Vì thế, 1 Dẫn theo http://ru.wikipedia.org/wiki/Модальность_лингвистика, “Tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa thể hiện mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn, thể hiện m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN NGA
CÔNG TRÌNH SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG – 2010
PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TÍNH TÌNH THÁI TRONG
THỨC ĐỘNG TỪ TIẾNG NGA (so sánh với tiếng Việt)
Chủ nhiệm đề tài ĐOÀN NGỌC HUẤN
SV NGÀNH NGỮ VĂN NGA KHÓA 2005 – 2010
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN NGA
CÔNG TRÌNH SINH VIÊN NGIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG – 2010
PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TÍNH TÌNH THÁI TRONG
THỨC ĐỘNG TỪ TIẾNG NGA (so sánh với tiếng Việt)
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S HUỲNH THỊ KIM THOA
Trang 3MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ PHẠM TRÙ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 7
1.1 T ÌNH THÁI TRONG LÔ - GICH VÀ TRONG NGÔN NGỮ 7
1.2 V ẤN ĐỀ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG N GA 8
1.3 C ÁC KIỂU LOẠI TÌNH THÁI 15
1.4 C ÁC PHƯƠNG TIỆN THỂ HIỆN TÌNH THÁI TRONG NGÔN NGỮ 17
1.5 V ẤN ĐỀ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG V IỆT 18
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ CÓ TÍNH HỆ THỐNG CỦA THỨC ĐỘNG TỪ TIẾNG NGA (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) 29
2.1 T HỨC – MỘT TRONG NHỮNG PHẠM TRÙ NGỮ PHÁP CƠ BẢN TRONG TIẾNG N GA 29
2.2 H IỆN TƯỢNG CHUYỂN VỊ TRONG THỨC ĐỘNG TỪ TIẾNG N GA 30
2.3 C ÁCH SỬ DỤNG THỨC TRẦN THUẬT THEO NGHĨA ĐEN VÀ NGHĨA BÓNG 33 2.4 C ÁCH SỬ DỤNG THỨC GIẢ ĐỊNH THEO NGHĨA ĐEN VÀ NGHĨA BÓNG 38
2.5 T HỨC MỆNH LỆNH THEO NGHĨA ĐEN VÀ NGHĨA BÓNG 48
KẾT LUẬN 55
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình thái đang là một trong những vấn đề có sức thu hút lớn trong ngôn ngữ học Trong những năm gần đây, tình thái nổi lên như một trong những trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học Điều này được lý giải bởi mục tiêu mở rộng đối tượng nghiên cứu trong xu hướng chung của ngôn ngữ học hiện nay, tức là các nhà nghiên cứu không những quan tâm đến mô hình ngôn ngữ học trừu tượng, tĩnh lại mà còn quan tâm cả đến ngôn ngữ trong hoạt động với tư cách là công cụ tương tác liên nhân Chính vì vậy, ngôn ngữ học ngoài sự chú trọng đến ngôn ngữ, còn quan tâm đến sự kiện lời nói, trong đó không thể không nói đến vấn đề tình thái Bởi lẽ, nếu không quan tâm đến các bình diện tình thái thì chúng ta sẽ không thể hiểu được bản chất của ngôn ngữ với tư cách
là công cụ con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội1
Tình thái vốn là một khái niệm thuộc về ngữ nghĩa của câu Có lẽ Ch Bally đã rất đúng khi nói tình thái là linh hồn của phát ngôn2 Mỗi phát ngôn đều có tình thái của nó, nếu không có tình thái trong mỗi phát ngôn thì nội dung trong mỗi phát ngôn chỉ là những mảnh nguyên liệu rời rạc Ông là người đầu tiên phân biệt trong cấu trúc của phát ngôn hai thành phần cơ bản là tình thái và ngôn liệu Tình thái là một vấn đề nghĩa học, nhưng không thể nghiên cứu vấn đề này mà không chú ý đến lý thuyết hành động ngôn từ là lý thuyết thực sự quan tâm đến quan hệ giữa người nói và những gì được nói Vì thế,
1
Dẫn theo http://ru.wikipedia.org/wiki/Модальность_(лингвистика), “Tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa thể hiện mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn, thể hiện mục đích phát ngôn, cũng như thể hiện tính xác thực của nội dung phát ngôn”
2
Dẫn theo www.new.referat.ru/bank-znanii/referat_view?oid=22693
Trang 5trong lý thuyết tình, thái ta nhấn mạnh đến lý thuyết hành động ngôn từ, tức là
lý thuyết về dụng học
Thêm vào đó, việc nghiên cứu phương thức biểu thị tình thái trong thức của động từ tiếng Nga so sánh với tiếng Việt còn liên quan tới lực ngôn trung của câu; cho nên cần phải nghiên cứu tình thái theo nghĩa rộng của phạm trù này, tức là nghiên cứu tình thái trong lĩnh vực ngữ nghĩa học và chú ý tác dụng qua lại của dụng pháp học
Lớp nghĩa tình thái này rất rộng và phức tạp Chẳng hạn như ý nghĩa khả năng hay hiện thực; phủ định hay khẳng định; mức độ xác tín, cam kết của người nói đối với sự tình được nói ra; sự đánh giá, tình cảm, thái độ, mong muốn, ý chí, ý đồ của người nói khi nói ra lời như thế nào Các yếu tố tình thái phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính thực hữu, tính tất yếu, tính khả hữu, ngoài ra còn liên quan đặc biệt đến thái độ và cách đánh giá của người nói
Vấn đề tình thái không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nhưng đào sâu, phân tích miêu tả các kiểu nghĩa tình thái đa dạng, nhất là phương thức biểu thị tính tình thái trong thức của động từ tiếng Nga so sánh với tiếng Việt sẽ đem lại nhiều điều thú vị mới mẻ Có thể nói, hiện nay vấn đề tình thái vẫn còn là một vấn đề xa lạ, khó khăn và đặc biệt hơi trừu tượng đối với không chỉ riêng người học tiếng Nga, mà còn đối với các ngôn ngữ khác nói chung Hơn nữa trong trường cũng chưa chú ý giảng dạy đến vấn đề này, trong khi đó tình thái là linh hồn của câu, quan tâm đến tình thái là quan tâm đến một vấn đề cực kỳ quan trọng của ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp
Phạm trù tình thái – đó là một trong những phạm trù khó nhất của ngôn ngữ – nhiều lần là đối tượng nghiên cứu trong các công trình của cả các nhà ngôn ngữ ở Nga lẫn nước ngoài (Адамец, 1968, 1975; Бердник, 1985; Бондарко, 1979, 1990; Виноградов, 1975; Грепл, 1978; Золотова, 1962; Колшанский, 1961; Мельчук, 1998; Немец, 1991; Панфилов, 1977; Хрычиков, 1986 v.v…) Tuy nhiên, sự phức tạp về mặt bản chất của phạm trù này; việc tồn tại trong ngôn ngữ nhiều phương tiện thể hiện tính tình thái; sự đa
Trang 6dạng về mặt ý nghĩa cũng như điểm đặc biệt trong cách thể hiện chúng trong văn bản, và cuối cùng là khả năng hiểu biết và phân tích phạm trù này trong khuôn khổ của bảng hình thái khoa học mới – ngôn ngữ học vị kỷ
(антропоцентрической лингвистики) 3 – đã làm cho việc nghiên cứu sâu hơn hiện tượng ngôn ngữ này là cần thiết và cấp bách trong thời điểm hiện tại Thiết nghĩ những vấn đề được đề cập đến trong báo cáo khoa học này –việc phân tích các phương tiện thể hiện tính tình thái, nhất là thức của động từ trong tiếng Nga, khả năng biến đổi của chúng trong ngôn cảnh, sự biểu hiện của hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp (so sánh với tiếng Việt) – là một việc rất
có ý nghĩa đối với các hoạt động giảng dạy tiếng Nga cho người nước ngoài, đặc biệt khi đối tượng giảng dạy là sinh viên Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về phạm trù tình thái, cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga, chẳng hạn như:
- PGS TS Võ Đại Quang, “Một số phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái
trong tiếng Anh và tiếng Việt”, Hà Nội, 1999
- Phạm Thị Ly, “Tiểu từ tình thái cuối câu, một trong những phương tiện
chủ yếu diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt (Đối chiếu với những phương tiện diễn đạt các ý nghĩa tương ứng trong tiếng Anh)”, T/c NN, số 13, 2002, Tr
17 – 27
- Phạm Hùng Việt, “Vấn đề tình thái với việc xem xét chức năng ngữ
nghĩa của trợ từ tiếng Việt”, T/c NN, số 2, 1994
Thuyết coi con người là trung tâm của vạn vật Dẫn theo “Một số phạm trù tình thái chủ yếu
trong ngôn ngữ”, PGS.TS Nguyễn Tấn Hiệp, Tạp chí Ngôn ngữ, 8-2007
Trang 7Nhưng có thể nói, cho tới nay vẫn chưa có tác giả nào đặt cho mình nhiệm vụ so sánh vấn đề này giữa tiếng Nga và tiếng Việt Có thể nói đây là một trong những đề tài cần thiết và nên nghiên cứu trong các chuyên khảo về ngôn ngữ học – đối chiếu giữa tiếng Nga và tiếng Việt, với tiếng Nga là ngôn ngữ nghiên cứu chủ yếu, còn tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng để đối chiếu, so sánh
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài này là phân tích một cách có hệ thống khả năng chuyển vị thức động từ tiếng Nga trong phạm vi tình thái và cách sử dụng theo nghĩa chuyển và nghĩa đen của thức động từ thể hiện tính tình thái (so sánh với tiếng Việt)
Để đạt được mục đích này có vẻ như cần thiết phải giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
1) Tìm hiểu tình trạng nghiên cứu hiện tại của phạm trù tình thái trong tiếng Nga và tiếng Việt;
2) Phân tích một cách hệ thống phạm trù tình thái trong tiếng Nga, kể cả hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp trong phạm vi tình thái như là một kết quả của hiện tượng chuyển vị;
3) Chỉ ra các dấu hiệu có tính hệ thống của các ý nghĩa tình thái (dấu hiệu ngữ điệu, từ vựng, cú pháp, ngôn cảnh);
4) Xác định những mối quan hệ tương hỗ cơ bản khi diễn đạt ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt và tiếng Nga
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp quan sát, mô tả, phân tích, so sánh, giải thích
5 Giới hạn của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là các quan hệ có tính hệ thống của các thức động
từ trong việc thể hiện ý nghĩa tình thái (so sánh với tiếng Việt), cũng như
Trang 8nghiên cứu tác động của ngôn cảnh đến việc thực hiện các ý nghĩa tình thái đó, đặc biệt là hiện tượng chuyển vị thức động từ Theo mối quan hệ hệ thống đó, chúng tôi hiểu được mối quan hệ của hiện tượng đồng nghĩa và đồng âm ngữ pháp, phát triển dưới ảnh hưởng của một số yếu tố của các dạng thức động từ thể hiện tính tình thái
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu thức động từ trong tiếng Nga, cho nên các phát ngôn chỉ xoay quanh tình thái khách quan, không đề cập đến tình thái chủ quan4
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ xem xét những trường hợp mà trong câu tính tình thái tập trung vào vị ngữ được biểu hiện bởi động từ Các trường hợp
như, «Жарко», «Тишина», «Мой брат - художник», «Мигом», «Бегом»,
«Письмо домой»…, tính tình thái được thể hiện không phải bằng các động từ
và không liên quan đến động từ thì nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của chúng tôi
6 Đóng góp mới của đề tài
Ngoài việc hệ thống lại các quan điểm về vấn đề tình thái trong nước cũng như thế giới: các khái niệm, cách phân loại, các phương tiện thể hiện tính tình thái… thì đề tài còn phân tích một cách có hệ thống việc thể hiện tính tình thái trong tiếng Nga so sánh với tiếng Việt trên cơ sở các đặc trưng của chức năng ngữ nghĩa
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lý luận của đề tài là, trước hết, cho thấy khả năng phân tích cách
sử dụng các thức động từ tiếng Nga so sánh với một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ khác; và hai là, cho thấy sự tương tác về mặt thực tiễn của tất cả các mức độ của ngôn ngữ trong việc thể hiện ý nghĩa tình thái trong tiếng Nga
Ý nghĩa thực tiễn của công trình này là các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cho những người học tiếng Nga có được một cái nhìn tổng thể
4
Hai phạm trù này sẽ được đề cập đến trong phần phân loại tình thái, phần 1.3
Trang 9và toàn diện về phương thức thể hiện tính tình thái trong thức động từ của tiếng Nga, đặc biệt là nghiên cứu chuyên sâu hơn về tiếng Nga hoặc là dịch thuật
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, hai chương chính, phần kết luận, mục lục Chương đầu tiên của đề tài tóm tắt các nghiên cứu về phạm trù chức năng – ngữ nghĩa của tính tình thái trong tiếng Nga và tiếng Việt, các phương pháp khác nhau trong việc nghiên cứu phạm trù này, và làm rõ các khái niệm liên quan
Chương thứ hai là chương dành cho việc nghiên cứu các ý nghĩa trực tiếp
và ý nghĩa chuyển của các thức động từ tiếng Nga trong mối quan hệ hệ thống của chúng; xác định và phân tích các điều kiện để thể hiện các ý nghĩa tình thái trong tiếng Nga (so sánh với tiếng Việt); nghiên cứu các phương pháp diễn đạt
ý nghĩa tình thái tương đương trong tiếng Việt
Những phát hiện và kết quả của quá trình nghiên cứu được trình bày tóm tắt trong phần kết luận
Trang 10CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ PHẠM TRÙ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG NGA
VÀ TIẾNG VIỆT
1.1 Tình thái trong lô-gich và trong ngôn ngữ
Tình thái vốn là một khái niệm của Lô-gich học Từ thời Aristotle nó đã
được các tác phẩm De L’ interpretation và Premiers analytique đề cập đến
trong phần bàn về mệnh đề tình thái và tam đoạn luận tình thái Tuy nhiên, trong hai tác phẩm trên khái niệm tình thái được xây dựng dưới góc độ lô-gich
học và gồm hai mặt chính là cái tất yếu và cái có thể có5 Ch.Bally là người đã đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ học và phân biệt rõ hai phần trong nội
dung được biểu đạt của câu là ngôn liệu (Dictum: “điều được nói ra” – là thành phần cốt lõi của câu), và tình thái (Modus: “phương thức nói” – sự bày
tỏ thái độ của người nói đối với điều được nói ra)6
Khi thực hiện một phát ngôn hay tiếp nhận một phát ngôn của người khác, chúng ta không tránh khỏi việc cân nhắc mức độ tin cậy của những phát ngôn ấy, với ý nghĩa là những thông điệp đó nói lên được bản chất của sự việc trong chừng mực nào, giá trị chân lý của nó ra sao Hay nói cách khác, khi tạo
ra một phát ngôn, một thông điệp hay văn bản, chúng ta có thể bộc lộ cách đánh giá của mình về tính chân thực hay không chân thực, tất yếu hay không tất yếu, có thể có hay không thể có… của sự kiện được nêu ra trong câu nói, và người tiếp nhận, đến lượt mình, sẽ có những phán đoán tình thái bằng cách dựa vào những tri thức của họ và những thông tin khác mà họ có được để đánh giá
và kết luận xem cái điều được nói ra đó là sự thực hay là hư cấu, là có lý hay không có lý Đó là bản chất của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ
Chúng ta đều biết rằng, “tấm bản đồ” không phải là bản thân lãnh thổ của một nước, và bản thân từ “con người” thì không thể tư duy, suy nghĩ, nói, cười hay khóc được Tuy nhiên, chúng ta thường có khuynh hướng chấp nhận “sự kiện dưới con mắt của chính chúng ta” hơn là “sự kiện dưới con mắt của người
5
Dẫn theo “Một số phương thức thể hiện tình thái trong tiếng Việt và tiếng Anh”, Phạm Thị
Ly, Luận văn tiến sĩ ngữ văn, ĐH KHXH&NV Tp HCM, 2000
6
Dẫn theo www.linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii
Trang 11khác” Giữa hiện thực và những dấu hiệu dùng để diễn đạt hiện thực đó có thể
có những mối quan hệ như: dấu hiệu là phản ánh của hiện thực cơ bản; dấu hiệu che dấu, xuyên tạc hiện thực; dấu hiệu che giấu sự vắng mặt của hiện thực; dấu hiệu không có quan hệ tất yếu với bất cứ hiện thực nào: bản thân nó thuần túy chỉ là một thứ không thật Nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng biểu tượng
xuất hiện dưới ba hình thức: vật giả mạo hay vật mô phỏng – khi có sự liên hệ
trực tiếp giữa sở năng và sở biểu; sự trình bày hay ảo ảnh – khi có sự liên hệ gián tiếp giữa sở năng và sở biểu; sự đóng vai hay giả vờ - khi năng biểu chỉ
có quan hệ với những năng biểu khác chứ không có quan hệ với bất cứ hiện thực bên ngoài nào 7 Một quan niệm như thế dĩ nhiên sẽ làm nảy sinh ra câu
hỏi: Vậy thì cái gọi là thực tế thật ra là cái gì?
Đó là những quan niệm làm nền tảng cho khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học nảy sinh trên cơ sở thừa nhận mối quan hệ da dạng giữa những phương tiện mà con người dùng để diễn dạt thế giới và bản thân cái thế giới đó trong hiện thực Có thể nói, tình thái là mối liên quan giữa giá trị của phát ngôn với thế giới khả hữu
1.2 Vấn đề tình thái trong tiếng Nga
Tình thái không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nhưng có rất nhiều ý kiến trong việc hiểu thế nào là tình thái, có bao nhiêu kiểu loại tình thái Khi ta nói
ra một câu, câu nói ấy đồng thời mang hai ý nghĩa, một là nghĩa ngôn ngữ, ngôn từ và một là chủ ý, thái độ của người nói hay là nghĩa tình thái
Khái niệm “tính tình thái” là một thuật ngữ mang tính quốc tế và cho đến
nay các nhà ngôn ngữ học vẫn không có bất kỳ một sự thống nhất nào về việc giải quyết vấn đề này Giống như В.А.Плунгян đã viết « Phần ngữ nghĩa của tính tình thái của thức động từ là một trong những phần vô cùng rộng lớn, phức tạp và rất khó để có thể làm rõ chúng»8
7
Phạm Thị Ly, “Một số phương tiện thể hiện tình thái trong tiếng Việt so sánh với tiếng
Anh”, Luận văn Tiến Sĩ, Trường ĐH KHXH&NV tp HCM, 2000
8
Плунгян, 2003, tr.308
Trang 12Бенвенест (1966) không đưa ra một định nghĩa cụ thể, nhưng có nhận xét đại ý như sau: tình thái là một phạm trù rộng lớn, khó có thể phạm trù hóa được, nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, với những kiểu mục đích phát ngôn như: hỏi, cầu khiến, trần thuật…9
Chúng ta có thể tìm thấy những đặc trưng cơ bản và toàn diện của tính tình thái trong những công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học В.В.Виноградов Trong các công trình nghiên cứu đó, ông đã vạch ra được một số các phương pháp thể hiện tính tình thái, và chỉ ra được phạm vi cũng như nội dung cụ thể của nó Và những kết quả đó cuối cùng đã được tổng hợp,
thống nhất lại trong công trình «Về phạm trù tình thái và từ tình thái trong
tiếng Nga»10 Xem xét phạm trù tính tình thái như là một phạm trù ngữ nghĩa
có đặc trưng hỗn hợp giữa từ vựng và ngữ pháp, Виноград đã đưa vào phạm trù này: 1) tất cả các ý nghĩa được thể hiện bởi dạng thức cú pháp và giải tích của các thức động từ; 2) các ý nghĩa được thể hiện bằng ngữ điệu trong các câu một thành phần không vị ngữ – theo thuật ngữ của А.А.Шахматов (1941) (trong các câu cảm thán, miêu tả, các câu thể hiện sự mong muốn, mệnh lệnh cũng như câu hỏi); 3) các ý nghĩa được thể hiện bằng những cụm từ điển hình bao gồm trong đó dạng động từ với ý nghĩa từ vựng (gần với nghĩa tình thái) cũng như dạng nguyên thể từ động từ khác; 4) các ý nghĩa được thể hiện bằng việc kết hợp dạng nguyên thể với các từ có nguồn gốc từ danh từ hoặc tính từ,
kể cả «sắc thái cảm xúc của hành động, mối quan hệ cảm xúc đối với hành động hoặc đối tượng», «loại hành động ý chí – tình cảm»; 5) các ý nghĩa được thể hiện bằng các từ và trợ từ tình thái (các từ mang ý nghĩa nhấn mạnh – hạn chế, định lượng – xác định….)
Cũng có một số nhà nghiên cứu có cách hiểu khác về khái niệm tính tình thái, coi tình thái như là một sự đối chiếu của thái độ khả hữu hay không khả hữu của các phát ngôn đối với thực tế, có nghĩa là tình thái được sử dụng để thể
Trang 13hiện mối quan hệ của chủ thể phát ngôn đối với hành động cũng như mối quan
hệ của người nói với tính xác thực của nội dung phát ngôn Quan điểm này được phát triển bởi các nhà ngôn ngữ học Г.А.Золотова (1962), М.Грепл (1978), В.З.Панфилов (1977), А.В.Бондарко (1990) và nhiều người khác Theo М Грепл11 (1978), trong khái niệm tổng hợp của mình về “tình thái
của phát ngôn”, ông đã chia ra làm 3 yếu tố: tình thái chung (hay tình thái căn bản), tình thái ý chí và tình thái xác tín 12 M.Грепл cho rằng tình thái căn bản
là đặc điểm cơ bản của mỗi phát ngôn, còn tình thái ý chí và tình thái xác tín thì không bắt buộc Đặc trưng của tình thái căn bản đó là người nói đưa ra một công thức ngữ pháp của câu khi thực hiện nó trong các phát ngôn thể hiện ý nghĩa thông báo, nghi vấn, mệnh lệnh, cầu mong Phương tiện thể hiện tình thái
căn bản đó là 4 loại phát ngôn: kể, nghi vấn, mệnh lệnh, cầu mong Tình thái
ý chí thường được xác định như mối quan hệ của người tạo hành động đối với
việc thực hiện nó: cần thiết, khả năng, ý định Tình thái xác tín là sự thể hiện
mức độ tin chắc của người nói vào ý nghĩa có thực của nội dung phát ngôn Г.A.Золотова13 cũng tán thành quan điểm về việc nên hiểu tính tình thái theo nghĩa hẹp (1962) Luận giải khái niệm tính tình thái bằng những cách chủ yếu như việc thể hiện quan hệ trên bình diện xác thực – không xác thực, khả hữu – không khả hữu, bà đã công nhận chỉ có 3 loại quan hệ cơ bản sau: 1) quan hệ của nội dung phát ngôn đối với thực tế; 2) quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn; 3) quan hệ giữa chủ thể - người phát ngôn với các dấu hiệu vị ngữ Tiếp đó bà đã phân chia thành mối quan hệ tình thái nội cú (mối quan hệ giữa chủ thể và hành động) và mối quan hệ tình thái ngoại cú (mối quan hệ giữa nội dung phát ngôn đối với thực tế và mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn) Tính tình thái nội cú được thể hiện chủ yếu bằng phương pháp từ vựng (các từ tình thái: động từ tình thái, từ chỉ trạng thái)
13
Г.А.Золотова, “О модальности предложения”, Филологические науки М., 1962 № 4
С 65-79
Trang 14Phương pháp ngữ pháp cơ bản của việc thể hiện mối quan hệ của nội dung phát ngôn đối với hiện thực (tình thái ngoại cú) là cách, còn phương pháp ngữ pháp
cơ bản của mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn (cũng như tính tình thái ngoại cú) là các từ đệm
Quan điểm tương tự như trên về phạm trù tình thái cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu của В.З.Панфилов (1977) và nhiều nhà ngôn ngữ khác
В.З.Панфилов14 (1977) đã có những cống hiến nhất định trong các nghiên cứu về phạm trù tình thái theo nghĩa hẹp, nhất là các khái niệm “tình thái khách quan” và “tình thái chủ quan”
Tình thái khách quan là dấu hiệu bắt buộc phải có đối với bất kỳ phát ngôn nào Tình thái khách quan thể hiện đặc tính của các mối quan hệ khách quan có sẵn trong tất cả các tình huống mà ở đó các hành động về nhận thức được tập trung, và mối quan hệ đó có thể xảy ra, có thật và cần thiết Tình thái khách quan thể hiện sự đánh giá mức độ nhận thức những mối liên hệ này về phía người nói, tức là nó chỉ ra mức độ xác thực của suy nghĩ thể hiện tình huống đó, kể cả những mức độ xác thực của nội dung phát ngôn
Trong phạm vi tình thái khách quan, theo В.З.Панфилов, cần phải phân
biệt được tình thái đạo nghĩa (деонтическая модальность) và tình thái nhận thức (алетическая модальность) Khác nhau giữa chúng là, trong trường hợp
tình thái nhận thức thì trong câu tập trung vào tính khả thi và tính cần thiết theo
cách nhìn của các điều kiện và các tình trạng thực tế (vật lý) (ví dụ như: Любое
тело, брошенное вверх со скоростью ниже первой космической, должно упасть на землю) Còn trong trường hợp tình thái đạo nghĩa, trong câu thể hiện
tính khả thi và tính cần thiết theo cách nhìn của các tiêu chuẩn xã hội, các quy
Trang 15Cả hai loại tình thái khách quan này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ bằng các phương tiện từ vựng và ngữ pháp Về cơ bản, các phương tiện ngữ pháp được sử dụng chủ yếu để thể hiện các biến thể nhận thức khác nhau của tình thái khách quan Chẳng hạn như, trong các ngôn ngữ sẽ phân chia ra các thức động từ - thức trần thuật, thức mệnh lệnh, thức giả định – trong đó, thức trần thuật chỉ mối quan hệ có thực, còn thức mệnh lệnh và thức giả định chỉ những mối quan hệ khả năng Còn tình thái đạo nghĩa hiếm khi được thể hiện bằng các dạng thức động từ, chỉ ở một vài ngôn ngữ - cụ thể là tiếng Nga – và nếu có thì thường được thể hiện bằng thức mệnh lệnh, cụ thể là chỉ sự cần thiết
phải thực hiện hành động, thường sử dụng các từ như: должен, необходимо
Cần phải thấy rằng, trong cùng một câu có thể sẽ xuất hiện cả tình thái
nhận thức lẫn tình thái đạo nghĩa Chẳng hạn như trong câu sau, «Он должен
был бы пойти домой в 7 часов, но не успел к этому времени закончить всю работу», tình thái nhận thức được thể hiện bằng dạng thức giả định – thể
hiện khả năng không thực hiện được hành động; còn từ должен để chỉ ý nghĩa
của tình thái đạo nghĩa
Trong khi đó tính tình thái chủ quan lại được thể hiện ở mức độ phân đoạn ngữ pháp – lô gich của câu Theo Панфилов mức độ ngữ pháp – lô gich được quy định bởi tính hoạt động của quá trình nhận thức các hiện tượng trong thực tế Tính chủ thể được thể hiện ở chỗ là người nói đánh giá mức độ xác thực của tư duy của anh ta về hiện thực
Khác với tính tình thái khách quan là thể hiện đặc tính của các mối quan
hệ trong thực tế và là bộ phận cấu thành nội dung cụ thể của câu, tính tình thái chủ quan chỉ thể hiện việc đánh giá thực tế và nó không phải là thành phần của nội dung cụ thể của câu Nó chỉ là dấu hiệu không bắt buộc của phát ngôn Phạm vi ngữ nghĩa của tính tình thái chủ quan rộng hơn phạm vi ngữ nghĩa của tính tình thái khách quan Các nghĩa của chúng rất khác nhau, trong số đó có những nghĩa không có mối quan hệ trực tiếp nào với ngữ pháp Quan niệm đánh giá phát ngôn theo nghĩa rộng, trong đó có mức độ lô-gich của phát ngôn
Trang 16được thông báo cũng như các loại phản ứng cảm xúc khác nhau, đã tạo nên cơ
sở ngữ nghĩa của tính tình thái chủ quan
И.П.Распопов15 (1973) đã đưa ra mối quan hệ tình thái dựa vào sự đối
4) Nguyện vọng và khao khát của người nói được truyền đến người khác một cách trực tiếp (thôi thúc trực tiếp) – nguyện vọng và khao khát của người nói được truyền đến người khác một cách gián tiếp (thôi thúc gián tiếp);
5) Khẳng định tính xác thực và khả năng của phát ngôn được thông báo – phủ định tính xác thực và khả năng của phát ngôn được thông báo;
6) Khẳng định hay phủ định một cách tuyệt đối tính chân thật hay khả năng của phát ngôn được thông báo – khẳng định hay phủ định một cách lấp lửng tính xác thực hay khả năng của phát ngôn được thông báo
Бондарко А.В.16 đã chia ra làm 6 nhóm nghĩa tình thái và chúng được thể hiện bằng những phương pháp khác nhau (ngữ pháp, từ vựng, ngữ điệu):
Trang 171) Đánh giá của người nói về nội dung phát ngôn theo cách nhìn tính
chân thật hay không chân thật (giả thuyết…) được thể hiện nhờ thức và thời
của động từ cũng như một vài liên từ, trợ từ và những thành tố khác của câu 2) Đánh giá được thể hiện thông qua các động từ và một số từ tình thái Cách đánh giá này có thể được gặp trong những phát ngôn ở những tình huống:
khả năng, cần thiết và mong muốn
3) Đánh giá của người nói về mức độ tin tưởng của mình vào tính xác thực của phát ngôn được thông báo, và nó được thể hiện bằng các trạng từ tình thái, từ đệm cũng như bằng các mệnh đề phụ thuộc phức hợp có các phần phụ giải thích, mà ở đó mệnh đề chính bao hàm sự đánh giá tình thái của việc được thể hiện trong phần phụ
4) Thiết lập mục đích của người nói, hay chức năng giao tiếp của phát ngôn Theo dấu hiệu này tất cả các câu được chia nhỏ ra làm: câu kể (thể hiện thông báo), câu nghi vấn (thể hiện câu hỏi), câu mệnh lệnh (thể hiện mệnh lệnh), và câu cầu mong (thể hiện mong muốn) Phương tiện thể hiện những ý
nghĩa này rất khác nhau: hình thái (thức động từ), cú pháp (cấu trúc câu), ngữ điệu (ngữ điệu, ngôn điệu)
5) Ý nghĩa khẳng định/phủ định phản ánh sự có mặt/vắng mặt của các mối
quan hệ khách quan giữa các đối tượng, dấu hiệu, sự kiện được nói đến trong câu Ý nghĩa khẳng định không được nguy trang, còn ý nghĩa phủ định được ngụy trang bằng các phương tiện ngữ pháp, cấu tạo từ và từ vựng
6) Sự đánh giá cảm xúc và chất lượng về nội dung phát ngôn được thể hiện về mặt từ vựng (so sánh: хорошо, плохо, стыд, срам, ужас), ngữ điệu
(bằng các câu cảm thán), cũng như với sự giúp đỡ của các thán từ Ngoài ra, ý nghĩa này có thể được thể hiện ở trong các câu phức phụ thuộc với phần chính
thể hiện sự đánh giá bởi các trợ từ và các đoản ngữ (к счастью, к несчастью)
Theo đó, Ông đã đi theo cách tiếp cận chức năng – ngữ nghĩa mà trước đây nhà nghiên cứu Н.Е Петров đề xuất, cách tiếp cận này có thể bao trùm được hầu như tất cả các ý nghĩa của phạm trù tình thái
Trang 18Nguyên tắc cơ bản của việc phân tích phạm trù tình thái trong công trình nghiên cứu này chính là nguyên tắc “tiếp cận chức năng – ngữ nghĩa”, nó hướng vào việc phân tích những quy luật và quy tắc hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trên cơ sở của nguyên tắc “từ chức năng đến phương tiện” Theo quan điểm của cách tiếp cận chức năng – ngữ nghĩa thì “tính tình thái là sự kết hợp của nhiều loại đơn vị chức năng – ngữ nghĩa và những mối quan hệ giữa các đơn vị đó được xây dựng trên các nguyên tắc đối lập và không đối lập”17
1.3 Các kiểu loại tình thái 18
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách phân loại khác nhau nhằm sắp xếp các kiểu tình thái vào một số phạm trù Thật ra, sự phân loại chỉ thuộc phạm vi một nhóm ý nghĩa tình thái chứ không phải là sự phân loại bao quát toàn bộ ý nghĩa tình thái được hiểu theo nghĩa rộng của phạm trù này Nguyên nhân của vấn đề này là trong ngôn ngữ, biểu hiện của tính tình thái rất đa dạng nội dung tình thái được biểu thị bằng nhiều cách, từ ngữ điệu đến trật tự từ, từ các phương tiện từ vựng đến các phương tiện ngữ pháp… Các ý nghĩa tình thái nhiều khi đan xen vào nhau và không dễ để phân thành các kiểu loại, những bình diện rõ ràng
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu những kiểu loại tình thái được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình, khá phổ biến và những kiểu loại mà khi người nghiên cứu về tình thái phải hiểu rõ, chứ không có một kiểu phân loại nào có thể bao quát hết được tất cả các ý nghĩa tình thái
1.3.1 Tình thái khách quan và tình thái chủ quan
Tình thái khách quan hay còn gọi là tình thái trong lô-gich phản ánh cái nhìn của lô-gich học về nội dung của câu Ba bình diện khả năng, tính tất yếu
và tính hiện thực là 3 tiêu chí phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm Tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực mang tính khách quan, bản thể và được coi như là một đặc trưng
17
Бондарко, 1990, tr.62
18
Theo cách phân loại trong cuốn “Một số phạm trù tình thái chủ yểu trong ngôn ngữ”,
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp, Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, Tạp chí Ngôn Ngữ, số 8-2007
Trang 19nội tại của cấu trúc chủ từ - vị từ lô-gich, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của nguời nói Người nói chỉ trình bày hiện thực như thế, như thế…như nó vốn có mà thôi Như vậy, tình thái khách quan loại trừ vai trò của người nói, có thể người nói chỉ tường thuật lại mà thôi
Tình thái chủ quan hay còn gọi là tình thái trong ngôn ngữ Đây là loại tình thái đối lập với tình thái khách quan trong lô-gich Tình thái chủ quan thể hiện vai trò của người nói đối với điều được nói ra trong câu Về cơ bản, nó cũng dựa trên những phạm trù của tình thái khách quan, nhưng ở đây người nói đưa ra những bằng chứng, suy luận có tính cá nhân, làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra (khía cạnh nhận thức) hoặc thể hiện thái độ của mình đối với một hành động được đề cập đến trong câu (khía cạnh đạo nghĩa) Tóm lại, trong tình thái chủ quan vai trò của người nói được đề cao Với tư cách là chủ thể tri nhận và đánh giá tình thái, người nói thể hiện những cam kết và đánh giá của mình theo một thang độ rất rộng Trong thực tế thường có những bước chuyển tiếp, những ranh giới không dễ xác định được giữa nhóm tình thái này với nhóm tình thái khác, từ khả năng đến tất yếu,
từ hiện thực đến phi hiện thực là một phổ liên tục những đánh giá về tình thái Trong báo cáo khoa học này chúng tôi chỉ nghiên cứu tình thái khách quan Trong tiếng Nga, phương tiện phổ biến nhất thể hiện ý nghĩa này là thức động từ; ngược lại trong tiếng Việt – ngôn ngữ được dung để so sánh – thì để thể hiện ý nghĩa này phải sử dụng các trợ từ, hư từ, thán từ kết hợp với ngôn điệu
1.3.2 Tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
Tình thái nhận thức thể hiện mức độ cam kết của cá nhân người nói đối với tính chân thực của điều được nói đến trong câu, dựa trên những bằng chứng hoặc cơ sở suy luận nào đó mà người nói có được Cách hiểu tình thái nhận thức mang tính chủ quan theo tính khả năng và tính tất yếu, dựa trên hệ thống bằng chứng và suy luận là một cách hiểu được coi là phổ biến trong giới ngôn ngữ học
Trang 20Tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện.19
1.3.3 Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn
Hiện nay, có những tác giả theo quan điểm chức năng hay quan điểm dụng học đã đưa mục đích giao tiếp vào nghiên cứu tình thái Điều này cho phép người nghiên cứu có thể miêu tả toàn diện về tình thái vốn chỉ bộc lộ đầy
đủ khi ta xét đến tình huống sử dụng Đó là tình thái của hành động phát ngôn hay tình thái của mục đích phát ngôn Loại tình thái này còn được một số nhà nghiên cứu gọi bằng tên khác: tình thái kiểu câu hay ngôn trung của câu
Một số nhà nghiên cứu cũng đã chủ trương phân biệt tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Nếu tình thái của hành động phát ngôn thuộc bình diện dụng học thì tình thái của lời phát ngôn thuộc bình diện ngữ nghĩa học Xét trong phạm vi trần thuật, có thể chia nội dung tình thái lời phát ngôn thành hai tiểu loại: tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân
1.4 Các phương tiện thể hiện tình thái trong ngôn ngữ
Tình thái có thể được chuyển tải bằng phương tiện ngôn ngữ thông qua con đường từ vựng hóa, ngữ pháp hóa và ngôn điều hóa Sản phẩm của quá trình từ vựng hóa sẽ cung cấp cho người sử dụng ngôn ngữ các từ/ngữ tình thái Ngôn ngữ đại diện cho phương thức này chính là tiếng Việt Trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ tình thái thuộc các từ loại khác nhau (tính từ, hư từ, trạng từ…), nhiều biểu thức rào đón và một hệ thống các trợ từ tình thái (cuối câu hoặc đầu câu) có thể được sử dụng như những phương tiện tình thái chuyên dụng
Tình thái được tích hợp trong các tiểu loại thức động từ như một phạm trù ngữ pháp của động từ Thức trần thuật (hay thức chỉ định) biểu thị thái độ khẳng định của người nói đối với điều được phát ngôn Thức giả định biểu hiện
19
Palmer, 1986
Trang 21sự mong muốn, sự nhận thức của người nói liên quan đến thế giới tưởng tượng hoặc khả hữu nào đó Thức mệnh lệnh thể hiện thái độ áp đặt của người nói đối với đối tác mà lời nói hướng tới Phương tiện thức động từ là dấu hiệu đặc trưng cho các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ hóa kết, biến hình, cụ thể là tiếng Nga
Trong các phương tiện ngôn điệu của ngôn ngữ thì nghĩa tình thái được truyền báo chủ yếu qua con đường ngữ điệu và thanh điệu với các tham số rõ nét nhất: là âm vực được sử dụng, độ vang và tốc độ lời nói Ngữ điệu đi xuống biểu thị sự chắc chắn của người nói về nội dung của phát ngôn Ngữ điệu đi lên biểu thị thái độ hoài nghi Ngữ điệu giáng-thăng biểu hiện sự lưỡng lự, dè dặt hay mỉa mai của người nói Ngữ điệu đi lên đột ngột diễn đạt thái độ bực bội, tức giận của người nói Độ vang cũng là một trong những tham số hữu hiệu biểu đạt nghĩa tình thái trong ngôn ngữ.20
1.5 Vấn đề tình thái trong tiếng Việt
Từ lâu, các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam đã quan tâm và nghiên cứu đến vấn đề tính tình thái, nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự phân loại nào đầy đủ về các phương pháp tình thái bởi vì vẫn chưa có một cách hiểu nào đồng nhất về nó Nói về điều này thì có rất nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan
Về nguyên nhân khách quan, một là, trong một thời gian dài tính tình thái được cho là đối tượng nghiên cứu của nhữ pháp chức năng chứ không phải là ngữ pháp truyền thống Các cuốn sách bàn về ngữ pháp tiếng Việt được viết trước và sau 1945 hầu hết đều không đề cập đến vấn đề đầy mâu thuẫn và phức tạp này Trong cuốn sách nói về ngữ pháp tiếng Việt truyền thống của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Kim Thản xuất bản năm 1958, lần đầu tiên xuất hiện khái niệm về những từ mà thể hiện mối quan hệ của người nói đối với phát ngôn
Tác giả đã xếp chúng vào một nhóm riêng biệt với tên gọi ngữ thái từ (đó là
những từ thể hiện mối quan hệ của người nói đối với phát ngôn, chẳng hạn
20
PGS.TS Võ Đại Quang, “Một số phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái trong tiếng Anh và
tiếng Việt”, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000
Trang 22như: tất nhiên (конечно), đương nhiên (безусловно), có lẽ (можеть быть),
hình như (кажется)… Dưới ảnh hưởng hưởng của ngữ pháp chức năng các
nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến vấn đề này và cũng hiểu ra rằng tính tình thái trong tiếng Việt cũng như trong tất cả các ngôn ngữ khác trên thế giới là một hiện tượng ngôn ngữ không đơn giản Tính tình thái của câu mang những đặc tính chủ quan rất khó để tiếp nhu, lĩnh hội Rất nhiều từ và trợ từ tình thái đều không có được một giới hạn ngữ nghĩa rõ ràng nào Người
ta đã đồng nhất chúng với những sắc thái ý nghĩa cảm xúc – biểu cảm, đặc biệt
là với đại từ, bởi đại từ là phần lời nói phức tạp nhất trong tiếng Việt Ngoài ra, các ý nghĩa của từ và trợ từ tình thái có những sắc thái từ vựng khác nhau: từ thứ nhất có ý nghĩa từ vựng độc lập, từ thứ hai có nghĩa tình thái chỉ khi kết hợp với cấu trúc của một câu trọn vẹn, từ thứ ba có nghĩa tình thái trong các tình huống giao tiếp mà ở đó sử dụng những cấu trúc này Việc nghiên cứu và phân biệt các ý nghĩa của chúng là một việc hoàn toàn không đơn giản Cho đến nay các nhà ngôn ngữ học Việt Nam vẫn chưa có được một sự thống nhất nào về quan điểm và cách nhìn về việc đánh giá tình thái và phạm trù tình thái trong tiếng Việt đã trở thành một trong những khía cạnh ngữ pháp phức tạp nhất
Nguyên nhân khách quan thứ hai đó là các đặc trưng về loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt Tiếng Việt nằm trong loại hình ngôn ngữ phân lập Trong ngữ pháp tiếng Viết không có các khái niệm về cách, sự biến cách và chia động
từ Các mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ được thể hiện bởi trật tự từ Do đó, phạm vi nghiên cứu tình thái trong tiếng Việt về cơ bản hoàn toàn được giới hạn trong việc nghiên cứu các từ tình thái, trợ từ, thán từ, hư từ (nói chung là các từ thuộc về phần phụ của câu)…
Nguyên nhân chủ quan đó là đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ gặp rất nhiều khó khăn khi nghiên cứu tính tình thái Đó là bởi vì các từ tình thái và trợ
từ được cho là các thành phần “động”, chúng hoạt động ở trong các phát ngôn
và phụ thuộc rất nhiều vào các ngôn cảnh, cùng một từ nhưng trong các ngôn
cảnh khác nhau thì được sử dụng khác nhau Chẳng hạn như, từ đã đứng trước
Trang 23động từ trong câu trần thuật sẽ thể hiện một hành động đã được thực hiện: Тôi
(сhị, аnh ấy) đã ăn cơm/đã uống nước = Я (вы, он) поел/попил Nhưng cùng
một từ đó nhưng nếu đặt ở cuối câu thì nó lại mang ý nghĩa mong muốn và câu
đó sẽ trở thành câu cầu khiến: Ăn cơm đã! Uống nước đã! = Ешьте! Пейте!
Do đó, phạm trù tình thái trong tiếng Việt đã trở thành một đối tượng của ngữ pháp chức năng Các nhà ngữ pháp học phân tích các tình huống có sử dụng các từ tình thái và trợ từ, sau đó họ phân loại tình huống để vạch ra ý nghĩa chung Trên cơ sở đó, các ý nghĩa của từ tình thái và trợ từ được xác định một cách rõ ràng
Rất khó để tìm thấy những từ và trợ từ tình thái tương đồng trong tiếng Nga, bởi vì tiếng Nga và tiếng Việt là hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Trong tiếng Việt vị trí của trợ từ tình thái nằm ở cuối câu là một trong những phương pháp quan trọng để có thể biến một câu bình thường thành một phát ngôn giao tiếp có hiệu quả Việc thay đổi vị trí của một từ trong câu có thể thay đổi chức
năng và ý nghĩa của nó Chúng ta xét tiếp ví dụ về ý nghĩa của từ đã, ngoài ý nghĩa trên từ đã cũng mang một sắc thái ý nghĩa bổ sung: có hai hành động, hành động này kết thúc mới có thể bắt đầu hành động khác, từ đã kết hợp với
hành động xảy ra trước để nhấn mạnh ý nghĩa xảy ra trước và kết thúc trước
của hành động này: Сậu иống nước đã rồi hãy phát biểu! = Сначала выпей, и
потом выступай! Từ Đã trong ví dụ này có liên quan đến thì hiện tại, nhưng
từ đã trong câu sau đây thì lại mang ý nghĩa tương lai và có sắc thái ý nghĩa điều kiện: “Bố sẽ mua xe máy cho con nhưng con phải thi đỗ đại học đã!” (Отец сказал сыну: «Я куплю тебе мотоцикл, но ты сдай экзамен в
институт!»)
Những ví dụ trên đây đã chỉ ra sự phức tạp về cách sử dụng của từ tình thái Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã chỉ ra 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định ý nghĩa của câu: 1) Dạng ngữ pháp của nó; 2) Dụng ý của người nói; 3) Tri giác của người đối thoại
Yếu tố đầu tiên được nhiều người nghiên cứu hơn cả, song yếu tố thứ hai
và thứ ba thường gây ra không ít khó khăn cho các nhà ngữ pháp học và vẫn
Trang 24chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Ví dụ: “Bố cô ấy về rồi đấy!” (Её
отец вернулся домой.) có thể được hiểu không chỉ như là một thông báo mà
còn coi như là một lời dọa giẫm Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể gặp những tình huống khó xử khi mà người nghe không hiểu được ý nghĩa của phát ngôn và đó chính là “sự thất bại” trong giao tiếp
Theo ý kiến của nhà ngôn ngữ Lê Đông21, trong tiếng Việt cách tiếp cận hữu hiệu nhất trong việc nghiên cứu vai trò của các từ tình thái và trợ từ là phân tích các thông tin ngữ nghĩa – chức năng bổ sung Và ông chia ra các nhóm thông tin sau:
1) Thông tin liên quan đến các tình huống giao tiếp nhất định hoặc gắn kết một câu với một câu khác Loại thông tin này liên quan chặt chẽ với khung giao
tiếp và ý định của người nói muốn ảnh hưởng, tác động đến người nghe
2) Thông tin thể hiện giả thuyết của người nói đến trạng thái và tri giác của người nghe Hay nói cách khác, các trợ từ tình thái là dấu hiệu để giải đoán sự đánh giá của người nói về khả năng và trạng thái tri giác của người nghe Sự có mặt của các trợ từ tình thái, theo ý kiến của Đỗ Hữu Châu22, sẽ ám chỉ một câu
đáp lại của người nghe tiếp ngay sau đó Ví dụ: “Cô ấy đẹp nhỉ?” (Она красивая (правда)?); “Hôm nay là thứ sáu à?” (Сегодня пятница (да)?) Các trợ từ tình thái nhỉ và à mang sắc thái ý nghĩa nghi vấn, nhưng nhỉ khác với à ở chỗ là nhỉ
có ý nghĩa muốn gợi ở người nghe sự đồng ý (người nói có cơ sở cho sự đồng ý
này); còn à có ý nghĩa chờ đợi sự đồng ý của người nghe (người nói không có đủ
cơ sở cho sự đồng ý đó nên anh ta đã sử dụng à để đồng ý)
3) Thông tin chỉ ra vai trò và địa vị xã hội của những người nói chuyện Trước khi giao tiếp, người nói phải biết về địa vị xã hội, độ tuổi của người nói chuyện cũng như biết giữa họ có mối quan hệ gì Việc phá vỡ tiêu chuẩn này có thể dẫn đến sự không thành công trong giao tiếp hay gây ra nhưng hậu quả không
mong muốn Trong số các trợ từ tình thái với ý nghĩa này thì ạ được sử dụng rộng
Trang 25rãi và phổ biến nhất, nó được sử dụng để thể hiện sự kính trọng đối với người nói chuyện, người có địa vị xã hội cao hơn
4) Thông tin định hướng sự đáp lại của người nói chuyện Sự đáp lại được định hướng đó có thể là câu trả lời (cho câu hỏi), chuẩn y hay phản đối (cho câu kể), đồng ý hay từ chối (cho câu mệnh lệnh)… Nói chung, thông tin bổ sung loại này rất đa dạng và các trợ từ tình thái cuối câu đóng vai trò rất quan trọng Người nói phải sử dụng các trợ từ tình thái cần thiết cho việc thiết lập giao tiếp đối với
sự đáp lại của người nói chuyện Ví dụ, trợ từ đây được sử dụng trong câu hỏi với
mục đích cần phải làm rõ thông tin trong câu trả lời để người hỏi có thể tiếp nhận
được lời đáp ngay lập tức: “Нôm nay ai trực nhật đây?” (Сегодня кто дежурный?); “Тhế bây giờ ông tính sao đây?” (Как ты будешь решать?) Sử dụng trợ từ đây bắt buộc người nói chuyện phải đáp lại ngay lập tức, không kéo thời gian trả lời Câu hỏi với việc sử dụng trợ từ chứ gì mong đợi sự khẳng
định, chấp thuận, thông qua của người nghe: “Tiền đem đi uống rượu hết rồi
chứ gì?”(Ты растратил все деньги на водку?) Sử dụng trợ từ chăng trong
câu hỏi mang sắc thái nghi ngờ và không bắt buộc người nghe phải trả lời:
“Мột nghìn là ít ỏi quá chăng?” (Одна тысяча (деньги) слишком мало?)
Như đã nói ở trên, trong tiếng Việt cho đến nay không có một sự phân loại nào rõ ràng và đầy đủ các phương tiện thể hiện tình thái Cho nên trong phần có tính chất tổng quan này chúng tôi sẽ thử đưa ra một cách phân loại những phương tiện tình thái đó chẳng hạn như các từ tình thái, từ tình thái vị ngữ, động từ tình thái, tính từ tình thái, trợ từ tình thái, và thán từ tình thái Cũng như trong tiếng Nga thì trong tiếng Việt cũng có các từ tình thái như
сó lẽ (может быть), hình như (вроде бы), quả nhiên (само собой разумеется), đương nhiên (естественно), thực tình (по-честному), tóm lại (короче говоря)… Những từ này được sử dụng với chức năng đi kèm theo
câu và thể hiện sự đánh giá tình thế của điều được nói đến trong câu cũng như chính phát ngôn đó
Các động từ tình thái thường thể hiện mối quan hệ của chủ thể đối với
hành động Nhóm các động từ tình thái rất ít, đó là các động từ như: тuốn
Trang 26(хотеть), định (намереваться), тơ ước (мечтать), ước vọng (стремиться), tin (верить), cho rằng (считать), уêu cầu (просить), сhuẩn bị (собираться), quyết định (решить), сó thể (мочь) Từ tương
đương của một vài động từ tình thái tiếng Việt với tiếng Nga là các trạng từ vị
ngữ như: сần (нужно), рhải (должно), пên (надо)…
Ngoài những động từ kể trên trong tiếng việt còn 2 động từ tình thái là bị
và được nhưng chúng không có từ tương đương trong tiếng Nga Bị và được về
mặt ý nghĩa là hai động từ tương phản nhau, và cả hai động từ được sử dụng trước hành động khác mà chủ thể của hành động đó nằm ở thể bị động và ở đó
bị có kết quả tiêu cực, còn được có kết quả tích cực Phân tích được chỉ ra sau
đây sẽ mang lại một cách nhìn rõ ràng hơn về hai động từ tình thái này Chẳng hạn như:
- Вị kết hợp với những động từ mang ý nghĩa tiêu cực: Nó bị ốm (Он заболел) Nhà bị dột (Дом течёт)
- Được kết hợp với những động từ mang ý nghĩa tích cực: Học sinh giỏi
được khen thưởng, (Лучших учеников поощряют); Vở kịch được hoan nghênh (Спекталь тепло приветствуют)
- Trong tiếng Việt cũng có một nhóm động từ tình thái đặc biệt mà cũng
không có các từ tương đương phù hợp trong tiếng Nga, chẳng hạn như toan, trót,
nỡ, liều, đành Các động từ này luôn luôn được sử dụng kết hợp với những động từ
khác, và để dịch chúng sang tiếng Nga cần phải có một ngữ cảnh nhất định mới có
thể diển tả được các ý nghĩa của chúng, ví dụ như toan nói, toan làm (chủ thể của
hành động чуть ли не сказал, но не говорил; сделал что-то, но не делал);
Trong tiếng Việt có một nhóm từ đã, đang, sẽ được sử dụng trước các
động từ khác với vai trò làm vị từ và biểu thị hành động được thực hiện trong
cả ba thời: đã có ý nghĩa quá khứ, đang có ý nghĩa hiện tại, và sẽ có ý nghĩa tương
lai Có nhiều tranh cãi về việc ba từ này thuộc phạm trù ngữ pháp nào Nhưng phần lớn đều cho rằng ba từ này là các trợ từ ngữ pháp được dung để chỉ ý nghĩa
thời gian hiện tại (đang), quá khứ (đã), tương lai (sẽ) Do trong tiếng Việt không
có các phạm trù thời và thể, như ở các ngôn ngữ biến hình khác, nên phần lớn
Trang 27các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, đặc biệt là Cao Xuân Hạo, đã xếp các từ này vào nhóm các từ tình thái biểu thị mối quan hệ của phát ngôn đối với hiện thực
Và sở dĩ người ta gọi chúng là các từ tình thái vị ngữ là bởi vì chúng luôn luôn
đứng trước động từ Ví dụ: Tôi đã/đang/sẽ làm bài tập (Я делал/делаю/буду
делать задание)
Từ đã + động từ cũng có thể được dùng để biểu thị hành động sẽ được kết
thúc trong tương lai Đây là một cấu trúc rất phổ biến trong tiếng Việt Dấu hiệu
có thể giúp chúng ta phân biệt với từ đã trong cấu trúc mang ý nghĩa quá khứ là trạng từ chỉ thời gian, chẳng hạn như, ngày mai (завтра), tuần sau (на
следующей неделе), hè năm sau (будущим летом) Ví dụ: Ngày mai tôi đã đi rồi Có thể dịch từng chữ sang tiếng Nga như thế này: Завтра я уже уехал Chủ
thể của hành động sử dụng từ đã ở đây với mục đích thể hiện một ý nghĩa bổ
sung là ngày mai tôi sẽ không có mặt ở đây
Từ đang cũng có thể biểu thị hành động diễn ra trong quá khứ theo mối quan hệ với hành động khác Đang + động từ dịch sang tiếng Nga sẽ là когда
+ động từ chưa hoàn thành thể thời quá khứ Ví dụ: Nó đang nghe nhạc thì
điện thoại reo (Когда он слушал музыку, телефон зазвонил)
Như vậy, trong sự phụ thuộc vào ngữ cảnh, vị từ tình thái đã nếu đứng
trước động từ, sẽ biểu thị mối quan hệ của phát ngôn đối với hiện thực cả trong
thời quá khứ lẫn thòi tương lai; còn từ đang nếu đứng trước động từ sẽ biểu thị hành động ở thời hiện tại và quá khứ Từ sẽ biểu thị hành động trong tương lai
theo mối quan hệ đối với hành động khác diễn ra trong quá khứ
Ví dụ: Аnh ấy có hẹn là sẽ về trước chủ nhật vừa rồi (Он пообещал
вернуться до прошлого воскресенья) Trong ví dụ này cả hai hành động hẹn
và sẽ về diễn ra trong quá khứ (trước chủ nhật tuần trước), cho nên chỉ có thể là
пообещал вернуться, chứ không thể là вернется
Một trong những phương tiện thể hiện tính tình thái nữa của câu trong tiếng Việt đó là sử dụng từ láy Đó là những từ đa âm tiết kết hợp với nhau do mối quan hề về mặt ngữ âm Có rất nhiều cách để cấu tạo các từ láy, nhưng noi chung đây là một hiện tượng rất phức tạp Một trong những phương pháp cấu
Trang 28tạo từ láy là cấu tạo các tính từ hai âm tiết (song tiết) theo quy tắc sau: âm tiết
đầu là các tính từ như xinh (симпатичный), tươi (обаятельный), đẹp
(красивый), mới (новый), lạnh (холодный), trắng (белый)…, còn âm tiết thứ
hai lại lặp lại âm vị đầu tiên của âm tiết thứ nhất, còn các âm còn lại là các âm
chung của một loạt các từ, chẳng hạn như: xinh xắn, tươi tắn, đẹp đẽ, mới mẻ,
trắng trẻo, lạnh lẽo Ngoài phương pháp đã kể trên, các từ láy có thể có ba âm tiết,
như хốp xồm xộp (рассыпчатый), sạch sành sanh (всё чисто); hay bốn âm tiết: tù
mà tù mù (очень неясно), hùng hùng hổ hổ (очень агрессивно) Trong việc cấu tạo
các từ láy không chỉ có việc lặp lại các âm mà còn có cả âm điệu, giọng điệu Và chúng thường đóng vai trò như là định ngữ hay trạng ngữ chỉ phương thức hành động trong câu Việc sử dụng các từ láy trong tiếng Việt thể hiện ý kiến chủ quan
của người nói đối với một vật hay đối với hành động trong phát ngôn Ví dụ: Мóп
ăn đậm đà (dịch tương đối: блюдо вкусное); ăn mặc lôi thôi lếch thếch (dịch
tương đối: одеваться непряшливо)
Trong tiếng Việt cũng có những tính từ tình thái mà trong thành phần của nó
có hai âm tiết Âm đầu tiên là tính từ khó (трудный), dễ (лёгкий), còn âm tiết thứ hai là động từ như ăn (кормитъ), ngủ (спать)… Đó là các tính từ dễ/khó ăn,
dễ/khó ngủ, ví dụ như: Đứa bé dễ/khó ăn (dịch tương đối: Ребенка легко/трудно кормить)
Đối với việc thể hiện mức độ cao nhất về các tính chất của một sự vật thường trong tiếng Việt sẽ sử dụng tính từ hai âm tiết mà ở đó âm tiết đầu tiên biểu thị tính chất, còn âm tiết thứ hai và thứ ba đồng thời mang sắc thái cảm xúc – biểu cảm và thể hiện mối quan hệ tình thái chủ quan của người nói đối với sự vật được xem xét cũng như mức độ cao nhất của dấu hiệu Đó là các từ
như nhạt phèo (очень/самый пресный), rỗng tuếch (очень/самый пустой),
đen sì/đen sì sì (очень/самый чёрный), trắng nhởn (очень/самый белый), đỏ lòm (очень/самый красный Ví dụ: Anh ta là một người rỗng tuếch (Он совершено пустой человек); Mặt sắt đen sì (жлезное чёрное лицо)
Trong tiếng Việt có một số lượng lớn các thán từ mang ý nghĩa cảm xúc,
chẳng hạn như, Ái! (Ай!), Ối! (Ой!), Ôi! (О!), Chao ôi! (Увы!), Hoài của!
Trang 29(Надо же!) Đó là những thán từ nguyên bản, tức là chúng truyền cảm xúc của
người nói cho người nghe một cách trực tiếp Ngoài ra còn có các thán từ khác
cũng thuộc nhóm này nhưng chúng có thêm sắc thái ngạc nhiên, như là Úi dà!
Úi chà! Úi giời!
Trong tiếng Việt thì trợ từ là thành phần lời nói đa dạng và phức tạp nhất
Về mặt vị trí của nó trong câu có thể phân chia làm hai loại: trờ từ đầu câu và trợ
từ cuối câu Nhưng không phải tất cả chúng đều là trợ từ tình thái
Trợ từ đầu câu đóng vai trò thiết lập mối quan hệ của người nói đối với người nghe và phổ biến nhất là trong việc hình thành đặc trưng của phát ngôn
Những trợ từ như thế hoặc có thể có ý nghĩa thông báo, tức là chúng sẽ đưa ra một vài thông tin về thông báo đó (ơ, ờ, ô, ồ, a, à, ấy, kia, nào), hoặc ý nghĩa thiết lập quan hệ với người nghe (bẩm, hử, dạ, ừ, thưa, hỡi, hả, này)
Các trợ từ cuối câu được coi là phương tiện cơ bản nhất để thể hiện tính tình thái trong tiếng Việt Tất cả các trợ từ này đều thể hiện mối quan hệ chủ quan của người nói đối với phát ngôn Qua việc sử dụng chúng, ta có thể xác định rõ độ tuổi và vị trí xã hội của người nghe, mức độ quen biết của người nghe với người nói Các trợ từ tình thái cuối câu thể hiện sắc thái tin tưởng, không tin tưởng, nghi ngờ, nghi vấn, cảnh báo, khẳng định, cấu khiến…
Dựa theo mục đích phát ngôn có thể chia làm 5 nhóm trợ từ cuối câu cơ bản sau23:
1 Các trợ từ chỉ mối quan hệ của người nói với người nghe: ạ, nhỉ, nhé, cơ
2 Các trợ từ thể hiện ý nghĩa phủ định: đâu
3 Các trợ từ chỉ ý nghĩa khẳng định: thật, đấy, đây, rồi, ấy, là
4 Các trợ từ mang ý nghĩa nghi vấn: à, hả, hẳn, chắc, chăng, chưa, không,
Trang 30Các trợ từ chỉ ý nghĩa mệnh lệnh trong tiếng Việt, về mặt ngũa nghĩa, được
sử dụng trong cặp cấu trúc mệnh lệnh tương phản sau: “hãy + động từ” thể hiện mệnh lệnh thực hiện hành động: Hãy ăn đi! Hãy ngủ đi! Hãy chơi đi! Hãy học
đi… (Кушайте! Играйте! Учитесь!), “đừng (chớ) + động từ” thể hiện mệnh
lệnh không được thực hiện hành động: Đừng ăn! Đừng ngủ! Đừng chơi! Đừng
học! (Не кушайте! Не спите! Не играйте! Не учитесь!)
Các trợ từ tình thái cuối câu cầu khiến có thể chia làm hai nhóm:
1 Các trợ từ tình thái nghe, nào, nhé, chứ, ạ, đấy, xem có thể được sử dụng kết hợp với các động từ hãy, đừng, chớ Các trợ từ thuộc nhóm này có ý nghĩa
khẳng định, nhấn mạnh lời nói của người nói Ví dụ: “Chớ đến đó một mình
nhau Ví dụ: đi, đã, chứ có thể có các cách kết hợp như sau: đi đã, đã chứ, đi
chứ Trong các các kết từ đó mỗi từ có những chức năng khác nhau và ý nghĩa
của chúng trong câu cũng được thể hiện Chúng ta có thể so sánh: - Ăn đi! (mệnh lệnh đơn); - Ăn đi chứ! (mệnh lệnh phải thực hiện hành động ngay lập tức); - Ăn
đi đã! (mệnh lệnh thực hiện hành động trước một hành động khác mà người
nghe đang muốn thực hiện); - Ăn đi đã chứ! (mệnh lệnh thực hiện hành động
ngay lập tức trước một hành động khác mà người nghe muốn thực hiện) Trong
tiếng Nga chỉ có một cách dịch duy nhất cho những câu trên: «Кушайте!» Việc
kết hợp các trợ từ tình thái thường xuyên xuất hiện ở những nhóm trợ từ mang ý nghĩa mệnh lệnh
Các trợ từ đã và rồi cũng nằm trong nhóm trợ từ tình thái Như phần lớn các trợ từ tình thái khác, chúng nằm ở vị trí cuối câu Đã thể hiện mệnh lệnh và
ám chỉ rằng hành động này cần phải được thực hiện sớm hơn hành động khác