ mẫu hệ nguyên thủy chuyển sang phụ hệ Hỗn Điền được coi là vị vua đầu tiên, ông chia nước thành 7 ấp và cho các con cai trị Trong quá tồn tại và phát triển, Phù Nam đã lần lượt thu phục các tiểu quốc lân cận mở mang lãnh thổ

Căn cứ vào nguồn tư liệu là các thư tịch cổ kết hợp với các bia ký giúp chúng ta xác định được phổ hệ 13 đời vua của các vua Phù Nam trong suốt quá trình phát triển như sau Trong các cách tính thì GS Phan Huy Lê cho Liễu Diệp là vị vua đầu tiên, còn các nhà nghiên cứu khác thì tính vị vua đầu tiên của vương quốc Phù Nam là Hỗn Điền nên theo GS Phan Huy Lê thì Phù

Trang 39

Nam có tất cả 14 vị vua (Phan Huy Lê 2004: 231 – 234; Lương Ninh 2006:

29 – 30; Lê Hương 1970: 53 – 90)

Hỗn Điền (Kaundinya) là một người từ phía nam nước Phù Nam đến

bằng thuyền mà các bia ký xác định là Kaundinya Sau khi kết hôn với Liễu Diệp (Soma) và làm vua Phù Nam Ngoài việc dạy phụ nữ trong nước mặc y phục, vua Kaundinya đã đem văn hóa Ấn Độ, chữ viết và pháp luật truyền bá trong dân gian Đây là sự truyền bá văn hóa Ấn Độ vào Phù Nam lần thứ nhất

Hỗn Bàn Huống (? - 217): là một trong những người con của Hỗn Điền

Hỗn Bàng Huống dùng kế ly gián các nước khác để các anh em của ông đánh nhau rồi thôn tính tất cả các nước ấy, sai con cháu cai trị các ấp gọi là “Tiểu vương” Hỗn Bàn Huống thọ 90 tuổi, lập Hỗn Bàn Bàn lên kế vị

Hỗn Bàn Bàn (217 – 220): làm vua được 3 năm Người trong nước nhất

trí cử Phạm Mạn lên thay

Phạm Mạn (220 – 225): là con thứ của Phạm Bàn Huống được Phạm

Bàn Huống ủy nhiệm trước khi mất Ông là người dũng kiện, lại có mưu lược Ông cho đóng các thuyền lớn đánh chiếm các nước láng giềng và lập nên đế chế gồm khoảng 10 tiểu quốc Phạm Mạn tự xưng là Phù Nam đại vương Về việc này, Sử ký nhà Lương (502 – 556) chép rằng: Ông tấn công 10 vương quốc và ba trong số đó là nước K’Tin Tou-Kouen có lẽ thuộc miền Nam Trung Bộ Việt Nam, nước Kieou-Tche và Tien-Souen ở vùng Ligor (Mã Lai) Ông mở mang bờ cõi rộng năm sáu ngàn lý Ông lập một hải cảng chi phối mặt biển, đóng nhiều chiến thuyền lớn và vượt khắp đại dương Dưới thời ông, Phật giáo được thịnh hành Chữ Phạn được chọn là ngôn ngữ chính thức

Phạm Kim Sinh (225): Năm 225 Phạm Mạn đang lúc chinh phục nước

Kim Lân thì lâm bệnh nặng và qua đời Trước khi mất, ông giao quyền trị vì cho con là Phạm Kim Sinh Tuy nhiên, người anh con cô – chị cả của Phạm Mạn tên là Phạm Chiên lúc bấy giờ đang nắm giữ 2000 quân đã giết Kim Sinh để cướp ngôi Phạm Kim Sinh được ghi nhận là vua kế nghiệp theo ý của vua cha nhưng trên thực tế chưa kịp lên ngôi đã chết

Trang 40

Phạm Chiên (225 – 250) Ông là vua Phù Nam ở rộng mối quan hệ giao

bang với hai nền văn minh lớn ở khu vực (Trung Hoa và Ấn Độ) Năm 243, ông sử sứ giả đến triều Ngô Năm 244 theo lệnh của vua Ngô, Thứ sử Giao Châu là Lữ Đại cử sứ sang Phù Nam đáp lễ Phạm Chiên cũng cử sứ giả sang thông hiếu với Ấn Độ Sứ đoàn do Tô Vật cầm đầu qua Đầu Cầu Lợi (Takola tức eo biển Kra trên bán đảo Mã Lai) vượt biển đến Ấn Độ, yết kiến vua Vasdeva của vương triều Murunda

Phạm Trường (250): Năm 250, Phạm Chiên bị một người con của vua

Phạm Man là Phạm Trường tập hợp lực lượng, lật đỗ và chiếm ngôi Tuy nhiên, chưa được lên ngôi thì tướng của Phạm Chiên là Phạm Tầm đã giết chết Phạm Trường và tự lập mình làm vua

Phạm Tầm (250 – 287): là một vị vua hòa hiếu, chăm lo đời sống của

nhân dân và giữ gìn uy tín bằng đường lối ngoại giao Trong thời gian trị vì, ông thực hiện nhiều cuộc cải cách đất nước và mở rộng ảnh hưởng của Phù Nam ra bên ngoài Lãnh thổ Phù Nam vời thời vua Phạm Tầm bao gồm miền Nam – Trung Bộ, miền Tây Nam Bộ, lãnh thổ của Chân Lạp, hạ Lào, một phần lãnh thổ Thái Lan và bán đảo Malacca Trên bán đảo Mã Lai có 5 nước đều là chư hầu của Phù Nam (một trong năm nước là nước Đốn Tốn)

Hai sứ giả Trung Hoa là Khang Thái và Chu Ứng đã đến Phù Nam vào giai đoạn này Khang Thái cũng đã thuyết phục vua Phạm Tầm ra sắc luật về mặc trang phục cho dân chúng trong nước Đàn ông mặc quần, lấy tấm vải quấn tròn xung quanh người gọi là Can-mạn hay chúng ta gọi ngày nay là sà-rông, mặc chăn dắt mối sau lưng gọi là sampot

Khoảng năm 270 – 280, Phạm Tầm gởi quân liên kết với Lâm Ấp để tấn công vùng phía Nam nước Cửu Chân Ông còn cử các sứ đoàn thường xuyên qua lại với Trung Hoa để thắt chặt mối liên kết Sử ký nhà Tấn ghi chép khá nhiều về những phái bộ trong năm 265, 268, 285, 286, và 287

Từ năm 287 đến năm 357, trong thời gian dài không thấy sử Trung Hoa ghi chép gì về Phù Nam

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cao Xuân Phổ (1984), Óc Eo trong sự phát triển thương mại ở Đông Nam Á, Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin An Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo trong sự phát triển thương mại ở Đông Nam Á
Tác giả: Cao Xuân Phổ
Năm: 1984
3. Cao Xuân Phổ (2009), Óc Eo, một trung tâm văn hóa thương mại ở nam Đông Dương trong 6 thế kỷ đầu công nguyên, Văn hóa Óc Eo, nhận thức và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích, Cục Di sản Văn hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo, một trung tâm văn hóa thương mại ở nam Đông Dương trong 6 thế kỷ đầu công nguyên
Tác giả: Cao Xuân Phổ
Năm: 2009
4. Chiêm Tế 1977, Lịch sử thế giới cổ đại, Tập 1: Các nền văn minh cổ phương Đông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Bùi Phát Diệm (1996), Bốn đồng tiền Óc Eo ở Bảo tàng Long An, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn đồng tiền Óc Eo ở Bảo tàng Long An
Tác giả: Bùi Phát Diệm
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1996
6. D.G.E Hall (1968), Đông Nam Á sử lược, Nguyễn Phút Tấn dịch, Nhà sách Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á sử lược
Tác giả: D.G.E Hall
Năm: 1968
7. D.G.E Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: D.G.E Hall
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
8. Đăng Trường (2013a), Đô thị thương cảng Hội An, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị thương cảng Hội An
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
9. Đăng Trường (2013b), Đô thị thương cảng Phố Hiến, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị thương cảng Phố Hiến
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
10. Đặng Văn Thắng (2008), Tiền sơ sử và giai đoạn văn hóa Óc Eo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền sơ sử và giai đoạn văn hóa Óc Eo ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đặng Văn Thắng
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2008
11. Đặng Văn Thắng (2013a), Óc Eo – Ba Thê trong vương quốc Phù Nam, Tạp chí Khảo cổ học, số 3/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo – Ba Thê trong vương quốc Phù Nam
12. Đặng Văn Thắng (2013b), Sự du nhập tín ngưỡng, tôn giáo của Ấn Độ vào văn hóa Óc Eo, Kỷ yếu Hội thảo Dấu ấn Ấn Độ trong tiếp biến văn hóa ở Việt Nam và Đông Nam Á, NXB ĐHQG.TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự du nhập tín ngưỡng, tôn giáo của Ấn Độ vào văn hóa Óc Eo
Nhà XB: NXB ĐHQG.TPHCM
13. Doãn Chính (1999), Lịch sử triết học Ấn Độ, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1999
14. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Dịch giả Nguyễn Vĩnh Cư Chủ biên, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
15. Geetesh Sharma (2012), Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam, Thích Trí Minh dịch, NXB Văn hóa Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam
Tác giả: Geetesh Sharma
Nhà XB: NXB Văn hóa Văn nghệ TP.HCM
Năm: 2012
16. G. Coedès (2008), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông
Tác giả: G. Coedès
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2008
17. Hà Văn Tấn (1996), Hai con dấu khắc chữ ở Óc Eo, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai con dấu khắc chữ ở Óc Eo
Tác giả: Hà Văn Tấn
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1996
20. Hoàng Anh Tuấn, Thương cảng và sự kết nối văn hóa, http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_chuyende/item/25690502.html Link
68. Dấu ấn Nhật Bản trong lòng di sản thế giới Hội An, http://vietpictures.net/vi/thong-diep-co-vat/710-du-n-nht-bn-trong-long-ph-c-hi-an.pdf) Link
69. Thương cảng quốc tế của người Chăm, http://vietnamnet.vn/vn/kinh- te/223957/thuong-cang-quoc-te-cu-nguoi-cham.html Link
70. Thương cảng quốc tế đầu tiên đầu công nguyên trên đất Việt, http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/222660/thuong-cang-quoc-te-dau-cong-nguyen-tren-dat-viet.html đăng ngày 25/02/2015). Tiếng Anh, Pháp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w