Output file ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THANH TÙNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƢU TRỮ NHÀ NƢỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LƢU TRỮ HỌC VÀ TƢ LIỆU HỌC HÀ NỘI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH TÙNG
HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ NHÀ
NƯỚCLUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LƯU TRỮ HỌC VÀ TƯ LIỆU HỌC
HÀ NỘI 12 - 2003
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH TÙNG
HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ NHÀ
NƯỚCLuận văn thạc sỹ khoa học Chuyên ngành: Lưu trữ và Tư liệu học
Mã số: 5 10 02
Người hướng dẫn khoa học
PGS Vương Đình Quyền
Trang 3Chương 1: Tổng quan về hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước trong 11
giai đoạn hiện nay
1.2 Các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Văn thư - Lưu trữ Nhà nước 16
1.2.2 Trung tâm Tu bổ phục chế tài liệu 27
1.2.5 Tạp chí Văn thư và Lưu trữ Nhà nước 301.2.6 Các trường, cơ sở đào tạo cán bộ lưu trữ 31
1.3 Tổ chức lưu trữ hiện hành của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan 33
trực thuộc Chính phủ
Trang 4Chương 2: Tính tất yếu phải hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ nhà 40
nước và các nguyên tắc, yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện
2.1 Lý do phải hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ nhà nước 40
2.2 Các nguyên tắc và yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện hệ thống tổ chức 65 lưu trữ Nhà nước
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ nhà nước 72
3.1 Mô hình tổ chức các cơ quan quản lý lưu trữ nhà nước ở TW và địa 72
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Tài liệu lưu trữ là ký ức văn hoá có giá trị nhiều mặt của mỗi quốc gia,mỗi dân tộc Đó là di sản phản ánh một cách trực tiếp, chân thực, chính xácnhững thành tựu trong quá trình đấu tranh, lao động sáng tạo cả về vật chất vàtinh thần của nhân loại qua các thời kỳ lịch sử
Nhận thức được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của tài liệu lưu trữ, mỗiquốc gia đều có những chủ trương biện pháp khác nhau nhằm tổ chức quản lýtốt nhất đối với những di sản văn hoá đặc biệt này Một trong những biệnpháp mang tính quyết định đó là xây dựng một hệ thống tổ chức lưu trữ hoànchỉnh, hoạt động có hiệu quả từ TW đến địa phương Ở Việt Nam vấn đề tổchức, thiết lập các cơ quan quản lý tài liệu lưu trữ đã sớm được quan tâm.Dưới triều Nguyễn, chính quyền Trung ương đã thiết lập cơ quan chuyêntrách lưu trữ tài liệu của Nội các như Bản Chương sở, xây dựng các kho lưutrữ mang tính chất cố định như Tàng Thư lâu, kho Lưu trữ Thư viện Nội các,
Tụ khuê.v.vv Dưới thời thuộc Pháp, với việc thành lập Nha Lưu trữ và Thưviện Đông Dương, các kho lưu trữ có tính chất quốc gia và vùng lãnh thổ,
đã đưa công tác lưu trữ Việt Nam bước sang một trang mới, chấm dứt tìnhtrạng tự phát, bước sang thời kỳ quản lý tập trung
Nhờ bước đầu thiết lập được một số cơ quan lưu trữ như vậy, mà chínhquyền trung ương triều Nguyễn đã để lại cho hậu thế một khối lượng tài liệuquí giá bao gồm hàng trăm tập châu bản, hàng nghìn tấm mộc bản v.v vàcũng nhờ có sự quản lý của Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương, cùng vớicác kho lưu trữ, mà chính quyền thuộc Pháp đã giữ lại được một khối lượngtài liệu lớn có giá trị về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá ở Đông Dưong nóichung và Việt Nam thời kỳ cận đại nói riêng Nhưng do những hạn chế vềlịch sử, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, tổ chức lưu trữViệt Nam trong các thời kỳ lịch sử đó vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế
Trang 7Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhànước đã từng bước được xây dựng và kiện toàn Ngày 8/9/1945, Chínhphủ Lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 21/SL bổ nhiệm Ngô Đình Nhulàm Giám đốc Nha Lưu trữ Công văn và Thư viện toàn quốc; ngày
3/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Thông đạt số 01/VP “ cấm không
được tự tiện huỷ bỏ hay bán các công văn hồ sơ cũ” và khẳng định những
công văn hồ sơ cũ đó là những tài liệu “có giá trị đặc biệt về phương diện
kiến thiết quốc gia” [33;257] Nhưng do trong nhiều thập kỷ, toàn Đảng,
toàn dân phải dốc sức vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ để giành độc lập dân tộc, nên đến năm 1962 cơ quan quản lý vềlưu trữ mới chính thức được thành lập (Cục Lưu trữ trực thuộc Phủ Thủtướng được thành lập bởi Nghị định số 102/CP ngày 04/9/1962 của Hộiđồng Chính phủ) để quản lý tập trung thống nhất việc lưu trữ hồ sơ củaNhà nước Tiếp đó ngày 28.9.1963 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 142 – CP ban hành Điều lệ về Công tác Công văn giấy tờ và Côngtác Lưu trữ Theo đó, hệ thống tổ chức lưu trữ đã từng bước được xâydựng
Đến nay, sau hơn bốn mươi năm xây dựng và phát triển, bên cạnhnhững thành tựu nổi bật đã đạt được như: đã hình thành một hệ thống tổchức lưu trữ từ TW đến cấp tỉnh, bao gồm cơ quan quản lý ngành, cáckho, Trung tâm lưu trữ, các cơ quan đào tạo và nghiên cứu khoa học Tuynhiên, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước cũng đã bộc lộ một số hạn chế,đặc biệt khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sangnền kinh tế thị trường Cụ thể như, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước chưahoàn chỉnh và chưa có sự ổn định cao, chức năng, nhiệm vụ của một số cơquan chưa được quy định đầy đủ và hợp lý, có sự chồng chéo v.v Thực trạngcủa hệ thống tổ chức lưu trữ như vậy, đã làm cho tài liệu lưu trữ ở nhiều cơquan không được tập trung quản lý, hoặc quản lý thiếu khoa học, tình trạngtài liệu bó gói, tích đống phổ biến ở mọi cấp, mọi ngành, hiệu quả phục vụ xã
Trang 8của công tác lưu trữ chưa cao Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu
Trang 9trữ trong điều kiện mới luôn là nhiệm vụ quan trọng của ngành và là yêu cầu
có tính tất yếu để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước đối với tài liệu lưu trữ vàcông tác lưu trữ hiện nay Mặt khác, đến nay Cục Văn thư và Lưu trữ Nhànước vẫn chưa xây dựng được quy hoạch hoàn chỉnh về phát triển ngành
trong tương lai Đứng trước thực tế đó, chúng tôi đã chọn đề tài: “HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ CỦA NHÀ NƯỚC” làm luận văn caohọc của mình, mong góp tiếng nói nhỏ bé vào công tác xây dựng tổ chức củangành, dẫu biết rằng đây là vấn đề không chút đơn giản
2 Mục tiêu của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn giải quyết được hai mục tiêu cơbản sau:
Một là, đưa ra bức tranh khái quát về hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước.Qua đó, thấy được tính tất yếu và nhu cầu khách quan phải hoàn thiện hệthống tổ chức lưu trữ Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Hai là, trên cơ sở thực trạng của hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước
đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện chúng để công tác lưu trữcủa Nhà nước phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihóa đất nước
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hệ thống tổ chức lưu trữ, là một mạng lưới các cơ quan, tổ chức lưu trữ
từ trung ương đến địa phương Trong đó bao gồm, cơ quan quản lý ngành, cácTrung tâm lưu trữ Quốc gia, lưu trữ chuyên ngành, lưu trữ các tỉnh, huyện, xãphường, các tổ chức lưu trữ cơ quan từ TW đến địa phương Ngoài ra, còn có
cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lưutrữ Những cơ quan, tổ chức này muốn hoạt động có hiệu quả, đáp ứng kịpthời những đòi hỏi của thực tiễn và sự phát triển của ngành ở hiện tại và trongtương lai thì phải được tổ chức một cách khoa học, có chức năng, nhiệm vụ rõràng, cụ thể, cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ hợp lý, được xây dựng trên cơ sởnhững căn cứ khoa học, những nguyên tắc và yêu cầu quản lý chặt chẽ
Trang 10Hiện nay ở nước ta, có hai hệ thống tổ chức lưu trữ hoạt động độc lập.
Đó là hệ thống tổ chức lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống tổchức lưu trữ của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên,theo tinh thần của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia số 34/2001/PL – UBTVQHngày 04-4-2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được công bố theo Lệnh số03/2001/L/CTN ngày 15/4/2001 của Chủ tịch nước (dưới đây được gọi tắt làPháp lệnh Lưu trữ năm 2001), hệ thống tổ chức lưu trữ Việt Nam sẽ theo môhình tổ chức lưu trữ thống nhất Cụ thể, tại điều 26 của Pháp lệnh quy định:
“cơ quan lưu trữ TW có chức năng tham mưu cho Đảng, chịu trách nhiệm
trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ”[33;269].
Điều này có nghĩa là, lưu trữ Đảng và lưu trữ Nhà nước đặt dưới sự quản lýchung của một cơ quan Đây là mô hình tổ chức có khả năng đáp ứng yêucầu tập trung quản lý thống nhất công tác lưu trữ và đảm bảo việc tinhgiản đầu mối tổ chức quản lý của các ngành theo yêu cầu của cải cách nềnhành chính Quốc gia Thế nhưng, vì những lý do chủ quản và khách quan,nên theo chúng tôi trong thời gian tới mô hình tổ chức này chưa thể thực thi
Tổ chức lưu trữ Việt Nam vẫn tồn tại hai hệ thống độc lập là lưu trữ Đảng vàlưu trữ Nhà nước
Ở đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong vấn đềhoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước CHXHCN Việt Nam chứkhông đề cập đến hệ thống tổ chức lưu trữ Đảng Sở dĩ như vậy là vì:
Do đặc điểm về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Đảng,nên tổ chức lưu trữ Đảng nhìn chung đơn giản, tương đối ổn định, hoạt động
có hiệu quả từ TW đến địa phương Ngược lại, do hệ thống tổ chức lưu trữNhà nước đa dạng và với quy mô lớn, tài liệu hình thành có thành phần nộidung đa dạng, phức tạp, chiếm khối lượng lớn trong Phông Lưu trữ quốc gia,nên nhiệm vụ quản lý công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ của các cơ quan lưutrữ Nhà nước rất phức tạp và nặng nề, đòi hỏi lưu trữ Nhà nước phải xây dựngmột hệ thống tổ chức tương ứng thì mới có thể bảo vệ an toàn tài liệu lưu trữ
Trang 11quốc gia và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Vì vậy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhànước vẫn được coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của ngành Đó cũng là
cơ sở để trong tương lai, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước sẽ là nòng cốttrong mạng lưới tổ chức lưu trữ thống nhất ở Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nướcđược thể hiện trên các mặt về chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, đội ngũcán bộ của từng cơ quan, đơn vị, bao gồm:
- Cơ quan quản lý ngành là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
- Các Trung tâm lưu trữ Quốc gia
- Lưu trữ của các cơ quan Nhà nước từ TW đến địa phương: từ tổ chứclưu trữ của các Bộ ngành TW đến tổ chức lưu trữ của các tỉnh, thành phố trựcthuộc TW, lưu trữ của quận, huyện, xã, phường thị trấn
- Các cơ quan nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ về lưu trữHiện nay, cơ quan quản lý ngành lưu trữ được giao thêm chức năng quản
lý Nhà nước về công tác văn thư Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là, hệthống tổ chức lưu trữ nhà nước đồng thời cũng là hệ thống tổ chức văn thưlưu trữ Nhà nước Vì trên thực tế, công tác văn thư tại các cơ quan TW và địaphương vẫn là hai công tác độc lập, có tổ chức riêng Ở các Bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, công tác văn thư do Phòng Hànhchính phụ trách, công tác lưu trữ do Phòng Lưu trữ phụ trách Ở các tỉnh,thành phố trực thuộc TW, công tác văn thư do Văn phòng UBND phụ trách,công tác lưu trữ do Trung tâm Lưu trữ tỉnh phụ trách Trong phạm vi nghiêncứu của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống tổ chức lưutrữ Nhà nước mà không đề cập đến hoàn thiện tổ chức quản lý công tác vănthư Vì theo chúng tôi, việc quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về côngtác văn thư ở các cơ quan TW và địa phương như hiện nay là hợp lý
4 Nhiệm vụ của đề tài
Trang 12Một là, tìm hiểu toàn diện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước trên cácmặt từ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ của từng cơquan, đơn vị, tổ chức Qua đó, chỉ rõ tính tất yếu và các nguyên tắc, yêucầu để hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước ở Việt Nam, nhằm nângcao chất lượng quản lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quanlưu trữ từ TW đến địa phương.
Hai là, đề ra được những kiến nghị hợp lý dựa trên những căn cứkhoa học, phù hợp với thực tiễn quản lý công tác lưu trữ ở Việt Namnhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước, giúp cơ quan quản lýxây dựng chiến lược phát triển ngành lưu trữ theo kế hoạch dài hơi hơn
5 Các phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luậncủa lưu trữ học, đó là nguyên tắc tính đảng, nguyên tắc lịch sử, nguyên tắctoàn diện tổng hợp Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sửdụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp lịch sử, phươngpháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phân tích mô tả,điều tra khảo sát để tổng hợp, xử lý các nguồn tư liệu đã thu thập được Cụthể như, đối với phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, chúng tôi vậndụng khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của mạng lưới tổ chứclưu trữ Việt Nam Phương pháp điều tra, khảo sát được chúng tôi vận dụngkhi cần thu thập những thông tin từ thực tế Với phương pháp này, các số liệu,nhận xét được đưa ra trong luận văn có tính thực tiễn cao hơn Cũng bằngphương pháp trên, chúng tôi đã thu thập được nhiều thông tin cần thiết màkhông thể thấy trong các nguồn tư liệu
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu vấn đề tổ chức lưu trữ không phải là hướng đề tài nghiêncứu mới Tuy nhiên, đây cũng không phải là hướng đề tài được nhiều nhàkhoa học và nhà quản lý ngành lưu trữ quan tâm Cụ thể từ năm 1962 đếnnay, vấn đề tổ chức lưu trữ Việt nam mới chỉ có một đề tài cấp ngành được
Trang 13nghiên cứu đó là “Lý luận và thực tiễn tổ chức mạng lưới các kho lưu trữ ở
Việt Nam” Đề tài được thực hiện bởi một nhóm các tác giả và do PGS.
Vương Đình Quyền làm chủ nhiệm, được thực hiện vào năm 1990 Đề tài làmột công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc có ý nghĩa lý luận và thựctiễn cao đối với việc xây dựng mạng lưới các kho lưu trữ ở Việt Nam Đề tài
đã tập trung lý giải những căn cứ, cơ sở khoa học để tổ chức thiết lập mạnglưới các kho từ TW đến địa phương Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu mạng lưới các kho lưu trữ chứ chưa nghiên cứu một cách toàndiện cơ sở lý luận nhằm tổ chức thiết lập và hoàn thiện mạng lưới tổ chức lưutrữ từ trung ương đến địa phương bao gồm hệ thống các cơ quan quản lý, cácđơn vị sự nghiệp Bên cạnh đề tài nghiên cứu trên, vấn đề tổ chức lưu trữcũng được đề cập từng phần trong các công trình nghiên cứu khác Ví dụ
trong đề tài “Cơ sở khoa học để tổ chức quản lý nhà nước về công tác lưu
trữ” do TS Dương Văn Khảm (chủ nhiệm), được thực hiện năm 2001 Trong
đề tài này, tổ chức lưu trữ đã được tiếp cận theo hướng xây dựng các biệnpháp nhằm tổ chức quản lý công tác lưu trữ chứ không nhằm mục đích hoànthiện hệ thống tổ chức lưu trữ
Ngoài ra, vấn đề tổ chức lưu trữ cũng được một vài tác giả quan tâmnghiên cứu Tuy nhiên, đó mới chỉ là những bài viết đơn lẻ được đăng trên tạpchí Lưu trữ Việt Nam Ví dụ như bài viết của tác giả Hà Quảng “Bàn về tổchức lưu trữ cấp tỉnh”, Hà Huề: “Nên tổ chức lưu trữ cấp tỉnh như thế nào chohợp lý” (Tạp chí Lưu trữ Việt nam số 3 năm 1994 và số 4 năm 1995)
Song song với những đề tài nghiên cứu cấp ngành, những bài viết đượcđăng trên các tạp chí chuyên ngành, một số sinh viên chuyên ngành Lưu trữlịch sử Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà nội nay là Khoa Lưu trữhọc và Quản trị văn phòng, Trường Đại học KHXH & NV cũng đã bước đầuquan tâm nghiên cứu về vấn đề này Cụ thể như luận văn tốt nghiệp củaNguyễn Văn Nghiệp: “Một vài ý kiến về tổ chức hệ thống các Trung tâm lưu
trữ TW nước CHXHCNVN”, luận văn của Nguyễn Thị Lan Anh “Một vài ý
Trang 14kiến bước đầu về tổ chức lưu trữ chuyên ngành ở nước ta hiện nay” Báo cáo
tốt nghiệp của Nguyễn Thị Chinh “Mạng lưới các kho, trung tâm lưu trữ Nhà
nước qua chặng đường 40 năm hình thành và phát triển (1962 – 2002) Các
đề tài này, đã bước đầu nghiên cứu những cơ sở khoa học và tình hình thực tế
về xây dựng hệ thống tổ chức lưu trữ qua các thời kỳ lịch sử Qua đó, đánhgiá những thành tựu và hạn chế trong tổ chức và hoạt động của ngành Tuynhiên, những đề tài này vẫn mang tính chất tản mạn chưa nghiên cứu thành hệthống và cách tiếp cận chủ đề cũng có sự khác biệt Nếu như luận văn củaNguyễn Văn Nghiệp và Nguyễn Thị Lan Anh mang tính lý luận, và nhữngthông tin trong đề tài đã lạc hậu, thì luận văn của Nguyễn Thị Chinh có tínhmới mẻ hơn, nhưng đây là đề tài được triển khai theo hướng tổng kết lịch sửchứ chưa đặt vấn đề nghiên cứu xây dựng hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nướcxuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn quản lý
7 Các nguồn tư liệu được sử dụng
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ (do Bộ môn Lưu trữ Lịch sử –Trường Đại học Tổng hợp biên soạn năm 1990)
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về công tác công văn giấy tờ
và công tác lưu trữ từ năm 1945 đến nay Đây là nguồn tư liệu rất quantrọng Bởi vì, nó cung cấp cho chúng tôi những thông tin về chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước trong xây dựng, tổ chức công tác lưutrữ nói chung và mạng lưới các cơ quan quản lý, sự nghiệp của ngành nóiriêng Cụ thể như:
+ Nghị định số 142/CP ngày 28 – 9 – 1963 của Hội đồng Chính phủban hành Điều lệ về công tác công văn, giấy tờ và công tác lưu trữ
+ Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia năm 1982
+ Thông tư số 40/1998/TT – TCCP ngày 24.01.1998 của Ban Tổ chứcCán bộ Chính phủ hướng dẫn tổ chức lưu trữ ở các cơ quan nhà nước các cấp+ Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001
Trang 15+ Quyết định số 177/2003/ QĐ - TTg ngày 1.9.2003 của Thủ tướngChính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Vănthư và Lưu trữ Nhà nước
+ Các báo cáo công tác của các cơ quan, đơn vị trong ngành lưu trữ.Đây là nguồn tư liệu cung cấp cho chúng tôi những căn cứ thực tiễn, xácđịnh khối lượng công việc ở từng cơ quan đơn vị làm cơ sở xây dựng địnhbiên, thiết lập tổ chức
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết liên quan được đăngtải trên các tạp chí chuyên ngành
- Cuối cùng là một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên khoa Sử và KhoaLưu trữ học và Quản trị văn phòng
8 Đóng góp của luận văn
Đề tài nếu được triển khai và thực hiện tốt, sẽ có những đóng gópnhất định:
Thứ nhất, về thực tiễn quản lý, đề tài cho chúng ta thấy toàn cảnh thựctrạng cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức lưu trữNhà nước Qua đó, thấy được tính tất yếu khách quan phải tiến hành cải cách,hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ
Thứ hai, kết quả nghiên cứu của đề tài cả về mặt lý luận và thực tiễn cóthể giúp các cơ quan có thẩm quyền tham khảo để tiến hành hoàn thiện mạnglưới tổ chức lưu trữ Nhà nước
Đó là những đóng góp, lợi ích trước mắt Về lâu dài với đề tài này, sẽ là
cơ sở, tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi cho việc hợp nhất hai hệ thống tổchức Vì khi chúng ta có hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước khoa học, hợp lýthì khi hợp nhất hai hệ thống tổ chức sẽ không gây xáo trộn gì lớn
9 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu nêu rõ mục đích, ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.Phần nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương
Chương 1: Tổng quan về hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước trong
Trang 16Đây là chương mang tính dẫn luận cho phần nội dung chính ở cácchương sau Qua chương này, bức tranh tổng quan về hệ thống tổ chức lưu trữViệt Nam được phác hoạ một cách chi tiết, cụ thể và đầy đủ Qua đó, chúng ta
có căn cứ để đánh giá thực trạng, nhận thấy tính cấp thiết cần phải hoàn thiệnmạng lưới tổ chức nếu muốn ngành phát triển và hoạt động có hiệu quả, đápứng nhu cầu của thực tiễn quản lý
Chương 2: Tính tất yếu của việc hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước và các nguyên tắc, yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện đó.
Đây là một trong hai chương chính của luận văn, tại chương này, chúngtôi trình bày tính cấp thiết phải hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ, trên cơ sởđánh giá, phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan xuất phát từthực tiễn tổ chức của hệ thống lưu trữ Nhà nước Qua đó, chúng tôi mạnh dạnđưa ra những nguyên tắc, yêu cầu trong hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ.Đây được coi là những cơ sở lý luận đảm bảo yêu cầu quản lý công tác lưutrữ và tài liệu lưu trữ trong hoàn cảnh mới
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước
Tổng kết thực tiễn từ chương 1 và chương 2, trong chương này chúng tôi
đề xuất các phương án hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ nhà nước từ việcxây dựng mô hình tổ chức cơ quan quản lý lưu trữ ở TW và địa phương đếnnhững quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ câú tổ chức, đội ngũcán bộ, của từng cơ quan, đơn vị tổ chức
Phần cuối cùng của luận văn là phần kết luận Trên cơ sở kết quả nghiêncứu, chúng tôi đưa ra những nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn về tổchức lưu trữ nhà nước ở Việt nam
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăntrong việc tìm kiếm khai thác tư liệu Đặc biệt là các tài liệu, tư liệu liên quanđến tổ chức lưu trữ chuyên ngành của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoạigiao Bởi lẽ, đây là những tài liệu thuộc danh mục tài liệu mật của các cơquan Ngoài ra do phạm vi nghiên cứu rộng đã không cho phép chúng tôi cóđiều kiện thời gian và vật chất để khảo sát trực tiếp toàn bộ cơ cấu tổ chức,
Trang 17chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đội ngũ cán bộ của tất cả các cơ quan.Bên cạnh những khó khăn khách quan, về mặt chủ quan do trình độ bản thântác giả còn nhiều hạn chế, vì vậy, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do đây là một
đề tài khó và phức tạp nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý của các nhà nghiên cứu, bạn bè
và những người quan tâm để luận văn đạt chất lượng tốt hơn
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến nhà giáo ưu tú,PGS Vương Đình Quyền, các cán bộ, công chức của Cục Văn thư và Lưu trữnhà nước, các Trung tâm lưu trữ Quốc gia, lưu trữ một số bộ, ngànhTW.v.v đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Hà nội, ngày 24 tháng 12 năm 2003
Tác giảTrần Thanh Tùng
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ NHÀ NƯỚC TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng và Nhànước đã quan tâm đến công tác lưu trữ Ngày 8/9/1945, thay mặt Chính phủlâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 21/SL
bổ nhiệm ông Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thưviện toàn quốc trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục Ngô Đình Nhu là người đãtốt nghiệp Trường Lưu trữ và Cổ tự học ở Pháp và trước CMT8 là giám đốcLưu trữ và Thư viện Trung kỳ ở Thuận Hoá Việc lựa chọn Ngô Đình Nhulàm giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc đã thể hiện nhậnthức của Chính phủ trước yêu cầu phải có cán bộ có trình độ chuyên môntrong quản lý đối với công tác lưu trữ Tuy nhiên, hoạt động của Nha Lưu trữcông văn và Thư viện toàn quốc rất mờ nhạt, không phát huy được hiệu quảtrong hoạt động quản lý Vì ông Ngô Đình Nhu đã không ra Hà Nội để nhậnnhiệm sở và Chính phủ cũng không có quyết định bổ nhiệm người khác thaythế Do đó, Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc không có người lãnhđạo cao nhất Mặt khác, trong hoàn cảnh chiến tranh, hệ thống tổ chức lưu trữchưa được thiết lập, các cơ quan, tổ chức không có cán bộ chuyên trách hoặckiêm nhiệm làm công tác lưu trữ Thậm chí có những nơi chưa đặt công táclưu trữ thành một vấn đề trong công tác lãnh đạo hàng ngày, nên tài liệu bịhuỷ hoại, mất mát phân tán là hậu quả khó tránh khỏi
Hệ thống tổ chức lưu trữ nhà nước chỉ thực sự được hình thành khi CụcLưu trữ trực thuộc Phủ Thủ tướng được thành lập theo Nghị định số 102/CPcủa Hội Đồng Chính phủ ngày 4/9/1962 và khi Điều lệ về Công tác công văngiấy tờ và Công tác Lưu trữ được ban hành kèm theo Nghị định số 142/CPngày 28/9/1963 của Hội Đồng Bộ trưởng Từ đó đến nay, hệ thống tổ chứclưu trữ Nhà nước ngày càng được xây dựng và củng cố Hiện nay, hệ thống tổchức lưu trữ Nhà nước bao gồm:
Trang 191.1 Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước:
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước tiền thân là Cục Lưu trữ trực thuộcPhủ Thủ tướng được thành lập bởi Nghị định 102/CP ngày 4/9/1962 của Hộiđồng Chính phủ Đến năm 1984, Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng được nâng cấpthành Cục Lưu trữ Nhà nước trực thuộc Hội Đồng Bộ trưởng với nhiệm vụ:
“giúp HĐBT quản lý tập trung thống nhất tài liệu lưu trữ Quốc gia, xây dưng
và phát triển ngành lưu trữ trong cả nước” [7;16] Năm 1991, với chủ trươngcải cách nền hành chính, tinh giản đầu mối các cơ quan trực thuộc Hội đồngChính phủ, ngày 27.10.1991 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số06/HĐCP chuyển Cục Lưu trữ Nhà nước thành cơ quan trực thuộc Ban Tổchức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nôị vụ) Đến năm 2003, một lần nữa tổchức của Cục Lưu trữ Nhà nước lại có sự thay đổi Trong Nghị định số45/2003/NĐ - CP của Chính phủ ngày 9/5/2003 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ đã có quy định, đổi tên cơquan quản lý ngành lưu trữ từ Cục Lưu trữ Nhà nước thành Cục Văn thư vàLưu trữ nhà nước và ngày 01.9.2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 177/2003/QĐ/TTg về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước Theo Quyết địnhnày, chức năng, nhiệm vụ của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước như sau:
Về v ị tr í, c hứ c năng : “Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước là cơ quan
của Bộ Nội vụ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực văn thư,lưu trữ và quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc Phông Lưu trữ Nhà nướcViệt nam Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước có con dấu có hình quốc huy”[28;1]
Nhiệ m v ụ v à quy ề n hạn :
+ “Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ các văn bản quy phạm phápluật về văn thư, lưu trữ; chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch hàng tháng
và hàng năm về văn thư, lưu trữ
+ Ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ văn thư lưu trữ theo quy
Trang 20thực hiện các quy định của nhà nước về văn thư, lưu trữ;
Trang 21+Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phátluật về văn thư, lưu trữ;
+ Quản lý tài liệu thuộc Phông lưu trữ Nhà nước Việt Nam; thực hiệnthống kê nhà nước về lưu trữ;
+ Tổ chức, thực hiện kế hoạch, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệtrong công tác văn thư, lưu trữ và thực hiện hợp tác quốc tế về văn thư, lưutrữ theo phân công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
+ Quyết định và chỉ đạo thực hiện Chương trình cải cách hành chính các
tổ chức, đơn vị trực thuộc Cục theo phân công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
+ Quản lý biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và chế độ, chính sáchđãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộcông chức thuộc quyền quản lý; quản lý tài chính, tài sản được giao theo chế
độ chung của nhà nước.” [28;2]
+ C ơ c ấu tổ c hứ c c ủ a C ục Văn t hư v à Lư u tr ữ n hà nư ớc được quy định tại điều 3 của Quyết định 177/2003/ QĐ - TTg ngày
01/9/2003 như sau:
1, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước có Cục trưởng và các Phó Cụctrưởng Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Nội vụ bổ nhiệm
2, Các tổ chức giúp Cục trưởng quản lý nhà nước:
- Phòng Nghiệp vụ Văn thư và Lưu trữ TW: có nhiệm vụ hướng dẫn,
kiểm tra các cơ quan TW thực hiện các quy định của Nhà nước về nghiệp vụcông tác văn thư lưu trữ; phối hợp với Phòng Nghiệp vụ Văn thư và Lưu trữđịa phương xây dựng và trình Bộ Nội vụ ban hành văn bản quy phạm phápluật về công tác văn thư - lưu trữ; chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ ở cácTrung tâm lưu trữ Quốc gia; tham mưu giúp Cục trưởng trong việc giải quyếtcác yêu cầu nghiên cứu sử dụng tài liệu lưu trữ của người nước ngoài; phốihợp với các đơn vị có liên quan để thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế, đàotạo, bồi dưỡng và quản lý cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ ở các cơ quanTW
Trang 22- Phòng Nghiệp vụ Văn thư và Lưu trữ địa phương: cũng với những
nhiệm vụ như Phòng Nghiệp vụ Văn thư và Lưu trữ TW Nhưng giới hạnphạm vi đối tượng là công tác văn thư lưu trữ của các tỉnh, thành phố trựcthuộc TW
- Thanh tra Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước: có nhiệm vụ thanh tra,
kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật nói chung đối với các cơquan, đơn vị, thuộc thẩm quyền quản lý của Cục Văn thư và Lưu trữ
- Phòng Tổ chức cán bộ: có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng cải tiến hệ
thống tổ chức của ngành lưu trữ, xây dựng tổ chức mạng lưới các kho lưu trữtài liệu ở các ngành, các cấp; nghiên cứu xây dựng chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước và cácđơn vị trực thuộc phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước và củangành lưu trữ; tổ chức thực hiện quản lý và quy hoạch cán bộ lưu trữ theophân cấp quản lý; quản lý công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ theo tiêuchuẩn ngạch công chức văn thư, lưu trữ, trực tiếp quản lý công tác đào tạocán bộ có trình độ trung học và đào tạo học nghề ở hai trường trung họclưu trữ.v.v
- Phòng Kế hoạch – Tài chính: “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng
thế phát triển ngành lưu trữ; hướng dẫn tổng hợp kế hoạch dài hạn, kế hoạchngắn hạn, kế hoạch hàng năm của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; tổ chứccông tác thống kê và tổng hợp số liệu thống kê về công tác lưu trữ và tài liệulưu trữ Quốc gia trong toàn quốc; quản lý công tác tài chính, hướng dẫn, theodõi, kiểm tra việc thực hiện các chế độ tài chính đối với các đơn vị thuộc Cục;tham mưu giúp Cục trưởng quản lý công tác đầu tư xây dựng cơ bản và quản
lý vật tư, trang thiết bị tài sản của Cục ”
- Văn phòng: có nhiệm vụ “theo dõi, tổng hợp điều hoà, phối hợp xử lý
thông tin các mặt hoạt động của Cục, quản lý công tác thi đua khen thưởngcủa nhà nước”
Trang 23+ Về biê n c hế c án bộ : Theo số liệu thống kê mới nhất do Phòng Tổ
chức Cán bộ Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cung cấp tháng 8.2003,hiện nay Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước có 41 cán bộ, được biên chế tạicác phòng ban như sau:
Tên phòng ban Số lượng Trình độ Ngạch bậc
1.2 Các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
1.2.1 Các Trung tâm lưu trữ Quốc gia:
Hiện nay, lưu trữ Nhà nước có các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thựchiện nhiệm vụ tập trung quản lý tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc của Nhànước Đó là, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III và Trung tâm Bảo hiểm tài liệu lưu trữ
1.2.1.1 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
+ Trung tâm lưu trữ Quốc gia I tiền thân là Kho lưu trữ Hà Nội được
thành lập theo Nghị định ngày 26/12/1918 của Toàn quyền Đông Dương
Trang 24Phủ Thống Đốc Nam kỳ ở Sài gòn, Kho lưu trữ Phủ Khâm xứ Trung kỳ ởHuế, Kho lưu trữ Phủ Khâm xứ Ai Lao ở Viên Chăn và Kho lưu trữ PhủThống xứ Cao Miên ở Phnômpênh.
Sau CMT8 năm 1945, Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc trựcthuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, trực tiếp quản lý Kho Lưu trữ Hà Nội
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Kho Lưu trữ Hà Nội thuộcquyền quản lý của chính quyền Thực dân Pháp Năm 1954, cuộc kháng chiếnchống Pháp giành thắng lợi, Kho Lưu trữ Hà Nội được giao cho Bộ Tuyêntruyền (nay là Bộ Văn hoá - Thông tin) quản lý Ngày 04/9/1962 Cục Lưu trữtrực thuộc Phủ Thủ tướng được thành lập, Kho Lưu trữ Hà Nội đã được giaolại cho Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng và được đổi tên thành Kho Lưu trữ TW.Đến ngày 01/3/1984 Hội Đồng Bộ trưởng, đã ban hành Nghị định số34/HĐBT đổi tên Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng thành Cục Lưu trữ Nhà nướcthuộc HĐBT và trực tiếp quản lý Kho lưu trữ TW Cũng căn cứ vào Nghịđịnh này, Kho Lưu trữ TW được đổi tên thành Kho lưu trữ Nhà nước TW HàNội và trở thành đơn vị độc lập trực thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước
Ngày 8/8/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 223/CT
về các Trung tâm lưu trữ Quốc gia Căn cứ vào Quyết định này, ngày06.9.1988, Cục Lưu trữ Nhà nước ban hành Quyết định số 385/QĐ - TC đổitên các Kho lưu trữ Nhà nước TW thành các Trung tâm lưu trữ Quốc gia.Theo quyết định này, Kho Lưu trữ Nhà nước TW Hà Nội được đổi tên thànhTrung tâm lưu trữ Quốc gia I, với nhiệm vụ: “hướng dẫn, kiểm tra hồ sơ củacác cơ quan có tài liệu lưu trữ thuộc nguồn nộp lưu vào Trung tâm; tổ chứcquản lý các Phông lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc thời kỳ trước và sau Cáchmạng tháng 8 năm 1945; phục vụ nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu do Trungtâm lưu trữ Quốc gia I bảo quản vào những mục đích chính đáng của xã hội[25;1]
Năm 1995, sau khi Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập, CụcLưu trữ Nhà nước ban hành Quyết định số 77/QĐ - TCCB ngày 17/7/1995
Trang 25quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâmlưu trữ Quốc gia I như sau:
*C hứ c năng : là đơn vị trực thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước có chức
năng thu thập, bổ sung, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quảtài liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức cá nhân, gia đình, dòng họ thuộc thời
kỳ lịch sử từ CMT8 năm 1945 trở về trước Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I có tài khoản và con dấu riêng
*Nhiệ m v ụ, quy ề n hạn
+ “Sưu tầm, thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ hình thành từ tháng 8 năm
1945 trở về trước của các cơ quan, tổ chức xã hội và cá nhân trong ngoàinước
+ Phân loại, chỉnh lý, xác định, bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu đãnộp vào Trung tâm, lập Phông bảo hiểm đối với tài liệu quý hiếm có giátrị đặc biệt
+ Thống kê, kiểm tra xây dựng và quản lý hệ thống công cụ thống kê, tracứu và báo cáo thống kê lưu trữ lên Cục Lưu trữ Nhà nước
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ mới và những thànhtựu khoa học vào thực tiễn của Trung tâm, tổ chức lao động khoa học nhằmnâng cao hiệu quả công tác được giao
+ Quản lý tổ chức biên chế, cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tư tài sản và kinhphí của Trung tâm theo đúng quy định của Nhà nước” [7; 28]
* Thẩm quy ề n quả n lý tài liệ u c ủa Tr un g tâm Lư u tr ữ Quốc gia I :
Trải qua nhiều lần tiếp nhận và bàn giao tài liệu, hiện nay Trung tâmLưu trữ Quốc gia I đang quản lý tài liệu theo quy định tại Quyết định số13/QĐ – LTNN của Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước ngày 23/02/2001.Theo Quyết định này, Trung tâm có thẩm quyền, thu thập và quản lý khối tàiliệu sau:
Trang 26+ “Tài liệu của các cơ quan, tổ chức thuộc thời kỳ Phong kiến đã từngtồn tại trên lãnh thổ Việt Nam (trữ tài liệu Mộc bản)
+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức của thực dân Pháp có trụ sở đóngtrên lãnh thổ Bắc kỳ từ năm 1858 đến năm 1945 và Bắc Việt (1945 – 1954)+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức thân phát xít Nhật có trụ sở đóng trênlãnh thổ Bắc kỳ từ năm 1940 đến 1945” [33;402]
* C ơ c ấu tổ c hứ c c ủa Tr ung tâm
Theo Quyết định số 22/BT ngày 23/3/1963 của Bộ trưởng Phủ Thủtướng thì Kho Lưu trữ Hà Nội là một đơn vị trực thuộc Cục Lưu trữ chưa cóquy định cụ thể về cơ cấu tổ chức
Sau khi đổi tên thành Kho Lưu trữ TW, ngày 23/3/1963 Cục Lưu trữNhà nước đã ban hành Quyết định số 18/QĐ - TC quy định cơ cấu tổ chứcKho lưu trữ TW gồm các bộ phận:
- Phòng Hành chính – Quản trị – Tổ chức
- Phòng Khai thác
- Phân Kho tài liệu trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
- Phân Kho tài liệu sau Cách mạng tháng 8 năm 1945
Năm 1985, thành lập thêm ba bộ phận mới: phân Kho tài liệu Văn học Nghệ thuật, Tổ Bảo quản và Đội Bảo vệ Năm 1986 thành lập thêm Tổ Khoahọc nghiệp vụ
-Sau khi Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập, ngày 17/7/1995Cục Lưu trữ Nhà nước ban hành Quyết định số 77/QĐ - TCCB quy định lạichức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lưu trữQuốc gia I Theo Quyết định này, tổ chức của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Ibao gồm:
- Phòng Thu thập – Chỉnh lý
- Phòng Thống kê và Công cụ tra cứu
- Kho Bảo quản tài liệu
- Xưởng Tu bổ – Phục chế tài liệu
Trang 27BAN GIÁM ĐỐC
Phòng Thu thập Chỉnh lý TL tiếng Pháp Phòng Lưu trữ tài liệu HánNôm Phòng
HC-Quản trị – Tổ chức Phòng Thống kê và Công cụ tra cứu Phòng Tổ chức sử dụng tài liệu Phòng Bảo quản tài liệu
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
- Phòng Hành chính – Quản trị – Tổ chứcNăm 1995, theo đề nghị của Ban Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I, ngày 11/11/1995, Cục Lưu trữ Nhà nước đã ra Quyết định số 121/QĐ sátnhập Kho Bảo quản tài liệu với Xưởng Tu bổ phục chế tài liệu thành PhòngBảo quản
Ngày 05/01/2000 Cục Lưu trữ Nhà nước ban hành Quyết định số 01/QĐ
- LTNN thành lập Phòng Lưu trữ tài liệu Hán Nôm Hiện nay, tổ chức củaTrung tâm gồm 6 phòng trực thuộc:
* B iên c hế c án bộ : Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Giám đốc,
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I đang hoạt động với 6 Phòng chức năng Biênchế của Trung tâm gồm 31 cán bộ Trong đó, cán bộ có trình độ trên đạihọc về lưu trữ 01, chiếm 3,2%, cán bộ có trình độ đại học lưu trữ 03 người(nhưng đều tốt nghiệp tại chức), chiếm 9,6%, cán bộ có trình độ trungcấp lưu trữ 08 người chiếm 25,8% Như vậy, trong tổng số 31 cán bộ củaTrung tâm, chỉ có 12 cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về lưu trữ
Trình độ cán bộ được thể hiện qua bảng tồng hợp sau:
Trình độ chuyên môn Số lượng
Trên đại học về lưu trữ 01
Trang 281.2.1.2 Trung tâm lưu trữ Quốc gia II
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II tiền thân là Kho lưu trữ TW II Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập bởi Quyết định số 252/BT ngày 29/11/1976
của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng Theo Nghị định số34/CP ngày 01/3/1984, Kho Lưu trữ TW II được đổi tên thành Kho Lưu trữNhà nước TW Thành phố Hồ Chí Minh Cũng giống như Trung tâm Lưu trữQuốc gia I, Kho Lưu trữ Nhà nước TW thành phố Hồ Chí Minh được đổi tênthành Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II bởi Quyết định số 358/ QĐ - TC ngày06/9/1988 của Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước
*C hứ c năng của Trung tâm là thu thập, bổ sung, sưu tầm tiếp nhận,
bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu của Nha Văn khố
cũ và chính quyền Mỹ Nguỵ ở Sài gòn, kho lưu trữ tài liệu Mộc bản ở Đàlạt, tài liệu của các cơ quan Nhà nước TW đóng tại địa bàn miền Nam và tàiliệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam của cách mạng miền Namtrước đây
Tr ung tâm lưu tr ữ Quốc gia I I c ó nhiệm vụ:
+ “Hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra hồ sơ tài liệu của các cơ quan Nhà nước
là nguồn bổ sung vào Trung tâm
+ Bảo quản an toàn tuyệt đối tài liệu tại Trung tâm
+ Phục vụ nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu do Trung tâm bảo quảnvào các mục đích chính đáng của xã hội
+ Ứng dụng các tiến bộ KHKT vào công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ
Trang 29+ Thực hiện chế độ thống kê tài liệu lưu trữ, báo cáo định kỳ và đột xuất
về tình hình quản lý công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ đối với Cục Lưu trữNhà nước
+ Xây dựng kết hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức tạiTrung tâm để đáp ứng yêu cầu công tác chuyên môn của Trung tâm
+ Lập kế hoạch xây dựng, cải tạo, nâng cấp kho tàng, mua sắm thiết bị,
dự trù kinh phí thường xuyên cho hoạt động của Trung tâm” [7; 31]
Trang 30* Thẩm quy ề n thu t hập, quản lý tài liệ u
Theo Quyết định số 13/QĐ - LTNN ngày 23/02/2001 (đã nêu) thì Trungtâm Lưu trữ Quốc gia II có thẩm quyền quản lý, sưu tầm và thu thập nhữngkhối tài liệu sau:
+ “Khối tài liệu Mộc bản;
+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức của thực dân Pháp có trụ sở đóngtrên lãnh thổ Trung kỳ, Nam kỳ từ năm 1858 đến năm 1945 và Trung Việt từnăm 1945 đến năm 1954;
+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức thân phát xít Nhật có trụ sở đóng trênlãnh thổ Trung kỳ và Nam kỳ từ 1940 đến 1945;
+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức TW của Nguỵ quyền Sài Gòn từ năm
+ Khối tài liệu của các cơ quan, tổ chức TW của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có trụ sở đóng trênlãnh thổ từ tỉnh Quảng trị trở vào phía Nam sau tháng 5/1975” [33;402]
Trang 31BAN GIÁM ĐỐC
PhòngChỉnh lý tài liệu HC Quản trị – Tổ chứcPhòng
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
* Biên chế cán bộ: Trung tâm lưu trữ Quốc gia II được biên chế 42 cán
bộ, nhưng thực tế Trung tâm có 41 cán bộ, số cán bộ có trình độ đại học về
lưu trữ là 08 người, chiếm 19,5%, 12 người có trình độ trung học về lưu trữ,
chiếm 29% Như vậy, nếu so với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, số lượng cán
bộ có trình độ nghiệp vụ về lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã nhiều
hơn, tổng số 20/41 chiếm gần 50%
Trình độ cán bộ của Trung tâm được thể hiện qua biểu đồ sau
Trình độ chuyên môn Số lượng
Trang 321.2.1.3 Trung tâm lưu trữ Quốc gia III
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tài liệu sản sinh ra trong các cơquan, tổ chức ngày càng nhiều, kho lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Iquá tải, không có khả năng thu thập, bảo quản tài liệu của các cơ quan thuộcnguồn nộp lưu Khắc phục tình trạng đó, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia III đãđược thành lập trên cơ sở tách bộ phận lưu trữ tài liệu thời kỳ sau Cánh mạngtháng 8 năm 1945 từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, được thành lập bởi Quyết định 118TC/CP ngày 10/6/1995 của Bộ trưởng Trưởng Ban Tổ chức Cán bộ Chínhphủ Tiếp đó, ngày 26/6/1995 Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước ra Quyếtđịnh số 54/QĐ/TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức củaTrung tâm
* C hứ c nă ng c ủ a Tr ung tâm Lư u tr ữ Qu ốc gia I I I : Thu thập,
bổ sung bảo quản an toàn và tổ chức có hiệu quả tài liệu có ý nghĩa toànquốc từ CMT8 năm 1945 đến nay
* Để thự c hiện c hứ c nă ng tr ê n, Tr ung tâ m c ó nhiệm v ụ c ụ thể là:
+ “Thu thập, bổ sung tài liệu từ các cơ quan, cá nhân là nguồn nộp lưuvào Trung tâm
+ Kiểm tra, đôn đốc hướng dẫn các cơ quan, cá nhân thuộc nguồn nộplưu, chuẩn bị hồ sơ tài liệu giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III theođúng quy định của Nhà nước
+ Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, bảo vệ các tài liệu đã nộpvào Trung tâm, lập Phông bảo hiểm đối với tài liệu có giá trị đặc biệt
+ Thống kê, kiểm tra, xây dựng và quản lý hệ thống công cụ tra cứu vàbáo cáo thống kê tài liệu lưu trữ lên Cục Lưu trữ Nhà nước
Trang 33+ Tổ chức nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ mới và nhữngthành tựu khoa học đã nghiên cứu trong, ngoài nước vào thực tế công táccủa Trung tâm.
+ Quản lý tổ chức biên chế, cơ sở vật chất, kỹ thuật, vật tư tài sản vàkinh phí của Trung tâm theo đung quy định của Nhà nước và Cục Lưu trữNhà nước [7; 33]
+ Tài liệu của các cơ quan, tổ chức cấp kỳ, cấp liên khi, khu của nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tồn tại từ năm 1945 đến năm 1976” [33;403]
* C ơ c ấu tổ c hứ c c ủa Tr ung tâm Lư u tr ữ Quốc gia I I I
Theo Quyết định số 54/QĐ - TCCB ngày 26/6/1995 của Cục Lưu trữNhà nước thì Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III có các Phòng, Ban chức năngsau:
- Phòng Thu thập và Bổ sung
- Phòng Chỉnh lý
- Phòng Tổ chức sử dụng
- Phòng Thống kê và Công cụ tra cứu
- Phòng Quản lý kho tài liệu
- Xưởng Tu bổ phục chế
- Phòng Hành chính – Quản trị – Tổ chức
Để kiện toàn tổ chức bộ máy theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm,
Trang 34ngày 22/3/1999 Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Quyết định số
Trang 35Thu thập - BổChỉnh lý tài liệuPhòng Tổ chức Tin họcPhòng
sử dụng tài liệuquản tài liệuBảo
22/ QĐ - LTNN giải thể Phòng Thống kê và Công cụ tra cứu, bỏ Xưởng Tu
bổ phục chế tài liệu và thành lập Phòng Lưu trữ phim ảnh, ghi âm
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Trung tâm lưu trữ Quốc gia III bao gồm
sáu phòng chức năng là: Phòng Thu thập – Bổ sung, Phòng Lưu trữ Phim ảnh
ghi âm; Phòng Chỉnh lý tài liệu, Phòng Tổ chức sử dụng, Phòng bảo quản,
Phòng Hành chính – Quản trị – Tổ chức và Phòng Tin học
Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
* Độ i ngũ c á n bộ : Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được giao 50
biên chế, nhưng theo thống kê của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
đến hết tháng 8 năm 2003, Trung tâm thực có 41 cán bộ Trình độ chuyên
môn của cán bộ Trung tâm được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trình độ chuyên môn Số lượng
Trang 361.1.1.4 Trung tâm Bảo hiểm tài liệu lưu trữ Quốc gia: được thành lập
theo Quyết định số 52/2001 – QĐ - BTCCBCP ngày 06/9/2001 của Bộtrưởng, Trưởng ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
* Chức năng của Trung tâm: tiếp nhận, bảo quản an toàn, phục vụ khai
thác sử dụng tài lliệu bảo hiểm của các Trung tâm lưu trữ Quốc gia và các tổchức lưu trữ khác
*Các nhiệm vụ chính của Trung tâm
+ “Lập quy hoạch, kế hoach dài hạn và ngắn hạn về bảo hiểm tài liệu lưutrữ trình Cục duyệt;
+ Chủ trì và phối hợp với các Trung tâm lưu trữ Quốc gia và các đơn vịchức năng đề xuất với Cục trưởng Cục Lưu trữ nhà nước quyết định thành lậpnhững phông, những sưu tập tài liệu quý hiếm phải lập phông bảo hiểm;
+ Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ lập phông bảo hiểm tài liệu lưu trữ; tổchức khoa học, thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật để bảo quản an toàn, tổ chứckhai thác sử dụng có hiệu quả tài liệu của các phông bảo hiểm;
+ Quản lý cán bộ, công chức và tài sản kinh phí được Cục lưu trữ giaotheo chế độ hiện hành” [7; 36]
*Đội ngũ cán bộ Trung tâm: Theo thống kê của chúng tôi đến hết tháng
8 năm 2003, Trung tâm có 07 cán bộ, trong đó có 01 cán bộ có trình độ sauđại học, và 01 cán bộ có trình độ đại học về lưu trữ
Trình độ cán bộ cụ thể của Trung tâm được thê hiện qua biểu bảng sau:
Chuyên môn đào tạo Số lượng
Trung và sơ cấp
Trang 37- Lưu trữ 03
- Trình độ khác
1.2.2 Trung tâm Tu bổ phục chế tài liệu lưu trữ
Trung tâm Tu bổ phục chế tài liệu là một Trung tâm mới được thành lậptheo Quyết định số 63/2003/QĐ - BNV ngày 01/10/2003 của Bộ trưởng BộNội vụ Hiện nay, Trung tâm được hoạt động trên cơ sở tiếp quản về cơ sởvật chất, đội ngũ cán bộ của Xưởng Tu bổ phục chế tài liệu của Trung tâmlưu trữ Quốc gia III Chức năng của Trung tâm là tiếp nhận, tu bổ và phụcchế tài liệu lưu trữ theo yêu cầu nhiệm vụ của Cục Văn thư và Lưu trữnhà nước và các tổ chức lưu trữ khác có nhu cầu
Việc thành lập một Trung tâm Tu bổ phục chế tài liệu lưu trữ là cầnthiết vì tài liệu lưu trữ của nước ta hiện bị lão hoá nhanh do môi trường khíhậu nhiệt đới, nóng ẩm Trước đây, các đơn vị tu bổ phục chế được thành lập
ở rải rác tại các Trung tâm lưu trữ Quốc gia nên việc đầu tư thiết bị tu bổ phụcchế tài liệu không tập trung, thiếu đồng bộ, gây lãng phí, kém hiệu quả Trongnăm 2002, Chính phủ Nhật đã tài trợ 47 triệu Yên mua sắm các máy móc hiệnđại phục vụ công tác tu bổ và phục chế tài liệu Để phát huy tối đa các tínhnăng của máy móc và yêu cầu tu bổ phục chế tài liệu của các Trung tâm lưutrữ Quốc gia, cần phải thành lập một trung tâm tu bổ phục chế riêng Bêncạnh việc tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ, Trung tâm Tu bổ phục chế còn cónhiệm vụ tu bổ phục chế các sách, báo của các thư viện và các hiện vật củabảo tàng
1.2.3 Trung tâm Nghiên cứu khoa học
Tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu khoa học lưu trữ là Phòng Khoahọc Kỹ thuật thuộc Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm nghiên cứu khoa họcLưu trữ được thành lập theo Quyết định số 223/CT ngày 08.8.1988 của Chủtịch Hội đồng Bộ trưởng và ngày 29/9/1988 Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà
Trang 38nước đã ban hành Quyết định số 211/QĐ – TC quy định chức năng, nhiệm vụcủa Trung tâm như sau:
+ “Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc lĩnh vực khoa học,
kỹ thuật văn thư, lưu trữ và các ngành khoa học có liên quan
+ Nghiên cứu ứng dụng và triển khai các thành tựu khoa học và tiến bộ
kỹ thuật trong và ngoài ngành, kể cả quốc tế, vào các mặt hoạt động của côngtác lưu trữ trong phạm vi cả nước
+ Quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công tác tiên chuẩn hoá, đolường, chất lượng, sáng kiến, cải tiến trong ngành lưu trữ;
+ Xây dựng dự báo phát triển khoa học công nghệ, quản lý, tổ chức thựchiện công tác thông tin khoa học công nghệ và phục vụ tư liệu về nghiệp vụvăn thư lưu trữ;
+ Thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn thưlưu trữ [7; 26]
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm có:
1 Phòng Hành chính – Quản trị – Tổ chức;
2 Ban Quản lý khoa học kỹ thuật;
3 Ban Nghiên cứu khoa học,
4 Ban Hợp tác quốc tế,
5 Trung tâm thông tin tư liệu
Đội ngũ cán bộ của Trung tâm: Theo thống kê do Cục Văn thư Lưu trữ
Nhà nước cung cấp, đến tháng 8 năm 2003, Trung tâm được biên chế 12 cán
bộ nhưng thực có 11 cán bộ với trình độ cán bộ như sau
Trang 39- Đại học Sư phạm ngoại ngữ
- Đại học Tài chính
0101
1.2.4 Trung tâm Tin học: được thành lập theo Quyết định số 19/2002/
QĐ - BTCCBCP ngày 15/4/2002 của Bộ trưởng Trưởng ban Tổ chức Cán bộChính phủ Trung tâm Tin học là đơn vị sự nghiệp có chức năng giúp Cụctrưởng chỉ đạo, triển khai, ứng dụng và xây dựng dữ liệu thông tin theo cácnhiệm vụ của Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ nhànước)
Các nhiệm vụ chính của Trung tâm: “Lập kế hoạch ứng dụng công nghệthông tin hàng năm và kế hoạch dài hạn trình Cục Lưu trữ Nhà nước phêduyệt; xây dựng các phần mềm ứng dụng trong công tác văn thư, lưu trữ; xâydựng, phát triển và duy trì mạng lưới nội bộ của Cục Lưu trữ Nhà nước vàWebsite của ngành; tham gia bồi dưỡng, tập huấn kiến thức tin học cho cán
bộ, công chức của ngành lưu trữ; quản lý các thiết bị công nghệ thông tin củaCục Lưu trữ” „[7;44]
Hiện nay cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm:
- Phòng Công nghệ và Dữ liệu thông tin
- Phòng Hành chính – Quản trị
Biên chế cán bộ: Trung tâm có 01 giám đốc và 06 nghiên cứu viên Tất
cả các cán bộ của Trung tâm đều đã tốt nghiệp đại học về tin học Đó là mộtthế mạnh rất quan trọng của Trung tâm Nhưng cán bộ của Trung tâm lưu trữvẫn còn một hạn chế rất lớn đó là thiếu trình độ chuyên môn về lưu trữ
1.2.5 Tạp chí Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Tạp chí Văn thư và Lưu trữ nhà nước tiền thân là Tạp chí Lưu trữ ViệtNam Tạp chí đã trải qua một quá trình phát triển và thay đổi tên gọi: từ năm
1966 – 1969 là Nội san nghiên cứu Công tác Lưu trữ; từ năm 1970 – 1972 làTập san Công tác Lưu trữ Hồ sơ; từ năm 1973 – 1985 là Văn thư - Lưu trữ, từnăm 1986 đến 2003 là Tạp chí Lưu trữ Việt nam, tháng 12 năm 2003 Bộ
Trang 40trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 67/2003/QĐ - BNV đổi tên Tạp chí Lưu trữ Việt Nam thành Tạp chí Văn thư và Lưu trữ nhà nước.
Trong suốt gần 40 năm xây dựng và phát triển, Tạp chí luôn trung thànhvới tôn chỉ mục đích được giao, truyển tải đầy đủ các thông tin chủ yếu vềhoạt động của ngành đến với đông đảo bạn đọc trong cả nước và là diễn đànkhoa học của cán bộ lưu trữ Việt Nam
Đội ngũ cán bộ: hiện nay Tạp chí được biên chế 03 cán bộ bao gồm 01Tổng biên tập do Cục trưởng Cục Văn thư - Lưu trữ đảm nhiệm, 02 chuyênviên (trong đó 01 tốt nghiệp đại học lưu trữ , 01 tốt nghiệp đại học văn)
1.2.6 Các Trường đào tạo cán bộ lưu trữ
Hiện nay, trong hệ thống đào tạo cán bộ về lưu trữ, chúng ta có hệ đàotạo trung cấp, đại học và trên đại học Thế nhưng, nếu xét trong hệ thống các
cơ quan, tổ chức lưu trữ nhà nước thì hệ thống đào tạo đại học và trên đại họckhông nằm trong hệ thống này Nó thuộc hệ thống giáo dục đào tạo Quốc gia.Như vậy, xét trên hệ thống chính thức, cơ quan đào tạo trực thuộc Cục Vănthư và Lưu trữ nhà nước chỉ có Trường Trung học Văn thư Lưu trữ TW I vàTrường Trung học Văn thư Lưu trữ TW II
Tiền thân của Trường Trung học Văn thư Lưu trữ TW I là Trường Trunghọc Văn thư Lưu trữ, được thành lập theo Quyết định số 109/BT ngày18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng và Trường được đổi tên thànhTrường Trung học Lưu trữ và Nghiệp vụ Văn phòng I theo Quyết định số72/TCCP – TC ngày 25/4/1996 của Bộ trưởng Trưởng Ban Tổ chức – Cán bộChính phủ, kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2003, Trường lại được đổi tên thànhTrường Trung học Văn thư Lưu trữ TW I, theo Quyết định số 177/2003/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tiền thân của Trường Trung học Văn thư Lưu trữ TW II là Phân hiệuTrường Trung học Văn thư - Lưu trữ tại Thành phố Hồ Chí Minh được thànhlập ngày 30/4/1977 theo Quyết định của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Từ năm
1992, Phân hiệu được nâng cấp thành Trường Trung học Văn thư - Lưu trữ