1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tên và cách đặt tên của hai dân tộc nga việt đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2009

53 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tên Và Cách Đặt Tên Của Hai Dân Tộc Nga – Việt
Tác giả Nguyễn Mạnh Quỳnh Như
Người hướng dẫn Th.S Phạm Thị Thu Hà
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học
Thể loại Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 648,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Họ người Việt (7)
    • 1.1.1. Họ kép (7)
    • 1.1.2. Họ dân gian (8)
    • 1.1.3. Ý nghĩa họ người Việt (9)
  • 1.2. Tên đệm (hay chữ lót) (9)
    • 1.2.1. Hình thức và mối liên kết (11)
    • 1.2.2. Chức năng tên đệm (11)
    • 1.2.3. Tên đệm thường dùng (12)
  • 1.3. Tên chính (hay tên gọi) (12)
    • 1.3.1. Đặc điểm (15)
    • 1.3.2. Tục lệ đặt tên (16)
    • 1.3.3. Chọn tên chính (16)
    • 1.3.4. Các tên khác (17)
  • Chương 2: Tên và họ của người Nga (7)
    • 2.1. Họ người Nga (18)
    • 2.2. Tên đệm (19)
    • 2.3. Tên chính (21)
      • 2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển Nga tên (21)
      • 2.3.2. Cấu tạo Nga tên (22)
      • 2.3.3. Hệ thống tên Nga cổ và ý nghĩa và những từ phái sinh của chúng (24)
      • 2.3.4. Ý nghĩa của 10 tên phổ biến nhất nước Nga hiện nay (26)
        • 2.3.4.1. Tên dành cho nam giới (26)
        • 2.3.4.2. Tên dành cho nữ giới (26)
  • Chương 3: Sự chi phối của các yếu tố địa lý và văn hóa lên cách đặt tên của (18)
    • 3.1. Vị trí địa lý và tư duy của người Việt Nam (28)
    • 3.2. Điều kiện địa lý nước Nga và tư duy dân tộc Nga (29)
    • 3.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ (31)
    • 3.4. Sự giao thoa văn hoá (32)
      • 4.1.1. Về cấu trúc và cách xưng hô (34)
      • 4.1.2. Khác nhau trong cách đặt tên (34)
        • 4.1.2.1. Họ tên người Nga và họ người Việt (34)
        • 4.1.2.2. Đặt theo tên và họ của cha (35)
        • 4.1.2.3. Một số yếu tố liên quan đến tên, tên đệm, và số lượng của chúng trong cấu trúc tên họ của hai dân tộc (36)
    • 4.2. Những điểm giống và khác nhau trong cách đặt tên của hai dân tộc Nga-Việt (0)
      • 4.2.1. Khác nhau về khía cạnh ngôn ngữ (0)
      • 4.2.2. Quan niệm về tên xấu của hai dân tộc (38)
      • 4.2.3. Sự ảnh hưởng của bốn mùa trong năm lên việc đặt tên cho con của người Nga (39)
      • 4.2.4. Quá trình hình thành và cách đặt tên của người Nga và người Việt (39)
    • 4.3. Những tên nên đặt cho các bé trai và bé gái của hai dân tộc Nga-Việt (42)
      • 4.3.1. Tên nên đặt cho con trong tư duy của người Nga và người Việt (43)
      • 4.3.2. Tên Nga hiện đại và tên Nga cổ (44)
        • 4.3.2.1. Tên Nga hiện đại (44)
        • 4.3.2.2. Tên Nga cổ (45)
      • 4.3.3. Một vài trường hợp hình thành tên đặc biệt nhờ sự kếp hợp của các từ của người Nga (47)
  • KẾT LUẬN (50)

Nội dung

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tên và cách đặt tên của hai dân tộc Nga-Việt” giúp bản thân tôi, những sinh viên đang theo học chuyên ngành tiếng Nga cũng như tất cả mọi người có n

Họ người Việt

Họ kép

[1] Họ và tên người Việt Nam, PGS.TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005

Nhiều gia đình mang họ kép, như Vũ-Ðỗ Thìn, Ðặng-Trần Huân, Trần-

Lê Quang, v.v Tuy nhiên cần phân biệt hai loại họ kép:

Các họ Ðặng-Xuân, Ðặng-Vũ và Ngô-Vi, Ngô-Thời xuất phát từ gia đình gốc họ Ðặng và họ Vũ, nhưng để phân biệt chi nhánh, họ đã thêm tên đệm vào họ Tên đệm không phải là họ, mà là tên lót trung gian giữa họ và tên Tuy nhiên, những họ đi kèm với tên đệm "Bá, Thúc" được coi là họ đơn, vì chúng chỉ là những chữ lót chung.

H ọ kép h ợ p b ở i hai h ọ : Ðây là những họ kép chính thức Thường thấy có: Vũ-Ðỗ, Nguyễn-Trần, Trần-Lê, Hồ-Ðặng, Lê-Phan, Vũ-Phạm, Ðặng-Trần

Vì một lý do nào đó, một người xử dụng họ kép và truyền lại cho các thế hệ sau

Trường hợp người con nuôi thường thêm họ gia đình cha mẹ nuôi vào họ gốc, với họ mới đứng trước họ gốc Ví dụ, nhà thơ Đặng-Trần Côn, tác giả của Bích-Câu Kỳ-Ngộ và Chinh Phụ Ngâm Khúc, là con nuôi của gia đình họ Đặng, nhưng tên thật là Trần Côn Con cháu ông thường giữ họ kép này, tuy nhiên, có những trường hợp con cháu chọn lấy lại họ cũ, như Vũ-Phạm Hàm, gốc họ Phạm, đã trở thành con nuôi của bạn cha họ Vũ, dẫn đến họ kép Vũ-Phạm Sau này, mặc dù một số người vẫn giữ họ Vũ-Phạm, nhưng đa số đã trở lại với họ gốc Phạm, vì ông chỉ truyền họ kép cho một trong chín người con.

Một lý do phổ biến cho việc đổi họ trong lịch sử là vua chúa thường cho phép các quan lại có công hoặc đạt thành tích cao được đổi tên, thậm chí có thể mang họ của vua như một phần thưởng Ví dụ, Mạc Cảnh Vinh đã được chúa Sãi Nguyễn-Phúc Nguyên cho phép đổi thành Nguyễn-Phúc Vinh Thông thường, người được đổi họ vẫn giữ họ gốc và ghép vào họ mới, tạo thành họ kép như trường hợp của Huỳnh Ðức, quan triều đại Gia-Long, trở thành Nguyễn-Huỳnh Ðức Các con trai của ông mang họ Nguyễn-Huỳnh, trong khi con gái vẫn giữ họ gốc Huỳnh do không mang quốc tính, điều này chỉ được phân biệt rõ ràng trong thời Tống Nho.

Hiện nay, nhiều gia đình sử dụng họ kép cho con cái, thường là sự kết hợp giữa họ của vợ và chồng Tuy nhiên, những họ kép này khó có thể tồn tại lâu dài do không được chấp nhận rộng rãi trong xã hội và phong tục Hơn nữa, khi con cái lập gia đình, họ kép của chúng có thể thay đổi, dẫn đến việc tạo ra một họ kép mới từ họ của người phối ngẫu.

Họ dân gian

Trong số "trăm họ" hiện được dùng, có chừng 30 họ là gốc Việt hoàn toàn, lúc đầu vốn là họ bộ tộc

Ngược dòng lịch sử, tổ tiên người Việt xuất phát từ đồng bằng phía Nam sông Dương Tử, Trung Quốc Sau khi bị người Hán xâm chiếm, họ đã di cư xuống phía Nam và lập quốc tại đồng bằng sông Hồng, Bắc Việt vào khoảng thế kỷ IV trước Công Nguyên Đến năm 1069, người Việt đã tiến chiếm toàn bộ nước Chiêm Thành và chiếm đóng phần đồng bằng phía Đông vào năm 1693.

Cam-Bốt tức Thủy Chân-Lạp năm 1759 Cuộc Nam tiến đã dừng lại khi người Pháp chiếm đóng và thành lập Ðông Dương thuộc địa

Nước ta đã trải qua hàng ngàn năm bị nhà Hán và các triều đại Trung Quốc đô hộ, dẫn đến việc một số quân lính định cư tại Giao Chỉ và lập gia đình Bên cạnh đó, nhiều người Hoa cũng đã đến Việt Nam để tị nạn hoặc di trú Điều này giải thích cho sự tồn tại của một số họ Việt gốc Hoa như Khổng, Lưu, Trương, Mai, Lâm, Lữ, Nhan, Sử, Tăng, Trịnh, Vương, cùng với các họ gốc Miên như Thạch, Sơn, Danh, Kim, Lâm, và gốc Chàm như Chế, Chiêm Ngoài ra, còn có các họ của đồng bào thiểu số như Linh, Giáp, Ma, Ðèo, Kha, Diêu, Vi, Quách, Nông, Chữ, Ngân, Ông, Trà, Lang, Lục.

Ý nghĩa họ người Việt

Tất cả họ Việt Nam đều mang ý nghĩa ngữ nguyên sâu sắc Trong số "trăm họ", có những họ có lịch sử lên tới ba bốn ngàn năm, từ thời kỳ mà mỗi bộ tộc sở hữu một biểu tượng riêng, có thể là cây cỏ hoặc động vật Những tên biểu hiệu này sau đó được một số gia tộc sử dụng làm họ, như họ Âu Một số họ khác lại biểu tượng cho nghề nghiệp, chẳng hạn như họ Ðào (thợ gốm), hoặc phản ánh cách sinh sống của bộ tộc, như họ Trần Họ ban đầu là họ bộ tộc, điều này giải thích tại sao người Anh và Pháp gọi chúng là "patronym(e)" để phân biệt với "nom de famille / family name".

Ban đầu, các họ người Việt được ghi chép bằng chữ Hán, sau đó chuyển sang chữ Nôm và cuối cùng là "quốc ngữ" Qua dòng lịch sử, những ảnh hưởng đã làm biến đổi hoặc hiểu sai lạc ý nghĩa của các họ, khiến cho người hiện đại khó nắm bắt được ý nghĩa nguyên thủy Ví dụ, họ Ðinh ngày nay được hiểu là "công dân" hay "người", trong khi đó, họ Quách mang nghĩa là vật chắc chắn, có sức đối kháng, đồng thời cũng chỉ "lớp thành ngoài" Họ Lê có nghĩa là "dân chúng" nói chung.

Các họ được ghi chép lại không nên được hiểu là có cùng một ý nghĩa như danh từ chung, mà chỉ mang tính chất tham chiếu Ví dụ, các họ như Boucher hay Boulanger trong tiếng Pháp có thể xuất phát từ nghề nghiệp tổ tiên Từ khi có chữ quốc ngữ La-Tinh, các chữ gợi hình đã giảm đi và dễ gây hiểu lầm hơn Do đó, tên họ trong từ điển hiện nay không có ý nghĩa chắc chắn, và chúng ta không thể khẳng định rằng một họ nào đó tương đương với danh từ chung mô tả sự vật hoặc hành động.

Tên đệm (hay chữ lót)

Hình thức và mối liên kết

Tên đệm có thể là một từ như trong các ví dụ Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương, Hoàng Kim Vui; hoặc hai từ như Lê Thanh Minh Châu, Đỗ Văn Quang Minh Ngoài ra, cũng có những trường hợp không có tên đệm như Lý Bí, Hồ Xí.

Tên đệm có thể hoạt động như một thành phần độc lập hoặc liên kết với tên họ và tên chính trong cấu trúc tên.

Tên đệm đứng độc lập là loại tên đệm không thể kết hợp với tên họ hoặc tên chính để tạo thành từ kép Ví dụ, trong các tên như Nguyễn Đình Chiểu và Lê Văn Trương, các từ "Đình" và "Văn" không thể phối hợp với tên họ hoặc tên chính để mang lại một ý nghĩa khác.

Tên đệm trong tên người Việt thường được phối hợp với tên chính, chủ yếu có nguồn gốc Hán-Việt, nhằm tạo ra ý nghĩa tốt đẹp hơn Trong văn chương, tên Hán-Việt được ưa chuộng hơn so với tên Nôm, vì vậy khi đặt tên, người ta thường chọn tên đệm phù hợp để làm nổi bật ý nghĩa, như trong các ví dụ: Nguyễn Văn Quang Minh, Trần Hùng Dũng, Lê Phú Quý, Nguyễn Văn Thông Minh, và Lê An Bình.

Rất ít tên người Việt có tên đệm phối hợp với tên họ để tạo thành từ kép có ý nghĩa, ví dụ như Hoàng Kim Vui và Võ Văn Trung.

Tên đệm thường bao gồm hai chữ, trong đó một chữ độc lập và một chữ phối hợp với tên chính Ví dụ, trong tên Đỗ Văn Quang Minh, tên đệm "Văn" đứng độc lập, trong khi "Quang" kết hợp với tên chính "Minh" để tạo thành "Quang Minh", mang ý nghĩa là sáng sủa.

Chức năng tên đệm

Tên đệm có thể tồn tại hoặc không, dẫn đến chức năng của nó đôi khi không rõ ràng Một số tên đệm lại có chức năng tương đối rõ ràng.

Phân biệt giới tính: nữ giới thường chọn tên đệm Thị, Diệu, Nữ; nam là: Bá, Mạnh, Văn

Phân biệt chi, ngành trong một dòng họ lớn: Ngô Thì, Ngô Vai; Nguyễn Đức, Nguyễn Mậu

Trong gia đình, việc phân biệt thứ bậc rất quan trọng Một số người sử dụng từ đệm "Bá" để chỉ con cả của dòng họ trưởng, "Mạnh" để chỉ con cả của dòng họ thứ, "Gia" để chỉ con trưởng, và "Trọng" để chỉ con thứ hai.

Một số tên đệm mang tính thẩm mỹ có thể được sử dụng cho cả nam và nữ, như Nguyễn Bạch Dương, Lê Bạch Huệ, Phan Kim Huê và Đỗ Kim Nga.

Tên đệm thường dùng

Sử dụng từ Hán-Việt mang ý nghĩa tích cực như các từ chỉ vật quý, mùa đẹp, màu sắc đẹp, cũng như từ chỉ phẩm hạnh và tài năng, ví dụ như Xuân, Thu, Cẩm, Châu, Hồng, Hoàng, Đức, Hạnh, Đình, và Đại, sẽ tạo ra một nội dung phong phú và ý nghĩa.

Lấy họ mẹ làm tên đệm hoặc lấy họ cha làm tên đệm mà không phải theo chế độ mẫu hệ[2]

Lấy tên đệm của cha hoặc mẹ làm tên đệm cho con trai và con gái là một cách phổ biến để giữ gìn truyền thống gia đình Tên đệm của cha có thể được sử dụng cho con trai, trong khi tên đệm của mẹ có thể được áp dụng cho cả con trai và con gái.

Lấy tên chính của cha làm tên đệm cho con trai, lấy tên chính của mẹ làm tên đệm cho con gái

Lấy tên đệm và tên chính của cha để đặt tên cho con trai và con gái là một truyền thống phổ biến Ví dụ, từ tên Trần Thành Đăng của cha, con trai có thể được đặt tên là Trần Thành Đăng Chân Tín, trong khi con gái có thể mang tên Trần Thành Đăng Chân Mỹ.

Tên chính (hay tên gọi)

Đặc điểm

Tên chính của người Việt thường có những đặc điểm sau:

Người Việt Nam coi tên là một phần quan trọng gắn liền với cá nhân, vì vậy việc đặt tên không hề tùy tiện Tục ngữ "Xem mặt đặt tên" thể hiện sự cẩn trọng trong việc lựa chọn tên, dựa vào các yếu tố như đặc điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương và ước vọng của cha mẹ.

Tên chính trong tiếng Việt phong phú hơn so với họ và tên đệm, với khả năng sử dụng bất kỳ từ nào trong kho tàng ngôn ngữ Tuy nhiên, một số từ hiếm khi được chọn làm tên chính, chẳng hạn như cùi, ung thư, tù, ngục, và tai nạn.

Xu hướng đa tiết hóa tên chính: Trước đây họ và tên thường 3 tiếng, ngày nay xu hướng phát triển thành 4 ngày càng nhiều và nhất là ở giới nữ

Hán-Việt đóng vai trò quan trọng trong việc đặt tên, thường được cấu tạo từ hai từ: một từ làm tên đệm và một từ làm tên chính, tạo nên ý nghĩa sâu sắc và hoa mỹ hơn Ví dụ như Vĩnh Phú mang ý nghĩa "giàu có muôn đời", Bạch Tuyết thể hiện sự "trong trắng như tuyết", và Hoài An diễn tả mong muốn "được an bình".

Tên gốc Nôm thường được các gia đình nông thôn ít học đặt cho con cái, mang tính mộc mạc như Bông, Rồi, Vui, Cười, Lây, Há, Đực, Tí, Cò Tuy nhiên, những cái tên này có thể khiến nhiều người cảm thấy băn khoăn và khó chịu, đặc biệt là khi họ chuyển lên thành phố sinh sống.

Khi người Pháp và người Mỹ đến Việt Nam, một số gia đình đã đặt tên cho con cái bằng những tên kết hợp giữa văn hóa Việt và phương Tây như Trần Văn Pierre, Lê Văn Paul, Trần Thị Paulette, và Nguyễn Thị Suzanne Bên cạnh đó, cũng có những tên không rõ nghĩa và nguồn gốc như Nguyễn Quang Riệu hay Trần Đình Hượu.

Việc phân biệt tên chính của nam và nữ thường gặp khó khăn, vì về nguyên tắc, chúng không có sự khác biệt rõ ràng Tuy nhiên, dựa vào ý nghĩa của tên chính, kết hợp với tên đệm và thói quen sử dụng, ta có thể đoán tương đối chính xác giới tính của một tên.

Tên nữ thường mang ý nghĩa từ các loài hoa như Mai, Lan, Cúc, hay các loài chim đẹp như Yến, Anh, Oanh Ngoài ra, tên còn được lấy từ đá quý như Bích, Ngọc, Trân, và các loại vải quý như Nhung, Gấm, Là, Lụa Những từ ngữ chỉ đức tính như Hạnh, Thảo, Hiền, Dung cũng rất phổ biến, cùng với những âm thanh nhẹ nhàng và ý nghĩa hoa mỹ như Vân, Thúy, Diễm, Lệ, Nguyệt, Trang, Huyền.

Tên nam thường được chọn dựa trên các tiếng biểu lộ sức mạnh, trí tuệ, đức hạnh và tiền tài danh vọng Các tên thể hiện sức mạnh như Cương, Cường, Hùng, Tráng, Dũng; tên chỉ trí tuệ như Thông, Minh, Trí, Tuệ, Sáng, Hoài; tên thể hiện đức hạnh như Nhân, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Công; và tên chỉ tiền tài danh vọng như Phú, Quý, Kim, Tài, Danh.

Tên chính của người Kinh không được trùng với tên của các bậc trưởng thượng, bao gồm thần thánh, vua chúa và những người thuộc thế hệ trước trong gia đình, theo phong tục cổ truyền.

Tục lệ đặt tên

Ở Việt Nam, thời hạn đặt tên cho con thay đổi theo từng vùng, với người Kinh thường không đặt tên ngay khi trẻ mới sinh mà chỉ gọi bằng những tên tạm như thằng cu hay cái đĩ trong vòng 100 ngày để tránh ma quỷ Đặc biệt, ở Huế, lễ tạ ơn "mười hai bà mụ" diễn ra sau đúng 100 ngày, lúc này mới đặt tên huý, tên chính thức của mỗi người do cha mẹ đặt Tên huý còn được gọi là tên thật hay tên khai sinh.

Trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh thường chuẩn bị cơi trầu, chai rượu, hương hoa và lễ vật để yết cáo tổ tiên tại nhà thờ họ, đồng thời ghi tên vào sổ họ cho các con trai, từ đó có tên huý chính thức được công nhận Việc vào sổ họ yêu cầu đối chiếu gia phả để tránh trùng tên với các vị tiên tổ hoặc ông bà chú bác; nếu trùng, phải đổi tên Ở nông thôn, những người có uy tín trong làng thường được dân chúng nhờ đặt tên cho con, và gia đình sẽ ghi nhớ ơn người đặt tên suốt đời.

Theo nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ Việt Nam, cha mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong vòng 60 ngày kể từ ngày sinh Nếu cha mẹ không thể thực hiện việc này, ông bà hoặc người thân khác có thể thay mặt để khai sinh cho trẻ.

Chọn tên chính

Khi chọn tên, người ta thường ưu tiên những từ ngữ mang ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện mối quan hệ huyết thống trong gia đình, phân biệt thế hệ và ghi dấu các biến cố quan trọng Ngoài ra, tên cũng thường có liên quan đến họ tên của cha, mẹ hoặc anh, chị, như Nghị hay Đồng (tên cha là Hội) và Điểm hay Đài (khi tên chị là Trang).

Khi chọn tên cho doanh nghiệp, bạn nên liên hệ đến ngành nghề hoặc sản phẩm như Sĩ, Nông, Công, Thương, hoặc các từ như Cột, Kèo, Rui, Mè Ngoài ra, có thể sử dụng số thứ tự như Một, Hai, Ba hoặc Nhất, Nhị, Tam Bên cạnh đó, tên động vật và thực vật như Loan, Phụng, Sơn Ca, Hồng, Lan, Huệ cũng là những lựa chọn thú vị.

Vợ chồng mới cưới thường bế con đầu lòng đến trước mặt ông bà để xin đặt tên, nhằm thể hiện lòng tôn kính đối với cha mẹ và tránh những tên họ hàng mà họ chưa biết.

[7] Có ý kiến cho rằng "tên xấu xí" vì sợ quỷ tha ma bắt

[8] Nếu đứa trẻ đó chẳng may xấu số, gia phả sẽ ghi "hữu vị vô danh" tức có người, biết trai gái nhưng chưa có tên

Trong văn hóa gia tộc, nếu một đứa trẻ được đặt tên nhưng không may qua đời sớm, gia phả sẽ ghi chú là "hữu danh vô vị" Điều này thể hiện sự tôn trọng và ghi nhận tên gọi của đứa trẻ, mặc dù cuộc sống của nó rất ngắn ngủi.

Trong văn hóa Việt Nam, có nhiều phong tục tập quán đặc sắc, trong đó có việc chưa đặt tên cho trẻ sơ sinh ngay sau khi chào đời Điều này phản ánh sự tôn trọng và tín ngưỡng của người Việt đối với tên gọi, cho rằng tên có thể ảnh hưởng đến vận mệnh của đứa trẻ Việc trì hoãn đặt tên thường kéo dài cho đến khi gia đình thực hiện các nghi lễ cần thiết để chọn lựa một cái tên phù hợp, mang lại may mắn cho con cái.

[11] Thủ tục đăng ký khai sinh trong nước

Tên có ý nghĩa tốt đẹp: Phúc, Lộc, Thọ, Đoan, Trang, Tuyết, Trinh, Hiền, Thương, Hùng, Dũng, Bảo, Trân, Trọng, Châu

Tên của các chúa Trịnh như Kiểm, Tùng, Tráng, Tạc, Căn, Cương, Giang, Doanh, Sâm, Cán, Khải thuộc bộ Mộc, trong khi tên của các chúa Nguyễn như Kim, Hoàng, Nguyên, Lan, Tần, Trăn, Chu, Trú thuộc bộ Thủy.

Theo địa danh nơi sinh, việc đặt tên cho con thường phản ánh vùng miền Chẳng hạn, nếu sinh con ở miền Nam, tên gọi có thể là Nam; nếu ở Nha Trang, tên có thể là Trang; và nếu ở Vĩnh Long, tên có thể là Vĩnh hoặc Long.

Theo thời gian sinh như Xuân, Hạ, Thu, Đông; hoặc Tý, Sửu, Dần hoặc; Giáp, Ất, Bính

Lấy tiếng nước ngoài như: Phạm Bá Rose, Vũ Thị Noel, Đặng Thị Milla

Vua Minh Mạng đã sáng tác một bài thơ để quy định cách đặt tên cho con cháu, nhằm phân biệt các thế hệ Bài thơ này không chỉ mang ý nghĩa văn hóa mà còn thể hiện sự kết nối giữa các thế hệ trong gia đình.

Ngự Chế Mạng Danh Thi

Miên, Nhân, Kỳ, Sơn, Ngọc

Phụ, Nhân, Ngôn, Tài, Hòa

Bối, Lực, Tài, Ngôn, Tâm

Ngọc, Thạch, Hoa, Hòa, Tiểu

Theo bài thơ trên, tên các hoàng tử thuộc dòng đế, mỗi thế hệ sẽ dùng một bộ chữ

Ngày nay, tên chính của trẻ em cần được đặt trước khi làm giấy khai sinh, và thường mỗi đứa trẻ sẽ có một cái "tên ở nhà" khác với tên trong giấy khai sinh Những cái tên này có thể là Tèo, Tộp, Thôi, Nữa, hoặc cũng có thể là những tên quốc tế như Tom, Henry, Ghita, Mary.

Tên và họ của người Nga

Họ người Nga

Họ (фамилия) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh, mang ý nghĩa là gia đình và là biểu tượng đặc trưng của mỗi gia đình Mỗi cá nhân đều mang "Họ" của gia đình từ khi mới sinh ra, và phần lớn "Họ" này xuất phát từ tên đệm hoặc biệt danh, chịu ảnh hưởng bởi nơi sinh hoặc đặc điểm của tổ tiên.

Họ đầu tiên của người dân Novgorod được đặt theo tên người đầu tiên mua đất ở Nga Đến cuối thế kỷ 18 và giữa thế kỷ 19, phần lớn dân số trung ương Nga không có tên Theo quy định, họ của người Nga phải là họ đơn và chỉ truyền lại cho dòng nam, nghĩa là chỉ nam giới mới được mang họ tổ tiên Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ 18, đặc biệt là vào năm 1861, quy định này đã bị bãi bỏ, cho phép cả nông dân có họ riêng Đến những năm 30 của thế kỷ 20, quá trình hình thành họ của người Nga cơ bản đã hoàn tất.

“Họ” không chỉ phản ánh nguồn gốc và xuất xứ của gia tộc mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa Vào thế kỷ 19, khi chế độ nô lệ còn tồn tại ở Nga, những người nô lệ thường mang họ của chủ nhân Đến thế kỷ 19, khái niệm “Họ” đã phát triển thêm một ý nghĩa mới, trở thành một khái niệm chính thức và cơ bản trong tiếng Nga.

“Họ - có nghĩa là cái được di truyền lại cho con cháu trong một gia đình từ thế hệ này qua thế hệ khác là họ và tên”

Họ Nga có những đặc điểm nổi bật như ý nghĩa từ vựng và các tiếp đầu tố, hậu tố Những yếu tố này không chỉ thể hiện giới tính (nam hay nữ) của người mang họ mà còn chỉ sự sở hữu và tồn tại dưới dạng tính từ.

Trong tiếng Nga và một vài ngôn ngữ Slavơ cổ, họ của nam giới bao giờ cũng khác biệt với họ của nữ giới

Theo nghiên cứu, hầu hết họ người Nga được hình thành từ tên chính thông qua hình thức sở hữu của tính từ, với phần lớn có hậu tố -ov hoặc -ev Sự lựa chọn giữa hậu tố -ov và -ev phụ thuộc vào việc tên Nga kết thúc bằng phụ âm cứng hay mềm.

Theo truyền thống Nga, phụ nữ thường mang họ chồng sau khi kết hôn, nhưng điều này không bắt buộc Họ có thể giữ họ thời con gái hoặc kết hợp hai họ bằng dấu gạch nối Con cái sẽ mang họ của cha, nhưng nếu người mẹ chưa kết hôn hoặc không có cha, trẻ sẽ mang họ của mẹ.

Có nhiều họ Nga dành cho các nhà tu hành, xuất phát từ các tu viện như: Athens (Афинский), Duhososhestvenski (Духовсошественский), Palmin (Пальмин), Cypress (Кипарисов), Rephormat (Реформатский - nghĩa là cải cách), Pavski (Павский), Golubinski (Голубинский), Klyuchevski (Ключевский) và Tikhomirov.

(Тихомиров); Myagkov (Мягков); (Липеровский) Liperovski (có nguồn gốc từ Hy Lạp – nghĩa là buồn); (Гиляровский) Gylyarovski (có nguồn gốc từ tiếng La Tinh, nghĩa là vui vẻ, hạnh phúc)

Theo điều tra, trong tiếng Nga và tiếng La Tinh, họ của những đứa trẻ học giỏi thường mang âm điệu êm ái và ý nghĩa tích cực, như Brilliant (Бриллиантов - thông minh), Dobromyslov (Добромыслов), và Speranski (Сперанский - tương lai sáng lạng) Ngược lại, họ của những đứa trẻ học kém thường có âm điệu khó nghe và ý nghĩa tiêu cực, ví dụ như Saul (Саулов) và Pharaoh (Фараонов).

Vào năm 1888, Thượng Nghị Viện Nga đã ban hành luật nhằm giải quyết vấn đề những người không có họ, thường được gọi theo tên đệm, dẫn đến nhiều hiểu lầm và lạm dụng Việc sở hữu họ là quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, và việc này cần tuân thủ theo quy định của bộ luật nhà nước.

Thời kỳ Nga cổ, họ được hình thành từ tên dòng họ tổ tiên kết hợp với tên đệm như Ivanov và Pietrov, hoặc từ nơi cư trú của tổ tiên như Zadorozhnyi và Zarechnyi Ngoài ra, họ còn có thể xuất phát từ tên gọi của thành phố quê hương tổ tiên như Moscvitin và Laptev, hoặc theo tục lệ của nơi tổ tiên sinh ra như Tretyak và Shestack Một số họ cũng phản ánh dân tộc nơi tổ tiên sinh ra, ví dụ như Khokhlov, Litvinov, Polyako, Tatarinov và Moskalev Sự kết hợp này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong một gia đình lớn.

Tên đệm

Tên đệm là một phần quan trọng trong danh tính của mỗi người, được đặt ngay từ khi sinh ra Ở Nga, tên đệm được lấy từ tên của cha, tạo thành một hệ thống tên và họ thống nhất Điều này không chỉ giúp xác định danh tính cá nhân mà còn khẳng định sự tồn tại của mỗi người trong cuộc sống.

Tên đệm của người Nga đã được sử dụng từ khoảng năm 947, nhưng đến thế kỷ thứ 8, số lượng người có tên đệm vẫn còn hạn chế.

Tên đệm có ba chức năng chính: bổ sung vào tên, phân biệt những người có tên giống nhau và thể hiện mối quan hệ huyết thống như cha-con Trong giao tiếp, người Nga thường sử dụng tên đệm để thể hiện sự tôn trọng đối với người đối thoại.

Tên đệm của nam giới

Hình thái tên đệm của nam giới với vĩ tố (–vich)-(в)ич xuất phát từ tên đệm của các hầu tước và quan chức nổi tiếng trong thời kỳ Nga cổ Những tên đệm này chỉ được sử dụng bởi những người có địa vị cao trong xã hội, trong khi những người có vị trí thấp kém không được phép mang chúng.

Vào thế kỷ 15, các vị vua Nga đã cho phép thần dân của mình sử dụng tên đệm với vĩ tố “–vichem” (-вичем) Năm 1610, vua Vasili Shuiski, nhờ sự hỗ trợ của các thương gia giàu có, đã hợp nhất Urals và Siberia vào lãnh thổ Nga Để tri ân những thương gia này, vua đã ban cho họ và con cháu quyền sử dụng tên đệm, trong khi những người nghèo khổ lại không được hưởng đặc quyền này.

Trong thời kỳ đầu, các tên đệm được hình thành như một dạng tính từ sở hữu từ danh từ phù hợp Ví dụ, tên đệm có thể được sử dụng như: ôИван сын Петровằ cho ôИван Петровằ và ôФёдор сын Лукинằ cho ôФёдор Лукинằ.

Tên đệm của nữ giới được hình thành dựa trên hai phương thức sau:

Tên nam giới thường có cấu trúc với phần cuối là phụ âm, và tên đệm được tạo ra bằng cách chuyển đổi thân từ của tên ở dạng ngắn của tính từ sở hữu, sau đó thêm vĩ tố -na (-на) vào cuối.

Ví dụ: Борис — Борисов — Борисовна Андрей — Андреев — Андреевна

Những tên đệm được hình thành từ tên nam giới có kết thúc bằng nguyên âm, được tạo ra bằng cách chuyển đổi thân từ của tên chính sang dạng ngắn của tính từ sở hữu, sau đó thêm vĩ tố “-ichna” hoặc “-ична”.

Ví dụ: Лука — Лукин — Лукинична Фома — Фомин — Фоминична

Trong ngôn ngữ này, có những tên đệm được hình thành theo kiểu thứ ba, không theo hai quy tắc đã nêu Ví dụ, tên Зосима có tên đệm là Зосимин cho nam giới và Зосимовна cho nữ giới Tương tự, tên Никита có tên đệm là Никитин cho nam và Никитична cho nữ Cuối cùng, tên Савва có tên đệm là Саввин cho nam và Саввична cho nữ.

Phương thức đặt tên đệm của người Ukraine và người Belarus tương tự như của người Nga Các ngôn ngữ thuộc hệ Slav cổ cũng có những đặc điểm riêng về cấu trúc hình thái, trong đó họ của nam giới khác với họ của nữ giới.

Một số tên đệm không thuộc về dân tộc Nga, như Бурчевич (Burtrievich) và Берендеич (Berendeich), có nguồn gốc từ tên Бурчи và tên gọi của con cháu dân Tuyếc, thường xuất hiện trong các tài liệu cổ.

Tên đệm trong tiếng Nga thường có đuôi -vich (dành cho nam giới) và -evna (dành cho nữ giới) Trước đây, còn có các vĩ tố -ov và -in trong tên đệm, tương tự như cấu trúc họ của người Nga hiện nay.

Tên đệm có vĩ tố -ov(-ов) / -ev(-ев) chủ yếu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước và giấy tờ Trong giao tiếp hàng ngày, người Nga thường gọi nhau bằng tên và tên đệm, hạn chế sử dụng các hình thức như -ович(-ovich), -евич(-evich), -овна(-ovna), -евна(-evna), -ич(-ich), và -инична(-inichna).

Đôi khi, người ta chỉ xưng hô với nhau bằng tên đệm mà không sử dụng tên chính, nhằm thể hiện sự kính trọng đối với đối phương và đồng thời biểu thị sắc thái cũng như tình cảm.

Sự chi phối của các yếu tố địa lý và văn hóa lên cách đặt tên của

Vị trí địa lý và tư duy của người Việt Nam

Nền nông nghiệp lúa nước và lối sống quần cư đã hình thành nên văn hóa Việt Nam đặc sắc, phản ánh tính cách cần cù, chịu khó và lòng yêu nước của người dân Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 tộc người, trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 85% dân số Những yêu cầu về thủy lợi và bảo vệ an ninh trong nền nông nghiệp đã củng cố ý thức quê hương vững bền của người Việt.

Lòng yêu nước là tình cảm sâu sắc của người dân Việt Nam, được củng cố qua mỗi cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược Trong các cuộc kháng chiến, nhân dân Việt Nam thường ở thế yếu hơn về quân số nhưng tinh thần yêu nước đã trở thành yếu tố quyết định, tạo nên sức mạnh phi thường cho dân tộc.

Yêu nước là quy phạm đạo đức và chuẩn mực giá trị cao nhất của con người Việt Nam Lòng yêu nước ở Việt Nam không chỉ là một chủ nghĩa hướng dẫn ứng xử xã hội mà còn không tạo ra sự thù hằn dân tộc hay tư tưởng hẹp hòi Điều này thể hiện rõ qua quan điểm kiên quyết chống lại kẻ thù xâm lược, đồng thời duy trì quan hệ hữu nghị và đoàn kết với nhân dân các nước.

Nền văn minh lúa nước đã hình thành tinh thần cộng đồng, một yếu tố quan trọng trong ý thức và tâm lý người Việt Nam Người Việt không chỉ có cộng đồng huyết thống mà còn có cộng đồng xóm làng, nghề nghiệp và theo lứa tuổi Những mối quan hệ cộng đồng này tồn tại song song, không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau, tạo thành chỗ dựa vững chắc cho từng cá nhân và gia đình Việt.

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người Việt, hỗ trợ họ cả trong thời bình lẫn thời chiến Tuy nhiên, sự thiếu hài hòa giữa các cộng đồng nhỏ và cộng đồng lớn có thể dẫn đến tính địa phương và cục bộ, ảnh hưởng đến xã hội và quản lý hành chính.

Người Việt Nam không chỉ có ý thức cộng đồng mà còn coi trọng bản ngã, tài năng và nhân cách cá nhân Trong xã hội hiện đại, vai trò của từng cá nhân ngày càng được khẳng định rõ ràng.

Dân tộc Việt Nam thể hiện sự hòa nhập tôn giáo qua tín ngưỡng đa thần, đặc biệt là việc thờ cúng tổ tiên để ghi nhớ ơn đức của thế hệ

"sống" bên cạnh con người và luôn hỗ trợ con người

Người Việt Nam không cuồng tín tôn giáo; các hệ thống tôn giáo và tín ngưỡng, gia đình, dòng họ, làng xã và quốc gia hòa hợp và bổ sung cho nhau Sự hòa trộn này thể hiện rõ nét tính hòa nhập tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng người Việt qua các thời kỳ Việc tiếp thu các hệ tư tưởng và tôn giáo cho thấy tư duy trung hòa, mở rộng và linh hoạt của người Việt.

Tinh thần cộng đồng mạnh mẽ và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc đã hình thành một cách tư duy trung hòa, hạn chế sự cạnh tranh Điều này giúp người Việt Nam biết cách kết hợp hài hòa giữa các yếu tố cá nhân, xã hội và thiên nhiên, từ đó tạo ra những hành vi ứng xử cân bằng và hợp lý.

Người Việt Nam thường xuyên đối mặt với thử thách từ thiên nhiên và luôn khao khát một cuộc sống ổn định, hòa nhập với thiên nhiên và xã hội Dân tộc này sẵn sàng chấp nhận thử thách nhưng không thích tạo ra rủi ro hay mạo hiểm Do những hạn chế lịch sử và xã hội, tâm lý bình quân đã trở thành đặc trưng trong cộng đồng người Việt.

Tư duy của người Việt Nam mang tính cởi mở và dễ dàng tiếp nhận các yếu tố bên ngoài phù hợp Người Việt có niềm đam mê học hỏi và coi trọng tri thức Sự kết hợp giữa tín ngưỡng đa thần, không cuồng tín, cùng với tinh thần ham học hỏi đã hình thành nên một tư duy rộng mở, giúp người Việt dễ dàng hòa nhập với thế giới.

Điều kiện địa lý nước Nga và tư duy dân tộc Nga

Tư duy dân tộc là một phần quan trọng của văn hóa dân tộc, giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa và xã hội trong một vùng lãnh thổ cụ thể Đối tượng chính mà nghiên cứu này hướng tới là con người.

Nghiên cứu tư duy dân tộc Nga giúp người học tiếp cận đúng đắn các vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị, từ đó dự đoán những xu hướng tương lai của nước Nga Nhà văn M.A Sholokhov đã nhấn mạnh rằng thiên nhiên khắc nghiệt và hoang dã của Nga, với biển và núi đá, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe và tính tự kiềm chế của người lao động, đặc biệt là ngư dân và nông dân.

Nghiên cứu chi tiết những quy luật thiên nhiên, ta có thể hiểu được cả tính quy luật thái độ ứng xử và tính cách của con người

Nhiều tác phẩm văn học và nghiên cứu khoa học đã chỉ ra sự ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện địa lý lên tính cách và tư duy của người Nga I.A Iliyn nhấn mạnh rằng nước Nga đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt, từ mùa đông lạnh giá đến mùa hè oi ả, tạo nên những mâu thuẫn trong tính cách người dân S.N Bulgakov cũng đề cập đến khí hậu lục địa, cho thấy sự tác động của nó đến tâm lý và hành vi của người Nga.

Sự chênh lệch nhiệt độ ở Oimiakon lên đến 104 độ C có thể là nguyên nhân hình thành tính cách đặc trưng của người Nga, với những mâu thuẫn như khao khát tự do tuyệt đối nhưng lại có xu hướng thuần phục, vừa tín ngưỡng vừa vô thần Những đặc điểm này trong tư duy của người Nga thường khó hiểu đối với người châu Âu, tạo nên một hình ảnh bí ẩn và thách thức về nước Nga.

Sự phụ thuộc của tư duy dân tộc Nga vào những yếu tố địa lý tự nhiên có thể được tóm tắt trong bảng dưới đây:

Yếu tố ảnh hưởng đến tư duy Nét tính cách

1 Vị trí địa lý Tự ý, tự do

Tự do tinh thần Tính bị áp chế Tâm lý lý tính hướng nội Chuyên chế

Tâm lý kinh tế tự nhiên Thói quen được bảo hộ

Dễ dãi với điều kiện sống

2 Khí hậu (khí hậu khắc nghiệt, mùa đông kéo dài, nhiệt độ thấp) Đa sầu Chậm chạp Không quý trọng lao động của mình Hiếu khách

Chịu đựng Tuân lệnh, nghe lời Chủ nghĩa tập thể Đoàn kết tập hợp Mâu thuẫn

3 Cảnh quan và độ rộng lãnh thổ Độ rộng tâm hồn

Mơ mộng Quan sát Trầm tư Theo dõi thiên nhiên Suy ngẫm về quá khứ Rộng lượng

Lãng phí Thiếu chủ động sáng tạo Lười biếng

Phân tích môi trường văn hóa dân tộc và điều kiện địa lý giúp làm nổi bật những đặc tính quan trọng của tư duy mỗi dân tộc Vị trí địa lý có ảnh hưởng lớn đến tính cách và tư duy của người Nga, dẫn đến sự đa dạng trong cách đặt tên cho con cái, phản ánh ước nguyện và cá tính riêng của từng người Sự khác biệt này đã tạo ra một kho tàng tên gọi phong phú trong văn hóa Nga.

Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ

Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ, với ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện tư duy của con người Nó phản ánh quan niệm của con người về thế giới, giúp họ nhận thức và phân chia thực tại thông qua mã ngôn ngữ Lý thuyết ngôn ngữ nhấn mạnh rằng thực tại là một dải liên tục, và điều quan trọng không chỉ là nội dung mà còn là cách thức mà mỗi ngôn ngữ diễn đạt.

Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là công cụ phản ánh hiện thực mà còn là sản phẩm của tri thức và văn hóa Nó thể hiện quan niệm nhận thức của con người bản ngữ, được hình thành qua nhiều thế hệ Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ là yếu tố quan trọng, gắn bó với sự tồn tại và phát triển của dân tộc.

Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong tâm trí cá nhân hoặc tộc người với thực tại, được mô hình hóa theo cách riêng của họ Như Anna Weerzbicka (1991) đã chỉ ra, ngôn ngữ và ứng xử ngôn ngữ khác nhau giữa các nền văn hóa Điều này thể hiện rõ qua sự lựa chọn độc đáo của mỗi cá nhân hay tộc người, khác biệt so với các lựa chọn của những nhóm khác.

Văn hóa có tính hệ thống, giá trị, lịch sử và đặc biệt là tính nhân sinh, tạo ra sự kết nối giữa con người Nó thực hiện chức năng giao tiếp, liên kết mọi người lại với nhau Ngôn ngữ là hình thức giao tiếp, trong khi văn hóa là nội dung của nó Sự khác biệt trong văn hóa giữa các vùng dẫn đến sự khác nhau trong ngôn ngữ, và ngược lại, sự tương đồng trong văn hóa sẽ phản ánh qua ngôn ngữ Khi so sánh tên gọi và ý nghĩa giữa hai dân tộc Nga và Việt, sự khác biệt về khí hậu, vị trí địa lý và nhiều yếu tố khác có thể khiến chúng ta nghĩ rằng hai nền văn hóa này hoàn toàn khác biệt, nhưng thực tế lại không phải như vậy.

Sự giao thoa văn hoá

Trong lịch sử nhân loại, cựu lục địa Âu-Á đã hình thành hai vùng văn hóa lớn: phương Tây và phương Đông Phương Tây bao gồm toàn bộ Châu Âu, trong khi phương Đông bao gồm Châu Á và Châu Phi Hai vùng này có sự khác biệt rõ rệt về mọi mặt, đặc biệt là môi trường sống Cư dân phương Đông sống trong khí hậu nóng ẩm, nơi có nhiều mưa, tạo điều kiện cho các con sông lớn và những vùng đồng bằng trù phú phát triển.

Phương Tây có khí hậu lạnh và khô, không thuận lợi cho sự phát triển của thực vật, chủ yếu chỉ có đồng cỏ rộng lớn Điều này dẫn đến việc cư dân ở hai khu vực phải theo đuổi hai nghề khác nhau: trồng trọt và chăn nuôi Từ đó, hai loại hình văn hóa đã hình thành: văn hóa nông nghiệp và văn hóa du mục, với những đặc điểm khác biệt và thậm chí trái ngược nhau.

Nghề trồng trọt yêu cầu người dân phải định cư để chăm sóc cây cối cho đến khi thu hoạch, từ đó hình thành ý thức tôn trọng và mong muốn sống hòa hợp với thiên nhiên Ngược lại, văn hóa du mục trong nghề chăn nuôi khiến người dân phải di chuyển liên tục để tìm kiếm thức ăn cho gia súc, dẫn đến sự ít phụ thuộc vào thiên nhiên và có xu hướng coi thường nó, từ đó phát sinh tham vọng chinh phục tự nhiên.

Trong lĩnh vực nhận thức, văn hóa nông nghiệp thể hiện lối tư duy tổng hợp, chú trọng đến mối quan hệ giữa các yếu tố hơn là các yếu tố riêng lẻ Tổng hợp bao quát mọi yếu tố, trong khi biện chứng tập trung vào các mối quan hệ giữa chúng Ngược lại, văn hóa du mục chủ yếu sử dụng tư duy phân tích, dẫn đến sự phát triển của khoa học phương Tây và lối sống thực dụng, thiên về vật chất.

Trong tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp thường sống theo nguyên tắc trọng tình, tạo ra một cuộc sống hòa thuận dựa trên tình nghĩa Điều này dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn và trọng phụ nữ Ngược lại, văn hóa gốc du mục lại coi trọng sức mạnh, vai trò cá nhân và sự cạnh tranh khốc liệt, từ đó hình thành thói quen sống theo pháp luật ở người dân phương Tây từ sớm.

Trong ứng xử với môi trường xã hội, văn hóa gốc nông nghiệp của Việt Nam thể hiện tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt, dẫn đến thái độ dung hợp trong việc tiếp nhận các tôn giáo như Nho, Phật, và Thiên Chúa giáo mà không có chiến tranh tôn giáo Người Việt Nam luôn thể hiện sự mềm dẻo và hiếu hòa trong các tình huống đối phó, đặc biệt trong bối cảnh chiến tranh Ngược lại, văn hóa du mục lại thể hiện thái độ độc đoán và cứng rắn, với tính hiếu thắng trong cách tiếp cận và đối phó.

Nga, nằm ở Châu Âu, chủ yếu mang văn hóa gốc du mục, phản ánh trong tư duy của người dân Ngược lại, Việt Nam, ở góc Đông – Nam, thể hiện văn hóa gốc nông nghiệp với cách tư duy đặc trưng Tuy nhiên, phần lãnh thổ của Nga ở Châu Á cũng ảnh hưởng đến tư duy nông nghiệp của người dân Điều này giải thích sự tương đồng trong ý nghĩa và cách đặt tên giữa hai dân tộc, bên cạnh những khác biệt rõ rệt.

SO SÁNH CÁCH ĐẶT TÊN CỦA HAI DÂN TỘC

4 1.Nh ữ ng đ i ể m gi ố ng và khác nhau v ề c ấ u trúc h ọ tên, tên lót và tên chính

4.1.1.V ề c ấ u trúc và cách x ư ng hô

Tên người Việt thường bao gồm ba phần: họ, chữ lót và tên, trong khi tên người Nga cũng có ba phần: họ, tên và chữ lót Chữ lót của trẻ em Nga được hình thành từ tên của cha kết hợp với hình thức sở hữu Người Nga thường chỉ đặt một tên duy nhất cho con, mà họ cho là tốt đẹp và có ý nghĩa Điểm đặc biệt là một tên có thể có nhiều cách gọi khác nhau, thường là những tên gọi thân mật được rút gọn hoặc thêm phụ âm “к” để thể hiện sự gần gũi.

Người Việt thường tránh gọi trực tiếp tên người lớn tuổi để tôn trọng và tránh bị phê bình Thay vào đó, cách tốt nhất là gọi tên con hoặc cháu của họ, kèm theo danh vị của người đó Ví dụ, nếu ông tên Bách và con ông là Trung, khách nên chào ông Bách bằng cách nói "chào Ông Trung".

Khi giao tiếp với người lớn tuổi, người Nga thường sử dụng cả họ và tên đệm Việc chỉ xưng hô bằng tên, thường chỉ dành cho bạn bè cùng lứa, được coi là thiếu lịch sự trong văn hóa Nga.

Trong xưng hô, người Việt thường kết hợp danh vị với tên, như bác sĩ Minh, trong khi người Nga sử dụng họ và tên đệm, ví dụ như Филиппов Валентинович Đôi khi, việc xưng hô chỉ bằng tên đệm mà không dùng tên chính thể hiện sự kính trọng và biểu thị sắc thái tình cảm giữa các bên.

4.1.2.Khác nhau trong cách đặ t tên

4.1.2.1.H ọ tên ng ườ i Nga và h ọ ng ườ i Vi ệ t Ở Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của người Tàu, Miên, Lào, Chàm,…Do đó, trong danh sách họ có thể thu nhập được hiện nay là trên hai trăm Khuynh hướng này ngược lại với họ và tên người Nga nói riêng và người Châu Âu nói chung Các dân tộc Âu châu có rất nhiều họ, và hầu như không thể thống kê hết, trong khi đó tên đặt thì ít hơn nhiều

Tất cả họ Việt Nam ban đầu được ghi chép bằng chữ Hán, sau đó là chữ Nôm và “quốc ngữ” hóa Tuy nhiên, một số họ đã bị biến đổi hoặc hiểu sai lệch qua thời gian, khiến cho người hiện đại khó hiểu được ý nghĩa nguyên thủy Cùng một phát âm ngày nay chưa chắc đã gợi lên cùng một ý nghĩa; ví dụ, họ Đinh hiện nay được hiểu là “công dân” hay “người” Họ Quách có nghĩa là vật chắc chắn, có sức đối kháng, đồng thời cũng mang ý nghĩa “lớp thành ngoài” Họ Lê vốn có nghĩa là “dân chúng” nói chung Người Việt có thể mang họ đơn lẫn họ kép.

Người Nga thường chỉ sử dụng một họ, tuy nhiên, trong một số trường hợp, phụ nữ khi kết hôn có thể giữ lại họ của mình và thêm họ chồng, tạo thành hai họ Tổng quan, họ người Nga được chia thành ba loại chính.

Đối với họ của người đàn ông có kết thúc là phụ âm, cần phải biến cách theo hình thái học tiếng Nga, ví dụ như "книга Льюиса Кэролла" hay "отставка Мечислава Гриба" Trong khi đó, họ của người phụ nữ có tận cùng là phụ âm sẽ được giữ nguyên khi chỉ sỡ hữu, như trong "Фильмография Татьяны Божок" hay "муж Адели Штраус".

Những tên nên đặt cho các bé trai và bé gái của hai dân tộc Nga-Việt

♦Phải chọn tên như thế nào? Đặt tên cho con ra sao?

Theo luật pháp Nga, cha mẹ phải đăng ký tên cho con trong vòng một tháng sau khi sinh Việc chọn tên là trách nhiệm chung của cả cha và mẹ, theo điều 38 của bộ luật hôn nhân gia đình Tuy nhiên, quá trình này thường dẫn đến nhiều tranh cãi giữa hai bên Nếu cha mẹ không thể thống nhất về tên cho con, các cơ quan chức năng sẽ can thiệp để giải quyết vấn đề.

Mỗi dân tộc đều sở hữu những cái tên đẹp và ý nghĩa riêng Trong số những cái tên đó, cha mẹ có thể lựa chọn cho con mình một cái tên mà họ yêu thích nhất.

Người Nga rất quan trọng về “звук” – phát âm tên Trong tiếng Nga, có tên kết thúc bởi âm mềm, cũng có tên có kết thúc bởi âm cứng

Người Nga tin rằng tên gọi của trẻ sơ sinh có ảnh hưởng đến tính cách của chúng Những đứa trẻ mang tên kết thúc bằng âm cứng như Игорь, Дмитрий, và Екатерина thường kiên trì và nhẫn nại, nhưng cũng rất bướng bỉnh Ngược lại, những tên kết thúc bằng âm mềm như Светлана, Ирина, và Наталья thường thể hiện tính cách điềm tĩnh, dễ chịu và nhân nhượng Các tên trung hòa như Артем, Андрей, và Ольга thường mang lại sự khôn ngoan, chín chắn, nhưng cũng có chút bướng bỉnh.

Khi chọn tên cho con, người Nga thường ưu tiên những cái tên dễ phát âm và hòa hợp với tên đệm Nếu tên kết thúc bằng phụ âm và kết hợp với tên đệm có nhiều phụ âm, như trong trường hợp của Александр Дмитриевич hay Эдуард Дмитриевич, sẽ gây khó khăn trong việc phát âm và giao tiếp Điều này đôi khi dẫn đến việc tên và tên đệm bị phát âm sai.

Người Nga và người Việt Nam đều có quan niệm rằng không nên đặt tên cho con trùng với tên của người trong gia đình, đặc biệt là những người đã mất Họ cũng không cần phải đặt tên con cháu để thể hiện lòng kính trọng đối với ông bà Trẻ em có tên đơn giản, bình thường sẽ dễ nuôi hơn.

Việc đặt tên cho con cái cần tránh những cái tên cầu kỳ, khó phát âm, hoặc mang ý nghĩa chào mừng sự kiện đặc biệt, vì điều này có thể gây ra nhiều trắc trở trong cuộc sống sau này của trẻ Ngoài ra, không nên sử dụng tên của các anh hùng đã hy sinh, nhà văn nổi tiếng, hay những tên liên quan đến các hoạt động khoa học, cách mạng Cũng cần lưu ý không đặt tên và tên đệm trùng nhau để tránh những điều không may.

Không nên đặt tên con trai theo tên cha như Николай Николаевич, vì người Nga tin rằng những đứa trẻ mang tên này thường có tính cách không ổn định, hay cáu gắt và thiếu kiên nhẫn Đối với con gái, việc đặt tên theo tên mẹ có thể dẫn đến xung đột và bất hòa giữa hai mẹ con Do đó, nên chọn những cái tên dễ nghe, có ý nghĩa và dễ phát âm để trẻ không cảm thấy lạc lõng trong môi trường xung quanh.

4.3.1.Tên nên đặ t cho con trong t ư duy c ủ a ng ườ i Nga và ng ườ i Vi ệ t Đối với dân tộc Việt Nam: Dana Sachs, tác giả của cuốn sách “ The house on Dream Sweet” đã viết rất nhiều về những cái tên của người Việt Đối với người Việt Nam, cái tên vô cùng quan trọng Có những cái tên nghe rất chân quê như Lúa Xuân, có những cái tên chỉ núi non, biển cả như Sơn, Hải, hay Giang Đặc biệt, trong thời chiến, có những đứa trẻ được đặt tên theo như Linh (đặt tên theo Abe Lincoln), Bình (có nghĩa là hòa bình) Bình là tên phổ biến nhất trong những năm chiến tranh Và khi tác giả Dana nói rằng tên của ông không có ý nghĩa gì, những người bạn Việt Nam của ông rất lấy làm lạ và hỏi “nếu cái tên đã không có ý nghĩa, tại sao lại được đặt?” Ở miền quê Việt Nam, nơi mà tồn tại những phong tục tập quán lâu đời, cha mẹ thường đặt tên con cái mình như là Tủn, Mít, Na, … với mong muốn chúng dễ nuôi, mau lớn và luôn mạnh khỏe Tuy nhiên, chúng ta biết rằng đôi khi sức khỏe xấu hay tốt cũng không phải do cái tên mà đứa trẻ được đặt Dù sao đi nữa, với phong tục tập quán của người Việt “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, đặt tên như vậy sẽ được bề trên che chở Ngày xưa, nhất là ở một số tỉnh miền Trung, người đàn ông thường có tên họ đơn giản chỉ gồm hai thành tố mà thôi, tên và họ: Trần Ðiền, Bùi Kỷ, Nguyễn Du, Võ Hồng, Ở trên chúng tôi đã trình bày về lai lịch và các loại họ đơn và kép Trong phần này chúng tôi nói đến các yếu tố chính gồm tên lót và tên gọi cũng như những loại tên khác người Việt vẫn dùng để cá nhân hoặc độc đáo hoá chính mình Đối với dân tộc Nga: Tên dành cho các bé gái mà có phát âm giống tên con trai được cho là những tên không may mắn: Саша, Валя Tính cách của hầu hết các bé gái là thuỳ mị, thục nữ Nhưng bé gái được đặt tên Саша hay Валя có tính cách như con trai, ví dụ Александра – nghĩa là gan dạ, dũng cảm; Валентина – mạnh mẽ, lực lưỡng Sự mạnh mẽ và dũng cảm ở những bé gái này đôi khi lại là khuyết điểm của chúng Những người đàn ông bên cạnh chúng thường trở nên yếu đuối, thiếu kiên quyết Thời kỳ Nga cổ người Nga chỉ đặt tên thánh cho con cái mình Vào ngày đứa bé sinh ra và chuẩn bị đặt tên, người ta mỏ kinh thánh ra xem hôm đó vị thánh nào sẽ xuất hiện Và đứa bé tất nhiên được đặt theo tên của vị thánh đó

4.3.2.Tên Nga hi ệ n đạ i và tên Nga c ổ

Tên cho các bé nam và ý nghĩa: Быкап thể hiện sự tôn kính với Putin, trong khi Вертивлас nhấn mạnh quyền lực Vlapunal ca ngợi Putin là lãnh đạo, còn Моргозедир cho thấy sự ủng hộ của cha mẹ cho "Единую Россию" Pуповжим gợi nhớ đến một khoảnh khắc đặc biệt với Putin, và Спервозглип chỉ ra sự lãnh đạo của ông trong danh sách "Единой России" Спузавозрос bày tỏ lòng biết ơn đối với Putin vì sự phục hưng của Nga Các tên như Фракер và Сиросер nhấn mạnh sự mạnh mẽ của "Единая Россия" Понатрес cho thấy sự ủng hộ cho nhiệm kỳ thứ ba của Putin, trong khi Завсор thể hiện sự quyết tâm Плапупорос và Занапутис nhấn mạnh kế hoạch và sự ủng hộ của Putin Глагопер và Нацилип khẳng định vị thế của Putin như một nhà lãnh đạo quốc gia Славепут và Ропутер thể hiện lòng tự hào về Putin và "Единая Россия" Плапумобр nhấn mạnh cam kết thực hiện kế hoạch của Putin, trong khi Пухохопло phân biệt giữa Putin và Hodorovsky Правопор và Равудол nhấn mạnh về trật tự pháp lý và sự công bằng Диктазан và Сувердем chỉ ra sự tồn tại của nền dân chủ độc lập Едрип và Люплап thể hiện sự ủng hộ cho kế hoạch của Putin, trong khi Спапузас cảm ơn ông vì Sochi Cuối cùng, Мотесорти và Феналир nhấn mạnh sự quyết tâm chống khủng bố và sự nổi bật của nhà lãnh đạo quốc gia Gрапринал thể hiện lòng trung thành với lãnh đạo quốc gia.

Tên cho các bé gái và ý nghĩa của chúng bao gồm: Двина, biểu thị cho sự chuyển động "CỦA CHÚNG TA"; Непреместа, thể hiện ước mơ trở thành cô dâu của Tổng thống; Мумерамка, ám chỉ người đàn ông trong mơ - Ramzan Kadyrov; Трестона, mang ý nghĩa "nhiệm kỳ thứ ba - chỉ là khởi đầu"; Грызлослиса, kết hợp giữa Grylova và Slyzka; Коперсустра, có nghĩa là "Ngựa - con cái đầu tiên của đất nước"; Контреррорина, từ "chống khủng bố"; Вертикалина, từ "trục quyền lực"; Судона, thể hiện rằng Surkov sẽ dạy điều tốt; Препузаста, ám chỉ người kế nhiệm Putin - bảo đảm sự ổn định; và cuối cùng, Плапура, với thông điệp "Kế hoạch của Putin đang hoạt động!"

Theo thống kê, hệ thống tên cổ của Nga có 188 tên nam và 60 tên nữ Nhiều tên trong số này hiện không còn được sử dụng do sự thay đổi trong quan điểm, điều kiện sống và xu hướng xã hội.

This article presents a comprehensive list of male names, showcasing a rich variety of options such as Абаш, Авис, Авксентий, and Адаш It includes traditional names like Александр, Андрей, and Борис, as well as unique choices such as Всеволод, Гремислав, and Творимир The collection features names with historical significance, including Игорь, Ярослав, and Святослав, alongside modern favorites like Никита and Михаил This diverse array of names reflects cultural heritage and offers inspiration for parents seeking meaningful names for their children.

Dưới đây là danh sách các tên nữ phổ biến: Агафья, Аграфена, Анастасия, Анисья, Анна, Антонида, Антонина, Анфиса, Борислава, Варвара, Василиса, Васса, Вера, Владислава, Глафира, Горислава, Градислава, Дарья, Евдокия, Евлампия, Екатерина, Елена, Елизавета, Ефросинья, Ирина, Ксения, Лада, Лукерья, Любомила, Любомира, Любава, Людмила, Марина, Мария, Марфа, Меланья, Милена, Мирослава, Млада, Мстислава, Надежда, Наталья, Ольга, Пелагея, Переслава, Полина, Прасковья, Предслава, Рогнеда, Ростислава, София, Станислава, Степанида, Татьяна, Ульяна, Федосья, Юлия, Ярослава.

4.3.3.M ộ t vài tr ườ ng h ợ p hình thành tên đặ c bi ệ t nh ờ s ự k ế p h ợ p c ủ a các t ừ c ủ a ng ườ i Nga

In many special cases, names are derived from the initials of a surname and a middle name or from meaningful phrases, often referencing historical or literary figures Examples include Апол, which stands for "Антиалкогольная ПОлитика Лигачева," and Аргол, meaning "АРмия ГОЛодает." Other notable examples are Бегин, representing "БЕрезовский - Гений ИНтриг," and Бегнав, which translates to "Борис Ельцин - Герой НАшего Времени." The trend continues with names like Безкан, meaning "Борис Ельцин Здоров, КАк Никогда," and Белгерос, which stands for "Борис ЕЛьцин - ГЕрой РОСсии." This naming convention highlights the interplay between language and cultural references, showcasing a unique form of expression in contemporary discourse.

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w