Cảm thụ văn học nói chung và cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng nhằm phát triển tư duy cho học sinh, giúp các em thể hiện được một cách tổng hợp nhất những kiến thức, kĩ năng học tập đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ TÁC PHẨM TRỮ
TÌNH CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ TÁC PHẨM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc tới
TS Nguyễn Xuân Huy - người thầy đã tận tình hướng dẫn chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu đầu tay này
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Hùng Vương, ban lãnh đạo và các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh Trường Tiểu học Phong Châu, Thị xã Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn những người thân, cảm ơn các bạn sinh viên lớp K10 – ĐHSP Tiểu học đã luôn động viên, cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh làm khoa học cho chúng tôi trong suốt chặng đường thực hiện công trình này
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô cùng toàn thể các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao và luôn thành công trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa .i
Lời cảm ơn .ii
Mục lục iii
Danh mục các cụm từ viết tắt v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… 4
3 Mục tiêu nghiên cứu……… …… 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… … 5
6 Phương pháp nghiên cứu……… …5
Chương 1: Cơ sở khoa học của cảm thụ tác phẩm trữ tình trong nhà trường 1.1 Cơ sở lí luận của cảm thụ tác phẩm trữ tình……… … 8
1.1.1 Khái quát về tác phẩm trữ tình……… ……… 8
1.1.2 Cảm thụ tác phẩm trữ tình trong dạy học Tiếng Việt…… ………… 32
1.2 Cơ sở thực tiễn của cảm thụ tác phẩm trữ tình……….35
1.2.1 Vai trò, vị trí của việc dạy - học cảm thụ tác phẩm trữ tình ở Tiểu học……… 35
1.2.2 Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ TPTT cho học sinh Tiểu học……….……… .38
Kết luận chương 1……… 41
Chương 2: Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4 2.1 Khái quát về trường Tiểu học Phong Châu……… 42
2.1.1.Giới thiệu về nhà trường……… 42
2.1.2 Khái quát về hoạt động dạy – học……… 43
Trang 52.1.3 Tình hình dạy học cảm thụ TPTT ở trường Tiểu học Phong Châu… 46
2.1.4 Đánh giá chung về hoạt động dạy – học cảm thụ TPTT ở lớp 4…… 48
2.2 Giới thiệu các tác phẩm trữ tình trong chương trình Tiếng Việt lớp 4….53 2.3 Biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4 trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học……… .56
2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp……….57
2.3.2 Bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ……… ……….60
2.3.3 Bồi dưỡng hứng thú học tập……… .63
2.3.4 Bồi dưỡng vốn sống……… 64
2.3.5 Tăng cường năng lực quan sát và thể hiện……… 65
2.3.6 Đa dạng hóa hoạt động cảm thụ tác phẩm trữ tình theo chủ đề và dạy học liên môn……… 67
2.3.7 Tổ chức đàm thoại gợi mở nhằm nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm trữ tình……… 68
2.3.8 Xây dựng phiếu học tập và hệ thống bài tập tương tác nhằm nâng cao năng lực cảm thụ TPTT cho học sinh lớp 4……… 72
Kết luận chương 2………… ……… 74
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 3.1 Mục đích thực nghiệm……… 75
3.2 Đối tượng thực nghiệm……… .75
3.3 Nội dung thực nghiệm……… 76
3.3.1 Phạm vi và thời gian thực nghiệm……… .76
3.3.2 Kế hoạch thực nghiệm……… .76
3.3.3 Tiến hành thực nghiệm……… 77
3.4 Kết quả thực nghiệm……… 78
3.4.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá……… .78
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm……… .78
Kết luân chương 3……… 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 83
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại, giáo dục không ngừng phát triển và là động lực
để phát triển kinh tế, xã hội Ở mọi thời đại, giáo dục đã phục vụ đắc lực cho
xã hội, kịp thời điều chỉnh quy mô, thích ứng nhanh với những yêu cầu của biến đổi nguồn nhân lực Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh của kinh tế cùng với khoa học kĩ thuật hiện đại cũng tác động trở lại để phát triển giáo dục Đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao, đồng thời quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang
là một thách thức với nước ta Một mặt nó tạo ra cơ hội cho giáo dục phát triển do nhu cầu về nguồn nhân lực có trí tuệ ngày càng tăng Mặt khác, kinh
tế đòi hỏi giáo dục đáp ứng nhu cầu trước mắt và đón đầu định hướng đúng cho tương lai Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng của
hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ để trẻ tiếp tục học lên các bậc học tiếp theo Mục tiêu của Giáo dục tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh những tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và kĩ năng cơ bản mang tính đúng đắn và lâu dài Ở tiểu học việc bồi dưỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trường
1.1 Trong hệ thống các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn học rất quan trọng, được coi là môn học công cụ để học các môn học khác Môn Tiếng Việt được chia thành rất nhiều phân môn, mỗi phân môn đảm nhiệm vai trò hình thành và rèn rèn luyện cho học sinh các kiến thức, kĩ năng
cơ bản để học tập tốt môn Tiếng Việt Trong đó phần cảm thụ văn học được tích hợp lồng ghép trong hầu hết tất cả các phân môn nhưng tập trung chủ yếu nhất là trong phân môn Tập đọc và Tập làm văn ở tiểu học Cảm thụ văn học nói chung và cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng nhằm phát triển tư duy cho học sinh, giúp các em thể hiện được một cách tổng hợp nhất những kiến thức,
kĩ năng học tập được trong quá trình học Tiếng Việt
Trang 9Khi cảm thụ tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh
về mặt nhận thức mà còn đem đến những rung động sâu sắc trong tình cảm Xuất phát từ những điều tự nhiên ấy sẽ xây dựng những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động cũng như bồi dưỡng, làm phong phú thêm cho đời sống tâm hồn con người
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học nói chung và năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng nhằm hướng tới khả năng “ khám phá nghệ thuật” trong tác phẩm văn học Đó chính là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận dạng, làm quen, hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ…Với các tác phẩm trữ tình nói riêng, bồi dưỡng năng lực cảm thụ chính là việc giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm, xác định đúng nội dung của tác phẩm, hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Từ đó giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong tác phẩm cũng như trong cuộc sống, nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển nhân cách cho học sinh ngay từ những bậc học đầu tiên
1.2 Vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm trữ tình nói riêng cho học sinh lớp 4 ở tiểu học là một vấn đề tương đối phức tạp dựa trên đặc điểm tâm sinh lí của học sinh ở lứa tuổi này Với học sinh tiểu học, tư duy trực quan hình tượng phát triển hơn so với tư duy từ ngữ logic nên việc tiếp nhận cảm thụ văn học cũng khá khó khăn Học sinh lớp 4 là lứa tuổi hình thành gần như đầy đủ nhất các kĩ năng chủ yếu phục vụ cho việc học tập môn Tiếng Việt Lúc này, hoạt động cảm thụ văn học được đưa ra một cách trực tiếp và hình thành những yêu cầu cao hơn ở học sinh Nếu như ở các lớp dưới hoạt động cảm thụ chủ yếu được lồng ghép trong các phân môn của môn Tiếng Việt nhằm hình thành cho học sinh những kĩ năng
cơ bản nhất về cảm thụ thì ở lớp 4, học sinh làm quen dần với những yêu cầu cảm thụ ở mức độ cao, sâu hơn Đồng thời, việc giảng dạy hoạt động cảm thụ cho học sinh lớp 4 cũng khá phức tạp Giáo viên vừa phải giúp học sinh làm quen với những yêu cầu mới phức tạp hơn vừa phải hướng học sinh tới cách
Trang 10tự biểu hiện cảm nhận của mình thông qua một văn bản hoàn chỉnh và thống nhất về cả cấu trúc lẫn nội dung
Khả năng cảm thụ của học sinh còn hạn chế, cách giảng dạy của giáo viên đôi khi còn ở dạng tĩnh, chưa tích cực hóa được các hoạt động cũng như năng lực cảm thụ của học sinh Chính vì vậy, học sinh không thể dễ dàng nhận biết và hiểu được những nội dung cốt lõi, những dấu hiệu mang tính nghệ thuật của văn bản, chưa thấy hết được cái hay cái đẹp ở nội dung cũng như cái đặc sắc trong hình thức thể hiện tác phẩm
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dựa trên những lí do cơ bản như sau:
- Thứ nhất, việc dạy học cảm thụ văn học nói chung và cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng ở tiểu học hiện nay vẫn chưa thực sự hiệu quả và đáp ứng yêu cầu đặt ra của xã hội
- Thứ hai, xuất phát từ chính những nhu cầu của người học, những nhu cầu hết sức thiết yếu là được bày tỏ tình cảm, cảm xúc, được thể hiện…Vì vậy, việc đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cảm thụ TPTT cho học sinh giúp bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn cho học sinh
- Thứ ba, trên cơ sở những nhu cầu của người giáo viên tiểu học muốn được đổi mới, muốn thay đổi cách thức tổ chức lên lớp mà việc đưa ra các hướng mới trong dạy học cảm thụ TPTT là hết sức cần thiết Áp dụng những biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ TPTT, GV không chỉ tìm ra những cách dạy mới mà còn giúp GV có thể khẳng định vị trí và năng lực của mình
1.3 Chính vì vậy, tôi cho rằng việc nghiên cứu để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4 nói riêng và cho học sinh tiểu học nói chung là việc làm thiết thực
và góp phần đổi mới phương pháp dạy học cũng như cách thức đánh giá môn Tiếng Việt ở tiểu học Là một giáo viên tiểu học trong tương lai, tôi lựa chọn
đề tài nghiên cứu:
“ Bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4”
Việc nghiên cứu đề tài góp phần giúp bản thân có được khái niệm cũng như được thực hành trực tiếp để có khả năng trình bày một văn bản khoa học
Trang 11Thông qua đó, góp phần hình thành và bồi dưỡng các kĩ năng dạy học, xây dựng cách thức tổ chức hoạt động trên lớp một cách khoa học và phù hợp Đồng thời, giúp tích cực hóa hoạt động giảng dạy kết hợp học tập của giáo viên và học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học, là cơ sở vững chắc cho học sinh học tập ở các bậc học cao hơn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài đem lại những ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn quan trọng và thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về cảm thụ văn học, cảm thụ tác phẩm trữ tình, đặc thù hoạt động cảm thụ văn học ở tiểu học từ đó bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung
- Tiếp thu những thành tựu của dạy học hiện đại, đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh tiểu học
- Điều tra, khảo sát, thực nghiệm làm sáng tỏ thực trạng bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm văn học trong nhà trường tiểu học để đưa ra những đánh giá và hướng điều chỉnh phù hợp
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn về tác phẩm trữ tình, hoạt động cảm thụ văn học đặc thù ở học sinh tiểu học và thực tế việc giảng dạy cảm thụ văn học trong nhà trường tiểu học hiện nay Từ đó, đưa ra và tổ chức thực hiện một số các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh thông qua việc giảng dạy các đoạn trích và tác phẩm trữ tình trong chương trình SGK lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu bồi dưỡng và phát huy năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là xác định những cơ sở lí luận và thực tiễn về tác phẩm trữ tình, thực trạng dạy học cảm
Trang 12thụ tác phẩm trữ tình ở tiểu học từ đó đề xuất, hướng dẫn tổ chức các biện pháp bồi dưỡng hiệu quả dựa trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức theo hướng tiếp cận năng lực của người học Từ đó nhằm hình thành năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh tiểu học Vì vậy, tôi nghiên
cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học một cách khái quát về tác phẩm trữ tình
và đặc điểm năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình đặc thù ở học sinh tiểu học
- Tổ chức các biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 4
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá một cách tổng thể và trực tiếp những kết quả nghiên cứu của đề tài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh khối lớp 4, Trường Tiểu học Phong
Châu, phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này tôi quan tâm đến việc đề xuất các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh Tiểu học thông qua việc tìm hiểu và giảng dạy các tác phẩm trữ tình trong chương trình SGK Tiếng Việt
lớp 4
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Là nhóm các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút
ra các kết luận khoa học cần thiết Nhóm này bao gồm các phương pháp: Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết; phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
Trong đề tài này chúng tôi chú trọng sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, nghiên cứu các văn bản, tài liệu lí luận khác nhau về một
Trang 13chủ đề bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận, từng mặt để hiểu chúng một cách toàn diện nhằm phát hiện những xu hướng, những trường phái nghiên cứu của từng tác giả Từ đó lựa chọn những thông tin quan trọng, sắp xếp các tài liệu, thông tin lí thuyết đã thu thập để tạo thành một hệ thống
lí thuyết đầy đủ, sâu sắc phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình
Nghiên cứu các cơ sở khoa học trong các tài liệu về vấn đề tác phẩm trữ tình và đặc điểm năng lực cảm thụ văn học đặc thù ở học sinh tiểu học, các biện pháp, phương pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình cho học sinh tiểu học thông qua các tác phẩm trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 4
6.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
Cơ sở của phương pháp nghiên cứu thi pháp là xem xét tác phẩm như một chỉnh thể của thế giới nghệ thuật mang tính quan niệm Từ đó thấy được các nguyên tắc nhìn thế giới mới mẻ được tác giả lồng hóa vào hình thức sử dụng Phương pháp nghiên cứu thi pháp học giúp cho học sinh tiểu học nhìn nhận, đánh giá các tác phẩm trữ tình ở chiều sâu và có tính hệ thống
6.3 Phương pháp thống kê
Thống kê số lượng tác phẩm và đoạn trích trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 4 để phân loại nội dung, thể loại văn học nhằm định hướng cho học sinh hướng cảm thụ tác phẩm trữ tình một cách hiệu quả
6.4 Phương pháp điều tra
Là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhất
định nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc
điểm về định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp đặc thù trong các hoạt động sư phạm Phương pháp này cho phép tác động lên đối tượng nghiên cứu một cách chủ động, can thiệp có ý thức vào quá trình diễn biến tự nhiên,
để hướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mong muốn Sử dụng phương pháp này nhằm thu nhận thông tin về đặc điểm cũng như quá trình dạy học
Trang 14cảm thụ văn học trong nhà trường tiểu học Từ đó đề xuất các giải pháp và kiểm tra tính khả thi của giải pháp trên đối tượng thực nghiệm để có những đánh giá chính xác và hướng điều chỉnh phù hợp
6.5 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp nghiên cứu khoa học trong đó người nghiên cứu nhờ
sự giúp đỡ trí tuệ của đội ngũ những người có trình độ cao, am hiểu sâu về lĩnh vực mà nhiều người nghiên cứu quan tâm, xin ý kiến đánh giá, nhận xét của họ về vấn đề nghiên cứu hoặc định hướng cho người nghiên cứu
Đây là phương pháp đỡ tốn thời gian và sức lực nhất Tuy nhiên kết quả nghiên cứu chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm của các chuyên gia
Ở đề tài này, chúng tôi tham khảo và nhờ sự giúp đỡ từ phía các thầy cô giáo có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm đồng thời xin ý kiến đánh giá, nhận xét từ phía các chuyên gia nghiên cứu khoa học đầu ngành
Trang 15
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CẢM THỤ TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
TRONG NHÀ TRƯỜNG 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
Trong dòng chảy xuyên suốt của văn học các tác phẩm văn học ra đời dựa trên nền tảng những biểu hiện tư tưởng, tình cảm của con người Tác phẩm trữ tình được phân biệt cùng với tác phẩm tự sự tạo nên sự đa dạng, phong phú cho tác phẩm văn học
Xuất phát từ cách thể hiện tình cảm, cảm xúc ít nhiều trong tác phẩm, cách tổ chức câu từ của ngôn từ nghệ thuật tạo nên một chỉnh thể là một tác phẩm hoàn chỉnh mà tác phẩm trữ tình ra đời như một bức tranh đầy đủ nói lên những cảm xúc của con người một cách sâu sắc và nhiều góc cạnh Tác phẩm được hiểu là công trình do nhà văn hoá, nghệ thuật hoặc khoa học sáng tạo ra, còn trữ tình là tính từ chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nhân vật có cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống
Nói tóm lại tác phẩm trữ tình bao gồm những tác phẩm thể hiện ý nghĩa
tư tưởng tình cảm của tác giả theo cách riêng biệt cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách trực tiếp của tác giả chính là cơ sở để xây dựng, nội dung của tác phẩm
1.1.1 Khái quát về tác phẩm trữ tình
1.1.1.1 Thế giới quan và sự cụ thể hóa hết sức phổ biến trong tác phẩm trữ tình
Trong tác phẩm trữ tình yếu tố nội dung được bộc lộ thông qua những
tư tưởng, tình cảm những xúc cảm chân thành từ bản thân tác giả nếu như ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng bằng những đối thoại và độc thoại khác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột thì ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con người,
Trang 16cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa được trình bày trực tiếp là nội dung chủ yếu Thế giới chủ quan bao trùm lên toàn bộ tác phẩm trữ tình tuy nhiên bên cạnh thế giới chủ quan ấy còn có sự gắn kết, ăn nhịp của yếu tố khách quan Vì những cảm xúc, tâm tư, tõm trạng tình cảm nhiều khi không xuất phát tự trong lòng
mà nó được khởi điểm gợi mở từ những yếu tố khách quan Sự gắn kết ăn nhịp ấy đã tạo cho tác phẩm trữ tình sự đa dạng về nội dung Người đọc có thể thông qua những ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm để nắm bắt cảm xúc tình cảm của tác giả Tuy nhiên cũng thông qua đó ta thấy những sự vật, chi tiết hiện thực đời sống khách quan khéo đan gài trong cảm xúc, tâm trạng của tác giả trữ tình
“Cái tôi trữ tình” của tác giả - yếu tố đầu tiên và cơ bản làm nên nội
dung tác phẩm trữ tình
Biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình Tác phẩm trữ tình ra đời dựa trên cảm nhận chủ quan của tác giả nghệ thuật hay còn gọi là "Cái tôi trữ tình" Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những cách nhìn nhận, đánh giá thống nhất về ý nghĩa, giá trị của cái tôi trữ tình, đối với một tác phẩm trữ tình Các trường hợp đề cập đến vấn đề này thì lại đưa ra những cách hiểu khác nhau cái tôi ở đây được xem xét trên cơ sở thơ trữ tình là chủ yếu vì thơ trữ tình là thể loại thể hiện đầy đủ và rõ nét nhất những đặc điểm và đặc trưng của một tác phẩm trữ tình Nó là thể loại phù hợp để diễn đạt tình cảm, cảm xúc
"Bắt đầu từ các nhà mỹ học thế kỷ XVIII-XIX như Hegel, thơ trữ tình được xem như là sự biểu hiện của chủ thể và cảm thụ của chủ thể Ông nói
"Cần phải khẳng định một chủ thể cụ thể nhà thơ, như là điểm tập trung và nội dung đích thực của nhà thơ trữ tình ở thơ trữ tình cá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình cảm nội tại của nó Cơ sở tư liệu để Hegel xây dựng quan niệm của ông là thơ ca lãng mạn đương thời, ông viết "Nội dung đích thực của chủ nghĩa lãng mạng là đời sống nội tâm tuyệt đối, còn hình thức của
nó là tính chủ quan tinh thần như là sự lý giải về sự tự hoạt động và tự do, từ tinh thần đó ông hiểu nội dung của tác phẩm trữ tình là toàn bộ cái chủ quan
Trang 17thế giới nội tâm, tâm hồn đang tư duy và đang cảm thấy một tân hồn chưa chuyển sang hành động mà vẫn giữ nguyên tính chất của cuộc sống bên trong Tuy nhiên, theo Hegel khái niệm cái chủ quan ở đây thuộc về ý niệm tuyệt đối Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm
cá nhân của bản thân ông sự tuyệt đối Việc ông xem xét cái chủ quan cá nhân phụ thuộc vào những quan niệm cá nhân của bản thân ông Sự tuyệt đối hoá trong ý thức, quan niệm về con người cá nhân trong tác phẩm trữ tình một phần đã khiến cho cái tôi cá nhân vẫn chưa có ý nghĩa đáng kể, cái tôi ở đây vẫn được xem xét một cách riêng biệt Mỗi người có cách nhìn nhận và đánh giá cái tôi khác nhau nên chưa khái quát và thống nhất được cách đánh giá chung nhất về cái tôi cá nhân hay nói cách khác là thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình "Các nhà lý luận văn học Liên Xô như L.I Timôphêép, G.NPôxpêlốp xác định nội dung trữ tình là tính cách xã hội được biểu hiện qua nhân vật trữ tình Trong tương quan đó, cái tôi trữ tình lại được thu hẹp, chỉ như một loại trữ tình đặc biệt, khi tác giả trực tiếp miêu tả, biểu hiện yếu
tố tâm trạng, tiểu sử của chính mình Như vậy cái tôi trữ tình không được xem xét như một yếu tố phổ quát của thơ trữ tình và nhân vật trữ tình nói chung cách hiểu này đã để lại dấu ấn đánh giá thấp ý nghĩa của cái tôi cá nhân và đề cao cái ta như một sự đối lập với cái tôi cá nhân Cái tôi cá nhân, cái nhìn bao giờ cũng được hiểu như một cái gì nhỏ hẹp, hạn chế, khép kín, ít ý nghĩa Có những cách hiểu phiến diện hay tuyệt đối hoá vai trò của thế giới chủ quan (cái tôi cá nhân) trong nội hàm tác phẩm trữ tình đã phần nào làm hạn chế đi
sự đa dạng trong nội dung cũng như những phương diện tình cảm được tác giả gửi gắm trong mỗi tác phẩm
Thế giới chủ quan là yếu tố đầu tiên và cơ bản để hình thành nên nội dung tác phẩm vậy nên về cái chủ quan, cái cá nhân luôn luôn phải được xem xét một cách khách quan Xưa nay, có nhiều quan điểm phân trần rõ nét giữa cái "tôi" với "cái ta", cái tôi ở đây được xem là cái cá nhân cảm xúc chủ quan, nhỏ hẹp còn "cái ta" được nhìn nhận như là một cái chung phổ quát lớn lao, cao cả bao trùm, thống nhất và khái quát hoá nhiều cái tôi Từ điển tâm lý học
Trang 18(M, 1983) do A N Leonchiep chủ biờn đã xác định: Cái tôi là kết quả của việc con người tách mình ra khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người cảm thấy mình như một chủ thể Cái tôi là quan niệm của chủ thể về mình hình thành trong hoạt động và giao tiếp, mang các đặc điểm như chỉnh thể, thống nhất, có khả năng tự đánh giá, tự quan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện có mâu thuẫn nhưng thống nhất Trong tác phẩm trữ tình, nội dung được hiện hữu thông qua sự rung động của cái tôi cá nhân, cái tôi ấy mang những số phận, những cá tính riêng tư khác nhau Tuy nhiên, nếu như trong thơ ca một thời có sự phân biệt rạch ròi giữa "cái ta", "cái tôi", nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau , mọi cái ta đều hoạt động bằng cái tôi và mọi cái tôi đều kết tinh bởi cái ta có lẽ, cái tôi và cái ta chưa bao giờ tách rời nhau, nó luôn thống nhất với nhau trong từng tác phẩm cụ thể "Thơ Đỗ Phủ
đâu chỉ nói về mình mà còn nói cả số phận nhân dân thời ly loạn Trong Con
quỷ của Lécmôntốp Chiếc thuyền say của Rimbaud, Tấm lá rụng của
Verlaine, thơ trữ tình của Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương đâu chỉ
có cái tôi tiểu sử nhỏ hẹp mà nó bao trùm trong đó nỗi niềm, tâm sự của một lớp người có chung hoàn cảnh, chung cảm xúc, chung những ao ước, khát vọng Xuân Quỳnh đã khéo gắn kết "cái ta" với "cái tôi" một cách tinh tế vừa cho lời thơ ăn nhịp với dòng cảm xúc chung vừa tạo nên nét cá tính riêng trong từng tác phẩm:
"Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ "
(Sóng)
Những câu thơ đúc kết những cảm xúc những khao khát chân thành của nhà thơ khao khát mong ước về tình yêu đã hoà vào dòng chảy chung trong cảm xúc của đôi lứa Ai đó khi yêu cũng mong ước mình có một tình yêu trọn vẹn, ai chưa yêu cũng khao khát mình có một tình yêu nhưng không phải bất
cứ ai cũng biết khát khao được sống trong tình yêu tuyệt diệu ấy Đó chính là
Trang 19nét cá tính, cái tôi riêng đúc kết trong cái ta chung tạo nên những cảm xúc không hề xa lạ nhưng lại rất mới mẻ
Thế giới chủ quan của nhà thơ, nhà văn có tác động về cùng quan trọng đến sự phát triển của văn học nói chung cũng như các tác phẩm trữ tình nói riêng Mỗi tác phẩm trữ tình có thể bao hàm nội dung nhiều mặt như triết lý, trí tuệ, có thể thiên về trữ tình công dân, trữ tình chính trị có thể nghiêng về miêu tả thiên nhiên hoá có thể miêu tả thể hiện thực hay miêu tả cái gì đi nữa
nó cũng chỉ bao quanh những giới hạn phong phú của cái tôi nhiều mặt, sự đa diện lập thể của cuộc đời Thế giới chủ quan trong tác phẩm trữ tình đóng vai trò chủ đạo làm nên nội dung tác phẩm một cách sâu sắc, toàn vẹn Vì vậy, việc ý thức đúng đắn về cái tôi cá nhân (thế giới chủ quan cá nhân) và phát triển cái tôi đó chính là những tiền đề nền tảng và thực tế cho sự phát triển các tác phẩm trữ tình
Thế giới khách quan - yếu tố tiền đề cho sự hình thành nội dung tác phẩm trữ tình
Dấu hiệu chung để nhận biết tác phẩm trữ tình đó chính là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Tuy nhiên trong tác phẩm trữ tình,
ta không thể xem nhẹ vai trò của yếu tố khách quan Khách quan được hiểu là cái tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người trong quan hệ đối lập với chủ quan, thế giới bên ngoài, cái khách quan luôn chi phối những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người
Thế giới khách quan bao gồm toàn bộ đời sống tự nhiên và xã hội xoay quanh con người Trong tác phẩm trữ tình, yếu tố khách quan nhiều khi không được trực tiếp diễn đạt trong câu chữ nhưng lại là điểm tựa cho những cảm xúc cá nhân của con người là mảnh đất phì nhiêu màu mỡ để cảm xúc chủ quan của tác giả nảy nở và phát triển đúc kết lại trong từng tác phẩm thuộc thể loại trữ tình
Nếu như ở những tác phẩm thuộc thể loại tự sự, thế giới khách quan luôn hiệu hữu để dẫn lối cho những cảm xúc của tác giả men theo những cảnh vật, sự vật sự việc thì ở những tác phẩm thể loại trữ tình, cảm xúc lạ là yếu tố
Trang 20chủ đạo bên cạnh nền tảng là thế giới khách quan Những sự vật, chi tiết, hiện thực đời sống khách quan, những chi tiết chân thực, sống động được phát hiện
từ cuộc sống đã khơi dậy những tình cảm, cảm xúc mới mẻ tạo nên sự đa dạng, phong phú nhiều góc cạnh trong tình cảm của con người
Đọc " Sông lấp " của Trần Tế Xương
"Sông kia rày đã lên đồng Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò"
Thoạt đầu, khi đọc những câu đầu tiên của bài thơ ta thấy xuất hiện một khung cảnh bến sông đã xa vắng Nhiều người cho rằng đó chỉ là những câu văn xuôi có nội dung thông tin, thông báo rằng con sông kia giờ đã bị người
ta lấp đi, hoặc do năm tháng phù sa bồi đắp sự vận chuyển bồi tụ hay đổi thay
ấy cho thấy sự đổi khác về địa hình nơi con sông Những nơi cao thì dân đến làm nhà sinh sống, những nơi thấp thì đã được khai hoá thành những bãi trồng ngô, trồng khoai phục vụ cho đời sống và sinh hoạt "Vẳng nghe tiếng ếch bên tai", đó là tiếng ếch kêu trong đêm khuya khoắt, phải lắng tai nghe phải thật chú ý mới thấy được những âm thanh quen thuộc nơi đồng bãi quê hương Tiếng ếch kêu như trầm như bổng, như gần như xa mở ra một không gian tĩnh lặng bao trùm những tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng Những hình ảnh của thế giới khách quan là đồng bãi là những mô đất cao ven sông nay đã san sát nhà cửa rồi những âm thanh tự nhiên "tiếng ếch kêu" đã là tiền đề khơi gợi cảm xúc nơi nhà văn Hồn cốt của bài thơ là đây "giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò" Con sông kia với tiếng gọi đò đã chìm vào quá khứ như vậy mà giờ đây nó đã trỗi dậy trong tâm tưởng nhà thơ, đánh thức những trái tim, khua lên những hồi cố ngọt ngào thế nên mới phải "giật mình" thiên nhiên, thời gian và cả con người đã góp phần làm thay đổi cảnh vật, thay đổi cả không gian văn hoá hữu hình và phi vật thể như một hiện hữu không sao nớu giữ được Chính điều đó đã tạo nên niềm tiếc nhớ khôn nguôi của tác giả trước những thăng trầm biến đổi của lịch sử Xem xét những sự vật, hiện tượng hình
Trang 21ảnh của thế giới khách quan từ đó xuất phát điểm những cảm xúc mới mẻ, sâu
sắc, bài thơ "Hạt gạo làng ta” ra đời năm 1969 khi Trần Đăng Khoa là một
cậu bé 11 tuổi Xuất phát từ các sự vật, hiện tượng chi tiết hiện thực của đời sống khách quan mà Trần Đăng Khoa đã có những suy nghĩ chín chắn, chững chạc trong cách nhìn về cuộc sống lao động, giá trị lao động và những sản phẩm chân chính từ lao động, để từ đó thêm yêu quê hương đất nước con người, yêu cuộc sống lao động Tứ thơ của bài thơ được phát triển bắt đầu từ
ý khái quát hạt gạo được kết tinh từ những hương vị ngọt ngào của quê hương
đó là hương đông gió nội, là những bài ca lao động, là lời ru của mẹ rồi là vị phù sa màu mỡ của đất đai quê nhà Những hình ảnh "hạt gạo", "phù sa"
"hương sen" "hồ nước đầy" "lời mẹ hát", là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong cuộc sống Thông qua những hình ảnh ấy để từ đó dẫn lối ta đến với những cảm xúc yêu thương chân thành của nhà thơ Hạt gạo ấy còn được làm
ra từ những thiên tai "bão tháng bảy", "mưa tháng ba”, rồi năm chiến tranh khói lửa hạt gạo không chỉ là sản phẩm vật chất mà nó còn là sản phẩm tinh thần vô giá nó chứa đứng sự trân trọng, niềm tự hào sâu sắc
Trong tác phẩm trữ tình, thế giới khách quan có thể được cho là thế giới thứ hai - thế giới mà thông qua cái nhìn chủ quan của tác giả tái hiện lại Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm, thế giới khách quan lại chính là điểm tựa nâng cảm xúc của con ngưòi lên những nấc thang mới hơn Thế giới khách quan đóng vai trò quan trọng giúp người đọc nhận thức rõ nét thế giới chủ quan ẩn hiện trong tác phẩm Phủ nhận thế giới khách quan chính là phủ nhận một phần nội dung tác phẩm từ đó có thể không đưa ra được cách nhìn nhận đánh giá, cách hiểu toàn diện về nội dung tác phẩm
Tác phẩm trữ tình - sự cụ thể hoá những chân lý phổ biến nhất và
sự khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến
"Sẽ là sai lầm nếu cho rằng tác phẩm trữ tình chỉ thể hiện những gì thầm kín, chủ quan, cá nhân, cá biệt, đúng là nhà thơ trữ tình bộc lộ những nỗi niềm chủ quan, thầm kín nhưng chính vì vậy, suy tư trữ tình có thể cụ thể hoá
Trang 22những chân lý phổ biến nhất của tồn tại con người: Sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thuỷ, lý tưởng, ước mơ, tương lai, hạnh phúc
Tình yêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Những tác phẩm trữ tình đặc biệt là thơ trữ tình đã góp phần thể hiện một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất, nhiều góc cạnh nhất những cung bậc cảm xúc của con người trong tình yêu Xuân Quỳnh trực tiếp bộc lộ những tình cảm trong mình một cách chân thành, sâu lắng
" Tôi có một tình yêu rất sâu
Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết, Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu một người
Tôi sẽ yêu anh hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm"
Những lời thỳ nhận ngọt ngào mà hết sức chân thành ấy của Xuân Quỳnh phải chăng cũng là lời thú nhận của bao thế hệ phụ nữ từ Thuý Vân,
Thuý Kiều, Tố Tâm đến cả cô gái trong bài hát "Đợi" cô gái trong bài hát "Sợi
nhớ sợi thương"
"Nghiêng sườn đông mà che mưa anh
Nghiêng sườn tây xoè bóng mát
.Mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh" Nỗi lời thú nhận xuất phát từ những tâm sự nỗi niềm khác nhau của những con người trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng nó đã góp phần cụ thể hoá chân lý phổ biến của sự sống con người đó là tình yêu Tình yêu là cái
vô hình không thể cầm, nắm, bắt được Tuy nhiên, thông qua các mặt biểu hiện trong tác phẩm trữ tình, tỡnh yêu tương tự như thể những chân lý phổ biến về sự sống, cái chết, lý tưởng, sự chung thuỷ cũng được cụ thể hoá trong thơ ca và các tác phẩm trữ tình một cách nghệ thuật đòi hỏi sự cảm nhận, đánh giá sâu sắc, tinh tế của người đọc với một tác phẩm trữ tình
Không bị ràng buộc bởi yêu cầu tái hiện trọn vẹn một tính cách, số phận, một hành động như tự sự và kịch, tác phẩm trữ tình có thể đạt được những khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến Người ta rất có lý khi cho rằng khái quát trữ tình thường có tầm vóc phổ quát nhất về tồn tại và nhân sinh
Trang 23Tác phẩm trữ tình luôn thể hiện một cách phóng khoáng tự do nhất những cảm xúc phổ biến của con người Trong những câu thơ ta thấy được tính khái quát nghệ thuật phổ biến Nội dung câu thơ không chỉ bó hẹp trong hoàn cảnh lịch sử sáng tác tác phẩm mà khi nó đã được phổ quát thì câu thơ đi vào đời sống như những câu tục ngữ, cách ngôn, những lời nói cửa miệng, những khẩu hiệu hành động Nếu như trong các tác phẩm tự sự, kịch luôn yêu cầu phải tái hiện đầy đủ, trọn vẹn một cách số phận nhân vật cụ thể thì người đọc mới có thể nắm bắt đựơc nội dung tác phẩm thì trong tác phẩm trữ tình bằng sự phổ quát hoá ta có thể thấy được những chân dung nhiều mặt của
cuộc sống chỉ với một lượng "rất kiệm" các câu chữ Trong "Cảm tưởng đọc
Thiên Gia Thi" chủ tịch Hồ Chí Minh viết
"Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong"
"Nhà thơ" ở đây đâu đơn giản là một con người một "nhà thơ" cụ thể
mà nhà thơ ở đây là những "nhà thơ chiến sĩ" trong những buổi chiến tranh ác liệt, không phân biệt địa vị, giai cấp, đảng phái cứ là thanh niên yêu nước thì đều ra trận bảo vệ sự bình yên cho nước nhà Những "nhà thơ" cũng ra trận,
họ chiến đấu trên mặt trận văn hoá tư tưởng vừa cổ vũ nhân dân chiến đấu trên mặt trận văn hoá tư tưởng vừa cổ vũ nhân dân đấu tranh bằng các bài hùng ca về non sông, đất nước con người Việt Nam và lấy "lời thơ câu chữ" làm vũ khí chiến đấu với quân giặc về tư tưởng:
Trang 24lớn thông qua sự khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến trong tác phẩm trữ tình
Nội dung tác phẩm trữ tình còn được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân vật trữ tình
1.1.1.2 Nhân vật trữ tình – yếu tố cơ bản và đặc trưng của tác phẩm trữ tình
Phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình
Nhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân tác giả, đọc tác phẩm
thơ ta như đọc được một bản tự thuật về tâm trạng xuất phát từ việc định hướng đúng đắn, nhân vật trữ tình trong tác phẩm trữ tình mà ta có thể hiểu một cách cụ thể sâu sắc hơn về đời sống nội tâm, những kỷ niệm trong cuộc sống cũng như cá tính sáng tạo thể hiện thông qua tác phẩm nghệ thuật của các tác giả trữ tình Xuân Diệu thể hiện nét cá tính là cuộc sống hấp tấp, vội
vàng tận hưởng của chính bản thân mình trong "Vội vàng"
"Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
.Mau lên chứ vội vàng lên với chứ"
Nhân vật trữ tình ở đây chính là bản thân tác giả với nhịp sống nhịp tận hưởng cuống quýt, vội vàng Nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh cũng thường là chính bản thân nhà thơ Xuân Quỳnh hoà vào làm một với những nhân vật như "con" , "mẹ"… để trực tiếp bày tỏ cảm xúc tâm trạng
"Ngủ yên con, ngủ đẫy giấc nghe con
Lời mẹ ru làm chiến hào che chở
Dẫu con đi đến suốt cuộc đời
Vẫn không đi hết những lời mẹ ru"
(Lời ru - Xuân Quỳnh)
Trang 25Trong tương quan với nhân vật trữ tình, nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, cảm xúc là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả Nhân vật trong tác phẩm trữ tình được xuất hiện những nét miêu tả cụ thể dễ hình dung Ta bắt gặp nhân vật chị Trần
Thị Lý trong "Người con gái Việt Nam" của Tố Hữu:
"Em là ai, cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em hay là mây là suối
Ánh mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng…
Những vần thơ hồn hậu xuất phát từ cảm xúc về người anh hùng dân tộc có tên Trần Thị Lý Thông qua sự miêu tả về những nữ anh hùng ta thấy
cả một thời đại hào hùng của dân tộc Thời đại mà nhân dân đồng lòng, không ngại gian khổ, không ngại hi sinh để bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc Bên cạnh việc gửi gắm cảm xúc thông qua nhân vật trong thơ trữ tình là chị Trần Thị Lý ta còn thấy được bằng sau đó một nhân vật nổi rõ hơn với những cảm xúc tình cảm từ kinh ngạc, sững sờ đến mến thương, kính phục và tin tưởng vào chiến thắng Đó chính là nhân vật trữ tình
Nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình được phân định dựa trên cách cấu tứ hình tượng ngôn ngữ và cách đan gài cảm xúc chi phối tác phẩm của các tác giả nghệ thuật Nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình nhiều khi không được phân định vì nó đã hoà vào làm một để thể hiện cảm xúc cảm nhận giúp thể hiện một cách tinh thế nhất tâm trạng, tư tưởng, nội dung mà tác giả trữ tình gửi gắm trong tác phẩm thuộc thể loại trữ tình
Yêu cầu về tính khách quan, tiêu biểu và chân thực của nhân vật trữ tình
Tính khách quan, tiêu biểu và chân thực là những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị của nhân vật trữ tình Bêlinxki đã viết "Bất cứ thi sĩ nào cũng không trở thành vĩ đại nếu chỉ do ở mình, và chỉ miêu tả mình - dù là miêu tả những nỗi khổ đau của mình hay hạnh phúc của mình Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào,
Trang 26sở dĩ họ vĩ đại là vì bởi những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại Những tình cảm riêng của nhà thơ bao giờ cũng gắn liền với những tình cảm chung mang ý nghĩa khái quát Trong tác phẩm thơ trữ tình, khi sáng tác mỗi tác giả đã tự nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩa cho một loại người, thế hệ mới Vậy nên trong những tác phẩm trữ tình, tác giả thường có lối xưng hô là "ta", "chúng ta", "lũ chúng tôi" …
"Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người"
(Việt Bắc - Tố Hữu)
Rồi: "Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất"
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
Hay: "Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ thuở một hai"
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Tình cảm riêng hoà quyện trong những tình cảm chung lớn lao đã làm nổi bật tính khách quan, tiêu biểu của nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình
trong “quê mẹ“ của Tố Hữu vừa chất chứa trong mình những tình cảm sâu sắc
nhớ về quê mẹ vừa bộc lộ ra những khao khát, tin tưởng lớn lao vào sự nghiệp thống nhất nước nhà, sự tự do hạnh phúc cho nhân dân Nỗi nhớ quê mẹ, nhớ những ngày ấu thơ tràn ngập trong từng trang thơ ông:
"Huế ơi! quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mươi
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi"
Trang 27Miền quê hương yêu dấu với những kí ức tràn về trong tõm tư của người con xa quê lên đường đi làm cách mạng Tình cảm cá nhân thiêng liêng
ấy quyện lại trong niềm tin chiến thắng của nước nhà, mong một ngày đất nước hết loạn lạc để được về đây quê hương yêu dấu của nhà nhơ:
"Ôi Huế ngàn năm, Huế của ta
Đường vào sẽ nối lại đường ra
Như con của mẹ về quê mẹ
Huế lại về đây với cộng hoà"
Những điều tưởng như rất chủ quan, riêng biệt của nhà thơ có thể tiêu biểu tâm trạng, quan điểm và xu hướng của một nhóm người, của một giai cấp, một thời đại Như thế thơ trữ tình, tuy biểu hiện thế giới nội tâm chủ quan, lại cũng có thể theo cách riêng của mình phản ánh thực tế khách quan của cuộc sống xã hội tức là phản ánh gương mặt tinh thần của xã hội Tính chân thật của nhân vật trữ tình còn thể hiện trong mối tương quan với lịch sử cuộc sống Những cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình phải có nguồn gốc
từ thực tế lịch sử xã hội và tiêu biểu cho nhiều người trong một thời kỳ lịch
sử nhất định Nếu không sẽ dễ rơi vào sự thiếu thực thế, thiếu thuyết phục Hình ảnh "người lính Tây Tiến" ra đời xuất phát từ hoàn cảnh thực tế đất nước cũng như chính hoàn cảnh riêng của bản thân tác giả Quang Dũng "Tây Tiến" là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào vào đánh tiêu hao lực lượng quân đội thực dân Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền Tây Bắc Việt nam Sau một thời gian hoạt động ở Lào, binh đoàn Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 Quang Dũng làm Đại đội trưởng ở đó đến cuối năm 1948 thì chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa lâu, tại Phù Lưu Chanh,
Quang Dũng viết bài thơ "Tây Tiến" "Tây Tiến" là nỗi niềm cảm xúc của
những người lính là thanh niên trí thức Hà Nội đầu quân chiến đấu, vì vậy người lính ở đây không mang nét thôn quê mộc mạc, chất phác mà mang đậm nét trẻ trung, hào hoa của đất thị thành Tuy nhiên, dù thôn quê chất phác hay
là thị thành hào hoa, phong lưu thì bao quát vẫn là hình ảnh người lính dũng
Trang 28cảm kiên cường, không ngại hi sinh gian khó một lòng hướng về tổ quốc, hướng về nhân dân là niềm tự hào của cả dân tộc một thời đại lịch sử hào hùng
Yêu cầu về tính khách quan, tiêu biểu, chân thực làm nên sức sống cho nhân vật trữ tình Cảm xúc bên trong nhân vật trữ tình không chỉ đơn thuần là cái riêng, cái cá nhân mà nó mở rộng ra trong những tình cảm lớn gắn liền với những thăng trầm lịch sử của đất nước Với ý nghĩa cao cả đó, nhà văn Sóng Hồng đã nhận định: Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi có chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân
1.1.1.3 Phạm vi tác phẩm trữ tình và các thể loại
Tác phẩm trữ tình có một phạm vi các thể loại vô cùng đa dạng, phong phú đáp ứng được nhu cầu thể hiện cảm xúc nhiều mặt, nhiều góc cạnh trong đời sống con người Những tác phẩm thuộc thể loại trữ tình chủ yếu nằm trong bốn loại chủ yếu đó là: Thơ trữ tình, thơ văn xuôi, truyện thơ và ký trữ tình Trong bốn thể loại chủ yếu ấy lại được chia nhỏ hơn tạo nên sự đa dạng, chi tiết Thơ trữ tình là thể loại tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất trong các tác phẩm trữ tình Thơ trữ tình được chia thành các loại: Bi ca, tụng ca, thơ trào phúng… Dù ở thể loại nào, tác phẩm trữ tình cũng phát huy được những đặc tính cố hữu của có là diễn cảm xúc, tâm trạng thế giới chủ quan của con người một cách trực tiếp đem đến những cảm nhận nhanh chóng,cụ thể nơi người đọc
Thơ trữ tình
"Thơ trữ tình là phương tiện để con người tự khẳng định bản chất tinh thần của mình so với tồn tại vật chất, là phương tiện để tự đồng nhất mình, xây dựng hình thức về mình, xác định ý chí, chí hướng, lập trường giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây dựng thế giới tinh thần phong phú cho con người Nói tóm lại, thơ trữ tình với tư cách là sự biểu hiện của cái tôi, là phương tiện để con người cảm thấy sự tồn tại của mình Cái tôi trong thơ nâng con người lên cao hơn nội tại trực tiếp, hướng nó về lý tưởng,
là cái cầu nối giữa vô thức và hữu thức Trước đây, trong văn học châu Âu
Trang 29người ta phân chia thơ trữ tình thành bi ca, tụng ca, thơ trào phúng Hiện nay, căn cứ vào đối tượng tạo nên những xúc cảm cho nhà thơ mà người ta chia thành các loại: Thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế
sự, thơ trữ tình công dân Tuy nhiên, những cách phân chia này chỉ mang tính chất tương đối và chưa có một cách thống nhất trong phân chia loại thơ trữ tình
Theo cách phân chia của văn học châu Âu, thơ trữ tình bao gồm ba loại: bi ca, tụng ca và thơ trào phúng Bi ca không phải là những bài thơ nói lên nỗi buồn, sự khổ cực một cách đơn thuần chưa có chiều sâu mà nỗi buồn
đó còn phải được nâng lên thành quan niệm, thành triết lý: Cuộc sống trần thế bản chất là buồn, đau khổ, chia ly, tan vỡ, là định mệnh không tránh khỏi của kiếp người:
"A! Thân thể! Một cái bình tội lỗi
Đất sơ sinh đã hoá lại bùn lầy
Xương với máu có bao giờ mỏi mệt
Miệng bao giờ buông nhả vú cay chua!
Than không chán đau, ngực sầu thổ chết,
Tay bồng thân và tay nửa ôm mồ"
(Huy Cận)
Bi ca đem đến cho con người những cảm nhận rất riêng, vừa gần gũi vừa cao cả và sâu sắc Tình huống, hình ảnh, cũng như những tâm trạng đau buồn, tủi hổ, chán chường, thất vọng được nhắc đến trong bi ca hết sức gần gũi gắn liền với những xúc cảm chân thực diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của con người Tuy nhiên, bi ca còn mang tầm vĩ mô khi nó chứa đựng những quy luật và triết lý của cuộc sống Cảm xúc của con người được gửi gắm thông qua những tác phẩm thuộc thể loại bi ca không nhằm mục đích khơi dậy sự buồn khổ, tủi hờn mà trái lại nó như liều thuốc động viên con người trong những lúc khó khăn, vất vả nhất Tất cả đều thuộc về những quy luật những định mệnh không thể tránh khỏi của kiếp người Đọc tác phẩm thuộc thể loại bi ca bên cạnh việc thấu hiểu tâm trạng của nhân vật hiện hữu trong
Trang 30tác phẩm ta như thấy trong đó niềm tin, sự cương quyết đối mặt với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống để bình thường hóa khó khăn và có niềm tin vào sự cố gắng của bản thân
Bên cạnh bi ca, tụng ca là những bài ca ca ngợi sự kiện anh hùng hay những chiến công hiển hách của con người, những cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên Tụng ca thường thể hiện khí thế, niềm tự hào sâu sắc của con người Tụng ca gắn liền với phạm trù cái cao cả Tụng ca đem đến cho con người những cảm xúc hào hùng, khí thế sục sôi Nội dung trong những tác phẩm thuộc thể loại tụng ca lại mang những chiều sâu tư tưởng cũng như những cách đánh giá nhìn nhận từ nhiều chiều hướng khác nhau Nhiều người cho rằng bi ca mới diễn đạt một cách sâu sắc và hoàn thiện những cảm xúc của con người trên nhiều phương diện như nỗi buồn, sự tủi hổ, đau đớn, kiệt quệ…còn ở những tác phẩm thuộc thể loại tụng ca thì chỉ diễn đạt một cảm xúc chung nhất là niềm tự hào, tinh thần lạc quan, ca ngợi Tuy nhiên, ta cần hiểu rằng một cảm xúc tự hào hay tin yêu cũng có nhiều cung bậc thể hiện khác nhau của nó.Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam luôn gắn liền với thơ ca nhằm ghi lại những dấu ấn lịch sử đồng thời phác họa chân dung đất nước một thời oanh liệt Nhưng niềm tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi thời kì lại được khắc họa dưới một góc độ sâu sắc khác nhau Cùng là
niềm tự hào nhưng trong Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt có màu sắc khác với niềm tự hào trong “ Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi rồi trong
các tác phẩm cùng thời và khác thời cũng có những sự khác biệt trong cách cảm nhận…Tố Hữu đã truyền tải khí thế hào sảng niềm tự hào dân tộc thông qua những dòng thơ đây nhiệt huyết:
"Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca"
(Ta đi tới - Tố Hữu)
Trang 31Tố Hữu xây dựng sự ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước gắn liền với niềm tự hào dân tộc thông qua những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị trên đất nước Việt Nam Những hình ảnh được khám phá qua nhiều góc độ, nhiều không gian từ trên cao có rừng cọ đồi chè đến những vùng thấp và trũng hơn
đó là dòng sông lấp lánh ánh nắng, reo vang tiếng hát Đó chỉ là những hình ảnh mang tính chất “điểm nhãn” cho non sông gấm vóc Việt Nam tuy nhiên bản thân người đọc cũng đã thấy được biết bao sự trù phú của cảnh đẹp đất nước, sự reo vui trong thời đại mới thể hiện niềm tin hướng về tương lai phía trước của một dân tộc anh hùng Thể loại tụng ca để lại trong người đọc những dư âm tốt đẹp, niềm tin, niềm tự hào sâu sắc về quê hương đất nước cũng như con người để từ đó tạo ra những động lực cơ bản cho sự phát triển những cảm quan thẩm mĩ tốt đẹp trong lòng người đọc
Thơ trào phúng là một dạng trữ tình đặc biệt trong đó tác giả thể hiện những tình cảm tốt đẹp phủ nhận những điều xấu xa Sức mạnh của thơ trào phúng chính là lòng căm giận sâu sắc những thói hư tật xấu, những con người phản diện trong xã hội, xuất phát từ một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, tiến bộ Thơ trào phúng bắt nhịp với cảm xúc của người đọc bằng cách vào đề cũng như từ ngữ, câu chữ sử dụng một cách hết sức độc đáo, mới mẻ và đôi khi có
cả những phần táo bạo Đọc thơ trào phúng ta như có cái nhìn đa diện hơn về cuộc sống của con người Cùng là đề cập đến một vấn đề tình cảm hay một mối quan hệ nào đó trong xã hội nhưng thơ trào phúng thu hút người đọc bằng việc dẫn dắt họ thông qua những ngôn ngữ mang tính phiến diện, mới
mẻ và thực tế hơn Xuất phát từ cảm xúc căm hận những thói hư tật xấu, những thứ trướng tai gai mắt trong cuộc sống mà thơ trào phúng được phát triển Tuy nhiên giá trị của thơ trào phúng không dừng lại ở việc chỉ ra những thói hư tật xấu, những điều xấu xa trái với chuẩn mực xã hội mà nó còn đem đến cho người cảm nhận những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống, có cả những suy nghĩ mang tính thế sự Trần Tế Xương được xem là một trong những nhà thơ có nhiều tác phẩm thơ trào phùng nổi bật và đầy ấn tượng Cuộc đời ông gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả tám lần Sau khi hỏng thì mãi đến lần thứ
Trang 32tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài Lần thi cử nhân sau ông đều trượt Có lẽ xuất phát từ sự bon chen lận đận trong cuộc sống cũng như trong thi cử mà Trần Tế Xương đã gửi gắm tâm hồn mình thông qua những vần thơ trào phóng vừa là thể hiện con mắt nhìn đời một cách bạc bẽo, vừa là tạo niềm vui, tiếng cười sảng khoái sau những bon chen, lận đận của cuộc đời Mỗi khi tết đến:
" Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắm đem hàng biếng quẩy"
Rồi:
" Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà"
Thời Tú Xương sống là thời kỳ thực dân Pháp bắt đầu đặt nền móng thống trị ở miền Bắc Xuất phát từ sự căm ghét bọn quan lại làm tay sai cho Pháp, bán rẻ lương tâm, xã hội chạy theo đồng tiền buổi giao thời mà Trần Tế Xương đã có những lời thơ châm biếm,đả kích sâu cay:
"Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với Trường Hà
Lụi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai có
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà"
(Vịnh Khoa Thi Hương)
Những vần thơ vừa hài hước vừa thực tế lại mới mẻ trước hết đã tạo những hứng thú cho người cảm nhận Thông qua việc tái hiện lại khung cảnh một buổi thi Hương, Trần Tế Xương muốn gửi gắm trong đó những suy tư, cảm nhận, những nỗi lo âu trước toàn cảnh đất nước thời bấy giờ Bên cạnh
Trang 33việc thấu hiểu bức tranh diễn tả cảnh thi cử nhìn theo góc độ châm biếm, đả kích ta còn thấy trong đó một bức tranh tâm hồn cao cả của người cầm bút viết nên bài thơ đó là sự căm ghét thói thi cử hình thức mà không quan tâm chú trọng đến chất lượng đồng thời là tình yêu với quê hương đất nước, sự lo lắng trước những giá trị thi cử đang dần bị mai mòn và hỗn tạp
Thông qua việc xác định đối tượng đã tạo nên xúc cảm cho nhà thơ, người ta chia thơ trữ tình thành các nhóm cụ thể thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự và thơ trữ tình công dân
Thơ trữ tình tâm tình có nguồn gốc từ những tình cảm, những mối quan
hệ phổ quát trong cuộc sống hàng ngày tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng, tình yêu thương cha mẹ, tình cảm bạn bè giá trị của thể loại trữ tình tâm tình giúp con người ý thức một cách sâu sắc hơn những tình cảm vốn có trong cuộc sống bình thường mà đầy ý nghĩa
"Anh không ngủ được ư anh?
Để em mở quạt quấn mành lên cho"
(Hát ru chồng những đêm khó ngủ - Xuân Quỳnh)
Xuất phát từ những tình cảm yêu thương vợ chồng hết sức gần gũi, chỉ đơn giản là sự chăm sóc yêu thương lo lắng cho chồng những đêm mất ngủ
mà ta thấy tình yêu ấy thật lớn lao, thật vĩ đại Thơ trữ tình tâm tình mang những đặc điểm nổi bật Đây là một trong những thể loại thơ dễ đi vào lòng người một cách trực tiếp và sâu sắc Với đặc điểm ngôn ngữ giọng điệu đặc thù tác động nhanh chóng vào đời sống nội tâm phong phú của con người giúp dễ dàng khơi dậy sự đồng cảm nơi người đọc Đời sống tâm hồn con người là một thế giới hết sức đa dạng, tinh tế, nhạy cảm đòi hỏi câu chữ diễn
tả đời sống ấy cũng phải được chọn lọc một cách kĩ lưỡng, nắm bắt được sự thay đổi trong cảm xúc cảm quan của con người để từ đó tâm tình, chia sẻ và thơ ca trở thành người bạn đồng hành thân thiết gắn bó với đời sống tình cảm của con người cũng vì lẽ đó
Nếu như thể loại thơ trữ tình tâm tình tập trung diễn tả những mối quan
hệ tình cảm phổ quát liên quan chủ yếu giữa con người với con người thì thể
Trang 34loại thơ trữ tình phong cảnh lại đề cập đến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên đó là sự gần gũi với cây cỏ, vườn tược, chim muông, đồi núi, sông biển… Con người biết nhận ra biết phát hiện những vẻ đẹp của thiên nhiên để rồi biết giao hoà, yêu thiên nhiên Thiên nhiên mở ra trước mắt con người những tầm sống, tầm hiểu biết mới với môi trường, từ đó tâm hồn con người trở nên phong phú hơn, trong sạch hơn Đôi khi thiên nhiên thơ mộng, hùng vĩ và gần gũi lại được lựa chọn để làm nơi trú ẩn cho những tâm hồn đang mênh mang vô định giữa dòng đời hoặc muốn xa lánh nơi quan trường nhiều biến động để lui về làm bạn với thiên nhiên như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến… Lui về làm bạn với quê hương Nguyễn Khuyến gửi gắm cảm xúc suy ngẫm qua những vần thơ đầy màu tâm trạng:
"Ao thu lạnh lẽo nước nước trong veo
Một chiếc thuyều câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo"
(Thu Điếu - Nguyễn Khuyến)
Cảnh thu nhưng nhuốm màu tâm trạng man mác buồn, lạnh lẽo, cô đơn của người cầm bút Cái vắng vẻ, cô quạnh như bao trùm lên toàn bộ những xúc cảm hiện hữu trong tâm hồn nhà thơ Phải chăng Nguyễn Khuyến muốn
tả cảnh nhưng thực chất là để gợi lòng, để nói lên những suy tư thầm kín, chất chứa trong tim Xa chốn quan trường xô bồ nhiều biến động để tìm về với thiên nhiên nhưng ông vẫn băn khoăn việc dân việc nước Từ rất lâu thiên nhiên trở thành người bạn đồng hành của con người trong mọi trải nghiệm của cuộc sống Thông qua nhãn quan của những thi nhân thiên nhiên luôn luôn mới mẻ, thu hút nhưng cũng hết sức gần gũi, thân thương:
"Trăng ơi… từ đâu đến?
Hay từ cánh đồng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà"
(Trăng ơi… từ đâu đến? - Trần Đăng Khoa)
Trang 35Loại thơ trữ tình thế sự là thể loại ghi lại những xúc động những cảm nghĩ về thế thái nhân tình về cuộc đời Trong những thời kỳ lịch sử nhiều biến động, nhiều sự việc chưa được làm rõ ràng thì thơ trữ tình thế sự gợi ý cho người đọc đi sâu suy nghĩ về thực trạng xã hội Những vấn đề thơ của các tác giả có nhiều nỗi niềm luôn mang đậm chất thế sự Đọc thơ trữ tình thế sự ta như thấy trong đó những nỗi niềm tâm trạng mang tính triết lý về sự đời, về con người trong cuộc sống:
"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng cúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao"
(Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Hay trong thơ Hồ Xuân Hương:
"Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu"
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
Khác với thơ trữ tình tâm tình, trữ tình phong cách, trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân lại có những khía cạnh khác Nội dung các tác phẩm thuộc thể loại thơ trữ tình công dân là những xúc cảm, tình cảm, suy nghĩ của nhà thơ nảy sinh trong mối liên hệ với xã hội, chế độ chính trị, xã hội của nó Nhà thơ lấy tư cách công dân cổ vũ và ca ngợi sự nghiệp của nhân dân, lên án , đả kích kẻ thù chung Khi vận mệnh của cả cộng đồng đang trong thử thách khi mọi người quan tâm đến vấn đề sống còn của cả đất nước, loại thơ trữ tình
công dân có tác động mạnh mẽ Những vần thơ trong "Việt Bắc" của Tố Hữu,
"Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên…
"Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu"
(Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
Trang 36Sự sắp xếp phân loại tác phẩm thơ trữ tình chỉ mang tính chất tương đối, tuy nhiên việc sắp xếp, phân loại sẽ giúp ta thuận lợi trong việc nhận ra cảm hứng chủ đạo của bài thơ, khuynh hướng của nhà thơ và những truyền thống nghệ thuật của bài thơ Thơ trữ tình là một thể loại hết sức đa dạng, đa diện trong nội dung, cảm xúc chủ đạo cũng như hình thức thể hiện Với những đặc điểm cụ thể thông qua việc chia nhỏ thơ trữ tình thành những loại nhỏ hơn làm phong phú thêm cho chiều sâu về lý luận của thể loại thơ trữ tình
Thơ văn xuôi
Thơ văn xuôi là thể loại thơ có hình thức văn xuôi nhưng thẩm thấu tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả Thơ văn xuôi là thể loại cũng được khá nhiều tác giả sử dụng để làm hình thức, phương tiện diễn đạt cho tư tưởng của
mình như tập "Cỏ dại" của Lỗ Tấn viết vào khoảng 1924 - 1926, đấu tranh
chống những tình cảm hư vô, cô độc, chán nản để tự khẳng định tinh thần chiến đấu với thế lực phản động Các bài thơ viết đưới hình thức giấc mơ, kịch, tả cảnh, ngụ ngôn nhưng đều thể hiện tâm trạng và cảm xúc, ý nghĩ của
tác giả qua những hình ảnh tượng trưng Những tác phẩm như "Cung oán
ngâm, chinh phụ ngâm’’ tuy có kể về thân thế xã hội nhưng thực chất là
những bài thơ trữ tình nhập vào vai dài hơi:
"Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn "
(Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn)
"Trải vách quế gió vàng hiu hắt Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng Oán chi những khách tiêu phong
Mà xui phận bạc nằm trong má đào"
(Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều)
Toàn bộ tác phẩm có kết câu như một bài thơ nhưng nội dung truyền tải lại được thể hiện giống như một bài văn xuôi Đây là một thể loại khá đặc biệt đòi hỏi khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ và văn xuôi của tác giả nghệ
Trang 37thuật Cách cảm nhận một tác phẩm trữ tình thuộc thể loại truyện thơ cũng có những nét khác biệt Người cảm nhận cần biết xâu chuỗi những tình tiết, sự việc được nhắc đến trong tác phẩm để tạo thành một tư tưởng nội dung hoàn chỉnh chứ không đơn giản là chỉ nắm bắt những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ, cách dùng từ, sử dụng hình ảnh như ta thường thấy trong hình thức thơ trữ tình
Truyện thơ
Truyện thơ là loại trữ tình có cốt truyện trong đó tất cả cái khách quan đều biểu hiện qua sự khúc xạ chủ quan Ở loại này đối tượng thể hiện là một
biến cố tự sự nhưng giọng điệu cơ bản lại hoàn toàn trữ tình "Truyện Kiều"
của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm truyện thơ đặc sắc Toàn bộ
Truyện Kiều là câu chuyện về cuộc đời Thuý Kiều - người con gái tài hoa bạc
mệnh:
"Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai"
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hình thức truyện thơ đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ nhưng không kém phần sâu sắc mang nhiều giá trị nghệ thuật độc đáo Một câu chuyện nhưng được diễn đạt không như thể loại tự sự thông nhường mà ở đây là sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ và logic giữa những chi tiết, tình huống tự
sự và ngôn ngữ, cách thức thể hiện trữ tình Một câu chuyện mà được truyền tải thông qua ngôn ngữ thơ có tác dụng lớn hơn rất nhiều so với lối diễn đạt tự
sự thông thường Đặc điểm ngôn ngữ trữ tình thường dễ nhớ, không khô khan, nhàm chán, khuôn mẫu Xuất phát điểm từ việc cảm nhận và dựa theo cốt truyện viết trong Kim Vân Kiều truyện của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân của Trung Quốc, bằng tài năng cũng như tấm lòng nhân đạo, sự đồng cảm với
số phận tài hoa nhưng bạc mệnh của Thúy Kiều mà câu chuyện văn xuôi đã được sáng tạo và chuyển thể thành thơ lục bát - thể thơ đặc trưng truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trang 38Khi phân tích, cảm nhận một tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ ta cần nắm bắt những cảm xúc chủ đạo và nội dung chủ yếu thông qua lời thơ câu chữ của tác phẩm Vì là một câu chuyện được viết dưới dạng một tác phẩm thơ cho nên ta cần phải hết sức tinh tế thì mới xác định đúng đắn nội dung, tư tưởng trong từng câu từng đoạn để rồi sắp xếp lại một cách logic, có hệ thống hình thành một cốt truyện hoàn chỉnh mang nội dung tư tưởng của tác giả
Tuỳ bút
Tuỳ bút là thể loại văn xuôi phóng khoáng Nhà văn theo ngọn bút mà suy tưởng, trần thuật, nhưng thực chất là thả mình theo dòng liên tưởng, cảm xúc mà tả người, kể việc Cái hay của tuỳ bút là sự bộc lộ những cảm xúc, nhận xét, suy tưởng của tác giả làm hiện lên một nhân cách, một chủ thể giàu
có về tâm tình, sắc sảo về trí tuệ Các sự vật, hiện tượng nhắc đến là để làm cơ
sở, nguyên cớ khêu gợi một cái tôi suy ngẫm và trữ tình
Tùy bút là thể loại được sử dụng khá phổ biến trong hệ thống các thể loại trữ tình Nhiều tác giả đã thành công khi lựa chọn tùy bút để gửi gắm cảm
xúc của mình Tiêu biểu như Đào cộng sản, Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành, Dòng kinh quê
hương của Nguyễn Thi…Tùy bút Người lái đò sông Đà mang đầy đủ những
đặc trưng cơ bản của thể tùy bút phóng khoáng kết hợp với sự tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân Đọc tác phẩm ta như chìm vào trong hình ảnh con sông Đà vừa hung bạo lại vừa thơ mộng, trữ tình Hai nét tính cách trái ngược
ấy được thể hiện tập trung trong một bài tùy bút đem lại những cách nhìn nhận đa dạng thông qua những diện mạo khác nhau của con sông Đà Toàn bộ tác phẩm là dòng cảm xúc của nhà thơ trôi dần theo từng khúc sông Đà, ở mỗi khúc sông cảnh vật mang những nét tiêu biểu khác nhau Tính cách thơ mộng trữ tình như một “cố nhân” đem đến niềm yêu mến với con sông Đà, Tính cách hung bạo đem đến cái nhìn nhận đa diện hơn đó cũng là những khó khăn thử thách mà những con người làm nghề lái đò nơi đây phải hàng ngày đối mặt
Trang 39Tùy bút được viết dưới hình thức văn xuôi nhưng vấn đề chủ yếu dược truyền đạt là tâm tư tình cảm, cảm xúc của con người trước cuộc sống Vì vậy tùy bút được xếp vào thể loại trữ tình làm phong phú thêm cho việc lựa chọn các hình thức thể hiện của tác phẩm trữ tình
1.1.2 Cảm thụ tác phẩm trữ tình trong dạy học Tiếng Việt
1.1.2.1 Cảm thụ văn học nói chung và cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng là hoạt động cơ bản trong quá trình dạy học Tiếng Việt
Cảm thụ tác phẩm trữ tình không chỉ giúp cho con người biết nhận thức mình mà còn dạy chúng ta biết yêu cuộc sống, biết tận hưởng cuộc sống và biết học cách sống sao cho có ý nghĩa Nhờ được rèn luyện khả năng cảm thụ trong quá trình học tập mà trẻ em có thể trải nghiệm cuộc sống qua các tác phẩm trữ tình, được sống bằng cuộc sống của nhiều thế hệ, nhiều lớp người, nhiều tâm trạng khác nhau Nhờ đó, các em sẽ quan tâm hơn tới những người xung quanh, có khả năng đánh giá con người, tế nhị nhạy cảm hơn trong giao tiếp Các em sẽ có ý thức tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của bản thân Những hành vi đạo đức của ngườ có ý thức về bản thân sẽ tạo nên sự hấp dẫn của vẻ đẹp đạo đức Và quan trọng hơn, thông qua việc rèn luyện khả năng cảm thụ tác phẩm trữ tình học sinh tiểu học sẽ biết cách bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình một cách khéo léo, tế nhị thông qua ngôn từ nghệ thuật và bước đầu biết cách sáng tạo ra các tác phẩm trữ tình, tác phẩm nghệ thuật
Hoạt động cảm thụ tác phẩm trữ tình được thực hiện xen kẽ trong tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt khi có đề cập tới các thể loại của tác phẩm trữ tình và yêu cầu học sinh bày tỏ tình cảm của mình về các hay cái đẹp trong tác phẩm Hoạt động cảm thụ tác phẩm trữ tình được diễn ra chủ yếu ở hoạt động đọc hiểu trong phân môn Tập đọc và phân môn Tập làm văn Tuy nhiên, cảm thụ văn học nói chung và cảm thụ tác phẩm trữ tình nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học Tiếng Việt Nó phục vụ đắc lực cho học sinh trong việc học tập tốt các phân môn khác trong môn Tiếng Việt ở tiểu học
1.1.2.2 Năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình
Trang 401.1.2.2.1 Năng lực
Năng lực là một khái niệm trừu tượng, đa nghĩa do đó có nhiều cách phát biểu vê khái niệm năng lực Tuy nhiên các phát biểu đều thống nhất rằng: Những thành tố cơ bản tạo nên năng lực là kiến thức, kĩ năng và thái độ Song không thể hiểu đơn giản năng lực là sự gộp lại của các thành tố đó Điểm chung của các phát biểu về khái niệm năng lực chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một tình huống trong cuộc sống
1.1.2.2.2 Phân loại năng lực
Năng lực của người học có thể chia thành hai loại chính: năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Đây là loại năng lực được hình thành xuyên chương trình
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, một môn học nào đó Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp mọi người giải quyết các công việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình
Năng lực chỉ có thể thấy được khi quan sát hoạt động của người học ở các tình huống nhất định Năng lực không chỉ được hình thành trong quá trình học tập tại nhà trường mà còn ở ngoài nhà trường và xã hội
1.1.2.2.3 Năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình
Năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình là một loại năng lực cụ thể, chuyên biệt Nó được hình thành và phát triển thông qua việc học sinh lĩnh hội các tác tác phẩm trữ tình trong nhà trường
Năng lực cảm thụ tác phẩm trữ tình được thể hiện thông qua việc học sinh nắm được các tín hiệu nghệ thuật của tác phẩm, xác định được nhân vật trữ tình cũng như chuyển thể được tình cảm, cảm xúc về tác phẩm thông qua ngôn từ nghệ thuật