Thực trạng dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT ở một số trường tiểu học tỉnh Phú Thọ .... Biểu đồ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc dạy học chủ đề hình h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ HÌNH HỌC LỚP 5 VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Lê Thị Hồng Chi
Phú Thọ, 2019
Trang 2Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Hùng Vương, Phòng đào tạo Trường Đại học Hùng Vương, Khoa giáo dục Tiểu học và Mầm non đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và các em học sinh ở Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng- thành phố Việt Trì - tỉnh Phú thọ và Trường tiểu học Gia Cẩm- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ cùng gia đình, bạn bè , những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Phú Thọ, ngày 08 tháng 5 năm 2019
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 3MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các cụm từ viết tắt vi
Danh mục các bảng, biểu đồ vii
Phần I MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
2.1 Ý nghĩa khoa học 3
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5.1 Đối tượng nghiên cứu 4
5.2 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Các phương pháp nghiên cứu 4
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 4
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.3 Phương pháp thống kê toán học 5
Phần II NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuộc lĩnh vực của đề tài 6
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tác động của CNTT đối với dạy học nói chung, đối với dạy học môn Toán nói riêng 6
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về dạy học môn Toán nói chung, dạy học hình học lớp 5 nói riêng với sự hỗ trợ của CNTT 9
1.2 Sự hỗ trợ của CNTT trong dạy học ở tiểu học 10
1.2.1 Xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Tiểu học 10
1.2.2 Các mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Tiểu học 11
Trang 41.2.3 Giới thiệu một số phần mềm hỗ trợ dạy học ở Tiểu học 14
1.2.3.1 Phần mềm Geogebra 14
1.2.3.2 Phần mềm Mind Map 14
1.2.3.3 Phần mềm MS PowerPoint 15
1.2.3.4 Phần mềm Violet 16
1.3 Quá trình dạy học chủ đề Hình học trong môn Toán lớp 5 17
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh cuối cấp tiểu học 17
1.3.2 Mục tiêu, nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng trong dạy và học Hình học lớp 5 20
1.3.2.1 Mục tiêu trong dạy và học Hình học lớp 5 20
1.3.2.2 Nội dung dạy học chủ đề hình học trong chương trình Toán lớp 5 21
1.3.2.3 Chuẩn kiến thức và kĩ năng trong dạy và học Hình học lớp 5 21
1.3.3 Định hướng đổi mới dạy và học Hình học lớp 5 trong trường Tiểu học 26
1.4 Thực trạng dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT ở một số trường tiểu học tỉnh Phú Thọ 26
1.4.1 Mục đích điều tra 26
1.4.2 Đối tượng điều tra 27
1.4.3 Đôi nét về địa bàn khảo sát 27
1.4.4 Nội dung điều tra 28
1.4.5 Phương pháp điều tra 28
1.4.6 Bảng thống kê kết quả điều tra 29
1.4.7 Kết luận điều tra 33
Kết luận chương 1 34
Chương 2: Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề hình học lớp 5 35
2.1 Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT 35 2.2 Một số biện pháp dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ
Trang 5của CNTT 35
2.2.1 Biện pháp 1: Khai thác và sử dụng phần mềm Geogebra trong dạy học chủ đề hình học lớp 5 36
2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng các phần mềm Mind Map tổ chức thiết lập các bản đồ tư duy trong quá trình dạy học chủ đề hình học lớp 5 41
2.3.3 Biện pháp 3: Sử dụng phần mềm MS PowerPoint xây dựng các tài liệu điện tử hỗ trợ học tập chủ đề hình học lớp 5 46
2.3.4 Biện pháp 4: Sử dụng phần mềm Violet tạo bài tập trắc nghiệm để tiến hành đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập chủ đề hình học lớp 5 53
2.3.5 Biện pháp 5: Phối hợp các phần mềm trong dạy học chủ đề hình học lớp 5 65
Kết luận chương 2 70
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 71
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 71
3.2 Nội dung thực nghiệm 71
3.3 Đối tượng thực nghiệm 72
3.4 Thời gian thực nghiệm 74
3.5 Tổ chức thực nghiệm 74
3.6 Thống kê mô tả kết quả thực nghiệm 76
3.7 Tóm tắt thực nghiệm sư phạm 80
Kết luận chương 3 81
Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc dạy
học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
29
Biểu đồ 1.1 Biểu đồ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của
việc dạy học chủ đề hình học với 5 với sự hỗ trợ của CNTT
30
Bảng 1.2: Cảm nhận của học sinh khi giáo viên sử dụng phần
mềm dạy học trong chủ đề hình học lớp 5
30
Bảng 1.3: Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học
sinh khi giáo viên thiết kế kế hoạch bài học sử dụng phần mềm
Bảng 1.4: Nhận thức về tác dụng của việc dạy học chủ đề hình
học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả đầu vào của lớp thực nghiệm (lớp
5A2) và lớp đối chứng (lớp 5A9)
Trang 8Phần I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Vào những năm cuối của thế kỉ XX, CNTT đã thể hiện được vai trò và tầm quan trọng của nó trong mỗi lĩnh vực của đời sống, xã hội Bước sang thế kỉ XXI, CNTT ngày càng phát triển hơn và ngày càng được áp dụng nhiều hơn trong GD Theo Daniels J S (2002) trong một thời gian rất ngắn CNTT đã trở thành một trong những nền tảng cơ bản của xã hội hiện đại Nhiều quốc gia coi
sự hiểu biết CNTT và việc làm chủ các kĩ năng cơ bản về CNTT như là một phần cốt lõi của giáo dục
Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống mạng toàn cầu Internet đã và đang làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức: Con người không chỉ học tập với nguồn thông tin duy nhất từ người đã biết đến người chưa biết, không chỉ đọc để biết, mà còn học tập với nhiều nguồn thông tin, có thể nghe, nhìn, cảm nhận các
sự kiện xảy ra trên thế giới ngay trong tầm tay của mình Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay đã tạo ra một khối lượng thông tin khổng lồ, vậy không thể chờ đợi sự ban bố tri thức theo PPDH truyền thống, mà người học phải có khả năng tìm kiếm, thu thập và xử lý thông tin Chính vì vậy, việc sử dụng CNTT trong dạy học nói chung, trong dạy học môn Toán nói riêng đang được sự quan tâm, khuyến khích của các quốc gia Toán học là môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở các bậc học, đặc biệt là ở bậc Tiểu học Giúp học sinh từng bước hình thành nhân cách, từ đó trang bị cho học sinh các phương pháp ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Mục tiêu đó được thực hiện thông qua việc dạy học các môn và thực hiện theo định hướng yêu cầu giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trẻ tiếp tục học ở bậc Trung học hay cho công việc lao động của trẻ sau này Bên cạnh đó khả năng giáo dục của môn Toán giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, kích thích óc tò mò, tự khám phá và rèn luyện một phong cách làm việc khoa học Góp phần hình thành ở học sinh các năng lực nhận thức, phẩm chất và nhân cách mà mục tiêu ngành Giáo dục đề ra
Trang 9Trong chương trình Toán Tiểu học, cùng với các kiến thức về số học, đại lượng,… học sinh còn được học các kiến thức về hình học Việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 sẽ giúp học sinh có năng lực nhận biết các sự việc, hiện tượng một cách nhanh chóng, logic và có tính khoa học Đồng thời nó cung cấp các biểu tượng ban đầu về các hình giúp học sinh làm quen với các khái niệm hình học sơ đẳng, tập sử dụng các dụng cụ học tập, hình thành cho các em một số kĩ năng thực hành hình học như: Nhận biết, phân tích ước lượng các đại lượng hình học, học sinh được rèn luyện năng lực quan sát, so sánh, tổng hợp, dự đoán từ đơn giản đến phức tạp đến trừu tượng hoá Từ các họat động thực tiễn và dựa vào kiến thức tiếp thu được của việc học về các yếu tố hình học, học sinh sẽ tích luỹ được những kiến thức cần thiết phục vụ cho đời sống thực tiễn hàng ngày của các em
Tuy vậy, chúng ta biết rằng, đặc điểm của học sinh Tiểu học là tư duy cụ thể vẫn còn chiếm ưu thế, các em thường gặp khó khăn trong việc lĩnh hội các kiến thức Toán học mà hình học lại mang tính chất trừu tượng mới Đây chính là khó khăn chung trong việc dạy học nội dung hình học ở tiểu học nói chung và nội dung hình học lớp 5 nói riêng
Để giải quyết những khó khăn đó, đòi hỏi người giáo viên không những có trình độ kiến thức tốt về hình học có lòng say mê nghề nghiệp mà còn biết sử dụng hợp lí, khai thác triệt để các ứng dụng CNTT trong giảng dạy nội dung hình học Quan trọng hơn là để kích thích khả năng tư duy năng động của học sinh đồng thời khắc sâu kiến thức bài học, gây hứng thú học tập, mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học Việc khai thác, vận dụng thế mạnh của máy vi tính và phần mềm hỗ trợ dạy học sẽ có được những thuận lợi, những ưu điểm dễ nhận thấy trong việc cải thiện, nâng cao hiệu quả dạy học trên nhiều phương diện; giúp GV thuận lợi trong cải tiến bài giảng, người dạy tiết kiệm được thời gian ghi chép trên bảng, tạo hứng thú và lôi cuốn người học, làm cho tiết học thêm sinh động, đồng thời GV có thể thực hiện được nhiều PPDH cho nhiều đối tượng HS khác nhau trong cùng một lớp học
Trang 10Hiện nay có không ít những phần mềm dạy học hỗ trợ trong việc dạy học Toán ở Tiểu học, đáng chú ý là các phần mềm dạy học (Geometer's Sketchpad, Cabri, Violet, Mindmap ) trong dạy học Hình học nhằm hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy hoạt động nhận thức tích cực của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán là xu thế tất yếu Ở nước ta thời gian qua, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã có những bước phát triển đáng kể
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Dạy học
chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin"
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Khoá luận có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, GV Tiểu học và những người quan tâm đến dạy học Toán ở Tiểu học
3 Mục tiêu đề tài
Xây dựng được một số biện pháp sử dụng phần mềm Geogebra, phần mềm Mindmap, phần mềm Violet, phần mềm MS PowerPoint hỗ trợ dạy và học chủ
đề hình học môn toán lớp 5 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học hình học lớp 5 nói
riêng, dạy học ở tiểu học nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
Nghiên cứu cách sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học
Thiết kế các bài lên lớp chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
Trang 11Áp dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài vào dạy học một số bài chủ đề hình học trong chương trình Toán học lớp 5 và tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm chứng giả thuyết khoa học đã đặt ra
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu nghiên cứu
Quá trình dạy học hình học trong môn Toán lớp 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với
sự hỗ trợ của phần mềm Geogebra, phần mềm Mindmap, phần mềm Violet, phần mềm MS PowerPoint
6 Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm, đọc và tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu liên quan làm cơ sở nghiên cứu đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, đàm thoại, thực nghiệm sư phạm, nghiên cứu điển hình, quan sát, thống kê toán học
6.2.1 Phương pháp điều tra
Dùng phiếu điều tra khảo sát ý kiến của giáo viên về việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
Dùng phiếu điều tra ý kiến của phụ huynh về việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
6.2.2 Phương pháp đàm thoại
Sử dụng phương pháp này nhằm hỗ trợ phương pháp điều tra Trao đổi, trò chuyện với giáo viên về việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhằm kiểm tra tính khả thi của việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự
hỗ trợ của CNTT
6.2.4 Phương pháp quan sát
Trang 12Dùng để theo dõi quá trình khảo sát, thực nghiệm Dùng để tìm hiểu hiệu quả và cách thức dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu, là cơ sở để đánh giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài
Ngoài ra còn có phương pháp nghiên cứu điển hình
Trang 13Phần II NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tác động của CNTT đối với dạy học nói chung, đối với dạy học môn Toán nói riêng
1.1.1.1 Trên thế giới
Những công trình trên thế giới nghiên cứu về tác động của CNTT đối với dạy học có khá nhiều Phát biểu về tác động của CNTT đối với dạy học (sau những kết quả nghiên cứu) có thể kể đến các nhận định sau: CNTT đã trở thành công cụ thúc đẩy nhận thức và kết quả học tập của HS, CNTT cho phép tạo ra tình huống học tập và thực hành (Barron,1998, Berge, 1998) Việc sử dụng thích hợp CNTT có thể làm xúc tác cho sự thay đổi cả về nội dung và PPDH trong thế
kỉ XXI (Kulik, 1994); CNTT cho phép người học nhiều cơ hội khám phá hơn việc chỉ lắng nghe và ghi nhớ; CNTT giúp HS dễ dàng thông tin liên lạc với các
GV (Valasidou và Bousiou, 2005); CNTT có thể giúp HS mở rộng và hiểu sâu sắc hơn nội dung kiến thức và hỗ trợ phát triển các kĩ năng tư duy cho HS (Kozma, 2005 , Kulik, 2003 , Webb và Cox (2004) R N Ronau và các đồng nghiệp (2014) đã đưa ra nhận định: Trong bốn thập kỷ qua, những kết quả nghiên cứu đều thống nhất rằng các công nghệ kỹ thuật số như máy tính và phần mềm máy tính nâng cao sự hiểu biết của HS và không làm giảm đến kỹ năng tính toán của HS
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD - Organization for Economic Co-operation and Development) năm 2015 đã có kết luận: Chúng ta
có thể sử dụng CNTT trong dạy và học qua các hình thức: DH dựa vào máy tính (CBT - Computer Base Training), học trực tuyến (online), e-learning, sử dụng các bài giảng điện tử, sử dụng một số phần mềm thông dụng trong chuẩn bị bài soạn như: Microsoft Word, Microsoft Excel; sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học: Microsoft Outlook, Adobe Photoshop, Microsoft Powerpoint; sử dụng một số phần mềm đánh giá kết quả học tập của HS: Violet, Macromedia
Trang 14Flash… Chúng ta có thể sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin trực tuyến; Kết quả khảo sát từ một số địa phương đã cho chúng ta những bằng chứng chắc chắn rằng những HS sử dụng máy tính nhiều sẽ có điểm số tốt hơn trong học Toán và đọc sách
Các tác giả Drijvers P, Lynda Ball, Barbel Barzel M., Kathleen Heid Yiming Cao, Michela Maschietto (2016) đã có một tầm nhìn về vai trò tiềm năng của CNTT trong DH Toán cho những năm 2025 như sau:
- HS có thể tiếp cận nội dung học tập thông qua nhiều loại thiết bị cá nhân, trong đó đã tích hợp công nghệ vào giáo dục toán học, để sử dụng trong hay ngoài lớp học một cách dễ dàng Chẳng hạn máy tính bảng, đồng hồ thông minh, điện thoại di động hoặc tương tự
- HS sẽ sử dụng CNTT để tạo ra các đối tượng toán học 2D, 3D, cũng như sử dụng công nghệ để phân tích các đối tượng đó
- HS dễ dàng tiếp cận các tập dữ liệu thống kê và các mô hình toán học khác nhau để khám phá ra những kết quả cần thiết Ví dụ, HS có thể truy cập vào CNTT để khám phá các khía cạnh khác nhau của một đối tượng 3D bằng cách chia nó thành các phần, cắt ngang qua đối tượng, và mở lưới hoặc quay một đối tượng trong không gian
- Các lớp học toán học trong tương lai có thể không cần giấy tờ và HS có quyền truy cập vào các thiết bị mà trên đó họ có thể dễ dàng ghi lại những tri thức toán học cần thiết
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam đã có không ít những hội thảo, hội nghị về phát triển và sử dụng công nghệ dạy học trong đào tạo bồi dưỡng GV Có thể thấy, mỗi năm ở Việt Nam đều có ít nhất một hội thảo quốc gia về ứng dụng CNTT trong giáo dục; các địa phương thay nhau tổ chức các hội nghị, hội thảo về ứng dụng CNTT trong dạy học ở các cấp học, bậc học, theo bốn mô hình dạy học với sự
hỗ trợ của CNTT Đó là: dạy học có hướng dẫn, dạy học phát hiện, dạy học kiểm nghiệm, dạy học trợ giúp
Trang 15Nguyễn Bá Kim (2004, 1988) và các học trò của ông về đưa một số yếu tố của Tin học vào nhà trường phổ thông từ những năm 80 của thế kỉ XX, thể hiện qua các luận án của Ouk Chieng (1989): “Xác định con đường đưa một số yếu tố tin học vào nhà trường Campuchia”, Lê Khắc Thành (1993): “Tiếp cận hoạt động nhiều mặt trong DH lập trình ở nhà trường THPT”, Đỗ Thị Hồng Anh (1993): “Xây dựng và sử dụng một phần mềm DH tiếp cận các phương pháp của trí tuệ nhân tạo để trợ giúp DH giải Toán về hệ thức lượng trong tam giác”; Nguyễn Sĩ Đức (2002) : “Xây dựng và sử dụng phần mềm DH hỗ trợ luyện tập môn Toán ở trường Tiểu học”…
Về những công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong DH môn Toán ở Đại học, Cao Đẳng, có thể kể đến các luận án: “Ứng dụng máy tính vào DH Đại
số tuyến tính nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm” (Hoàng Thị Quỳnh Anh, 2006), “Sử dụng đa phương tiện trong DH PPDH Toán ở trường ĐHSP” (Hoàng Ngọc Anh, 2010); Luận án của Trần Trung năm 2009 “Ứng dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ DH Hình học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS dự bị Đại học dân tộc”
Trong những năm gần đây có một số nghiên cứu về những ứng dụng khác nhau của CNTT Chẳng hạn như: Luận án của Nguyễn Đăng Minh Phúc năm
2008 về “Tích hợp các mô hình thao tác động với môi trường DH Toán điện tử nhằm nâng cao khả năng khám phá kiến thức mới của HS”; Luận án của Trịnh Thị Phương Thảo năm 2014 về “Khai thác một số ứng dụng trên điện thoại di động hỗ trợ HS lớp 12 THPT tự học”; Luận án của Nguyễn Chí Trung năm 2015
về “Phát triển tư duy thuật toán cho HS thông qua DH thuật toán ở trường THPT”
Về các đề tài nghiên cứu ứng dụng CNTT trong DH ở các trường phổ thông Việt Nam, có thể kể đến các đề tài: Đề tài trọng điểm cấp Bộ năm 2006
“Ứng dụng CNTT trong DH ở các trường phổ thông Việt Nam” do Đào Thái Lai làm chủ nhiệm; Đề tài trọng điểm cấp Bộ năm 2008 - 2010 “Tích hợp các mô hình động với nghiên cứu bài học có trọng tâm tư duy toán để nâng cao nghiệp
Trang 16vụ sư phạm của GV” do Trần Vui làm chủ nhiệm; Đề tài cấp ngành năm 2008 –
2010 “Dạy và học Toán qua mạng Internet với sự hỗ trợ của các mô hình động”
do Nguyễn Đăng Minh Phúc làm chủ nhiệm; Đề tài cấp Bộ năm 2016 “Nghiên cứu vận dụng mô hình hóa trong DH môn Toán ở trường phổ thông” do Nguyên Danh Nam làm chủ nhiệm
Đào Thái Lai (2006) đã đi đến kết luận: “CNTT đã có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình DH; bao gồm mục tiêu DH, nội dung DH, PPDH, hình thức DH, phương tiện DH và kiểm tra đánh giá”
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về dạy học môn Toán nói chung, dạy học Hình học nói riêng với sự hỗ trợ của CNTT
1.1.2.1 Trên thế giới
Ngay từ những năm cuối của thế kỉ XX, đã có không ít những công trình nghiên cứu về sử dụng phần mềm trong DH môn Toán Chẳng hạn như công trình của Jackiw N (1995) về sử dụng tính năng thay đổi hình và tạo vết của phần mềm The Geometer’s Sketchpad trong dạy và học Hình học ở trường phổ thông; Công trình của Barnes J (1997) về lập mô hình hệ thống động với phần mềm bảng tính
Nghiên cứu về sử dụng phần mềm GeoGebra trong DH môn Toán có rất nhiều, có thể kể ra một cố công trình sau: Công trình của Hohenwarter M., Hohenwarter J, Kreis Y và Lavicza Z (2008) về dạy và học tính toán với phần mềm GeoGebra; công trình của Herceg Dj (2007) về học tính với GeoGebra ở trường THPT; công trình của Hohenwarter M, Preiner J (2007) về sử dụng trong
Trang 1712 với The Geometer’s Sketchpad” do Trần Vui chủ biên (2007, 2008, 2009) đã giới thiệu nhiều hoạt động khám phá Hình học ở trường THPT với phần mềm Geometer’s Sketchpad Trần Vui và các tác giả viết bộ sách này đã viết các chương trình sử dụng The Geometer’s Sketchpad hỗ trợ GV và HS nghiên cứu từng bài học, suốt theo từng chương, từng mục trong các SGK Hình học các lớp
10, lớp 11, lớp 12 THPT
Trịnh Thanh Hải (2006), đã nghiên cứu sử dụng phần mềm hình học động để dạy một số nội dung Hình học lớp 10 và sử dụng phần mềm Cabri Geometry nhằm đổi mới PPDH Hình học lớp 7 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS Tác giả đã đề xuất những biện pháp khai thác phần mềm Cabri Geometry đề DH trong các tình huống điển hình theo định hướng đổi mới PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS Đó là: Trong DH khái niệm, sẽ hỗ trợ tiếp cận, nhận dạng, thể hiện, phân chia khái niệm; trong DH định lí, sẽ hỗ trợ gợi động cơ chứng minh, nhận dạng, thể hiện định lí; trong giải bài tập toán học, sẽ hỗ trợ phân tích, tìm tòi khám phá lời giải bài toán, kiểm tra lại lời giải, hỗ trợ DH một số chủ đề khó
Các phần mềm hình học động còn có thể hỗ trợ tốt cho việc giải bài tập hình học, giúp học sinh có cái nhìn trực quan Các phần mềm có chức năng đo đạc các đại lượng hình học (độ lớn góc, độ dài đoạn thẳng) sẽ hỗ trợ cho việc kiểm nghiệm tính đúng đắn của những dự đoán, giảm bớt thời gian và công sức
đi tìm kiếm chứng minh cho điều đó
1.2 Sự hỗ trợ của CNTT trong dạy học ở tiểu học
1.2.1 Xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Tiểu học
Với GD&ĐT, CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới PPDH, học tập
và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước
Có thể thấy CNTT là phương tiện dạy học đặt trong mối quan hệ tương
Trang 18tác với các yếu tố người dạy và người học, hiện nay trên thế giới đang có 3 xu hướng chính:
(1) CNTT là phương tiện của người GV Trong đó người GV sử dụng CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng Hình thức dạy học vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt Tương tác giữa GV và HS là tương tác trực tiếp Hay còn gọi là các “bài giảng điện tử”
(2) CNTT là phương tiện dạy và học của cả thầy và trò Trong đó, người GV sử dụng CNTT để thiết kế bài dạy và các tài liệu hỗ trợ học tập, trong khi học sinh sử dụng CNTT là phương tiện để học và để báo cáo kết quả với
GV Hình thức dạy học vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt Tương tác giữa GV
và HS là tương tác trực tiếp Hướng này bắt đầu được thí điểm ở Việt Nam từ năm 2004 với “Chương trình Dạy học của Intel”
(3) CNTT dường như chỉ là phương tiện của trò, là “môi trường” học tập mới, môi trường học tập thông minh CNTT thay thế cho hình thức dạy học mặt giáp mặt và trở thành môi trường chứa đựng thông tin và tình huống nhận thức mà người học trở thành chủ thể hoạt động trong môi trường đó Tương tác giữa GV và HS là tương tác gián tiếp Hướng này chính là mô hình e-learning
Ở Việt Nam xu hướng được sử dụng chủ yếu đó là CNTT là phương tiện của người GV, hỗ trợ trong việc dạy và học GV có thể tìm kiếm nguồn tài liệu phong phú, thiết kế những bài giảng phong phú sinh động, kích thích sự chú
ý của học sinh, giúp học sinh tư duy trực quan về sự vật Nhờ đó mà một HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập HS hoàn toàn có khả năng tìm hiểu các đối tượng, sự kiện toán học… thông qua tác động lên đối tượng, xem xét và phân tích nó, để đưa ra các
dự đoán về các mối quan hệ mang tính quy luật GV sẽ có điều kiện giúp được tất cả HS rèn luyện tốt năng lực sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu
1.2.2 Các mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Tiểu học
Có nhiều hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học, trong thực tế nó được triển khai ở nhiều trường ở các mức độ rất khác nhau Tùy từng trường cụ
Trang 19thể, mức độ nhận thức và kĩ năng CNTT của GV, trang bị cơ sở vật chất về CNTT mà các trường ứng dụng ở mức độ khác nhau cho phù hợp Theo Đào Thái Lai, có thể phân thành các mức độ ứng dụng CNTT như sau:
Mức 1: Ứng dụng CNTT trợ giúp GV trong một số thao tác nghề nghiệp
Trong quá trình dạy học Toán, GV phải làm công việc như soạn giáo
án, ra bài kiểm tra, nhận xét HS, chuẩn bị các đồ dùng dạy học, các tài liệu cho tiết học… Rất nhiều công việc như vậy sẽ được trợ giúp bởi các thiết bị CNTT như chương trình soạn thảo văn bản, bảng tính Excel, các thiết bị quét tư liệu ảnh, chụp ảnh tư liệu
Giáo án sẽ được soạn bởi các ứng dụng văn phòng, các bài kiểm tra có thể được lựa chọn bởi ngân hàng đề trắc nghiệm, in ấn nhờ phần mềm công cụ trợ giúp riêng Các tư liệu phục vụ bài dạy được lấy từ website trên Internet Nhờ các thiết bị CNTT mà công tác chuẩn bị của GV dễ dàng hơn và chất lượng được nâng cao hơn hẳn Đây là mức độ thấp nhất nhưng phổ biến hiện nay
Mức 2: Ứng dụng CNTT để hỗ trợ một khâu trong toàn bộ quá trình dạy học
Ngoài việc sử dụng CNTT để chuẩn bị cho tiết dạy học cụ thể, GV có thể sử dụng CNTT để hỗ trợ một công việc nào đó trong quá trình dạy học môn Toán Thay cho việc dùng phấn viết lên bảng đen truyền thống, GV dùng máy chiếu để trình diễn những nội dung tri thức cốt lõi Việc trình chiếu bài dạy học giúp GV đưa thông tin ra nhanh chóng, ngoài kênh chữ, còn kèm theo các kênh
âm thanh, hình ảnh, phim,… có thể tạo ra hiệu ứng tốt tới HS Lớp học chỉ cần trang bị máy chiếu máy chiếu multimedia projector, người GV chỉ cần kèm theo một máy tính cá nhân Phầm mềm sử dụng phổ biến là MS PowerPoint Đây là mức độ mà nhiều trường đang triển khai
Mức 3: Ứng dụng các phần mềm dạy học để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động dạy học một số chủ đề theo chương trình hoặc trong các tình huống dạy học toán điển hình
Trang 20Ngoài việc trình chiếu thông tin, GV sử dụng các PMDH được cài vào các máy tính Dưới sự hướng dẫn của GV, từng HS làm việc trong môi trường
do PMDH tạo ra, tương tác với các đối tượng trên màn hình và từ đó hình thành phát triển những khái niệm, định lý, giải bài tập và những kĩ năng mới Với mức
độ này, từng HS có cơ hội làm việc với máy vi tính, tự mình thử nghiệm, dự đoán, kiểm tra giả thuyết, từng cá nhân làm việc với tốc độ tùy thuộc khả năng của mình Lúc này việc cá nhân hóa sẽ đạt được trình độ cao Để đạt được mức
độ này, cần có các PMDH tương ứng dành cho các môn học, dành cho từng lớp học, cấp học khác nhau Trường học cần trang bị một hoặc vài phòng máy, mức
độ này chỉ có ở một số trường có điều kiện và tập trung ở khu vực đô thị
Mức 4: Tích hợp CNTT vào hoạt động dạy và học trong toàn bộ quá trình dạy học
Mức độ mà việc ứng dụng CNTT đều được tính đến trong quá trình triển khai mỗi thành tố của quá trình dạy học Việc ứng dụng CNTT được đưa vào một cách tối ưu nhằm mang lại hiệu quả cao
Các mức độ từ 1 đến 4 xét trong khuôn khổ nhà trường truyền thống Trong đó các hoạt động chủ yếu của nhà trường vẫn diễn ra trong khuôn viên trường học, lớp học; HS và GV tiếp xúc trực tiếp trên lớp trong bối cảnh không gian và thời gian cụ thể; các nguyên lý chủ yếu của nhà trường không thay đổi
Mức 5: Thay đổi toàn bộ các quan niệm truyền thống, đưa ra một mô hình trường học mới trong môi trường giàu CNTT; trường học thông minh với việc đào tạo bằng E –Learing
Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường được triển khai ở nhiều nước nhắm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục Những ứng dụng này được thực hiện ở các mức độ khác nhau trong đó có mô hình “trường học thông minh”
Trường học thông minh là kiểu trường học mới Đặc điểm của nó là hết sức giàu công nghệ và phương thức làm việc khác với nhà trường truyền thống Chương trình được giáo viên thiết kế phù hợp với trình độ nguyện vọng của HS; tốc độ dạy học và phương pháp phù hợp HS học sáng tạo, phát hiện và giải
Trang 21quyết vấn đề, theo phong cách nghiên cứu chủ đề với sự trợ giúp của GV; đào tạo bằng E – learning
1.2.3 Giới thiệu một số phần mềm hỗ trợ dạy học ở Tiểu học
1.2.3.1 Phần mềm Geogebra
GeoGebra là một phần mềm toán học bổ ích và được cung cấp hoàn toàn miễn phí Đây thực sự là công cụ hỗ trợ đắc lực dành cho những ai đang phải thực hiện việc nghiên cứu hoặc làm việc với số học, hình học, bảng tính, đồ họa, số liệu thống kê, đại số và giải tích
Geogebra dùng để vẽ các hình học đơn giản như điểm, đoạn thẳng, đường thẳng Đặc điểm quan trọng nhất của phần mềm Geogebra là khả năng tạo ra sự gắn kết giữa các đối tượng hình học, được gọi là quan hệ như thuộc, vuông góc, song song Đặc điểm này giúp cho phần mềm có thể vẽ được hình rất chính xác và có khả năng tương tác như chuyển động nhưng vẫn giữ được mối quan hệ giữa các đối tượng Bạn cũng có thể nhập và thao tác với phương trình
và tọa độ, cũng như tạo các điểm, đường thẳng, véc-tơ và đường cô-níc Phần mềm Geogebra hỗ trợ hiệu quả công việc học tập, giảng dạy và đánh giá Giao diện dễ dàng sử dụng và khả năng tương tác đầy đủ với nhiều tính năng mạnh
mẽ
Với tất cả những đặc điểm trên, GeoGebra hiện đang là một trong những phần mềm toán học được yêu thích nhất trên thế giới và đã nhận được nhiều giải thưởng quý giá Nó đã mang lại những cải tiến và tiến bộ vượt bậc trong quá trình giảng dạy và học tập của học viên trên toàn thế giới
1.2.3.2 Phần mềm Mind Map
Mind Map (Sơ đồ tư duy hay Giản đồ ý) có thể dùng như 1 cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với computer, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu truyện) thì nó còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp minh hoạ tận dụng cả hai khả năng này của bộ não
Trang 22Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng Mind Map, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng được liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Thay vì dùng chữ viết để mô
tả một chiều Mind Map sẽ phơi bày cấu trúc một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra "dạng thức" của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn Mind Map được dùng để: Tổng kết dữ liệu; Hợp nhất thông tin từ các nguồn nghiên cứu khác nhau; Động não về một vấn đề phức tạp; Trình bày thông tin để chỉ ra cấu trúc của toàn bộ đối tượng Giúp con người suy nghĩ khác nhau và làm việc một cách hiệu quả hơn, sáng tạo và tiết kiệm thời gian hơn
Một số tính năng chính của phần mềm MindMap:
- Kỹ thuật vẽ chuyên nghiệp
- Có rất nhiều tùy chọn hình ảnh mà người dùng có thể lựa chọn
- Xuất ra nhiều định dạng khác nhau như PDF, JPEG… để chia sẻ với bạn bè
- Sử dụng các màu sắc để làm nổi bật vấn đề mà bạn quan tâm
- Giao diện trực quan giúp vẽ sơ đồ tư duy một cách nhanh chóng và dễ dàng
1.2.3.3 Phần mềm MS PowerPoint
MS PowerPoint là một phần mềm thuộc nhóm MS Office, có chức năng
hỗ trợ việc thiết kế, soạn thảo và định dạng nội dung tài liệu, rất thuận tiện cho việc trình bày trong giảng dạy, thuyết trình Chương trình là 1 công cụ có tính chuyên nghiệp cao để diễn đạt ý tưởng cần trình bày không chỉ bằng lời văn mà còn thể hiện qua hình ảnh tĩnh và động cùng với âm thanh, các đoạn phim một cách sống động Vì thế nó là công cụ hỗ trợ việc giảng dạy rất tốt trong trường học, hỗ trợ thuyết trình hội thảo, hướng dẫn sử dụng các sản phẩm trong việc quảng cáo…
Sử dụng trình diễn giúp trình bày nội dung theo một cấu trúc mạch lạc
- Nhấn mạnh các điểm chính
- Tập trung sự chú ý vào điểm quan trọng
Trang 23- Sử dụng đồ thị và biểu đồ linh hoạt
- Tích hợp với multimedia và web
- Tài liệu phong phú
- Kết hợp với nhiều âm thanh, hình ảnh
- Có thể thay đổi nội dung bài trình bày dễ dàng
Phần mềm PowerPoint dễ sử dụng đối với người bắt đầu dùng và rất dễ
sử dụng với người đã sử dụng WINWORD, EXCEL vì có cùng thao tác,… Kích thước tập tin nhỏ, thuận lợi cho lưu trữ và di chuyển Kết hợp được với nhiều định dạng tập tin Thực hiện các hiệu ứng họa hình nhanh chóng, sinh động một cách đơn giản không cần tới kiến thức lập trình
1.2.3.4 Phần mềm Violet
Violet là phần mềm công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh,
chuyển động và tương tác,… rất phù hợp với học sinh Tiểu học
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lesson Editor
for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho GV)
Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các tập tin dữ liệu đa phương tiện (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash, ), sau đó lắp ghép các
dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với người dùng, Riêng đối với việc xử lý những dữ liệu đa phương tiện, Violet cho phép thể hiện và điều khiển các tập tin
Flash hoặc cho phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim,
Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định dạng Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài
tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài tập như:
– Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai,
Trang 24– Bài tập ô chữ: HS phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc – Bài tập kéo thả chữ/kéo thả hình ảnh: HS phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
Violet cho còn phép chọn nhiều kiểu giao diện khác nhau cho bài giảng, tùy thuộc vào bài học, môn học và ý thích của GV Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa tập tin EXE hoặc tập tin HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến để sử dụng qua mạng Internet Violet có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp đều hoàn toàn bằng tiếng Việt, nên phù hợp với cả những GV không giỏi Tin học và Ngoại ngữ
1.3 Quá trình dạy học chủ đề Hình học trong môn Toán lớp 5
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh cuối cấp tiểu học
1.3.1.1 Đặc điểm về tâm lí của học sinh cuối cấp tiểu học
Đặc điểm quá trình tri giác của học sinh cuối cấp Tiểu học: Tri giác
của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,
có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Đặc điểm chú ý của học sinh cuối cấp Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ
năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Trang 25Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
giáo dục trẻ
Đặc điểm trí nhớ của học sinh cuối cấp Tiểu học: Học sinh Tiểu học
có trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Đặc biệt giai đoạn lớp 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ
có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
Đặc điểm quá trình tưởng tượng của học sinh cuối cấp Tiểu học: Tưởng
tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ
có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn Ở cấp tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Đặc điểm tư duy của học sinh cuối cấp Tiểu học: Tư duy của học sinh
Tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, đặc biệt ở lớp 5
Trang 26học sinh biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp
kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
1.3.1.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh cuối cấp tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Đến giai đoạn cuối cấp Tiểu học, "tính cách học đường" mới dần ổn định
và bền vững ở trẻ
Việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển;
và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các
em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách
Trang 27với hoạt động của trẻ Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ nhận thức và thúc đẩy trẻ em Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức; quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm, tình cảm của học sinh Tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Các em đang ưa thích đối tượng này, nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên đối tượng
cũ
1.3.2 Mục tiêu, nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng trong dạy và học Hình học lớp 5
1.3.2.1 Mục tiêu trong dạy và học Hình học lớp 5
Do đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học, việc dạy các yếu tố hình học chưa thể dựa trên phép suy diễn, mà chủ yếu dựa trên sự quan sát, thực hành, giúp học sinh bước đầu tiếp xúc với các biểu tượng hình học cơ bản, một
số tính chất của các hình hình học
Mục tiêu dạy và học Hình học lớp 5:
- Hình thành biểu tượng về hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu; biết đặc điểm, tính chất và các yếu tố của các hình để có biểu tượng ngày càng chính xác, đầy đủ về hình
- Có ý niệm về đại lượng hình học như độ dài đoạn thẳng, chu vi, diện tích, thể tích của một số hình học thường gặp
- Rèn luyện các kĩ năng thực hành như: đo độ dài đoạn thẳng, vẽ hình, xếp ghép hình Đặc biệt có kĩ năng tính toán: tính diện tích hình tam giác, hình thoi và hình thang; tính chu vi và diện tích hình tròn; tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương
- Rèn luyện óc quan sát, trí tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng về hình học
1.3.2.2 Nội dung dạy học chủ đề hình học trong chương trình Toán lớp 5
Xem xét về nội dụng dạy học yếu tố hình học ở các khía cạnh: cấu trúc
Trang 28nội dung, cách thể hiện nội dung, mức độ yêu cầu kiến thức và kĩ năng cơ bản của mạch kiến thức này Giới thiệu mới hoặc bổ sung, hệ thống hóa các đặc điểm, của một số hình phẳng, giới thiệu một số hình không gian Bổ sung một số nội dung có nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống Tăng cường các bài toán
có nội dung thực tế, các bài toán phát triển trí tưởng tượng không gian
- Tính diện tích hình tam giác, hình thoi và hình thang Tính chu vi và diện tích hình tròn
- Giới thiệu hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu
- Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương Giới thiệu công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần và thể tích hình trụ, hình cầu
1.3.2.3 Chuẩn kiến thức và kĩ năng trong dạy và học Hình học lớp 5
Biết tính diện tích hình tam giác
Luyện tập (tr 88)
Biết:
- Tính diện tích hình tam giác
- Tính diện tích hình tam giác vuông biết độ dài
Trang 29hai cạnh góc vuông
Hình thang
(tr 91)
- Có biểu tượng về hình thang
- Nhận biết được một số đặc điểm của hình thang, phân biệt được hình thang với các hình đã học
- Nhận biết hình thang vuông
- Tính diện tích hình tam giác vuông, hình thang
- Giải toán liên quan đến diện tích Hình tròn
Biết tính chu vi, diện tích hình tròn và vận dụng
để giải các bài toán liên quan đến chu vi, diện tích
Trang 30- Tìm một số yếu tố chưa biết của các hình đã học
- Vận dụng giải các bài toán có nội dung thực tế Hình hộp
- Nhận biết được các đồ vật trong thực tế có dạng hình hộp chữ nhật, hình lập phương
- Biết các đặc điểm của các yếu tố của hình hộp chữ nhật, hình lập phương
Trang 31- Vận dụng để giải một số bài toán đơn giản Diện tích
Thể tích
của một
hình
(tr 114)
- Có biểu tượng về thể tích của một hình
- Biết so sánh thể tích của hai hình trong một số tình huống đơn giản
để giải một số bài tập liên quan
Thể tích - Biết công thức tính thể tích hình lập phương
Trang 32Luyện tập Biết tính thể tích và diện tích trong các trường hợp
Trang 33(tr 169) đơn giản
34 Luyện tập
(tr 171)
Biết giải bài toán có nội dung hình học
1.3.3 Định hướng đổi mới dạy và học Hình học lớp 5 trong trường Tiểu học
Định hướng đổi mới dạy và học Hình học lớp 5 trong trường Tiểu học được diễn ra theo bốn hướng chủ yếu:
- Đổi mới phương pháp dạy học hình học ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS, dạy HS cách tự học và có nhu cầu tự học
- Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo được thực hiện
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Trong đó, hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động cho HS và cơ bản, chủ yếu, chi phối đến ba hướng sau
1.4 Thực trạng dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT ở một số trường tiểu học tỉnh Phú Thọ
1.4.1 Mục đích điều tra
Mục đích điều tra của chúng tôi là tìm hiểu thực trạng việc dạy và học chủ đề hình học lớp 5 trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng - thành phố Việt Trì – tỉnh Phú
Thọ và trường Tiểu học Gia Cẩm - thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ
1.4.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của chúng tôi trong đề tài này là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng - thành phố Việt Trì – tỉnh Phú
Thọ và trường Tiểu học Gia Cẩm - thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ
1.4.3 Đôi nét về địa bàn khảo sát
1.4.3.1 Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng
Trang 34Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tiền thân là Trường Phổ thông cơ sở Dệt (thành lập 1982) Sau nhiều năm tách, nhập và đổi tên, năm 2002 trường chính thức mang tên Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng Những năm qua, Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào công tác nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Chất lượng giáo dục trí dục của nhà trường được giữ vững, ổn định và phát triển Đặc biệt năm học 2014 – 2015 nhà trường được đón nhận Huân chương Lao động Hạng Ba và Kỷ niệm Chương Hùng Vương, Năm học 2015 – 2016 được đón nhận Cờ thi đua xuất sắc của Bộ Giáo dục & Đào tạo; 3 lần được nhận
Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh và nhiều Bằng khen của UBND Tỉnh, giấy khen của UBND thành phố Việt Trì và các cấp, các ngành
Nhiều cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên bằng nhiệt huyết và trách nhiệm đối với các em học sinh cũng đã được công nhận nhiều danh hiệu cao quý như: Cô giáo Vũ Thị Quyên giáo viên dạy giỏi cấp Quốc gia, cô giáo Võ Thị Bích Hạnh giáo viên tài năng cấp Quốc Gia, cô giáo Trịnh Thị Yến, Vy Thị Ái Liên giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh
Với những thành tích mà tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên và các em học sinh nhà trường phấn đấu đạt được trong những năm học vừa qua, đặc biệt là năm học 2017 – 2018 nhà trường đã vinh dự được Thủ tướng tặng Cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước năm học 2017 – 2018 của tỉnh Phú Thọ
1.4.3.2 Trường Tiểu học Gia Cẩm
Trường tiểu học Gia Cẩm được thành lập vào năm 1989 Nhà trường có truyền thống thi đua dạy học học tốt, đã có nhiều năm liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, được UBND tỉnh tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu cấp học, được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng Ba năm 2003, được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ thi đua năm 2005 Được công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1996 – 2000 Năm học 2013 – 2014 được
Trang 35UBND tỉnh tặng cờ thi đua dẫn đầu bậc tiểu học Năm học 2014 – 2015 được TTCP tặng cờ thi đua Năm học 2015 – 2016 được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tặng bằng khen có thành tích tiêu biểu xuất sắc Được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhì Năm học 2016 – 2017 được TTCP tặng cờ thi đua
Trường Tiểu học Gia Cẩm là đơn vị dẫn đầu về chất lượng mũi nhọn học sinh Giỏi, học sinh năng khiếu và giáo viên dạy Giỏi Trường có nhiều giáo viên dạy giỏi đạt cấp tỉnh
1.4.4 Nội dung điều tra
Nội dung: điều tra hiểu biết của giáo viên về việc dạy học chủ đề hình học lớp
5 với sự hỗ trợ của CNTT, chúng tôi đã tiến hành các nội dung cụ thể sau:
- Đề nghị GV trả lời các câu hỏi trong phiếu xin ý kiến ( phiếu hỏi dành cho GV)
- Đề nghị HS trả lời các câu hỏi trong phiếu hỏi (phiếu dành cho HS)
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và một số GV đã và đang giảng dạy toán lớp 5 ở trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng và trường tiểu học Gia Cẩm về việc ứng dụng CNTT trong dạy và học
- Dự giờ một số tiết dạy học yếu tố hình học
- Nghiên cứu tài liệu, xem vở HS, tìm hiểu giáo án, kế hoạch dạy học các yếu
tố hình học của GV và việc sử dụng PMDH trong thực hiện kế hoạch dạy
1.4.5 Phương pháp điều tra
Chúng tôi điều tra thông qua phiếu điều tra Phiếu điều tra gồm các câu hỏi được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm lựa chọn (Multiple choice items) Các câu hỏi và các phương án trả lời được trình bày rõ ràng, đảm bảo tính lôgic của hệ thống câu hỏi, tính khách quan của các kết quả nghiên cứu
Tổng số phiếu phát ra là 88 phiếu, gửi tới 16 GV đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 5 trường tiểu học và 72 học sinh lớp 5
Số phiếu thu lại là 88 phiếu
Trang 36Những số liệu thu được trong phiếu điều tra được chúng tôi xử lý và thống kê bằng phương pháp toán học, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại để hỗ trợ cho phương pháp điều tra này
1.4.6 Bảng thống kê kết quả điều tra
Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên về sự cần thiết về việc dạy học chủ đề hình học lớp 5 với sự hỗ trợ của CNTT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, tiến hành tổng hợp và có được bảng thống kê sau:
Bảng 1.1: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc dạy học chủ đề
10 giáo viên được chiếm 62,5% cho là “ Cần thiết” Không có giáo viên nào cho rằng “Không cần thiết” và số giáo viên cho là “ Bình thường” rất thấp Bên cạnh
đó có 5 giáo viên ( 31,25%) cho là “ Rất cần thiết” Vậy ta có thể kết luận: Dạy học với sự hỗ trợ của CNTT là rất cần thiết
Có thể minh họa bằng biểu đồ sau:
Trang 37Bảng 1.2: Cảm nhận của học sinh khi giáo viên sử dụng phần mềm dạy học
HS nào nghĩ rằng “ Không hứng thú” Điều này cho thấy: HS rất hứng thú với
tiết học Toán có sự hỗ trợ của CNTT
Bảng 1.3: Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học sinh khi giáo viên thiết kế kế hoạch bài học sử dụng phần mềm dạy học trong chủ đề
hình học lớp 5
Trang 38Nội dung Số lượng Tỉ lệ(%)
về ảnh hưởng tích cực của việc dạy học với sự hỗ trợ của CNTT, khi ứng dụng được các phần mềm dạy học vào trong các tiết học làm cho tiết học trở nên sinh động và góp phần tăng sự hứng thú cho HS, nâng cao chất lượng giờ Toán nói chung và kết quả học tập nói riêng
Từ bảng số liệu 1.2 và 1.3 ta có biểu đồ đánh giá mức độ hứng thú của HS khi GV sử dụng phần mềm dạy học chủ đề hình học lớp 5 như sau:
Trang 39Bảng 1.4: Nhận thức về tác dụng của việc dạy học chủ đề hình học với sự hỗ
trợ của công nghệ thông tin
Nội dung
Giáo viên Học sinh
Số lượng
Học sinh tiếp thu nhanh nội dung bài 13 81,25 64 88,89 Học sinh tiếp thu một phần nội dung 3 18,75 8 11,11
Cùng trả lời 2 câu hỏi có nội dung như nhau về tác dụng của việc ứng dụng CNTT vào giờ học Toán, ý kiến của GV và HS có nhiều điểm tương đồng Với câu hỏi: “Theo thầy (cô) không khí lớp học như thế nào khi GV dạy học với sự
hỗ trợ của CNTT?” có 9 GV (56,25%) cho rằng lớp học sôi nổi; 6 GC (37,5%) nghĩ rằng không khí lớp học sẽ thoải mái hơn, không GV nào nghĩ rằng lớp học
sẽ buồn chán Có 1 GV có ý kiến khác Còn với HS cùng câu hỏi này có đến 56
HS (77,78%) cho rằng lớp học sôi nổi, 16 HS (22,22%) cho rằng tiết học sẽ thoải mái hơn nếu sử dụng CNTT, không HS nào nghĩ lớp học sẽ buồn chán và cũng không có HS nào có ý kiến khác Từ kết quả khảo sát, ta thấy : Đa số GV
và HS đều cho rằng lớp học sẽ sinh động và sôi nổi khi dạy học Toán với sự hỗ
trợ của CNTT
Trong tổng số 16 GV tham gia khảo sát có 13 GV (81,25%) cho rằng việc dạy học với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp HS tiếp thu nhanh nội dung bài học, không có GV nào nghĩ là tiếp thu chậm và không tiếp thu được nội dung bài học Chỉ có 3 GV (18,75%) cho rằng HS tiếp thu được một phần nội dung bài
Trang 40học Còn đối với HS có đến 64 HS (88,89%) cho rằng dạy học với sự hỗ trợ của CNTT sẽ tiếp thu nhanh nội dung bài học, không có HS nào tiếp thu chậm, rất ít nội dung bài, cũng như không HS nào nghĩ rằng sẽ không tiếp thu được nội dung bài học Chỉ có 8HS ( 11,11%) cho rằng tiếp thu được một phần nội dung bài học Thông qua kết quả, ta thấy: Nội dung bài học sẽ được HS tiếp thu nhanh nếu dạy học với sự hỗ trợ của CNTT
Bảng 1.5: Mức độ sử dụng phầm mềm dạy học trong giờ Toán
“Chưa từng sử dụng” hay “Có sử dụng nhưng rất ít”, số GV luôn luôn sử dụng
là 6GV ( 37,5%) Từ kết quả ta thấy đa số GV đã có xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy học nhưng chưa thật sự hiệu quả
1.4.7 Kết luận điều tra
Qua kết quả của phiếu điều tra có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Giáo viên đều nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy Trong các tiết học đã được ứng dụng công nghệ thông tin, tuy nhiên việc sử dụng các phần mềm dạy học chưa được thường xuyên và phổ biến Có thể nói việc ứng dụng các phần mềm dạy học để thiết kế nội dung bài học chưa được quan tâm đúng mức Việc sử dụng phần mềm dạy học trong quá trình giảng dạy ở trường Tiểu học còn nhiều hạn chế