1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ stiêng ở tỉnh bình phước báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2013

189 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ S’Tiêng ở tỉnh Bình Phước
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Mục tiêu của đề tài (10)
  • 3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan (11)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 6. Bố cục nội dung của đề tài (15)
  • CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI (17)
    • 1.1. Các khái niệm và những hướng tiếp cận về lý thuyết của đề tài (15)
      • 1.1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài (17)
      • 1.1.2. Những hướng tiếp cận của đề tài (19)
    • 1.2. Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu (15)
      • 1.2.2. Tổng quan về người S’tiêng (15)
  • CHƯƠNG 2 NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG QUAN NIỆM VÀ TẬP QUÁN CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC (39)
    • 2.1. Quan niệm và một số kiêng kỵ trong CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước (40)
    • 2.2. Một số tập quán trong thực hành CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước (51)
  • CHƯƠNG 3 SỰ LỰ A CHỌN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ VỀ CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC (65)
    • 3.1. Tình hình cung cấp dịch vụ y tế về CSSKSS cho người dân tại địa phương (65)
    • 3.2. Sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’Tiêng tại địa phương (16)
    • 3.3. Những yếu tố tác động đến sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’Tiêng tại địa phương (16)
      • 3.3.1. Tác động của chính sách nhà nước, cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực (83)
      • 3.3.2. Tác động của các yếu tố về địa lý, trình độ học vấn, thu nhập và lứa tuổi, bình đẳng giới và quan niệm, phong tục tập quán ở vùng sâu, vùng xa thường cản trở các bà mẹ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (92)
      • 3.3.3. Sự tác động của công tác vận động tuyên truyền (96)
      • 3.3.4. Sự tác động của tôn giáo, cộng cư cùng người Kinh (99)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (106)
  • PHỤ LỤC (110)
    • I. PHỤ LỤC CHUYÊN MÔN (110)
      • 1. DANH SÁCH THÔNG TÍN VIÊN THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU (110)
      • 2. MỘT SỐ BIÊN BẢN GỠ BĂNG PVS (113)
      • 3. MỘT SỐ NHẬT KÍ ĐIỀN DÃ TRONG QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU (169)
      • 4. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG (179)
      • 5. MỘT SỐ TƯ LIỆU THỨ CẤP LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (188)
    • II. PHỤ LỤC SẢN PHẨM (188)
    • III. PHỤ LỤC QUẢN LÝ (189)

Nội dung

BÁO CÁO TỔNG KẾT Tên đề tài: QUAN NIỆM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CSSKSS CỦA PHỤ NỮ S’TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG Đ

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT

Tên đề tài:

QUAN NIỆM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ

TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN (CSSKSS)

CỦA PHỤ NỮ S’TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV

Trang 2

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

DS-SKSS: Dân số - sức khỏe sinh sản

KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

ABSTRACT 2

NỘI DUNG CHỈNH SỬA THEO YÊU CẦU HỘI ĐỒNG 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 2

DẪN LUẬN 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục tiêu của đề tài 6

3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Bố cục nội dung của đề tài 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Các khái niệm và những hướng tiếp cận về lý thuyết của đề tài 13

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 13

1.1.2 Những hướng tiếp cận của đề tài 15

1.2 Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu 20

1.2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 20

1.2.2 Tổng quan về người S’tiêng 29

CHƯƠNG 2 NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG QUAN NIỆM VÀ TẬP QUÁN CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC 35

2.1 Quan niệm và một số kiêng kỵ trong CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước 36

2.2 Một số tập quán trong thực hành CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước trong truyền thống và hiện nay 47

CHƯƠNG 3 SỰ LỰA CHỌN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ VỀ CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC 61

3.1 Tình hình cung cấp dịch vụ y tế về CSSKSS cho người dân tại địa phương 61

3.2 Sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’Tiêng tại địa phương 69

3.3 Những yếu tố tác động đến sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’Tiêng tại địa phương 79

3.3.1 Tác động của chính sách nhà nước, cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực 79

3.3.2 Tác động của các yếu tố về địa lý, trình độ học vấn, thu nhập và lứa tuổi, bình đẳng giới và quan niệm, phong tục tập quán ở vùng sâu, vùng xa thường cản trở các bà mẹ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 88

3.3.3 Sự tác động của công tác vận động tuyên truyền 92

3.3.4 Sự tác động của tôn giáo, cộng cư cùng người Kinh 95

Trang 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 106

I PHỤ LỤC CHUYÊN MÔN 106

1 DANH SÁCH THÔNG TÍN VIÊN THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU 106

2 MỘT SỐ BIÊN BẢN GỠ BĂNG PVS 109

3 MỘT SỐ NHẬT KÍ ĐIỀN DÃ TRONG QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU 165

4 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG 175

5 MỘT SỐ TƯ LIỆU THỨ CẤP LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 184

II PHỤ LỤC SẢN PHẨM 184

III PHỤ LỤC QUẢN LÝ 185

Trang 5

TÓM TẮT

Sự biến đổi của kinh tế - xã hội, cùng với xu hướng ngày càng quan tâm đến vấn đề phúc lợi xã hội ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần, cũng như làm tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ CSSK

Trong đó, vấn đề CSSK và CSSKSS là một trong những vấn đề chịu sự tác động mạnh mẽ và rõ nét nhất Qua kết quả nghiên cứu cộng đồng người S’Tiêng tại 2

xã Lộc Thuận và xã Minh Hưng, cho thấy sự biến đổi về quan niệm và hành vi, sự lựa chọn các dịch vụ y tế của người S’tiêng đang chịu tác động mạnh bởi hiện đại hóa nền kinh tế và sự thay đổi môi trường sinh thái Mà xu hướng chung là quá trình chuyển đổi từ quan niệm truyền thống sang y học hiện đại

Yếu tố tác động đến quá trình biến đổi có thể chia thành 3 nhóm:

1 Yếu tố cá nhân (trình độ văn hóa, dân tộc, nghề nghiệp, kiến thức và thực hành);

2 Yếu tố môi trường (kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách và phong tục tập quán ở cộng đồng);

3 Yếu tố dịch vụ y tế, chủ yếu liên quan đến việc cung cấp dịch vụ y tế ở cơ sở Kết quả của quá trình biến đổi đã đem lại nhiều khả năng tiếp cận các dịch vụ y

tế của người S’tiêng, đặc biệt là sản phụ Nhưng quá trình ấy cũng còn nhiều hạn chế, đưa đến sự thiếu thống nhất, toàn diện, bền vững và “tiềm ẩn” nguy cơ mất đi vĩnh viễn các giá trị truyền thống hữu ích trong CSSK và CSSKSS của phụ nữ S’Tiêng Do

đó, phải có những tác động đồng bộ, sự tương tác, tương trợ lẫn nhau giữa các nhóm yếu tố, nhằm tăng khả năng tiếp cận, tăng quá trình chủ động lựa chọn và sử dụng các dịch vụ y tế hiện đại, cũng như “bảo tồn” được các giá trị tri thức bản địa hữu ích trong CSSK và CSSKSS của phụ nữ S’Tiêng và phụ nữ vùng DTTS nói chung

Trang 6

ABSTRACT

The transformation of the economy - society, along with the trend of increasing interest in social welfare issues in Vietnam has created favorable conditions for improving the quality of material and spiritual life, as well as increased access to health care services and reproductive health care

On the other hand, the change of environment facilitates cultural exchange took place deeply, brings new and modern elements to the remoted place of residence of the minority, where the local knowledge of the ethnics is still stored deeply, has a strong impact to the concept, awareness and behavior of the community here S'tieng community - one of the three minorities (S'tieng, M'nong and Ma) which has been most populous ang they had lived into the “bon” (village) in Binh Phuoc for a long life, which is not out of this orbit Currently, the Kinh and other ethnic minorities immigrate, the indigenous peoples from the ethnic majority now become the majority ethnic and has been, and will be affected subject to all aspects of co-residence process

In particular, health care and reproductive health care issues are one of the problems which are affected the most powerful and obvious The result of the research

in S'Tieng community of two Loc Thuan and Minh Hung communes showed that the variation in perceptions and behavior, choice of medical services of the S’Tieng is affected powerfully by the economic modenization and the ecological environment change The general trend is that the transition from the traditional concept to modern medicine

The factors affecting to the transformation process can be divided into 3 categories:

1 The personal factors (education level, ethnicity, occupation, knowledge and practice);

2 The environmental factors (economy, culture, society, policy and customary in the community);

3 Elements of health services, primarily related to the provision of health services at the grassroots

As a result of the change has brought about the accessibility of health services of S'tieng people, especially women But this process is still limited, which is leading to a lack of unity, comprehensive, sustainability and "potential" risk of permanent loss of traditional and useful values in health care and reproductive health for S'Tieng women Therefore, there have synchronous effects, interaction, mutual assistance between the groups of elements, in order to increase access, increase the proactive selection process and the use of modern health services, as well as "conservation" of the value of the useful indigenous knowledge in health care and reproductive health of S’Tieng women and the minority women in general

Trang 7

NỘI DUNG CHỈNH SỬA THEO YÊU CẦU HỘI ĐỒNG

Stt Nội dung chưa chỉnh sửa Nội dung đã chỉnh sửa theo

yêu cầu HĐ

Số trang

1 Bổ sung khái niệm sức khỏe sinh

sản

2 Bổ sung khái niệm hệ thống y tế Đã thêm khái niệm hệ thống y

tế

18-19

3 Chỉnh là dân số và số học sinh

cho hợp lý

5 Làm rõ thêm yếu tố tôn giáo,

người Kinh tác động

Đã bổ sung và làm rõ: Yếu tố tôn giáo, sống cộng cư cùng người Kinh tác động

Trang 8

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, tình trạng sức khoẻ sinh sản của phụ nữ các dân tộc thiểu số ở nhiều vùng cao còn kém hơn so với mặt bằng chung của quốc gia Gần đây, nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ quốc tế cho rằng có nhiều nguyên nhân có thể giải thích được cho tình trạng yếu kém về sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Chẳng hạn như khả năng tiếp cận tới dịch vụ y tế thấp hơn so với nhóm dân đa số, do yếu tố địa lý nơi đồng bào sinh sống – phần lớn sống tại các vùng sâu, vùng xa, rào cản ngôn ngữ, thực hành tín ngưỡng, phong tục tập quán, cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, chất lượng dịch vụ y tế

Trong vài thập niên gần đây, nhận diện được những hạn chế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với đồng bào dân tộc ở các vùng sâu, vùng xa, nhà nước đã ban hành

Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010: “bảo đảm

đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu

đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn” Theo đó, một số chỉ báo liên quan tới sức khỏe sinh sản cần đạt được như tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 70%; chết trẻ sơ sinh là 70/100,000; nạo phá thai là giảm 50%; trẻ sinh thiếu cân là 6%; trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 20%1

Nhiều mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược Sức khỏe sinh sản đã đạt được Tỷ số chết mẹ giảm từ 100 (năm 2000) xuống còn 75 trên 100.000 trẻ đẻ sống (năm 2008)

Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm mạnh ở tất cả các vùng, bình quân cả nước giảm

từ 36,7‰ (năm 1999) xuống còn 16‰ (2009) Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 33,8% (năm 2000) xuống còn 18,9% (năm 2009) Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng từ 73,9% (năm 2000) lên 79,5% (năm 2008), trong đó

tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại tăng tương ứng từ 61% lên 68,8%; một số biện pháp tránh thai mới được thử nghiệm và đã được triển khai rộng trên toàn quốc

1

Quyết định số 136/2000/QĐ-TTg của Chính phủ: Về việc phê duyệt "Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010"

Trang 9

Nhận thức, thái độ, hành vi về DS và SKSS của các nhóm đối tượng đã có chuyển biến tích cực Công tác truyền thông, giáo dục được đổi mới cả về nội dung, hình thức và cách tiếp cận; giáo dục DS và SKSS đã được đưa vào chương trình trong và ngoài nhà trường, tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành vi của nhân dân, bao gồm

cả lứa tuổi vị thành niên và thanh niên Quy mô gia đình ít con ngày càng được chấp nhận rộng rãi; hiểu biết và thực hành về KHHGĐ, SKSS, sức khỏe BMTE trong các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt Các hoạt động truyền thông, vận động góp phần thúc đẩy việc xây dựng chính sách, huy động nguồn lực và tạo môi trường xã hội thuận lợi cho công tác DS và CSSKSS2

Có thể nói, đến nay chính phủ và các cơ quan địa phương ở nước ta đã đưa ra nhiều mục tiêu và chương trình nhằm cải thiện toàn diện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cư dân Đặc biệt, nhiều dự án, chương trình đã được thực hiện nhằm nâng cao dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cư dân là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao vùng xa Tuy nhiên, đến nay do nhiều nguyên khách quan và chủ quan nên quan niệm, điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em ở vùng sâu, vùng xa và miền núi như trường hợp người S’tiêng ở Bình Phước vẫn rất hạn chế, rất cần được nghiên cứu

Tại Bình Phước, 3 dân tộc thiểu số có dân số đông là S’tiêng, M’nông và Mạ đã sinh sống thành bon (làng) khá lâu đời Quá trình điền dã nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thực trạng về quan niệm và quá trình tiếp cận các dịch vụ y tế của người S’tiêng đang diễn ra trong bối cảnh hiện đại hóa nền kinh tế, thay đổi môi trường sinh thái và phong tục tập quán đang trở nên mạnh mẽ Người S’tiêng vùng cao nguyên thuộc huyện Bù Đăng và huyện Lộc Ninh, địa bàn mà chúng tôi chọn mẫu khảo sát nghiên cứu trong đề tài này, cũng đang đứng trước nhiều thách thức về bệnh tật, quan niệm và quá trình chữa trị Tuy các dịch vụ y tế hiện đại đã có mặt tại các xã/huyện, nhưng cư dân cũng đối diện với những thách thức trong việc lựa chọn các cách chăm sóc cổ truyền và hiện đại, nhất là trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ trước, trong và sau khi sinh con Một số câu hỏi đặt ra liên qua đến sự biến đổi này ở đồng bào S’tiêng tại Bình Phước như sau: Tại sao tỷ lệ người S’tiêng sử dụng dịch vụ còn rất thấp, mặc dù cơ sở hạ tầng, trang bị thiết bị y tế, nguồn nhân lực đã được quan

2

UNDP, Báo cáo Phát triển Con người năm 2009 (HDR 2009), tr 208

Trang 10

tâm? Những rào cản nào về kỹ thuật từ phía cung cấp dịch vụ? Trở ngại nào về văn hóa, tập quán của người S’tiêng ảnh hưởng tới việc tiếp cận thông tin, sử dụng các dịch vụ CSSKSS tại trạm? Những quan niệm về sức khỏe và cách chăm sóc sức khỏe

đã biến đổi như thế nào trong xã hội truyền thống và hiện nay ở cộng đồng người S’tiêng?

2 Mục tiêu của đề tài

Với xu hướng ngày càng quan tâm đến vấn đề phúc lợi xã hội đã tạo ra cho con người một cách nhìn mới về đời sống, đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe Trong đó bảo đảm sức khỏe sinh sản cho phụ nữ ngày càng được Nhà nước và các tổ chức quan tâm Tuy nhiên, thực tế quá trình đầu tư của nhà nước về các dịch vụ y tế và việc tiếp cận của cư dân lại diễn ra không đồng đều giữa các vùng miền, giữa các tộc người với nhau Trong đó, nguyên nhân chủ yếu chịu tác động bởi vốn văn hóa, vốn xã hội, vốn kinh tế, v.v… Mà cụ thể là do điều kiện kinh tế của đồng bào có thu nhập thấp, các dịch vụ y tế và thuốc men trang thiết bị không phù hợp với tập quán hoặc thiếu thốn, v.v… Có thể nói, đang có nhiều nguyên nhân hạn chế những cơ hội chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ S’tiêng

Để tìm hiểu những quan niệm, tập quán trong CSSKSS của người S’tiêng và tác động của nó đến sự lựa chọn của họ trong chăm sóc sức khỏe, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức

khỏe sinh sản của phụ nữ S’tiêng ở tỉnh Bình Phước” cho nghiên cứu khoa học cấp

trường năm 2013

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến những mục tiêu cụ thể như sau:

- Tìm hiểu điều kiện về kinh tế, xã hội, các tập tục văn hóa, thói quen của cộng đồng S’tiêng nói chung, phụ nữ S’tiêng nói riêng Có thể xem đây chính là những nhân

tố tác động quan trọng đến quan niệm và sự lựa chọn các hệ thống y tế để chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ S’tiêng?

- Tìm hiểu những hệ thống y tế đang tồn tại ở cộng đồng, mức độ công khai, sự đánh giá của người S’tiêng về các hệ thống y tế của địa phương, nhất là đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Thông qua đó, tìm hiểu xem phụ nữ sẽ lựa chọn hình thức y tế nào để chăm sóc sức khỏe sinh sản; nguyên nhân và kết quả của sự lựa chọn đó

Trang 11

Với những mục tiêu trên, về ý nghĩa thực tiễn, đề tài đưa ra những kiến nghị và giải pháp góp phần cho việc ban hành những chính sách liên quan đến việc CSSKSS cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số một cách phù hợp, khả thi và đạt kết quả cao hơn

3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

CSSK nói chung và CSSKSS nói riêng từ lâu đã là vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: y học, xã hội học, nhân học… và các nhà quản lý, hoạch định chính sách Tháng 12/1994 Hội nghị thượng đỉnh về Dân số và Phát triển họp tại Cairo đã đưa khái niệm mới về SKSS Khái niệm này được Hội nghị Phụ nữ thế giới tại Bắc Kinh (9/1995) khẳng định vai trò của CSSKSS trên toàn cầu và được ủng hộ mạnh mẽ Khái niệm SKSS dần thay thế cho khái niệm bảo vệ bà mẹ trẻ em và KHHGĐ3

Ở Việt Nam, ngay trong Điều 1, từ nghị quyết đầu tiên của chính phủ năm 1961

về vấn đề dân số ghi rõ: “vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và sự hài hòa của

gia đình, để cho sự giáo dục và chăm sóc con cái tốt hơn, cần hướng dẫn sinh đẻ một cách thích hợp” Sau đó, rất nhiều chính sách quan tâm đến công tác CSSKSS và

KHHGĐ, đặc biệt khi “chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010” được Thủ tướng phê duyệt, rất nhiều dự án, chương trình phát triển về CSSKSS và KHHGĐ

Hơn 15 năm qua, vấn đề chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng, được nhiều dự án, công trình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của nhiều dự án, đề tài cũng như kết quả của nhiều cuộc điều tra, khảo sát về dân số, sức khỏe sinh sản tại các vùng sâu, vùng xa trong thời gian qua đã gợi cho chúng ta nhiều điều về đặc tính dân tộc trong CSSKSS của các đồng bào dân tộc

Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe của các nhóm dân tộc khác nhau, nhất là các nhóm dân tộc thiểu số không những giúp chúng ta thấy được sự tác động của những yếu tố tâm lý, tập quán văn hóa dân tộc đến các vấn đề sức khỏe nói chung, SKSS nói riêng ở các vùng sâu, vùng xa của Việt Nam mà còn có ý nghĩa thực tiễn cho công tác CSSKSS đối với các dân tộc thiểu số

Liên quan đến vấn đề trên cần kể đến các công trình như: Đào Quang Vinh

(1997), Thách thức của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe

cộng đồng ở vùng các dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Dân

3

Vương Tiến Hòa (2001), Sức khỏe sinh sản, NXB Y học, Hà Nội

Trang 12

tộc học, số 2; Đào Huy Khuê (1998), Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và sản phụ ở một

số tộc người Tây Bắc, Tạp chí Dân tộc học, số 4; Nguyễn Ngọc Thanh (2001), Một số yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe của người mẹ và con sau khi sinh ở người Mường tỉnh Phú Thọ, Tạp chí Dân tộc học, số 1; Đặng Thị

Hoa (2001), Tri thức địa phương tộc người tác động đến Dân số, Kế hoạch hóa gia

đình các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Tạp chí Dân tộc học, Số 1; Bế Văn Hậu

(2001), Những yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới thực trạng chăm sóc sức khỏe

cộng đồng ở miền núi hiện nay (Quan nghiên cứu so sánh trường hợp hai xã Hiền Lương, Hòa Bình và Chiềng Ngàm, Sơn La), Tạp chí Dân tộc học, số 1; Nguyễn Đức

Chính (2003), Một số khía cạnh xã hội của vấn đề sức khỏe sinh sản và làm mẹ an

toàn, Tạp chí Xã hội học, số 2; Vũ Thị Hồng – Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2004), Tri thức địa phương về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em của người H’mông xã Văn Lăng, Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, trong kỷ yếu Thông báo Dân tộc học Việt

Nam năm 2004, Nguyễn Thị Song Hà (2005), Tập tục trong sinh đẻ và nuôi con ở

người Mường, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, trong kỷ yếu Thông báo Dân tộc học

Việt Nam năm 2005, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 395; Vi Văn An (2005),

Tập quán trong sinh đẻ, chăm sóc và nuôi dạy con cái của dân tộc Nùng, trong kỷ yếu

Thông báo Dân tộc học Việt Nam năm 2005, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, trang

292; Vũ Thị Hồng (2006), Y học cổ truyền của phụ nữ Dao Quần chẹt xã Ba Vì, huyện

Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trong kỷ yếu Thông báo Dân tộc học Việt Nam năm 2005, NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 415; Trịnh Thị Lan (2006), Tập quán sinh đẻ truyền

thống của nhóm Dao Quần Chẹt (Nghiên cứu trường hợp xã Lãng Công, Lập Thạch - Vĩnh Phúc, trong kỷ yếu Thông báo Dân tộc học Việt Nam năm 2005, NXB Khoa học

xã hội, Hà Nội, trang 342; Dương Huy Liệu, Lê Thị Hồng Thơm (2005), Y tế cơ sở và

chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ nữ nông thôn, tạp chí Y học Dự phòng, tập XV, số 1;

Nguyễn Hữu Minh, Vũ Mạnh Lợi (2007), Một số vấn đề đặt ra về việc tiếp cận dịch

vụ chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nghèo, Tạp chí Khoa học xã hội số 6; Hoàng Thị Lê

Thảo (2008), Quan niệm truyền thống của người Nùng trong chăm sóc sức khỏe, Tạp chí Dân tộc học, số 5; Nguyễn Thị Ngân Hoa (2010), Các hành vi tìm kiếm sự chữa trị

bệnh của người dân nông thôn tại miền tây Nam bộ, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10,

2010; Chảo Chử Chấn (2011), Tri thức dân gian về chăm sóc sức khỏe thai phụ, sản

Trang 13

phụ và trẻ sơ sinh của người Phù Lá, huyện Bắc Hà, Lào Cai, Tạp chí Dân tộc học, số

4, v.v

Những nghiên cứu này bên cạnh chỉ rõ sự khác biệt về thực trạng sức khỏe, các thói quen về phòng bệnh và khám chữa bệnh ở những nhóm dân tộc khác nhau, còn chỉ ra sự bất bình đẳng ở các cấp độ khác nhau đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe

và các hành vi tìm kiếm sức khỏe Đó là cấp độ cá nhân (chênh lệch học vấn, thu nhập); cấp độ cộng đồng (nông thôn, thành thị, miền núi, đồng bằng); văn hóa (phong tục tập quán, niềm tin…)

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại một số dân tộc phía Bắc, Bắc Trung Bộ, riêng các dân tộc thiểu số ở Nam bộ nói chung, dân tộc S’tiêng ở Bình Phước nói riêng, các công trình nghiên cứu về CSSKSS vẫn còn là một mảng trống

Liên quan đến các nghiên cứu về dân tộc S’tiêng, từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu người Pháp đã đến Việt Nam tiến hành tìm

hiểu về ngôn ngữ của người S’tiêng như: H.Azémar (1887), Dictionnare S’tiêng (từ điển S’tiêng); A.Baudrit (1936), Le fameux Song Be, đã có những miêu tả khá chi tiết

về dòng sông Bé cũng như vị trí của nó trong đời sống của nó về người S’tiêng; về luật

tục, tư duy xã hội, truyền thuyết về người S’tiêng trong Th Gerber (1951), Coutumie

Stieng (Luật tục S’tiêng)… Những công trình này đến nay vẫn còn giá trị cho các

nghiên cứu về người S’tiêng Các tác giả người Mỹ một phần kế thừa những công trình nghiên cứu của người Pháp trước đó để tiến hành những cuộc khảo sát nhóm S’tiêng nhằm mục đích phục vụ cho các hoạt động chiến tranh của quân đội Mỹ ở

miền Nam Việt Nam như: L L.Joan Schrock (1966), Minority group in the Republic

of Vietnam Headquarters, Department of the Amy.1966, chương XVIII

Sau năm 1975 đến nay, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa, xã hội

như: Mạc Đường (chủ biên) (1985), Vấn đề dân tộc ở Sông Bé; Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chỉ tỉnh Sông Bé; Phan An (1991), Hệ thống xã hội tộc người của

người S’tiêng ở Việt Nam; Ngô Văn Lý (1994), Xã hội tộc người S’tiêng qua tập quán pháp; Lê Khắc Cường (2000), Cơ cấu ngữ âm tiếng S’tiêng; Phan An (2007), Hệ thống xã hội tộc người của người S’tiêng ở Việt Nam, từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975; Nguyễn Duy Đoài (2007), Văn hóa quản lý xã hội của người S’tiêng – Bình Phước, Luận án Thạc sĩ Văn hóa học

Trang 14

Điểm luận qua các công trình nghiên cứu trên, các công trình này đã giới thiệu khái quát về lịch sử, văn hóa, xã hội của người S’tiêng bằng các phương pháp tiếp cận

và mục đích nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, vấn đề về chăm sóc sức khỏe nói chung, CSSKSS nói riêng của người S’tiêng hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chuyên sâu Do đó, đề tài của chúng tôi sẽ đóng góp những tri thức quan trọng trong phạm trù chăm sóc sức khỏe trên cơ sở tác động của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần tư liệu vào công việc nghiên cứu người S’tiêng ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài chính là những quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ S’tiêng ở tỉnh Bình Phước Đây là một nghiên cứu trường hợp, định tính quy mô nhỏ dựa vào nguồn

tư liệu được khảo sát qua 2 đợt điền dã: đợt 1: Tiến hành điền dã trong tháng 5/2013 tại xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh: tập trung nghiên cứu thôn 8 và thôn 9 và đợt 2:

tiến hành điền dã trong tháng 2/2014 tại xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng: tập trung khảo sát tại thôn 5 Chúng tôi chọn các thôn trên để khảo sát vì các địa bàn này người S’tiêng chiếm đa số

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong điền dã dân tộc

học như Quan sát tham dự, Phỏng vấn sâu dân tộc học, Phương pháp so sánh đối

chiếu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin bằng hình ảnh, Phương pháp nghiên cứu lịch sử (phân tích đồng đại và lịch đại)

- Phương pháp Quan sát – tham dự là phương pháp đặc thù của ngành Dân tộc

học/Nhân học, nhóm nghiên cứu sẽ phải sống, nghiên cứu cùng cộng đồng trong một thời gian dài Điền dã lâu ngày tại cộng đồng, việc quan sát, tham dự vào các hoạt động của đời sống hằng ngày cùng với người dân, sẽ là cách tốt nhất để ghi chép và tìm hiểu các hành vi kinh tế, xã hội và chăm sóc sức khỏe một cách trực tiếp và chi tiết

- Phương pháp Phỏng vấn sâu dân tộc học là phương pháp phỏng vấn và thu

nhận thông tin chi tiết, chuyên sâu theo những nội dung có chủ ý của nhà nghiên cứu

và sự trả lời của cá nhân là thành viên trong cộng đồng Việc phỏng vấn sâu với các cá

Trang 15

nhân trong cộng đồng có thể triển khai theo từng vấn đề và với những đối tượng là các

cá nhân có sự am hiểu, trải nghiệm, trả lời trung thực các vấn đề của họ Phỏng vấn sâu Dân tộc học có thêm các hình thức như Phỏng vấn hồi cố, Phỏng vấn nhóm tập trung,… Do đó, tuỳ theo từng vấn đề đặt ra, chúng tôi sẽ chọn lựa cách phỏng vấn với đối tượng phỏng vấn khác nhau trong suốt quá trình điền dã tại cộng của đề tài

- Phương pháp So sánh đối chiếu cũng được thực hiện trong quá trình điền dã

thu thập và phân tích dữ liệu Qua đó, nhằm xác định những đặc điểm kinh tế -xã hội giữa cộng đồng người S’tiêng với quan niệm và biến đổi trong hành vi chăm sóc sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ y tế nói chung

- Phương pháp Thu thập và xử lý thông tin bằng hình ảnh là phương pháp ghi

nhận thông tin bằng các thiết bị kỹ thuật hiện đại như máy ảnh, máy quay phim Phương pháp này sẽ hỗ trợ cùng với các phương pháp ghi nhận những thông tin xác thực trong quá trình điền dã tại cộng đồng

- Phương pháp Nghiên cứu lịch sử (theo đồng đại và lịch đại) là một trong

những pháp nghiên cứu, phân tích các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu thu thập qua phỏng vấn sâu hồi cố, truyện kể,… được thu thập trong quá trình điền dã Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu và phân tích sâu sắc các đặc điểm về tiến trình biến đổi kinh

tế - xã hội của cộng đồng người S’tiêng và những thay đổi trong quan niệm và hành vi tiếp cận các dịch vụ y tế trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ

- Phương pháp phân tích thống kê xã hội (định lượng): Việc thu thập và xử lý

tài liệu có tính chất thống kê sẽ có một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu sự thay đổi kinh tế, dân số của các thôn người S’tiêng trong đề tài này

6 Bố cục nội dung của đề tài

Ngoài phần mục lục, dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài chia làm 3 chương chính:

Chương 1: Những tiền đề lý thuyết và tổng quan nghiên cứu của đề tài

1.1 Các khái niệm và những hướng tiếp cận về lý thuyết của đề tài

1.2 Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.2.2 Tổng quan về người S’tiêng

Trang 16

Chương 2: Những biến đổi trong quan niệm và tập quán CSSKSS của người S’tiêng ở tỉnh Bình Phước

2.1 Quan niệm trong CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước

2.2 Một số tập quán trong thực hành CSSKS của người S’tiêng ở Bình Phước

Chương 3: Sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước

3.1 Tình hình cung cấp dịch vụ y tế về CSSKSS cho người S’tiêng tại địa phương

3.2 Sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’tiêng tại địa phương 3.3 Những yếu tố tác động đến sự lựa chọn các dịch vụ y tế về CSSKSS của người S’tiêng tại địa phương

Kết luận và Kiến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN

NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm và những hướng tiếp cận về lý thuyết của đề tài

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

Các khái niệm được đưa ra trong đề tài dựa trên nền tảng của phạm trù sinh học

và văn hóa tộc người – hai phạm trù chủ yếu của ngành nhân học Trong đó, phạm trù sinh học là nhằm đề cập tới những mối quan hệ giữa các quần thể cư dân, sinh thái và

sự biến đổi qua thời gian Và phạm trù văn hóa được xem xét thông qua hệ thống các quan niệm, tín ngưỡng và giá trị trong việc định dạng các hệ thống phân loại ốm đau, bệnh tật, các hệ thống y tế để điều trị các loại bệnh tật Theo đó, ốm đau và chữa trị là những kinh nghiệm từng trải của con người - những kinh nghiệm cần phải được hiểu một cách tổng hợp trong các mối quan hệ tương tác phức hợp và đa dạng giữa sinh học

và văn hóa

Khái niệm bệnh tật - một khía cạnh của các môi trường nhân văn bị tác động

bới những ứng xử riêng về mặt văn hóa của con người và môi trường chính trị - xã hội

Ở đề tài, cơ thể con người và các triệu chứng bệnh tật được giải thích thông qua những

bộ lọc của các tín ngưỡng văn hóa và các giả thiết mang tính khoa học luận Trong đó, các khía cạnh văn hóa của các hệ thống điều trị có những ảnh hưởng thực tế quan trọng tới khả năng tiếp nhận, tính hiệu quả và việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trong các xã hội của con người

- “Sinh thái” (ecology): một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa các sinh

vật tổng thể với môi trường tổng thể tại một không gian nhất định Cụ thể, nói đến sinh thái tức là nói đến các mối quan hệ của con người với môi trường vật chất, xã hội và văn hóa Trong phạm vi đề tài, sinh thái được xem xét qua các mối quan hệ đan xen giữa văn hóa, bệnh tật trong quá trình sinh đẻ của phụ nữ S’tiêng

- Y học tộc người (Ethnomedical) có ở tất cả các xã hội người mà theo quan

điểm của các nhà nhân học, đó là hệ thống y tế được định dạng bởi văn hóa Hệ thống

y tế đó bao gồm những tín ngưỡng về nguồn gốc hay nguyên nhân của ốm đau, bệnh tật, các chuẩn mực ảnh hưởng tới việc lựa chọn cách điều trị và những thầy thuốc/những thiết chế tham gia vào các cơ sở y tế của một xã hội Trước đây, y học tộc

Trang 18

người thường được quan niệm là những hệ thống chữa bệnh của các cư dân bản địa ngoài phương Tây Nhưng đến nay, quan điểm đó đã có sự thay đổi và nhìn nhận rằng các tập quán y học mang tính khoa học ở phương Tây cũng là những sản phẩm của văn

hóa cụ thể Vì vậy, các hệ thống y học phương Tây mà các nhà nhân học gọi là “y học

sinh vật học” (Biomedicine) chỉ là một dạng của y học tộc người

Theo Fabrega, y học tộc người “nghiên cứu những thành viên thuộc các văn

hóa khác nhau nghĩ về bệnh tật và tự tổ chức điều trị và bản thân hệ thống điều trị như thế nào” (Fabrega, 1975) Y học tộc người quan tâm tới 5 vấn đề cơ bản:

1 Mô tả dân tộc học các tập quán chữa trị;

2 So sánh các hệ thống y tế tộc người;

3 Các mô hình giải thích sức khỏe và ốm đau bệnh tật;

4 Cách ứng xử đối với sức khỏe;

5 Tính hiệu quả của các hệ thống y tế tộc người

Trong bối cảnh đa nguyên y tế (medical pluralism) tức nhiều hệ thống y tế cùng

được sử dụng, việc nghiên cứu các mô hình giải thích sức khỏe và bệnh tật của cá nhân

và nhóm xã hội như trường hợp ở người S’tiêng tại Bình Phước là hết sức quan trọng

Mô hình giải thích cá nhân là cách giải thích của cá nhân về nguồn gốc hay nguyên nhân của ốm đau bệnh tật, cách điều trị và kết quả điều trị thông qua đó người ta xác định tình trạng của mình Mặc dù, các mô hình giải thích mang tính cá nhân nhưng cũng là những mô hình văn hóa tích lũy từ cộng đồng mà có Một mô hình giải thích được chia sẻ chung bởi một nhóm xã hội được gọi là mô hình bệnh tật dân gian Các

mô hình này tạo nên các hệ thống tín ngưỡng về sức khỏe thuộc hai loại:

+ Các hệ thống tín ngưỡng siêu nhiên giải thích ốm đau như là ảnh hưởng của những sức mạnh siêu nhiên do một vị thần đang tức giận hay một thầy phù thủy gây ra cho người bệnh

+ Các hệ thống tín ngưỡng giải thích ốm đau, bệnh tật trong khuôn khổ của những tác động tự nhiên Các mô hình giải thích của người bệnh và của thầy thuốc thường không giống nhau và vì vậy có thể có những ảnh hưởng tiêu cực tới giao tiếp

và sự tuân thủ các phương pháp điều trị v.v…

Trang 19

- Nhân học y tế - một phân ngành của nhân học, chủ yếu áp dụng các phương

pháp nghiên cứu của nhân học để tìm hiểu và giải quyết các vấn đề sức khỏe, bệnh tật

và cách thức điều trị

- Sức khỏe sinh sản: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) về sức khỏe sinh sản là:

“Sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp

xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch

vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn

là một phần rất quan trọng của sức khỏe Sức khỏe sinh sản gắn với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai đến khi tuổi già Sức khoẻ sinh sản quan tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam nữ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản (15-49) Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cai

rô - Ai Cập năm 1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khoẻ sinh sản

là một trạng thỏi khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khớa cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”

- Hệ thống y tế: Hệ thống y tế được miêu tả gồm nhiều dịch vụ, cơ quan và

nhân viên trong mọi lĩnh vực chăm sóc y tế Hệ thống này bao gồm bác sĩ gia đình,

y tá, bác sĩ chuyên khoa, bệnh viện, nhân viên xã hội, thông dịch viên và các dịch

vụ y tế khác

1.1.2 Những hướng tiếp cận của đề tài

Nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của đề tài, chúng tôi vận dụng 3 lý thuyết Nhân học:

1 Thuyết hành xử (theory of practice) của Pierre Bourdieu mà habitus là một

khái niệm quan trọng “Habitus là toàn thể các tâm thế hành vi được học hoặc thẩm

thấu vào cá nhân Cá nhân có khuynh hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy bằng cách

Trang 20

kích hoạt các khung hành vi và thích ứng chúng với các điều kiện hay hoàn cảnh mà

Lý thuyết hành xử quản niệm hành vi của con người “chịu tác động của môi

trường mà họ trưởng thành (yếu tố khách quan), nhưng vì được nhập tâm, nên lại là

Thuyết hành xử nhấn mạnh vai trò và sự tương tác giữa các loại vốn: vốn kinh

tế, vốn văn hoá, vốn xã hội, vốn biểu tượng (symbolic capital) đến hành vi cá nhân

(habitus) “Cái habitus cụ thể có tính giai tầng xã hội này lại là một phần của vốn văn

hoá - kiến thức và tri thức của cá nhân, được hấp thụ qua giáo dục trong học đường

cũng như trong gia đình và xã hội”6

Vốn xã hội là “tổng thể những nguồn lực thực tế hay tiềm năng mà người ta có

được từ việc người ta có một mạng lưới lâu bền những quan hệ ít nhiều được thế chế

gốc xuất thân và các mối quan hệ xã hội của cá nhân đều được giả định là có tác động đến phạm vi các nguồn lực mà cá nhân có thể tích lũy được thông qua các mối giao tiếp (mạng lưới xã hội) Vốn xã hội có liên quan trước hết đến các nguồn lực có được

từ trong mạng lưới xã hội8

Trong đề tài, chúng tôi tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố văn hóa - xã hội (tác động đến hành vi) với quá trình tìm kiếm, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ, cụ thể như:

- Vốn văn hóa: trình độ học vấn, kiến thức của người chăm sóc trẻ sinh sản ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng sức khỏe của bà mẹ và trẻ qua các thời kỳ trước và sau khi sinh Quyết định các phương thức điều trị như tự mua thuốc, đến bệnh viện hay điều trị tại nhà bằng phương pháp cổ truyền Đồng thời, các yếu tố văn hóa - xã hội khác như trình độ học vấn, tập quán và mức độ hiểu biết, quan niệm và cách chọn các

4

GS.TS Lương Văn Hy Bài giảng môn Lý thuyết nhân học cho lớp cao học Dân tộc học khóa 2010-2012,

trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh 2011 tr 41

Văn Ngọc Lan và Trần Đan Tâm 2005 “Mạng lưới xã hội và cơ hội thăng tiến trong đời sống dân cư đô thị”

In trong Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở TPHCM – Lý luận và thực tiễn, do Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường,

Nguyễn Quang Vinh đồng chủ biên Nhà xuất bản Khoa học Xã hội tr.4

Trang 21

dịch vụ y tế để chăm sóc sức khỏe Liệu vốn văn hóa của phụ nữ mang thai ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn mô hình chăm sóc/nuôi dưỡng trẻ

Mức độ nắm bắt, hiểu biết và vận dụng kiến thức về pháp luật như luật về Luật

về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của người mẹ có tác động như thế nào đến thời gian tiếp cận các dịch vụ y tế

- Vốn xã hội: bước đầu tìm hiểu các phụ nữ người S’tiêng tại hai huyện Bù Đăng và Lộc Ninh, đề tài xem xét mối tương quan giữa đặc điểm hộ gia đình với thời điểm tiếp cận và lựa chọn phương thức chăm sóc sức khỏe sinh sản Đề tài cũng đưa ra những so sánh, phân tích cho thấy sự khác biệt ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, xã hội giữa các gia đình đến việc lựa chọn giải pháp chăm sóc sức khỏe và quan niệm của họ

- Vốn kinh tế: mức sống hộ gia đình được đo lường qua chỉ báo thu nhập trung bình hàng tháng và có thể phân loại hộ giàu nghèo theo chuẩn quốc gia; quy mô hộ gia đình, tỷ số phụ thuộc, dân số đang hoạt động kinh tế, dân số hưởng trợ cấp xã hội Đề tài tìm hiểu về quy mô hộ gia đình và những nguồn lực hỗ trợ phụ nữ mang thai, kể cả những nguồn lực xã hội như các mối quan hệ của các thành viên trong gia đình và các

tổ chức hỗ trợ của địa phương Những chi phí về mặt kinh tế là gánh nặng được xét đến bao gồm cả chi phí đi lại (khám chữa trị bệnh, tiền ăn uống), khoảng cách từ nhà đến nơi điều trị

- Mức độ tiếp nhận thông tin của người chăm sóc ảnh hưởng thế nào đến quá trình tìm kiếm và tiếp cận dịch vụ y tế (chăm sóc sức khỏe sinh sản) Đề tài sử dụng những công cụ thu thập thông tin như Phỏng vấn sâu, Lưới tiểu sử (biographical grid9)

để nghiên cứu lịch sử, quan niệm và cách tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Ngoài ra, khi vận dụng thuyết hành xử của Pierre Boudieu, đề tài cũng lưu tâm đến sự tương tác giữa các loại vốn Đặc biệt trong nghiên cứu này, đề tài đặt giả định rằng vốn xã hội và vốn kinh tế, vốn văn hóa có mối quan hệ tương hỗ, tức là người chăm sóc trẻ nếu có tiềm năng về vốn xã hội thì cũng có tiềm năng về vốn kinh tế và vốn văn hóa và ngược lại Nếu người chăm sóc trẻ có sự thay đổi về vốn kinh tế (chẳng hạn thu nhập tăng lên, được hỗ trợ kinh phí, v.v…) thì vốn xã hội sẽ thay đổi,

9

Công cụ này đòi hỏi phỏng vấn viên phải kiên nhẫn và khéo léo dẫn dắt người trả lời hồi cố và kể lại các sự kiện quan trọng trong cuộc đời theo mốc thời gian Lưới tiểu sử được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp người trả lời nhớ lại những mốc thời gian và các biến động quan trọng trong cuộc đời được ghi lại theo trình tự thời gian cho đến thời điểm hiện tại

Trang 22

mối quan hệ giao tiếp được mở rộng Điều này ảnh hưởng như thế nào đến sự lựa chọn phương thức, thời điểm thay đổi quan niệm và tiếp cận các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của người S’tiêng?

2 Đề tài sử dụng Thuyết lựa chọn duy lý để giải thích một số vấn đề về sự lựa

chọn mô hình chăm sóc sức khỏe dựa trên có yếu tố về tính toán lợi ích, chi phí, và xác suất thành công của mô hình chăm sóc sức khỏe cho trẻ (tối đa hóa lợi ích), cụ thể như mối tương quan giữa các yếu tố:

- Mức sống hộ gia đình và sự lựa chọn mô hình chăm sóc sức khỏe cho trẻ: đề tài đặt giả thuyết nếu gia đình có tiềm năng về mặt kinh tế và coi trọng chăm sóc sức khỏe sinh sản, họ sẽ lựa chọn những mô hình chăm sóc sức khỏe có chất lượng tốt và thời gian phụ nữ tiếp cận dịch vụ y tế sớm hơn

- Khoảng cách địa lý, khoảng cách từ nhà đến nơi các dịch vụ, nơi điều trị bệnh cho trẻ có ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình chăm sóc sức khỏe cho trẻ như thế nào? Người chăm sóc trẻ có chọn cơ sở chữa trị dựa trên tính toán lợi ích để chọn cơ sở chữa trị gần nhất, ít tốn chi phí đi lại nhất không? Đồng thời, yếu tố chất lượng của cơ

sở điều trị cũng được cân nhắc ở đây

- Trình độ học vấn của phụ nữ mang thai và sự lựa chọn mô hình chăm sóc sức khỏe sinh sản Câu hỏi đặt ra là phụ nữ mang thai có trình độ học vấn cao có sự khác biệt như thế nào trong việc lựa chọn mô hình chăm sóc sức khỏe sinh sản không và ngược lại?

Đề tài chú ý đến thuyết lựa chọn duy lý ứng dụng vào ứng xử trong ngôn từ

(Penelope Brown và Stephen Levinson) “Mô hình B&L dựa trên 2 giả định là mọi

người nói đều có 2 đặc tính: duy lý (rational) và thể diện (face) Duy lý theo nghĩa là người nói khi nói là nói có mục đích và đã chọn một cách nói ít thiệt thòi và có lợi hơn

cả cho mình Thể diện gồm 2 khía cạnh hay nhu cầu: a nhu cầu không bị cản trở (negative face) hay có thể gọi là nhu cầu quyền lực; và b nhu cầu được người khác tán thưởng hay ưa thích (positive face) hay có thể gọi là nhu cầu tương thân hay đồng cảm (solidarity)”10

Vận dụng lý thuyết này, đề tài muốn phân tích cách thức lựa chọn cách nói có lợi nhất cho họ khi đề cập đến các dịch vụ y tế tại địa phương Khi vận dụng thuyết

10

GS.TS Lương Văn Hy Tlđd Tr 26

Trang 23

hành xử và thuyết lựa chọn duy lý, tùy trường hợp cụ thể nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, tùy vấn đề mà có thể chọn thuyết hành xử hoặc thuyết sự lựa chọn duy lý

để giải thích hành vi cá nhân được thấu đáo Mặc dù thuyết lựa chọn duy lý cho rằng hành vi cá nhân dựa trên sự tính toán lợi nhằm tối đa hóa lợi ích Trong khi đó

“Bourdieu cho là tâm thể hành vi có tính vô thức đóng một vai trò rất lớn trong hành

nghiên cứu các vấn đề của đề tài Thuyết lựa chọn duy lý có thể giải quyết tốt hơn khi phân tích ngôn từ, cách nói của những người phụ nữ để tối đa hóa lợi ích trong quá trình tìm kiếm và tiếp cận dịch vụ y tế cũng như một số cân nhắc trong chọn lựa mô hình chăm sóc sức khỏe sinh sản dựa trên tính toán chi phí có lợi nhất và kể cả khoảng cách về đường đi

3 Lý thuyết chức năng được vận dụng để phân tích, lý giải một số vấn đề dựa

trên quan điểm lý thuyết của Bronislaw Malinowski

“Bronislaw Malinowski nhấn mạnh đến nhu cầu của cá nhân [gồm cả nhu cầu sinh học như ăn uống, tình dục, cũng như nhu cầu thứ cấp [secondary hay derived] như nghe một loại nhạc nào], tính duy lý của cá thể (tương trợ có qua có lại là nguyên tắc của quan hệ xã hội) và sự căng thẳng giữa nhu cầu của cá nhân và quy ước xã hội”12 Malinowski nhấn mạnh đến tính toán của cá thể trong quan hệ xã hội và việc quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc qua lại, đôi bên cùng có lợi Bất cứ khi nào người địa phương có thể lẩn tránh trách nhiệm mà không mất uy tín hoặc không mất lợi ích, người ta lẩn tránh trách nhiệm, y như cách làm của một nhà kinh doanh trong xã hội văn minh, [đưa đến] những trắc trở thường xuyên trong quan hệ trao đổi

Vận dụng quan điểm trên, đề tài đặt giả định về những trở ngại về thủ tục pháp

lý trong quá trình tìm kiếm, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người S’tiêng ở Bình Phước Những gia đình người S’tiêng có gặp khó khăn gì khi làm thủ tục tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại địa phương? Thực tế, các nhân

tố văn hóa - xã hội đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tìm kiếm, tiếp cận dịch vụ

y tế của phụ nữ S’tiêng? Việc tuân thủ quy ước xã hội hay tập tục và thực thi trách nhiệm xã hội có liên quan đến việc bị xã hội cô lập nếu không tuân thủ quy ước xã

Trang 24

hội13 Vận dụng quan điểm lý thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski, đề tài tìm

hiểu, giải thích 2 vấn đề chính: một là, tác động những trở ngại về thủ tục pháp lý, tư pháp trong quá trình tiếp cận các dịch vụ y tế của phụ nữ S’tiêng ở Bình Phước? hai

là, sự mâu thuẫn quy ước xã hội, văn hóa tập quán với cách điều trị “hiện đại” của các

cơ quan cung cấp dịch vụ y tế?

Tóm lại, vận dụng ba cách tiếp cận trên vào việc mô tả, nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội, tập tục văn hóa, thói quen của cộng đồng và phụ nữ S’tiêng; tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hệ thống y tế đang tồn tại ở cộng đồng và sự đánh giá của cộng đồng đối với hệ thống đó, đặc biệt là đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ S’tiêng; có những phân tích, diễn giải nhằm làm rõ sự tác động làm biến đổi quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế của phụ nữ S’tiêng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

1.2 Tổng quan về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Bình Phước – một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Đông Nam bộ có diện tích tự nhiên 6.873,926 km2 Về vị trí địa lý, Bình Phước được xem là “khu đệm” nối liền phía bắc và đông bắc Sài Gòn với vùng núi cực nam Trung bộ và nam Tây Nguyên, nối tiếp với vùng biên giới Campuchia Phía đông giáp tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng; phía nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Dương; phía tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía bắc và tây bắc giáp nước bạn Campuchia với đường biên giới dài 240km nằm trên

12 xã của huyện Lộc Ninh và huyện Phước Long

Hiện nay, Bình Phước có 3 thị xã và 07 huyện: Thị xã Đồng Xoài, Thị xã Phước Long, Thị xã Bình Long và các huyện Đồng Phú, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Bù Đăng, với tổng cộng 92 xã, 5 thị trấn và 14 phường14

Đến cuối năm 2012, Bình Phước có tổng dân số 902.646 nhân khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có 177.966 nhân khẩu (chiếm 19,7%) với 40 thành phần dân tộc15

Trang 25

Bình Phước có địa hình đồi cao ở phía Bắc - Đông Bắc với các núi cao trung bình từ 450-500m và dạng địa hình đồi núi thấp dần về phía Tây và Tây Nam Bình Phước có nguồn tài nguyên đất màu mỡ với các loại đất chất lượng cao (đất đỏ bazan, đất đen, phù sa) chiếm trên 61% diện tích Nằm trong vùng cao nguyên thuộc đoạn cuối của dãy Trường Sơn, Bình Phước ít chịu tác động của khí hậu biển

Đối với vấn đề dân tộc thiểu số, trong những năm qua, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, Bình Phước đã có nhiều nỗ lực thực hiện công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc vùng ĐBDTTS để ổn định dân dân cư, tạo điều kiện sản xuất và phát triển kinh tế, ổn định đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn gặp nhiều khó khăn và thiếu ổn định

Về kinh tế, Bình Phước là tỉnh có điều kiện phát triển mạnh về cây công nghiệp Trong đó, cây điều trở thành cây trồng mang lại nguồn kinh tế chủ lực đối với

Trang 26

ĐBDTTS Tính đến tháng 9/2011, diện tích cây điều trên toàn tỉnh đạt 155.758 ha Tuy nhiên, do năng suất và giá điều thấp, trong khi, giá cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm ngày một tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Trên địa bàn tỉnh diễn ra tình trạng, một số hộ sống tạm bợ do đã cầm cố, sang nhượng đất sản xuất

Theo thống kê sơ bộ, hiện nay toàn tỉnh có 818 hộ bán điều non (từ 1-12 năm),

340 hộ vay nặng lãi (lãi suất từ 3-6%/tháng), 243 hộ cầm cố đất (từ 1-7 năm), 271 hộ sang nhượng đất Ngày 9/9/2011, UBND tỉnh đã tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện Chỉ thị 14/2010/CT-UBND ngày 15/9/2010 của UBND tỉnh về việc tăng cường biện pháp quản lý, ngăn chặn tình trạng bán điều non, cầm cố đất, sang nhượng quyền sử dụng đất trong vùng ĐBDTTS, đề ra giải pháp xử lý và ngăn chặn tình trạng lan rộng trong vùng ĐBDTTS nghèo, giúp đỡ đồng bào tự vươn lên ổn định cuộc sống

Về giáo dục, Bình Phước triển khai phong trào dạy tốt, học tốt và áp dụng nhiều chính sách ưu tiên, ưu đãi nhằm khuyến khích, thu hút con em đồng bào dân tộc thiểu

số tham gia học tập, nhất là trong vùng đặc biệt khó khăn Năm học 2011-2012, toàn tỉnh có 06 trường dân tộc nội trú (01 trường DTNT tỉnh có 329 học sinh, 05 trường DTNT huyện, thị xã với 986 học sinh)

Về y tế, công tác khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho ĐBDTTS thuộc các xã nghèo, đặc biệt khó khăn (xã thuộc chương trình 135 của chính phủ), thuộc diện

hộ nghèo được đảm bảo; chính sách y tế thôn bản ở các vùng trọng điểm, vùng sâu, xa, vùng ĐBDTTS luôn được duy trì, nhất là công tác tuyên truyền tiêm phòng cho trẻ

em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thực hiện kế hoạch hóa gia đình…

Nhằm nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ năm 1998 đến nay, tỉnh Bình Phước tiến hành nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, mang lại nhiều kết quả, tác động tích cực đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số phải kể đến Chương trình 135 của Chính phủ Trên địa bàn tỉnh, Chương trình 135 được triển khai với hai giai đoạn Giai đoạn I (1999-2005) với các dự án:

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng các xã nghèo 135

Đối tượng đầu tư của dự án là 8 loại công trình: đường giao thông nông thôn, thủy lợi nhỏ, trường học, trạm xá, chợ, cấp nước sinh hoạt, điện sinh hoạt, khai hoang

Trang 27

đất sản xuất Qua 7 năm thực hiện chương trình 135 đã xây dựng và đưa vào sử dụng

565 công trình thiết yếu các loại, với tổng vốn đầu tư 111.780 triệu đồng đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân ở vùng đặc biệt khó khăn

- Dự án trung tâm cụm xã (TTCX)

Đối tượng đầu tư gồm 7 loại công trình: Hệ thống giao thông TTCX, trường học bán trú và trường PTCS, phòng khám đa khoa khu vực, cấp nước sinh hoạt; điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, trạm khuyến nông, khuyến lâm; chợ trung tâm; cửa hàng thương mại Từ năm 1997 đến năm 2005 trên địa bàn tỉnh đã phê duyệt và đầu tư

8 TTCX trên địa bàn các huyện: Bù Đăng (3 TTCX), Phước Long (2 TTCX), Bù Đốp, Lộc Ninh, Đồng Phú Dự án TTCX thực hiện xây dựng đưa vào sử dụng 79 công trình với tổng nguồn vốn là 36.586 triệu đồng

- Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm

Trước năm 2003 trên địa bàn tỉnh chưa có chương trình dự án hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm mà chỉ thực hiện các chương trình hỗ trợ người nghèo khuyến nông, khuyến lâm và các chương trình khác do Bộ Nông nghiệp hướng dẫn Từ năm 2003 – 2005, tỉnh triển khai dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã làm cho sản xuất nông nghiệp ở những vùng có dự án từng bước chuyển biến, ổn định

và đang có hướng chuyển dịch đến một nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, gắn với phát triển công nghiệp chế biến và các ngành nghề phi nông nghiệp Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sự hỗ trợ của tỉnh tập trung chủ yếu ở việc cung cấp các loại cây con, giống mới và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào phát triển canh tác nông nghiệp

- Dự án đào tạo cán bộ cơ sở

Mục tiêu của chương trình là đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý nhà nước, quản lý xã hội và quản lý các dự án của cán bộ cơ sở ở các xã đăc biệt khó khăn nhằm tập trung xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Trong thời kỳ 5 năm (2000-2005), tỉnh tổ chức triển khai các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ quản lý cho 3.408 lượt người tham dự Đối tượng của các lớp tập huấn, bồi dưỡng là cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ chủ chốt phục vụ cho chương trình 135 và các sở, ban, ngành có liên quan (ở cấp tỉnh)

Trang 28

- Thực hiện chính sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn

Năm 2000, dự án hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn được chuyển thành chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS thuộc chương trình 135 với mục tiêu chủ yếu là: thực hiện xoá đói giảm nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình, hướng dẫn phát triển sản xuất hàng hoá, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu văn hoá trong vùng, giúp đồng bào sớm hòa nhập với cộng đồng các dân tộc trong tỉnh

- Dự án định canh định cư

Từ năm 2000-2005, với nguồn vốn 7.404 triệu đồng đầu tư các hạng mục công trình: Khai hoang đất sản xuất 246 ha; đường GTNT 5km/11 cầu cống; xây dựng trường học 2 phòng; đào giếng nước sinh hoạt 170 cái; điện trung hạ thế 70,1km; 15 công trình giếng nước tập trung; sửa chữa 100 căn nhà

Giai đoạn II (2006-2010) với ngân sách được phân bổ là 130.154,68 triệu đồng, gồm các dự án:

- Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất: hỗ trợ trực tiếp cho 21.713 hộ về giống cây

trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, công cụ sản xuất, máy móc phục vụ sản xuất Toàn tỉnh đã mở 91 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật; thực hiện 10 mô hình trình diễn vườn điều cao sản, 01 mô hình trồng nấm; tổ chức 05 chuyến tham quan cho người dân học tập kinh nghiệm sản xuất

- Dự án cơ sở hạ tầng: đầu tư đường giao thông nông thôn 235 km; xây dựng

cầu 02 công trình; 86 km điện trung hạ thế; 1.300 m kênh, mương, thủy lợi; 64 phòng học các loại; 31 công trình phụ phục vụ trường học; 08 công trình nhà văn hóa cộng đồng; 04 công trình chợ; 06 trạm y tế; nhà làm việc xã đội 01 công trình; 01 công trình sửa chữa đường ống cấp nước sinh hoạt; 01 công trình xây dựng hội trường thôn và những công trình thiết yếu khác

- Dự án đào tạo cán bộ cơ sở và cộng đồng: mở 44 lớp tập huấn nâng cao năng

lực cho cán bộ sở, ngành của tỉnh, cán bộ huyện, xã, thôn (ấp) với 3.663 lượt người tham gia

- Chính sách hỗ trợ và trợ giúp pháp lý với các mục tiêu là hỗ trợ học sinh con

hộ nghèo (đã hỗ trợ 8.672 học sinh); hỗ trợ cải thiện vệ sinh môi trường (đã có 2.526

hộ được hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh, di dời chuồng trại) và trợ giúp pháp lý đối với

Trang 29

xã, thôn, bản và người dân thông qua tuyên truyền lưu động, tổ chức các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, hỗ trợ các hoạt động văn hóa cho đồng bào DTTS,

Nhìn tổng quan, Chương trình 135 đã góp phần quan trọng làm thay đổi cơ bản

bộ mặt nông thôn miền núi, góp phần XĐGN và nâng cao đời sống tinh thần vùng đồng bào dân tộc và miền núi Thực hiện các dự án thành phần với các chính sách tổng hợp về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển sản xuất nói riêng đã góp phần cải thiện rõ rệt đời sống của đồng bào dân tộc vùng đặc biệt khó khăn trên các lĩnh vực đời sống xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế và sức khỏe cộng đồng Hầu hết các

xã của Chương trình 135 đều có trường tiểu học và trung học cơ sở kiên cố, đã tạo điều kiện cho con em đồng bào dân tộc trong độ tuổi đi học được đến trường; có trạm

y tế, thôn bản có y tế cộng đồng góp phần ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo, nâng cao sức khỏe và cải thiện đời sống cho đồng bào

Xã Lộc Thuận – huyện Lộc Ninh

Bản đồ Huyện Lộc Ninh

Trang 30

Bản đồ xã Lộc Thuận

(Nguồn: Bản đồ trực tuyến)

Lộc Ninh là huyện miền núi biên giới phía Tây - Bắc của tỉnh Bình Phước, có đường biên giới dài hơn 100km tiếp giáp huyện Sanuol tỉnh Kratie và Mimot tỉnh Congpongcham của Campuchia với 01 cửa khẩu quốc tế - cử khẩu Hoa Lư

Lộc Ninh có diện tích tự nhiên 86.297,52 ha, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên tỉnh Bình Phước Trong đó, đất rừng chiếm 68.714 ha, còn lại là đất nông nghiệp mà đất đỏ bazan chiếm phần lớn với độ phì nhiêu cao, phù hợp các loại cây trồng cho thu nhập cao như: cà phê, điều, hồ tiêu, cao su

Huyện có số dân 113.312 người (năm 2006) với 18% thành phần dân số là người dân tộc

Lộc Thuận là một xã trong 16 đơn vị hành chính của huyện Lộc Ninh, có diện tích tự nhiên 4261 ha, dân số 8696 người (1765 hộ) Trong đó, có 105 hộ đồng bào S’tiêng và 43 hộ người đồng bào Khmer (thống kê năm 2008)

Từ sau thập niên 90 của thế kỷ XX, do sự phát triển của các loại cây công nghiệp như cà phê, tiêu, điều và cao su, kinh tế - xã hội của Lộc Thuận có sự chuyển biến, tăng trưởng mạnh, tác động tích cực làm nâng cao chất lượng đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân trong xã16 Đặc biệt, hệ thống chăm sóc y tế được đầu tư phát triển, đảm bảo đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và triển khai thường xuyên các chương trình y tế quốc gia trên địa bàn xã Các biện pháp kiểm tra giám sát phòng

16

Báo cáo Tình hình kinh tế xã hội, ANQP năm 2008, xã Lộc Thuận

Trang 31

chống dịch bệnh, thực hiện công tác vệ sinh an toàn thực phẩm thường xuyên được duy trì Đội ngũ y tế thôn được tập huấn các chương trình y tế quốc gia

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm chỉ đạo, đặc biệt là công tác khám bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và đối tượng có thể bảo hiểm y tế Năm 2012, đã khám và điều trị cho 8.358 lượt bệnh nhân và kịp thời ngăn chặn dịch sốt siêu vi bùng phát trong năm.Trạm y tế tổ chức cấp phát 1.230 cái mùng phòng chống sốt rét cho các đối tượng hộ nghèo, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu

số và các hộ ở khu vực trọng điểm xảy ra dịch sốt rét17

Thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét, sốt xuất huyết và các bệnh xã hội Phối kết hợp với huyện Đoàn Lộc Ninh cùng các bác sĩ bệnh viện đa khoa Lộc Ninh và các đoàn viên ở các đơn vị ban ngành trong huyện tổ chức thăm khám chữa bệnh cho 320 đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ấp 9, 8, 6 và tặng 51 phần quà cho các em học sinh nghèo, mỗi phần quà trị giá 50.000 đồng18 Thường xuyên củng cố cán bộ cộng tác viên dân số và y tế thôn bản ở khu dân cư, tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân tham gia chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, phòng chống dịch bệnh bằng nhiều hình thức19

Đối với công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, theo thống kê năm 2010, y tế xã Lộc Thuận đã tổ chức khám 270 lần cho 67 phụ nữ mang thai, thực hiện các biện pháp tránh thai cho 290 lượt người, số hộ sinh con thứ 3 trở lên giảm còn 12 hộ Thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ

em, tổng số trẻ dưới 5 tuổi là 870 cháu, tỷ lệ được cân đo đạt 95% Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 30 cháu, tỷ lệ 16,83% giảm 12 cháu so với đầu năm20

Với những thông tin trên đây đã cho ta thấy được tổng quan về địa bàn xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh Ta có thể thấy, những con số báo cáo trên đây đã cho thấy cuộc sống của đồng bào S’tiêng đang đổi mới từng ngày Những chính sách của nhà nước đã tác động không nhỏ tới đời sống của đồng bào nơi đây và đây cũng chính là

Trang 32

một trong những yếu tố quan trọng làm thay đổi sự lựa chọn hệ thống y tế trong chăm sóc sức khỏe của người đồng bào hiện nay

Xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng

Bù Đăng là một huyện dân tộc miền núi nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bình Phước, giáp với tỉnh Tây Nguyên, diện tích tự nhiên 150.172 ha, có 16 xã, thị trấn, dân

số 135.785 người (trong đó, có 50.447 người thuộc các dân tộc thiểu số, chiếm 37,15% dân số toàn huyện) Đồng bào chủ yếu sống bằng nghề nông, ở xen kẽ nhau trên địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái21 Huyện đã có những chính sách khuyến khích đồng bào xây dựng đời sống kinh tế mới trong đó việc thực hiện chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội như các chương trình theo Quyết định số 32, 134, 135… của Chính phủ và các chính sách khác đã đầu tư hỗ trợ cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, với số vốn đầu tư hàng năm không ngừng tăng Tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc phấn đấu vươn lên và đạt được những kết quả đáng khích lệ22

Minh Hưng thuộc Bù Đăng và là một xã miền núi, cách trung tâm y tế huyện 8km, diện tích đất tự nhiên là 60, 82 ha, dân số là 11.806 người gồm có 10 dân tộc anh

em chung sống với 1775 nhân khẩu (chiếm 15% tổng dân số trong xã) Trong đó thôn

5 thuần người Stiêng Tại thôn có 301 hộ, trong đó số liệu gần đây nhất ngày 10/9/2013 toàn thôn có 1650 nhân khẩu (854 nữ và 796 nam)

Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân xã Minh Hưng năm 2013, xã có tổng diện tích gieo trồng đạt 97,4% so với chỉ tiêu mà huyện đã giao (bao gồm cả lúa, cây thực phẩm, rau các loại) Đặc biệt là cây lâu năm với 1.879,56 ha (bao gồm điều, cà phê, cao su, ca cao, cây ăn trái, cây lâu năm khác) Ngành chăn nuôi trên địa bàn xã cũng tương đối phát triển Trong năm 2013, toàn xã có 2.489 con gia súc, và 26.300 con gia cầm Thu nhập vượt 710.00đồng/người so với năm 201223 Về giáo dục, toàn xã có 6

21

Báo cáo Tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số và công tác dân tộc, UBND

huyện Bù Đăng, năm 2009

22

Báo cáo Tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số và công tác dân tộc, UBND

huyện Bù Đăng, năm 2009

23

Báo cáo Thực hiện nhiệm vụ KTXH-QPAN năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ 2014 của UBND xã Minh

Hưng

Trang 33

trường, 89 lớp với 206 cán bộ, giáo viên và 880 học sinh Đặc biệt trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%.24

Công tác thông tin tuyên truyền được thực hiện tốt Xã đã tổ chức các giải cờ tướng, bóng truyền nam, tổ chức văn nghệ chào đón giao thừa năm 2013 Ngoài ra còn nhiều chương trình khác mà bộ phận tuyên truyền đã làm rất tốt Công tác phát thanh tuyên truyền và hướng dẫn bà con được thực hiện hàng ngày Đã tiến hành sửa chữa các hệ thống loa bị hư hại, và thay mới một số loa và biến áp loa25

Về y tế được thực hiện với số lần khám bệnh cho người dân là 7.285 lượt Trong năm cũng đã có tổ chức tiêm phòng cho trẻ em dưới 1 tuổi, làm xét nghiệm sốt rét, cấp thuốc tự điều trị tại nhà… đặc biệt vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản được chính những người dân quan tâm và thực hiện Trong năm có 2.252 lượt người tham gia các biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản, bao gồm khám thai, khám phụ khoa, điều trị phụ khoa… tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm 5,8% so với năm 201226

Nhìn chung, cả hai xã hiện nay đang có những bước chuyển mình cùng với sự thay đổi chung của đất nước qua từng ngày và từng năm Theo xu thế hiện nay thì càng về sau, sự hội nhập càng tăng, điều này kéo theo sự biến đổi không nhỏ trong sự lựa chọn hệ thống y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân, đặc biệt là đồng bào Dân tộc thiểu số

1.2.2 Tổng quan về người S’tiêng

Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố ngày 2 tháng 3 năm

1979 của Tổng cục Thống kê, dân tộc S’tiêng còn có tên gọi khác là Xa điêng (S’tiêng) - cư dân có mặt sớm nhất trên vùng miền Đông Nam bộ, là tộc người có nhiều nhóm địa phương, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer, ngữ hệ Nam Á Theo các nguồn sử liệu, người S’tiêng có nhiều tên gọi khác nhau như Xa Điêng, Bùlơ, BùĐip,

Bù Đêh, Tà Mun, Bà Rá, Dalmer, Rong Ah, Bù Lê và được chia làm bốn nhóm địa phương chính: BùLơ, BùĐek, BùĐiêk, Bù Lập nhưng hiện nay chủ yếu còn tồn tại hai

Trang 34

nhánh chính là BùLơ và BùĐek S’tiêng BùLơ là nhóm S’tiêng sinh sống ở vùng núi cao, tập trung cư trú ở một số xã Đăk Ơ, Đăk Nhau, Thọ Sơn, Thống Nhất của các huyện Phước Long và Bù Đăng

Trước khi lưu dân Việt khai phá vùng đất miền Đông Nam bộ, cư dân S’tiêng cùng các nhóm người Chơ ro, Mạ, Cơ ho, M’nông là những cộng đồng cư trú lâu đời ở đây Theo nhà nghiên cứu Phan An, từ thế kỷ thứ II-III, người S’tiêng đã phát triển và

mở rộng không gian cư trú, chiếm một phần cực Nam Tây Nguyên và một số vùng Đông Nam bộ27 Đến thế kỷ XIX, người S’tiêng đã có sự giao lưu tiếp xúc với người Khmer, người Chăm và đặc biệt là người S’tiêng ở vùng thấp mà họ gọi là S’tiêng Bù Đek và có quá trình cộng cư đan xen với người M’Nông từ lâu Quá trình cộng cư lâu đời đã tạo cho người S’tiêng ở phía Nam dãy Trường Sơn – Bình Phước, có một nên văn hóa mang nhiều sắc thái chung với những người anh em xung quanh và cả những đặc trưng văn hóa tồn tại lâu đời chỉ có người S’tiêng Vì vậy, người S’tiêng và những nhóm cư dân trên được xem là cư dân bản địa, cư dân gốc, cư dân tại chỗ

Hiện nay, người S’tiêng sinh sống tập trung đông ở các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh và Đồng Nai Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số S’tiêng có 66.888 người, trong đó Bình Phước là địa bàn có số lượng dân cư đông nhất với 65.920 người, Tây Ninh có 478 người, tỉnh Đồng Nai có 1.452 người Có thể nói, người S’tiêng ở Bình Phước là một tộc người định cư lâu đời có số dân đông nhất, nay chiếm khoảng 17%

số dân toàn tỉnh28 Họ tập trung cư trú về phía Bắc thượng nguồn dòng sông Bé

Trước thập niên 80, khi rừng ở Bình Phước chưa chuyển đổi sang trồng điều và cao su, người S’tiêng thường làm nhà nền đất, mái tranh, vách bằng tre nứa Canh tác sản xuất chủ yếu trên nương rẫy Còn người S’tiêng BùĐek ở vùng thấp, sống ở nhà sàn, biết sử dụng trâu bò kéo cày làm ruộng nước

Trước đây, địa vực cư trú của người S’tiêng là những vùng rừng già nhiệt đới

có nhiều thú giữ nên họ rất thành thạo trong việc làm các loại bẫy để săn thú và làm rẫy trên những vùng đất đỏ Ngoài ra, họ còn bắt cá dưới suối, thu lượm một số lâm sản, hái rau rừng nhằm tăng thêm nguồn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày

27

Phan An, Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng của người S’tiêng ở Việt Nam (Từ TK XIX đến năm 1975), NXB

Đại học Quốc gia TP.HCM, 2007, tr.48

28

Thống kê của UBND tỉnh Bình Phước, tính tới ngày 1/1/2012

Trang 35

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người S’tiêng là làm nương rẫy được thực hiện vào cuối mùa khô, lúa nước cũng được trồng nhưng không nhiều lắm Khi rẫy đã được dọn sạch sẽ, họ bắt đầu trỉa lúa, nam giới đi trước chọc lỗ, phụ nữ đi sau bỏ hạt vào lỗ

Ngày nay, trước di chứng của hai cuộc chiến tranh, cùng với chủ trương cải tạo đất rừng để trồng cây công nghiệp và hoạt động khai thác rừng bừa bãi, cũng như sản xuất kinh tế du canh du cư… đã khiến tài nguyên rừng cạn kiệt, rừng già trở nên xơ xác và chim thú cũng hoang vắng dần Vì vậy, sinh kế dựa vào trồng trọt luân khoảnh của người S’tiêng không còn phù hợp Tuy nhiên, một số tập quán đã bén rễ từ lâu chưa mất hẳn trong hoạt động kinh tế của người S’tiêng Việc duy trì một diện tích nương rẫy nhất định trồng một số cây lương thực thực phẩm vẫn được người S’tiêng canh tác nhưng ở mức phụ thêm đời sống gia đình của họ Trong khi đó, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, người S’tiêng đã sống định canh - định cư Các mô hình làm kinh tế ruộng nước kết hợp với kinh tế vườn trở thành chiến lược phát triển lâu dài và hoạt động kinh tế chính của người S’tiêng

Cùng với làm rẫy, sinh sống trong môi trường sinh thái của rừng, người S’tiêng cũng chú ý đến hoạt động chăn nuôi với các loại gia súc nhỏ, gia cầm: heo, gà, vịt, chó… riêng nuôi trâu chỉ để cho việc hiến tế trong các dịp lễ tết, lúa mới

Trong xã hội S’tiêng cũng xuất hiện các ngành tiểu thủ công nghiệp nhưng chủ yếu để phục vụ cho chính nhu cầu của hộ gia đình Trong đó, phổ biến có ngành đan

và chế các loại sản phẩm bằng tre Đến thế kỷ XX, nghề rèn cũng phát triển mạnh trong đời sống xã hội người S’tiêng Nhưng đến vài thập niên gần đây, do điều kiện kinh tế phát triển và hàng hóa được bán rộng rãi ở địa phương, các công cụ, nông cụ,

Trang 36

thường được mua ở chợ với giá rẻ hơn là đồng bào tự làm nên nghề rèn hầu như không còn trong cộng đồng người S’tiêng

Từ xa xưa, như nhiều tộc người ở Tây Nguyên, người S’tiêng cũng có tục cà răng căng tai và để tóc dài, búi lại sau gáy Đến nay, do quá trình cộng cư, hội nhập văn hóa, hầu như các tập tục của người S’tiêng đã bị mất đi Về trang sức, người S’tiêng từ xưa nay đều thích đeo lược ngà voi, đeo các loại vòng tay, vòng cổ bằng sắt hoặc đồng hoặc những chuỗi cườm nhiều màu sắc, phụ nữ thích mặc những chiếc váy

do chính mình dệt

Trước đây, người S’tiêng cư trú trong những ngôi nhà dài Và tùy vào các nhóm khác nhau, do điều kiện địa lý, môi trường cư trú khác nhau mà ngôi nhà dài – nơi đại gia đình cư trú mang những đặc trưng riêng của nhóm Người S’tiêng Bù Lơ sống ở vùng cao, làm nhà dài nền đất, mái tranh vách phên tre, nhà thấp có cửa ra vào ở hai đầu nhà Người S’tiêng Budek cũng cư trú trong các ngôi nhà dài nhưng là nhà sàn dài Do quá trình cư trú gần người Khmer nên ngôi nhà sàn dài của họ ít nhiều chịu ảnh hưởng về ngôi nhà của người Khmer như có nhà sàn cao, có cầu thang lên xuống…

Không gian bên trong ngôi nhà dài – nơi cư trú của đại gia đình được chia làm nhiều bếp (Nak) Ranh giới giữa các nak được chia một cách tương đối, mỗi bếp là một nơi sinh hoạt của một gia đình nhỏ Phía bên trên bếp là kho chứa thóc của các gia đình và cạnh bếp là một sạp tre để ngủ gọi là mtút Ngay sát vách đầu nằm đặt một số loại chiêng ché quý, một vài vật dụng sinh hoạt của các gia đình Đặc biệt ở nhóm Budek, kho chứa thóc dựng ở bên ngoài nhà dài

Về cấu trúc gia đình, các nhóm địa phương có sự khác nhau Người S’tiêng BuLơ là gia đình lớn phụ hệ do người đàn ông nắm quyền quản lý các Nak của mình

và những người phụ nữ chỉ có nhiệm vụ dạy dỗ con cái Nói chung, mối quan hệ về dòng họ thuộc về người đàn ông Nhóm S’tiêng Budek lại tính theo huyết thống về bên người phụ nữ, nên trong gia đình vai trò của người phụ nữ rất quan trọng Họ chịu trách nhiệm quản lý về dòng họ và sinh hoạt gia đình Trong khi, người đàn ông giữ vai trò nhất định trong sản xuất kinh tế gia đình Nên trong ngôi nhà dài của người S’tiêng đều có một người đàn ông lớn tuổi, hay đàn bà có uy tín trong dòng họ được

Trang 37

Nak tín nhiệm làm tộc trưởng, chuyên lo việc xã giao, cúng tế và giải quyết những mối quan hệ trong ngôi nhà dài của mình

Ngày nay, trong bối cảnh hoạt động kinh tế, xã hội đã thay đổi mô hình ngôi nhà dài đã không còn phù hợp Nhưng gia đình nhỏ tự tách ra thành hộ gia đình có nền kinh tế độc lập Vì vậy, trong xã hội người S’tiêng không còn thấy xuất hiện nhà dài

Xã hội S’tiêng được tổ chức theo đơn vị độc lập với nhau Làng là gọi theo người Việt, có nơi gọi là sóc theo người Khmer như ở vùng Lộc Ninh Ở vùng Bù Đăng, các làng người S’tiêng được gọi là buôn hoặc bon theo cách gọi của người M’Nông xưa Ngày xưa, các làng thường được xây dựng ở những nơi hiểm trở có hàng rào bao quanh, được phòng thủ chặt chẽ Mỗi làng thường có từ 2-5 nhà dài

Về đời sống tín ngưỡng, người S’tiêng luôn quan niệm rằng bất cứ vật gì cũng

có linh hồn Đối với người S’tiêng, các thần có vai trò quan trọng, nhất là Thần Mặt trời, Thần Mặt trăng, Thần Sấm Sét Thần Mặt Trời có nhiệm vụ coi sóc sự sinh trưởng, thần Mặt Trăng có nhiệm vụ báo hiệu sự tuần hoàn để bắt đầu mùa trồng rau, mùa gặt, Thần Đất báo hiệu cho sự tăng trưởng của mọi vật và thần Bầu Trời biểu tượng cho ruộng đất

Ngoài ra người S’tiêng còn có nhiều vị thần khác như thần cây, thần ao, thần

đá, thần công cụ… Có thể nói quan niệm “vạn vật hữu linh” bao quanh lấy đời sống tinh thần của họ Ngày nay phần đông đồng bào người S’tiêng theo đạo Tin Lành, Công Giáo và một số ít theo đạo Phật Dù niềm tin tín ngưỡng ít nhiều bị biến đổi song văn hóa riêng của họ trong chừng mực nào đó vẫn còn nhận diện được

Tín ngưỡng cúng hồn lúa được xem là tín ngưỡng đặc trưng biểu hiện qua từng nghi thức theo chu kì phát triển của cây lúa Vào khoảng tháng 2, đồng bào sẽ có lễ chọn đất làm rẫy Rồi trước lúc trỉa lúa cũng làm lễ cúng xin ông bà đất, ông bà trời… phù hộ để cây lúa lớn Đến khi cây lúa lớn lên, lúa trưởng thành, lúa chuẩn bị thu hoạch, đồng bào lại càng phải làm lễ cúng để xin các thần Nếu trời nắng hạn, đồng bào làm lễ cầu mưa Lễ ăn mừng lúa mới tổ chức ngay sau khi thu hoạch được gùi lúa đầu tiên Nếu sau 4 đến 5 năm, gia đình có của ăn của để, dư giả thì gia đình làm lễ đâm trâu mừng được mùa Trong lễ, đồng bào có phong tục “quay đầu trâu” và mọi người cùng múa hát, đánh cồng chiêng Đây là lễ lớn nhất và là một nét sinh hoạt đặc trưng của người S’tiêng

Trang 38

Với ngôn ngữ và sắc thái âm nhạc đặc trưng, tiếng chiêng S’tiêng truyền tải nhiều cảm xúc, tâm trạng khác nhau đến người nghe và nó được xem là yếu tố thần linh không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người S’tiêng Ngoài âm nhạc, người S’tiêng còn kể cho nhau nghe nhiều chuyện cổ tích, đặc biệt là những câu truyện liên quan tới các địa danh, lịch sử các tộc người

Tóm lại, với đặc điểm về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, người

S’tiêng ở Bình Phước là cư dân bản địa đã coi hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt lúa, bắp trên đất rẫy và ruộng nước (ở một số làng) là chính yếu Kinh tế truyền thống trồng trọt luân khoảnh trên đất rừng đã giúp cho cộng đồng người S’tiêng phát triển và tồn tại của nhiều thế kỷ ở vùng Đông Nam bộ nói chung và Bình Phước nói riêng Tuy nhiên, kể từ sau năm 1975 đến nay, đặc biệt bước vào thế kỷ XXI, quá trình chuyển đổi rừng và qui hoạch quản lý, bảo vệ rừng, diện tích đất bị thu hẹp và hoạt động kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên rừng không còn được cho phép nên đồng bào S’tiêng đã có sự chuyển đổi sinh kế mạnh mẽ Nhiều hộ gia đình chuyển sang trồng thâm canh cây công nghiệp dài ngày như điều và cao su Cuộc sống của người S’tiêng trong vòng hơn 30 năm qua như đang chuyển sang một trang sử mới, tách khỏi các nguồn tài nguyên tự nhiên và sinh kế, cũng như văn hóa truyền thống Trước đây, về mặt xã hội, quan hệ thân tộc luôn chiếm giữ vị trí quan trọng trong các quan hệ kinh tế, xã hội của người S’tiêng Yếu tố cộng đồng, lịch sử dòng họ và buôn làng luôn bao trùm và xuyên suốt trong mọi lễ hội, sinh hoạt văn hóa của cư dân Cá nhân sống và tồn tại tự do trong sự tồn tại của của cộng đồng dòng họ và buôn làng Ngày nay, do tác động của bối cảnh kinh tế và xã hội mới, cộng đồng người S’tiêng xét về các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội đều đang trong quá trình chuyển đổi mạnh

mẽ Theo đó, thực trạng về quan niệm và sử dụng các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe của phụ nữ S’tiêng cũng chịu tác động từ sự đổi thay bối cảnh kinh tế - văn hóa -

xã hội

Trang 39

CHƯƠNG 2: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG QUAN NIỆM VÀ TẬP QUÁN

CSSKSS CỦA NGƯỜI S’TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC

Tái sản xuất con người là chức năng cơ bản vĩnh cửu của gia đình nhằm hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu bảo tồn phát triển nòi giống, làm cha, làm mẹ, tái sản xuất dân cư về số lượng và chất lượng cho sự phát triển xã hội Trong quá trình ấy, cộng đồng các tộc người đã hình thành và tính lũy được kho tàng phong tục tập quán, kinh nghiệm, quan niệm trong phòng chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe,… gọi là tri thức bản địa trong chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) Những tri thức này được hình thành, tích lũy và truyền qua nhiều thế hệ của các tộc người Nó không chỉ phản ánh nhận thức và

sự thích ứng của tộc người với yếu tố môi trường tự nhiên, mà còn phản ánh những mối quan hệ và tương tác xã hội Đồng thời, nó cũng thể hiện đặc trưng văn hóa của từng tộc người một cách rõ nét

Tộc người S’tiêng cũng không nằm ngoài quy luật đó, thông qua thực hiện chức năng tái sản xuất con người, cùng việc thực hành các nghi thức cũng như những kiêng

kỵ trong thời gian mang thai, sinh đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh sẽ phần nào nói lên được nhân sinh quan, thế giới quan và tri thức dân gian của cộng đồng S’tiêng đang sinh sống tại tỉnh Bình Phước29

Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay, những tri thức bản địa của các tộc người đang bị biến đổi và ngày càng mai một, đứng trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn Trong khi đó, những tri thức bản địa trong CSSK nói chung, chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) nói riêng, vẫn có giá trị rất lớn đối với quá trình phát triển của cộng đồng tộc người trong hiện tại và tương lai

Trong CSSKSS, phụ nữ là trung tâm và gặp nhiều nguy cơ biến chứng nhất khi mang thai, sinh nở, đồng thời cũng gặp nhiều rủi ro do việc mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Ca dao Việt Nam có câu “Người chửa cửa mả”, nghĩa là mỗi lần sinh đẻ là một lần người phụ nữ vượt cạn, cũng là sự nguy hiểm cận kề, thường trực Do đó, việc chăm sóc thai sản ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến sức khỏe bà mẹ, gia đình và xã hội Vì vậy, đã có rất nhiều chính sách, dự án, chương

29

Chu Phạm Minh Hằng, Tri thức dân gian của người Xtiêng trong chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh, Kỷ yếu hội thảo Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ: truyền thống và biến đổi, TP HCM tháng 1/2013, trang 136

Trang 40

trình của Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ,… ưu tiên cung cấp các dịch vụ y tế trong CSSKSS nhằm bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ

và trẻ em

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng CSSKSS, nhất là tại các vùng dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập mà nguyên nhân là do sự tác động của nhiều yếu tố Ngoài yếu tố sinh học, còn có nhiều yếu tố khác như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính sách,… tác động không nhỏ đến việc phụ nữ có thể tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏa tốt nhất Trong đó, những tri thức bản địa trong CSSKSS của chính cộng đồng dân tộc thiểu số, cũng là tác nhân tác động không nhỏ đến hiệu quả trong chăm sóc y tế ở địa phương

Nhằm tìm hiểu sự tác động của những tri thức bản địa trong CSSKSS của cộng đồng người S’tiêng, ở chương này, đề tài trình bày một số quan niệm, tập quán, kiêng

kỵ và sự biến đổi trong CSSKSS của người S’tiêng tại địa bàn nghiên cứu ở tỉnh Bình Phước Qua đó, lý giải cách ứng xử của người S’tiêng qua các hành vi, cách thực hành

và sự lựa chọn các dịch vụ y tế hiện nay trong CSSKSS Mặt khác, sự thay đổi môi trường văn hóa, kinh tế, đời sống cũng đang có những tác động làm biến đổi quan niệm và tập quán chăm sóc sức khỏe sinh sản của người S’tiêng ở tỉnh Bình Phước Vì vậy, việc làm rõ sự biến đổi từ quan niệm đến cách thức thực hành chăm sóc sức khỏe,

từ tri thức bản địa đến y học hiện đại cũng là vấn đề đề tài quan tâm tìm hiểu

2.1 Quan niệm và một số kiêng kỵ trong CSSKSS của người S’tiêng ở Bình Phước

Theo truyền thống, người S’tiêng theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thần linh có vai trò rất lớn, chi phối mọi mặt cuộc sống của họ Cách suy nghĩ, thực hành tin vào thần linh kéo dài trong suốt quá trình ứng phó, sinh tồn, rồi đúc kết ra những kinh nghiệm, trở thành những quan niệm và tập tục vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay trong cộng đồng người S’tiêng

Người S’tiêng quan niệm tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống ăn ở mặc, lao động sản xuất, quan hệ hôn nhân gia đình, tang ma,… đều gắn với thần linh Với họ, thần linh vừa là người bảo hộ vừa là người trừng phạt, vì vậy được mùa hay mất mùa, được mạnh khỏe hay bệnh tật họ đều cúng lễ tạ ơn hay cầu xin các thần linh phù hộ, xá tội

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2007), Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng của người S’tiêng ở Việt Nam (từ thế kỷ XIX đến năm 1975), NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng của người S’tiêng ở Việt Nam (từ thế kỷ XIX đến năm 1975)
Tác giả: Phan An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2007
2. Thanh Ba, Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng cao: tập tục khó “nhổ”, http://www.baoyenbai.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng cao: tập tục khó “nhổ”
Tác giả: Thanh Ba
Nhà XB: Bao Yen Bai
4. Báo Phụ nữ, 8,7 triệu USD giúp Việt Nam chăm sóc sức khỏe sinh sản, http://phunuonline.com.vn/xa-hoi/y-te/8-7-trieu-usd-giup-vn-cham-soc-suc-khoe-sinh-san/a78434.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: 8,7 triệu USD giúp Việt Nam chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nhà XB: Báo Phụ Nữ
5. Bi Trương Bi (chủ biên) (2005), Văn hóa mẫu hệ M’nông, Nxb. Sở VH- TT Dak Lak Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa mẫu hệ M’nông
Tác giả: Bi Trương Bi
Nhà XB: Nxb. Sở VH- TT Dak Lak
Năm: 2005
6. Bộ Y tế, Tổ xử lý thông tin báo chí Bộ Y tế, http://www.moh.gov.vn/news /pages/diemtinytetucacbaocao.aspx?ItemID=76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế, Tổ xử lý thông tin báo chí Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
7. Mạc Đường (chủ biên) (1985), Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, NXB. Tổng hợp Sông Bé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc ở Sông Bé
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: NXB. Tổng hợp Sông Bé
Năm: 1985
8. Chu Phạm Minh Hằng, Tri thức dân gian của người Xtiêng trong chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh, Kỷ yếu hội thảo “Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông Nam bộ: truyền thống và biến đổi”, Tp.HCM tháng 1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức dân gian của người Xtiêng trong chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh
Tác giả: Chu Phạm Minh Hằng
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo “Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông Nam bộ: truyền thống và biến đổi”
Năm: 2013
9. Trần Hồng Hạnh (2005), Tri thức địa phương – sự tiếp cận lý thuyết, Tạp chí Dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương – sự tiếp cận lý thuyết
Tác giả: Trần Hồng Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2005
10. Bế Văn Hậu (2001), “Những yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới thực trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở miền núi hiện nay (Quan nghiên cứu so sánh trường hợp hai xã Hiền Lương, Hòa Bình và Chiềng Ngàm, Sơn La)”, Tạp chí Dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới thực trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở miền núi hiện nay (Quan nghiên cứu so sánh trường hợp hai xã Hiền Lương, Hòa Bình và Chiềng Ngàm, Sơn La)
Tác giả: Bế Văn Hậu
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2001
11. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2010), “Các hành vi tìm kiếm sự chữa trị bệnh của người dân nông thôn tại miền tây Nam bộ”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành vi tìm kiếm sự chữa trị bệnh của người dân nông thôn tại miền tây Nam bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội
Năm: 2010
12. Vương Tiến Hòa (2001), Sức khỏe sinh sản, NXB. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Vương Tiến Hòa
Nhà XB: NXB. Y học
Năm: 2001
13. Nguyễn Thu Hương (2010), “Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân tộc ít người tại Việt Nam” trong Kết quả đánh giá Chính sách Chăm sóc SKSS cho người dân tộc ít người tại Việt Nam, UNFPA.http://www.gopfp.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân tộc ít người tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Nhà XB: UNFPA
Năm: 2010
14. GS.TS. Lương Văn Hy (2011), Bài giảng môn Lý thuyết nhân học cho lớp cao học Dân tộc học khóa 2010-2012, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Lý thuyết nhân học cho lớp cao học Dân tộc học khóa 2010-2012
Tác giả: GS.TS. Lương Văn Hy
Nhà XB: trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
15. Khoa Nhân học ĐHKHXH&NV Tp. HCM, Kỷ yếu hội thảo “Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông nam Bộ - Truyền thống và biển đổi”, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo “Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Đông nam Bộ - Truyền thống và biển đổi”
Tác giả: Khoa Nhân học ĐHKHXH&NV Tp. HCM
Năm: 2013
16. Đào Huy Khuê (1998), “Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và sản phụ ở một số tộc người Tây Bắc”, Tạp chí Dân tộc học, 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và sản phụ ở một số tộc người Tây Bắc
Tác giả: Đào Huy Khuê
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1998
17. Văn Ngọc Lan và Trần Đan Tâm (2005), “Mạng lưới xã hội và cơ hội thăng tiến trong đời sống dân cư đô thị” trong Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở TPHCM – Lý luận và thực tiễn, do Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh đồng chủ biên. NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng lưới xã hội và cơ hội thăng tiến trong đời sống dân cư đô thị
Tác giả: Văn Ngọc Lan, Trần Đan Tâm
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
18. Diệu Linh, 1,2 triệu phụ nữ dân tộc thiểu số nghèo sẽ được hỗ trợ, http://danviet.vn/nong-thon-moi/12-trieu-phu-nu-dan-toc-thieu-so-ngheo-se-duoc-ho-tro/2013091511401299p1c34.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1,2 triệu phụ nữ dân tộc thiểu số nghèo sẽ được hỗ trợ
Tác giả: Diệu Linh
19. Phạm Văn Lình – Võ Văn Thắng (2008), Nhân học y tế, NXB. Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học y tế
Tác giả: Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng
Nhà XB: NXB. Đại học Huế
Năm: 2008
20. Nguyễn Thị Quế Loan (2006), “Tập quán chăm sóc sản phụ, trẻ sơ sinh trong ăn uống củ người Sán Dìu ở Thái Nguyên”, Tạp chí Dân tộc học số 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán chăm sóc sản phụ, trẻ sơ sinh trong ăn uống củ người Sán Dìu ở Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Loan
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2006
21. Mark Nichter (2008), “Các quan hệ xã hội của quản lý điều trị bệnh”, Tạp chí Dân tộc học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan hệ xã hội của quản lý điều trị bệnh
Tác giả: Mark Nichter
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh cây thuốc trong CSSKSS của phụ nữ S’tiêng ở huyện Lộc Ninh - Quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ stiêng ở tỉnh bình phước báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2013
nh ảnh cây thuốc trong CSSKSS của phụ nữ S’tiêng ở huyện Lộc Ninh (Trang 56)
4.3. Hình ảnh sử dụng các dịch vụ CSSK và CSSKSS của người S’tiêng - Quan niệm và sự lựa chọn các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ stiêng ở tỉnh bình phước báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2013
4.3. Hình ảnh sử dụng các dịch vụ CSSK và CSSKSS của người S’tiêng (Trang 187)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w