1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng học tập tiếng nga giảm sút của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh trong những năm gần đây công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường năm 2010

61 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng học tập tiếng Nga giảm sút của sinh viên Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Tiến sĩ Trương Văn Vỹ
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn Nga
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 498,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGỮ VĂN NGA CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2010 Tên công trình: THỰC TRẠNG HỌC TẬP TIẾNG NGA GIẢM SÚT CỦA SIN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGỮ VĂN NGA

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2010

Tên công trình:

THỰC TRẠNG HỌC TẬP TIẾNG NGA GIẢM SÚT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Khắc Chung (Lớp Nga 4A, năm thứ 4)

Thành viên: Lê Thị Mỹ Hiền (Lớp Nga 4A, năm thứ 4)

Trần Thị Hồng (Lớp Nga 4C, năm thứ 4) Trần Thị Hoàng Vy (Lớp Nga 4C, năm thứ 4) Người hướng dẫn: Tiến sĩ Trương Văn Vỹ, Trưởng khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trực thuộc Đại học Quốc gia Tp HCM)

Trang 2

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆN VIỆT NGA 8

1 1 Khái quát về mối quan hệ Việt - Nga trong những năm gần đây 8

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CỦA VIỆC HỌC TẬP TIẾNG NGA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 12

2 1 Tình hình giảm sút của việc học tập tiếng Nga hiện nay: 12

2 2 Phân tích tình hình giảm sút của việc học tập tiếng Nga hiện nay: 13

2 3 Cơ hội nghề nghiệp sau khi ra trường 33

CHƯƠNG 3: HƯỚNG GIẢI QUYẾT 38

3 1 Về việc giải tỏa tâm lý bị ép buộc, cưỡng ép của Sinh viên khi phải học tiếng Nga trong những năm đầu Đại học: 38

3 2 Về chương trình đào tạo: 39

3 3 Về việc thực tập: 39

3 4 Về việc làm: 41

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHẦN PHỤ LỤC 46

Trang 3

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Khi được hỏi về tình hình học tập và sử dụng tiếng Nga trong những năm gần đây ở Việt Nam, nhiều người chỉ lắc đầu, mà không nói gì thay cho lời nhận xét trước sự giảm sút chóng mặt của tình hình này

Trong khi đó, từ trước tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào thật sự xem xét kỹ lưỡng, sâu xa vấn đề này

Là sinh viên Khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trực thuộc Trường Đại học Quốc gia Tp HCM, chúng tôi không thể dửng dưng trước một thực trạng đáng buồn và báo động này

Từ những điều nói trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Tại sao tiếng Nga giảm sút trong những năm gần đây?” để tìm hiểu về thực trạng này Sau đó, đi sâu vào nghiên cứu những nguyên nhân có thể gây nên thực trạng trên Và từ những nguyên nhân này, chúng tôi cũng thu thập và đưa ra những kiến nghị và đề xuất nhằm góp phần khắc phục tình hình này

Vì nhiều lý do khác nhau mà phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng bị hạn chế ít nhiều Chính vì thế, công trình nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng học tập và sử dụng tiếng Nga của sinh viên Khoa Ngữ văn Nga ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trực thuộc Đại học Quốc gia Tp HCM như một dẫn chứng cho việc giảm sút của việc học tập và sử dụng tiếng Nga trong những năm gần đây

Là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi quy tụ rất nhiều trường Đại học, Cao đẳng danh tiếng Chính nơi đây, tiếng Nga một thời đã chiếm một vị trí rất quan trọng Nhưng thực trạng này chỉ xảy ra trong quá khứ Hiện nay, tiếng Nga đang bị lãng quên Số người theo học và sử dụng tiếng Nga ngày càng ít dần theo thời gian Do đó, theo chúng tôi, việc nghiên cứu tập trung vào Khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trực thuộc Trường Đại học Quốc gia

Tp HCM có một ý nghĩa nhất định Công trình nghiên cứu này sẽ góp phần

Trang 4

khắc phục tình trạng trên hay ít nhất cũng khơi gợi được ý thức của mọi người trước sự thay đổi kinh ngạc của tiếng Nga; thậm chí, để từ đó tạo tiền

đề cho việc khôi phục lại thời huy hoàng của tiếng Nga

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngoại ngữ là phương tiện hữu ích trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Nắm được ngoại ngữ, con người có thể hiểu biết sâu sắc hơn về văn minh thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu và phát triển tiềm năng của chính mình

Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong nền kinh tế, giáo dục và trong sự phát triển của đất nước Trong thời kì hội nhập hiện nay của nước ta,

để có thể nắm bắt và theo kịp những tiến bộ của thế giới thì việc học ngoại ngữ

là nhu cầu bức thiết

Nhưng có một thực tế là tình hình học tập của ngoại ngữ thay vì phát triển lại ngày càng giảm sút do số người học và sử dụng ngày càng ít đi Một trong số đó chính là tiếng Nga

Trước đây, tiếng Nga từng là ngoại ngữ rất phổ biến ở nước ta Nhưng trong những năm gần đây, tiếng Nga đã mất dần vị trí của mình Số người học cũng như sử dụng tiếng Nga ngày càng giảm dần theo thời gian Thay vào đó là sự thay thế của nhiều ngoại ngữ khác Vì sao lại có tình trạng này?

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Tại sao việc học tiếng Nga giảm sút trong những năm gần đây” sẽ tìm hiểu, phân tích thực trạng này và phần nào giải đáp những khúc mắc trên Có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa

có một công trình nghiên cứu nào thật sự xem xét nghiêm túc vấn đề này Thiết nghĩ, để khai thác hết giá trị cũng như tầm quan trọng của tiếng Nga thì đề tài này là hết sức cần thiết

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Theo chúng tôi được biết thì cho đến nay chưa có một đề tài nào tương tự, mới chỉ có các đề tài nghiên cứu về con người và đất nước Nga, về văn hóa hay

ẩm thực Nga…Chẳng hạn như đề tài “những khó khăn và thuận lợi của sinh viên trong quá trình học song ngữ” (2002) Đề tài nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong quá trình học song ngữ, đề xuất những biện pháp cải tiến tình hình học tập của sinh viên Đề tài “tìm hiểu tâm lý học tiếng Nga, xác định những nguyên nhân của việc học tiếng nga chưa có hiệu quả cao và biện pháp khắc phục” nội dung đề tài điều tra tâm lý sinh viên học khoa nga, nêu nguyên nhân chủ yếu học tiếng nga chưa đạt hiệu quả cao, đề xuất biện pháp khắc phục “thực trạng học tiếng nga của sinh viên, thử đề xuất một số hướng khắc phục” nội dung : bài viết không đi sâu tìm hiểu nguyên nhân về phía người dạy

mà tập trung tìm hiểu những vấn đề về sự ảnh hưởng đến việc giảm sút chất lượng học tập tiếng nga từ phía người học Còn nếu có thì những đề tài nghiên cứu về tiếng Nga cũng chỉ đi sâu phân tích ngữ pháp, hay đề cập đến những khó khăn của việc học tiếng Nga Thực trạng học tập tiếng Nga cũng được đề cập đến nhiều, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu vào tìm hiểu, phân tích thực trạng này

3 Mục tiêu của đề tài:

Từ việc tìm hiểu thực trạng học tập và sử dụng tiếng Nga trong những năm gần đây, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những nguyên nhân gây nên thực trạng này như phương pháp giảng dạy, giáo trình giảng dạy, chương trình đào tạo, cơ hội việc làm sau khi ra trường…để từ đó đưa ra những kiến nghị cũng như một số giải pháp để góp phần khắc phục tình trạng trên

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thực hiện những phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 7

Đề tài được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu xã hội học

Phương pháp tổng hợp nguồn tài liệu và phân tích khoa học, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã đọc tham khảo tài liệu, phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài

Phương pháp phỏng vấn sâu thu thập ý kiến

Xây dựng phiếu điều tra thu thập dữ liệu từ sinh viên trong khoa

5 Giới hạn của đề tài:

Do những hạn chế về thời gian, địa lý, nguồn kinh phí và những khách quan của bản thân đề tài nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi cụ thể như sau:

Thời gian: 08/ 2009- 04/2010

Không gian: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, mà cụ thể là Khoa Ngữ văn Nga (trực thuộc Đại học Quốc gia Tp HCM)

Giới hạn về nội dung:

Đề tài xem xét đánh giá tình trạng giảm sút của việc học tập tiếng Nga

Đề tài tập trung đi sâu vào việc nghiên cứu nguyên nhân giảm sút về việc học tiếng Nga Từ đó đưa ra cách giải quyết nhằm khắc phục tình trạng trên

6 Ý nghĩa, ứng dụng và hướng đi mới của đề tài:

Đây là công trình lý luận- thực tiễn nghiên cứu tiếng Nga nhằm phục vụ công tác đào tạo cử nhân ngoại ngữ có định hướng sử dụng tiếng Nga sau khi

ra trường Với đề tài nghiên cứu và nội dung nghiên cứu được tiến hành lần đầu tiên ở các trường đại học chuyên ngữ Việt Nam, không trùng với bất kỳ công trình nào đã nghiên cứu trước đây, những quan điểm lý thuyết trình bày trong công trình là cơ sở phương pháp cho việc nghiên cứu các nguyên nhân” vì sao việc học tập tiếng Nga lại giảm sút trong mấy năm gần đây” ở Việt Nam nói

Trang 8

chung và Khoa ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trực thuộc Đại học Quốc gia Tp HCM nói riêng

Tạo tiền đề cho những công trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực nghiên cứu về tiếng Nga Công trình đã ứng dụng được những quan điểm lý thuyết hiện đại về bản chất hoạt động của tiếng Nga trong những năm gần đây, đây là cơ sở để đề ra phương pháp nghiên cứu đúng đắn hơn Sự phân biệt các cấp độ này có giá trị lý luận và thực tiễn cao trong đối chiếu liên ngôn ngữ, liên văn hóa, phân loại các nguyên nhân làm cho tiếng Nga ngày càng ít phổ biến

và đề ra các biện pháp thích hợp để góp phần khắc phục tình trạng này

Cho nên, kết quả nghiên cứu của đề tài này có giá trị thực tiễn to lớn, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân giảm sút của tiếng Nga cho tất cả những ai trong số người Việt và người Nga đang học và nghiên cứu tiếng Nga trong các lĩnh vực giáo dục, ứng dụng, kinh tế và xã hội…

Đề tài này chủ yếu được áp dụng cho các đối tượng có liên quan tới tiếng Nga Trong đó có bao gồm: giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên,

…Và các địa điểm có sử dụng tiếng Nga như một số trường phổ thông, Đại học…

7 Kết cấu của đề tài:

Đề tài của chúng tôi chia là 3 nội dung chính như sau:

Chương 1: Khái quát về mối quan hệ Việt- Nga trong những năm gần đây

1 1 Khái quát về mối quan hệ Việt Nga trong những năm gần đây

1 1 1 Giai đoạn 1950-1991: 40 năm mối quan hệ đồng minh chiến lược Việt Nam- Liên Xô

1 1 2 Giai đoạn 1991- 2000: 10 năm thăng trầm mối quan hệ Việt- Nga

1 1 3 Giai đoạn 2001-đến nay: quan hệ đối tác chiến lược Việt Nga được xác lập và đi vào chiều sâu

Chương 2: Phân tích tình hình của việc học tập tiếng Nga trong những năm gần đây

Trang 9

2 1 Tình hình giảm sút của việc học tập tiếng Nga hiện nay

2 2 Phân tích tình hình giảm sút của việc học tiếng Nga hiện nay

2 2 1 Tình hình chính trị - xã hội

2 2 2 Chất lượng đào tạo:

2 2 2 1 Chương trình đào tạo

2 2 2 1 1 Ưu điểm

2 2 2 1 2 Nhược điểm

2 2 2 2 Giáo trình giảng dạy

2 2 2 3 Phương pháp giảng dạy

2 2 2 4 Phương pháp học tập

2 3 Cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường

Chương 3:hướng giải quyết

3 1 Về việc giải tỏa tâm lý bị ép buộc, cưỡng ép của Sinh viên khi phải học

tiếng Nga trong những năm đầu Đại học:

3 2 Về chương trình đào tạo

3 3 Về việc thực tập

3 4 Về việc làm

Kết luận và kiến nghị

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MỐI QUAN HỆN VIỆT NGA

1 1 Khái quát về mối quan hệ Việt - Nga trong những năm gần đây

1 1 1 Giai đoạn 1950 - 1991: 40 năm quan hệ đồng minh chiến lược Việt Nam - Liên Xô

Tháng 01-1950, Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác đã công khai thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, khẳng định địa vị pháp lý chính đáng của chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân lần đầu tiên được xác lập ở Việt Nam Là hai nước nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đối lập với hệ thống tư bản chủ nghĩa, quan hệ Việt - Xô được xây dựng trên tình đoàn kết quốc tế của hai dân tộc cùng chung mục đích và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Liên Xô và Việt Nam trở thành đồng minh chiến lược trên mặt trận chống đế quốc thực dân

và chống các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước trên mọi lĩnh vực phát triển rất khả quan, Liên Xô ngày càng coi trọng vai trò của Việt Nam như là tiền đồn của chủ nghĩa xã hội,

là trụ cột trong chính sách đối ngoại của Liên Xô ở khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Liên Xô luôn giương cao khẩu hiệu “đối với những người cộng sản Liên Xô, đoàn kết với Việt Nam là mệnh lệnh của cả trái tim và trí tuệ”

1 1 2 Giai đoạn 1991 - 2000: 10 năm thăng trầm của quan hệ Việt - Nga

Những năm 1991 - 1993: Vào cuối năm 1991, Liên Xô tan rã, 15 nước cộng hòa thành viên của Liên Xô bước ra vũ đài quốc tế với tư cách những quốc gia độc lập, có chủ quyền, chủ thể pháp lý quốc tế được các nước khác thừa nhận Đây là thời kỳ khó khăn nhất trong quan hệ hai nước, khi mối quan hệ này rơi vào trạng thái ngưng trệ, suy giảm mạnh trên tất cả các lĩnh vực

Những năm 1994 - 1996: Quan hệ Việt - Nga bắt đầu khởi sắc nhờ những nỗ

lực của hai nước trong việc tạo dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp với tình hình

Trang 11

mới Hai nước đã ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga vào tháng 6-1994 nhân chuyến thăm chính thức Nga của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt Theo đó, hai bên xúc tiến quan hệ trên nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền quốc gia, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi

Những năm 1997 - 2000: Đây là giai đoạn quan hệ Việt - Nga được nâng lên

tầm cao mới về chất, trước hết trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, đánh dấu

bằng 3 chuyến thăm cấp cao nhất giữa hai nước Một là, chuyến thăm Việt

Nam của Thủ tướng Nga V Chéc-nô-mư-đin vào tháng 11-1997 Hai là, chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Trần Đức Lương vào tháng 8-1998 Đây cũng là chuyến thăm Nga đầu tiên của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, qua đó khẳng định vị thế quan trọng của Liên bang Nga trong chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam Ba là, chuyến thăm Nga của Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 9-2000 Thành công nổi bật của chuyến thăm này là việc hai nước ký Hiệp định xử lý các khoản nợ của Việt Nam với Liên Xô mà Nga kế thừa - đây là yếu tố từng cản trở quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Nga suốt thập niên 90 của thế kỷ XX

1 1 3 Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: Quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga được xác lập và đi vào chiều sâu

Đây là giai đoạn quan hệ giữa hai nước ngày càng có thêm nhiều tiến triển tích cực Sự kiện đầu tiên đáng chú ý nhất là chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Liên bang Nga V Pu-tin từ ngày 28-2 đến ngày 2-3-2001 - chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của nguyên thủ quốc gia Nga, kể cả thời Liên Xô

Trong đầu thế kỷ XXI, những cuộc tiếp xúc chính trị cấp cao tích cực đã đưa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên một mức độ mới về chất Quan hệ

đó hoàn toàn đáp ứng lợi ích sống còn của nhân dân hai nước, là nhân tố quan trọng để củng cố an ninh, ổn định và hợp tác ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Trang 12

Trong năm 2009, bất chấp hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, kim ngạch trao đổi hàng hóa giữa Nga và Việt Nam vẫn tăng và đạt hơn 1, 5 tỷ đô la - mức kỷ lục trong vòng 20 năm qua Đặc biệt, cuối năm 2009, trong chuyến thăm chính thức nước Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo hai bên đã cùng chứng kiến lễ ký kết hàng loạt văn kiện quan trọng nhằm tăng cường hợp tác nhiều mặt giữa hai nước…Quả thực, qua 9 tháng của năm 2009 tổng khối lượng giao thương giữa hai nước đã tăng thêm 4, 1% và đạt 1, 16 tỷ đô la Trong điều kiện khủng hoảng toàn cầu, rõ ràng đó là kết quả đầy ý nghĩa 1

Những năm gần đây, nhất là từ sau chuyến thăm chính thức của Tổng thống V Pu-tin sang Việt Nam, quan hệ hợp tác GD-ĐT giữa hai nước đã có những cải thiện đáng kể Phía Nga tiếp tục cấp nhiều hơn các suất học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Nga học tập Tháng 10-2008, tại Điện Crem-li, trong cuộc hội đàm cấp cao, Tổng thống LB Nga Đ Mét-vê-đép đã cùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đề cập nhiều vấn đề hai bên cùng quan tâm Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định, cần tăng cường và mở rộng hơn nữa mối quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó GD-ĐT là một trong những lĩnh vực ưu tiên Cuối tháng 10-2009, trong buổi tiếp GS, Viện sĩ Thông tấn M Phê-đo-rốp, Hiệu trưởng ĐH Bách khoa Xanh Pê-téc-bua (LB Nga), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ủng hộ ý định mở chi nhánh của ĐH Bách khoa Xanh Pê-téc-bua tại Việt Nam Tháng 12-2009, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại LB Nga, Thủ tướng V Pu-tin nhấn mạnh, tình hữu nghị chân thành sẽ là nền tảng bền vững trong phát triển quan

hệ giữa hai nước trong tương lai Trong lĩnh vực GD-ĐT, hai bên sẽ xúc tiến thành lập ĐH Quốc tế Việt - Nga tại Việt Nam; ký Hiệp định công nhận lẫn nhau văn bằng Kể từ năm học 2010 - 2011, hằng năm, Chính phủ Nga dành cho Việt Nam 300 suất học bổng đào tạo ở Nga Từ cuối năm 2009, bằng chương trình Đề án 165 (Ban Tổ chức Trung ương), các đoàn cán bộ lãnh đạo

Trang 13

của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, bằng kinh phí của Việt Nam, lại tiếp tục được cử đi học tập, nâng cao nghiệp vụ tại nước Nga Chánh Văn phòng đề án

165, PGS, TS Nguyễn Xuân Sơn cho biết, trong năm nay, sẽ có nhiều hơn các đoàn cán bộ theo học các khóa đào tạo cao học, nâng cao nghiệp vụ dài hạn và ngắn hạn (bằng kinh phí của Việt Nam) cũng như các khóa học tiếng Nga tại Học viện Ngôn ngữ Pu-xkin, Nga (kinh phí do phía Nga tài trợ)

Trang 14

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CỦA VIỆC HỌC TẬP TIẾNG

NGA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

2 1 Tình hình giảm sút của việc học tập tiếng Nga hiện nay:

Thời cao điểm, cả nước có đến 98% trường phổ thông học tiếng Nga2, hiện nay, con số này chỉ đếm trên đầu ngón tay Và tới đây, nếu chúng ta ban hành lại chuẩn đào tạo sau đại học mới, buộc các học viên cao học phải giỏi tiếng Anh, thì có lẽ chẳng còn ai mặn mà với tiếng Nga Khi đó, tình hình dạy và học tiếng Nga ở Việt Nam sẽ bị giảm sút là điều đương nhiên

Vị thế của nước Nga đang lên, nhu cầu học tiếng Nga trên thế giới không hề

giảm, mà ngược lại có xu hướng tăng mạnh Ước tính hiện có khoảng 800 triệu

người đang sử dụng ngôn ngữ này hàng ngày Như vậy, hiện tượng thoái trào

với tiếng Nga chỉ là một hiện tượng riêng của Việt Nam Và dường như chúng

ta đang quay lưng lại với tiếng Nga, hay chí ít là không làm gì để tình hình khả quan hơn

Toàn thành phố chỉ có vẻn vẹn 18 hướng dẫn viên du lịch bằng tiếng Nga3, cộng với khoảng chừng đó là những người hành nghề tự do Phần đông những người này đã có tuổi Hiếm hoi lắm mới bắt gặp một vài bạn trẻ chủ yếu vừa học ở Nga về, còn số tốt nghiệp trong nước gần như không thấy Chỉ riêng năm

2007, đã có 50 dự án đầu tư của Nga vào Việt Nam, trị giá 300 triệu đô la Nhiều tập đoàn lớn của Nga như Gazprom, Siluivoi Mashin và gần đây nhất là tập đoàn viễn thông Vưipelcom (mạng Beeline) đang đầu tư các dự án lớn vào Việt Nam Khó khăn chung của họ là không tuyển dụng được nguồn nhân lực biết tiếng Nga chất lượng cao Có một điều dễ nhận thấy, giữa những hội thảo, triển lãm về văn hóa Nga thời gian gần đây, rất hiếm những mái đầu xanh tham

dự Đang tồn tại một nghịch lý, nhiều ngành vẫn cần tới tiềng Nga, nhưng

không còn nhiều cơ hội cho người trẻ

Trang 15

Theo TS Lê Văn Nhân, Trưởng khoa tiếng Nga - Đại học Hà Nội (ĐHHN) - những năm gần đây số sinh viên đăng ký dự thi và đỗ vào khoa tiếng Nga của các trường ĐH trên cả nước ngày càng giảm Năm nay, nhập học khoa tiếng Nga của ĐHHN chỉ có chưa đầy 100SV, tại ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG HN chỉ có

60 sinh viên, tại Đà Nẵng, số sinh viên đếm chưa hết 2 đầu bàn tay4

Hiện nay, xét ở khu vực miền Nam thì chỉ có Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM (thuộc ĐHQG Tp HCM) Còn những trường phổ thông trước đây đã từng giảng dạy tiếng Nga như Trường THCS Lê Qúy Đôn (Thủ đức), Trường Trung Học Thủ đức - Hoàng Đạo (nay là THPT Nguyễn Hữu Huân) thì nay đã thay đổi cả hiệu trưởng, chương trình giảng dạy, giáo viên và đương nhiên tiếng Nga đã không còn được giảng dạy như một ngôn ngữ chính thức nữa

2 2 Phân tích tình hình giảm sút của việc học tập tiếng Nga hiện nay:

2 2 1 Tình hình chính trị- xã hội:

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, nhiều nhà đầu tư nước

ngoài chọn nước ta là thị trường để phát triển trong nhiều lĩnh vực : kinh tế, giáo dục… Chính vì thế, nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ rất quan trọng mọi người đổ xô nhau đi học tiếng Anh để có được công việc tốt với lương cao Cùng với sự thay đổi của mối quan hệ Việt- Nga trong những năm gần đây nên việc học tiếng Nga đối với sinh viên không còn hấp dẫn nữa Bên cạnh đó, tình hình chính trị và kinh tế ở Nga có nhiều thay đổi nên việc đầu tư vào Việt Nam của Nga bị gián đoạn Không ít công ty của Nga đã rút về nước Cho nên nhu cầu sử dụng tiếng Nga ở nước ta không nhiều Người ta đổ xô nhau đi học tiếng Anh và do vậy, hiện nay có đến 98% 5 các trường từ phổ thông đến đại học chỉ dạy tiếng Anh, 2% còn lại là dành cho tiếng Pháp, Nga và Trung Đặc biệt, trong những năm vừa qua, Bộ Giáo dục Đào tạo đã ra một chủ trương rất lạ, đó

là quy định "đầu vào" của bậc cao học phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn tiếng Anh

Trang 16

Sau chuyến viếng thăm của tổng thống Nga V Putin tới Việt Nam năm 2001 thì tình hình dạy và học tiếng Nga ở nước ta có phần khởi sắc hơn Nhưng thực

tế tính đến thời điểm này thì việc đào tạo tiếng Nga vẫn chưa phục hồi được vị thế của mình

2 2 2 Chất lượng đào tạo:

2 2 2 1 Chương trình đào tạo:

Năm 1978, khóa đào tạo chuyên ngữ tiếng Nga đầu tiên đã được khai giảng tại Trường Đại học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Sau đó, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh cùng nhiều trường phổ thông khác

đã tiến hành dạy tiếng Nga như một ngoại ngữ chính

Như vậy, tiếng Nga cũng đã từng chiếm một vị trí quan trọng trong số các ngoại ngữ được dạy và học ở Việt Nam Cũng có thể gọi thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của tiếng Nga ở Việt Nam

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Nga ở Việt Nam nhanh chóng trôi qua mau cùng với những biến chuyển về kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam, Liên Bang Nga nói riêng và cả thế giới nói chung Quan niệm về dạy và học tiếng Nga cũng bắt đầu thay đổi, mang tính thực dụng để kịp thời đáp ứng nhu cầu của xã hội, của nền kinh tế thị trường Tiếng Anh ngày càng phổ biến Ngược lại, tiếng Nga bắt đầu đi vào thời kỳ suy thoái và khủng hoảng trầm trọng Đồng thời, việc đào tạo tiếng Nga chuyên ngữ ở khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh cũng gặp rất nhiều khó khăn khi số lượng đầu vào cứ ngày càng giảm dần theo thời gian

Để duy trì hoạt động của Khoa, năm 1998- 1999 Khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh chính thức tiến hành Chương trình đào tạo song ngữ Nga- Anh

Tính đến nay, Chương trình đào tạo song ngữ Nga- Anh được tiến hành ở khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học

Trang 17

Quốc gia Tp Hồ Chí Minh cũng được 12 năm Trong một báo cáo khoa học của Tiến sĩ Trương Văn Vỹ- Trưởng khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh về vấn đề này có tựa đề “Đào tạo song ngữ Nga- Anh ở khoa Ngữ văn Nga: từ giải pháp tình thế đến hoàn thiện và phát triển” cũng đã nêu về những ưu điểm và nhược điểm của chương trình này Vì đề tài của chúng tôi cũng liên quan rất nhiều tới vấn đề này nên trong bài viết của mình, chúng tôi xin trích lại một số nội dung chính như sau:

2 2 2 1 1 Ưu điểm của chương trình đào tạo song ngữ Nga- Anh:

Đầu tiên, học nhiều hơn thì tất nhiên kiến thức cũng sẽ nhiều hơn Người học song ngữ chắc chắn có ưu thế vượt trội, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Nước Nga vĩ đại có nền văn hóa mang đậm tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc và sự sâu sắc của nó Bên cạnh đó, nền văn học Nga cũng sẽ mãi mãi chiếm một chỗ đứng vững chắc trong nền văn học thế giới Do đó, học tiếng Nga để biết đến nền văn hóa và văn học Nga cũng không phải là điều vô ích

Về tiếng Anh, không ai có thể phủ nhận sự phổ biến của nó trên toàn thế giới

Vì vậy, việc đào tạo thêm tiếng Anh ở khoa Ngữ văn Nga là chuyện dễ hiểu Như vậy, với hai ngoại ngữ Nga- Anh chắc chắn sinh viên ra trường sẽ năng động hơn và cơ hội việc làm sau khi ra trường cũng tăng lên gấp đôi, chắc chắn

họ sẽ phục vụ, cống hiến nhiều hơn so với người chỉ biết một ngoại ngữ Đó là chưa nói đến ưu thế trong thời điểm hiện nay khi nhiều cơ quan, công ty, đơn

vị đòi hỏi người biết thêm ngoại ngữ thứ hai Vì thế cho nên, 40% sinh viên được hỏi về lý do chọn Khoa Ngữ văn Nga trả lời rằng vì sau khi ra trường sẽ đươc hai bằng chính quy (một bằng Cử nhân Đại học tiếng Nga và một bằng

Cử nhân Cao đẳng Tiếng Anh)

Trang 18

Lý do chon Khoa Ngu van Nga

y kien khac

Biểu đồ 1: Lý do chọn học Khoa Ngữ văn Nga, Trường ĐH KHXH&NV

Ưu điểm thứ hai, xét theo khía cạnh kinh tế, thì sinh viên học song ngữ Nga- Anh ở khoa Ngữ văn Nga sau 6, 5 năm học, khi tốt nghiệp sẽ có 2 bằng cử nhân đại học Và nếu xét thuần túy về mặt vật chất thì đỡ tốn kém tiền của, vật chất và thời gian so với học bình thường phải mất ít nhất 8 năm

Một thuận lợi nữa mà chúng tôi nhận thấy trong thái độ học tập của sinh viên song ngữ là theo thời gian những ý nghĩ mặc cảm ban đầu về tiếng Nga cũng sẽ thay đổi, họ thấy được vẻ đẹp của tiếng Nga và dần yêu tiếng Nga nhiều hơn

Từ đó, sinh viên có thái độ nghiêm túc trong học tập và cố gắng học hành tiến

bộ

2 2 2 1 2 Những hạn chế của chương trình đào tạo song ngữ:

Phần lớn sinh viên vào học khoa Ngữ văn Nga là vì khoa này có phần đào tạo tiếng Anh song song với tiếng Nga Có thể nói việc họ học tiếng Nga là miễn cưỡng, áp đặt Muốn hay không, khó khăn cũng sẽ đến cho việc đào tạo tiếng Nga ở giai đoạn đầu và cả những năm tiếp theo nếu như tâm trạng ép buộc, miễn cưỡng này không được giải tỏa

Bất lợi thứ hai là mặt thời gian Thời gian kéo dài tất nhiên dẫn đến chi phí tốn kém cho việc học tập nói chung, và cho số tiết học tăng lên nói riêng Những

Trang 19

sinh viên thuộc gia đình khó khăn sẽ càng gặp khó khăn khi theo học chương trình song ngữ này

Chương trình hiện hành gồm hai khối kiến thức lắp ghép hoàn toàn máy móc, độc lập với nhau, không hề có sự liên hệ lẫn nhau Tiếng Nga do giảng viên Khoa Nga dạy, tiếng Anh thì do giảng viên Khoa Anh giảng dạy

Bất lợi lớn nhất có thể xảy ra khi trong đào tạo song ngữ nhưng lại không có khả năng sử dụng tốt cả hai ngôn ngữ như ở trạng thái cân bằng, từ

đó có thể dẫn đến tới việc đào tạo những sinh viên mà không có ngoại ngữ nào

“nên hồn”

Sở dĩ vì sao chúng tôi nêu những ưu điểm và nhược điểm của chương trình đào tạo song ngữ này là vì mặc dù có những ưu điểm nhất định, song chương trình này cũng có những nhược điểm nhiều không kém Đó là lý do vì sau khi được hỏi về chương trình đào tạo song ngữ Nga- Anh hiện nay, đa số sinh viên (76%) đều cho rằng nó rất nặng, 18% cho rằng chương trình bình thường, 1% sinh viên cho rằng chương trình nhẹ và những sinh viên còn lại (5%) có nhiều ý kiến khác nhau như chương trình chưa phù hợp, … Thực tế cho thấy rằng, học ngoại ngữ là việc rất khó khăn Nhưng học hai ngoại ngữ cùng lúc lại càng khó khăn hơn Sinh viên Khoa ngữ văn Nga cùng lúc phải học hai chương trình đào tạo Nga - Anh song song với nhau trong khi hai chương trình này được lắp ghép hoàn toàn máy móc, độc lập với nhau mà không dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu ngôn ngữ Như thế thì có nghĩa là sinh viên Khoa Ngữ văn Nga đang học cùng lúc hai chương trình của hai Khoa khác nhau: Khoa Ngữ văn Nga (Hệ Đại học chính quy) và Khoa Ngữ văn Anh (Hệ Cao đẳng chính quy), thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM Điều này cho thấy rằng dù muốn hay không thì chương trình đào tạo của Khoa Ngữ văn Nga cũng rất nặng đối với sinh viên Đó là chưa kể tới sự đòi hỏi về thời gian và tiền bạc khi sinh viên theo học chương trình song ngữ Nga- Anh này Vì không có sự so sánh, đối chiếu ngôn ngữ nào giữa hai ngôn ngữ nên bắt buộc sinh viên phải dành nhiều thời gian hơn cho việc học tập hai ngôn

Trang 20

ngữ này cùng lúc Đồng thời, chi phí cho việc học chương trình song ngữ này cũng tăng lên theo thời gian

Chuong trinh dao tao Tieng Nga

y kien khac

Biểu đồ 2: Đánh giá về chương trình đào tạo tiếng Nga

Bên cạnh đó thời lượng học trên lớp của một môn học rất ít, mà lượng bài

giảng cho một môn thường rất lớn, giáo viên chủ yếu dạy cho hết giáo án, không có thời gian sửa bài tập, sinh viên không biết đúng sai dẫn đến tình trạng

lo lắng cho kì thi cuối kỳ Kết quả là lổ hỏng kiến thức ngày càng nhiều trong từng môn học Thể hiện trong các bài kiểm tra cuối kỳ trong các năm cuối Chính vì điều này mà khi được hỏi, 56% sinh viên trả lời rằng lịch học tiếng Nga rất nặng Thực tế cho thấy rằng sinh viên nhiều lúc phải học 09-12 tiết mỗi ngày Bên cạnh đó, khi về nhà sinh viên lại phải dành nhiều thời gian để ôn lại bài thì mới có thể nắm được hết các kiến thức đã học trên lớp Do đó, sinh viên thường không có nhiều thời gian để chuẩn bị bài mới Kiến thức cũ chưa nắm vững, lại chưa chuẩn bị cho kiến thức mới, lỗ hỏng đã sâu nay lại càng lâu hơn Thế nhưng, quy chế đào tạo hiện nay mà Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM đang áp dụng là quy chế tín chỉ, sinh viên hoàn toàn có quyền chọn môn học, thời gian học, thời khóa biểu cho mình Việc sắp xếp này hoàn toàn linh hoạt Điều này có nghĩa là lịch học nặng hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự sắp xếp này của sinh viên Bởi vì lẽ đó, 42% sinh viên đánh

Trang 21

giá lịch học tiếng Nga đối với họ là vừa phải Đa số những sinh viên này đã rất linh động trong việc sắp xếp lịch học của mình nhằm làm giảm bớt sự nặng nề trong lịch học mà những sinh viên khác đang phải học

Danh gia ve lich hoc tieng Nga

56 42

0 2

nang vua phai nhe

y kien khac

Biểu đồ 3: đánh giá về lịch học tiếng Nga

2 2 2 2 Giáo trình giảng dạy:

Có thể nói hệ thống giáo trình có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đào tạo Chúng ta có thể điểm sơ qua các giáo trình đang được giảng dạy tại Khoa Ngữ văn Nga như sau:

Bộ môn tiếng Nga: ngữ âm học, từ vựng học, cú pháp học, hình thái học…

Bộ môn văn hóa- văn học Nga: văn học Nga, văn hóa Nga, dịch Việt- Nga, dịch Nga- Việt, tiếng Nga thương mại, tiếng Nga du lịch…

Bộ môn thực hành tiếng Nga: thực hành tiếng tổng hợp, nghe, nói, đọc, viết

Bộ môn tiếng Anh

Có thể thấy rằng phần lớn các giáo trình là do tập thể các Giáo sư, Tiến

sĩ, Giảngviên trong Khoa biên soạn Chúng không cố định, thường xuyên thay đổi hay bổ sung Thậm chí, các giáo trình này thường rất phức tạp, không phù hợp thực tế và hơi nặng về lý thuyết

Trang 22

46% sinh viên khi được hỏi về giáo trình tiếng Nga đều cho rằng chúng rất phức tạp, khó hiểu; 21% cho rằng nội dung của những giáo trình này không phù hợp với thực tế Điều này có nghĩa đây là những nội dung cơ bản, có liên quan mật thiết với nhau, thường xuyên bổ sung cho nhau nhưng khả năng áp dụng của những giáo trình này vào thực tế là rất hiếm hoi Nếu so sánh nội dung của giáo trình này trong tổng thể các giáo trình thì chúng vô cùng quan trọng Chúng giúp chúng ta hiểu rõ hơn và áp dụng tiếng Nga vào thực tế được hiệu quả hơn Nhưng khi xem xét chúng như một giáo trình riêng biệt thì khả năng áp dụng những kiến thức của giáo trình đó vào thực tế là rất ít ỏi ; chỉ có 7% sinh viên cho là giáo trình tiếng Nga đơn giản, dễ tiếp thu và những sinh viên còn lại (26%) thì có những ý kiến khác nhau như nội dung chưa hợp lý, sắp xếp chưa logic… Chẳng hạn, việc sắp xếp nội dung trong giáo trình Hình thái mà sinh viên năm 4 hiện nay đang học không theo một hệ thống nhất định Các khái niệm, định nghĩa, ví dụ minh họa…không rõ ràng, chung chung, trừu tượng Trong phần giới thiệu về ý nghĩa, cách sử dụng nhóm động từ hoàn thành thể và không hoàn thành thể có nhiều khái niệm lặp đi, lặp lại, tuy có đưa

ra ví dụ kèm theo nhưng chưa rõ ràng và phù hợp để sinh viên có thể hiểu và áp dụng một cách chính xác

Giao trinh Tieng Nga

y kien khac

Biểu đồ 4: Giáo trình tiếng Nga

Trang 23

Bên cạnh đó, các môn học về lý thuyết tiếng Nga, do sách vở, tài liệu thiếu thốn và hạn chế nên các kiến thức mới cũng không được cập nhật thường xuyên, cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo tiếng Nga

Dựa theo số liệu thống kê mà chúng tôi thu thập được khi điều tra xã hội học cho thấy đa số (89%) sinh viên cho rằng nguồn tài liệu tiếng Nga hiện nay rất hiếm Ngoài giáo trình do giáo viên biên soạn thì tài liệu tham khảo, nâng cao không nhiều Và nếu có thì về mặt lý luận, nội dung của những giáo trình này cũng không có sự thay đổi Với lại, đa số những giáo trình này được biên soạn trong môi trường ngôn ngữ trong khi nước ta, mà cụ thể là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng được cho là môi trường không ngôn ngữ Do đó, tuycó nhiều giáo trình liên quan nhưng khả năng áp dụng của chúng thì không nhiều Chỉ có những giáo trình do những giảng viên, trong Khoa biên soạn mới phù hợp với sinh viên Thậm chí, nếu có thì những giáo trình này rất đắt đỏ (8% ý kiến khác cho rằng như thế) Trong nhà sách hiện nay có phát hành cuốn từ điển Việt- Nga với giá bán 200 000- 250 000 đồng Nếu chỉ so sánh đơn thuần thì đây là số tiền không đáng kể nhưng thử so sánh

số tiền này cộng với những khoản chi phí khác cho sinh hoạt, nhà ở, sách, vở, dụng cụ học tập…thì đây là số tiền không nhỏ chút nào Đó là chưa kể việc tìm kiếm những cuốn từ điển như thế này không phải việc đơn giản Có thể sinh viên phải tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc thì mới có thể có được nó để phục

vụ cho việc học của mình Có thể đó là lý do vì sao khi được hỏi chỉ có 3% sinh viên được hỏi cho rằng giáo trình tiếng Nga hiện nay rất đa dạng và phong phú Có thể nói rằng đây là những đối tượng thường xuyên tìm kiếm nguồn tài liệu tiếng Nga bằng nhiều nguồn khác nhau như thư viện trung tâm, thư viện tổng hợp, văn phòng Khoa, internet…

Trang 24

Nguon tai lieu Tieng Nga

89%

3% 8%

it nhie u

y kie n

k hac

Biểu đồ 5: Nguồn tài liệu tiếng Nga

Thực tế cho thấy, nếu chúng ta khảo sát các nhà sách, thư viện…thì nguồn tài liệu tiếng Nga hiện nay rất ít Nếu so chúng với những nguồn tài liệu khác như giáo trình anh văn, văn học, tin học…thì đó là một trạng thái không cân bằng trầm trọng Đó là chưa kể con số này sẽ không cân bằng như thế nào nếu đem những giáo trình tiếng Nga so sánh với giáo trình tiếng Anh Điều này cho thấy tính phổ biến của những ngôn ngữ mà chúng ta đang nghiên cứu Bởi vì thế, đa số sinh viên (60%) thỉnh thoảng mới tìm kiếm tài liệu, giáo trình tiếng Nga có liên quan bằng nhiều nguồn khác nhau như trên internet, các cửa hàng sách cũ…; 28% sinh viên được hỏi rất ít tiềm kiếm các giáo trình tiếng Nga vì cho rằng chúng rất khan hiếm và đằt đỏ nếu tìm thấy, phần sinh viên còn lại (12%) thì vì nhiều lý do khác nhau nên đã cố gắng thường xuyên tìm kiếm các tài liệu, giáo trình tiếng Nga có liên quan trên internet, sách cũ… Con số này cũng phần nào phản ánh được thực trạng khan hiếm nguồn tài liệu tiếng Nga trong những năm gần đây Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng ngày nay công nghệ thông tin đang phát triển với một tốc độ chóng mặt Chỉ cần ngồi ở nhà, lên mạng là chúng ta có thể nhận về mình rất nhiều kiến thức khác nhau Tiếng Nga cũng không loại trừ Thế nhưng, có những thông tin mà sự đảm bảo của nó là hoàn toàn không có cơ

sở Để tiếp thu những kiến thức có ích từ trên mạng, chúng ta phải phân loại, kiểm tra, xác minh…Công việc này là hoàn toàn không đơn giản chút nào Do

đó, nếu chỉ căn cứ vào sự đa dạng, phong phú thông tin trên internet mà nói

Trang 25

nguồn tài liệu tiếng Nga vô cùng đa dạng, phong phú thì chúng tôi nghĩ rằng cũng chưa đủ chính xác

Viec tim kiem tai lieu Tieng Nga

28%

12%

60%

co khong thinh thoang

Biểu đồ 6: Việc tìm kiếm tài liệu tiếng Nga

2 2 2 3 Phương pháp giảng dạy:

Như chúng ta đã biết, phương pháp giảng dạy đóng một vai trò cực kỳ quan trọng và có một ảnh hưởng to lớn, quyết định tới chất lượng đào tạo Nhìn chung, các phương pháp mà các giảng viên trong Khoa vẫn đang

sử dụng hiện nay như phương pháp Ngữ pháp- Dịch, phương pháp Thính- thoại…Đây là những phương pháp giảng dạy truyền thống, mà theo những phương pháp này thì sinh viên rất thụ động, rất phụ thuộc vào giảng viên Hầu như sự sáng tạo, đóng góp ý kiến của sinh viên rất ít, nên giờ học thường rất nặng nề và không sinh động Và nếu như sinh viên có phát biểu, đóng góp ý kiến thì cũng theo một giáo án có sẵn, sinh viên hoàn toàn tuân theo ý định đã chuẩn bị trước của giảng viên

Hiện nay, một số phương pháp hiện đại cũng đang được bổ sung như phương pháp tương tác, phương pháp tăng cường giao tiếp…Đây là những phương pháp mà người học đóng vai trò trung tâm, vai trò quyết định Trong những phương pháp này, tính chủ động và tính cực của sinh viên rất cao, còn giảng viên chỉ đóng vai trò tư vấn, trợ giúp cho người học khi cần thiết Điều này cũng có nghĩa là sinh viên sẽ phải tự học và suy nghĩ nhiều hơn Từ đó sinh viên đã hình thành được rất nhiều kỹ năng cần thiết như kỹ năng thuyết trình,

Trang 26

kỹ năng lắng nghe, …Như vậy, theo những phương pháp này thì cả giảng viên

và sinh viên đều có vai trò nhất định của mình

Tuy nhiên, vì những lý do nhất định như giảng viên áp dụng phương pháp chưa hiệu quả, sinh viên đã quen với những phương pháp giảng dạy truyền thống… nên nhìn chung phương pháp giảng dạy mà các giảng viên Khoa Ngữ văn Nga hiện nay đang áp dụng hầu như không có sự đổi mới

Có lẽ vì những lý do trên mà khi được hỏi thì 51% sinh viên cho rằng phương pháp mà các giảng viên trong Khoa đang áp dụng thiên về lý thuyết

Có thể nói rằng con số này không phản ánh đúng bản chất của vấn đề bởi vì hiện nay, các giảng viên trong Khoa đang áp dụng một số phương pháp mà trong đó người học là chủ chốt như phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm…Các phương pháp này giúp cho sinh viên chủ động hơn trong học tập

và có thể tiếp thu bài học được dễ dàng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, vẫn còn một số môn học mà trong quá trình học của nó có rất ít giờ thực hành như môn

Từ vựng học Dù thỉnh thoảng vẫn có những tiết học làm bài tập nhưng nhìn chung đa số vẫn thiên về lý thuyết nhiều hơn Có thể xuất phát từ những môn học này mà đa số sinh viên có suy nghĩ và chọn lựa như trên

25% sinh viên đánh giá phương pháp giảng dạy của giảng viên rất tốt, giảng viên rất nhiệt tình Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến nêu trên bởi vì thực tế cho thấy đa số giảng viên trong Khoa không ngại ngần trả lời thắc mắc khi Sinh viên cần, giảng viên cũng thường xuyên cập nhật những phương pháp giảng dạy mới để làm cho bài giảng được sinh động hơn Môn Văn hóa Nga như là một ví dụ Tưởng chừng đó là một môn kiến thức chung nhàm chán nhưng giảng viên đã làm cho những tiết học trở nên sinh động và hiệu quả hơn nhờ những buổi thuyết trình, những kinh ngiệm mà cô chia sẽ, thưởng thức âm nhạc do cô cung cấp

Và, 12% sinh viên cho rằng các phương pháp này rất rập khuôn, theo một giáo án có sẵn, sinh viên hoàn toàn tuân theo ý định đã chuẩn bị trước của giảng viên, được lặp đi, lặp lại từ năm này qua năm khác Việc thay đổi giáo trình trong Khoa rất ít xảy ra Các giáo trình được sử dụng từ năm này qua năm

Trang 27

khác Tuy nhiên, mỗi năm các giảng viên trong Khoa lại bổ sung thêm nhiều kiến thức trên nền tảng những kiến thức cơ bản ấy

Và đó cũng là ý kiến của các sinh viên còn lại

Phuong phap Giang day Tieng Nga

Trang 28

vào ngôn ngữ mà họ đang theo đuổi Phương pháp học tập của họ cũng bắt đầu lệch lạc, hầu hết sinh viên bắt đầu thờ ơ, họ dành rất ít thời gian cho việc học tập tiếng Nga Sự thờ ơ trong phương pháp học tập này dẫn tới sự thiếu hiểu biết kiến thức trầm trọng trong sinh viên Sự thiếu hiểu biết này kéo dài từ năm này sang năm khác đã làm cho chất lượng học tập tiếng Nga giảm sút trầm trọng

Danh gia ve viec hoc tap va su dung tieng Nga

Trang 29

Ban nhan thay tieng Nga co kho hay

khong?

17

83

de kho

Biểu đồ 9: Bạn nhận thấy tiếng Nga có khó hay không?

Nhung kho khan khi hoc

tieng Nga

37 30

25

chu cai, tu vung phat am ngu phap nghe noi

y kien khac

Biểu đồ 10: Những khó khăn của bạn lúc mới bắt đầu học tiếng Nga

Do đó, chủ yếu sinh viên tiếp thu kiến thức trên lớp là chính Việc tìm kiếm thêm thông tin có liên quan đến tiếng Nga là rất hiếm Chủ yếu vẫn là ôn lại kiến thức đã học, chuẩn bị bài trước khi lên lớp theo những giáo trình có sẵn, đã được chuẩn bị trước bởi các giảng viên Điều này cũng chiếm thời gian

Trang 30

của sinh viên không nhiều Và sinh viên cũng không phải suy nghĩ, vận động trí óc nhiều khi học tập theo những phương pháp này

Theo số liệu mà chúng tôi thu thập được thì chỉ có 16% sinh viên dành trên 4 giờ mỗi ngày để học tiếng Nga (không tính thời gian trên lớp); 28% sinh viên dành từ 3-4 giờ/ ngày để ôn lại kiến thức đã học và chuẩn bị bài mới; 47% sinh viên dành từ 1-2 giờ mỗi ngày và 9% sinh viên còn lại chỉ dành dưới 1 giờ

để làm việc đó Từ những số liệu trên cho thấy, sinh viên học tiếng Nga trong những năm gần đây dành rất ít thời gian cho việc học tập và thực hành tiếng Nga Tiếng Nga là một ngoại ngữ rất khó đòi hỏi người học phải dành nhiều thời gian cho nó Thế nhưng, chỉ có 16% sinh viên dành trên 4 giờ mỗi ngày để học tiếng Nga Đây là một thực trạng đáng buồn vì tiếng Nga là chuyên ngành chính của họ Chính vì vậy, chất lượng học tập tiếng Nga có phần giảm sút là chuyện không có gì để bàn cãi

Thoi gian hoc Tieng Nga

Biểu đồ 11: Thời gian học tiếng Nga Điều này cho thấy, nếu như không học trên lớp thì sinh viên dành rất ít thới gian cho việc tự học tiếng Nga Lượng kiến thức thu được với bấy nhiêu thời gian ấy là chẳng được bao nhiêu

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Phương Chi. “Thử bàn về một số nguy ên nhân, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo”. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về một số nguyên nhân, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
2. Trương Văn Vỹ. “Chất lượng đào tạo tiếng Nga giảm sút. Đi tìm nguyên nhân từ phía công tác giảng dạy”. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đào tạo tiếng Nga giảm sút. Đi tìm nguyên nhân từ phía công tác giảng dạy
3. Trương Văn Vỹ. “Đào tạo song ngữ Nga- Anh ở Khoa Ngữ văn Nga: từ giải pháp tình thế đến hoàn thiện và phát triển”. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo song ngữ Nga- Anh ở Khoa Ngữ văn Nga: từ giải pháp tình thế đến hoàn thiện và phát triển
4. Trương Văn Vỹ (2002). “Tìm hiểu động cơ và thái độ học tiếng Nga của sinh viên Khoa Ngữ văn Nga- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM hiện nay”. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu động cơ và thái độ học tiếng Nga của sinh viên Khoa Ngữ văn Nga- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM hiện nay
Tác giả: Trương Văn Vỹ
Năm: 2002
9. báo người lao động số 46, số 27 năm 2008 10. http:// www. Chinhtri. com. vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w