Chúng tôi chọn nghiên cứu những từ chỉ các loại phục sức trong thơ cổ điển từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và tìm hiểu ý nghĩa thẩm mỹ của chúng trước hết vì sự thôi thúc của chính bản thân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG – 2007
PHỤC SỨC TRONG THƠ CỔ ĐIỂN TỪ NGUYỄN TRÃI ĐẾN
NGUYỄN DU (QUA DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ)
VÀ Ý NGHĨA THẨM MỸ CỦA NÓ
Chủ nhiệm đề tài:
NGUYỄN HÀ THẢO CHI - 0460262
SV Khoa Ngữ văn và Báo chí
Khóa 2004-2008
TP HỒ CHÍ MINH – 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGUYỄN HÀ THẢO CHI - 0460262
SV Khoa Ngữ văn và Báo chí
Khóa 2004 - 2008 Các thành viên:
NGUYỄN ANH DŨNG – 0460223 PHẠM THỊ THẮM - 0460148 HOÀNG THỊ THU - 0460249
TRẦN THỊ MINH THU - 0460265
SV Khoa Ngữ văn và Báo chí
Khóa 2004 - 2008 Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐOÀN LÊ GIANG
TP HỒ CHÍ MINH – 2007
Trang 3Contents
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: PHỤC SỨC TRONG THƠ VIỆT NAM 6
1.1 Sơ lược về phục sức trong xã hội Việt Nam qua các thời kỳ: 6
1.2 Vai trò của phục sức trong thơ văn 7
CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI PHỤC SỨC TRONG THƠ NÔM 9
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 9
2.1 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII 9
2.2 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX 19
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THẨM MỸ CỦA CÁC LOẠI PHỤC SỨC 44
3.1 Nhận xét về phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII 44
3.2 Nhận xét về phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX 46
3.3 Sự thay đổi trong thẩm mỹ phục sức của dân tộc từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX 49
KẾT LUẬN 51
THƯ MỤC 52
PHỤ LỤC THỐNG KÊ 54
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thơ cổ điển dân tộc là một di sản văn học vô cùng quý giá Đọc thơ cổ điển chính là tìm về những giá trị cội nguồn dân tộc, là hiểu hơn về những tâm
sự của cha ông Chúng ta sở dĩ không ít người ái ngại hay thờ ơ với những tâm
sự ấy không phải vì nó cũ kỹ, lỗi thời hay khô khan, cứng nhắc, mà là vì chúng
ta chưa có đủ trình độ để hiểu những gì cha ông viết, để “đối thoại”, đồng điệu cùng người xưa qua văn bản ngôn từ Có nhiều lý do: sự thay đổi, cách biệt về thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm thẩm mỹ; sự khác nhau về hệ thống chữ viết, sự biến nghĩa của nhiều từ, thậm chí có nhiều từ đã thành từ cổ, không còn được sử dụng ngày nay Những điều này khiến văn học trung đại nói chung, thơ cổ điển dân tộc nói riêng ngày càng xa cách với chúng ta
Để khắc phục tình trạng đó, việc giải mã những ngôn từ cổ trong thơ cổ điển là một công việc cần thiết Chúng tôi chọn nghiên cứu những từ chỉ các loại phục sức trong thơ cổ điển từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du và tìm hiểu ý nghĩa thẩm mỹ của chúng trước hết vì sự thôi thúc của chính bản thân mình trong quá trình học và đọc thơ cổ điển Đọc mà không hiểu, xem như chưa đọc
Vì thế, thực hiện đề tài này trước hết là vì chúng tôi nhận thấy vốn hiểu biết của mình về những từ chỉ các loại phục sức trong thơ cổ điển dân tộc còn nhiều chỗ trống cần được lấp đầy
Chúng tôi chọn phạm vi nghiên cứu từ thơ Nôm Nguyễn Trãi đến truyện Kiều Nguyễn Du vì đây là hai thời kỳ đỉnh cao trong thơ Trung đại Việt Nam,
và vì giữa hai thời kỳ này có sự khác biệt lớn về quan điểm thẩm mỹ nói chung, về văn hóa mặc và phục sức nói riêng Trên cơ sở đó, chúng ta có thể khái quát những nét chung, sơ lược nhất về bức tranh phục sức dân tộc ta thời Trung đại Đây cũng là một cách để hiểu hơn về đời sống vật chất, tinh thần của cha ông thuở trước qua thơ ca
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ cổ điển từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du trên các bình diện: nội dung, nghệ thuật, phong cách, thi pháp…Song song với chúng là những nỗ lực không ngừng của nhiều nhà nghiên cứu trong việc cắt nghĩa, giải mã những từ cổ, nhất là trong các bản dịch thơ của nhiều dịch giả Mỗi bản dịch đối với chúng tôi là một nguồn tài liệu vô cùng quý giá, vì chúng góp phần làm cho nghĩa của từ ngày một thêm sáng rõ Nhiều bản dịch thích nghĩa khác nhau vừa là sự thuận lợi, vừa là sự khó khăn cho chúng tôi vì nhìn tổng quát lại, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật sự hệ thống, hoàn chỉnh về các loại phục sức trong thơ cổ điển Việt Nam từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du
Về văn hóa mặc, phục sức của người Việt Nam trong thời phong kiến, chúng tôi cũng đã tìm thấy một số công trình nghiên cứu, thống kê, sưu tầm trong các sách, báo, tạp chí, trong các phòng trưng bày triển lãm, các bảo tàng lịch sử vă hóa dân tộc Những cứ liệu ấy cũng vô cùng quý giá Song, hầu hết chúng chưa được đặt trong mối tương quan, sự liên hệ với các tác phẩm văn học Việt Nam có thể hiện nội dung này Cho nên, công việc của chúng tôi xem như cũng phải quay lại từ đầu với nhiều sự mới mẻ
Ví dụ:
Để nghiên cứu các thuật ngữ chỉ phục sức trong “Cung oán ngâm khúc”,
chúng tôi so sánh các bản dịch sau:
- Bản dịch của Trần Kim Lý Thái Thuận, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2004
- Bản dịch của Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu, Nxb Văn hóa, 1959
- Bản dịch của Vân Bình Tôn Thất Lương, Tủ sách giáo khoa Tân Việt, 1950
Để nghiên cứu các thuật ngữ chỉ phục sức trong “Truyện Kiều”, chúng tôi
Trang 6- “Vương Thúy Kiều chú giải tân biên”, Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, Nxb
Hà Nội, 1941
- “Khảo luận về Kim Vn Kiều – Truyện Kiều”, Đào Duy Anh, Hà Nội, 1979
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đề tài mong muốn sẽ cung cấp cho người đọc một sự giải mã hệ thống, khoa học, đầy đủ nhất trong khả năng có thể về các từ chỉ trang phục, trang sức trong thơ cổ điển Việt Nam từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, đồng thời từ đó khái quát nên ý nghĩa thẩm mỹ của chúng Thực hiện công trình này, chúng tôi muốn góp phần đưa văn học Trung đại đến gần hơn với độc giả hiện đại
Yêu cầu đặt ra đối với chúng tôi là phải vừa đảm bảo tính chính xác, khoa học trong việc thống kê tài liệu, hình ảnh minh họa, vừa phải thể hiện được tư duy văn học, nghệ thuật trong quá trình tìm hiểu ý nghĩa thẩm mỹ của những từ
ấy Làm tốt điều này mới có thể tạo nên ý nghĩa và sức đóng góp của công trình
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của công trình là ngôn từ, là phục trang, phục sức Chúng vừa là văn hóa vật chất, vừa là văn hóa tinh thần, vừ thuộc lĩnh vực văn học, vừa thuộc lĩnh vực ăn mặc, thời trang nên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dựa trên nhiều cơ sở lý luận và áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
- Phương pháp lịch sử (Tìm hiểu nguồn gốc, ảnh hưởng)
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh (So sánh bản dịch, các tác phẩm, từ điển)
- Phương pháp đối chiếu liên ngành
Đối với mỗi thuật ngữ chúng tôi cố gắng thực hiện các bước:
Xác định khái niệm thuật ngữ
Liệt kê số lần xuất hiện
Xác định vị trí từ trong câu thơ, tác phẩm
Trang 7 Xác định nghĩa của thuật ngữ trong quan hệ đối sánh giữa các tác phẩm và bản dịch
Đối sánh với cách giải nghĩa trong các tác phẩm và từ điển
Rút ra ý nghĩa văn học và ý nghĩa thẩm mỹ, nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật qua mã là phục trang của các nhân vật
Cần phải quan niệm rằng, nghiên cứu phục sức trong thơ văn không phải là vấn đề của dân tộc học mà đây là vấn đề của mỹ học và thi pháp học Vì qua
đó có thể rút ra được những nguyên tắc thẩm mỹ của mỗi giai đoạn lịch sử (mỹ học) Đồng thời có thểhình dung một cách cụ thể, sinh động hơn về thế giới nhân vật trong tác phẩm và sự thể hiện phục sức của nhân vật có thể coi là một
mã nghệ thuật của tác phẩm
5 Ý nghĩa của công trình nghiên cứu
Trước hết công trình như một thực tập tư duy và thao tác nghiên cứu khoa học của một nhóm sinh viên yêu thích tìm tòi về văn học cổ điển dân tộc Công trình muốn góp thêm dữ liệu cho trang web về văn học - văn hóa dân tộc, có thể cho các bạn sinh viên, học sinh ở các vùng xa xôi có thể có những
tư liệu cần thiết
Công trình có ý nghĩa như một từ điển mi – ni về các loại trang phục, trang sức trong thơ cổ điển Việt Nam để những người đọc và học thơ cổ điển có thêm một công cụ hỗ trợ giúp hiểu văn bản ngôn từ một cách dễ dàng, thuận tiện hơn
Công trình mong muốn sẽ góp phần gợi mở cho nhiều công trình nghiên cứu với quy mô lớn hơn, sâu sắc hơn về những lĩnh vực của mỹ học và thi pháp học, đối tượng và phạm vi nghiên cứu rộng hơn, vì nguồn di sản thơ văn Trung đại của chúng ta vẫn là một mảnh đất tuy quen mà lạ
Trang 86 Kết cấu của công trình nghiên cứu
Chương 1: Phục sức trong thơ văn Việt Nam
1.1 Sơ lược về phục sức trong xã hội Việt Nam qua các thời kỳ
1.2 Vai trò của phục sức trong thơ văn
Chương 2: Các loại phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX
2.1 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
2.1.1 Các loại phục sức trong thơ Nôm Nguyễn Trãi 2.1.2 Các loại phục sức trong thơ Nôm Lê Thánh Tông và thơ Tao Đàn
2.1.3 Các loại phục sức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 2.2 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
2.2.1 Các loại phục sức trong “Cung Oán Ngâm Khúc”
2.2.2 Các loại phục sức trong “ Chinh Phụ Ngâm Khúc”
2.2.3 Các loại phục sức trong “Truyện Kiều”
Chương 3: Ý nghĩa thẩm mỹ các loại phục sức
3.1 Nhận xét về phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII 3.2 Nhận xét về phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
3.3 Sự thay đổi trong thẩm mỹ phục sức của dân tộc từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 9CHƯƠNG 1: PHỤC SỨC TRONG THƠ VIỆT NAM
1.1 Sơ lược về phục sức trong xã hội Việt Nam qua các thời kỳ:
1.1.1 Thời Cổ đại
Dấu ấn của văn hóa mặc, phục sức của người Việt thời Cổ đại còn lưu lại chủ yếu trong các tác phẩm dân gian như thơ ca dân gian, tranh dân gian, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ dân gian, trong các sinh hoạt lễ nghi dân gian
mà số ít còn lưu truyền đến ngày nay Trên các trống đồng, các vách hang đá còn khắc hình những nam thanh niên đóng khố, những nữ thanh niên phục sức bằng các loại lông chim trong những cảnh sinh hoạt, những vũ điệu Chúng nói lên cách ăn mặc giản dị, hài hòa với thiên nhiên của cộng đồng người Việt trong buổi đầu sơ khai Gần hơn nữa là trong những truyện cổ tích, những truyền thuyết với áo lông ngỗng của Mỵ Châu, với đôi hài xinh cô Tấm Người
con gái Việt còn hiện lên duyên dáng, giản dị trong bài ca dao “Mười thương”
Chúng góp phần phản ánh phần nào quan niệm thẩm mỹ thời ấy
1.1.2 Sơ kỳ Trung đại
Đây là thời kỳ đầu của chế độ phong kiến Việt Nam Cách phục trang, phục sức có những dấu ấn của phục sức Trung Quốc Dưới vẫn là dòng chảy của văn hóa dân gian nhưng bộ phận triều đình lúc bấy giờ với vua quan, nho sĩ, nhà sư
đã có những nét vừa hòa nhập, vừa tách khỏi quan điểm thẩm mỹ dân gian
Trên hết vẫn là sự đề cao yều tố “giản”, “đạm”
Ở thời kỳ này có hai kiểu nhân vật lý tưởng: (1) Các anh hùng võ tướng bảo
vệ đất nước; trang phục thiên về mạnh mẽ, uy nghi, (2) Các thiền sư ngộ đạo:
áo vải, túi to, lang thang hành hương và thưởng ngoạn thiên nhiên, hoặc “ở
trong cõi trần mà vui với đạo” (“Cư trần lạc đạo”) Mỹ học có thể là: giản
phác, khô đạm
1.1.3 Trung kỳ Trung đại
Vào thời kỳ đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam, ý thức dân tộc trong phục sức được thể hiện rõ nét Đặc biệt, trong thơ Nguyễn Trãi, thơ Lê Thánh
Trang 10Tông, thơ Tao Đàn xuất hiện bóng dáng của nhiều “áo tơi”, “nón lá”, “hài cỏ”,
“áo bô”… gắn với triết lý sống nhàn giật, thanh bần Đối với trang phục của
người làm quan thì vẫn phỏng theo những mẫu mực của triều đình Trung Quốc1
Cụ thể là, có hai loại y phục của hai loại nhân vật:
- Triều phục: áo gấm, cân đai, mũ mão… thể hiện quyền lực của triều đình hoặc danh lợi thế tục Nhìn chung các nhà thơ viết về trang phục này thường thể hiện: (1) Nợ công danh, cơm áo với vua, cha; (2) Coi nó là biểu hiện của danh lợi, của ràng buộc cần phải xa lánh
- Trang phục của ẩn sĩ lánh đời: áo tơi nón lá, mai, cuốc, cần câu, giày cỏ…biểu hiện của sự trong sạch thanh cao, hòa nhập với thiên nhiên, đời
thường, giống như: ngư, tiều, canh, mục Cái đẹp ở đây là : Giản phác, Mộc chuyết (mộc mạc, vụng về), Thanh đạm và Lão thực
1.1.4 Hậu kỳ Trung đại
Đây là thời kỳ chứng kiến nhiều biến động sâu sắc trong xã hội Việt Nam Trong cách ăn mặc có sự dung hòa, đan xen hai yếu tố: “bảo tồn”, “tiếp thu cái mới” Chất liệu, kiểu dáng, màu sắc bên cạnh vẻ giản đạm, mộc mạc chuyển sang phong phú, rực rỡ theo kiểu phong lưu tài hoa của những tài tử giai nhân Điểm đáng lưu ý là, bên cạnh các loại phục sức của vua quan, ẩn sĩ, nho sĩ, phục sức của phụ nữ đã được quan tâm thể hiện qua nhiều tác phẩm văn học giá trị đương thời Điều ấy thể hiện vị thế của người thị dân và người phụ nữ
1.2 Vai trò của phục sức trong thơ văn
1.2.1 Phục sức là danh từ ghép chỉ chung các loại trang phục và trang sức
Phục sức có vai trò làm sinh động thêm cho nhân vật được miêu tả Qua phục sức có thể hiểu được về xuất thân, vị thế xã hội, về cách sống của nhân vật Nếu như việc đọc tác phẩm có ý nghĩa như một cuộc đối thoại giữa người đọc với nhân vật thì phục sức của nhân vật có ý nghĩa lớn trong cái nhìn, sự đánh
1
“Y quan Đường chế độ
Văn võ Hán quân thần”
(Phùng Khắc Khoan)
Trang 11giá đầu tiên của chúng ta đối với nhân vật ấy Chân dung nhân vật, vì thế, trở nên rõ ràng, sinh động hơn
1.2.2 Nhìn rộng hơn, thông qua chi tiết về các loại phục sức trong thơ văn,
người đọc tìm thấy quan điểm thẩm mỹ của nhà văn, của thời đại mà nó phản ánh Sự khác biệt về kiểu dáng, chất liệu, màu sắc qua các thời kỳ nói lên sự thay đổi trong cái nhìn, cách nhìn, trong tư duy thẩm mỹ dân tộc Với ý nghĩa này, một phần bức tranh văn hóa dân tộc được hé mở thông qua sự thể hiện các loại phục sức trong thơ văn
Trang 12CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI PHỤC SỨC TRONG THƠ NÔM
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
2.1 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
2.1.1 Các loại phục sức trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Thơ Nôm là bộ phận mang tính dân tộc sâu sắc nhất trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Trãi, cũng là một trong những bộ phận tiêu biểu nhất cho thơ cổ điển Việt Nam Trung kỳ Trung đại, giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
Do đó, chúng tôi chọn thơ Nôm Nguyễn Trãi là một trong những đối tượng để khảo sát, nghiên cứu về các loại phục sức Việt Nam trong giai đoạn này Liên quan đến phục sức trong thơ Nôm Nguyễn Trãi có các loại sau đây:
2.1.1.1 Áo
2.1.1.1.1 Áo lê thê
Ngòi cạn nước ở làm cân cấn
Cửa quyền biếng mặc áo lê thê
(Tự Thán 39)
Áo lê thê : áo dài lê thê, đây là áo của quan chức
Ý: cuộc sống điền viên bình dị làm cho tác giả không còn muốn mặc áo quan hay làm quan nữa
2.1.1.1.2 Áo bô, áo bô cằn
Ngủ thì nằm, đói lại ăn
Việc vàn ai hỏi áo bô cằn
(Tự Thán 40)
Áo bô cằn: “bô” là vải do chữ “bố”, chỉ loại vải thô “Cằn” do chữ “cộc”
trong “cộc cằn” chỉ áo cộc Cộc cằn còn chỉ sự lỗ mãn, thô lỗ… “Áo bô cằn” là
loại áo ngắn vải thô xấu xí
Ý: ai thèm hỏi chuyện, hỏi việc này việc nọ đối với kẻ mặc áo vải thô mạt hạng
Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh
Trang 13Áo bô quen cật vận xênh xang
(Tức Sự 4)
Áo bô: áo có loại vải thô xấu
Ý: câu thơ thể hiện cuộc sống bình dị của tác giả
2.1.1.1.3 Áo sen
Chốn ở trách căn lều lá
Mùa qua chằm bức áo sen
(Tức Sự 2)
Áo sen: do tiếng Hán là “hà y” (áo bằng lá sen), chỉ áo người ẩn dật
Ý: qua mùa hạ sang mùa thu, lấy lá sen để chằm làm áo Câu thơ thể hiện cuộc sống bình dị của tác giả
2.1.1.1.4 Áo đơn, áo lẻ
Đông hiềm gió lạnh chằm mền kép
Hạ lệ mồ hôi kết áo đơn
(Bảo kính cảnh giới 7)
Áo đơn: áo lẻ không thành bộ Áo đơn là một áo, áo mỏng, áo một lớp
Câu trên ý là: Mùa đông thì sợ gió lạnh nên phải chằm mền dày nhiều lớp Mùa
hè sợ mồ hôi ra nên may áo mỏng
Ý: mong muốn một cuộc sống bình dị mà ta chẳng phải lo toan suy nghĩ
Ngoài ấy dầu còn áo lẻ
Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng
( Tức cảnh thi 10)
Áo lẻ : áo lẻ loi đơn chiếc không vào bộ
Ý: tác giả muốn nhắn gửi là nếu trong nhà còn áo lẻ thừa ra thì nên rộng lòng cho kẻ tôi tớ mượn để đắp lấy hơi
2.1.1.1.5 Các loại áo nói chung
Bữa ăn dầu có dưa muối
Trang 14Áo mặc nài chi gấm là
( Ngôn Chí 3)
Ý: cuộc sống đạm bạc thanh bình, tác giả chẳng màng chi quyền quý cao sang
Giũ bao nhiêu bụi bụi lầm
Giơ tay áo đến tùng lâm
( Ngôn Chí 4)
Ý: tác giả muốn giũ sạch hết những vướng bận quan trường để về cuộc sống ẩn dật thanh bình
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời áo cha
( Ngôn Chí 7)
Ý: lòng trung hiếu của tác giả, lúc no cũng lo lắng cho đất nước với muôn dân
Cơm kẻ bất nhân, ăn, ấy chớ
Áo người vô nghĩa, mặc, chăng thôi
Ý: cơm của kẻ bất nhân ta chớ có ăn, áo người vô nghĩa ta chẳng mặc thì hơn
Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn ( Thuật Hứng 15)
Ý: cuộc sống ẩn dật tuy đạm bạc nhưng khí chất con người rất thanh cao, sống gần gũi với thiên nhiên
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
(Thuật Hứng 22)
Ý: cuộc sống bình dị giản đơn, tác giả chẳng màng đến quyền quý, danh vọng, của cải
Áo dành một tấm cơm hai bữa
Phận ấy nhưng ta đã có thừa
Trang 15(Tự Thán 20)
Ý: cuộc sống bình dị đạm bạc nhưng với tác giả như vậy là quá đủ
Mấy thu áo khách nhuốm hơi dầm
Bén phải đông hoa bụi bụi xâm
(Tự Thuật 8)
Cơm ăn miễn có dầu xoa bạc
Áo mặc âu chi quản cũ đen
(Bảo kính cảnh giới 13)
Ý: cuộc sống đạm bạc yên bình như vậy là quá đủ, tác giả chẳng đòi hỏi quyền quý cao sang
Chân tay dẫu đứt bề khôn nối
Xống áo chăng còn mô dễ xin
(Bảo kính cảnh giớí 15)
Ý: tục ngữ có câu: “vợ chồng áo mặc đổi ngay tức thì” - đạo vợ chồng
phải giữ gìn không thể mỗi chốc đổi thay ty tiện
Say rượu no cơm cùng ấm áo
Trên đời chỉn ấy khách là tiên
(Bảo kính cảnh giới 59)
Ý: cuộc đời những cái ta tưởng tầm thường nhưng sự thật những cái tầm
thường lại rất quý (“là tiên”)
Áo mặc miễn là cho ấm cật
Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon
(Huấn nam tử)
Ý: tác giả mong muốn cuộc sống bình dị là quá đủ, chẳng kén chọn, mơ tưởng phù du
Viện xuân đầm ấm nắng sơ dồi
Áo tới hong hong thuở mặc thôi
Ý: ví cái bẹ ngoài của cây mía màu hung hung như áo tế mặc đã thôi màu
Trang 162.1.1.2 Quần hồng
Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ
Rỡ tư mùa một thức xuân
(Trường An hoa)
Quần hồng: loại quần màu đỏ mà các cô gái ngày xưa thường mặc
Ý: Trường An đẹp như một mỹ nhân, cả bốn mùa rực rỡ như xuân
2.1.1.3 Khăn, khăn gốc
Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ
Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh
(Mạn thuật 9)
Khăn Đỗ Phủ: là mũ của Đỗ Phủ Thơ Đỗ Phủ có câu “Nho quan đa ngộ
thân” - mũ nhà Nho làm hại đến thân mình
Ý: muốn một cuộc sống bình dị như Đỗ Phủ, Đào Uyên Minh, không vướng bận việc quan trường
Miệt bả hài gai khăn gốc
Xênh sang làm mỗ đứa thôn nhân ( Mạn thuật11)
Khăn gốc : Gốc là sợi tơ gốc Khi kéo tén tằm, sơi tơ mịn ở ngoài kéo hết
rồi thì còn tơ xấu, cứng bên trong gọi là tơ gốc, nó xơ cứng chứ không mềm mại như tơ bình thường Khăn gốc cũng mang ý nghĩa như vậy
“Gốc” còn có nghĩa chỉ loại tơ sợi thô xấu như bã
Hái cúc ươm lan, hương bén áo
Tìm mai đạp ngyệt tuyết xâm khăn
Trang 17Ý: quần là áo lượt, ngựa xe dập dìu, tấp nập; cuộc sống phù hoa ấy chỉ là giấc chiêm bao
La ỷ dập dìu hàng chợ hợp
Cửa nhà bịn rịn tổ ong tàn (Thuật hứng 10)
Ý: quần là áo lượt tấp nập như bày hàng buôn bán ở chợ
La ỷ lấy đâu chăng lưới thước
Hùng ngư khôn kiếm phải chăng thèm (Thuật hứng 23)
Gấm: vải đẹp, thêu dệt tinh xảo, nhiều màu sắc, hoa văn
Bữa ăn dầu có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
(Ngôn chí 3)
Ý: tác giả không tham quyền quý, cao sang
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
(Thuật hứng 22)
Ý: tác giả không màng quyền quý cao sang, thích cuộc sống đạm bạc, bình dị
2.1.1.5 Đai lân, phù hổ
Đai lân phù hổ lòng chăng ước
Bến trúc đường thông cảnh cực thanh (Tức sự 1)
Đai lân : cái thắt lưng của các quan có thêu hình con kỳ lân
Phù hổ : cái phù hiệu khắc hình con hổ, thể hiện quyền uy của một ông
tướng
Ý: lòng tác giả chẳng ước làm quan tướng văn hay tướng võ mà chỉ mong một cuộc sống thanh nhàn
2.1.1.6 Hài gai, hài cổ
Miệt bả hài gai khăn gốc
Xênh xang làm mỗ đứa thôn nhân
Trang 18(Mạn thuật 11)
Hài gai: giày bằng sợi gai
Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh
o bô quen cật vận xênh xang
Hài cỏ: là đôi hài bện bằng cỏ
2.1.2 Các loại phục sức trong thơ Nôm Lê Thánh Tông và thơ Tao Đàn
2.1.2.1 Áo vàng
Mựa biểu áo vàng chăng có việc
Đã muôn sự nhiệm trước vào tâu
(Tự thuật)
Áo vàng : là áo hoàng bào của nhà vua
Ý: khi nhà có việc cần hỏi ta đã trù tính mọi việc trước lúc vào tâu
2.1.2.2 Áo sồi
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêng thăm thẳm một mình ngồi
(Vịnh con cóc)
Áo sồi: là hàng dệt bằng tơ ươm không đều nên mặt vải sù sì
2.1.2.3 Áo Hán vương
Áo Hán vương bình sáu nước
Cơm Phiếu Mẫu trả nghìn vàng
(Vịnh Hàn Tín)
Áo Hán vương: áo của vua Hán
Ý: được vua tin, yêu quý
Đền rồng tấc thước mấy lần mây
Tay áo năm canh nước mắt đầy
(Vương Tường “Chiêu Quân” thất sủng)
Trang 192.1.2.4 Áo, bào
Áo: áo nàng Chiêu Quân mặc
Ý: nỗi đau khổ của nàng Chiêu Quân
Gương đã lạnh lùng mờ cẩm trướng
Châu còn thánh thót quẹn lá bào (xiêm áo)
(Vương Tường tự vẫn)
Xiêm áo: xiêm y của các cung nữ, người đẹp
Ý: thể hiện sự đau khổ tuyệt vọng của nàng Chiêu Quân
2.1.2.5 Áo tơi
Buồm chiếu phau phau thuyền chở nguyệt
Áo tơi sù sụ khách ngồi câu
(Giang thiên mộ tuyết)
Áo tơi: áo lá
Ý: cuộc sống thanh bình, mộc mạc, hòa mình cùng thiên nhiên
Nữa tấm áo tơi che lủn củn
Một cần câu trúc uốn khom khom
(Họa bài người kiếm cá)
2.1.2.6 Áo lục
Lòng son chờ chúa niềm chăng trễ
Áo lục truyền nhà, lộc có thừa
(Qua )
Áo lục: là áo màu xanh
Áo đã tương xanh, tương thức lục
Đầu chăng đội bạc, đội hoa vàng
(Giới)
Ý: tả màu xanh lá rau cải
Tay áo phất phơ thuở gió
Mồ hôi lả chả khi mưa
Trang 20(Cảo nhân)
Manh áo quàng, mang lụp xụp
Quai chèo xách, đứng lom khom
(Vịnh người kiếm cá) 2.1.2.7 Áo đan
Ví canh thì cũng chửa nên tan
Sẽ thức vì chưng xống áo đan
(Đông dạ tảo khởi)
Áo đan: áo đơn là một áo, áo mỏng, áo một lớp
2.1.2.8 Quần hồng
Lại thương phận bạc lụy quần hồng
Sầu xuân chẳng quản hoa gầy guộc
(Vương tường tự thán)
Quần hồng: Xem trang 13
Ý: tác giả thông cảm nỗi khốn khổ, bạc phận thường hay đến với người phụ nữ
Tám bức quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc đứng song song
(Cây đánh đu)
Ý: mô tả cảnh chơi đánh đu của các thiếu nữ
2.1.2.9 Phiến ngọc
Làu làu phiến ngọc, lịch Nghiêu phân
Cao vòi vọi ngôi hoàng cực
(Tết nguyên đán) 2.1.2.10 Đai :
Lưng hằng đai thắt mưa nhuần gội
Đầu đã tàn che nắng chẳng vào
Đai: thắt lưng
Thắt lưng đội nón thuở qua ưa
Trang 21Nhà chúa truyền cho giữ ruộng dưa
(Cảo nhân) 2.1.2.11 Nón
Gió ngàn xanh xoay nón lệch
Mưa núi lục, cúi lưng khom
(Vịnh người đi cày)
Nón: cái mũ đội đầu
Thắt lưng đội nón thuở qua ưa
Nhà chúa truyền cho giữ ruộng dưa
(Cảo nhân) 2.1.2.12 Văn quan
Đầu đội văn quan cao mấy tấc
Chân giương vũ cựa nhọn mười phân
(Kê)
Văn quan: mũ quan văn
2.1.3 Phục sức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
2.1.3.1 Áo sô
Đắp áo sô to lạnh kẻo chiên
(Bài 19)
Áo sô: loại áo làm bằng vải thô
“Áo sô” ở đây là thuật ngữ dùng để phân biệt với các thuật ngữ “áo gấm,
áo thêu” Đây là trang phục giản dị, đặc trưng của người sống trong cảnh thanh
nhàn, ẩn dật, một cuộc sống gần gũi nhân dân, làng quê, thiên nhiên; không bon chen, vụ lợi chốn quan trường
2.1.3.2 Gấm thêu
Áo mặc nài chi gấm thêu
(Bài 67)
Trang 22Gấm thêu là thứ hàng dệt bằng tơ tằm, đẹp và quý, nhiều màu sắc, thường
thêu nhiều hoạ tiết đẹp như hoa (theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 1999)
Gấm thêu được dùng trong bài thơ với ý nghĩa người ẩn sĩ cứ sống một
cuộc sống vắng vẻ, tịch mịch giữa cảnh vắng vẻ, tịch mịch; cứ sống một cuộc sống vui thú đồng quê an nhàn, thanh tịnh, không màng đến những thứ danh lợi phồn hoa, một cuộc sống cứ thuận theo đất trời, thuận theo tự nhiên mà sống ắt
sẽ được thanh thản, nhàn nhã trong tâm hồn
2.2 Phục sức trong thơ Nôm từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
2.2.1 Các loại phục sức trong “Cung oán ngâm khúc”
2.2.1.1 Áo vũ, vũ y, mảnh xuân y
Câu 2:
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Vũ y: áo làm bằng lông chim ngũ sắc dùng để múa cho đẹp Đêm trung thu
vua Đường Minh Hoàng được đạo sĩ La Công Viên đưa lên cung trăng Tại đây vua thấy những người múa hát mặc một loại áo lông chim có nhiều màu sặc sỡ Khi trở về dương thế, vua sai người may một “kiểu áo vũ y” giống hệt
áo của tiên, có ý tưởng tượng như các nàng tiên trên cung trăng múa khúc Nghê Thường
Ý: tác giả muốn ví cung nữ với Hằng Nga Ả Hằng trốn chồng sống lạnh lùng nơi cung quế, như cung nữ bị vua chán bỏ nơi vách quế sống cô đơn Câu 142:
Áo vũ kia lấp lánh cung trăng
Áo vũ: giống như “vũ y”, tức là áo làm bằng lông chim dùng để múa cho
Trang 23Mảnh xuân y: tức là mặc áo mùa xuân, áo đẹp Cung phi khi tiếp vua phải
mặc áo đẹp
Ý: chỉ việc vua cùng cung phi ân ái lần đầu
2.2.1.2 Xiêm nghê, Nghê thường
Câu 141:
Xiêm: miếng vải che phía trước quần hay váy ngày xưa Cả nam và nữ đều
dùng: “Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi công hầu mà chi”
Nghê: năm màu sắc mà mắt thường nhìn thấy được nơi cầu vồng
Câu 27 :
Dẫu mà miệng hát tay dang
Thiên tiên cũng ngảnh nghê thường trong trăng
2.2.1.3 Áo tàn
Câu 171, 172:
Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra
Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn
Áo: mượn ý câu thơ của Mạnh Trì Nhi đời Đường “Do hữu tàn hương tại
vũ y” tức “Còn hương tàn trên áo múa”
Ý: người cung nữ bị bỏ quên lâu ngày không dùng đến hương, áo cũ, thân hình tàn tạ
2.2.1.4 Dải đồng
Câu 216:
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa dải đồng xẻ đôi
Theo bản dịch của Trần Kim Lý Thái Thuận (Nxb Văn hóa Dân tộc, 2004,
trang 91): Dải đồng là cái dải lụa có hai mối thắt, đó là cái mối yêu thương của con người
Theo bản dịch của Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu (Nxb Văn hóa,
1959, 142 trang): Dải đồng dịch từ chữ “Đồng tâm đai” hay “Đồng tâm kết”
Trang 24là hai dải lụa tết thành một múi treo trong phòng ngủ tượng trưng cho tình vợ chồng
Theo bản dịch của Vân Bình Tôn Thất Lương của Tủ sách giáo khoa Tân
Việt (1950, trang 91) lại chú thích hơi khác hai bản dịch trên: dải đồng là dải thắt lưng có hai mối thắt lại ở giữa roan bằng gấm thêu Vật ấy xưa vua Tùy Dương Đế đã tự niêm phong gửi cho bà phu nhân được để yêu: “Đồng tâm kết mối buộc đồng lòng” (sđd 62)
Ý: Cung phi thấy mình lẻ loi giống như dải đồng tâm bị xé đôi ra
2.2.1.5 Thoa
Câu 326:
Khách quần thoa chớ để lạnh lùng
Thoa: cái trâm cài tóc của người phụ nữ
Theo Vân Bình Tôn Thất Lương, Tủ sách giáo khoa Tân Việt thì “thoa” là
cái trâm cài tóc có hai nhánh bằng vàng, đây là phục sức của người phụ nữ
Theo Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu thì “quần thoa” là nói tắt của
“bố quần kinh thoa”, trong đó:
Quần: làm bằng vải thô
Thoa: cái trâm cài đầu bằng gai
Điển tích xưa có chép nàng Mạnh Quang là vợ Lương Hồng, vốn tính hà tiện nên nàng lấy gai làm trâm cài tóc, quần áo mặc chỉ làm bằng vải thô
Ý: câu thơ nói về người vợ hiền
2.2.1.6 Cân trất, khăn
Câu 183:
Gẫm như cân trất duyên này
Cân trất: là khăn lược của người phụ nữ, tiêu biểu cho việc người vợ chăm
sóc và phục vụ chồng Trong “Tả truyện” có chép lời bà Đinh Khương:
Dư dĩ cân trất sự liên quan
(Ta từng cầm cái khăn lược hầu hạ đấng tiên quân)
Ý: người cung nữ nghĩ đến số phận hẩm hiu của mình
Câu 184:
Trang 25Cam công đặt cái khăn này tắc cơ
Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì “khăn” là vải hàng để chít đội đầu, khăn bịt
đầu, khăn tay, khăn cổ, khăn mỏ quạ, khăn đan chít xéo nhọn… hay vải dùng
để lau chùi cho sạch, khăn bàn, khăn mặt…
“Đặt cái khăn”: bởi chữ thiết thuế Kinh Lễ chép khi sinh con gái thì đặt
khăn bên hữu cửa phòng sinh, để tỏ ra việc khăn lược là con gái
Ý: Người cô phụ nhìn kỉ vật nhớ chồng tha thiết
2.2.1.7.Phấn, son
Câu 235:
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai
Nguyên tác “Lang quân khứ hề thùy vị dong”, câu thơ lấy ý trong Kinh Thi
“Tự bá chi đông, thủ như phi bồng, khởi vô cao mộc thùy thích vi dung” tức là
“từ lúc nào chàng đi phương Đông, đầu thiếp bù xù như cỏ bồng.” Há lại
không tắm, không gội đầu, nhưng làm đẹp cho ai?
Ý: Tâm lý của người phụ nữ yêu chồng
Cảnh hoa lạc minh nguyệt dường ấy
Cửa hoàng hôn như cháy tấm son
Câu 268:
Dè chừng nghĩ tiếng tiểu đòi
Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo
Câu 290:
Ngọn tâm hỏa đốt rầu nét liễu
Giọt hồng băng thấm ráo làm son
Câu 297:
Huống chi cũng lạm phần son phấn
Luống năm năm chực phận buồng không
Trang 26Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ
Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh
Bội hoàn: vòng xuyến
Trong “Cung oán ngâm” (Ôn Như Hầu – Vân Bình Tôn Thất Lương) chú
thích thì “bội hoàn” là các thứ ngọc chạm hình vẽ lắm thức của đàn bà sang
quý đeo hai bên hạ thể, khi bước nghe kêu leng keng thêm vẻ đẹp
Trong “Cung oán ngâm” (Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu chú thích)
thì “bội hoàn” là đồ trang sức bằng ngọc quý giá, phụ nữ đeo cho thêm vẻ đẹp,
khi đi lại kêu leng leng, tỏ ra đi đứng đường hoàng, nhịp nhàng
Còn trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cũng dùng một từ khác để chỉ bội
hoàn là “Ngọc bội” “Ngọc bội” là đồ đeo bằng ngọc, phụ nữ đeo làm tăng thêm vẻ đẹp đồng thời khi đi nghe tiếng leng keng Người phụ nữ có đeo ngọc bội thì đó là người đường hoàng, cao quý, sang trọng
2.2.1.9 Xạ
Câu 134:
Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ
Xạ: là chất thơm trong bìu dưới bụng vài loại thú
Xạ giống như con hươu có hai cái nanh dài, người săn nó nghe mùi thơm ngoài mười dặm Xưa dùng hương ấp ướp áo, nệm, mền và làm thuốc
2.2.1.10 Gương loan
Câu 216:
Gương loan bẻ nửa, dải đồng sẻ đôi
Trang 27Gương loan :Theo Duy uyển: Kế Tân Vương có một con chim loan ba năm
không biết kêu Phu nhân nói: Chim loan khi thấy bóng thì kêu bèn treo tấm gương soi vào nó Thấy bóng chim tưởng bạn cất tiếng kêu nhưng không thấy cuối cùng lăn ra chết Chim loan sống lúc nào cũng có đôi lứa, khi không còn nữa thì chết Đây chỉ sự gắn bó vợ chồng
“Gương loan” là cái gương soi mặt, chạm hình chim loan ở phía sau, hoặc
cái giá gương chạm hình chim loan
“Gương loan bẻ nửa” cho biết chủ nhân đang sống cô đơn, không có chồng
bên cạnh (cái gương cho hai người sử dụng, nay chỉ còn một mình cung nữ ngồi, vì vậy cảm thấy cái gương bị bẻ ra)
2.2.1.11 Gối loan
Câu 224:
Gối loan tuyết đóng chăn cù giá đông
Gối loan : gối thêu hình chim loan, ý dùng nói nhớ lứa đôi
Đệm hồng thúy thơm tho mùi xa
Đệm hồng thúy: đệm nhồi bằng lông chim hồng (hạc) và lông chim thúy
(chim trả), ý nói đệm quý giá, vua chúa mới có
Trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị: “Phỉ thúy khâm hàn thùy dữ cong,
Thùy dung trướng noãn độ xuân tiêu”=> “Khi rét cùng ai chung chăn phỉ thúy, qua đêm xuân ấm trong màn phù dung”
Trong Tây sương kí:
Chén quỳnh sóng sánh hồng nhan
Sẵn chăn phỉ thúy sẵn màn phù dung
2.2.1.14 Gấm nàng Ban, Cẩm tú
Câu 12:
Trang 28Gấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung
Bản dịch của Trần Kim Lý Thái Thuận:
“Nàng Ban” : Ban Chiêu được vua Thành Đế nhà Hán phong chức Tiệp
Dư và được vua yêu quý Khi bị nàng Triệu Phi Yến gièm, bà sợ, bèn xin vua cho vào hầu Thái Hậu ở cung Thường Tín Từ khi bà về cung này thì sự sủng
ái của vua ngày một phai dần Vì vậy, bà đề một bài thơ trên cái quạt tròn làm bằng một thứ lụa trắng, gọi là “Tề hoàn” (lụa nước Tề) do bà dệt ra và chế thành cái quạt tròn để tự ví thân phận mình Bài thơ nói rằng: “Cái quạt này từng được nhà vua yêu chuộng lúc trời nóng nực; nhưng khi trời thu cướp mất cơn gió nhẹ của cây quạt thì cây quạt bị ném vào xó rương; thế là ân tình phải đoạn tuyệt” Ở đây tác giả dùng chữ “gấm” để khỏi phải dùng chữ “Tề hoàn”, nghĩa là đáng lẽ dùng chữ “lụa nàng Ban” hay “quạt nàng Ban” thì tác giả đã dùng chữ “gấm nàng Ban”
Bản dịch của Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu:
Bản dịch này đưa ra 2 hướng khảo dị khác nhau về khái niệm này:
Bản chữ Nôm trong tập “Danh gia quốc âm” của Nguyễn Đức Nhuận vào năm Thành Thái Nhâm Dần (1902) - bản tương đối cổ nhất - dịch là: “Gẫm
nàng Ban” có nghĩa là Gẫm (động từ) xem nhan sắc nàng Ban không đẹp bằng
cung phi Quan điểm của Trần Kim Lý Thái Thuận: “dùng chữ Gẫm (động từ) sát nghĩa hơn Gấm (danh từ) vì nàng Ban không dệt ra gấm Hơn nữa, Gấm
không sát nghĩa với “thu dung” (dung nhan, phong cảnh mùa thu) Nguyên câu này là: “Gẫm nàng Ban đã lạt mùi thu dung”
Bốn câu tiếp theo của: (1) Thư viện trường Bác cổ; (2) Tôn Thất Lương chú thích (1950); (3) Lê Văn Hoè chú thích (1954);(4) Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Vũ Đình Liên chú thích(1957) đều chép là “Gấm nàng Ban”, có ý nói sắc đẹp của cung phi át hẳn sắc lộng lẫy của gấm nàng Ban, làm cho gấm nàng ban phải nhạt màu
Trang 29Về sự việc nàng Ban và bài thơ “Oán hành ca” đề trên cái quạt tròn để tự ví
thân phận mình như chiếc quạt về mùa thu, bản dịch này giải thích giống như bản dịch của Trần Kim Lý Thái Thuận
Bản dịch của Vân Bình Tôn Thất Lương:
“Gấm nàng Ban” : dùng điển nàng Ban Tiệp Dư là một cung nhân của vua
Thành Đế nhà Hán, được vua yêu lắm Sau khi bị nàng Triệu Phi Yến gièm, bà
sợ nguy thân, bèn xin vua cho ở chầu hầu Thái hậu - mẹ vua ở cung Thường Tín Từ khi bà về ở cung ấy thì sự sủng hạnh ngày một phai dần, nên bà đề thơ
trên cái quạt tròn, bằng một thứ bát tơ trắng gọi là “Tề hoàn” (lụa bát tơ của
nước Tề”) mà bà tự dệt ra và tự chế thành cái quạt tròn, để tự ví thân phận
mình Tác giả dùng chữ “gấm” cho khỏi dùng chữ “Tề hoàn” là một thứ lụa mỏng hay bát tơ có vẻ sáng đẹp dùng làm quạt rất đẹp Đáng lẽ nói “lụa nàng
Ban” hay “quạt nàng Ban” (Không được hiểu là gấm của nàng Ban Tiệp Dư
và nàng Triệu Phi Yến dệt - như vậy rất vô nghĩa)
Ý: Chẳng bao lâu thì ta (người cung nữ) lại rơi vào cảnh ngộ của nàng Ban
Câu 21:
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý
Cẩm tú : (Cẩm tam tú khẩu): long gấm, miệng thêu Nghĩa bóng là “ý đẹp
như gấm, lời đẹp như thêu”
Ý: Ta (nàng cung nữ) làm thơ giỏi hơn Lý Bạch
2.2.1.15.Tranh tỵ dực, đồ liên chi, đồ tố nữ
Trang 30Tuy nhiên, người Tàu không gọi Tỹ dực mà là gọi Tỵ dực: “Tại thiên
nguyệt tác tỵ dực điểu / Tại địa nguyện vi liên lý chi” Nghĩa là: “Trên trời thì xin làm chim tỵ dực liền cánh mà bay với nhau / Dưới đất xin làm cây liên lý, cành cây giao với nhau”
Trên các tấm gương soi nơi phòng vợ chồng mới cưới (hoặc quà tặng ngày cưới), có khi là bức tranh (tranh ty dực) thường vẽ một cặp chim loan (thường sống một cặp trống mái, khi một trong hai con chết thì con kia kêu thảm thiết cho tới khi chết luôn) ý chúc vợ chồng sống mãi với nhau
Câu 186:
Đồ liên chi lần trở hoa kia
Đồ liên chi: bức tranh vẽ hai cây hoa liền cành, treo trong phòng các cặp vợ
chồng
Câu 229:
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ
Mặt buồn trông trên cửa Nghiêm lâu
Tố là trắng
Nữ là người con gái
Tố nữ : người con gái đẹp
Tranh tố nữ là tranh vẽ người con gái đẹp
2.2.1.16.Trướng ngọc
Câu 225:
Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà
Mảnh xuân y hãy sờ sờ dấu phong
Trướng ngọc: là nơi ở sang quý, dát ngọc, thường là nơi để hầu vua
2.2.1.17 Nhẫn, ngọc
Câu 173:
Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi