1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp thiết kế kế hoạch bài học hình thành một số quy tắc, phương pháp cho học sinh theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong môn toán lớp 4

131 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế kế hoạch bài học hình thành một số quy tắc, phương pháp cho học sinh theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán lớp 4
Tác giả Nguyễn Thị Phương
Người hướng dẫn TS Phan Thị Tình
Trường học Trường Đại học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON --- NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC HÌNH THÀNH MỘT SỐ QUY TẮC, PHƯƠNG PHÁP CHO HỌC SINH THEO QUY TRÌNH TỔ CHỨC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC HÌNH THÀNH MỘT SỐ QUY TẮC, PHƯƠNG PHÁP CHO HỌC SINH THEO QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

HỢP TÁC TRONG MÔN TOÁN LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục tiểu học

Phú Thọ, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC HÌNH THÀNH MỘT SỐ QUY TẮC, PHƯƠNG PHÁP CHO HỌC SINH THEO QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

HỢP TÁC TRONG MÔN TOÁN LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục tiểu học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Phan Thị Tình

Phú Thọ, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện, đến nay đề tài nghiên cứu khoa học của em đã hoàn thành Để hoàn thành được đề tài này, đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non – Trường Đại học Hùng Vương Các thầy cô đã không quản ngại khó khăn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Chính các thầy cô đã truyền tình yêu nghiên cứu khoa học cho em, giúp em vững bước và kiên trì theo đuổi mục đích làm tốt đề tài nghiên cứu khoa học

Đặc biệt, em xin gửi những tình cảm tốt đẹp, lời tri ân sâu sắc và lời

cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo – TS Phan Thị Tình Em xin cảm ơn cô

trong suốt quá trình qua đã hướng dẫn chỉ bảo em tận tình để em có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa học này Cô đã cho em nhiều bài học về sự

cố gắng, lòng quyết tâm và thái độ nghiêm túc trong công việc Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách

tự tin và vững chắc

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể giáo viên và Ban giám hiệu Trường Tiểu học Phong Châu – Thị xã Phú Thọ Với kinh nghiệm giảng dạy ở trường cơ sở, các thầy (cô) đã cung cấp cho em những kiến thức thực

tế, giúp em thu thập thông tin, điều tra số liệu và thực nghiệm sư phạm cho khóa luận

Mặc dù đã cố gắng học tập, nghiên cứu, song năng lực có hạn và thời gian nghiên cứu còn ít, do đó trong quá trình thực hiện khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy

cô để khóa luận này ngày càng hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Phú Thọ, tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 5

2 Hiệu quả của dạy học hợp tác nhóm Bảng 1.2 37

3 Vai trò lập kế hoạch bài học dạy học hợp tác Bảng 1.3 39

4 Danh sách bài dạy thực nghiệm Bảng 3.1 79

6 So sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng Bảng 3.3 83

7 Mức độ cần thiết của việc vận dụng dạy học

hợp tác

Biểu đồ 1.1

38

8 So sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng Biểu đồ

3.1

84

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài ………

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài… 3 Mục tiêu đề tài nghiên cứu khoa học ……… ……

4 Nhiệm vụ nghiên cứu………

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu………

6 Phương pháp nghiên cứu………

7 Những đóng góp của đề tài………

PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan phương pháp dạy học hợp tác…………

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về dạy học hợp tác………

1.1.2 Quy trình tổ chức dạy học hợp tác………

1.1.3 Quy trình tổ chức dạy học hợp tác có sự phối hợp của các phương pháp dạy học khác………

1.1.4 Một số kĩ thuật sử dụng trong dạy học hợp tác………

1.2 Một số vấn đề về dạy học môn Toán lớp 4 ………

1.2.1 Đặc điểm và nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học các lớp cuối cấp…… ………

1.2.2 Vị trí, vai trò của môn Toán lớp 4 ở tiểu học………

1.2.3 Mục tiêu chương trình môn Toán lớp 4… …

1.2.4 Nội dung, yêu cầu dạy học các nội dung môn Toán lớp 4… 1.3 Vấn đề lập kế hoạch bài học trong môn Toán ở trường tiểu học……… …

1.3.1 Một số vấn đề chung về lập kế hoạch bài học trong môn Toán ở tiểu học………

1

3

5

5

6

6

7

8

8

15

16

22

25

25

26

27

28

30

30

Trang 7

1.3.2 Lập kế hoạch dạy học theo quy trình tổ chức dạy học hợp

tác trong môn Toán ở tiểu học………

1.4 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học hợp tác trong

thiết kế kế hoạch bài học hình thành quy tắc, phương pháp

môn Toán lớp 4 của một số giáo viên trường tiểu học

1.4.1 Nội dung khảo sát thực trạng ………

1.4.2 Kết quả khảo sát thực trạng….….….….….….….….…

1.4.3 Nguyên nhân của thực trạng… ….….….….….….….……

Kết luận chương 1……… ………

Chương 2: THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI HỌC VỀ HÌNH THÀNH

QUY TẮC, PHƯƠNG PHÁP THEO QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY

HỌC HỢP TÁC MỘT SỐ NỘI DUNG MÔN TOÁN LỚP 4

2.1 Các nguyên tắc và điều kiện thiết kế kế hoạch bài học

theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác hiệu quả……….……

2.1.1 Nguyên tắc thiết kế kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức

dạy học hợp tác hiệu quả………

2.1.2 Một số điều kiện thuận lợi để thiết kế kế hoạch dạy học hợp

tác hiệu quả………

2.2 Lựa chọn nội dung về quy tắc, phương pháp trong môn

Toán lớp 4 thiết kế kế hoạch bài học dạy học hợp tác…… …

2.2.1 Đặc điểm và những lưu ý khi dạy học về hình thành quy tắc,

phương pháp trong môn Toán các lớp cuối cấp………

2.2.2 Tiêu chí lựa chọn nội dung về quy tắc, phương pháp để

thiết kế kế hoạch bài học theo quy trình dạy học hợp tác…………

2.3 Thiết kế kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức dạy học

Trang 8

3.3 Tổ chức thực nghiệm… ….….….… ………

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm… … …… … … ………

3.3.2 Thời gian và cách thức triển khai nội dung thực nghiệm…

3.3.3 Phương thức đánh giá kết quả thực nghiệm

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm… … ……… ………

3.4.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm

3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm

Kết luận chương 3……… ……… ……

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………

PHỤ LỤC

79

79

79

80

81

81

83

85

86

88

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục thời kỳ hội nhập đòi hỏi giáo dục Việt Nam đổi mới PPDH vì PPDH là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo Định hướng đổi mới PPDH đã được thể chế trong

Luật giáo dục: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực,

chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật giáo dục 2005,

chương I, điều 5)

Trong thế kỉ XXI, Hội đồng Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI được

UNESCO thành lập đã xác định: “Học để biết - Học để làm - Học để tự khẳng

định mình - Học để chung sống” là bốn trụ cột của giáo dục Như vậy, giáo

dục có ý nghĩa rất quan trọng trong sự thành công của mỗi cá nhân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp cho toàn xã hội Mục tiêu giáo dục của thế giới cho thấy rõ giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức mà còn phải hình thành cho người học những kĩ năng, thái độ để họ có thể sống và làm việc trong xã hội luôn thay đổi Tại các trường tiểu học hiện nay, một số PPDH theo xu hướng DH không truyền thống quan tâm tới sự phát triển năng lực cá nhân, kĩ năng sống cho HS đã được áp dụng Một trong những PPDH mới đang được

đề cập, quan tâm đến nhằm tạo cơ hội và điều kiện phù hợp để người học hoạt động tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo trong quá trình học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học là PPDHHT

DHHT là PPDH trong đó thông qua làm việc của nhóm, HS sẽ lĩnh hội được tri thức, hình thành kĩ năng, phát triển năng lực Trong quá trình tổ chức DHHT, GV chỉ là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển các nhóm HS học tập, còn HS sẽ là chủ thể hoạt động tự giác, tích cực chủ động Hợp tác trong hoạt động học không chỉ rèn luyện kĩ năng làm việc hợp tác cho HS mà còn

Trang 10

phát triển một số năng lực của con người đáp ứng những thách thức của cuộc sống Đối với HS tiểu học, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi và hình thức tư duy đặc thù, nhu cầu hợp tác của HS được đặt ra một cách tự nhiên Hơn nữa,

do đặc điểm riêng, môn Toán có tiềm năng thuận lợi trong việc tạo cho HS học qua làm việc, xử lí tình huống nhờ hợp tác nhóm Bởi lẽ đó, việc vận dụng DHHT trong môn Toán ở trường tiểu học đặc biệt có ý nghĩa trong việc hướng đích mục tiêu kết nối tích hợp giữa con người với con người trong giáo dục ngay từ cấp học đầu tiên

Trong các nghiên cứu lí luận về DHHT, việc xác định quy trình tổ chức DHHT là một trong những kết quả quan trọng làm cơ sở cho việc vận dụng PPDH này vào các bài học cụ thể Quy trình tổ chức DHHT bao gồm sự sắp xếp chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau của GV và HS theo ba giai đoạn chính: (giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện và giai đoạn tổng kết - đánh giá) nhằm đạt được mục tiêu bài học

Trong môn Toán ở trường tiểu học, nội dung về các quy tắc, PP là một trong những mạch kiến thức chính yếu Theo tư tưởng của DH tích cực, việc hình thành các quy tắc tính toán hay các PP toán học cho HS cần được tổ chức thông qua các hoạt động học tập có cài đặt dụng ý sư phạm với mục đích

HS tự phát hiện và tích lũy các quy tắc, PP đó Song, đa số các quy tắc, PP cần được hình thành ở HS là các quy tắc, PP ít nhiều có những điểm mới so với những quy tắc, PP tính toán mà HS đã có trước đó; cho nên việc độc lập hình thành kiến thức của các em gặp nhiều trở ngại Tuy nhiên, khi trí tuệ HS được cộng hưởng, các em cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập thì vấn đề tự hình thành kiến thức về quy tắc, PP sẽ đạt hiệu quả cao hơn Đặc biệt với môn Toán lớp 4, những cái mới trong các quy tắc, PP cần hình thành cho HS có điều kiện và tiềm năng đối với việc tự xây dựng của HS trên cơ sở kế thừa kiến thức cũ Bởi thế, việc xây dựng các quy tắc, PP trong môn Toán lớp 4 có thể thực hiện thông qua việc phát triển các quy tắc, PP cũ trên cơ sở GV dẫn dắt nhóm HS thực hiện các hoạt động đòi hỏi sự hợp tác của các em theo kế hoạch của GV Như vậy, việc thiết kế, chi tiết hóa các kế hoạch bài học theo

Trang 11

quy trình DHHT là một trong những cách thức hiệu quả và có tiềm năng lớn cho việc DH hình thành quy tắc tính toán, PP toán học cho HS lớp 4

Là sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và sẽ là người GV tiểu học sau này, việc tiếp cận thiết kế kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức DHHT trong môn Toán có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức về vấn

đề đổi mới PPDH, phát triển các kĩ năng hoạt động nghề nghiệp cho bản thân

Vì những lý do trên chúng tôi lựa chọn: “Thiết kế kế hoạch bài học hình thành một số quy tắc, phương pháp cho học sinh theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán lớp 4” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới

Các ý tưởng về việc tổ chức DHHT đã được áp dụng ngày càng mạnh

mẽ trong thực tiễn DH của hầu hết các nước trên thế giới và nó đem lại hiệu quả giáo dục không thể phủ nhận DH theo PPDH này đã từng bước khẳng định và ngày càng thể hiện được ưu thế của nó trong hệ thống các PPDH tích cực DHHT là PPDH được nhiều nhà giáo dục quan tâm, đề cao vai trò và đang được sử dụng ở nhiều nơi Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đề cập đến vấn đề này trong nhiều công trình

Năm 1878, hai nhà giáo dục người Anh là Ben và Lancanxto đã tiến

hành hình thức dạy kèm cặp Hình thức này gọi là “Hệ thống kèm cặp”

Những HS lớn tuổi có kinh nghiệm được GV dạy trước và họ sẽ thay mặt GV kèm cặp cho nhiều HS khác cùng lớp GV ngồi ở vị trí chỉ đạo việc dạy kèm cặp của các HS lớn này

Theo Georg Michael Kerschensteiner, hoạt động chung trong nhóm không chỉ khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức của HS mà còn loại bỏ những động cơ ích kỉ Tuy nhiên, Kerschensteiner lưu ý, nếu sử dụng không tốt hình thức DH này vẫn có thể dẫn tới một loạt ích kỉ đặc biệt - đó là ích kỉ cộng đồng

Người có công lớn trong việc giúp hình thức DHHT phát triển chính là Roger Cousinet (1881 - 1973) Tác giả Roger Cousinet cho rằng hình thức tổ

Trang 12

chức cho HS học tập tự do theo nhóm có ý nghĩa lớn Hình thức đó giúp cho

HS hòa hợp với cộng đồng, từ đó khắc phục được tình trạng lười suy nghĩ, biết xấu hổ với bạn khi không tham gia hoặc không hết lòng với công việc

Tác giả Geoffrey Petty kết luận rằng học hợp tác nhóm bao giờ cũng sôi nổi Các HS nhút nhát, thường ít phát biểu trong lớp, sẽ có môi trường động viên để tham gia xây dựng bài Đặc biệt, thông qua học hợp tác nhóm, các em có thể đạt được những điều mà các em không thể làm được một mình

Như vậy, DHHT là quan điểm học tập rất phổ biến ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới và đem lại hiệu quả giáo dục không thể phủ nhận

2.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam cũng đã xuất hiện hình thức DH theo nhóm nhưng chỉ ở mức độ tự phát không có quy trình cụ thể và không thể hiện được sự hợp tác giữa các HS trong một nhóm Vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của HS nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong giáo dục từ những năm 60 của thế kỷ XX Những năm gần đây với xu thế đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, hầu hết các nhà giáo dục Việt Nam đều nhận thấy rằng cần phải tổ chức cho

HS cách học hợp tác

Về phương diện lí thuyết, đã có nhiều công trình nghiên cứu của GS Trần Bá Hoành, một trong những người đi đầu trong việc nghiên cứu về phát triển đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa ở Việt Nam, trong bài

viết “Những đặc trưng của phương pháp tích cực” trên Tạp chí Giáo dục số

32 (6/2002) Theo tác giả Trần Bá Hoành: “DH lấy HS làm trung tâm, phát triển các PP tích cực, tăng cường dạy PP học tập, tự học và cũng chỉ rõ DHHT là một trong những chiến lược DH theo hướng lấy HS làm trung tâm”

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, tác giả Nguyễn Triệu Sơn [17] đã đưa ra được bốn định hướng chủ yếu để vận dụng DH theo hướng phát triển khả năng học hợp tác Từ đó, xây dựng được hai mô hình tổ chức

Trang 13

học tập và đề xuất bốn biện pháp sư phạm khi DH các kiến thức toán sơ cấp cho sinh viên sư phạm Toán

Về DHHT ở tiểu học, luận án tiến sĩ của thầy giáo Hoàng Công Kiên [11] đã nghiên cứu lí luận DHHT và đưa ra các hướng thiết kế sư phạm trong

DH môn Toán ở tiểu học, đề xuất quy trình tổ chức DHHT, chỉ ra một số điều kiện hỗ trợ khi tiến hành vận dụng DHHT trong môn Toán ở tiểu học

Các nghiên cứu cụ thể về thiết kế kế hoạch bài học trong môn Toán ở các cấp tiểu học chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Vì vậy, vấn đề thiết kế kế hoạch bài học về hình thành quy tắc tính toán và phương pháp toán học; vận dụng DHHT trong môn Toán ở tiểu học cần được quan tâm nghiên cứu một cách cụ thể

3 Mục tiêu đề tài nghiên cứu khoa học

Sử dụng quy trình DHHT để thiết kế kế hoạch bài học về hình thành quy tắc, PP cho một số nội dung môn Toán lớp 4 nhằm nâng cao hiệu quả DH Toán lớp 4, góp phần thực hiện định hướng đổi mới PPDH

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu định hướng đổi mới PPDH nước ta hiện nay; nghiên cứu các PPDH theo xu hướng DH không truyền thống vận dụng trong DH môn Toán ở trường tiểu học

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của PPDHHT

- Nghiên cứu chương trình, SGK về mục tiêu và nội dung DH môn Toán lớp 4

- Nghiên cứu lí luận về lập kế hoạch bài học nói chung, lập kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức DHHT nói riêng

- Lựa chọn một số bài học về hình thành quy tắc, PP trong môn Toán lớp 4 phù hợp với thiết kế kế hoạch DHHT

- Áp dụng quy trình DHHT để thiết kế kế hoạch bài học về hình thành quy tắc, PP đã được lựa chọn trong chương trình môn Toán lớp 4

- Thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của các kế hoạch bài học đã thiết kế

Trang 14

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Quy trình các bước thực hiện DH theo PPDHHT 5.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu nội dung DH bài học về hình

thành quy tắc, phương pháp trong môn Toán lớp 4 ở trường tiểu học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

− Tập hợp, đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống các nguồn tài liệu, các đề tài nghiên cứu, các giáo trình tham khảo liên quan tới đề tài: Định hướng đổi mới PPDH ở trường tiểu học; các PPDH theo xu hướng DH không truyền thống; cơ sở lí luận của PPDHHT; lí luận về lập kế hoạch bài học ở tiểu học nói chung, kế hoạch bài học môn Toán tiểu học nói riêng

− Nghiên cứu chương trình, SGK môn Toán lớp 4 về mục tiêu, nội dung, yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng mà PPDH vận dụng

6.2 Phương pháp điều tra, quan sát

Dự giờ, điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các GV giỏi, có kinh nghiệm

DH môn Toán ở trường tiểu học về vấn đề DH có sử dụng PPDHHT, vấn đề lập kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức DHHT ở tiểu học, lấy ý kiến đóng góp của GV các trường tiểu học qua phiếu thăm dò

6.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm của các GV dạy giỏi môn Toán ở trường tiểu học

về DH môn Toán lớp 4, về lập kế hoạch bài học theo PPDHHT

6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến giảng viên hướng dẫn, các giảng viên giảng dạy môn Toán ở trường Đại học Hùng Vương và một số GV dạy giỏi môn Toán ở trường tiểu học về vấn đề nghiên cứu và sản phẩm khoa học của đề tài

6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả của các kế hoạch bài học về hình thành quy tắc, PP trong một số nội dung môn Toán lớp 4 đã xây dựng

Trang 15

7 Những đóng góp của đề tài

7.1 Về mặt lí luận

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của PPDHHT, cơ sở lí luận về lập kế hoạch bài học, quy trình tổ chức DHHT, lí luận về vận dụng DHHT trong môn Toán ở tiểu học

- Xác định được các nguyên tắc, điều kiện đảm bảo lập kế hoạch bài học theo quy trình tổ chức DHHT trong môn Toán ở trường tiểu học

7.2 Về mặt thực tiễn

- Vận dụng quy trình DHHT để thiết kế kế hoạch bài học về hình thành

quy tắc, PP cho một số nội dung cụ thể trong chương trình môn Toán lớp 4

- Các kế hoạch bài học được thiết kế là tư liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và GV các trường tiểu học quan tâm tới DHHT

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan phương pháp dạy học hợp tác

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về dạy học hợp tác

1.1.1.1 Quan niệm về dạy học hợp tác

Hợp tác: Theo Từ điển Tiếng Việt, hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ

lẫn nhau trong một công việc, một nhiệm vụ nào đó nhằm một mục đích chung Hợp tác là điều rất quan trọng đóng góp vào sự thành công của bất kì một tổ chức hay cá nhân nào; là điều không thể thiếu được trong mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các tổ chức kinh tế - xã hội

Nhóm: Theo Từ điển Tiếng Việt, nhóm nghĩa là nhiều người cùng tham

gia vào một hành động chung nào đó

Nhóm là tập hợp những cá nhân, có ít nhất từ hai người trở lên, được

liên kết với nhau trong một hoạt động chung nhằm thực hiện một mục tiêu chung, giữa họ tồn tại những giá trị chung và các nguyên tắc nhất định cần tuân thủ.[11, tr.13]

Nhóm học tập hợp tác: là một đơn vị cấu thành của tập thể lớp học bao

gồm một tập hợp những cá nhân HS được liên kết với nhau trong một hoạt động chung nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập chung, đồng thời trong quá trình liên kết đó sẽ hình thành và tích hợp các quan hệ tình cảm, các chuẩn mực và quy tắc nhóm [11, tr.14]

DHHT bao hàm cả về PP dạy của thầy và PP học của trò Nếu xét từ

góc độ GV với hoạt động dạy người ta thường nói “Dạy học hợp tác”; còn nếu xét từ góc độ người học sẽ là “Học hợp tác” Thông thường các tài liệu

DH phương Tây, do xuất phát từ quan điểm DH lấy người học với hoạt động

học làm trung tâm thì khái niệm “Học hợp tác” được dùng khá phổ biến

Trong môi trường của DHHT, người học trước hết là được hoạt động một cách tích cực, chủ động, đưa ra ý kiến phản hồi cho nhau, trình bày ý tưởng của mình trước nhóm từ đó họ thu được kiến thức riêng cho bản thân

Trang 17

theo mục đích đã định GV ở vị trí là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, trợ giúp người học trong quá trình tiến hành các hoạt động học tập của người học Mối quan hệ giữa thầy và trò trong DHHT có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực hóa người học, gây được hứng thú cho người học, tạo cho họ niềm tin khi thực hiện việc học với mục tiêu đã định

Quan niệm: Từ những lập luận trên, chúng tôi quan niệm DHHT là

PPDH; trong đó, dưới sự định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV,

HS hợp tác tiến hành thực hiện các nhiệm vụ được phân công dựa trên những tri thức vốn có để hướng đích tạo dựng tri thức

PPDHHT là một mắt xích quan trọng trong quá trình DH; DHHT là

một PPDH tích cực, có “tính xã hội cao” và phát huy được tối đa mục tiêu

đặt ra đối với người học Có thể khai thác, sử dụng PPDHHT trong nhiều tình huống toán học lớp 4 ở tiểu học

Trong DHHT, HS thực sự được chủ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kích thích được động cơ và hứng thú học tập trên cơ sở cộng hưởng trí tuệ của các thành viên, khuyến khích tính sáng tạo, phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề DHHT không chỉ giúp HS nắm được các kiến thức

cơ bản mà còn phát triển một số kĩ năng như khả năng giao tiếp, khả năng lãnh đạo, khả năng đánh giá, hợp tác, Đó chính là sự chuẩn bị hành trang cho họ trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống sau này

1.1.1.2 Bản chất, đặc điểm, ý nghĩa của PPDHHT

Bản chất

DHHT là chiến lược DH dựa vào các quan hệ trao đổi, chia sẻ giữa các

HS trong nhóm học tập Trong quá trình học tập hợp tác nhóm, HS kết hợp những kinh nghiệm, tư tưởng và năng lực cá nhân tạo thành sức mạnh tập thể

để giải quyết vấn đề và các nhiệm vụ học tập Thông qua hoạt động hợp tác, người học phát triển bản thân nhờ vào chỗ dựa chính là sức mạnh chung của

cả nhóm

Trang 18

Trong DHHT, vấn đề nổi lên rõ nhất là HS được chia sẻ, trao đổi với nhau trong quá trình học tập HS huy động được sức mạnh tập thể để giải quyết vấn đề, ý tưởng của mỗi cá nhân được gạn lọc trong nhóm; tinh thần và

ý chí học tập của HS liên tục được củng cố và bồi đắp nhờ sự khích lệ, động viên của các thành viên khác

Như vậy, bản chất của DHHT đó là quá trình HS trao đổi, thảo luận và giúp đỡ lẫn nhau trong một nhóm; DHHT phải tạo ra sự phụ thuộc tích cực buộc HS phải có sự liên kết và phối hợp hoạt động để thực hiện nhiệm vụ chung dưới sự tương tác của GV

Đặc điểm: Theo quan điểm của lí luận DH hiện đại, quá trình tổ chức

DHHT có một số đặc điểm sau đây: [11,tr.18]

- Về nhiệm vụ học tập: DHHT không chỉ truyền thụ cho HS những kiến

thức quy định trong chương trình, mà còn hướng vào việc phát triển tư duy, hình thành các kĩ năng thực hành sáng tạo, chuẩn bị cho HS sớm thích ứng và hòa nhập với đời sống xã hội

- Về nội dung: Nội dung quá trình tổ chức DHHT không chỉ là những

tri thức, mà còn bao gồm các dạng bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống, các dạng thực hành tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề

- Về phương pháp: DHHT coi trọng việc rèn luyện cho HS thói quen tự

học, hoạt động độc lập cá nhân hoặc hợp tác tập thể thông qua thảo luận nhóm

và thực hành Vận dụng DHHT thông thường qua các pha DH cho nên cần phối hợp với các PPDH khác

- Về hình thức tổ chức DH: DHHT sử dụng phối hợp và linh hoạt các

dạng tổ chức DH như: nhóm - tập thể, nhóm - cá nhân Không gian tổ chức

DH, thiết bị DH, bàn, ghế cần được bố trí cơ động và linh hoạt sao cho phù hợp với yêu cầu của tiết học

- Về đánh giá: HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, cho

nên cùng với việc kiểm tra đánh giá của GV, HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng

Trang 19

Ý nghĩa: Việc thực hiện thành công nhiệm vụ của nhóm học tập là vấn đề

cần huy động kiến thức, tiềm năng của nhiều người cùng giải quyết Trong xu thế đổi mới nội dung và PPDH thì DHHT có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện xu hướng kết nối tích hợp giữa con người với con người trong điều kiện nhất định

Đối với giáo dục phổ thông nước ta giai đoạn tới, định hướng phát triển năng lực của người học được xem là một yêu cầu về chuẩn đầu ra đối với người học Bởi lẽ đó, việc đánh giá năng lực của người học là một yêu cầu tất yếu Đánh giá năng lực người học trong DHHT tạo nhiều thuận lợi cho việc thực hiện yêu cầu trên

1.1.1.3 Cơ sở khoa học của dạy học hợp tác

Cơ sở khoa học của DHHT: Theo quan điểm của lí luận DH hiện đại,

PPDHHT được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học sau đây:

Cơ sở triết học: Theo nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:“Mọi sự vật,

hiện tượng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và không loại trừ một lĩnh vực nào” Triết học duy vật biện chứng khẳng định

mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều vận động và phát triển không ngừng Nguyên nhân của sự vận động, phát triển này là sự nảy sinh và giải quyết liên tục các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Trong quá trình vận động và phát triển của cá nhân và tập thể tất nhiên sẽ có mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể Mặc dù vậy, mâu thuẫn chính là động lực thúc đẩy sự phát triển nên cần phát hiện nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn một cách kịp thời để giải quyết Cơ sở để giải quyết mâu thuẫn đó là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và tập thể, ý thức và trách nhiệm của mỗi

cá nhân trước tập thể

Cơ sở giáo dục học: Giáo dục học đề cao sự tích cực hoạt động của HS

thông qua sự hỗ trợ, cộng hưởng, tương tác lẫn nhau về mặt trí tuệ, thôi thúc

cá nhân cùng học tập và nỗ lực vì mục đích chung Bản chất của quá trình DH chính là quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau để HS được hoạt động và lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Hơn nữa, dạy – học phải thông qua hoạt

Trang 20

động và bằng chính các hoạt động Chính vì thế, DH là quá trình tổ chức và điều khiển hoạt động của trò nhằm chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng và hình

thành nhân cách của chính trò

Cơ sở tâm lí học: Cơ chế học tập hợp tác được giải thích bởi một số thuyết tâm lí:

- Thuyết học tập mang tính xã hội: “Làm việc đồng đội” Tư tưởng

chính của thuyết này là khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy HS hoạt động tích cực hơn để đạt đến thành công

- Thuyết Piaget: “Sự giải quyết mâu thuẫn”, thúc đẩy sự phát triển trí

tuệ cho HS

- Thuyết Vưgôtxky: “Sự hợp tác tập thể”, DH chỉ có kết quả đối với

việc thúc đẩy sự phát triển gần của HS

- Thuyết khoa học nhận thức mới: “Dạy lẫn nhau”, HS và GV thay

nhau đóng vai trò người dạy sau khi cùng nghiên cứu tài liệu học tập

Cơ sở xã hội học: Sự phát triển của xã hội nói chung bị ảnh hưởng và

chi phối của sự phát triển nhóm người, cộng đồng và xã hội Giáo dục về bản chất là quá trình xã hội hóa cá nhân Không có xã hội hóa thì không có

cá nhân hóa Nhóm là nơi giao nhau giữa các tác động từ xã hội đến cá nhân

và tác động phản hồi từ cá nhân trở lại xã hội Như vậy, nhóm là nơi diễn ra quá trình xã hội hóa từng cá nhân, là sợi dây liên lạc chặt chẽ giữa cá nhân

và xã hội

1.1.1.4 Phân chia nhóm học tập hợp tác

Để DHHT đạt hiệu quả cao thì một trong những điều GV cần chú ý đó

là số lượng HS trong một nhóm Các thành viên trong nhóm từ 4 đến 6 HS có những điểm không tương đồng về: Trình độ, các kĩ năng xã hội, tính cách, giới tính, sự khác biệt này sẽ phát huy được hiệu quả làm việc theo nhóm Tuy nhiên, tùy từng mục đích, yêu cầu và lồng ghép các kĩ năng sư phạm của

GV mà có thể chia nhóm cho phù hợp Ngoài ra, tùy vào tính chất khó hay dễ của nội dung học tập hoặc theo khả năng trình độ của HS

Trang 21

Dựa vào kết quả việc học hợp tác trong nhóm, có ba loại nhóm như sau:

- Nhóm học hợp tác giả tạo: HS được giao nhiệm vụ học tập cùng nhau

nhưng không hề có sự thích thú với việc đó Kết quả là khả năng chung của

nhóm kém hơn các cá thể, HS hoạt động cá nhân hiệu quả hơn

- Nhóm học hợp tác kiểu truyền thống: HS nhận nhiệm vụ hoạt động

cùng nhau và chấp nhận cùng làm việc, nhưng nhiệm vụ thì đã được hoạt định Kết quả của cả nhóm thì nhiều HS có khả năng và làm việc tận tâm hơn

sẽ có kết quả cá nhân tốt hơn

- Nhóm học hợp tác thực sự: HS nhận nhiệm vụ hoạt động cùng nhau

và HS thích thú với điều đó HS biết rằng sự thành công của họ phụ thuộc vào kết quả của toàn bộ thành viên trong nhóm Họ làm những công việc đó thực

sự cùng nhau và ủng hộ sự thành công của người khác qua sự giúp đỡ, sự chia

sẻ, sự trợ giúp và sự khuyến khích

Như vậy, khi vận dụng PPDHHT vào trong quá trình DH thì GV cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức bài học, điều kiện học tập cùng những kĩ năng sư phạm để có thể phân chia nhóm học tập hợp tác theo những tiêu chí phù hợp

1.1.1.5 Những ưu điểm và hạn chế của dạy học hợp tác

Ưu điểm

- DHHT tạo điều kiện tốt cho mọi HS có cơ hội: tham gia hoạt động, giao tiếp, rèn luyện kĩ năng, Người học còn có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau, có thể học hỏi lẫn nhau, thấy được nhiều mặt của một vấn đề

- Giúp GV giảm thiểu thuyết trình, tăng cường hoạt động của HS, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học: đặt người học vào một môi trường học tập mà ở đó mọi thành viên phải nỗ lực, cố gắng phát huy hết năng lực, sở trường của bản thân Tạo ra nhu cầu học tập qua sự giao tiếp,

so sánh bản thân với các thành viên khác trong tập thể khi nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình, thấy mình

Trang 22

cần học hỏi thêm những gì DHHT làm cho người học nỗ lực nhiều hơn, tích cực nhiều hơn

- Người học được rèn luyện các kĩ năng: diễn đạt, trình bày ý kiến cá nhân, kĩ năng lắng nghe, thấu hiểu người khác,… Hình thành các phẩm chất nhân cách cần thiết trong các quan hệ xã hội: tinh thần hợp tác, thói quen nghiên cứu và tự học suốt đời, giúp đỡ lẫn nhau, tinh thần trách nhiệm, tính kỉ luật, đoàn kết, tự tin, Mỗi người đều có thể học cách làm việc cùng nhau

- Tận dụng được năng lực và trí tuệ tập thể, giúp người học giải quyết được nhiều khó khăn phức tạp nhờ sự tổng hợp những ý kiến, phương án giải quyết vấn đề khác nhau

- Tạo một không khí học tập thân thiện, vui vẻ, thoải mái,… Trong bầu không khí này, người học sẽ có cảm giác hứng thú, tăng sức chịu đựng, làm việc lâu mệt mỏi, người học lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng

- Tạo điều kiện tốt cho việc phát triển các mối quan hệ tình cảm giữa các cá nhân và xây dựng một tập thể đoàn kết trên cơ sở hướng đến những mục đích chung

- Hiệu quả làm việc của DHHT cao hơn một số hình thức DH khác Kết quả học tập ở đây không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà còn là khả năng hòa nhập, hợp tác của HS với mọi người

Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm lớn ở trên, DHHT cũng có một số hạn chế mà chúng ta cần phải nắm được để có biện pháp khắc phục Đó là:

- DHHT đòi hỏi phải có thời gian và không gian thích hợp

- DHHT không thích hợp với những bài học nội dung đơn giản, không huy động đến trí tuệ của tập thể

- DHHT không thích hợp với các lớp học có sĩ số đông vì người dạy sẽ rất khó bao quát lớp

- Nếu không tổ chức tốt sẽ có tình trạng những thành viên khá giỏi giữ vai trò lấn át, một số HS khác ỷ nại không chịu làm việc, dựa dẫm, ăn theo

Trang 23

Hiệu quả học tập phụ thuộc vào hoạt động của các thành viên, nếu trong nhóm có HS bất hợp tác thì hiệu quả sẽ thấp

1.1.2 Quy trình tổ chức dạy học hợp tác

Trong DHHT, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau Sự kết thúc của giai đoạn này sẽ là sự mở đầu của giai đoạn tiếp theo tương ứng với tiến trình bài học tạo nên cấu trúc của việc tổ chức DH Quy trình tổ chức DHHT được sắp xếp trình tự theo sơ

đồ như sau: [11,tr.75]

Trong mỗi quy trình thì hoạt động dạy của GV và hoạt động học của

HS có sự khác biệt nhưng đều nhằm thực hiện mục đích chung là hoàn thành nhiệm vụ học tập

Bước 2 Hướng dẫn cá nhân Tự nghiên cứu cá nhân Bước 3 Tổ chức thảo luận nhóm Hợp tác với bạn trong nhóm Bước 4 Tổ chức thảo luận lớp Hợp tác với bạn trong lớp Bước 5 Kết luận, đánh giá Tự kiểm tra, đánh giá

Quy trình

chuẩn bị

Quy trình thực hiện

Quy trình tổng kết, đánh giá

Trang 24

vụ mới

Tiếp nhận nhiệm vụ mới

1.1.3 Quy trình tổ chức dạy học hợp tác có sự phối hợp của các phương pháp dạy học khác

Không có một PPDH nào là vạn năng Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Việc sử dụng một PPDH đơn điệu dễ gây cho HS nhàm chán Vì vậy cần sử dụng phối hợp các PPDH khác nhau để tạo hứng thú học tập cho HS

Theo định hướng đổi mới PPDH thì cần quan tâm tới các PPDH tích

cực đó là: “DH phát hiện và giải quyết vấn đề”; “DH theo dự án”; “DH kiến

tạo”; “DH hợp tác nhóm”; Các PPDH này có mối quan hệ chặt chẽ với

nhau, đó là trong DH kiến tạo, DH theo dự án hoặc trong DH phát hiện và giải quyết vấn đề đều có DHHT nhóm Do đó, để phát huy cao độ tính tích cực của HS nhằm nâng cao hiệu quả DHHT nhóm thì GV cần biết cách sử dụng phối hợp các PPDH tích cực Các bước trong việc phối hợp DHHT với các PPDH khác được xây dựng dựa trên việc kết hợp các bước của DHHT và

cơ sở lí luận của các PPDH được kết hợp

Phối hợp DHHT và DH phát hiện giải quyết vấn đề

Trong quá trình DH, rất nhiều bài toán chứa đựng tình huống có vấn đề Giải quyết được vấn đề giúp HS hiểu bài, tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng, chủ động DH toán không chỉ là DH tri thức, kĩ năng mà còn hình thành và phát triển ở HS PP tự học, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Đặc trưng của DH phát hiện giải quyết vấn đề là dưới sự hướng dẫn của

GV, HS tiến hành một quá trình nhận thức độc lập để chiếm lĩnh tri thức và giải quyết các tình huống có vấn đề Tuy nhiên, không phải vấn đề nào HS cũng tự mình giải quyết được, khả năng tư duy độc lập của các em còn nhiều hạn chế; quá trình này cần phải có thời gian để các em tập trung suy nghĩ, liên

Trang 25

kết kiến thức đã biết để giải quyết vấn đề; Do vậy, nếu chỉ sử dụng PP này thì kết quả giờ học không được như mong muốn

Trong khi đó, DHHT lại làm HS thấy tự tin hơn bởi các em được chia

sẻ những vướng mắc, cùng nhau trao đổi, thảo luận, tìm ra phương án giải quyết nhiệm vụ học tập Với PP này chỉ trong một thời gian ngắn các em không chỉ thu được một lượng thông tin lớn có liên quan đến bài học mà còn học được các kĩ năng làm việc hợp tác

Chính vì vậy, việc phối hợp hai PPDH này với nhau sẽ rút ngắn được thời gian giải quyết nhiệm vụ học tập Đặc biệt, sự hợp tác càng trở nên cần thiết và phát huy tối đa khả năng của nó khi đứng trước một vấn đề thực sự vướng mắc mà một cá nhân không thể thực hiện được

Tuy nhiên, khi phối hợp DHHT và DH phát hiện giải quyết vấn đề thì trong quy trình tổ chức DHHT sẽ phải nêu được tình huống có vấn đề và yêu cầu HS tập trung vào vấn đề nảy sinh cần phải hợp tác giải quyết Cụ thể: Quy trình chuẩn bị GV cần hướng HS tới vấn đề trọng tâm của bài học từ việc xác định mục tiêu giải quyết, GV cần đưa ra tình huống thực sự cần hợp tác để HS hứng thú thảo luận với bạn giải quyết vấn đề đặt ra Trong quy trình thực hiện

GV khuyến khích, tạo điều kiện cho các nhóm giải quyết vấn đề đã được xác định Trong quy trình tổng kết đánh giá GV sẽ kết luận kết quả giải quyết vấn

đề của các nhóm sau quá trình thảo luận

Một số điểm lưu ý khi thực hiện quy trình DH có phối hợp DHHT và

DH phát hiện giải quyết vấn đề:

Quy trình chuẩn bị

Bước 1: Xác định mục tiêu

Bước 2: Thiết kế sư phạm cho nội dung DH

- GV xác định và chuẩn bị tình huống có vấn đề Vấn đề đưa ra phải gắn với bài học và phù hợp với hoạt động nhóm

- Xây dựng phiếu học tập, phiếu hỗ trợ bám sát vấn đề cần hợp tác giải quyết; dự kiến những tình huống sư phạm xảy ra

Trang 26

- Xác định kế hoạch việc chia nhóm tiến hành thảo luận, phân tích vấn

đề và thống nhất giải pháp giải quyết vấn đề HS làm việc độc lập giải quyết vấn đề rồi trao đổi với nhau để thống nhất kết quả làm việc chung của nhóm

- Dự kiến thời gian thảo luận

Bước 3: Lựa chọn PP, phương tiện

- Phối hợp PPDHHT và PPDH phát hiện giải quyết vấn đề

Bước 2: Hướng dẫn cá nhân

- Xác định và chính xác hóa nhiệm vụ của HS

- Gợi ý cách giải quyết tình huống; hỗ trợ và giúp đỡ HS

Bước 3: Tổ chức thảo luận nhóm

- GV khuyến khích, tạo điều kiện cho các nhóm giải quyết vấn đề đã được xác định

- Các nhóm tiến hành thảo luận, tổng hợp sản phẩm của cá nhân; thống nhất giải pháp giải quyết vấn đề

Bước 4: Tổ chức thảo luận lớp

- Từng nhóm báo cáo kết quả làm việc

- GV nhấn mạnh những khác biệt, mâu thuẫn nảy sinh của các nhóm khi giải quyết vấn đề

Bước 5: Kết luận, đánh giá

- Đánh giá, nhận xét kết quả làm việc của từng nhóm

Quy trình tổng kết, đánh giá

Bước 1: Tổng kết và khái quát bài học

- GV sẽ kết luận kết quả giải quyết vấn đề của các nhóm sau quá trình thảo luận

Trang 27

Bước 2: Nhận xét đánh giá chung

Bước 3: Hướng dẫn HS nhận nhiệm vụ mới

Phối hợp DHHT và DH theo dự án

Trong DH theo dự án, HS được phân chia thành các nhóm hoạt động để cùng thực hiện một dự án, thực chất là quá trình cùng giải quyết một vấn đề hay một nhiệm vụ Mỗi HS sẽ quản lí quá trình học tập riêng của mình, có trách nhiệm tạo ra sản phẩm riêng theo phân công, nhưng cả nhóm lại có chung một mục tiêu Quá trình thực hiện nhiệm vụ đó sẽ phát huy được tính

tự lực, phát triển tư duy sáng tạo cho người học, phát triển năng lực phát hiện

và giải quyết vấn đề, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tinh thần làm việc có

kế hoạch, khả năng làm việc hợp tác với người học Rõ ràng, hợp tác để hoàn thành dự án là một trong những yêu cầu chủ yếu đối với DH theo dự án

Tuy nhiên, khi phối hợp DHHT và DH theo dự án thì trong quy trình DHHT sẽ phải giới thiệu về dự án và hướng dẫn HS thực hiện dự án đó Cụ thể: Quy trình chuẩn bị GV cần giới thiệu dự án, xác định mục tiêu tiếp cận

dự án Quy trình thực hiện GV hướng dẫn các nhóm lập kế hoạch thực hiện

dự án Quy trình tổng kết - đánh giá GV sẽ kết luận kết quả thực hiện dự án của các nhóm sau quá trình thảo luận

Một số điểm lưu ý khi thực hiện quy trình DH có phối hợp DHHT và

Bước 2: Thiết kế sư phạm cho nội dung DH

- Xây dựng kế hoạch cho từng nội dung triển khai trong dự án: chia nhóm, chọn chủ đề, phân tích chủ đề,…

- Xác định những yêu cầu mục tiêu cần đạt của bài học

- Dự kiến quỹ thời gian cho từng hoạt động

Bước 3: Lựa chọn các PP, phương tiện DH

Trang 28

- Lựa chọn các phương án tổ chức hoạt động hiệu quả; các kĩ thuật hỗ trợ cần sử dụng khi thực hiện dự án

Quy trình thực hiện

Bước 1: Thành lập nhóm và giao nhiệm vụ học tập cho HS

- Chia nhóm, chọn chủ đề, xác định mục tiêu thực hiện dự án cho các nhóm

- Lưu ý tới thời gian hoàn thành dự án

Bước 2: Hướng dẫn HS tự nghiên cứu

- Gợi ý, hỗ trợ, giải thích cho HS các nội dung kế hoạch khi lập dự án: chọn chủ đề, xác định mục tiêu dự án,…

- HS phân tích, thống nhất giải pháp thực hiện mục tiêu, xây dựng kế hoạch, phân công công việc cho từng cá nhân

- Các cá nhân trong nhóm tiến hành các công việc được phân công trong

kế hoạch

Bước 3: Tổ chức hoạt động nhóm

- Các nhóm thống nhất việc thực hiện kế hoạch của dự án

- GV bổ sung và hướng dẫn, duyệt kế hoạch của từng nhóm

- GV quan sát và có sự trợ giúp các nhóm khi cần thiết

Bước 4: Tổ chức thảo luận lớp

- Tổng kết báo cáo của từng nhóm

- Các nhóm đưa ra các kết luận sản phẩm, các kiến thức thu lượm được

về dự án

Bước 5: Kết luận, đánh giá

- GV đánh giá việc thực hiện dự án của từng nhóm, có kết hợp sự đánh giá của chính HS các nhóm theo mục tiêu đã xác định của bài

Quy trình tổng kết, đánh giá

Bước 1: Tổng kết và khái quát bài học

- GV bổ sung, hoàn thiện các kết luận kết quả thực hiện dự án của các nhóm sau quá trình thảo luận

- Đưa ra kết luận chung về dự án

Trang 29

- GV trao đổi, mở rộng cho HS vốn hiểu biết về việc thực hiện dự án

Bước 2: Nhận xét đánh giá chung

- Đánh giá mức độ thực hiện dự án của HS, mức độ đạt được về kiến

thức, kĩ năng, thái độ của HS sau khi hoàn thành dự án

Bước 3: Hướng dẫn HS nhận nhiệm vụ mới

Phối hợp DHHT và DH kiến tạo

DH kiến tạo không chỉ nhấn mạnh đến tiềm năng tư duy, tính chủ động, tích cực của bản thân người học trong quá trình kiến tạo tri thức mà còn nhấn mạnh đến khả năng đối thoại, tương tác, tranh luận của HS trong kiến tạo, công nhận tri thức Các hoạt động đối thoại, tương tác, tranh luận kiến thức trong DH kiến tạo cũng chính là các hoạt động thực hiện trong hợp tác xây dựng kiến thức mới

Tuy nhiên, khi phối hợp DHHT và DH kiến tạo thì trong quy trình DHHT cần tạo tình huống kích thích ở HS quá trình đồng hóa những kiến thức đã có và điều chỉnh lại kiến thức Cụ thể: Quy trình chuẩn bị GV tạo tình huống đòi hỏi ở người học sự đồng hóa và điều ứng kiến thức nhằm mục tiêu xây dựng kiến thức mới Quy trình thực hiện GV cần tổ chức cho HS giao lưu trong nhóm nhằm huy động kiến thức của HS Quy trình tổng kết - đánh giá

GV đưa ra kết luận chung, phát hiện kiến thức mới

Một số điểm lưu ý khi thực hiện quy trình DH có phối hợp DHHT và

DH kiến tạo:

Quy trình chuẩn bị

Bước 1: Xác định mục tiêu

Bước 2: Thiết kế sư phạm cho nội dung DH

- GV xác định, chuẩn bị tình huống có vấn đề đòi hỏi ở HS sự đồng hóa

- Chuẩn bị cách thức gợi động cơ, kích thích HS vận dụng kiến thức đã

có nhằm mục tiêu xây dựng kiến thức mới

- Xây dựng nội dung phù hợp với mục tiêu kiến thức mới cho bài học

- Định hướng kế hoạc về việc chia nhóm, xác định mục tiêu hoạt động cho các nhóm, tổ chức cho HS giao lưu trong nhóm

Trang 30

Bước 3: Lựa chọn PP, phương tiện DH

- Phối hợp DHHT và DH kiến tạo

- Chuẩn bị đồ dùng DH cần thiết

Giai đoạn thực hiện

Bước 1: Thành lập nhóm và giao nhiệm vụ cho HS

- Chia nhóm, xác định mục tiêu hoạt động cho các nhóm

Bước 2: Hướng dẫn HS tự nghiên cứu

- Cá nhân trong nhóm tiến hành các công việc được phân công một cách độc lập hoặc theo cặp

- GV trợ giúp cá nhân hoạt động khi cần thiết

Bước 3: Tổ chức thảo luận theo nhóm

- Tổ chức cho HS giao lưu trong nhóm và hoạt động kiến tạo kiến thức theo sơ đồ: Tri thức đã có → dự đoán → kiểm nghiệm → (thất bại) → thích nghi → tri thức mới

- Nhóm thống nhất tự kiểm chứng kết quả thu được

Bước 4: Tổ chức thảo luận trong nhóm

- Các nhóm đưa ra các kết luận, kiến thức thu lượm được

Bước 5: Đánh giá, kết luận

- Các nhóm tự kiểm chứng, bảo vệ ý kiến, tự đưa ra các kết luận, các kiến thức thu lượm được

Quy trình tổng kết, đánh giá

Bước 1: Tổng kết và khái quát bài học

- GV bổ sung, hoàn thiện các kết luận và đưa ra kết luận chung

- HS ghi nhớ nội dung kiến thức mới thu lượm được sau hoạt động

Bước 2: Nhận xét đánh giá chung

Bước 3: Hướng dẫn HS nhận nhiệm vụ mới

1.1.4 Một số kĩ thuật sử dụng trong dạy học hợp tác

DHHT phù hợp quan điểm DH tích cực ở HS tiểu học và được GV đánh giá cao Tuy nhiên, khi vận dụng DHHT, GV tiểu học gặp một số khó

khăn trong thực tế giảng dạy của mình [11,tr.102]

Trang 31

Thứ nhất: Có một số HS sinh ỷ nại vào nhóm hợp tác và GV không

kiểm soát hết được việc học của tất cả các HS

Thứ hai: Sử dụng PPDHHT mất nhiều thời gian cho nên đôi khi để đạt

được mục tiêu, nhiệm vụ cần phải thực hiện của bài học thì lại thiếu thời gian

Thứ ba: Việc trợ giúp các cá nhân, nhiều nhóm trong cùng một thời

điểm khó có thể thực hiện

Chính vì vậy cần đưa ra “kĩ thuật” thực hiện trong học hợp tác để khắc

phục những khó khăn trên

Kĩ thuật khăn trải bàn

Khái niệm: Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp

giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

Cách tiến hành: GV sử dụng theo mô hình trên giấy A0

- Hoạt động theo nhóm (4HS/nhóm) Nếu nhóm lớn hơn 4 thì vẫn có thể

áp dụng được kĩ thuật này bằng cách phân làm các phần tương ứng trên khăn trải bàn

- Mỗi HS ngồi vào vị trí như mô hình minh họa:

- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề, )

- Viết vào ô mang số của HS câu trả lời hoặc ý kiến của HS (về câu hỏi, chủ đề, ) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian vài phút

Viết ý kiến cá nhân

Viết ý kiến cá nhân

Ý kiến chung của cả nhóm về chủ đề

Viết

ý kiến

cá nhân

Viết

ý kiến

cá nhân

Trang 32

- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên tiến hành chia sẻ và thảo luận, thống nhất câu trả lời

- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn

Khi áp dụng kĩ thuật này thì vấn đề khó khăn thứ nhất của GV sẽ được tháo gỡ một cách hiệu quả

Kĩ thuật mảnh ghép (cải tiến mô hình Jigsaw)

Khái niệm: Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm

và sự liên kết giữa các nhóm nhằm:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

Cách tiến hành: Tiến hành như hình vẽ:

cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh

vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

Trang 33

(Ở vòng 1 các nhóm chưa báo cáo kết quả của nhóm mình mà chuyển sang nhóm ở vòng 2)

Vòng 2 (nhóm các mảnh ghép)

- Hình thành nhóm 3HS mới (1HS từ nhóm 1; 1HS từ nhóm 2 và 1HS từ nhóm 3) Các câu hỏi và thông tin của vòng 1 được các thành viên mới chia sẻ đầy đủ với nhau Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm thành lập hợp tác

để giải quyết

Tùy theo nội dung bài học mà có thể chia nhóm ở vòng 1 với số lượng

HS khác nhưng vẫn phải đảm bảo bản chất của kĩ thuật các mảnh ghép

Phiếu giao việc, phiếu hỗ trợ học tập

Mục đích: Với các nhóm có nhiệm vụ khác nhau, nên nếu có nhu cầu

trợ giúp của các nhóm HS cùng một thời điểm sẽ gây khó khăn cho GV Vì vậy, cần phải thiết kế phiếu trợ giúp ở nhiều mức độ khác nhau

Cách thiết kế: Tùy vào tình huống cụ thể chia các mức độ trợ giúp tăng

dần theo nhu cầu của HS, khả năng học tập của HS

Cách sử dụng: Đặt các phiếu hỗ trợ vào trong hộp, bên ngoài có ghi

dùng cho nhóm nào, mức độ nào Khi sử dụng, GV cần khuyến khích, động viên HS suy nghĩ giải quyết vấn đề, để mức độ hỗ trợ của GV cho HS luôn luôn là tương tác tích cực

Như vậy, khó khăn thứ ba của GV được giải quyết

Việc sử dụng khéo léo kĩ thuật “khăn trải bàn” cũng như kĩ thuật

“mảnh ghép” và “phiếu hỗ trợ học tập” phụ thuộc vào tính chất của bài học;

điều kiện học tập và năng lực sư phạm của người GV

1.2 Một số vấn đề về dạy học môn Toán lớp 4

1.2.1 Đặc điểm và nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học các lớp cuối cấp

Tri giác của HS thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn để phát triển Vì vậy, GV Tiểu học có vai trò rất lớn, GV cần tổ chức một cách

Trang 34

đặc biệt hoạt động của HS để tri giác một đối tượng nào đó nhằm phát hiện ra bản chất của sự vật và hiện tượng

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức,

dựa vào đặc điểm bên ngoài với những thao tác cụ thể Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Việc học Toán sẽ giúp các em biết phân tích và tổng hợp Đối với HS các lớp cuối cấp tiểu học, việc phát triển tư duy

có điều kiện và tiềm năng thực hiện tốt hơn các lớp đầu cấp bởi khả năng hành động hướng đích của các em tốt hơn và tính khái quát trong tư duy của

HS đạt được ở mức độ cao hơn

Trí tưởng tượng, sự chú ý, ghi nhớ của HS các lớp cuối cấp tiểu học

đã giảm tính tản mạn, đạt được sự bền vững tốt hơn so với các lớp đầu cấp Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện Nhu cầu nhận thức của các em đã phát triển khá rõ nét: không chỉ thiên về từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ mà thiên nhiều hơn tới nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, phát triển trí tuệ Đặc biệt, ở giai đoạn này, khả năng thực hiện các hoạt động, các nhiệm vụ học tập một cách độc lập hay hợp tác nhóm với bạn được nâng lên

Như vậy, đặc điểm và nhu cầu nhận thức, sự phát triển tư duy của HS lớp cuối cấp cho thấy việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của HS được chủ động, trách nhiệm, có điều kiện thuận lợi hơn trước; việc ý thức trách nhiệm

cá nhân, trách nhiệm tập thể của HS đã tốt hơn; việc ý thức tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân tốt hơn Bởi thế, việc vận dụng DHHT đối với HS các lớp cuối cấp có tiềm năng để đạt được hiệu quả cao hơn

1.2.2 Vị trí, vai trò của môn Toán lớp 4, 5 trong DH toán ở tiểu học

Quá trình DH toán trong chương trình tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5

Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 có thể coi là giai đoạn học tập cơ bản vì giai đoạn này HS được chuẩn bị những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhất Đặc biệt giai đoạn này, HS được chuẩn bị về PP tự học toán dựa vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

Trang 35

Giai đoạn các lớp 4, 5 có thể coi là giai đoạn học tập sâu Ở giai đoạn này, HS vẫn học tập các kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Toán nhưng ở mức sâu hơn, khái quát hơn, tường minh hơn Nhiều nội dung toán học có thể coi là cụ thể, trực quan và dùng làm chỗ dựa để học các nội dung mới Do đó, tính trừu tượng, khái quát của nội dung môn Toán các lớp 4, 5 được nâng lên một bậc Một trong những đổi mới trong DH toán ở giai đoạn các lớp 4, 5 của chương trình tiểu học là không quá nhấn mạnh lý thuyết và tính hàn lâm như trước, mà cố gắng tạo điều kiện để tinh giản nội dung, đặc biệt tiếp tục phát huy DH dựa vào hoạt động của HS để phát triển năng lực làm việc bằng trí tuệ cá nhân và hợp tác trong nhóm với sự hỗ trợ có mức độ của đồ dùng học tập Hoạt động chủ đạo của HS ở giai đoạn này là hoạt động học, ở đây HS học tập thông qua hoạt động thực hành - luyện tập của cá nhân hay nhóm để

từ đó có thể “tự mình” phát hiện ra các kiến thức, kĩ năng mà GV cần dạy Do

đó, việc tổ chức các hoạt động trò chơi trong một giờ học toán của HS ở giai đoạn này là không bắt buộc, tuy nhiên nên khuyến khích việc tổ chức các hoạt động trò chơi mang tính trí tuệ, trò chơi xử lí tình huống trong học tập và trong cuộc sống Nhận thức của HS ở giai đoạn này bắt đầu chuyển dần sang nhận thức lí tính trên cơ sở quan sát, phân tích, so sánh các hiện tượng và sự kiện trong học tập và trong đời sống Vì vậy, khi DH ở giai đoạn này cần giảm dần về thời lượng sử dụng và mức độ của các yếu tố trực quan

1.2.3 Mục tiêu chương trình môn Toán lớp 4

- Nhận biết được một số đặc điểm của số tự nhiên; biết thực hiện cộng, trừ, nhân, chia các số tự nhiên

- Biết được mối quan hệ và cách chuyển đổi các đơn vị đo lường

- Nhận biết được: góc nhọn, góc tù, góc bẹt; hai đường thẳng vuông góc, song song; một số đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành, hình thoi; biết tính chu vi, diện tích của hình bình hành, hình thoi

- Nhận biết được các dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9

Trang 36

- Biết đọc, viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; biết rút gọn, quy

đồng mẫu số các phân số; so sánh hai phân số; biết cộng, trừ, nhân, chia hai phân số dạng đơn giản

- Biết đọc và nhận định (ở mức độ đơn giản) các số liệu trên biểu đồ cột; biết được một số ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế

1.2.4 Nội dung, yêu cầu dạy học các nội dung môn Toán lớp 4

Nội dung môn Toán lớp 4 ở tiểu học được tổng hợp theo 5 mạch kiến thức sau:

- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích

có không quá 6 chữ số

- Phép chia các số có nhiều chữ số cho số có không quá 3 chữ số, thương có không quá 4 chữ số

- Tính chất giao hoán của phép cộng, phép nhân Các quy tắc “Một số

nhân một tổng (hiệu), “Một tổng chia một số”, “Một số chia một tích”, “Một tích chia một số”

- Dấu hiệu chia hết cho 2,3,5,9

- Tính giá trị của biểu thức số có đến 4 dấu phép tính Tính giá trị biểu thức chứa đến 3 chữ dạng đơn giản: a + b + c; a × b × c; (a + b) × c…

* Phân số; các phép tính về phân số

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phân số; đọc, viết, so sánh các phân

số, phân số bằng nhau

- Phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng hoặc không có cùng mẫu số

- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên, nhân một tổng hai phân số với một phân số

Trang 37

- Giới thiệu quy tắc chia phân số với phân số; chia phân số cho số tự nhiên khác 0

- Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng; phép nhân các phân số

- Thực hành tính nhẩm; tính giá trị các biểu thức có không quá ba dấu phép tính

* Tỉ số

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số

- Giới thiệu các bài toán: tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của chúng

- Tỉ lệ bản đồ

1.2.3.2 Đại lượng và đo đại lượng

- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng Nêu mối quan hệ giữa kilogam và yến, tạ, tấn; giữa kilogam và gam

- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian Nêu mối quan hệ giữa ngày và giờ, giờ và phút, giây, thế kỉ và năm; năm và tháng, ngày

- Diện tích và một số đơn vị đo diện tích (dm2, m2, km2) Nêu mối quan

Trang 38

1.2.3.5 Giải toán có lời văn

Giải các bài toán có đến 3 bước tính, trong đó có các bài toán liên quan đến:

- Tìm số trung bình cộng của nhiều số

- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó

- Tìm phân số của một số

- Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó

- Tính chu vi, diện tích của một số hình đã học

1.3 Vấn đề lập kế hoạch bài học trong môn Toán ở trường tiểu học

1.3.1 Một số vấn đề chung về lập kế hoạch bài học trong môn Toán ở tiểu học

1.3.1.1 Vai trò của việc lập kế hoạch bài học

Nhằm bảo đảm để GV có ý thức rõ ràng về việc dạy cái gì, dạy vào lúc nào và dạy như thế nào và HS cần học ra sao; làm cho GV tự tin hơn vì đã có

sự chuẩn bị đúng hướng; tạo thuận lợi để GV tập trung suy nghĩ về vấn đề chủ yếu trước khi lên lớp, ứng phó kịp thời và đón đầu những tình huống có thể xảy ra khi tổ chức giờ học với những đối tượng HS cụ thể

Việc lập kế hoạch bài học phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ ít nhất là giữa ba yếu tố: Mục tiêu, nội dung và PPDH Trong đó, mục tiêu vừa thể hiện điểm xuất phát, vừa thể hiện điểm đến; nội dung DH là yếu tố đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu, đồng thời cũng là yếu tố trực tiếp giúp người dạy chọn lựa PPDH Ngoài ra, PPDH tác động ngược lại nội dung DH, làm cho nội dung DH trở nên hoàn thiện hơn

Kế hoạch bài học là kế hoạch của một tiết học thể hiện tinh thần cơ bản của chương trình môn học; thể hiện được mối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung, PP và kết quả được coi là bốn thành tố cơ bản của bài học Vì vậy, khi lập kế hoạch bài học, GV cần quán triệt tất cả các thành tố có liên quan Trong bài dạy, mục đích và mục tiêu bài học phải đề ra rõ ràng, có thể lượng hóa, từ đó có thể đo được và đánh giá được kết quả một cách khách quan

Trang 39

Mục đích của hoạt động DH là tổ chức điều khiển quá trình học, giúp

HS lĩnh hội nền văn hóa nhân loại, biến nó thành tri thức của mình để hình thành nhân cách và trở thành người lao động sáng tạo Trong kế hoạch bài học, những mục đích này sẽ được cụ thể hóa bằng những mục tiêu của từng bài học Để thực hiện mục đích này, quá trình DH đảm bảo các nhiệm vụ sau:

- Giúp HS chiếm lĩnh tri thức khoa học và kĩ năng thực hành

- Dạy và học PP nhận thức để tìm ra tri thức

- Dạy và học thái độ học tập, hình thành nhân cách toàn diện người học

1.3.1.2 Các công việc cần làm của giáo viên khi lập kế hoạch bài học

1 Nghiên cứu nội dung bài học trong SGK, điều chỉnh nội dung DH của môn học nhằm xác định các nội dung kiến thức để:

- Xác định rõ đâu là kiến thức trọng tâm của bài học buộc HS phải chiếm lĩnh sau khi kết thúc bài học

- Lựa chọn PP, hình thức tổ chức học tập, cách dẫn dắt, gợi ý, bố trí thời gian, tổ chức đánh giá,…Từ đó định hướng được trình tự bước đầu về kế hoạch bài học

2 Xác định mức độ cần đạt của bài học được quy định tại Chương trình

giáo dục phổ thông cấp tiểu học

3 Đối chiếu tình hình HS của lớp mình đang giảng dạy: Kế hoạch bài học chỉ thực sự đạt hiệu quả khi tổ chức thực hiện trên đối tượng HS cụ thể Để lập kế hoạch bài học đảm bảo các yêu cầu đặt ra, khi lập cần xem xét từng đặc điểm của HS hay nhóm HS để có cách xây dựng các hoạt động phù hợp, định

ra các việc khác nhau, các PP tổ chức khác nhau

4 Lập kế hoạch bài học theo trình tự

1.3.1.3 Các tiêu chí trong việc lập kế hoạch bài học

Để kế hoạch bài học sát đúng đối tượng HS, tránh được những tình huống xảy ra trong quá trình thực hiện mà GV không lường trước được đòi hỏi kế hoạch bài học phải đảm bảo các tiêu chí sau:

- Kế hoạch bài học phải được lập chi tiết, phải chỉ rõ mức độ kiến thức,

kĩ năng, thái độ HS cần đạt sau khi học bài Kế hoạch bài học chỉ rõ các hoạt

Trang 40

động học tập của HS và đảm bảo rằng trình tự của các hoạt động này phù hợp với logic nhận thức của HS khi học một bài cụ thể

- Bảo đảm tính đặc trưng của bộ môn, tính chủ đề, chủ điểm, mục tiêu bài học, đặc điểm đối tượng HS

- Phải dự kiến được PP tổ chức, phương tiện DH, dự kiến cách đánh giá

1.3.2 Lập kế hoạch dạy học theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán ở tiểu học

1.3.2.1 Vai trò của việc lập kế hoạch dạy học theo quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán ở tiểu học

Kĩ năng lập kế hoạch bài học gồm các kĩ năng: Thiết kế mục tiêu, nội dung, PP, phương tiện giảng dạy và thiết kế hoạt động Trong một giờ lên lớp của DHHT cũng có những khác biệt so với khi sử dụng các PPDH khác Muốn thực hiện thành công tiết học sử dụng PPDHHT thì đòi hỏi GV phải có

sự chuẩn bị kế hoạch bài dạy thật chi tiết, cụ thể

DHHT chủ yếu thích hợp với những hoạt động rèn luyện kĩ năng, luyện tập và các hoạt động thực hành, các nội dung hình thành kiến thức mới Khi lựa chọn nội dung môn Toán để sử dụng DHHT cần lưu ý đến đặc điểm của DHHT, đến đặc điểm tâm sinh lí HS tiểu học; đặc điểm và mục đích – yêu

cầu DH môn Toán ở tiểu học Chính vì vậy, GV cần có những “thiết kế sư

phạm” cho nội dung DH môn Toán tiểu học để đảm bảo vận dụng DHHT

hiệu quả Tính hiệu quả thể hiện ở chỗ HS có hứng thú, có nhu cầu hợp tác thực sự mà không phải là khiên cưỡng trong quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng như: kích thích tư duy người học bằng tình huống gợi vấn đề, khích lệ động viên, vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức trò chơi, câu đố,… từ đó

Ngày đăng: 03/07/2023, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w