1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx

232 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ Ở Việt Nam Và Những Giá Trị Lịch Sử - Văn Hóa
Tác giả Trần Văn Tùy
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Văn Liêm
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khảo cổ học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 23,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN VĂN TÙY CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ Hà Nội 2015 Đ[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN VĂN TÙY

CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN

HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN VĂN TÙY

CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học riêng của tôi Các kết quảnghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực, khách quan Những luậnđiểm mà luận văn kế thừa của những tác giả đi trước đều được trích dẫnnguồn chính xác, cụ thể

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Trần Văn Tùy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn tôi đã nhận được

sự quan tâm, động viên, giúp đỡ quý báu, có giá trị của nhiều tập thể, cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi VănLiêm - Thầy hướng dẫn khoa học đã chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài này Xin trân trọng cảm ơn tới các Thầy/Cô trong Bộ môn Khảo cổ học(Khoa Lịch sử - Trường ĐHKHXH và NV), các đồng nghiệp ở Viện Khảo cổhọc; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Hà Nội; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa và nhân dân các địaphương nơi có các di tích đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm

tư liệu phục vụ hoàn thiện luận văn

Cảm ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Bảo tàng Hà Nội - nơi tôiđang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi theo học và hoàn thànhchương trình

Ở mức độ nào đó luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mongđược Thầy/Cô, các anh chị giáo và các bạn đồng nghiệp tận tình giúp đỡ

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Trần Văn Tùy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết quả và đóng góp của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN ĐỒNG CỔ VÀ CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM 7

1.1 Lịch sử thờ thần Đồng Cổ qua các nguồn tư liệu 7

1.2 Tổng quan về các di tích thờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam 14

* Tiểu kết Chương 1 23

Chương 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU VÀ KHAI QUẬT KHẢO CỔ Ở CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ 24

2.1 Các di tích ở Thanh Hóa 24

2.1.1 Di tích Đền Đồng Cổ ở Đan Nê 24

2.1.2 Di tích đền Đồng Cổ ở Mỹ Đà 39

2.2 Các di tích ở Hà Nội 44

2.2.1 Di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã 44

2.2.2 Cụm di tích thờ thần Đồng Cổ ở Nguyên Xá 47

2.3 Dấu tích di tích thờ thần Đồng Cổ ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc 66

* Tiểu kết chương 2 67

Chương 3: CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ: NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ- VĂN HÓA 68

3.1 Hội thề Trung hiếu tại đền Đồng Cổ 68

3.1.1 Lịch sử hội thề 68

Trang 6

3.1.2 Phát huy hội thề Trung hiếu trong thời kỳ hiện đại 753.1.3 Giá trị lịch sử - văn hóa hội thề Trung hiếu 76

3.2 Những đề xuất về việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá của các

di tích thờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam 78

3.2.1 Thực trạng các di tích thờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam 783.2.2 Những quy định về bảo tồn, phát huy giá trị di tích 793.2.3 Những kiến nghị trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích 81

* Tiểu kết chương 3 84 KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC MINH HỌA

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

BQLDTDT : Ban Quản lý Di tích và Danh thắng

BTLSQG : Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

ĐVSKTT : Đại Việt sử ký toàn thư

NPHM : Những phát hiện mới

Nxb : Nhà xuất bản

SVHTTDL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UBND : Ủy ban Nhân dân

VKCH : Viện Khảo cổ học

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bảng 7: Thống kê mảnh gốm, sứ khai quật tại di tích miếu Đồng Cổ ở Nguyên

Xá Bảng 8: Thống kê hiện vật chất liệu sành khai quật tại di tích miếu Đồng

Trang 9

DANH MỤC BẢN VẼ, BẢN ẢNH VÀ BẢN DẬP HOA VĂN

Bản vẽ 6: Mặt chiếu đứng lò nung hố khai quật 07.MĐC.H2

Bản vẽ 7: Mặt cắt lò nung hố khai quật 07.MĐC.H2

Bản vẽ 8: Mặt cắt lò nung hố khai quật 07.MĐC.H2

Bản vẽ 9: Mặt bằng hố khai quật 07.MĐC.H6

Bản vẽ 10: Gạch thời Hán

Bản vẽ 11: Ngói thời Nguyễn

Bản vẽ 12: Mảnh tượng uyên ương thời Trần

Bản ảnh 1: Toàn cảnh di tích đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 2: Nghi môn đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 3: Tòa Tiền tế đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 4: Chính tẩm và Hậu cung đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 5: Chính tẩm đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 6: Kết cấu kiến trúc nhà Tiền tế đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 7: Bài trí đồ thờ ở Tiền đường đền Đồng Cổ ở Đan Nê

Bản ảnh 8: Trống đồng do quỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hóa cung đức

Trang 11

Bản ảnh 9: Bài vị thần Đồng Cổ

Bản ảnh 10: Mặt trống đồng Đông Sơn do nhân dân hiến tặng

Bản ảnh 11: Di tích văn hóa Đông Sơn ở hố H4

Bản ảnh 12: Mộ nồi vò văn hóa Đông Sơn

Bản ảnh 27: Ngói diềm mái

Bản ảnh 28: Ngói trang trí hoa chanh

Bản ảnh 29: Khối trang trí tượng rồng

Bản ảnh 30: Khối trang trí tượng chim

Bản ảnh 31: Bình vôi

Bản ảnh 32: Mảnh trôn bát sứ men trắng hoa lam có đề chữ “Đại Minh Thành Hoá niên chế”

Bản ảnh 33: Lư sành

Bản ảnh 34: Tiền đồng niên hiệu Chính Hoà thông bảo

Phụ lục 4.2: Di tích đền Đồng Cổ ở Mỹ Đà (xã Hoằng Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa)

Bản ảnh 35: Toàn cảnh di tích đền Đồng Cổ ở Mỹ Đà

Trang 13

Bản ảnh 44: Bài trí gian giữa nhà tiền tế

Bản ảnh 45: Ban thờ Phương Dung công chúa

Bản ảnh 46: Bài trí hậu cung

Bản ảnh 47: Chi tiết kết cấu mái hậu cung

Bản ảnh 48: Phù điêu mặt trống đồng

Bản ảnh 49: Sắc phong đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786)

Bản ảnh 50: Sắc phong thời Nguyễn (năm Khải Định thứ 9, 1925)

Phụ lục 4.3: Di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã (đường Bưởi, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội)

Bản ảnh 51: Nghi môn di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã

Bản ảnh 52: Phương đình Đồng Cổ ở Đông Xã

Bản ảnh 53: Đền Đồng Cổ ở Đông Xã năm 1993

Bản ảnh 54: Nghi môn đền Đồng Cổ ở Đông Xã năm 1993

Bản ảnh 55: Trang trí trên mái phương đình

Bản ảnh 56: Trang trí đầu đao phương đình

Bản ảnh 57: Trang trí tượng Nghê trên mái phương đình

Bản ảnh 58: Cấu kiện kiến trúc phương đình

Trang 14

Bản ảnh 64: Bài trí ban thờ tiền tế

Bản ảnh 65: Long ngai, bài vị trong hậu cung

Bản ảnh 66: Bài trí long ngai, bài vị tại hậu cung năm 1993

Bản ảnh 67: Trống

Bản ảnh 68: Trống đồng phục chế

Bản ảnh 69: Chi tiết mặt trống

Bản ảnh 70: Hương án tại gian tiền tế

Bản ảnh 71: Hương án tại hậu cung

Bản ảnh 72: Sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924)

Phụ lục 4.4: Di tích miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá (phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Bản ảnh 73: Tam quan di tích miếu Đồng Cổ Nguyên Xá

Bản ảnh 74: Bình phong

Bản ảnh 75: Nhà tiền tế

Bản ảnh 76: Hậu cung

Bản ảnh 77: Trang trí mái nhà tiền tế

Bản ảnh 78: Trang trí đầu hồi nhà tiền tế

Bản ảnh 79: Chi tiết vì nóc nhà tiền tế

Bản ảnh 80: Vì nách nhà tiền tế

Bản ảnh 81: Vì nóc nhà giải vũ

Bản ảnh 82: Hoành phi, cửa võng nhà giải vũ

Bản ảnh 83: Hoành phi: “Linh Từ Quốc lễ”

Trang 15

Bản ảnh 93: Mộ vò (07.MĐC.H.M3)

Bản ảnh 94: Lò nung phát hiện trong hố khai quật H2

Bản ảnh 95: Khoang sấy vật liệu

Bản ảnh 111: Mảnh gạch trang trí hoa cúc dây thời Lê

Bản ảnh 112: Ngói mũi hài thời Lê

Bản ảnh 113: Ngói ống thời Lê

Bản ảnh 114: Mảnh ngói thời Nguyễn

Bản ảnh 115: Mảnh vỡ tượng uyên ương thời Trần

Bản ảnh 116: Phế phẩm lò nung thời Lê

Bản ảnh 117: Mảnh gốm Đông Sơn - giai đoạn muộn

Trang 16

Bản ảnh 125: Nghi môn đình Nguyên Xá

Bản ảnh 126: Nhà tiền tế

Bản ảnh 127: Bài trí gian giữa nhà tiền tế

Bản ảnh 128: Cuốn thư ở đại bái

Bản ảnh 129: Phiên bản Trống đồng Đông Sơn tại hậu cung

Phụ lục 4.6: Di tích đình Ngọa Long (phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm,

Bản ảnh 135: Bài trí gian giữa đại đình

Bản ảnh 136: Bia đá niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 4 (1780)

Phụ lục 4.7: Di tích đình Văn Trì (phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Bản ảnh 146: Đầu dư nghệ thuật (phong cách thế kỷ 19)

Bản ảnh 147: Bài trí gian giữa tòa đại đình

Bản ảnh 148: Áo, mũ và long ngai, bài vị thần Đồng Cổ

Bản ảnh 149 - 150: Sắc phong cho thần Đồng Cổ ở đình làng Văn Trì

Phụ lục 4.8: Dấu tích di tích thờ thần Đồng Cổ ở khu vực Rừng Ma Ao Dứa (thuộc rừng Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)

Trang 18

Bản ảnh 151 - 152: Khu vực phát hiện dấu tích di tích thờ thần Đồng cổ

Bản ảnh 153: Dấu tích nền móng di tích cũ

Bản ảnh 154: Một số di mảnh vỡ di vật

Bản ảnh 155: Hiện vật chất liệu sành

Bản ảnh 156: Mảnh vỡ lon sành

Phụ lục 4.9: Hội thề Trung hiếu ở Hà Nội

Bản ảnh 157: Đọc thệ thư khai hội (di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã)

Bản ảnh 158: Đông đảo nhân dân tham gia khai hội (di tích đền Đồng Cổ ởĐông Xã)

Bản ảnh 159: Múa “xinh tiền” (di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã)

Bản ảnh 160: Nghi thức “dâng đăng” (di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã)

Bản ảnh 161: Các nghi thức cầu phúc (di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã)

Bản ảnh 162: Các cụ cao tuổi tham gia dự lễ (di tích đền Đồng Cổ ở ĐôngXã) Bản ảnh 163: Nghi thức tế thánh thần (di tích miếu Đồng Cổ ở NguyênXá) Bản ảnh 164: Nghi lễ rước kiệu (di tích miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá)Bản ảnh 165: Múa “Xinh tiền” (di tích miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá)

Bản ảnh 166: Múa rồng (di tích miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá)

Phụ lục 5: Bản dập hoa văn

Bản dập 1: Hoa văn trang trí trên đồ gốm

Bản dập 2: Hoa văn trên trang trí kiến trúc thời Hán

Bản dập 3: Hoa văn trên trang trí kiến trúc thời Lê

Bản dập 4: Hoa văn trên gốm giai đoạn Đông Sơn muộn

Trang 19

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trống đồng - di vật tiêu biểu, đặc sắc và điển hình của văn hóaĐông Sơn, nền văn hóa có nguồn gốc bản địa, phát triển cực thịnh trong thời đạikim khí ở các tỉnh Bắc Bộ và một số tỉnh Bắc Trung Bộ, có mối giao lưu, tầmảnh hưởng, tác động đến các văn hóa đồng/lịch đại trong lãnh thổ Việt Nam

và cả khu vực Đông Nam Á thời cổ Người Việt cổ thời Đông Sơn - chủ nhâncủa trống Đông Sơn đến cư dân Việt hiện đại vẫn quan niệm, trống đồng là vậtthiêng, như một “vũ trụ”, do vậy việc tôn thờ thần Trống đồng đã trở thành tínngưỡng dân gian gắn liền với “tâm thức” của người Việt Hiện nay, chúng

ta biết tới bốn di tích/cụm di tích thờ thần Đồng Cổ, được phân bố ở các địaphương:

Thanh Hóa: gồm di tích Núi và Đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã YênThọ, huyện Yên Định và di tích đền/đình Đồng Cổ ở thôn Mỹ Đà, xã HoằngMinh, huyện Hoằng Hóa

Hà Nội: gồm di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã (nay thuộc cụm 4,phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, trước kia còn gọi khác là “Kẻ Bưởi”), vàcụm di tích miếu Đồng Cổ, đình Nguyên Xá, đình Ngọa Long và đình VănTrì ở phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm

Ngoài ra, năm 2009, BQLDTDT tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành khảo sát tạikhu rừng Ma Ao Dứa (thuộc rừng Quốc gia Tam Đảo) đã phát hiện dấu tíchnền của di tích thờ Thần Đồng Cổ, đáng chú ý phát hiện một số di vật và kiếntrúc có niên đại từ thời Lý - Trần sang hậu Lê

Trải qua thời gian tồn tại, hiện nay các di tích đều đã được tôn tạokhang trang, nên rất khó để hình dung diện mạo từ tư liệu qua các cuộc khảosát, khai quật khảo cổ học, những ghi chép trong sử sách và lưu truyền trongdân gian

1.2 Năm 2007, di tích Núi và Đền Đồng Cổ ở Đan Nê (tỉnh Thanh

Trang 20

và nghiên cứu Kết quả khai quật này đã cung cấp nhiều tư liệu mới để cónhững hiểu biết sâu hơn về các di tích thờ thần Đồng Cổ, về vị thế và vai tròcủa loại hình di tích này trong lịch sử.

1.3 Các di tích thờ thần Đồng Cổ gắn liền với hội thề Trung Hiếu, mộtnghi lễ mang tính Quốc gia của các triều đại độc lập tự chủ Việt Nam Vì vậyđây là những di tích lịch sử - văn hóa có giá trị đặc biệt, thể hiện rõ tâm linhhướng thiện và tâm thức về nguồn, vọng ngưỡng lòng trung thành, yêu nướccủa người Việt Nam, phát huy những giá trị nhân văn tiếp nối truyền thốngthượng võ của dân tộc ta Hiện nay, trong các di tích này còn lưu giữ rất nhiềuthần tích, sắc phong của các triều đại

1.4 Năm 2013 - 2014, tác giả Luận văn có cơ hội tiếp xúc với hệ thống

tư liệu về các di tích thờ Thần Đồng Cổ ở Việt Nam và đã cùng với các đồngnghiệp bước đầu khảo sát, tìm hiểu về các di tích này Từ những nhận thứcqua tìm hiểu, nghiên cứu đó, tác giả đã bước đầu khái quát được một số nétđặc trưng về di tích, di vật cũng như vai trò quan trọng của các di tích thờthần Đồng Cổ trong lịch sử các triều đại độc lập tự chủ Việt Nam

Những điều trình bày trên đây là lý do để tác giả mạnh dạn chọn đề tài

“Các di tích thờ Thần Đồng Cổ ở Việt Nam và những giá trị lịch sử - văn hóa” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Khảo cổ học.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài: “Các di tích thờ Thần Đồng Cổ ở Việt Nam và những giá trị lịch sử - văn hóa” chúng tôi hướng tới các mục tiêu sau:

- Tập hợp, hệ thống hoá tư liệu và kết quả nghiên cứu về các di tích thờthần Đồng Cổ, đặc biệt là những di tích đã khảo sát, khai quật và nghiên cứukhảo cổ học nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin đầy đủ,khách quan về các di tích thờ thần Đồng Cổ Trên cơ sở đó, luận văn sẽ tiếnhành phân tích tư liệu về di tích, di vật kết hợp với các nguồn tư liệu ghi chéptrong chính sử, các nguồn tư liệu trong dân gian để tìm hiểu sự hình thành,tồn tại của loại hình di tích này trong lịch sử

Trang 21

- Tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của hội thề Trung hiếu qua các triều đạiphong kiến độc lập tự chủ ở Việt Nam đặc biệt là ở giai đoạn Lý - Trần khihội thề trở thành nghi lễ mang tính chất Quốc gia.

- Từ thực trạng di tích, di vật đề xuất những giải pháp về quy hoạch, bảo

vệ, bảo tồn, phát huy giá trị và quảng bá các di tích thờ thần Đồng Cổ ở ViệtNam

Trong luận văn, tác giả cố gắng tổng hợp, nghiên cứu và đưa ra cái nhìntổng thể về lịch sử thờ thần Đồng Cổ và các di tích thờ Thần Hy vọng luậnvăn sẽ có những đóng góp ít nhiều vào công tác tổng hợp, nghiên cứu trốngĐông Sơn, đặc biệt ở khía cạnh lịch sử - văn hóa

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về các di tích thờ thần Đồng

Cổ của các học giả Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu ởkhía cạnh đơn lẻ về di tích hoặc thần tích của thần Đồng Cổ

- Về các di tích ở Thanh Hóa: đó là một số bài nghiên cứu về trốngđồng hay ghi chép về chiếc trống đồng đang được thờ trong đền Đồng Cổ

Đan Nê như: “Thần trống ở Đan Nê” của V.Goloubew in trong Tạp chí của trường Viễn Đông bác cổ (Hà Nội, 1933, tr.345);“Một bài văn đời Tây Sơn nói về trống đồng, khắc trên biển gỗ, tại miếu thờ thần núi Đồng Cổ (Thanh Hóa)” của Trần Văn Giáp và Nguyễn Duy Hinh (Tạp chí Khảo cổ học số 5-6, tháng 6-1970); “Trống đồng trong sử sách” của Nguyễn Duy Hinh (Tạp chí Khảo cổ học số 13, năm 1974), “Phát hiện về một đền thờ thần Đồng Cổ ở xứ Thanh”của Đỗ Quang Trọng, Lê Thị Phơ (1998)

- Các di tích ở Hà Nội: gồm có các nghiên cứu về di tích thờ Thần

Đồng Cổ như: “Thăng Long - Hà Nội” của Lưu Minh Trị, Hoàng Tùng (1999), “Hà Nội nghìn xưa” của Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (1975), Đình và Đền Hà Nội” của Vũ Thế Long (2005), “Hội làng Hà Nội” của Lê

Trung Vũ (2006), Nguyễn Duy Hinh và Nguyễn Vinh Phúc với các nghiên

Trang 22

Ngoài ra, còn có một số nguồn tư liệu nghiên cứu khác như: báo cáokhai quật di tích Núi và đền Đồng Cổ Đan Nê của Viện Khảo cổ học (2007),Báo cáo khai quật di tích Miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá của Bảo tàng Lịch sửQuốc gia Việt Nam (2008), các báo cáo kiểm kê, hồ sơ xếp hạng di tích củaBQLDTDT Hà Nội và Thanh Hóa.

Có thể thấy, các nghiên cứu đi trước còn thuần túy là thống kê, giới thiệu

về di tích, lễ hội và đời sống tín ngưỡng tôn giáo một cách riêng lẻ của từng ditích Vấn đề nghiên cứu, tập hợp các di tích thành hệ thống còn bỏ ngỏ Trongluận văn của mình, tác giả đã thừa kế một số kết quả nghiên cứu của các tác giả

đi trước để tập hợp, nghiên cứu thành hệ thống đối với các di tích thờ ThầnĐồng Cổ ở Việt Nam, kết hợp với công tác nghiên cứu tại thực địa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các di tích, di vật trong các

di tích thờ thần Đồng Cổ

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn gồm:

- Các báo cáo điều tra, khai quật khảo cổ học, các công trình nghiêncứu đã được công bố trên các sách và tạp chí chuyên ngành về khảo cổ học vàmột số sách khoa học về: lịch sử, tôn giáo, văn hóa, địa lý có liên quan đếnkhu vực nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các di tíchthờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam (bao gồm các địa phương Thành phố Hà Nội,tỉnh Thanh Hóa và Vĩnh Phúc)

Về mặt thời gian: tập trung khảo sát về các di tích thờ thần Đồng Cổ ởViệt Nam ở thời điểm hiện tại tức là những gì còn đang hiện hữu Bên cạnh

đó, có sự liên hệ với các thời kỳ trước để làm rõ quá trình hình thành, tồn tại

và phát triển thông qua các nguồn tư liệu còn lưu trữ

Trang 23

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống như:thống kê, phân loại loại hình học, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh di tích, di vật điểnhình, phân tích so sánh di tích, di vật khảo cổ học; Triệt để tôn trọng phươngpháp địa tầng trong điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học Đây là cácphương pháp chính của luận văn

5.2 Sử dụng các phương pháp đa ngành như: lịch sử kiến trúc, lịch sử

mỹ thuật, dân tộc học, hán nôm, địa lý, địa chất Ngoài ra, trong một sốtrường hợp cụ thể luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh loạihình các di tích và di vật để thấy được tính đồng đại và lịch đại của các di tíchkhảo cổ học trong từng di tích, từng vùng

6 Kết quả và đóng góp của luận văn

Luận văn là chuyên khảo đầu tiên về các di tích thờ thần Đồng Cổ ởViệt Nam

- Đóng góp trước hết của luận văn là tập hợp, hệ thống hoá và phân loạimột cách đầy đủ về các di tích và di vật Thông qua phân tích, so sánh và xử

lý tư liệu, luận văn phác thảo quá trình hình thành và tồn tại của các di tíchthờ thần Đồng Cổ

- Tìm hiểu sự hình thành, nội dung, ý nghĩa của Hội thề Trung hiếu quacác triều đại phong kiến độc lập tự chủ ở Việt Nam, đặc biệt là trong các triềuđại Lý - Trần

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp và góp thêm tư liệu choviệc nghiên cứu, tìm hiểu về tín ngưỡng thờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam và lễhội được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ Hội thề Trung hiếu năm xưa vẫnđược diễn ra ở các di tích

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chialàm 3 chương:

Trang 24

Chương 1 Tổng quan về tín ngưỡng thờ thần Đồng Cổ và các di tích

Trang 25

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN ĐỒNG

CỔ VÀ CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT

NAM

1.1 Lịch sử thờ thần Đồng Cổ qua các nguồn tư liệu

Trống đồng là hiện vật đặc trưng và tiêu biểu cho văn hóa Đông Sơncủa người Việt cổ Những chiếc trống này trong suốt hàng nghìn năm đã làbáu vật tượng trưng cho tinh hoa văn hóa cũng như ý chí quật cường của dântộc ta Trong những nghi lễ trang nghiêm cũng như dịp hội hè, tiếng trốngđồng trầm hùng vang vọng tạo ra một không khí tôn nghiêm, làm tăng lòng tựhào dân tộc và làm cho kẻ thù phải khiếp sợ Vì vậy, từ lâu đời, tục thờ trốngđồng đã trở thành một tín ngưỡng dân gian Thần Đồng Cổ (tên gọi khác củaTrống đồng) là vị thần tối linh có công trong việc giữ yên bờ cõi, ổn định vàtrường tồn của đất nước, dân tộc từ thời các vua Hùng Công tích của thần đã

được lưu truyền trong các tác phẩm: “Đại Việt sử ký Toàn thư”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Việt Điện U Linh”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Đại Việt thông sử”, “Dư địa chí” “Tam Thai sơn linh tích”

Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “núi Đồng Cổ có tên nữa là núi Khả Lao ở cách huyện Yên Định 16 dặm về phía tây; núi nổi lên ba ngọn đá cao thấp liền nhau, như hình dáng ba vì sao, nên lại gọi là núi Tam Thai Phía

tả có đền thần, trong đền có một cái trống bằng đồng, nặng chừng 100 cân, đường kính phỏng 2 thước 1 tấc, chiều cao phỏng 1 thước 5 tấc, một mặt trống rỗng, một mặt có chín vòng tròn, ở giữa mặt trống có cái rốn tròn, chung quang lưng trống là hình nồi văn chữ “vạn”, bên cạnh có văn chữ như hình văn tự khoa đẩu Tương truyền cái trống này chế từ thời Hùng Vương” [66, tr 297].

Sách “Lĩnh Nam chích quái” cũng ghi lại: minh chủ cảm ứng linh đức

Trang 26

Đến năm 983 (Tống Thái Bình hưng quốc năm thứ 8), Thập đạo tướngquân Lê Hoàn đem quân đi đánh giặc Chiêm ở phía Nam Khi đến sông BàHòa (thuộc huyện Tĩnh Gia ngày nay) trời nổi mưa to gió lớn, thuyền bèkhông đi được, Lê Hoàn phải cho dừng binh chờ đợi Thần Đồng Cổ báomộng xin giúp sức Tỉnh dậy, Lê Hoàn liền chắp tay lễ bái thần, bỗng nhiêntrời quang mây tạnh, sóng gió trở lại bình yên, thuyền bè đi lại dễ dàng LêHoàn cho tiến quân gấp, bất ngờ đánh vào trại địch, trận này quân ta thắnglớn Khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, ông đã về đền Đồng Cổ ở làng Đan Nêlàm lễ tạ thần [9, tr 136].

Sách “Tam Thai sơn linh tích” lưu tại đền Đồng Cổ ở Đan Nê ghi: vào

thời Hùng Vương, nhà vua đi dẹp loạn Hồ Tôn xâm lược ở phương Nam Đạiquân theo đường núi tiến đến chân núi Khả Lao (nay là làng Đan Nê, xã YênThọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) nghỉ quân ở đó Đêm đến, nhà vuamộng gặp thần núi này xin có trống đồng, dùi đồng và giúp nhà vua đánhgiặc Nhà vua tỉnh dậy làm theo lời Khi đối trận với giặc, nghe trên không âmvang tiếng trống, tiếng kiếm kích, quân giặc sợ hãi bỏ chạy Khi thắng trận trở

về, vua Hùng phong cho thần núi Khả Lao là “Đồng Cổ Đại vương”, cho xâymiếu thờ thần Đồng Cổ để nhớ công lao của thần, lại cho đúc trống đồng,ngựa đồng để thờ [37, tr 30]

Thần tích ở Miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá chép rằng: do thần linh thiêngnên nghĩa sĩ Thanh Hóa đến Mê Linh để tụ nghĩa dưới cờ của Hai Bà Trưngcũng đã rước thần đi để phù trợ Khi dẹp xong giặc, họ trở về đất Nguyên Xámến cảnh đẹp nơi đây, nên đã ở lại sinh cơ lập nghiệp và lập miếu thờ thầnnúi Đồng Cổ Đến thời Lý Thái Tổ, từ kinh đô Thăng Long vua đi kinh lý đếnngã tư Canh, voi cắm ngà không đi, vua sai người đi xem có sự linh thiêngnào thấy có Miếu Đồng Cổ Nguyên Xá Vua cử người chiêm bái, voi lại điđược Từ đó nhà vua thường về đây cầu nguyện [39]

Trang 27

* Thời nhà Lý: Thái tử Lý Phật Mã vâng lệnh vua cha là Lý Thái Tổ

(Lý Công Uẩn) đem quân đi dẹp giặc Chiêm Thành ở phía Nam (năm 1020).Khi đến bến Trường Châu dưới chân núi Tam Thai đóng quân tạm nghỉ ởngôi đền cổ bên núi, trong đền thờ có một trống đồng và 2 con ngựa bằngđồng Canh Ba đêm đó, trong cõi mông lung, Thái tử chợt thấy một dị nhâncao 8 thước mày râu sắc nhọn, khoác chiến bào, tay cầm binh khí đứng trước

Thái tử mà tâu rằng: “Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin ngài đi đánh giặc, tôi xin theo giúp” Thái tử vỗ tay khen ngợi và tỉnh giấc Hôm sau giao trận, quả

nhiên thắng lớn Lúc khải hoàn về qua bến Trường Châu, Thái tử đừng chânvào đền lễ tạ thần và xin được rước thần về Kinh đô giữ nước hộ dân Cònđang băn khoăn chưa biết chọn nơi nào mà xây cho được tốt lành, thì ngay

đêm ấy Thái tử lại được thần báo mộng “xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, sau chùa Thánh Thọ”, Thái tử theo lời, cho hưng công xây dựng,

không bao lâu đền xây dựng xong (nay thuộc phố Thụy Khê, phường Bưởi,thành phố Hà Nội) [41]

Khi Lý Thái Tổ qua đời (1028), Thái tử lên ngôi Hoàng đế, tức là LýThái Tông, thần lại báo mộng là “Ba vị vương em vua (Vũ Đức, Đông Chinh,Dực Thánh) có âm mưu khởi loạn để giành ngôi, xin nhà vua kịp đề phòng”.Tỉnh giấc, đến sáng mới thấy việc xảy ra như lời thần báo, nhà vua liền sai LêPhụng Hiểu chế ngự, việc trong nhà dẹp yên Vua xuống chiếu phong thần là

“Thiên hạ minh chủ”

Về sự kiện này, thần tích làng Đông Xã còn lưu giữ cũng ghi lại: Thầnvốn là tinh túy được kết tinh từ khí hạo thiên trên núi Đồng Cổ Xưa khi LýThái Tông làm Thái tử, Chiêm Thành từ bỏ lễ tiết, bề tôi bị xâm lấn cướp bóccác quận, bên ải biên thư cấp báo Thái Tổ bèn xuống chiếu đình nghị TháiTông làm Bình Nam đại Đô đốc, tấn phong làm Khai Hoàng Vương, dẫn đầu

48 vị Đại tướng, 168 doanh sĩ tốt, thủy bộ hơn 10 vạn, hàng trăm ngựa chiến,

3000 chiến thuyền, đội quân dũng mãnh xuất phát từ trạm Hoàng Mai, đến

Trang 28

thì tới Nam Tương tức ở Châu Thành thì xin nghỉ lại, ở những nơi quan quân

đi qua nhân dân địa phương đều đã chuẩn bị tiếp đón và gửi tặng lễ vật Đêm

ấy, quãng canh Ba, khi Đế ngồi ngủ trong trướng mộng thấy một một ngườidáng hình vạm vỡ, thân mang áo ra trận, tay cầm bảo kiếm nói với vua rằng:mặc áo giáp tức là sơn thần núi Đồng Cổ, nay nghe Thánh giá đi chinh chiếnphương Nam, nguyện xin được theo để giết giặc lập công Đế nghe lời nóiquả quyết bèn đồng ý cho tòng quân Lát sau Đế tỉnh mộng hồi tưởng lại sựviệc bèn sai viết bài vị rồi đặt ở trong xe vàng thờ phụng rồi đi, sau đó quảnhiên thắng trận, Đế vui mừng khôn xiết về sự linh nghiệm của Thần Vàongày khải hoàn, Đế muốn tìm đất lập đền thờ nhưng chưa có dịp Trù trừ đếnhơn tháng trời, chuẩn bị tài lực đầy đủ mà chưa quyết đoán Bấy giờ cóngười cung thiếp họ Vệ là người hiền đức nên thường được Đế sủng ái, thấy

Đế có ý do dự, nhân đó tâu dưng rằng: đọa trời sáng tỏ thì thiên địa hội hợptốt lành, âm đức của đất khiến quỷ thần đâu ra đó, chính là âm dương hợpmột đức mà thành linh cảm đến thiên hạ quỷ thần Đó chính là lẽ tự nhiênvậy Thiếp nghe rằng trước kia thần đã có công phù giúp, nhiều lần đã hiểnhiện rõ ràng tại sao lại không làm rõ linh thích, sau này án khoa mà làm.Tốt nhất ngầm xin với Thần dựa vào lời xin đó để giải quyết hoài nghi, loại

bỏ ưu phiền và do dự Đế thấy lời thưa của người thiếp có lý bèn ban thưởngcho bà 1 chiếc áo quý với 500 mét lụa, rồi phụng mệnh, thành kính sửasoạn đầy đủ hương đèn khấn xin với thần Đêm ấy, Đế mơ thấy một ngườimặc chiếc áo có thắt lưng rất rộng, mắt sáng mày dày, tướng mạo phong nhãbước ra từ bức tường đến trước mặt vua khấu kiến, vua hỏi nguyên cớ làmsao thì người ấy thưa rằng: Thần là Thần Đồng Cổ, (mạo muội) thưa rằngtới nay chưa có một nơi nào ổn định do Thánh thượng ban cho, Thần xinđược ở phía Nam bờ ruộng bên phải trong thành, phía sau chùa Thánh Thọ,

đó là nơi ở trước đây của Thần, không dám mong gì hơn, nếu được xin mộtlòng đi theo phù giúp Thánh thượng Đế bàng hoàng tỉnh giấc y theo lời cầukhẩn của Thần, mệnh cho bộ Công cắt cỏ dọn dẹp xây dựng một ngôi đềnlớn, Thần vị của Thần cũng được rước về thờ tại đây [41]

Trang 29

Theo “Sự tích tôn thần bản miếu” lưu giữ tại đền Đồng Cổ ở Mỹ Đà do

Hàn lâm viện Đồng các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm Cảnh Thống thứ 5(1502) cho biết: trong lần Thái tử Lý Phật Mã dẫn quân đi đánh ChiêmThành, khi đi qua địa giới trang Mỹ Cụ, huyện Cổ Đằng, phủ Hà Trung (nay

là làng Mỹ Đà, xã Hoằng Minh, huyện Hoằng Hóa) thần Đồng Cổ đã linh ứngphù trợ Sau khi bình được giặc, Thái tử khao thưởng ba quân tướng sỹ Khilên ngôi vua đã lệnh cho đình thần đem sắc chỉ về trang Mỹ Cụ truyền chodân dựng đền thờ trên chỗ đất hoa sen xưa từng là nơi lập đàn tế làm nơi

hương khói phụng thờ, gọi là Liên hoa linh từ Lại cấp cho dân trang 70 quan

tiền để làm tiền công quỹ hương khói Còn cấp cho dân trang 30 quan để làmtiền công quỹ sửa sang đền miếu Ngoài ra còn miễn việc binh lương phu dịchtrong 3 năm Ban phong mỹ tự cho thần là “Thượng đẳng Phúc thần”, sắc ghi:

“Bản cảnh thành hoàng Bảo Hựu, hiển ứng Thượng đẳng Phúc thần Đạivương, cho phép trang Mỹ Cụ, huyện Cổ Đằng, phủ Hà Trung, trấn ThanhHóa được làm dân hộ nhi, phụng thờ thần hương hỏa muôn đời” [46]

* Thời nhà Trần: Năm Kiến Trung thứ 2 (1226) vua Trần Thái Tông

giữ theo lệ cũ của nhà Lý, hàng năm cứ đến ngày mùng 4 tháng Tư NămTrùng Hưng thứ nhất (1285), vua Trần Nhân Tông ra sắc phong cho thần là

“ Linh ứng Đại Vương” năm thứ tư (1288) phong hai chữ “Chiêu Cảm” [37].

Năm Hưng Long thứ 21 (1313), vua Trần Anh Tông phong 2 chữ “BảoHựu” vì có công phù hộ [37]

* Thời nhà Hậu Lê: Khi Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh, một lần

hành quân qua trang Mỹ Cụ, huyện cổ Đằng (xã Hoằng Minh, huyện HoằngHóa ngày nay) Lê Lợi vào đền thờ thần núi Đồng Cổ mật đảo Cuối canhNăm đêm ấy, bỗng thấy trong đền sáng rực huy hoàng Rồi bỗng có tiếng sấm

nổ rất lớn Lê Lợi cho đó là sự huyền thông linh dị, bèn làm lễ trước đền khấnrằng: “Tôi là người nhà Lê, khởi nghĩa dẹp loạn giặc Minh, thân hành cầu xin

trời đất bách thần ám phù trợ giúp” Khấn xong Lê Lợi cất binh đi dẹp giặc.

Trang 30

Quả nhiên được linh âm phù, thắng trận Lê Lợi cho kéo quân khải hoàn Khi

đi qua đền thiêng của bản trang cũng làm lễ tạ trước đền Lê Lợi lại cấp chodân trang 30 quan tiền làm công quỹ, hàng năm quốc tế hai kỳ Xuân Thu, lạiban phong Thượng đẳng Phúc thần muôn đời được thờ cúng [46]

Tháng 10 năm đầu Hồng Đức (1470), vua Lê Thánh Tông di dẹp loạnphương Nam, khi đi qua đền Đồng Cổ ở Đan Nê sai quan quân làm lễ cúng tế.Khi đối diện với giặc như ẩn hiện âm binh giúp đỡ, dẹp xong giặc trở về, vuaphong thần là “Đồng Cổ điện chủ minh đại vương” [37]

Năm 1533, quân Mạc theo cửa biển Thần Phù tiến đánh dọc sông ĐạiLại (sông Lèn) chiếm các lộ An Ninh, An Định Lúc này quân thuyền của vua

Lê đóng ở thượng lưu sông Mã (đoạn sông Mã này còn gọi là sông Lễ) quânMạc ngày càng tiến đến gần bỗng nhiên có ba hồi trống rung lên nghe rất lạ.Không phải tiếng trống da, lại nghe được cả tiếng người nói, tiếng gươmkhua, tiếng chân ngựa, làm cho quân Mạc sợ hãi rút về cố thủ tại khúc sôngNgoặt (gần núi Kim Sơn) Thấy vậy sáng hôm sau quân vua Lê giương buồmthúc thuyền tiến đánh, quân Mạc bị thua to phải rút chạy Giặc tan, nhà vuasai viên chủ tướng đi dò xét quanh vùng, mới biết tiếng trống đêm qua làtiếng trống được phát ra từ trong đền Đồng Cổ núi Khả Lao [37]

Đến năm Gia Thái thứ 4, Bính Tý (1576), Mạc Kính Điển đem đại quânđánh chiếm đất Thanh Hóa, tiến vào huyện Thụy Nguyên, Lam Giang, saiMạc Ngọc đánh dọc sông Đồng Cổ thuộc huyện Yên Định [37]

Tháng 8 năm Gia Thái thứ 5 (1577), Mạc Kính Điển theo dọc sông Mãtiến đánh Đồng Cổ, Hà Đồ bị quân vua Lê chém lăn từ trên mình ngựa xuống

mà chết Quân Mạc một lần nữa bị thua to, buộc hai bên phải ở vào thế cầm

cự Đêm sau, vua Lê được thần thác mộng “Xin giúp uy phá giặc” Đến ngàygiao chiến, quân thuyền của hai bên sắp gặp nhau bỗng sóng to, gió mạnh nổilên ầm ầm, quân vua Lê tiến đánh rất hăng, quân Mạc không cự nổi phải bỏchạy, sắc phong có nêu: “Sóng gió nổi khí thiêng trên sông giúp lớn, ba quân

Trang 31

chiến thắng” Về sau, triều đình nhà Lê Trung Hưng sai quan tu sửa đền thờ

và miễn giảm cho dân xã các việc quân để thờ phụng ở đền, đáp công giúpnước của thần [37]

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cụ cao niên trong làng

kể lại: Cứ vài ba năm lại có một cái tán vàng hiện ra ở quán Triều Thiên,ban ngày mới lặn Kẻ xa, người gần đến xem như mắc cửi Quan địaphương đến xét nghiệm đặt lễ tế Lại có một buổi sắp chiều có mây mù kéođến đen kịt phủ khắp trên ngôi đền và ba ngọn núi, rồi gió mưa ầm ầm nổilên trong gang tấc không nhìn thấy gì cả, nhưng ở các làng trong vùng,người ta nhìn thấy một con rồng đen uốn mình từ trên trời trườn xuống đền.Sáng hôm sau, người làng đổ ra xem, thấy có một dấu lớn từ cửa thứ nhất

đi qua sân đền thờ đến trước cửa đền đều in rõ vây và móng của rồng.Quan địa phương tới xét nghiệm, tâu lên nhà vua Từ đó, mỗi khi trời hạnhán, các quan cùng dân làng làm lễ cầu mưa đều ứng nghiệm [45]

Qua trên thấy rằng: Thần Đồng Cổ đã phù trợ giúp các triều vua đánhgiặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn như: giúp vua Hùng đánh thắng giặc HồTôn Giúp Lê Hoàn đẹp được giặc Chiêm Giúp vua Lý đánh thắng giặcChiêm Thành và diệt trừ phản loạn Giúp vua Lê - chúa Trịnh đánh tan nghịchMạc Trải qua các triều đại Đinh, Lê , Lý, Trần, Lê (hậu Lê), Nguyễn đều thờ

và rất ứng nghiệm

Như vậy, qua các nguồn tư liệu chúng ta có thể thấy thần Đồng Cổ và hộithề thần Đồng Cổ có vai trò rất quan trọng trong lịch sử Chính vì vậy mà hầuhết các tư liệu từ chính sử cũng như tư liệu dân gian, thần tích… còn lưu lại tạicác di tích đều ghi chép rất thống nhất về lai lịch, sự kiện và các nghi lễ thờcúng Thần Đồng Cổ từ truyền thuyết đã được các triều đại Phong kiến đưa lên

vị trí, tầm cao mới Như Giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết: “Trống đồng là hiện vật tiêu biểu của thời đại Hùng Vương, của văn minh Việt cổ thời dựng nước Nhưng với thời gian, trống đồng cũng trở thành “vật linh”, tiêu biểu

Trang 32

cho quyền uy xã hội của thủ lĩnh, và từ đó, của thần linh” và “đến thần núi Trống Đồng và hội thề Thăng Long thời Lý là do nhà Lý xây dựng tổ chức, trên cơ sở phục hồi, đổi mới, thời sự hoá và phong kiến hoá một nghi thức cổ truyền của nhân dân ta từ thuở vua Hùng dựng nước” [66, tr 162].

1.2 Tổng quan về các di tích thờ thần Đồng Cổ ở Việt Nam.

Những chiếc trống đồng ở nước ta lần đầu tiên được sử sách ghi nhậncách đây hơn 2000 năm lịch sử, qua việc ghi chép về “thành tích” của MãViện Sau khi đánh bại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, đã thu gom cáctrống đồng của người Lạc Việt đất Giao Chỉ, đưa về kinh đô Lạc Dương để pháhuỷ, lấy nguyên liệu đúc ngựa đồng Sự việc đầy bi thảm này cho thấy, kẻ xâmlược cố tình phá hoại hết dấu vết của một hiện vật truyền thống của dân tộc1.

Tuy nhiên, nền văn hóa Đông Sơn với sức sống mãnh liệt vẫn cònnhững di sản vô cùng giá trị được lưu giữ và bảo tồn cho đến ngày hômnay Trống đồng Đông Sơn là một trong những di sản tiêu biểu của nền vănhóa ấy

Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng Bắc Bộ và Bắc Trung BộViệt Nam, đây cũng chính là nơi tìm thấy nhiều cổ vật trống đồng nhất ThanhHóa và Hà Nội là những địa phương tìm thấy nhiều trống đồng Đông Sơn,thống kê cho thấy đến nay ở Thanh Hóa đã phát hiện và nghiên cứu 136 [5]chiếc trống đồng Đông Sơn, trong khi đó ở Hà Nội là 49 chiếc [14], chưa kểđến những chiếc trống còn đang lưu giữ trong các sưu tập tư nhân Phần lớnnhững trống đồng được khai quật từ trong lòng đất Đây cũng là hai địaphương phát hiện và khai quật các di chỉ khảo cổ thời kỳ văn hóa Đông Sơnnhiều nhất Điều đó cho thấy, chính cư dân Việt cổ bản địa ở Thanh Hóa, HàNội nói riêng cũng như vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nói chung đã là chủnhân của trống đồng và cũng là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn

1 Sách “Hậu Hán thư”, quyển 54, mục truyện Mã Viện chép: “Viện thích cưỡi ngựa, khéo phân biệt ngựa có

Trang 33

danh tiếng Đi đánh chiếm Giao chỉ, lượm được trống đồng Lạc Việt, bèn đúc làm con ngựa kiểu”.

Trang 34

Cùng với việc phát hiện nhiều trống đồng Đông Sơn, Thanh Hóa và HàNội cũng là hai địa phương duy nhất cho đến nay có các di tích thờ thần Đồng

Cổ2, sự tồn tại của các di tích cho thấy sức sống trường tồn của văn hóa ĐôngSơn trong tâm thức của con người nơi đây Trống đồng vẫn là vật linh thiêng,tượng trung cho tinh thần độc lập dân tộc và đã trở thành một tín ngưỡng tồntại qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc Tính đến năm 2014, cả nước có hơn40.000 di tích lịch sử - văn hóa [73], song đến nay mới chỉ có 07 di tích thờthần Đồng Cổ được phát hiện và nghiên cứu

Nói đến các di tích thờ thần Đồng Cổ thì không thể không nói đến ditích đền Đồng Cổ ở Đan Nê, đây được coi là đền thờ gốc và cũng là di tíchđược khởi dựng sớm nhất Khu vực núi và đền Đồng Cổ còn là nơi phân bốcủa di chỉ khảo cổ học Đan Nê Thượng, có niên đại thời kỳ đồ đồng và sắtsớm Di chỉ được Viện Khảo cổ học điều tra lần đầu vào tháng 12/1974 Diệnphân bố di tích chủ yếu ở khu ruộng cao phía Bắc núi Đồng Cổ, ngoài ra hiệnvật khảo cổ cũng thấy xuất hiện lác đác trên các sườn núi

Hiện vật thu được 1 rìu đá, 1 hạt chuỗi, 2 chân chạc gốm và nhiềumảnh gốm thô Những mảnh gốm thu được có nhiều yếu tố hoa văn của giaiđoạn Đồng Đậu, bên cạnh đó lại thấy một số mảnh có dáng miệng, chất liệu

và màu sắc giống gốm Đường Cồ [38].

Theo các nguồn tư liệu đã dẫn ở trên thì đền được xây dựng từ thờiHùng Vương Trải qua các thời kỳ Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần - Hậu Lê - TâySơn và Nguyễn, hàng năm các vua đều có sắc phong cho thần Đồng Cổ Thờicác chúa Trịnh như Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Sâm tuy không có sắcphong với các mỹ tự (chữ đẹp) như các đời vua trước nhưng mộc mạc, cụ thểbằng các lệnh chỉ như năm này, tháng này cấp bao nhiêu tiền, cần huy động

2 Vừa qua, tác giả cũng đã có khảo sát khu vực di tích chùa Đồng cổ tại khu vực Tam Đảo (Vĩnh Phúc), theo nghiên cứu của BQLDTDT tỉnh Vĩnh Phúc nơi đây đã từng tồn tại di tích thờ thần Đồng cổ Kết quả khảo sát sẽ được trình bày ở phần sau.

Trang 35

bao nhiêu công thợ, thậm chí cả những đôi chiếu hoa để dân làng Đan Nê cótài lực sửa sang liệu lo việc cúng tế ở đền Đồng Cổ [37].

Đền đã trải qua nhiều lần tu sửa lớn, đặc biệt vào giai đoạn Lê TrungHưng đã có 23 lần Vua Lê và các Chúa Trịnh có chỉ dụ cho các tướng lĩnh vànhân dân địa phương góp công sức, tiền của xây dựng, sửa chữa và trông nom

di tích [45]

Thời nhà Tây Sơn (1788 - 1802): ngoài việc triều đình ban sắc phongtặng cho thần, hiến trống đồng vào đền thờ và cử người trồng coi, quét dọn,còn “chỉ đạo sửa chữa 3 gian hai chái nhà tiền đường miếu Đổng Cổ” [37]

Ngày 14 tháng 3 năm Bảo Hưng thứ 2 (1802), cho xã Đan Nê miễn mộtnăm sưu dịch để tu sửa đền thờ được hiển linh giúp dài lâu vận nước Ngày 9tháng 4 năm 1802, sai quan Đô Tư đưa một trống Đồng Cổ hiến cho đền thờ

Có thể chiếc trống đồng này chính là chiếc trống đồng tìm thấy ở phía Nam

bờ sông Mã [37]

Triều Tây Sơn 2 lần hiến tặng trống đồng cho đền Đồng Cổ ở Đan Nê

(lần 1 vào ngày 8 tháng 9 năm 1794, lần 2 vào mùa xuân năm 1802) Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Trong đền có một cái trống đồng chế tạo từ thời Hùng Vương, nhà Tây Sơn chở đem về Phú Xuân, sau đó người huyện Hậu Lộc lại tìm thấy một cái trống như thế ở bãi sông, trình nộp lên trấn đem về để ở trong đền, đến nay vẫn còn” [67, tr 334-335] Trong cuốn “Tam Thai sơn Linh tích” chép: “Ở miếu thờ có một trống đồng tương truyền là vật cổ từ thời vua Hùng Đến năm Tân Hợi (1791) cùng với hai ngựa đồng được đưa về Phú Xuân đức súng đại bác (theo người ta ngờ là thế” [37, tr 15].

Thời nhà Nguyễn: các đời vua từ Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng(1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1848 - 1883) đến Duy Tân(1907 - 1925), Khải Định (1916 - 1925) cho đến Bảo Đại (1926 - 1945) đềuban sắc phong tặng cho thần Đồng Cổ Ngay cả Thống sứ người Pháp cũng đãcung tiến tiền bạc vào việc sắm sửa đồ thờ ở đền [45]

Trang 36

Ở sườn núi Tam Thai trên độ cao khoảng 10 m (tính từ mặt đất) cònlưu lại tấm bia bằng chữ Pháp Nội dung văn bia bày tỏ lòng tôn sùng củangười dân Đan Nê đối với thần Đồng Cổ linh thiêng Trong bài văn bia ấy cóđoạn ghi: Tháng 9 năm 1899, có một đoàn người Pháp gồm các ông Thống sứChatel, ông Pasguin, ông phó Quan cai tri và ông Giáo sư - giám đốc trường

Viễn Đông Bác Cổ Pháp đến Đan Nê và thăm đền Đồng Cổ Các ngài cũng đã

cúng vào đền 50 đồng bạc Đông Dương để dân làng sắm sửa ít đồ thờ cúng

Trải qua những biến cố lịch sử, với sự tàn phá của bom đạn chiến tranh(thời kỳ chín năm kháng chiến chống Pháp), của nắng mưa bão lụt, của mốimọt và con người, toàn bộ khu điện miếu thờ thần Đồng Cổ được xây dựng

từ các triều đại trước đã bị hư hại hoàn toàn và kể từ đó đền Đồng Cổ tồn tạinhư một phế tích Đến năm 1993, Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa đã raQuyết định bảo vệ di tích và thắng cảnh đển Đồng Cổ và lập hồ sơ khoanhvùng bảo vệ di tích núi và đền Đồng Cổ với 3 khu vực bảo vệ, trong đó khuvực I (khu vực bất khả xâm phạm) có diện tích khoảng 100.000m2 (10 ha) baogồm phần đất xây dựng đền thờ thần và núi Tam Thai Năm 1994, bằng nguồnvốn tự có, do đóng góp của những người hảo tâm và nhân dân địa phương, tạinền đất của khu điện

miếu cũ, chính quyền và nhân dân xã Yên Thọ đã xây dựng một ngôi nhà, đến năm 1998 ngôi đền được xây dựng như hiện có, làm nơi phụng thờ hương khói

Năm 2001, Núi và đền Đồng Cổ đã được Bộ Văn hóa - Thông tin cấpbằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (Quyết định số57/2001/QĐ - VHTT) Năm 2004, Bộ Văn hóa - Thông tin, UBND tỉnhThanh Hóa đã cho phép UBND huyện Yên Định lập dự án tổng thể đầu tư tôntạo, để giữ gìn và phát huy tác dụng di tích lịch sử văn hóa đặc biệt này Đếnnăm 2006, cán bộ và nhân dân huyện Yên Định, xã Yên Thọ và những ngườihảo tâm đã đúc một chiếc trống đồng hiến vào đền thờ Đồng thời tổ chứcQuỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hóa cung tiến vào đền Đồng Cổ

Trang 37

một chiếc trống đồng.

Trang 38

Năm 2007, để phục vụ việc tu bổ trên quy mô lớn, Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch Thanh Hóa đã phối hợp với Viện Khảo cổ học khai quật khảo

cổ học Đợt khai quật không những đã làm xuất lộ những vết tích kiến trúcgiai đoạn lịch sử mà còn làm xuất lộ một lớp văn hóa giai đoạn tiền sơ sử nằm

ở lớp dưới di tích

Di tích thờ thần Đồng Cổ thứ hai ở Thanh Hóa là đền Đồng Cổ ở làng

Mỹ Đà, xã Hoằng Minh, huyện Hoằng Hóa (thực ra là ngôi đình thờ thầnĐồng Cổ làm Thành Hoàng làng) Đền còn có tên gọi khác là Đền ThànhHoàng Bảo Hựu và Liên Hoa linh từ3 Theo “Sự tích tôn thần bản miếu”: Đền được xây dựng từ thời Lý Thái Tổ (1028 - 1054): “Đền dựng tọa Tốn hướng Càn phía trước có mộc tinh làm án, phía sau có kim tinh làm gốc tựa, bên trái thuộc Kim, bên phải thuộc Mộc Tất thảy đều chầu vào chính đất hoa sen”

[46, tr 2] Ngày nay, vị trí khu đất hoa sen nơi Thần Đồng Cổ “hiển linh” vàcũng là nơi vua Lý Thái Tông sai dân lập đền thờ thần thuộc thửa đất số 44với diện tích 1155m2 ở đầu làng Mỹ Đà Mặc dù được khởi dựng từ lâu nhưng

di tích chỉ mới được phát hiện và chú ý từ năm 1998 trong đợt kiểm kê di tíchcủa tỉnh Thanh Hóa, tuy nhiên toàn bộ kiến trúc cũ đã hư hỏng, chỉ còn lạiphần nền móng Đền còn lưu giữ 25 đạo Sắc phong qua các triều đại Lê,Nguyễn ghi rõ việc ca ngợi công đức của thần Đồng Cổ và giao cho làng Mỹ

Đà thờ tự Thần [46] Thời gian gần đây, đền đã được quan tâm đầu tư tôn tạokhang trang hơn Năm 2003, đền đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là

di tích lịch sử - văn hóa

Ở Hà Nội, đến nay đã phát hiện 05 di tích thờ thần Đồng Cổ, trong đó

di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã được coi là di tích quan trọng nhất Đây cũng

3 Tên gọi Đền Thành Hoàng Bảo Hựu xuất phát từ mỹ tự vua ban cho thần Đồng Cổ khi vua Lý đi qua vùng đất này được thần báo mộng và hiển ứng trên dải mây có đề hai chữ “Bảo Hựu” Về sau vua ban mỹ tự là

“Thành Hoàng Bảo Hựu” Tên gọi Liên Hoa linh từ bắt nguồn từ địa thế làng và vị trí ngôi đền tọa lạc giống

hình một đoá hoa Sen, do vậy dân gian đặt cho tên đền là “Liên Hoa Linh từ” (tức đền linh Hoa Sen).

Trang 39

là nơi diễn ra Hội thề Trung hiếu qua các triều đại phong kiến, đặc biệt là ởgiai đoạn Lý - Trần Theo chính sử thì đền được khởi dựng vào năm 1028 [9],

vị trí của đền là nằm bên sông Tô Lịch, cạnh chùa Thánh Thọ, đúng với vị trícủa đền hiện tại Năm 1992, đền đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng ditích lịch sử - văn hóa

Cách di tích đền Đồng Cổ ở Đông Xã không xa là cụm di tích thờ thầnĐồng Cổ ở Minh Khai gồm 4 di tích: miếu Đồng Cổ, đình Nguyên Xá, đìnhVăn Trì và đình Ngọa Long thuộc địa phận các thôn cùng tên, nằm trênđường Quốc lộ 32 đi Sơn Tây Trước năm 1945, khu vực này thuộc xã PhúDiễn, tổng Cổ Nhuế, tỉnh Hà Đông Đây là vùng đất cổ, có lịch sử lâu đời.Giới khảo cổ học biết tới vùng đất này qua hàng loạt các di tích Đông Sơn vàTiền Đông Sơn Gần nhất là Ngoạ Long - một di tích thuộc văn hoá PhùngNguyên [31, tr 33], được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở Văn hóa - Thểthao Hà Nội khai quật vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước4

Trong các thôn ở Minh Khai, Nguyên Xá là lớn hơn cả nên cổng vàolàng còn được đắp nổi ba chữ Hán “Nguyên giả trưởng” để khẳng định vị trícao của mình Từ xưa đến nay, người dân Minh Khai có truyền thống laođộng cần cù, phong tục thuần hậu, giản dị, từng được Vua ban bốn chữ: “Mỹtục khả phong” Lịch sử tồn tại của hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, đặcbiệt là các di tích thờ thần Đồng Cổ cho chúng ta hiểu rõ hơn về điều đó [2,tr.10-15]

Di tích miếu Đồng Cổ nằm trên một gò đất cao ở đầu thôn Nguyên Xá,nơi hợp lưu của dòng Nhuệ Giang và các phụ lưu, quay về hướng Đông trông

về Kinh thành Thăng Long Miếu thờ thần Đồng Cổ, tên hiệu là “Đươngcảnh Thành hoàng, Giám thệ Đại vương, Đồng Cổ Sơn thần” Tương truyềnđền được khởi

Trang 40

văn trang trí mang đặc trưng gốm trong văn hóa Phùng Nguyên Tuy nhiên, theo TS Ngô Thị Lan hiện nay trong Kho của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia chỉ còn lưu giữ 09 hiện vật đá và 97 mảnh gốm các loại và 01 nồi gốm được phục dựng nguyên dáng.

Ngày đăng: 03/07/2023, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
44. Sở Văn hoá thông tin Hà Nội (Ban quản lý danh thắng) (2001), Di tích lịch sử-văn hóa Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tíchlịch sử-văn hóa Hà Nội
Tác giả: Sở Văn hoá thông tin Hà Nội (Ban quản lý danh thắng)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
47. Hà Văn Tấn (Chủ biên, 1999), Khảo cổ học Việt Nam, Thời đại kim khí Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
48. Hà Văn Tấn (chủ biên), 2002, Khảo cổ học Việt Nam, Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
49. Tên làng xã Thanh Hoá (2000), Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh hoá, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thanh Hoá (2000)
Tác giả: Tên làng xã Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2000
50. Ngô Đức Thịnh (1985), Một vài suy nghĩ về trống đồng ở Việt Nam, Thông báo Khảo cổ học của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, số 3, tr.142-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về trống đồng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 1985
51. Phạm Huy Thông (1974), Trống đồng, Tạp chí Khảo cổ học, số 13, tr. 9- 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trống đồng
Tác giả: Phạm Huy Thông
Năm: 1974
52. Phạm Huy Thông (1974), Trống đồng, Tạp chí Khảo cổ học, số 14, tr. 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trống đồng
Tác giả: Phạm Huy Thông
Năm: 1974
54. Nguyễn Đình Toàn (2002), Kiến trúc Việt Nam qua các thời đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Việt Nam qua các thời đại
Tác giả: Nguyễn Đình Toàn
Nhà XB: NxbHà Nội
Năm: 2002
55. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NxbThành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
56. Lưu Minh Trị, Hoàng Tùng (1999), Thăng Long - Hà Nội, Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Lưu Minh Trị, Hoàng Tùng
Nhà XB: Nxb ChínhTrị Quốc gia
Năm: 1999
57. Đỗ Quang Trọng, Lê Thị Phơ (1998), Phát hiện về một đền thờ thần Đồng Cổ ở xứ Thanh. Những phát hiện mới về Khảo cổ học. Tư liệu Viện Khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện về một đền thờ thầnĐồng Cổ ở xứ Thanh
Tác giả: Đỗ Quang Trọng, Lê Thị Phơ
Năm: 1998
58. Lê Trung Vũ (chủ biên) (2001), Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Thăng Long
Tác giả: Lê Trung Vũ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2001
59. Lê Trung Vũ (chủ biên) (2006), Hội làng Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội làng Hà Nội
Tác giả: Lê Trung Vũ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
60. Lê Trung Vũ, Lê Thị Hồng Lý (2005), Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, tr.183 - 190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam
Tác giả: Lê Trung Vũ, Lê Thị Hồng Lý
Nhà XB: Nxb Văn hóa -Thông tin
Năm: 2005
61. V.Goloubew (1933), Thần trống ở Đan Nê, Tạp chí của trường Viễn Đông bác cổ, Hà Nội, tr.345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần trống ở Đan Nê
Tác giả: V.Goloubew
Năm: 1933
62. Trần Quốc Vượng (1974), Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng, Tạp chí Khảo cổ học, số 14, tr. 71 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1974
63. Trần Quốc Vượng (1982), Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ, Tạp chí Khảo cổ học, số 3, tr. 17 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việtcổ
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1982
64. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hoá Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hoá Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2000
65. Trần Quốc Vượng (1962), Vấn đề người Lạc Việt, Thông báo Sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề người Lạc Việt
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1962
73. Di tích Việt Nam - Wikipedia tiếng Việt: https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_t%C3%ADch_Vi%E1%BB%87t_Nam Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 01: BẢNG THỐNG KÊ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
01 BẢNG THỐNG KÊ (Trang 120)
BẢNG 1: CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 1 CÁC DI TÍCH THỜ THẦN ĐỒNG CỔ Ở VIỆT NAM (Trang 120)
BẢNG 2: HIỆN VẬT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ TRONG CÁC HỐ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ Ở  ĐAN NÊ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 2 HIỆN VẬT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ TRONG CÁC HỐ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ Ở ĐAN NÊ (Trang 121)
BẢNG 3: PHÂN LOẠI GỐM MẢNH TRONG CÁC HỐ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ Ở  ĐAN NÊ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 3 PHÂN LOẠI GỐM MẢNH TRONG CÁC HỐ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG CỔ Ở ĐAN NÊ (Trang 122)
BẢNG 4: THỐNG KÊ NHÓM VẬT LIỆU XÂY DỰNG KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 4 THỐNG KÊ NHÓM VẬT LIỆU XÂY DỰNG KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ (Trang 123)
Hình  lòng  máng,  trong  có  dấu  vải  sợi thô to. - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
nh lòng máng, trong có dấu vải sợi thô to (Trang 128)
BẢNG 6: THỐNG KÊ HIỆN VẬT CON KÊ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 6 THỐNG KÊ HIỆN VẬT CON KÊ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ (Trang 129)
Hình gần tròn khi đất còn ướt để chèn và  đặt ngói khi vào lò. Kích thước dao  động, đường kính 2.5- 5cm - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
Hình g ần tròn khi đất còn ướt để chèn và đặt ngói khi vào lò. Kích thước dao động, đường kính 2.5- 5cm (Trang 129)
BẢNG 7: THỐNG KÊ MẢNH GỐM, SỨ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 7 THỐNG KÊ MẢNH GỐM, SỨ KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ (Trang 131)
BẢNG 8: THỐNG KÊ HIỆN VẬT CHẤT LIỆU SÀNH KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 8 THỐNG KÊ HIỆN VẬT CHẤT LIỆU SÀNH KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ (Trang 136)
BẢNG 9: THỐNG KÊ MẢNH GỐM KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
BẢNG 9 THỐNG KÊ MẢNH GỐM KHAI QUẬT TẠI DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ Ở NGUYÊN XÁ (Trang 143)
Sơ đồ 1: Mặt bằng di tích Núi và đền Đồng Cổ ở Đan Nê - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
Sơ đồ 1 Mặt bằng di tích Núi và đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Trang 153)
Sơ đồ 2: Mặt bằng di tích miếu Đồng cổ ở Nguyên Xá và  vị trí các hố thám sát và khai quật năm 2007 - Khảo Cổ Học, Di Tích Thờ Thần Đồng Cổ, Khảo Cổ Việt Nam.docx
Sơ đồ 2 Mặt bằng di tích miếu Đồng cổ ở Nguyên Xá và vị trí các hố thám sát và khai quật năm 2007 (Trang 154)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w