Hội nghị thứ VI của Ban chấp hành TW Đảng khóa X về chiến lược phát triển giáo dục đã nhấn mạnh: “Đổi mới và hiện đại hóa PP giáo dục chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng tr
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Hội nghị thứ VI của Ban chấp hành TW Đảng khóa X về chiến
lược phát triển giáo dục đã nhấn mạnh: “Đổi mới và hiện đại hóa PP giáo dục chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học PP tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự học của HS” [48, tr.30] Như vậy, vấn đề đặt ra phải tìm
PPDH mới phát huy tính tích cực của HS là mục tiêu, là nhiệm vụ quan trọng của DH hiện nay ở trường phổ thông Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ giáo dục quốc dân Cho nên việc đổi
mới PPDH ở phổ thông nói chung và ở Tiểu học nói riêng là yêu cầu cấp bách
1.2 Nâng cao chất lượng DH môn Toán nói chung và chất lượng DH Toán 4 nói riêng là vấn đề rất cần quan tâm Tuy nhiên, Toán học vốn là môn học đặc trưng bởi tính trừu tượng, chính xác, logic chặt chẽ, trong khi đặc điểm nhận thức của trẻ ở Tiểu học lại mang tính năng cụ thể trực giác và cảm
tính Vì vậy, việc sử dụng Bản đồ tư duy (mind map) - một dạng sơ đồ kết
hợp từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, khai thác tối đa tiềm năng của bộ não - là một công cụ hiệu quả hỗ trợ cho việc học Toán của HS Tiểu học
1.3 BĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi
Trang 2người BĐTD khắc phục thói học thụ động, học thuộc lòng máy móc của HS Tiểu học, ban đầu giúp HS nhận thức được các kiến thức trừu tượng, giải pháp này tác động vào hoạt động nhận thức của HS
1.4 Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu sử dụng BĐTD trong DH môn Toán lớp 4
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng bản đồ
tư duy trong dạy học môn Toán lớp 4” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hệ thống hóa lí luận về BĐTD, sử dụng BĐTD trong DH
môn Toán ở Tiểu học
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế BĐTD, định hướng việc sử dụng BĐTD trong một số khâu
của quá trình DH môn Toán lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề liên quan đến đề tài: Nội dung, chương
trình môn Toán bậc Tiểu học, đặc điểm tâm lý của HS Tiểu học, làm sáng tỏ được vai trò, đặc điểm, cấu tạo, nguyên tắc, cách lập BĐTD trong DH môn Toán lớp 4
- Khảo sát thực trạng sử dụng BĐTD trong DH môn Toán ở Tiểu học
- Thiết kế và sử dụng hệ thống BĐTD nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Toán lớp 4
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
Trang 35 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa BĐTD và DH môn Toán lớp 4
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sử dụng BĐTD
trong DH một số nội dung môn Toán lớp 4
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu Tâm lí học, Giáo dục học và Lí luận DH Tiểu
học có liên quan tới đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan tới BĐTD và sử dụng BĐTD trong trường Tiểu học
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến Toán 4, nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác
6.3 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát thực trạng về việc sử dụng BĐTD trong DH môn Toán lớp 4
6.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm của các GV dạy giỏi môn Toán ở trường Tiểu học nhằm đưa ra các tiêu chí để thiết kế và sử dụng BĐTD phù hợp trong DH môn Toán lớp 4
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH Toán ở Tiểu học
1.1.1 Định hướng đổi mới PPDH toán ở Tiểu học
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa VII) và Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục và được cụ thể hóa trong Chỉ thị 15 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo Trong Luật Giáo dục, khoản 2, điều 24 đã chỉ rõ: “PP giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, mang lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Trong chương trình dạy học ở Tiểu học thì Toán học là môn học giúp HS
kĩ năng thực hành tính toán một cách thiết thực và gần gũi với thực tế hàng ngày Vì vậy, đổi mới PPDH môn Toán là rất cần thiết Khi đổi mới PPDH cần vận dụng 5 đặc trưng cơ bản sau đây để nhận định tính chất tích cực của mỗi PP:
1.1.1.1 Dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập cho HS
Trong PP dạy học tích cực, khi tham gia các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, được quan sát trực tiếp, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn
đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm của mỗi cá nhân Qua đó, người học không những chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng mới mà còn làm chủ cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội để bộc lộ, rèn luyện
Tổ chức hoạt động học tập của HS phải trở thành trung tâm của hoạt động giáo dục GV cần lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn HS phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, ở hiện tại cũng như trong trong tương lai
1.1.1.2 Dạy học chú trọng rèn luyện PP tự học
Trang 5PP dạy học tích cực xem việc rèn luyện PP học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học Dạy và học tích cực tập trung trọng tâm vào hoạt động học, tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động Cốt lõi ở PP tự học điều quan trọng là phải giúp người học biết cách khai thác, lựa chọn tìm kiếm thông tin bằng cách hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu Tự học là quá trình mà người học nối những kiến thức kinh nghiệm đã có và bằng sự nỗ lực suy nghĩ, tư duy của chính bản thân mình để đi đến tìm và khai thác, khám phá ra nội dung kiến thức cần học Do đó, dạy cho HS cách học cũng là dạy cho HS cách tự học Khi người học có PP, thói quen, ý chí tự học thì sẽ ham học, thích học, đó là điều kiện tốt để khơi dậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi cá nhân, kết quả học tập sẽ nâng cao Điều này nó phù hợp với quan điểm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành quá trình dạy - tự học, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
1.1.1.3 Tăng cường hoạt động cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học, trình độ kiến thức, tư duy của HS không đồng đều, tuyệt đối Do vậy, người GV phải quan tâm tới sự phân hóa về trình độ nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi HS Cần tăng cường cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi
HS Các bài học được thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng người học Như vậy học tập cá thể đáp ứng được trình độ của người học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình
Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình thì cần đặt họ vào môi trường học tập hợp tác trong các mối quan hệ thầy - trò, trò - trò Trong mối quan hệ tương tác đó, người học không chỉ học được qua thầy
mà còn học được qua bạn, sự sẻ chia kinh nghiệm sẽ kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, đồng thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tổ chức, điều khiển, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề…
Trang 61.1.1.4 Kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không những nhằm nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời còn tạo điều kiện nhận định và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trong dạy học tích cực, GV phải hướng dẫn HS có kĩ năng đánh giá để điều chỉnh cách học Tự đánh giá là một hình thức đánh giá HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập HS sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ, nhìn lại quá trình và phát hiện những điều cần thay đổi để hoàn thiện bản thân Qua các tiêu chí đánh giá, HS nhìn lại quá trình học tập của mình và biết được mức độ hoàn thành đã đạt yêu cầu chưa Cùng với tự đánh giá, GV cần tổ chức cho HS đánh giá lẫn nhau hay còn gọi là đánh giá “đồng đẳng” Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong
đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc, kết quả học tập lẫn nhau Đánh giá đồng đẳng không chỉ giúp cho HS đánh giá kết quả học tập của bạn mà còn thông qua đó còn có sự so sánh nhìn nhận lại kết quả của chính mình, từ đó có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập ngày càng tốt hơn
1.1.2 Các PP và KTDH hiện đại
KTDH là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học KTDH tích cực là những KTDH có
ý nghĩa đặc biệt trong việc khuyến khích sự tham gia của người học và quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và công việc làm của người học KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Có những KTDH chung, có những kĩ thuật đặc thù của từng PPDH, ví dụ kĩ thuật đặt câu hỏi khi đàm thoại, kĩ thuật trải bàn trong thảo luận nhóm DH ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “ động não”, “tia chớp”, “bể cá”, BĐTD
1.1.2.1 Kĩ thuật động não (công não)
Động não còn gọi là công não hay tập kích não (Brainstorming) là một
Trang 7PP đặc sắc dùng để phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề PP này hoạt động bằng cách nêu các ý tưởng tập chung nêu vấn đề từ đó rút ra nhiều đáp án căn bản cho nó
Chữ “động não” được đề cập đầu tiên bởi A.F Osborn năm 1939 Ông
đã miêu tả động não như một kĩ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả ý kiến của nhóm người đó này sinh trong một thời gian theo một nguyên tắc nhất định Kĩ thuật này tiếp tục được C.H Clark phát triển và H.Meyer áp dụng kĩ thuật này trong
lý luận về PP giảng dạy
Theo H.Meyer: Động não là một KTDH tích cực, thông qua thảo luận nhằm huy động những ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của mọi thành viên tham gia thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng nhằm tạo ra “cơn lốc” ý tưởng
Các ý niệm (hình ảnh) về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ, càng tốt Các ý kiến có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà những người tham gia nghĩ tới Trong động não thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách nhìn khác nhau Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá
Kĩ thuật này thường được sử dụng trong các trường hợp: Giai đoạn nhập đề vào một chủ đề, tìm các phương án giải quyết vấn đề, thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau
1.1.2.2 Kĩ thuật XYZ
Là một kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm X là
số người trong nhóm, Y là số ý kiến của mỗi người tham gia, Z là số phút dành cho mỗi người
Ví dụ: Kĩ thuật 635 thực hiện như sau: Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết một vấn đề
và tiếp tục truyền lại cho người bên cạnh Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác Con số XYZ có
Trang 8thể thay đổi Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến
1.1.2.3 Kĩ thuật khăn trải bàn
Khái niệm: Kĩ thuật khăn trải bàn là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng tính động lập, trách nhiệm của cá nhân HS, phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
Cách tiến hành: GV sử dụng theo mô hình giấy A0
+ Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn) + Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
+ Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề, )
+ Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
+ Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận
và thống nhất các câu trả lời
+ Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn
Ví dụ: Khi dạy bài “Hình bình hành” ban đầu GV cho HS quan sát đưa
ra các dấu hiệu đặc trưng của hình dùng kĩ thuật khăn trải bàn như sau:
+ Chia lớp thành các nhóm nhỏ phát cho mỗi nhóm, một tờ giấy A0
Trang 9+ Yêu cầu mỗi HS dùng thước và ê ke kiểm tra kích thước các cạnh, độ lớn các góc và ghi lại đặc điểm của hình do mình kiểm tra được vào ô trống + Yêu cầu các bạn trong nhóm thảo luận và đưa ra kết luận chung
+ Cho các nhóm báo cáo kết quả
+ GV nhận xét chung
1.1.2.4 Kĩ thuật mảnh ghép
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của HS, nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ nhận thức hoàn toàn vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)
- Dụng cụ
+ Giấy bút cho các thành viên
- Thực hiện
+ GV giao việc cho từng nhóm
+ Các nhóm tiến hành thảo luận và rút ra kết quả, đảm bảo từng thành viên của nhóm có khả năng trình bày kết quả của nhóm
+ Mỗi nhóm được tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ sau:
+ Từng thành viên lần lượt trình bày kết quả thảo luận của mình
- Lưu ý
Trang 10+ Đảm bảo bước thảo luận đầu tiên, mọi thành viên đều có khả năng trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước khi tiến hành tách nhóm
+ Các chủ đề thảo luận cần được chọn lọc kĩ lưỡng, có tính độc lập với nhau
- Ưu điểm
+ Đào sâu kiến thức trong từng lĩnh vực
+ Phát huy hiểu biết của HS và giải quyết những hiểu sai
+ Phát huy tinh thần làm việc theo nhóm
+ Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân
- Hạn chế
+ Kết quả thảo luận phụ thuộc vào vòng thảo luận thứ nhất, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả + Nếu số lượng thành viên không được tính toán kĩ sẽ dẫn đến tình trạng nhóm thừa, nhóm thiếu
+ Không sử dụng cho các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc
“nhân – quả” với nhau
1.1.2.5 Kĩ thuật tia chớp
Kĩ thuật tia chớp là một kĩ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với câu hỏi nào đó hoặc nhằm thu thập thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề
Trang 111.1.2.7 Kĩ thuật ổ bi
Là kĩ thuật sử dụng trong thảo luận nhóm, HS chia làm 2 nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện lần lượt với các HS nhóm khác
- Cách thực hiện
+ Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của PP luyện tập đối tác
+ Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới
1.1.2.8 Kĩ thuật KWL
Kĩ thuật KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức
tổ chức DH hoạt động đọc hiểu HS bắt đầu bằng việc động não tất cả những
gì các em đã biết về chủ đề bài học Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ Sau đó HS nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột
W của biểu đồ Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho câu hỏi ở cột W Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L
1 Tìm ra điều
bạn đã biết
về một chủ đề
2 Tìm ra điều bạn muốn biết
về một chủ đề
3 Thực hiện
nghiên cứu
và học tập
4 Ghi lại
những điều bạn học được
K (Điều đã biết)
W (Điều muốn biết)
L (Điều học được)
…….………
………
………
………
……… …………
………
…….………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Chủ đề:
Tên:
Ngày :
- Sử dụng biểu đồ KWL
+ Chọn bài đọc, PP này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích
+ Tạo bảng KWL, GV vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi HS cũng có một mẫu bảng của các em Có thể sử dụng mẫu sau
Trang 12+ Đề nghị HS động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề Cả GV và HS cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K Hoạt động này kết thúc khi HS đã nêu ra tất cả các ý tưởng Tổ chức cho HS thảo luận về những gì các em đã ghi nhận
* Một số lưu ý tại cột K
- Chuẩn bị những câu hỏi để giúp HS động não Đôi khi để khởi động,
HS cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em: “Hãy nói những gì các em
* Một số lưu ý tại cột W
- Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở Nếu chỉ hỏi các em: “Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?” Đôi khi HS trả lời đơn giản “Không biết”, vì các em chưa có ý tưởng Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau : “Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?”
- Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi: “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì
có liên quan đến ý tưởng này không?”
- Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W Có thể bạn mong muốn HS tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của HS lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc
Trang 13Chú ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi của HS
- Yêu cầu HS đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L Trong quá trình đọc, HS cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W
- HS có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong
* Một số lưu ý tại cột L
- Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích HS ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em
- Đề nghị HS tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời (không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)
- Thảo luận những thông tin được HS ghi nhận ở cột L
- Khuyến khích HS nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu
ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc
1.1.2.9 Kĩ thuật bể cá
Là một kĩ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận
Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi, HS tham gia quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận nhóm Ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cho cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện luyện tập này được gọi là PP bể cá vì những ngồi vòng ngoài có thể quan sát trong những thảo luận nhóm, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau
Trang 141.2 Lí luận chung về bản đồ tư duy
1.2.1 Bản đồ tư duy là gì?
BĐTD là một bản đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay một nhóm về một chủ đề BĐTD có thể được viết trên giấy, trên bảng hay thực hiện trên máy tính Ở giữa BĐTD là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh đặc trưng cho các ý chính và đều được nối vào các ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân chia thành các nhánh cấp 2, cấp 3, Trên các nhánh, ta có thể thêm các hình ảnh hay kí hiệu cần thiết Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà các ý tưởng thông thường không thể làm được
1.2.2 Lịch sử phát triển của bản đồ tư duy
Tony Buzan là người phát minh ra BĐTD Ông sinh năm 1942 tại Luân Đôn, Anh Năm 1964 ông nhận bằng danh dự môn tâm lý, toán học và khoa học phổ thông Ông là nhà nghiên cứu hàng đầu về não bộ và PP học tập, ông làm cố vấn cho nhiều bộ, ngành trong Chính phủ, cho các Tập đoàn đa Quốc gia (BP, IBM, Walt Disney…) và là nhà thuyết trình thường xuyên của các doanh nghiệp quốc tế, các trường đại học hàng đầu Ông còn là cố vấn cho các huấn luyện viên, vận động viên Olympic quốc tế, đội chèo thuyền Olympic và đội cờ quốc tế của Anh Ngoài ra, ông còn là chủ tịch Quỹ nghiên cứu về não bộ (Brain Foundation), nhà sáng lập tổ chức Brain Trust và các giải vô địch về trí nhớ và tư duy Ông đã vinh dự nhận phần thưởng Lãnh đạo YPO, là khen thưởng của EDS phần thưởng Eagle Catcher – dành cho những người đã nỗ lực thực hiện được các việc bất khả thi
Trang 15Trong số những cuốn sách bán chạy nhất của ông là cuốn “Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use your head) và các tác phẩm khác trong bộ sách về tư duy
Các tác phẩm của ông đã được xuất bản ở hơn 100 quốc gia và được dịch sang 30 thứ tiếng
Đây là câu chuyện của Tony Buzan kể về lịch sử hình thành BĐTD Lúc học năm thứ hai đại học, tôi bước vào thư viện, lòng đầy quyết tâm, yêu cầu nhân viên thủ thư chỉ cho tôi vị trí của các sách viết về não bộ và cách sử dụng não bộ Ngay lập tức cô ấy chỉ tôi sang khu vực sách y khoa Khi tôi giải thích rằng tôi không muốn giải phẫu bộ não mà muốn sử dụng nó, tôi được trả lời lịch sự là không có những cuốn sách như vậy Sửng sốt tôi rời khỏi thư viện Vào đầu thập niên 1970, trí thông minh nhân tạo đã ra đời nên tôi có thể mua một cái máy vi tính 1 megabyte và kèm theo đó là cuốn sách hướng dẫn dày 1.000 trang Thế thì trong giai đoạn văn minh được cho là tiến bộ này, khi tất cả chúng ta bước vào thế giới với chiếc máy vi tính sinh học phức tạp nhất, mạnh hơn gấp hàng tỉ lần so với bất kì một chiếc máy vi tính nào, thì những cuốn sách sử dụng chiếc máy vi tính sinh học ấy ở đâu?
Thế là tôi quyết định viết một loạt sách dựa trên nghiên cứu của mình: Bách khoa toàn thư về não bộ và cách sử dụng nó Tôi bắt đầu viết và năm
1971, khi tôi viết, hình ảnh ở chân trời ngày càng rõ nét hơn – đó là khái niệm
“Tư duy mở rộng và lập bản đồ tư duy”
Trang 16BĐTD được chính thức giới thiệu với thế giới lần đầu vào mùa xuân năm 1974 mang tên “Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use your head) Ngày 21 tháng 4 năm 1995, một bữa tiệc trọng đại mừng sinh nhật được tổ chức tại Royal Albert Hall ở Luân Đôn để ghi nhớ ngày phát hành cuốn BĐTD
Để tạo điều kiện cho những người sử dụng tư duy mở rộng và BĐTD có thể hỗ trợ hay liên lạc với nhau, đồng thời để giúp các tổ chức thiện nguyện
đề xuất đưa khái niệm tư duy vào mọi chương trình học, hội những người sử dụng BĐTD được thành lập vào năm 2000
1.2.3 Cơ sở tâm lí học của bản đồ tư duy
Roger Sperry thuộc đại học California đã công bố kết quả nghiên cứu rằng phần tiến hóa nhất của bộ não là vỏ não Những phát hiện ban đầu của ông cho thấy hai vỏ bán cầu não có khuynh hướng phân chia thành hai nhóm chức năng tư duy chính:
- Bán cầu não phải dường như trội hơn trong các hoạt động tư duy sau: Nhịp điệu, nhận thức về không gian, gestalt (tính toàn thể), tưởng tượng, mơ mộng, màu sắc và kích thước
- Bán cầu não trái dường như trội hơn ở những kĩ năng tư duy logic, ngôn ngữ, lời nói, số, xâu chuỗi, quan hệ tuần tự, phân tích và liệt kê
Mặc dù mỗi bán cầu não có sự trội hơn ở những hoạt động tư duy nhất định, nhưng về cơ bản cả hai bán cầu đều thuần thục trong mọi lĩnh vực, và các kĩ năng tư duy mà Roger Sperry đã phát hiện được phân bố khắp vỏ não Trong nhiều năm, người ta đã quan niệm sai lầm rằng khả năng của trí nhớ là
có giới hạn, cũng tương tự như một chiếc đĩa máy tính hay một ổ cứng Tuy
Trang 17nhiên, một điều đã được làm sáng tỏ là trí nhớ càng được luyện tập, càng có khả năng nhớ tốt hơn Não bộ của con người có thể thực hiện tới 100 tỷ kết nối giữa hàng triệu nơron thần kinh Khó khăn duy nhất của chúng ta là làm sao có thể nạp khối lượng thông tin đó vào bộ nhớ bằng cách đúng nhất Để hiểu được điều đó chúng ta cần nhận thức là trí nhớ dựa trên hai nguyên tắc
rất đơn giản và sâu sắc: Tưởng tượng và liên kết
Đây là hai nền móng cơ sở của BĐTD, liên quan đến việc kết hợp sử dụng màu sắc, hình ảnh, những từ đơn và những nhánh liên kết với nhau PP ghi chép truyền thống đã khiến chúng ta gạt sang một bên hai nguyên tắc vô cùng hữu hiệu này Tuy nhiên, cùng với việc nhận thức rằng tưởng tượng và liên kết chính là động lực dẫn đến thành công trong bất kì công việc nào, thì vai trò của những kĩ năng này cũng không ngừng được chú trọng Những gợi
ý sau đây có thể được kết hợp với BĐTD, giúp cho việc nhớ lại các thông tin quan trọng dễ dàng hơn
a Hiệu ứng Von Restorff
Vào năm 1933, nhà tâm lý học Hewig Von Restorff công bố một nghiên cứu tiết lộ rằng chúng ta có thiên hướng ghi nhớ một thông tin trong một danh sách nếu nó nổi bật Chẳng hạn, nếu ta có một danh sách các số, và ở giữa có một chữ cái, nhiều khả năng ta sẽ nhớ chữ cái đó – đơn giản vì nó khác với tất
cả những thông tin còn lại trên danh sách Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Von Restorff Theo cách này, ta có thể giúp chính mình ghi nhớ thông tin bằng cách khiến nó trở nên kì quái hoặc lố bịch Như thế, nó sẽ nổi bật trong trí nhớ
b Ghi nhớ bằng hình ảnh
Một trong những cách dễ nhất để ghi nhớ là thông qua sự hình dung và hình ảnh Việc này kích thích bán cầu não phải, do đó giúp cả bộ não ghi nhớ Những bức tranh sặc sỡ dễ nhớ hơn từ ngữ, và ta có thể nhớ được bất cứ thứ
gì bằng cách liên hệ nó với một hình ảnh sống động Nếu bộ não của ta tạo những liên kết của riêng nó, nó sẽ dễ ghi nhớ hơn vì nó đã trải qua quá trình sáng tạo
Trang 181.2.4 Cấu tạo của bản đồ tư duy
- Ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm
- Ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh chính thể hiện ý tưởng chính và đều được nối với trung tâm
- Các nhánh chính lại được phân thành các nhánh nhỏ nhằm thể hiện chủ
tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
1.2.5 Quy tắc xây dựng bản đồ tư duy
Mục tiêu của các quy tắc trong việc xây dựng BĐTD là tự do tư duy chứ không phải kìm hãm tư duy Như vậy, điều quan trọng là không nên nhầm lẫn giữa trật tự và cứng nhắc, tự do và hỗn độn Trong BĐTD cần tuân thủ những quy tắc sau:
a Nhấn mạnh
Nhấn mạnh là quan trọng vì nó có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo Mọi kĩ thuật để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Để đảm bảo nguyên tắc này nên sử dụng những thủ thuật sau:
- Luôn dùng một hình ảnh trung tâm:
Trang 19+ Hình ảnh có tác dụng thu hút sự tập trung của mắt và não, kích hoạt vô
số liên kết đồng thời giúp ghi nhớ hiệu quả Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn, lôi cuốn, gây sự thích thú, và thu hút quan tâm
+ Nếu buộc phải dùng từ thay cho ảnh làm trung tâm trong BĐTD, hãy tìm cách biến nó thành hình ảnh, chẳng hạn như dùng kích cỡ, màu sắc và hình thức lôi cuốn
- Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong BĐTD điều này sẽ tạo được sự cân bằng giữa các kĩ năng thị giác và ngôn ngữ của vỏ não, từ đó tăng cường năng lực hình dung Thói quen dùng hình ảnh trong BĐTD sẽ khiến ta quan sát thế giới xung quanh tường tận hơn Luyện tập kĩ năng vẽ cũng là một cơ hội để tái khám phá thế giới xung quanh mình
- Mỗi ảnh trung tâm dùng nhiều màu
+ Màu sắc kích thích trí nhớ và sáng tạo, tránh sự đơn điệu, luôn cố gắng làm hình vẽ sinh động và lôi cuốn hơn
- Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ
+ Kích cỡ có tác dụng làm nổi bật, dễ nhớ và tăng hiệu quả giao tiếp Hình vẽ trong không gian 3 chiều hay chữ viết nổi có hiệu ứng nhấn mạnh các phần tử quan trọng trong BĐTD
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy
+ Thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần trong cùng một phân cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh
Trang 20then chốt Một khi xác định ảnh trung tâm và ý chủ đạo thì khả năng liên kết của não sẽ giúp ta đi sâu vào thế giới ý tưởng, các vấn đề cần giải quyết
- Dùng mũi tên
Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh, hoặc khác nhánh Nhờ những mũi tên chỉ dẫn, ta sẽ nhanh chóng nhìn thấy sự liên hệ giữa các vùng trong BĐTD Những mũi tên này có thể chạy chỉ theo một chiều, hay phân thành nhiều mũi, và kích cỡ, hình thù cũng thay đổi Nhờ đó mà tư duy
có định hướng không gian
- Dùng kí hiệu
Khi dùng kí hiệu, ta có thể lập tức tìm mối liên kết giữa các bộ phận trên cùng một trang trong BĐTD, bất kể chúng xa hay gần nhau, có thể kí hiệu bằng dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác, và gạch dưới, hay những dấu hiệu phức tạp hơn…Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian
c Mạch lạc
Diễn đạt không sáng sủa sẽ khó tiếp thu Một ghi chú viết vẽ nguệch ngoạc sẽ gây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy và hạn chế tư duy mạch lạc
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
Mỗi từ có thể có đến hàng ngàn liên kết, sẽ dễ liên kết hơn nếu mỗi dòng chỉ có một từ Hơn nữa, các cụm từ quan trọng sẽ không bị lạc mất trong đám rừng chữ, và ta sẽ luôn có nhiều lựa chọn khác nhau
- Viết từ khóa trên vạch liên kết
Trang 21Vạch liên kết là khung đỡ ý tưởng cho từ, cấu thành tổ chức và hiệu quả cao Vạch liên kết không những làm tăng tính mạch lạc, giúp trí nhớ, mà còn tạo điều kiện mở rộng liên kết và khai triển
- Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Bằng cách này, các từ dễ dàng được đặt kề nhau hơn, thuận lợi liên kết hơn và sẽ dành được nhiều khoảng trống để bổ sung thông tin cho BĐTD
- Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm: Nối liền các vạch liên kết trong BĐTD là một cách giúp liên kết ý tưởng Vạch nối có thể là mũi tên, đường cung, vòng xoắn, vòng tròn, hình bầu dục, tam giác, đa giác, hay bất kể hình thù nào mà ta có thể nghĩ tới
e Trình tự đánh số
Nếu BĐTD được dùng cho một mục đích cụ thể, như soạn diễn văn, làm tiểu luận hay bài kiểm tra, ta cần truyền đạt ý tưởng theo một trình tự cụ thể theo thời gian hay thứ tự quan trọng Để thực hiện những việc này, chỉ cần đánh số nhánh BĐTD theo trình tự mong muốn, trong trường hợp cần thiết,
có thể phân bố cả thời gian hay mức độ nhấn mạnh phù hợp cho từng nhánh Nếu thích, ta cũng có thể dùng kí tự alphabet, thay vì dùng số, theo cách nào
đó giúp ta trình bày ý tưởng hợp lý hơn
1.2.6 Công cụ xây dựng bản đồ tư duy
1.2.6.1 Vẽ thủ công BĐTD
*) Chuẩn bị
Trang 22- Một tờ giấy trắng (giấy A4, A3 hay tờ giấy đôi quyển vở)
- Bút, bút chì, màu nước, màu sáp và trí tưởng tượng
*) Cách vẽ
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Chủ đề trung tâm là vấn đề chính bạn đang quan tâm tới Hãy vẽ một hình ảnh liên quan tới chủ đề này
- Quy tắc vẽ chủ đề trung tâm là:
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác
đó bạn ưng ý nhất, đừng nghĩ tới nguyên tắc gì cả
Trên các nhánh chính này là các từ khóa ngắn gọn và mang tính chất gợi
ý Hãy vẽ thêm hình ảnh gì đó mang tính minh họa
- Quy tắc vẽ tiêu đề phụ
+ Tiêu đề phụ được viết to, rõ ràng để làm nổi bật
+ Tiêu đề phụ cần được vẽ gắn liền ở trung tâm
Trang 23+ Các tiêu đề phụ khác nhau sử dụng màu sắc khác nhau
+ Tiêu đề phụ được vẽ theo hướng chéo góc (chứ không nằm ngang để nhiều nhánh phụ khác có thể tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Các nhánh thứ cấp
Đây là các nhánh được vẽ ra từ nhánh chính Nó bổ sung ý cho nhánh chính Bạn có thể vẽ thêm bao nhiêu nhánh thứ cấp đều được, miễn không gian trên giấy vẽ của bạn cho phép
Tương tự như nhánh chính, các chữ trên nhánh thứ cấp cũng là các từ khóa mang tính gợi nhớ và hãy cho thêm hình ảnh vào để thêm phần sinh động
- Quy tắc vẽ nhánh thứ cấp
+ Chỉ nên tận dụng các từ3 khóa và hình ảnh
+ Hãy dùng các biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian
Trang 241.2.6.2 Sử dụng phần mềm vẽ BĐTD
Bước 1: Tạo một Central idea (ý tưởng trung tâm)
Trên giao diện chính của Imindmap các bạn chọn File > Ne > Mindmap
> chọn biểu tượng cho central idea > Start
Sau khi chọn một central idea thì trên giao diện xuất hiện central idea các bạn vừa chọn, tiếp theo các bạn nhấp đúp chuột trái và thay đổi nội dung, font, cỡ chữ, kiểu chữ theo ý muốn
Các bạn có thể phóng to, thu nhỏ central idea bằng cách nhấn chuột chọn biểu tượng central idea, xuất hiện 8 nút nắm màu xanh ở xung quanh Nhấn giữ chuột trái vào nút nắm bất kì và kéo vào để thu nhỏ hoặc kéo ra để phóng
to central idea theo ý muốn
Trang 25Bước 2: Thêm các nhánh Iminmap gồm hai loại nhánh Branch (nhánh trơn) và BoxBranch (nhánh có hộp văn bản đi kèm) Các bạn có thể thêm
nhánh bằng cách nhấn chọn central idea xuất hiện hai biểu tượng dấu +, các bạn chọn + và chọn kiểu nhánh các bạn muốn thêm
Để di chuyển nhánh các bạn nhấn chọn nhánh cần di chuyển, xuất hiện biểu tượng mũi tên bốn chiều như hình dưới, các bạn nhấn giữ chuột trái vào
biểu tượng đó và kéo nhánh đến vị trí cần thiết thì nhả con trỏ chuột ra
Để thay đổi kiểu của nhánh các bạn chọn nhánh > Branch > Branch Art, xuất hiện hộp thoại Branch Art các bạn chọn kiểu cho nhánh và nhấn OK để thay đổi
Trang 26Thêm nhánh con cho các nhánh chính, chọn nhánh chính cần thêm nhánh sau đó chọn biểu tượng thêm nhánh trơn hoặc nhánh chứa hộp văn bản Các bạn có thể thêm nhiều nhánh con cho một nhánh chính bằng các thao tác tương tự
Bước 3: Thêm từ khóa
Với nhánh có hộp văn bản thì các bạn nhấn chọn chuột vào hộp văn bản
và nhập từ khóa, chỉnh sửa font, kiểu chữ và cỡ chữ cho nhánh Còn với nhánh trơn các bạn nhấn chọn nhánh và nhập từ khóa, chỉnh sửa font, kiểu chữ và cỡ chữ cho nhánh
Trang 27Bước 4: Thêm các hình ảnh
Để sơ đồ sinh động hơn, dễ tư duy hơn thì các bạn có thể thêm các hình ảnh mô tả ý tưởng của nhánh bằng cách nhấn chọn biểu tượng Images ở menu
phía bên phải hoặc chọn Insert > Image Library để mở hộp thoại Image Library
Cuối cùng, sau khi đã hoàn tất sơ đồ tư duy các bạn có thể xuất sơ đồ ra
file ảnh, document, chia sẻ qua web… bằng cách chọn File > Export & Share Xuất hiện hộp thoại Export các bạn có thể chọn kiểu xuất và làm theo
hướng dẫn để nhanh chóng xuất file hoặc chia sẻ file
1.3 Đặc điểm quá trình dạy học môn Toán lớp 4
1.3.1 Mục tiêu, nội dung, chuẩn kiến thức - kĩ năng của toán
1.3.1.1 Mục tiêu dạy học Toán lớp 4
* Số học
Trang 28- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên
- Biết đọc, viết, so sánh thứ tự các số tự nhiên
- Biết cộng, trừ các số tự nhiên, nhân số tự nhiên với số tự nhiên có đến
ba chữ só, chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên có đến ba chữ số
- Biết tìm thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả tính và thành phần kia
- Biết giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính (có ngoặc hoặc không có dấu ngoặc) và biểu thức có chưa một, hai, ba chữ dạng đơn giản
- Biết vận dụng tính chất giao hoán, kết hợp của phép tính cộng và nhân, tính chất nhân một số với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất
- Biết tính nhẩm trong các phạm vi bảng tính, nhân với 10; 100; ; chia cho 10;100; ; nhân số có hai chữ số với 11
- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9
- Bước đầu nhận biết về phân số qua hình ảnh trực quan
- Biết đọc, viết, tính chất cơ bản của phân số, biết rút gọn, quy đồng mẫu
số các phân số, so sánh hai phân số
- Biết cộng, trừ, nhân, chia hai phân số dạng đơn giản ( mẫu số không vượt quá 100)
* Đại lượng và đo đại lượng
- Biết mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn với ki-lô-gam; giữa giây, phút, giờ; giữa ngày và giờ, năm và thế kỉ
- Biết chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng thông dụng trong một số trường hợp cụ thể khi thực hành, vận dụng
- Biết đọc và nhận định (ở mức độ đơn giản) các số liệu trên bản đồ cột
- Biết một số ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế
Trang 29* Bài toán có lời văn
- Biết tự tóm tắt bài toán bằng ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba hoặc bốn bước tính, trong đó có các bài toán: Tìm trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
1.3.1.2 Nội dung chương trình Toán 4
+ Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích
có không quá 6 chữ số
+ Phép chia các số có nhiều chữ số cho số có không quá 3 chữ số, thương có không quá 4 chữ số
+ Tính chất giao hoán, kết hợp của một phép công, nhân Các quy tắc
“Một số nhân một tổng (hiệu)”, “Một tổng chia một số”, “Một số chia một tích”, “Một tich chia một số”
+ Dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9
+ Tính giá trị của biểu thức có số có đến 4 dấu phép tính Tính giá trị của biểu thức chứa đến 3 chữ dạng đơn giản: a + b + c, a x b x c, (a + b) x c
Trang 30+ Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép nhân các phân số Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho một số tự nhiên khác 0
+ Giới thiệu quy tắc nhân một tổng hai phân số với một phân cùng số + Thực hành tính: Tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có mẫu số, tử số của tổng hoặc hiệu có không quá hai chữ số Tính nhẩm về phân số với phân
số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá hai chữ số + Tính giá trị các biểu thức có không quá ba dấu phép tính với các phân
số đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính không quá hai chữ số)
- Tỉ số
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số
+ Giới thiệu về các bài toán: tìm hai số biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của chúng
+ Tỉ lệ bản đồ
* Đại lượng và đo đại lượng
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng Chủ yếu nêu mối quan hệ giữa ki-lô-gam và yến, tạ, tấn, giữa ki-lô-gam và gam
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian Chủ yếu nêu mối quan hệ giữa ngày và giờ, giờ và phút, thế kỉ và năm, năm tháng và ngày
- Diện tích và một số đơn vị đo diện tích
- Thực hành đổi đơn vị đo đại lượng (cùng loại), làm tính với các số đo Thực hành đo, tập làm tròn các số đo và tập ước lượng các số đo
* Yếu tố hình học
- Giới thiệu góc nhọn, tù, bẹt Vẽ các góc bằng thước thẳng và eke Nhận dạng góc trong các hình đã học
- Giới thiệu hai đường cắt nhau, vuông góc với nhau, song song
- Giới thiệu thêm về hình bình hành, hình thoi và diện tích hình bình hành, diện tích hình thoi
- Thực hành vẽ hình bằng thước và eke, cắt, ghép, gấp hình
* Yếu tố thống kê
Trang 31- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu (tính tổng, tính giá trị trung bình, so sánh tổng các cột, các hàng)
- Giới thiệu biểu đồ Lập biểu đồ đơn giản Tập nhận xét trên biểu đồ
* Giải toán có lời văn
Giải các bài toán có đến 3 bước tính, các bài toán liên quan đến:
- Tìm số trung bình cộng của nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm phân số của một số
- Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó
- Tính chu vi, diện tích của hai số hình học
1.3.1.3 Chuẩn kiến thức - kĩ năng của Toán 4
* Đại lượng và đo đại lượng
- Về số tự nhiên và các phép tính với số tự nhiên
+ Biết đọc, viết, so sánh các số có đến sáu chữ số và nhận ra các số tròn triệu trong phạm vi lớp tỉ
+ Biết sắp xếp bốn số tự nhiên theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc từ lớn đến bé + Bước đầu nhận biết một số đặc điểm của dãy số tự nhiên
+ Nếu thêm 1 vào một số tự nhiên thì được số tự nhiên liền sau nó, bớt 1
từ một số tự nhiên khác 0 thì được số tự nhiên liền trước nó
+ Số 0 là số tự nhiên bé nhất Không có số tự nhiên lớn nhất (tức là dãy
số tự nhiên kéo dài mãi)
+ Nhận biết các hàng trong mỗi hàng lớp
+ Biết giá trị của mỗi chữ số theo vị trí của chữ chữ số trong mỗi số đó
- Về phép cộng và phép trừ các số tự nhiên
+ Biết đặt tính và thực hiện phép cộng, phép trừ các số có đến sáu chữ
số, không nhớ hoặc có nhớ không quá ba lượt và không liên tiếp
+ Bước đầu biết sử dụng tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng các số tự nhiên trong thực hành tính
- Về phép nhân và phép chia các số tự nhiên
Trang 32+ Biết đặt tính và thực hiện phép nhân các số có nhiều chữ số với các số
có không quá ba chữ số (tích có không quá 6 chữ số)
+ Bước đầu biết sử dụng tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép nhân và tính chất nhân một tổng với một số trong thực hành tính
+ Biết đặt tính và thực hiện chia một số có nhiều chữ số có không quá 3 chữ số (thương có không quá ba chữ số)
- Về tính nhẩm
+ Biết cộng, trừ nhẩm các số tròn chục, trong trăm, tròn nghìn (dạng đơn giản); nhân nhẩm với 10; 100; 1000; chia nhẩm cho 10; 100; 1000; nhân nhẩm số có hai chữ số với 11
- Dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9
+ Bước đầu biết vận dụng dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9 trong một số tình huống đơn giản
- Về phân số
+ Biết khái niệm ban đầu về phân số: Biết đọc, viết các phân số
+ Biết tính chất cơ bản của phân số và vận dụng để nhận ra hai phân số bằng nhau, rút gọn phân số, quy đồng mẫu số hai phân số trong trường hợp đơn giản
+ Biết so sánh hai phân số và sắp xếp một số phân số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc từ lớn đến bé
+ Biết thực hiện phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia hai phân số (dạng đơn giản)
+ Biết phép cộng và phép nhân hai phân số có tính chất giao hoán, tính chất kết hợp, nhân một tổng hai phân số với một phân số
+ Biết tính giá trị của biểu thức các phân số theo các quy tắc như đối với các số tự nhiên
+ Biết tìm một thành phần chưa biết trong phép tính (như đối với số
tự nhiên)
* Về yếu tố thống kê
- Biết cách tìm số trung bình cộng của nhiều số
Trang 33- Bước đầu nhận xét một số thông tin đơn giản trên biểu đồ cột
* Về đại lượng và đo đại lượng
- Biết mối quan hệ giữa một số đơn vị đo khối lượng, đo diện tích, đo thời gian thường dùng hàng ngày
- Biết đọc, viết, chuyển đổi số đo khối lượng, đo diện tích, đo thời gian,
số đo diện tích có hai tên đơn vị đo thành số đo có một tên đơn vị đo
- Bước đầu biết sử dụng những kiến thức về đo khối lượng , đo diện tích,
đo thời gian trong giải quyết một số vấn đề của thực tế
* Về các yếu tố hình học
- Nhận biết các góc nhọn, tù, bẹt
- Nhận biết hai đường thẳng vuông góc với nhau, song song với nhau
- Biết vẽ hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, đường cao của một tam giác
- Nhận biết hình bình hành, hình thoi, một số đặc điểm của một hình, biết cách tìm chu vi và diện tích của mỗi hình
* Về giải toán có lời văn
Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến 3 bước tính (hoặc 4 bước tính dạng đơn giản), trong đó có các bài toán liên quan đến
- Tìm số trung bình cộng của nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm phân số của một số
- Tìm hai khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó
- Tính chu vi, diện tích của một số hình đã học
1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4
Tri giác của HS thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn để
phát triển Vì vậy, GV Tiểu học có vai trò rất to lớn, GV cần tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của HS để tri giác một đối tượng nào đó nhằm phát hiện ra bản chất của sự vật và hiện tượng
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào đặc điểm bên ngoài với những thao tác cụ thể Nhờ hoạt động học
Trang 34tập, tư duy dần mang tính khái quát Việc học Toán sẽ giúp các em phân tích, tổng hợp Đối với HS lớp 4, việc phát triển tư duy có điều kiện và tiềm năng thực hiện tốt hơn có tính khái quát trong tư duy của HS đạt được ở mức độ cao hơn
Trí tượng tượng, sự chú ý ghi nhớ của HS các lớp 4 đã giảm tính tản mạn, đạt được sự bền vững tốt hơn so với các lớp đầu cấp, tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện Nhu cầu nhận thức của các em đã phát triển rõ nét, không chỉ thiên về từ nhu cầu tìm hiểu sự vật hiện tượng đơn lẻ mà thiên nhiều hơn tới nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên
hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, phát triển trí tuệ Đặc biệt, ở giai đoạn này, khả năng thực hiện các hoạt động, các nhiệm vụ học tập một cách độc lập hay hợp tác với nhóm bạn được nâng lên
Như vậy, nhu cầu nhận thức của HS lớp 4 cho thấy việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của HS chủ động, trách nhiệm, có điều kiện thuận lợi hơn trước, việc ý thức trách nhiệm các nhân, trách nhiệm tập thể của HS đã tốt hơn, việc ý thức tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân tốt hơn Bởi thế, việc sử dụng BĐTD trong DH lớp 4 có tiềm năng đạt hiệu quả cao hơn
1.4 Thực trạng sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Toán lớp
4 ở một số trường Tiểu học thị xã Phú thọ, tỉnh Phú Thọ
1.4.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng sử dụng BĐTD trong DH môn Toán lớp
4 ở một số trường Tiểu học thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
1.4.2 Nội dung khảo sát
Để tìm hiểu việc triển khai xây dựng, sử dụng BĐTD trong DH môn Toán lớp 4, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên quy mô nhỏ tại ba trường Tiểu học đó là: Trường Tiểu học Hà Lộc, trường Tiểu học Hùng Vương và trường Tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ (các GV tham gia khảo sát họ đều là những người có kinh nghiệm DH ít nhất từ 5 năm trở lên và có 70% trong số họ có trình độ đại học)
Chúng tôi đã khảo sát một số vấn đề:
Trang 35- Khảo sát việc nhận thức của GV về việc sử dụng BĐTD trong DH môn Toán lớp 4
- Cảm nhận của HS khi GV sử dụng BĐTD trong dạy học
- Hứng thú của HS khi GV sử dụng BĐTD
- Tác dụng sử dụng BĐTD theo hướng phát huy tính tích cực của HS
- Những thuận lợi và khó khăn của GV khi thiết kế các hoạt động, hình thức tổ chức DH môn Toán lớp 4 có sử dụng BĐTD
- Phương pháp điều tra:
+ Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát thực trạng về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong DH môn Toán lớp 4
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Tổng kết kinh nghiệm của các GV dạy giỏi môn Toán ở trường Tiểu học nhằm đưa ra các tiêu chí để thiết kế và sử dụng BĐTD phù hợp trong DH môn Toán lớp 4
1.4.4 Kết quả khảo sát
Qua khảo sát và thăm dò ý kiến của các GV, chúng tôi nhận thấy:
Để tìm hiểu nhận thức của GV về sự cần thiết của BĐTD trong dạy học môn Toán, chúng tôi đã khảo sát, tiến hành tổng hợp và có được bảng thống
kê sau:
Trang 36Bảng 1.1: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của bản đồ tư duy
trong dạy học Toán
Qua bảng số liệu, có thể nhận thấy hầu hết các GV đều nhận thức được rất
rõ tầm quan trọng và sự cần thiết phải sử dụng BĐTD trong giờ dạy học môn Toán Khi được hỏi về sự cần thiết của việc sử dụng BĐTD trong dạy học vào giảng dạy môn Toán ở Tiểu học, có đến 14 GV được khảo sát chiếm 63,64% cho
là cần thiết Không có GV nghĩ rằng việc sử dụng BĐTD vào dạy học là không cần thiết và số GV cho là bình thường rất thấp chỉ có 1 người (4,54%) Bên cạnh
đó có 7 giáo viên (31,82%) cho là rất cần thiết Rõ ràng số lượng câu trả lời của giáo viên tương ứng nêu trên, ta có thể kết luận: Việc sử dụng việc sử dụng BĐTD vào dạy học môn Toán được đa số GV cho là cần thiết
Có thể minh họa kết quả trên trong biểu đồ sau:
Rất Cần Thiết:
31.82
Không Cần Thiết : 0 Cần thiết: 63.64
Bình Thường: 4.54
Biểu đồ 1.1 Biểu đồ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của bản
đồ tư duy trong giờ Toán