Hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 .... Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định p
Trang 1
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn: Ths Hoàng Diệu Linh
Hà Nội – T5/2023
Trang 2
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Mã số: ĐTSV.2023.026
Hà Nội – T5/2023
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Mơ Lớp/Khoa: 2005LHOD-NNPL
Thành viên tham gia: Đỗ Vũ Trang Nhung
Trần Đức Bình Dương Việt Hưng
Lớp/Khoa: 2005LHOD-NNPL
2005LHOD-NNPL 2105LHOB-NNPL
Trang 3Nhóm nghiên cứu xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2023 TM.NHÓM NGHIÊN CỨU Chủ nhiệm đề tài
Phạm Thị Mơ
Trang 4
Trước tiên với lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm chân thành nhất cho phép nhóm nghiên cứu được gửi lời cảm ơn đến các giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp Luật, Học viện Hành chính quốc gia đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như tạo điều kiện giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Hoàng Diệu Linh
đã hướng dẫn đề tài nghiên cứu khoa học, đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ nhóm nghiên cứu giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài nghiên cứu một cách tốt nhất
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô, bạn bè đã luôn khích lệ, động viên nhóm nghiên cứu trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, do kiến thức và năng lực của nhóm nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các quý thầy cô để đề tài nghiên cứu của nhóm nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
TM.NHÓM NGHIÊN CỨU Chủ nhiệm đề tài
Phạm Thị Mơ
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Mục đích nghiên cứu 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết nghiên cứu 4
7 Đóng góp mới của đề tài 4
8 Kết cấu của đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT 5
TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 5
1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
1.2 Đặc điểm của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh 9
1.3 Ý nghĩa của việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh 10
1.3.1 Ý nghĩa về phương diện chính trị - kinh tế - xã hội 10
1.3.2 Ý nghĩa về phương diện pháp lý 11
1.4 Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12
1.4.1 Kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12
1.4.2 Kinh nghiệm lập pháp của Singapore về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 15
Trang 6
1.4.3 Kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa Pháp về tội phạm lừa đảo
chiếm đoạt tài sản 18
1.5 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 2015 20
1.5.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 1945 đến trước Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 20
1.5.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1999 21
1.5.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 2015 22
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 26
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
2.1 Dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 26
2.1.1 Khách thể của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 26
2.1.2 Mặt khách quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 27
2.1.3 Chủ thể của của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 31
2.1.4 Mặt chủ quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 32
2.2 Hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 33
2.2.1 Hình phạt chính áp dụng đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh 33
2.2.2 Hình phạt bổ sung áp dụng với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh 36
2.3 Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh với giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm khác 36
2.3.1 Phân biệt Tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh với giao dịch dân sự 37
Trang 7
2.3.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản 38
2.4 Thực tiễn xét xử tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội 38
2.5 Bất cập, hạn chế về quy định và thực tiễn xét xử Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh 51
2.5.1 Bất cập, hạn chế về quy định pháp luật 51
2.5.2 Bất cập, hạn chế về thực tiễn xét xử 53
Tiểu kết chương 2 54
CHƯƠNG 3 55
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 55
3.1 Định hướng tiếp tục hoàn thiện quy định Tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản 55
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 56
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 57
3.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong cuộc sống 57
3.3.2 Nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ chấp hành viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm nhân dân 59
3.3.3 Tăng cường phát triển đội ngũ Luật sư, trợ giúp pháp lí 60
3.3.4 Tăng cường phòng, chống “hình sự hoá” các quan hệ dân sự, kinh tế có liên quan đến tài sản 61
Tiểu kết chương 3 62
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự TAND : Tòa án nhân dân TANDTC
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng vụ án và số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt
động kinh doanh mà Tòa án đã thụ lý trên phạm vi cả nước từ năm 2018 đến năm 2022
Bảng 2.2 Số lượng vụ án và số bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động
kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.3 Số vụ án, số bị cáo được Tòa án xét xử về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trong hoạt động kinh doanh từ năm 2018 đến năm 2022 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.4 Hình phạt được áp dụng đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm
2018 – 2022 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong một vài năm gần đây, diễn biến tội phạm về lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi toàn quốc ngày càng phức tạp Nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, hội nhập kinh tế, thực hiện cách mạng 4.0 và chuyển đổi số dẫn đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh ngày càng nhiều, phức tạp với các phương thức, thủ đoạn tinh vi hơn
Trong thời gian vừa qua, thành phố đạt được nhiều thành tựu về văn hóa, xã hội trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, TP Hà Nội đứng trên cả nước về thu hút vốn đầu tư FDI Tuy đạt được những thành tựu như vậy nhưng tình hình tội phạm trên địa bàn
TP Hà Nội lại diễn biến phức tạp, đặc biệt là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh ngày càng tăng, có tính chất nguy hiểm, gây hoang mang cho người dân trên địa bàn thành phố thủ đô Đặc biệt, trong tình hình Covid-19 gần đây, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh có cơ hội diễn ra tinh vi, phức tạp hơn Điều này được thể hiện rõ ràng qua số lượng vụ án và số bị cáo phạm mà Tòa án đã xét
xử trong năm 2022 với 404 vụ án và 574 bị cáo So với năm 2021, số lượng vụ án đã xét
xử tăng lên 130 vụ án và số bị cáo đã xét xử tăng lên 230 bị cáo
Mặc dù, trong BLHS Việt Nam có quy định khá đầy đủ về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tuy nhiên trên thực tiễn vẫn còn một số bất cập, hạn chế gây ảnh hưởng đến
trật tự an ninh trên địa bàn thủ đô Từ đó, nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội” để tài
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tội phạm này Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả khi áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh vào thực tiễn trên địa bàn TP Hà Nội
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây xảy ra phổ biến và giảm hiệu quả quản lý nhà nước, gây hậu quả xấu cho xã hội nên vì vậy đề tài này cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm Một số công trình đã nghiên cứu có liên quan như:
Trang 11Luận văn của ThS Nguyễn Tiến Dũng “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam – trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định”
Đề tài đã làm rõ được các vấn đề lý luận chung về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trên
cơ sở đó phân tích các quy định và thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn tỉnh Nam Định Bên cạnh đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam và nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan tiến hành
tố tụng trên địa bàn tỉnh Nam Định
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Ngô Thị Hạnh “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng” Luận
văn đã phân tích những vấn đề chung về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời phân tích những quy định và thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Hình sự Việt Nam
Bên cạnh đó, còn có Luận văn Thạc sĩ Luật học của Ths.Vũ Thanh Tùng “Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam (trên
cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” Đề tài đã đưa ra và phân tích những vấn đề
lý luận chung về TNHS đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về TNHS đối với tội phạm này trên địa bàn TP Hà Nội Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc
áp dụng trách nhiệm hình sự đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tuy nhiên, thông qua tình hình nghiên cứu này nhóm nghiên cứu nhận thấy vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022 Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của các công trình trên cũng được nhóm nghiên cứu tiếp thu, kế thừa có chọn lọc để giải quyết một số nội dung trong đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh trên cơ sở pháp luật Hình sự Việt Nam
Qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam
và nâng cao hiệu áp dụng đối với tội này
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Bên cạnh những mục đích cần đạt được, những nhiệm vụ mà nhóm nghiên cứu đang và muốn thực hiện khi nghiên cứu đề tài là:
Đưa ra những vấn đề lý luận chung về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Phân tích những quy định của BLHS Việt Nam về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh và thực tiễn xét xử của tội phạm này trên địa bàn TP Hà Nội
Từ đó, đề xuất ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, còn phân tích thực trạng xét xử của tội phạm này để đề xuất ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao áp dụng các quy định trong BLHS Việt Nam trên địa bàn TP Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: số liệu khảo sát và thống kê các vụ án thực tiễn sử dụng trong
đề tài được thu thập từ năm 2018 đến năm 2022
Phạm vi không gian: trên địa bàn TP Hà Nội
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh tại Điều
174 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt trong đề tài là BLHS năm 2015)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra, đạt được mục đích của vấn đề nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để tổng hợp các quan niệm, khái niệm của
các nhà nghiên cứu đã đưa ra tại Chương 1
Phương pháp thống kê: được sử dụng để tổng hợp các số liệu có liên quan đến
đề tài nghiên cứu và thực tiễn xét xử tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2018 đến năm 2022 trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn TP Hà Nội nói chung
Trang 13Phương pháp phân tích: để làm rõ được những vấn đề lý luận chung và quy định
của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trên cơ sở đó, phân tích thực tiễn tình hình xét xử tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội phạm này
6 Giả thuyết nghiên cứu
Sự thiếu hiểu biết hoặc tham lam của một bộ phận người dân và lỗ hổng của pháp luật dẫn đến tính trạng nhiều doanh nghiệp có thể dễ dàng lừa đảo Nếu có các biện pháp tác động, tuyên truyền giáo dục pháp luật phù hợp, các quy định pháp luật nghiêm khắc,
cụ thể hơn có thể nâng cao nhận thức của người dân về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh, giảm thiểu số vụ án bị lừa đảo, bảo vệ tài sản của công dân và nhà nước một cách tốt nhất Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước cũng dễ dàng trong việc xử lí các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản
7 Đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng của pháp luật và cách quản lí của nhà nước đối với những hình thức lừa đảo mới nảy sinh trong lòng xã hội, góp phần tạo nên một xã hội ngày một công bằng, văn minh hơn, không còn người nào
bị vướng vào hình thức lừa đảo này tránh tình trạng “tán gia bại sản”
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu 3 chương: Chương 1 Một số vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Chương 2 Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố
Hà Nội
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1 Một số khái niệm có liên quan
* Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Theo từ điển Tiếng Việt “Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật Chiếm đoạt tài sản của người khác là động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo Để thực hiện thành công việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thì người có hành vi lừa đảo thường sử dụng những lời nói dối như: Thuyết trình, quảng cáo, tặng quà… Ngoài ra, đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo còn sử dụng các thủ đoạn và các hành vi gian dối khác như: giả danh người có uy tín, trách nhiệm, quyền hạn, có địa vị cao trong xã hội; hoặc làm giả các loại công văn, giấy giờ, chữ ký của những người có thẩm quyền để làm cho người có tài sản tin tưởng vào họ và gia tài sản”1
Theo từ điển Luật học, “Lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, dùng mọi phương pháp giấu diếm nội dung, nói sai sự thật làm cho người có tài sản hoặc có trách nhiệm về tài sản vì tin nhầm, tưởng là thật, tưởng kẻ gian là người ngay thẳng nên đã giao tài sản cho kẻ lừa đảo mà không hay biết”2
Như vậy, “hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là hành vi sử dụng thủ đoạn
gian dối nhằm mục đích chuyển dịch trái phép tài sản của người khác thành của mình
Để đạt được thành công hành vi của mình, người có hành vi lừa đảo thường đưa ra các thông tin sai sự thật làm cho người khác tin vào hành vi gian dối của mình là thật
Hai hành vi này có mối liên hệ lẫn nhau Trong đó, hành vi lừa đảo là hành vi
có trước hành vi chiếm đoạt tài sản và là nguyên nhân trực tiếp làm cho người bị hại
có niềm tin vào người có hành vi lừa đảo và trao tài sản của mình hoặc tài sản mà mình
có trách nhiệm quản lý cho người có hành vi lừa đảo đó
1 Viện Ngôn ngữ (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
2 Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp, Hà Nội
Trang 15* Hoạt động kinh doanh
Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là hoạt động sản xuất, buôn
bán nhằm mục đích sinh lợi nhuận Có nhiều cách khác nhau để đánh giá sự phát triển của các hoạt động kinh doanh như: doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận…
Theo cách hiểu của ngôn ngữ thông thường này thì “kinh doanh” được hiểu hoạt
động sản xuất và hoạt động buôn bán của chủ thể kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi nhuận Kinh doanh không chỉ được hiểu đơn thuần là các hoạt động buôn bán (trao đổi hàng hoá) mà còn là hoạt động tổ chức sản xuất Với nghĩa này, ở Việt Nam, khái niệm
“kinh doanh” có nghĩa rộng hơn so với khái niệm “thương mại” Bên cạnh đó, không
phải tất cả mọi hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hoá đều được coi là kinh doanh, mà chỉ những hoạt động sản xuất, trao đổi, buôn bán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận mới được coi là kinh doanh
Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”3 Quy định này cũng khẳng định kinh doanh là hành vi thực hiện liên tục một khâu hoặc tất cả công đoạn từ hoạt động đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
và cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Có thể mô tả một hoạt động kinh doanh cụ thể như sau:
Trong đó, trao đổi hàng hoá trên thị trường là thành tố chính của hoạt động kinh doanh Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ sẽ không được coi
là hoạt động kinh doanh nếu chúng không được diễn ra trên thị trường và tuân thủ theo các quy luật của thị trường như cạnh tranh, cung cầu, tăng lợi nhuận… Ví dụ: nhân một chuyến du lịch nước ngoài, một công chức nhà nước mua một số lượng hàng nhất định về bán Đồng thời có thể nhận thấy, theo ngôn ngữ thông thường hay ngôn ngữ pháp lý thì hành vi được thực hiện trong hoạt động kinh doanh đều là những hoạt động
do chủ thể kinh doanh thực hiện một cách tự nguyện, có chủ đích nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
3 Quốc Hội (2020), Luật Doanh nghiệp, NXB Lao động, Hà Nội
Tổ chức sản xuất Trao đổi hàng hoá trên thị trường Đầu tư
Trang 16Như vậy, hoạt động kinh doanh được hiểu là tất cả các hoạt động như đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ … trên thị trường được thực hiện liên tục nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Trong hoạt động kinh doanh, các hoạt động diễn ra đa dạng và phức tạp, có thể nhận diện qua những hành vi điển hình như: hành vi bán lại hàng hoá nhằm mục đích kiếm lợi hay cung cấp dịch vụ cho người khác nhằm mục đích kiếm lời; hoặc qua một
số hoạt động chưa thông dụng như: hành vi chuyển giao công nghệ; chuyển giao bản quyền phát minh, sáng chế, bí mật kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp, nhượng quyền, bán hàng đa cấp… Tất cả những hành vi này đều hàm chứa những đặc điểm đặc trưng của hoạt động kinh doanh, không thể nhầm lần với những hành vi pháp luật trong lĩnh vực khác như lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp
Đặc điểm đặc trưng của hoạt động kinh doanh
Một là, về chủ thể kinh doanh, chủ thể của hoạt động kinh doanh là thương nhân, hoạt động kinh doanh phải do các chủ thể của hoạt động này thực hiện một cách
độc lập Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các chủ thể phải nhân danh mình, tự quyết định mọi vấn đề có liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
Theo quy định pháp luật hiện hành, Điều 6 Luật Thương mại 2005 ghi nhận:
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”4 Thương nhân
có thể là cá nhân (công dân Việt Nam và công dân nước ngoài), pháp nhân thương mại, tổ chức hợp tác và hộ gia đình Hành vi kinh doanh được các chủ thể này tiến hành thường xuyên, liên tục, có tính chuyên nghiệp cao và mang lại lợi nhuận Ngoài
ra, để trở thành thương nhân thì các chủ thể phải thoả mãn những điều kiện nhất định
và được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật; đối với thương nhân là tổ chức kinh tế thì phải đăng ký thành lập tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch
và Đầu tư; còn đối với thương nhân là cá nhân thì đăng ký tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận về mặt pháp lí sự ra đời ra của thương nhân
Hai là, mục đích chính của hoạt động kinh doanh là tạo ra lợi nhuận Pháp luật
Việt Nam quy định các hoạt động có tính chất sinh lời hoặc vì mục đích sinh lợi như
4 Quốc Hội (2005), Luật Thương mại, NXB Lao động, Hà Nội
Trang 17mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại, gia công hàng hóa, cho thuê hàng hóa … Theo đó, bên bán sẽ có nghĩa vụ thực hiện theo đúng yêu cầu, thỏa thuận cung ứng, chuyển hàng hóa, dịch vụ cho bên mua và bên mua sẽ có nghĩa vụ thanh toán cho bên bản giá trị hàng hóa theo đúng thỏa thuận ban đầu
Ba là, mọi hành vi trong hoạt động thương mại đều được các chủ thể kinh doanh thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và mang tính chuyên nghiệp
Tính thường xuyên, liên tục của hành vi kinh doanh được thể hiện ở chỗ: chủ thể kinh doanh thực hiện hành vi đó lặp đi, lặp lại nhiều lần trong khoảng thời gian liên tục mà không có sự gián đoạn với nội dung và phương thức như nhau
Tính chuyên nghiệp được thể hiện ở chỗ: chủ thể kinh doanh luôn ý thức được tính chất nghề nghiệp của mình nên luôn tìm cách đầu tư về tiền bạc (vốn kinh doanh), nguồn nhân lực, công nghệ … sao cho việc kinh doanh được vận hành trôi chảy với chất lượng tốt và đạt hiệu quả cao nhất Đây là một trong những tính chất mà hành vi trong hoạt động kinh doanh khác so với các hành vi pháp lý thông thường
*Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Theo đó, trước sự phát triển của hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng 4.0 đã đem đến những điểm tích cực đến xã hội như việc đầu tư, sản xuất, cung ứng dịch vụ được tiễn hành nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thoả mãn nhu cầu thị trường, tạo ra các giá trị gia tăng, thúc đẩy xã hội phát triển; đồng thời, nhờ có mạng xã hội
mà việc giao lưu, liên kết thúc đẩy hoạt động kinh doanh, thương mại được dễ dàng
và hiệu quả hơn Tuy nhiên, đây cũng chính là cơ sở cho kẻ xấu lợi dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, bằng thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt Đặc biệt, trong tình hình dịch bệnh phức tạp đã diễn ra vừa qua, hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh và trên không gian mạng đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp, quy mô, có chiều hướng ngày càng tăng tại nhiều địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, đe doạ trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của nhân dân, đồng thời gây
ra thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và xã hội, làm cản trở sự phát triển của đất nước Qua đây, vấn dề đặt ra cho phía cơ quan nhà nước là cần phải có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả, để có thể đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng cho công dân, tổ chức và nhà nước Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh thường được thực hiện bằng các phương thức sau:
Trang 18Thứ nhất, phương thức thủ đoạn truyền thống
- Trao đổi hàng hoá, kinh doanh qua mạng;
- Môi giới việc làm, xuất khẩu lao động, du học;
- “Chạy” dự án, vay vốn;
- Huy động vốn đầu tư, tài trợ, đầu tư kinh doanh đa cấp, tiền ảo;
- Thiết lập các trang mạng ngân hàng điện tử giả mạo, đánh cắp để lấy dữ liệu thông tin của khách hàng
Thứ hai, phương thức thủ đoạn mới
- Giả mạo doanh nghiệp đề lừa đảo;
- Lừa đảo gian lận trong cung ứng, sử dụng dịch vụ thanh toán;
- Lừa đảo trong hoạt động thương mại quốc tế (hoạt động huy động vốn, xuất nhập khẩu);
- Giả mạo ngân hàng để lừa đảo
1.2 Đặc điểm của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Đối với mặt khách quan, người phạm tội thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh thông qua các phương thức như trao đổi hàng hóa, kinh doanh qua mạng; mô giới việc làm, xuất khẩu lao động, du học; đầu tư kinh doanh đa cấp, tiền ảo; giả mạo doanh nghiệp, ngân hàng để lừa đảo; thông qua hoạt động thương mại quốc tế (huy động vốn đầu từ, xuất nhập khẩu); … Các đối tượng sẽ lồng ghép những thông tin sai sự thật về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng để
từ đó khách hàng tin đó là sự thật, chuyển giao tài sản cho các đối tượng và bị các đối tượng chiếm đoạt Mục đích chính ban đầu của người phạm tội này là lợi nhuận, có tính chất nghề nghiệp và được diễn ra một cách thường xuyên
Đối với chủ thể, người phạm tội của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” trong hoạt
động kinh doanh thường là những chủ thể của hoạt động kinh doanh như: người đại diện của pháp nhân, nhân viên, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản; thường có tính tổ chức cao, tức là đồng phạm có sự liên kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Họ có ý định từ trước và cùng nhau bàn bạc, vạch ra kế hoạch, câu kết chặt chẽ với nhau từ lời nói lẫn hành động để những
cá nhân, tổ chức tin vào đó mà giao tài sản Phân công từng người thực hiện một số hành
vi nhất định, phù hợp với kế hoạch đã đề ra và phải chịu sự điều khiển của người đứng đầu, phương hướng hoạt động có tính bền vững, lâu dài
Trang 19Bên cạnh đó, do hiện nay công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt nên việc thực hiện hành vi lừa đảo cũng hết sức mới mẻ, xảo quyệt, tinh vi và có tính chất chuyên nghiệp Trải qua những năm dịch Covid-19, hầu hết hiện nay con người đã quá quen với cách thức sử dụng công nghệ, tội phạm thường lập ra các đường dây buôn bán kinh doanh qua mạng lớn, các ứng dụng, …với sự trang bị những hình thức quảng cáo
và độ uy tín cao, khiến cho các cá nhân, tổ chức dễ dàng trao niềm tin
Ví dụ: Lợi dụng người dân ngày càng quan tâm hơn tới đầu tư chứng khoán trong nước, các đối tượng lập ra các ứng dụng với mô hình giao diện, mã chứng khoán giống với sàn chứng khoán chính thống, bên cạnh đó chúng còn dùng nhiều cò mồi để lôi kéo người chơi với những lời quảng cáo hết sức hấp dẫn, ưu đãi đánh vào lòng tham như: giao dịch được mua bán trong ngày, đòn bẩy tài chính cao gấp 10 lần, lợi nhuận cực khủng, đẩy lệnh trực tiếp qua sàn giao dịch mà không cần qua các công ty chứng khoán trung gian,…Chính những lời quảng cáo đó mà nhiều cá nhân đã chuyển tiền vào để thực hiện mua bán nhưng sau đó không rút tiền ra được
Với những đặc điểm như trên, quy mô của những vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh này khá lớn, chúng có cả một dây chuyền con người hoạt động vô cùng chặt chẽ, kỷ luật, tạo ra được những vỏ bọ chắc chắn, dẫn đến hậu quả mà những hành vi này gây nên lớn hơn nhiều so với chiếm đoạt tài sản thông thường So với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông thường, chủ thể chỉ là các cá nhân đơn lẻ, lên
kế hoạch một mình và thực hiện kế hoạch đã vạch ra, đối tượng nhắm đến chỉ là một hoặc là vài người nhất định và số tiền chiếm đoạt nhỏ hơn, thường chỉ vài triệu, vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng
1.3 Ý nghĩa của việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
1.3.1 Ý nghĩa về phương diện chính trị - kinh tế - xã hội
Việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh là một hoạt động mang ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của nền chính trị và sự phát triển của nền kinh tế cũng như đời sống xã hội Thể hiện như sau:
Một là, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
chính là nhằm mục đích bảo vệ và đảm bảo quyền sở hữu tài sản chính đáng của công nhân cũng như pháp nhân Quyền sở hữu là một trong quyền được pháp luật của các quốc gia và quốc tế ghi nhận Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật phát triển của nền
Trang 20chính trị này khi đưa ra nhưng quy định chặt chẽ về quyền sở hữu trong hệ thống pháp
luật của đất nước Không những thế, việc quy định còn khẳng định rằng Việt Nam đã và
đang thực hiện và cụ thể hóa các cam kết, điều ước quốc tế mà nhà nước Việt Nam kí kết
và là thành viên
Hai là, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
cũng nhằm hạn chế rủi ro, thất thoát, gian dối trong kinh doanh xảy ra thường xuyên và
hình thành nên một môi trường kinh doanh lành mạnh Từ đó, sẽ tạo ra một môi trường
đầu tư an toàn cho các chủ thể kinh tế trong nước cũng như thu hút những chủ thể kinh tế
nước ngoài, một nền kinh tế không có lạm phát, tạo ra ranh giới rõ ràng giữa tuân thủ
pháp luật và vi phạm pháp luật
Ba là, việc quy định này cũng góp phần thể chế hóa đường lối, chính sách của
Đảng, các quy định trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành
Qua đó, củng cố lòng tin, sự tin tưởng của người dân vào Đảng, Nhà nước và các cơ quan
pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân Cùng với đó, là củng cố lòng tin của
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư
nước ngoài về tính đúng đắn, công khai, minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật Việt
Nam trong việc quy định các tội danh về kinh tế nói chung và quy định Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong hoạt đông kinh doanh nói riêng
Bốn là, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
có ý nghĩa quan trọng trong góp phần vào việc ổn định thị trường, tạo nên môi trường
kinh doanh "tự do trong khuôn khổ pháp luật", sôi động, phát triển, an toàn, đáng tin, qua
đó góp phần vào phát triển kinh tế đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của con
người về mọi mặt: từ văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường,
Năm là, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh được quy định
cũng tạo điều kiện đảm bảo trật tự, công bằng và tiến bộ xã hội, giữ vững sự nhất quán
trong chế độ chính trị Và tạo ra những căn cứ chuẩn mực để các bên chủ thể dựa vào đó
khi xảy ra những vấn đề cần phải giải quyết diễn ra trong hoạt đông kinh doanh liên quan
đến tội này
1.3.2 Ý nghĩa về phương diện pháp lý
Bên cạnh những ý nghĩa về phương diện chính trị - kinh tế - xã hội, việc quy định
tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh còn mang những ý nghĩa
pháp lý to lớn Thể hiện ở các điểm sau:
Trang 21Thứ nhất, việc quy định tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh
doanh chính là cơ sở và là tiền đề để xác định chính xác hành vi này trong thực tế Bởi
vì với sự phát triển không ngừng của xã hội, thì đồng nghĩa với việc những hành vi lừa đảo nói chung và đặc biệt là hành vi lừa đảo trong hoạt động kinh doanh nói riêng ngày càng trở nên đa dạng, phong phú, với nhiều những chiêu trò, thủ đoạn vô cùng tinh vi
Thứ hai, việc quy định cụ thể Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh
doanh cũng làm tăng tính hiệu quả, hiệu lực trong việc xử lý các vụ việc diễn ra trong thực tế của các cơ quan Tư pháp Không còn xuất hiện những trường hợp bỏ lọt hành vi phạm tội, không xác định chính xác tội danh, Từ đó đưa ra được những kết luận, các quyết định tố tụng đúng đắn, các biện pháp đấu tranh hợp lí
Thứ ba, việc quy định rõ ràng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động
kinh doanh là tiền đề, nền móng vững chắc cho việc quyết định hình phạt tương xứng với tài sản bị chiếm đoạt cũng như hành vi chiếm đoạt Bởi lẽ, một hình phạt, một bản
án, một kết luận đúng và đủ tính răn đe sẽ khiến cho người phạm tội nhận thức được đầy
đủ mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình đã phạm phải, hiểu được hành vi mà mình gây ra đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội như thế nào Đó chính là ý nghĩa quan trọng nhất về mặt pháp lý trong việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Tóm lại, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực cả trong đời sống cũng như trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trong chương Các tội xâm phạm sở hữu, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chúng
và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh nói riêng rất dễ bị nhầm lẫn với những loại tội khác ở chương này Vì vậy, việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh là căn cứ chính xác nhất để kết luận rằng hành vi của người này hoặc hành vi của người kia có phải là hành vi mà pháp luật quy định là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh hay không
1.4 Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.4.1 Kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 không quy định chi tiết tên các điều luật mà chỉ quy định hành vi phạm tội trong điều luật đó Tại Điều 266 Chương V Những tội xâm
Trang 22phạm sở hữu của BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 có quy định như sau: “Người nào lừa đảo tiền hoặc tài sản của công hoặc tư, nếu số tiền này tương đối lớn thì bị phạt tù có thời hạn đến 03 năm, giam giữ hình sự hoặc giám sát công khai và cũng sẽ, hoặc chỉ, bị phạt tiền; nếu số tiền rất lớn hoặc có tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù có thời hạn phạt tù từ 03 năm đến 10 năm và còn bị phạt tiền; nếu số tiền đặc biệt lớn, hoặc nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác, anh ta thì bị phạt tù có thời hạn từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân và cũng sẽ bị phạt tiền hoặc bị kết án tịch thu tài sản, trừ trường hợp khác quy định cụ thể trong Luật này”5
Thứ nhất là về hành vi phạm tội, theo quy định của điều luật thì hành vi phạm tội
đó là lừa đảo tài sản Đây là hành vi lừa đảo tài sản của người khác, gian dối nhưng không nhằm hướng tới chiếm đoạt tiền hoặc tài sản của người khác về tay mình
Thứ hai là đối tượng tác động của tội phạm, đối tượng mà tội lừa đảo tài sản hướng
đến trong BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 bao gồm có tiền hoặc tài sản công (của Nhà nước) và tiền hoặc tài sản tư (của công dân) Tuy nhiên, không phải lúc nào quyền tài sản cũng là đối tượng bị tác động trực tiếp, mà tài sản đó có thể được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định như tiền ảo Chính vì vậy, gây khó khăn trong việc giải quyết các vụ án lừa đảo
Thứ ba là hậu quả của tội phạm, đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thể hiện
qua việc gây thiệt hại về tiền hoặc tài sản của công dân và Nhà nước BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 không quy định cụ thể để xác định giá trị của tài sản bị chiếm đoạt mà chỉ
quy định một cách định tính “số tiền tương đối lớn”, “số tiền lớn”, “số tiền đặc biệt lớn”
trong khi đây là yếu tố quyết định đến việc định tội danh
Thứ tư là về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, hình phạt cơ bản nhất được quy định trong điều luật là “phạt tù có thời hạn đến 03 năm, giam giữ hình sự hoặc giám sát công khai và cũng sẽ, hoặc chỉ, bị phạt tiền” Ngoài khung hình phạt cơ bản còn có 02
khung hình phạt tăng nặng và mỗi khung hình phạt tăng nặng chỉ quy định có 02 tình tiết tăng nặng:
Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất “phạt tù có thời hạn phạt tù từ 03 năm đến 10 năm và còn bị phạt tiền” với hai tình tiết tăng nặng là “số tiền rất lớn” và “có tình tiết nghiêm trọng khác”
5 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1977), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 23Khung hình phạt tăng nặng thứ hai “phạt tù có thời hạn từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân và cũng sẽ bị phạt tiền hoặc bị kết án tịch thu tài sản” tương ứng với tình tiết tăng nặng là “số tiền đặc biệt lớn” và “có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác”
So với quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS Việt Nam năm
2015, các quy định về tội này của CHND Trung Hoa năm 1997 có một số điểm giống và khác biệt:
Về hành vi, trong cả hai điều luật đều quy định hành vi phạm tội là hành vi lừa đảo
tài sản và BLHS Việt Nam quy định thêm một hành vi chiếm đoạt tài sản Nhưng hành vi lừa đảo trong BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 không nhằm mục đích biến tài sản của người khác về thành của mình Trong khi, hành vi phạm tội quy định tại Điều 174 BLHS Việt Nam là hành vi lừa đảo thực hiện hành vi gian dối để có được tài sản của người khác
và hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm cố ý chuyển dịch tài sản của người khác thành của mình
Về đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, BLHS Việt Nam có sự
khác biệt với BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 Tại Điều 266 BLHS CHND Trung Hoa có quy định cụ thể đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tiền hoặc tài sản công hoặc tư, trong khi BLHS Việt Nam tại Điều 174, quy định đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản và được quy ra là giá trị là tiền Tuy nhiên, trong thực tiễn đều thấy rằng đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS Việt Nam bao gồm cả tiền hoặc tài sản Nhà nước hoặc công dân Có một số trường hợp đặc biệt việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị xử lí về tội tham ô tài sản Ví dụ như tài sản
đó của Nhà nước thuộc sự quản lí của người có quyền hạn, mà người đó thực hiện hành
vi gian dối (khai khống số liệu để lấy tiền,…) chiếm đoạt tài sản do mình quản lí thì sẽ bị
xử phạt về Tội tham ô tài sản theo Điều 353 của BLHS năm 2015
Về hậu quả phạm tội, cả hai hành vi phạm tội trong BLHS Việt Nam và BLHS
CHND Trung Hoa năm 1997 đều gây nguy hiểm cho xã hội và hậu quả có nó được phản ánh rõ qua thiệt hại về giá trị tài sản Quy định của BLHS Việt Nam đưa ra con số cụ thể
để xác định giá trị tài bị chiếm đoạt là “từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”,
“từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, “từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” và “500.000.000 đồng trở lên”, không quy định giá trị tài sản định
tính như BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 Việc xác định rõ giá trị tài sản bị chiếm đoạt là yếu tố đặc biệt quyết định xem trường hợp đó có bị truy cứu TNHS hay không và
Trang 24có cơ sở để áp dụng đúng khung hình phạt
Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng:
Hình phạt cơ bản quy định trong cả BLHS Việt Nam và BLHS CHND Trung Hoa năm 1997 là hình phạt cả tạo không giao giữ và phạt tù, mức phạt cao nhất đối với tội phạm này của hai bộ luật đều là chung thân
Theo Điều 174 BLHS Việt Nam năm 2015, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định 3 khung tăng nặng và ngoài tình tiết tăng nặng về giá trị tài sản chiếm đoạt được còn có nhiều tình tiết năng nặng khác nhau như có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt; Khác với BLHS CHND Trung Hoa khi chỉ có 2 khung hình phạt tăng nặng và 2 tình tiết tăng nặng về giá trị tài sản chiếm đoạt và mức độ gây hậu quả
Qua đây, có thể thấy hệ thống pháp luật hình sự của CHND Trung Hoa và Việt Nam có sự tương đồng với nhau trong việc quy định hình phạt rất nghiêm khắc với mức phạt cao nhất là tù chung thân
1.4.2 Kinh nghiệm lập pháp của Singapore về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
BLHS Singapore năm 2008 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Chương XVII Các tội xâm phạm sở hữu như sau:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
Điều 304.“Bất cứ ai chiếm đoạt hoặc chuyển tài sản thành mục đích sử dụng riêng của mình một cách không trung thực, sẽ bị phạt tù với thời hạn có thể kéo dài đến 2 năm, hoặc phạt tiền, hoặc cả hai” 6
Quy định của BLHS Singapore năm 2008 có sự khác biệt với quy định pháp luật
của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam Điều luật về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” lại nhấn vào hành vi chiếm đoạt tài sản, đồng thời bổ sung hành vi chuyển tài sản
thành mục đích sử dụng riêng để khẳng định hành vi chuyển dịch tài sản của người khác thành của mình, thành mục đích của riêng mình một cách không trung thực (lừa dối) là bất hợp pháp Hành vi không trung thực (lừa dối) chỉ là điều kiện để xác định tính không hợp pháp của hành vi chiếm đoạt tài sản
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của một người chết vào thời điểm người đó chết;
6 Bộ luật Hình sự Singapore (2008)
Trang 25Điều 404 “Bất cứ ai chiếm đoạt hoặc chuyển đổi tài sản thành mục đích sử dụng của riêng mình một cách không trung thực, dù biết rằng tài sản đó thuộc quyền sở hữu của một người đã chết vào thời điểm người đó qua đời, và kể từ đó không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người nào có quyền hợp pháp đối với tài sản đó thì sẽ bị phạt tù có thời hạn có thể kéo dài đến 3 năm, đồng thời có thể bị phạt tiền; và nếu phạm nhân vào thời điểm người đó qua đời đã được anh ta thuê làm thư ký hoặc người giúp việc, hình phạt tù
có thể kéo dài đến 7 năm” 7
Điều luật muốn khẳng định việc chiếm đoạt tài sản hoặc chuyển dịch tài sản một cách bất hợp pháp, kể cả trong trường hợp người bị chiếm đoạt tài sản đã chết hay tài sản không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ ai thì cũng bị coi là hành vi phạm tội Hành vi của
phạm tội trong điều luật là hành vi “chiếm đoạt” và hành vi “chuyển đổi tài sản gian dối”, không có hành hành vi “lừa đảo” bởi chủ thể chiếm đoạt tài sản đã chế hoặc không có
BLHS Singapore năm 2008 đã có quy định tội lừa đảo tại hai thời điểm khác nhau
là khi người sở hữu tài sản còn sống và khi người sở hữu tài sản chết tại thời điểm người
ta chết
Về hành vi phạm tội, hành vi phạm tội được quy định trong hai điều luật trên là
hành vi chiếm đoạt và hành vi chuyển đổi tài sản gian dối Cả hai hành vi phạm tội này đều hướng đến mục đích chuyển dịch hoặc biến tài sản của người khác thành của mình
Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, BLHS Singapore không
quy định cụ thể là tài sản công hay tài sản tư mà quy định nó là tài sản Tuy nhiên, BLHS Singapore có một điểm mới khi quy định thêm đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản của những đã chết tại thời điểm họ chết
Về hậu quả phạm tội, đây là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và hậu quả
của tội phạm này được phản ánh rõ nhất qua những thiệt hại về tài sản hoặc giá trị tài sản
bị chiếm đoạt BLHS Singapore không quy định con số cụ thể để xác định giá trị tài sản
bị chiếm đoạt phải có chịu trách nhiệm hình sự hay không mà chỉ cần đó là tài sản của người khác
Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, tại Điều 403 quy định hình phạt cơ bản đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản“sẽ bị phạt tù với thời hạn có thể kéo dài đến 2 năm, hoặc phạt tiền, hoặc cả hai” không có tình tiết tăng nặng Tại Điều 404 quy định về tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản của một người chết vào thời điểm anh ta chết, hình phạt cơ bản
7 Bộ luật Hình sự Singapore (2008)
Trang 26nhất cho tội này là “bị phạt tù có thời hạn có thể kéo dài đến 3 năm, đồng thời có thể bị phạt tiền” Ngoài hình phạt cơ bản còn có thêm tình tiết tăng nặng “nếu phạm nhân vào thời điểm người đó qua đời đã được anh ta thuê làm thư ký hoặc người giúp việc” tương ứng với khung hình phạt “hình phạt tù có thể kéo dài đến 7 năm.”
So với BLHS Việt Nam năm 2015, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS Singapore năm 2008 có một số điểm giống và khác nhau cụ thể như sau: Trong BLHS Việt Nam năm 2015 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được quy định tại Điều 174 và không có sự tách biệt thành hai thời điểm lừa đảo như BLHS Singapore năm
2008
Về hành vi, BLHS Việt Nam và BLHS Singapore đều quy định hành vi phạm tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi chiếm đoạt tài sản Nhưng ở BLHS Việt Nam quy định thêm hành vi lừa đảo tài sản và BLHS Singapore quy định thêm hành vi chuyển đổi tài sản gian dối Các hành vi quy định trong hai bộ luật đều hướng tới mục đích biến tài sản của người khác thành của mình một hoặc cố ý chuyển dịch tài sản của người khác thành của mình một cách gian dối
Đối tượng tác động của tội phạm này trong cả hai BLHS đều có điểm chung là
không tách riêng thành tài sản công và tài sản tư, coi đó là tài sản chung Nhưng trong thực tiễn, mọi người đều hiểu rằng tài sản chung đó bao gồm cả tài sản công và tài sản tư
Về hậu quả phạm tội, không giống như BLHS Singapore năm 2008, BLHS Việt
Nam quy định cụ thể con số để xác định tài sản bị chiếm đoạt từ bao nhiêu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đưa ra khung hình phạt đúng nhất với hành vi phạm tội Việc đưa
ra con số cụ thể về giá trị tài sản bị chiếm đoạt là một yếu tố quan trọng quyết định xem người đó có phạm tội hay không và có cơ sở để áp dụng hình phạt
Hình phạt và các tình tiết tăng nặng, BLHS Việt Nam năm 2015 và BLHS
Singapore năm 2008 đều quy định hình phạt tù đối với các tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tại sản BLHS Singapore có quy định thêm một hình phạt là phạt tiền, tuy nhiên BLHS Việt Nam quy định đây chỉ là một hình phạt bổ sung trong một số trường hợp phạm tội Hình phạt tù của Việt Nam có sự nghiêm khác hơn khi quy định hình phạt tù cao nhất có thể là chung thân, trong khi BLHS Singapore đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cao nhất mới đến 07 năm BLHS của hai nước đã có sự chênh lệnh lớn về mức phạt do tình hình tội phạm của mỗi nước cũng có sự khác nhau
Điều 404 của BLHS Singapore năm 2008 chỉ có một khung hình phạt tăng nặng
Trang 27với tình tiết tăng nặng là “nếu phạm nhân vào thời điểm người đó qua đời đã được anh ta thuê làm thư ký hoặc người giúp việc” Trong khi, Điều 174 quy định về tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản của BLHS Việt Nam có 3 khung hình phạt tăng nặng với rất nhiều tình tiết tăng nặng khác nhau Trong khung hình phạt tăng nặng của BLHS Singapore tình tiết tăng nặng chủ yếu mô tả về quan hệ giữa chủ tài sản và người chiếm đoạt tài sản Khác hoàn toàn so với BLHS Việt Nam, các tình tiết tăng nặng sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản, số lượng người tham gia lừa đảo, mức độ nghiêm trọng, có lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức, lợi dụng hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh
Hệ thống pháp luật Hình sự Việt Nam cần học hỏi thêm kinh nghiệm của pháp luật Hình sự Singapore trong việc xây dựng thêm quy định của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với tài không thuộc sở hữu của bất kỳ ai
1.4.3 Kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa Pháp về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trong BLHS Pháp năm 2005 quy định tại cụ thể như sau:
“Điều 313 1 Lừa đảo là hành vi lừa dối một cá nhân hoặc pháp nhân bằng cách sử dụng tên giả hoặc hư cấu năng lực, bằng cách lạm dụng năng lực thực sự, hoặc bằng các thủ đoạn bất hợp pháp, bằng cách đó để dẫn dắt một người như vậy, đến gây tổn hại hoặc gây tổn hại cho bên thứ ba, để chuyển tiền, vật có giá trị hoặc bất kỳ tài sản nào, để cung cấp dịch vụ hoặc để đồng ý với một hành động phát sinh hoặc thực hiện một nghĩa vụ
Trang 283 Hình phạt tăng lên 10 năm tù và phạt 100.000 € nếu lừa đảo được thực hiện bởi một băng nhóm có tổ chức
Điều 313 – 9 Các pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội quy định tại các điều từ 313-1 đến 313-3 và 313-6-1, phù hợp với các điều kiện quy định tại điều 121-2
Hình phạt mà pháp nhân phải chịu là:
1 Phạt tiền theo cách quy định tại điều 131-38;
2 Các hình phạt được đề cập trong điều 131-39
Việc cấm nêu tại khoản 2 của điều 131-39 áp dụng cho hoạt động mà trong quá trình đó hoặc nhân dịp của việc thực hiện mà hành vi phạm tội đã được thực hiện
Điều 313 – 6 – 1 Một người cho đất thuộc sở hữu của người khác (có sẵn) cho một bên thứ ba, với mục đích để anh ta cư trú ở đó để đổi lấy thanh toán hoặc bất kỳ lợi ích nào bằng hiện vật Mà không thể chứng minh được sự cho phép của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng nó sẽ bị phạt tù một năm và phạt 15.000 euro.” 8
BLHS Pháp không quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thành quy định riêng mà quy định lồng ghép với các tội về lừa đảo Khách thể là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng lại bị hành vi phạm tội xâm hại Do đó, đối với việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh thì khách thể bị xâm lại là quan hệ sở hữu về tài sản Đây là quan hệ xã hội chủ yếu bị hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại
Bộ phận khách thể của tội phạm là một đối tượng tác động của tội phạm, khi người phạm tội tác động đến bộ phận này sẽ gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho
quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ Tài sản, bao gồm “… vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản”9 (Điều 105 BLDS năm 2015) là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh nói riêng Theo cách hiểu này, tiền ảo không được coi là tài sản, bởi lẽ nó không thuộc các loại tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 và không được tồn tại dưới dạng vật chất nhất định Theo đó, các chủ thể liên quan đến tiền ảo có thể cũng không được pháp luật bảo vệ khi tham gia các giao dịch liên quan đến tiền ảo
Ngoài ra, tài sản là đối tượng tác động của tội này phải là tài sản trong sự quản
8 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp (2005)
9 Quốc Hội (2015), Bộ luật Dân sự, NXB Lao động, Hà Nội
Trang 29lý chặt chẽ của chủ sở hữu tài sản, bởi đặc trưng của hành vi chiếm đoạt tài sản là chuyển dịch tài sản từ chủ tài sản sang người có hành vi chiếm đoạt, làm mất khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế Vì vậy, tài sản phải trong sự chiếm hữu, quản
lý của chủ tài sản thì mới đề cấp đến hành vi làm mất khả năng đó
Qua việc tìm hiểu về pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp, BLHS Việt Nam cần có
sự học hỏi thêm kinh nghiệp lập pháp trong quy việc quy định chủ thể của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là pháp nhân, không chỉ riêng mỗi cá nhân
1.5 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình
Ngoài ra, để phát huy những thành quả mà cách mạng dân chủ nhân dân Việt Nam đã đạt được ở miền Bắc lúc bấy giờ, bảo đảm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để tập trung chi viện cho miền Nam, năm 1970 Chủ tịch nước Trường Chinh
đã ban hành 2 pháp lệnh mới: pháp lệnh thứ nhất, pháp lệnh số 149- LCT ban hành ngày 21/10/1970 quy định về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; pháp lệnh thứ hai, pháp lệnh số 150- LCT ban hành ngày 21/10/1970 quy định về trừng trị tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Hai sắc lệnh quy định về các tội trong nhóm tội về xâm phạm sở hữu và hình phạt đối với tội phạm
Pháp luật hình sự thời kì này đã có sự quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản.Trong đó, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 10 “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa” pháp lệnh 149 – LCT quy định về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Điều 9 “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân” pháp lệnh số 150- LCT ban hành ngày 21/10/1970 quy định về trừng trị tội
xâm phạm tài sản riêng của công dân
Trang 30So với BLHS 2015, quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời kì này
Mặt khách quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thời kì này không đưa ra giá trị tài sản chiếm đoạt cụ thể để định tội Trong khi, BLHS Việt Nam 2015, đưa ra giá trị tài sản chiếm đoạt cụ thể là từ 2.000.000 đồng trở lên sẽ phải chịu TNHS về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hình phạt đối với tội phạm này cũng nhẹ hơn so với pháp luật hình sự hiện nay, khi quy định mức hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thấp nhất là từ 02 tháng và cao nhất là đến 10 năm; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của
xã hội chủ nghĩa hình phạt thấp nhất là từ 06 tháng đến cao nhất chung thân hoặc tử hình tùy theo mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự hiện nay, không tách thành hai đối tượng tác động mà chỉ quy định chung với mức hình phạt thấp nhất là 06 tháng và cao nhất là chung thân, không có hình phạt tử hình
1.5.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1999
Đất nước ngày càng ổn định và đi lên, pháp luật cũng trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện hơn Trên cơ sở này, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, Nhà nước ta đã ban hành BLHS Việt Nam năm 1985 – Bộ luật hình sự đầu tiên dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy những chế định pháp luật Hình sự trước Đây là văn bản pháp lập pháp lớn và quan trọng đầu tiên chứa đựng hệ thống pháp luật hình sự đã được pháp điển hóa của Việt Nam kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 và sau 10 năm từ khi đất nước thống nhất
Trang 31Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tiếp tục ghi nhận Cụ thể trong Chương IV quy định các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ
nghĩa quy định tại Điều 134 “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa” và Chương V quy định các tội xâm phạm sở hữu công dân tại Điều 157 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân”
So với pháp luật hình sự thời kỳ trước, BLHS năm 1985 đã tăng nặng các mức hình phạt, cụ thể đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân đã tăng lên mức hình phạt cao nhất là 15 năm Việc tăng nặng hình phạt là để phù hợp với tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu đó Sau 4 lần sửa đổi năm 1989, 1991, 1992 và 1997 các dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 1985 cũng dần được hoàn thiện, tuy vậy vẫn chưa quy định cụ thể giá trị tài sản chiếm đoạt để định tội
1.5.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 2015
Bên cạnh những thành tựu đạt được khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, cũng có những hạn chế nhất định Việc chia tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm với hai hình thức sở hữu khác nhau là sở hữu của nhà nước xã hội chủ nghĩa và sở hữu của công dân không phù hợp với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng đến trong tương lai Việc quy định riêng hai nhóm quan hệ sở hữu này cũng gặp nhiều bất cập khi đưa ra các hướng giải quyết hay
áp dụng pháp luật vào thì hành trong một số vấn đề Vì vậy, pháp luật hình sự Việt Nam cần tiến hành xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp hơn Tại Kỳ họp Quốc hội thứ VI ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X đã thông qua BLHS Việt Nam năm
1999, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2000 gồm 24 chương với 344 điều (tăng lên 35 điều so với bộ luật hình sự năm 1985) BLHS Việt Nam năm 1999 ra đời đánh dấu một mức chuyển mình vượt bậc của BLHS nước ta
BLHS Việt Nam năm 1999 đã có sự đổi mới nhằm hạn chế những bất cập so
với bộ luật cũ nhập hai chương “Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” và chương “Các tội xâm phạm sở hữu của công dân” thành một chương với tên gọi chung
là “Các tội xâm phạm sở hữu” BLHS năm 1999 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản tại Điều 139 Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu
Các mức hình phạt của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định trong Điều
139 của BLHS Việt Nam năm 1999 so với Bộ luật cũ năm 1985 vẫn rất nghiêm khắc
Trang 32và mức cao nhất vẫn là tử hình Ngoài ra, đã có sự quy định chi tiết hơn hành vi, mức
độ để xác định đúng tội phạm, không bị nhầm lẫn đối với các vi phạm hành chính
Theo đó, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 500.000 đồng trở lên là có thể bị truy cứu TNHS tùy theo mức độ hậu quả mà hành vi đó gây ra Một số trường hợp lừa đảo dưới 500.000 đồng cũng bị coi là tội phạm nếu như người đó đã từng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm Do đó, BLHS Việt Nam năm 1999 đã có sự hoàn thiện hơn khi quy định rõ giá trị tài sản chiếm đoạt để định tội
Một điểm mới nữa trong BLHS Việt Nam năm 1999 khi quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đã coi việc có nhân thân xấu là một yếu tố để cấu thành tội phạm Vấn đề này, đến nay vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi trong hệ thống pháp luật Việt Nam
*Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Sau nhiều năm thi hành, BLHS Việt Nam năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc phát triển mọi mặt của đất nước về an ninh, chính trị, quốc phòng, kinh tế, đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Tuy nhiên, BLHS vẫn còn nhiều hạn chế khi thi hành trong một số vấn đề, chưa thể chế hóa rõ được những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp
Bên cạnh đó, với xu hướng hội nhập hóa quốc tế, nhiều quốc gia trên thế giới không đồng tình với việc kết án tử hình, họ muốn bảo đảm tính nhân đạo khi ban hành các hình phạt đối với tội phạm Vì vậy, BLHS Việt Nam năm 1999 đã được tiến hành SĐBS năm 2009 để phù hợp với thực tiễn và các chính sách, chủ trương của Nhà nước
BLHS Việt Nam năm 1999 đã sửa đổi giá trị tài sản chiếm đoạt từ 500.000 đồng lên 2.000.000 đồng để định tội, tăng lên 1.500.000 so với quy định cũ Hai là, hình phạt đã có sự giảm nhẹ hơn khi đã bỏ án tử hình và chỉ quy định mức hình phạt cao nhất là chung thân Việc sửa đổi này thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với tội phạm, phù hợp hơn với công tác phòng chống tội phạm trong thời kì mới
So với BLHS Việt Nam năm 1985, BLHS Việt Nam năm 1999 (SĐBS năm 2009) đã có sự hoàn thiện khi quy định giá trị tài sản chiếm đoạt cụ thể và khung hình phạt cũng giảm nhẹ hơn khi quy định mức hình phạt cao nhất chung thân mà không còn là tử hình Các dấu hiệu định tội cũng được hoàn thiện đầy đủ hơn nhằm đảm bảo
quyền lợi của công dân
BLHS Việt Nam năm 1999 (SĐBS năm 2009), đã có một số bất cập không nhỏ
Trang 33đến hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; chưa tạo được môi trường pháp luật thuận lợi cho nền kinh tế - xã hội phát triển và tiến đến hội nhập quốc
tế sâu rộng, cũng như cho việc bảo vệ quyền lợi của người dân Vì vậy, việc xây dựng, sửa đổi lại BLHS là việc cần thiết nhằm phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước sau Hiến pháp năm 2013 và là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Ngày 27/11/2015, Quốc hội đã thông qua BLHS năm 2015 thay thế BLHS
số 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự BLHS 2015 bao gồm 26 chương tương ứng với 426 điều luật Điều 174 trong
chương XVI “Các tội xâm phạm sở hữu” quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tiểu kết chương 1
Như vậy, trong chương 1 nhóm nghiên cứu đã làm rõ được các vấn đề như sau:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu đã khái quát và đưa ra một số khái niệm cơ bản
về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Thứ hai, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm của Tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản trong hoạt động kinh doanh như: hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của các tổ chức cá nhân; các phương thức, tính chất, hậu quả và yếu tố cấu thành lỗi của tội phạm này Từ đó thấy được ý nghĩa của việc quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh về phương diện chính trị - kinh tế - xã hội và về phương diện pháp lý
Thứ ba , nhóm nghiên cứu đã phân tích kinh nghiệm lập pháp của một số quốc
gia trên thế giới như CHND Trung Hoa, Singapore, Cộng hòa Pháp và rút ra bài học kinh nghiệp lập pháp cho Việt Nam
Thứ tư, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản từ năm 1945 (trước khi BLHS năm 1985 ra đời) cho đến nay
Trang 35CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh là một phạm vi nhỏ trong số những phạm vi mà tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam hiện hành bao quát tới Chính vì vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trong hoạt động kinh doanh cũng mang đầy đủ những dấu hiệu pháp lí cụ thể, gồm:
- Khách thể của tội phạm;
- Mặt khách quan của tội phạm;
- Chủ thể của tội phạm;
- Mặt chủ quan của tội phạm
2.1.1 Khách thể của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng lại bị hành vi phạm tội xâm hại10 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh là quan hệ sở hữu về tài sản diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, đây là quan hệ xã hội chủ yếu mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh xâm hại
Do đặc điểm của hành vi nên tội này chỉ xâm hại đến một khách thể là quan hệ sở hữu tài sản trong hoạt động kinh doanh Đây là điểm khác nhằm nhận biết giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh với một số tội xâm phạm sở hữu khác được quy định trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam hiện hành
Quan hệ sở hữu là quan hệ mà trong đó quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Quan hệ sở hữu gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thông qua việc làm biến đổi tình trạng của những đối tượng
vật chất (tài sản) Hành vi xâm phạm sở hữu có đối tượng tác động cụ thể là tài sản: "Tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản"11 Tài sản là đối tượng của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và tội lừa đảo chiến đoạt tài sản trong hoạt động
Trang 36kinh doanh nói riêng, có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được hệ thống pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, vì những gì không thuộc về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Vì thế, không phải mọi trường hợp của quyền tài sản đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Như vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng luôn đề cao việc bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân và nguyên tắc tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp theo quy định
2.1.2 Mặt khách quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan12 Vì vậy, khi nghiên cứu những yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Cụ thể có các dấu hiệu đặc trưng sau:
*Dấu hiệu hành vi khách quan:
Hành vi khách quan là những xử sự của con người, thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bằng nhiều hình thức cụ thể, nhằm đạt mục đích chủ định và mong muốn
13Cụ thể hành vi khách quan của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh
doanh được thể hiện dưới hai hành vi thực tế: là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt
tài
- Hành vi lừa dối của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh:
Là hành vi cố ý đưa ra những thông tin không đúng sự thật, gây nhiễu loạn nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao lại tài sản cho người phạm tội Trên thực tế hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh được hợp thành bởi hai yếu tố:
Thứ nhất, đó là hành vi đưa ra những thông tin gian dối, không đúng sự thật Đây
là hành vi thực hiện có chủ đích, mang yếu tố chủ quan của người phạm tội Hành vi này của tội phạm có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động hoặc những biểu hiện khác, nhằm cung cấp những thông tin không đúng về sự việc Trong hoạt động kinh doanh, thì
Trang 37hành vi lừa dối này được thực hiện bởi cá nhân, người được giao phụ trách, quản lí những nhiệm vụ cụ thể như: quản lí, thủ quỹ, kế toán kho, giám đốc bộ phận, … Các chủ thể này lựa chọn hành vi lừa dối thông qua các phương thức như: môi giới, kêu gọi đầu tư, vay vốn, tài trợ kinh doanh, … Để có thể chiếm đoạt tài sản của các đối tượng đã được nhắm
đến Chính những “vỏ bọc” về mặt vị trí, chức danh đó đã khiến cho những người bị lừa
đảo tin tưởng và trao trọn hoàn toàn số tài sản mình đang có cho những người này
Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm lẫn, cả tin vào những
thông tin không đúng sự thật ấy mà trao lại tài sản cho người phạm tội Khi giao lại tài sản, chủ tài sản không biết mình bị lừa dối Cũng cần lưu ý thêm, nếu sau khi trao tài sản cho người phạm tội, người quản lý tài sản phát hiện và đã thực hiện một số hành động bắt giữ mà người phạm tội lại sử dụng các thủ đoạn khác để chống đối như: dùng
vũ lực, bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì sẽ xử lý về tội phạm khác Đây
là trường hợp mà khoa học luật hình sự Việt Nam thường gọi là các trường hợp chuyển hóa từ một số tội có tính chất chiếm đoạt sang tội cướp tài sản
- Hành vi chiếm đoạt tài sản của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động
kinh doanh có hai hình thức thể hiện hành vi cụ thể:
Thứ nhất: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì
hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản, nhận năng lực kinh tế từ người bị lừa dối tạo ra vì đã tin vào thông tin của người phạm tội cung cấp nên bị lừa dối và đã giao nhầm tài sản Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo thành công, đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và đó cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh được coi là hoàn thành
Thứ hai: Nếu tài sản bị chiếm đoạt ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì
hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi cất giấu lại tài sản đáng nhẽ thuộc
về người bị lừa dối nhưng vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã trao nhầm tài sản của mình Đó cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh
Hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc hoạt động kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hành vi gian dối tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khai, dễ dàng và nhanh chóng
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh thường được thực hiện bằng nhiều những phương thức khác nhau, với sự phát triển của quá trình hội nhập
Trang 38kinh tế quốc tế và cơ chế thị trường, có thể phân loại thành 02 phương thức, thủ đoạn chính, đó là: phương thức, thủ đoạn truyền thống và phương thức, thủ đoạn mới
Thứ nhất, về phương thức, thủ đoạn truyền thống: đây là những hình thức được
sử dụng khá phổ biến, thông dụng, như: Trao đổi hàng hoá, kinh doanh qua mạng; Môi
giới việc làm, xuất khẩu lao động, du học; “Chạy” dự án, vay vốn; Kêu gọi đầu tư, tài
trợ, đầu tư kinh doanh đa cấp; Thiếp lập các trang mạng ngân hàng giả mạo để lấy dữ liệu thông tin của khách hàng; Hay phương thức lừa đảo thông qua hoạt động huy động vốn trái phép (đầu tư tài chính, bất động sản,…); … Chính sự xuất hiện của những thủ đoan, phương thức này mà đem lại nhiều những tiềm ẩn, rủi ro cho các nhà đầu tư khi
có ý định đầu tư vào thị trường của Việt Nam
Thứ hai, về phương thức thủ đoạn mới: đây là những phương thức được hình
thành trong giai đoạn gần đây, do ảnh hưởng của cuộc cách mạng 4.0, đặc biệt là trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp Một số những phương thức phải kể đến, như là: giả mạo doanh nghiệp để lừa đảo; lừa đảo, gian lận trong cung ứng, sử dụng dịch vụ thanh toán; lừa đảo trong hoạt động thương mại quốc tế (hoạt động huy động vốn, xuất - nhập khẩu); hay giải mạo ngân hàng, Đây là những phương thức mới, tinh
vi hơn những phương thức truyền thống, chính vì vậy, hiệu quả mà chúng mang lại cho những đối tượng phạm tội là rất cao
Sở dĩ xuất hiện những hình thức mới này là bởi: dịch bệnh kéo dài mọi người không hạn chế ra đường, chính vì vậy việc mua sắm, trao đổi thông tin qua mạng diễn
ra ngày càng nhiều Lợi dụng tình hình như vậy mà những thủ đoạn trên được các đối tượng phạm tội thực hiện và trở lên phổ biến Chính những hình thức này, đã và đang gây bức xúc lớn trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, đe doạ trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của nhân dân, đồng thời gây ra thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và xã hội, từ đó làm cản trở sự phát triển của đất nước
Tuy nhiên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh không đồng nhất với hành vi kinh doanh, mặc dù cả hai hành vi này đều diễn ra trong môi trường kinh tế, thị trường, chúng diễn ra thường xuyên, liên tục, nếu không diễn ra thì tính chất kinh doanh sẽ hoàn toàn mất đi Nhưng hành vi kinh doanh như: chạy quảng cáo, mời ca sĩ, diễn viên nổi tiếng làm người đại diện,… ở đây là nhằm mục đích thu lợi nhuận một cách chính đáng và hợp pháp Còn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong