1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam

285 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía Nam, Việt Nam
Tác giả Bùi Văn Thời
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 285
Dung lượng 7,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, xem xét bối cảnh nghiên cứu trong ngành dệt may cho thấy, có sự thiếu hụt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa VXH với kết quả kinh doanh TTKD.. Hầu hết, quan điểm của các tác giả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

BÙI VĂN THỜI

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐỐI VỚI KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP - TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU

NGÀNH DỆT MAY KHU VỰC PHÍA NAM, VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Trong Chương 1, trình bày lý do nghiên cứu của đề tài thông qua việc phân tích bối cảnh lý thuyết và bối cảnh thực tiễn ngành dệt may tại Việt Nam Qua đó, khái quát các nghiên cứu liên quan về vốn xã hội và kết quả kinh doanh nhằm tìm ra khe hổng nghiên cứu

Kế tiếp, trình bày mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Sau cùng, tác giả trình bày ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận án

1.1 Lý do nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Bối cảnh lý thuyết nghiên cứu

Lịch sử phát triển nhân loại của mỗi quốc gia nói riêng và thế giới nói chung, các loại hình vốn khác nhau luôn tồn tại, tích lũy và phát triển Trong đó, bên cạnh các loại hình vốn khác nhau như vốn kinh tế, vốn con người, vốn tài nguyên, riêng vốn xã hội luôn hiện diện và đóng góp vào đời sống tinh thần cũng như vật chất trong cuộc sống mỗi con người Thật ra, các nhà khoa học bắt đầu quan tâm đến khái niệm vốn xã hội khi lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản (vốn kinh tế), các nguồn lực (vốn con người, vốn công nghệ) và môi trường (vốn tài nguyên) tương đương nhau nhưng một bên phát triển và một bên suy tàn Chính điều này, các nhà khoa học đã đúc kết và tiến hành làm hoàn thiện khái niệm vốn xã hội (VXH), từ đó, xem xét mối quan hệ giữa VXH với các loại hình vốn khác Có thể nói, VXH đóng vai trò như một chất keo kết dính các nguồn vốn khác lại với nhau, phối hợp nhau để tăng cường hiệu quả sử dụng của các nguồn vốn, đóng góp vào việc tăng trưởng kinh

tế (Lins và cộng sự, 2017; Dasgupta, 2005)

Vốn xã hội đã có lịch sử phát triển lâu đời tại các quốc gia có kinh tế phát triển Thành quả kinh doanh của doanh nghiệp (DN) được tăng lên đáng kể khi vận dụng vốn xã hội Đặc biệt, các DN hoạt động trong ngành dệt may cần đầu tư nhiều vốn,

kỹ thuật, công nghệ và con người để đảm nhiệm cho nhiều công đoạn sản xuất khác nhau cũng như luôn sử dụng nhiều nguồn lực để đổi mới sản phẩm, thích ứng theo

Trang 3

xu hướng mới của người tiêu dùng Do đó, DN trong ngành dệt may luôn cần sử dụng VXH như làm chất xúc tác kết nối hệ thống các DN từ khâu kéo sợi, dệt, nhuộm, may đến việc tiêu thụ sản phẩm Chính VXH hỗ trợ doanh nhân có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận các nguồn lực cần thiết phục vụ cho hoạt động kinh doanh (Dai và cộng sự, 2015) Các nguồn lực mà các doanh nhân có được thông qua mạng lưới quan hệ cá nhân của họ và các kết nối xã hội cho phép họ xác định các cơ hội kinh doanh (Bhagavatula và cộng sự, 2010), từ đó, đóng góp chung vào kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019; Nasip và cộng sự, 2017)

Lý thuyết là cơ sở nền tảng để vận dụng vào trong thực tiễn Trong đó, hai nền tảng lý thuyết quan trọng về phân tích các yếu tố của lợi thế cạnh tranh liên quan đến kết quả hay hiệu quả kinh doanh của DN, đó là mô hình tổ chức công nghiệp - IO (Industrial Organization) và mô hình dựa trên nguồn lực - RBV (Resource - Based View)

Tổ chức Công nghiệp phân tích các yếu tố về hoạt động hoặc những bộ phận khác nhau góp phần xây dựng chiến lược tổng thể DN, mục tiêu là sản phẩm/dịch vụ của DN chinh phục được thị trường Mô hình tổ chức công nghiệp cho rằng lợi thế cạnh tranh có thể đạt được khi các DN thực hiện các chiến lược áp đặt bởi các đặc điểm của các yếu tố bên ngoài (Porter, 1985) Trong khi đó, quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) cho rằng các yếu tố tạo nên thành công phụ thuộc vào nguồn lực và khả năng của từng DN Theo quan điểm này, các DN được xem như là nơi tập hợp rất nhiều nguồn lực Các lựa chọn của DN không được quyết định bởi những hạn chế về môi trường, mà bằng cách đánh giá khả năng DN trong việc khai thác tốt nhất các nguồn lực của mình liên quan đến các cơ hội cũng như thách thức từ môi trường bên ngoài như thế nào Điều này có nghĩa là chiến lược của DN được thảo luận trên phương diện cân đối nguồn lực DN hiện có để sử dụng chúng theo hướng tạo ra lợi thế (Barney, 1991)

Dựa trên hai nền tảng của lý thuyết trên, hàng loạt các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố hữu hình và vô hình lên kết quả kinh doanh trong các lĩnh vực xã hội,

Trang 4

giáo dục, kinh tế và văn hóa Gần đây, các nghiên cứu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DN không chỉ là các yếu tố bên ngoài hay bên trong mà còn kết hợp cả hai như nghiên cứu về các yếu tố giá thành, phi giá thành, các yếu tố bên trong và bên ngoài DN (Keegan và cộng sự,1989)

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, các tổ chức và DN gặp khó khăn trong việc làm cho mức độ thay đổi trong cơ cấu chính thức của họ đáp ứng với mức độ thay đổi từ môi trường kinh doanh Do đó, các nghiên cứu tập trung chú ý về tầm quan trọng cũng như vai trò của cấu trúc quản lý không chính thức Scott (1998) chỉ ra tầm quan trọng của môi trường và nhấn mạnh vào các cấu trúc không chính thức, các cấu trúc tổ chức không chính thức được xem là biểu hiện về giá trị, tính linh hoạt và tính năng động mà nó có thể bổ sung cho các cấu trúc tổ chức chính thức Một loại cấu trúc không chính thức, có được sự chú ý ngày càng cao gần đây,

là mạng lưới xã hội (social networks) Các nhà nghiên cứu cho rằng mạng lưới xã hội

có khả năng cung cấp cho nhà quản trị các nguồn lực có giá trị qua đó có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của cá nhân và tổ chức (Adler & Kwon, 2002; Nahapiet & Ghoshal, 1998) Các nguồn lực có được từ mạng lưới xã hội được gọi chung là vốn

xã hội (social capital) Thật ra, khái niệm vốn xã hội (VXH) được cho là xuất hiện đầu tiên vào năm 1916 của Lyda Judson Hanifan, nhà giáo dục Mỹ, đã thảo luận về cách những người hàng xóm có thể làm việc cùng nhau để giám sát trường học Hanifan (1916) sử dụng định nghĩa vốn xã hội để chỉ các mối quan hệ trong xã hội như tình bạn hữu, thông cảm lẫn nhau và giao tiếp giữa các cá nhân hay gia đình Từ

đó, VXH được các học giả quan tâm nghiên cứu cũng như sử dụng trong nhiều lĩnh vực như tâm lý, giáo dục, kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Nếu như vốn vật chất (physical capital) nói đến các tài sản hữu hình, ví dụ như máy móc, thiết bị, công cụ, nhà xưởng; vốn con người (human capital) nói đến các tài sản cá nhân như năng lực cá nhân, kinh nghiệm làm việc, trình độ, kiến thức và

kỹ năng (McCallum và O’Connell, 2009) thì VXH đề cập đến các năng lực quan hệ

xã hội (relational competencies) của các cá nhân và tổ chức dựa vào nhận thức xã hội,

Trang 5

tự quản trị, cam kết, thúc đẩy hợp tác, phối hợp, mạng lưới thông tin phản hồi được thiết lập theo niềm tin, thiện chí và có qua có lại (McCallum và O’Connell, 2009) Như vậy, VXH không chỉ là sự tổng hợp các của cải vật chất, các tài sản xã hội mà còn là chất xúc tác làm kết dính các tài sản xã hội này lại với nhau

Trong thời gian qua, VXH đã được nghiên cứu ở ba cấp độ: Cộng đồng; tổ chức/Doanh nghiệp và quốc gia Ba cấp độ này liên quan đến: (1) cá nhân, (2) các tổ chức, doanh nghiệp và (3) xã hội, quốc gia và toàn cầu

(1) Cấp độ cộng đồng có nhiều học giả nổi tiếng nghiên cứu như Fukuyama

(1997), Lin (1999), Coleman (1988), Bourdieu (1986), Putnam (1995), Nahapiet & Ghosal (1998) Theo đó, vốn xã hội được định nghĩa như là chất lượng mối liên kết giữa các cá nhân, các mạng lưới quan hệ, các chuẩn mực, niềm tin nhằm chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau

(2) Cấp độ tổ chức/doanh nghiệp có nhiều nghiên cứu của các tác giả Nguyen

& Huỳnh (2012), Akintimehin và cộng sự (2019), Polyviou và cộng sự (2019), Tasavori và cộng sự (2018), Wang và cộng sự (2016), Tian và cộng sự (2016), Stam (2013), Acquaah (2007) Các tác giả cho rằng VXH của DN chính là chất lượng mạng lưới mối quan hệ giữa các cá nhân, các bộ phận bên trong DN và chất lượng mạng lưới mối quan hệ của DN với các đối tác bên ngoài

(3) Cấp độ quốc gia có các nghiên cứu của Sabatini (2005) nghiên cứu VXH

của nước Ý cung cấp một khung đo lường mới về khái niệm đa chiều VXH đồng thời cũng cung cấp cách thức đo lường các đóng góp tích cực của VXH với các kết quả kinh tế Một nghiên cứu khác về VXH của nước Úc, theo đó, sau khi tham vấn sâu rộng, Cục Thống kê Úc (ABS, 2004) đã phát triển một khung khái niệm đa chiều về vốn xã hội, cũng như một bộ chỉ số khả thi để đo lường các khía cạnh của vốn xã hội Các nghiên cứu về VXH ở nhiều cấp độ khác nhau sẽ giúp cho các cá nhân, các

tổ chức, doanh nghiệp và các quốc gia thuận lợi hơn trong vấn đề tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng VXH trong cuộc sống, trong công việc cũng như phát triển mối quan hệ trong xã hội phục vụ cho lợi ích của cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia

Trang 6

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu về VXH ở cấp độ DN mà

cụ thể là tác động của vốn xã hội đến kết quả kinh doanh Các nghiên cứu trước đây, khi nghiên cứu về VXH trong DN, các nhà nghiên cứu tập trung vào ba yếu tố chính gồm Vốn xã hội lãnh đạo (VXLD), Vốn xã hội bên ngoài (VXBN) và Vốn xã hội bên trong (VXBT) (Nguyen và Huỳnh, 2012; McCallum và O’Connell, 2009) Tuy nhiên, chưa tìm thấy các nhà nghiên cứu xem xét mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này Hơn nữa, có nhiều tác giả đã chỉ ra rằng VXH tác động tích cực đến kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019); Nasip và cộng sự, 2017) nhưng chưa tìm thấy nghiên cứu nào đồng thời có xem xét mối quan hệ của VXH đối với kết quả kinh doanh thông qua hai yếu tố trung gian là tiếp thu kiến thức (TTKT) và đổi mới sản phẩm (DMSP)

Hơn nữa, nghiên cứu về VXH trong bối cảnh hội nhập, mở rộng quan hệ kinh

tế theo mô hình kinh tế đặc thù của Việt Nam đang chuyển đổi và phát triển mạnh

mẽ Việc thực hiện nghiên cứu này có nhiều ý nghĩa vì các nghiên cứu thực nghiệm trước về VXH được thực hiện nhiều ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển Hơn nữa, tại Việt Nam, chưa tìm thấy các nghiên cứu có liên quan về VXH trong ngành dệt may

Như vậy, xem xét bối cảnh nghiên cứu trong ngành dệt may cho thấy, có sự thiếu hụt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa VXH với kết quả kinh doanh (TTKD) Đồng thời, khám phá thêm các yếu tố mới đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này để mở rộng mô hình nghiên cứu nhằm giúp cho các DN ngành dệt may gia tăng kết quả kinh doanh thông qua việc vận dụng VXH là hết sức cần thiết

1.1.2 Bối cảnh thực tiễn ngành dệt may

Thời trang là một trong những phương tiện thay đổi dễ thấy nhất Dệt may được xem như ngành công nghiệp thời trang, là một phần của một hiện tượng văn hóa và

xã hội, hiểu rộng hơn được gọi là “hệ thống thời trang”, một khái niệm bao trùm không chỉ kinh doanh thời trang mà còn cả nghệ thuật thời trang, và không chỉ sản xuất mà còn cả tiêu dùng Ngày nay, thời trang được coi là một trong những ngành

Trang 7

công nghiệp quan trọng nhất vì nó chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế toàn thế giới (McKinsey & Company, 2016) Mọi người đều có nhu cầu ăn mặc và để đáp ứng nhu cầu đó thì cần phải có quần áo Mặc quần áo thời trang và sành điệu là cách

mà mọi người đạt được và thể hiện địa vị của mình (Kim và cộng sự, 2015) Ngành dệt may luôn là ngành thay đổi nhanh chóng, bởi vì mọi người thích mặc quần áo mới, các công ty luôn quảng bá sản phẩm để định vị thương hiệu của họ trong tâm trí khách hàng (Rahman và cộng sự, 2014) Hơn nữa, người tiêu dùng thường xuyên trao đổi với nhau về các xu hướng và phong cách mới, trao đổi thông tin và đưa ra các đề xuất, trong đó nêu bật vai trò của giao tiếp xã hội trong việc lan tỏa các xu hướng thời trang (Goldsmith & Clark, 2008)

Hiện nay, thời trang đã trở thành một ngành công nghiệp có quy mô lớn và mức

độ cạnh tranh cao trên toàn thế giới Đặc biệt trong lĩnh vực dệt may thời trang có mạng lưới cung ứng khá phức tạp cả về sự phân chia của các hoạt động sản xuất và phân tán địa lý Ngành công nghiệp này rất đáng nghiên cứu vì bối cảnh không chắc chắn, luôn cần sự đổi mới sáng tạo thường xuyên để thỏa mãn các sở thích khác nhau của người tiêu dùng và sự cạnh tranh gây gắt giữa các DN Hiện nay, các công ty thời trang không chỉ phải đối mặt với những thách thức đặt ra bởi nhu cầu không thể tiên đoán, nhưng cũng phải thích ứng với một môi trường cạnh tranh mới (Priest, 2005)

Sự phụ thuộc ngày càng tăng của thị trường các nước khối BRIC (Brazil, Nga, Ấn

Độ, Trung Quốc), và chi phí lao động tăng cao ở các nước mới nổi đã khiến các công

ty thời trang tổ chức lại mạng lưới cung cấp của họ, tìm kiếm một sự cân bằng mới giữa nguồn sản xuất địa phương và nguồn sản xuất toàn cầu (Dana & cộng sự, 2007) Theo số liệu tổng kết từ Hiệp hội dệt may Việt Nam năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 39 tỷ USD chiếm 7.54% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước (Thu Hoài, 2019) Đây là một ngành chiếm tỉ trọng xuất nhập khẩu rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, giải quyết hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động Ngành dệt may phụ thuộc vào thị hiếu của người mua, việc sản xuất ra sản phẩm cuối cùng phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau Các hoạt động sản xuất cũng được triển khai ở nhiều quốc gia Đặc biệt, các DN sở hữu thương hiệu nổi tiếng,

Trang 8

các trung gian thương mại như hệ thống bán buôn, bán lẻ lớn đóng vai trò quyết định trong việc xác lập mạng lưới sản xuất cũng như việc tiêu thụ số lượng lớn sản phẩm thông qua các thương hiệu mạnh Hệ thống sản xuất và phân phối phụ thuộc lẫn nhau thông qua chiến lược thuê gia công trên phạm vi toàn cầu Theo Gereffi (2002) chuỗi giá trị dệt may thời trang chia thành 5 công đoạn chính: (1) các nhà cung cấp sản phẩm thô như bông tự nhiên, xơ; (2) các công ty dệt, nhuộm đảm nhận việc sản xuất các sản phẩm đầu vào như chỉ, sợi và vải; (3) các công ty may mặc đảm nhận việc thiết kế mẫu sản phẩm và sản xuất thành phẩm; 4) các trung gian thương mại đảm nhận việc xuất khẩu; (5) hoạt động Marketing và phân phối

Hơn nữa, ngành công nghiệp dệt may có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có điều kiện mở rộng thương mại quốc tế và mang lại nhiều nguồn thu cho đất nước Điều này đã thể hiện trong việc điều tiết các chính sách của chính phủ trong thời gian qua nhằm phát triển ngành dệt may như sau:

Thứ nhất, Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cấu trúc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX) giai đoạn 2013 - 2015 Mục tiêu nhằm bảo đảm VINATEX tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh chính Qua đó hình thành chuỗi cung ứng sợi, dệt, nhuộm và may; đồng thời nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, sức cạnh tranh và cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong năm 2014, Chính phủ cũng đã cấp ngân sách 65,6 tỷ đồng nhằm đào tạo nhân lực trong ngành dệt may Việt Nam, theo quyết định số 288/QĐ-TTg

Thứ hai, Chính phủ xác định ngành công nghiệp dệt may là ngành chủ lực để phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm và an sinh xã hội cho người lao động, vì nước ta có dân số đông và thu nhập còn thấp Điều này được thể hiện trong các hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa Việt Nam và các nước Cụ thể như hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Hiệp định này sẽ xóa

bỏ thuế nhập khẩu đối với hàng dệt may có xuất xứ từ Việt Nam khi xuất khẩu vào

Trang 9

thị trường các nước này (ngay hoặc có lộ trình) Ngoài ra, còn có hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) mới đây đã được Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào ngày 12/2/2020 Đây là Hiệp định thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU EVFTA sẽ mở ra thị trường xuất khẩu rộng lớn cho ngành dệt may của Việt Nam

Như vậy, ngành dệt may là ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam, tuy nhiên, nguồn lực của các DN dệt may chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành, điều đó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, theo báo cáo tại hội nghị quốc tế Diễn đàn Dệt May Việt Nam 2015

do Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam (VCOSA), Phòng Thương mại xuất nhập khẩu Dệt may Trung Quốc (CCCT) được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 25 đến ngày 27/6/2015, thông qua hội thảo, một trong những điểm yếu mà các DN dệt may trong nước cần khắc phục là mở rộng mạng lưới quan hệ, chia sẻ thông tin và thiết lập mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược Đồng thời, các DN dựa trên các nguồn lực như vốn, công nghệ để xác định điểm mạnh, lợi thế, vai trò của mình trong chuỗi liên kết nội địa Thông qua chuỗi liên kết, từng đơn vị sẽ từng bước tái cơ cấu để phát triển theo định hướng chuyên môn hóa cao, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành dệt may trong quá trình phân công lao động Việc tham gia vào chuỗi liên kết, DN tạo dựng được niềm tin, được chia sẻ các thông tin, kiến thức quan trọng cũng như hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó, DN tiết kiệm thời gian và chi phí khi giao dịch nhằm nâng cao kết quả kinh doanh

Thứ hai, hiện tại ngành dệt may Việt Nam đang gặp nhiều thách thức lớn, bởi

vì nhân công giá rẻ giờ đây đã không thể so sánh với các nước khác như: Lào, Bangladesh, hay Campuchia (Lê Thanh Thủy, 2019) Cụ thể qua khảo sát cho thấy công nghệ sản xuất lại kém hơn nhiều so với các nước phát triển, hầu hết máy móc thiết bị của các DN trực thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã sử dụng trên 15 năm,

do đó, hiệu quả sử dụng rất thấp do chất lượng xuống cấp và tiêu thụ điện năng cao (Lê Thanh Thủy, 2019) Nguyên nhân chính là do tiềm lực vốn của các DN còn thấp,

Trang 10

cho nên các DN trong ngành dệt may hầu như chỉ mới tập trung sản xuất ở các khâu tạo ra giá trị thấp Trong khi đó, các khâu tạo ra giá trị cao hơn gồm có sản xuất sợi, hóa chất trợ nhuộm, in hoa văn cũng như hoàn tất vải vẫn phải nhập khẩu Do đó, việc liên kết tạo thành mạng lưới giữa các DN là đối tác chiến lược của nhau, gắn kết giữa các DN trong các công đoạn từ thiết kế sản phẩm, sản xuất nguyên phụ liệu, may, xuất khẩu và marketing - phân phối nhằm khai thác và chia sẻ thông tin, kiến thức và các nguồn lực có liên quan nhằm tận dụng nguồn lực lẫn nhau là rất quan trọng

Thứ ba, xét về bối cảnh thực tiễn các nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến vốn xã hội, năm 2006, tạp chí Tia Sáng tổ chức hội thảo về chủ đề vốn xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế (Tia Sáng, 2006) Hội thảo này có sự tham gia gần 200 nhà khoa học đến từ các ngành nghề khác nhau Thuật ngữ vốn xã hội đã được sử dụng nhiều tại các nước phương Tây Tuy nhiên, tại Việt Nam, đa số người dân vẫn cảm thấy mới lạ về thuật ngữ này và cũng không hiểu hết các vấn đề liên quan về vốn xã hội Theo đó, trình độ phát triển vốn xã hội trên thế giới đã trải qua ít nhất 03 giai đoạn: (1) giai đoạn tiếp cận lý thuyết về vốn xã hội, (2) giai đoạn vận dụng và ứng dụng cơ bản vốn xã hội, (3) giai đoạn ứng dụng vốn xã hội ở tầm quốc gia (Tia sáng, 2006) Cũng theo hội thảo, tại thời điểm năm 2006, các quốc gia phát triển đã ứng dụng vốn xã hội ở giai đoạn 3 thì tại Việt Nam vẫn chưa thực sự bước vào giai đoạn

1 Chính vì tầm quan trọng của vốn xã hội trong việc mang lại nhiều lợi ích giúp quốc gia phát triển phồn thịnh Cụ thể như năm 2008, chính phủ Anh đã sử dụng vốn xã hội và vốn văn hóa trong việc hoạch định các chính sách công, do các loại vốn này

có tầm ảnh hưởng rất lớn đến hành vi ứng xử của các cá nhân trong đời sống xã hội (Knott và cộng sự, 2008)

Tóm lại, ngành dệt may có tầm quan trọng lớn trong nền kinh tế của Việt Nam, đóng góp đến 7.54% kim ngạch xuất nhập khẩu (Thu Hoài, 2019) Ngành công nghiệp này rất đáng được nghiên cứu để cung cấp các kiến thức quan trọng bổ trợ cho các

DN cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong đó, việc sử dụng VXH nhằm mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng mối quan hệ bằng cách chia sẻ

Trang 11

thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và hỗ trợ qua lại nhằm giúp DN phát triển kiến thức, thường xuyên đổi mới sản phẩm, gia tăng kết quả kinh doanh là việc làm hết sức cần thiết Bên cạnh đó, việc thiếu hu ̣t các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan

hệ giữa VXH với kết quả kinh doanh, thông qua việc xem xét vai trò trung gian của tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm, đặc thù trong giai đoạn chuyển đổi mô hình kinh tế, đa phương hóa và hội nhập sâu rộng của Việt Nam Từ đó, tác giả chọn đề

tài nghiên cứu “Tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp – Trường hợp nghiên cứu ngành dệt may tại khu vực phía Nam, Việt Nam”

1.2 Khái quát các nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.1 Các nghiên cứu về vốn xã hội trong và ngoài ngước

Mạng lưới quan hệ xã hội chính là nguồn gốc của vốn xã hội, lý thuyết vốn xã hội xuất phát từ thực tiễn là vốn xã hội được gắn vào các mối quan hệ ở nhiều cấp độ (Akintimehin, 2019) Ứng dụng của lý thuyết vốn xã hội nhằm mục đích thấu hiểu các mối quan hệ xã hội, tương tác xã hội, sự tin tưởng và có đi có lại (Pratono, 2018) Các đóng góp trong việc phát triển lý thuyết vốn xã hội, nổi bật có các tác giả như (Bourdieu, 1985, 1986; Coleman, 1988, 1990), sau đó được các tác giả như (Putnam, 1995; Fukuyama, 1997, 2001, 2002; Lin, 1999, 2001) phát triển thành sách

và đưa vào chương trình giáo dục đại học Các tác giả có nhiều cách định nghĩa và giải thích về vốn xã hội Hầu hết, quan điểm của các tác giả cho rằng (1) VXH gắn liền với mạng lưới xã hội (Bourdieu, 1986), mạng lưới quan hệ xã hội là một thành

tố quan trọng của VXH (Putnam, 2000); (2) VXH chính là kết quả của sự đầu tư, nhờ

có vốn xã hội mà làm gia tăng các loại vốn khác như vốn con người, vốn kinh tế (Bourdieu, 1986), thông qua mối quan hệ, từng cá nhân tự xây dựng và làm phong phú nguồn vốn xã hội để sử dụng cho lợi ích của bản thân (Fukuyama, 2002); (3) VXH là niềm tin (trust), sự có qua có lại (recipocity), điều này có nghĩa là trong mối quan hệ mọi người phải có trách nhiệm, lòng tin, hỗ trợ qua lại và kỳ vọng lẫn nhau (Colemam, 1988; Portes,1998)

Nhiều nghiên cứu xem xét vốn xã hội trên ba khía cạnh (Nahapiet & Ghosal,

Trang 12

1998; Adler và Kwon, 2002), cụ thể như: (1) Khía cạnh hay vốn cấu trúc (structural capital) được đo lường bởi kích cỡ của mạng lưới (network size) quan hệ rộng hay hẹp, tần suất kết nối, địa vị của các thành viên tham gia mạng lưới; (2) Khía cạnh hay vốn quan hệ (relational capital) được đo lường bởi chất lượng của mối quan hệ (xây dựng mối quan hệ thân thiết, tương tác lẫn nhau giữa các nhân viên, bầu không khí làm việc thân thiện), sự cam kết, tôn trọng lẫn nhau; (3) Khía cạnh hay vốn nhận thức (cognitive capital) được đo lường bởi mọi người có chung mục tiêu và tầm nhìn, có hoài bảo chung, ngôn ngữ giao tiếp, chia sẻ thông tin

Trong ba khía cạnh Nahapiet & Ghosal đề cập đến VXH là cách lý giải khác dựa trên quan điểm của Coleman (1990) Trong đó, vốn nhận thức và vốn quan hệ chính là yếu tố chất lượng mạng lưới; vốn cấu trúc chính là cấu trúc mạng lưới Nhờ

đó mà sau này, các nghiên cứu về VXH trong DN, các tác giả tập trung phân tích cấu trúc và chất lượng mạng lưới (Landry & cộng sự, 2000)

Các nghiên cứu về VXH ở cấp độ tổ chức và DN tập trung ở cấu trúc và chất lượng mạng lưới theo ba loại vốn, cụ thể là Vốn xã hội bên trong - VXBT, Vốn xã hội bên ngoài - VXBN và Vốn xã hội lãnh đạo - VXLD (Nguyen và Huỳnh, 2012) Vận dụng quan điểm dựa trên tri thức (KBV - Knowledge – Based View), Yli-Renko

và cộng sự (2001) đã khẳng định vai trò của VXH hỗ trợ cho các DN thuận lợi hơn trong quá trình khai thác kiến thức kinh doanh (kiến thức về sản phẩm, thị trường và công nghệ) từ bên ngoài Kiến thức bên ngoài này có được thông qua vốn xã hội được tích lũy từ các khách hàng chủ chốt, tăng cường tiếp thu kiến thức bằng cách cải thiện khả năng lĩnh hội các kiến thức mới có giá trị từ môi trường bên ngoài thông qua trao đổi, chia sẻ và chuyển giao tri thức Hơn nữa, nghiên cứu của Suseno và Ratten (2007) còn chỉ ra rằng VXBT và VXBN đóng góp vào quá trình thúc đẩy DN phát triển kiến thức, góp phần cải thiện hiệu quả liên minh giữa các DN

Đổi mới để phát triển bền vững được xem là yếu tố sống còn của các tổ chức

Nó được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, kỹ thuật, Marketing, quản trị và một số những lĩnh vực liên quan Đồng thời, có nhiều các phương pháp tiếp cận

Trang 13

về lý thuyết đổi mới (Gopalakrishnan và Damanpour, 1997) Các nghiên cứu về đổi mới chứng minh rằng quá trình đổi mới của các công ty phụ thuộc mạnh mẽ vào các bên liên quan bên ngoài (trường đại học, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, người tiêu dùng) (Arora và cộng sự, 2001, Shan và cộng sự 1994) Quá trình đổi mới bắt nguồn

từ thông tin và kiến thức, bởi vì đổi mới đòi hỏi sự kết hợp của nhiều cơ sở tri thức hiện có và tri thức mới cần có của DN (Lausen và cộng sự, 2012) Ý tưởng trung tâm của lý thuyết vốn xã hội là mức độ tương tác xã hội cao mang lại lợi ích về mặt tiếp cận thông tin có giá trị, đúng người, đúng lúc và đúng chỗ (Burt, 1997) Sự quan tâm đến đổi mới sản phẩm xuất phát từ lợi ích của nó đóng góp vào thành tích chung là kết quả kinh doanh (Cuevas-Rodríguez và cộng sự, 2014)

Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng ở cấp độ DN, đổi mới sản phẩm càng triệt để thì hiệu quả đạt được càng cao của DN (Cuevas-Rodríguez và cộng sự, 2014; Salomo và cộng sự, 2008) Điều này là do đổi mới sản phẩm cung cấp giải pháp vượt trội mang lại nhiều lợi ích đến khách hàng, lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được nâng tầm dẫn đến thành công trong kinh doanh và cải thiện vị thế của DN trên thương trường (Nijssen và cộng sự, 2006) Thông qua mạng lưới quan hệ bên trong và bên ngoài, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã khẳng định VXBT và VXBN của DN

có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sản phẩm (Laursen và cộng sự, 2012; Tsai và Ghoshal, 1998)

Đặc biệt, ngành dệt may là một bối cảnh thích hợp cho nghiên cứu này vì những

lý do khác nhau Đầu tiên, ngành công nghiệp thời trang được đặc trưng bởi tốc độ đổi mới bền vững bởi vì các công ty luôn tìm cách sáng tạo và đổi mới sản phẩm hàng năm (Cillo và cộng sự, 2010) Thứ hai, đổi mới phong cách trong lĩnh vực dệt may thời trang đã được xác định rõ ràng trong quá trình đổi mới liên tục như đường cắt (rộng thùng thình hoặc bó sát), họa tiết (hoa hoặc nghệ thuật hiện đại), màu sắc (sáng màu hoặc tối màu), vải (tự nhiên hoặc tổng hợp) và chiều dài (váy mini, so với váy dài) Những lựa chọn này xác định mức độ sáng tạo trong phong cách của bất kỳ bộ sưu tập cụ thể nào (Pesendorfer, 1995) Thứ ba, đổi mới sản phẩm là chiến lược cạnh tranh mang tính chất sống còn trong ngành dệt may vì nó tác động mạnh lên kết quả

Trang 14

kinh doanh

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đã khẳng định tác động của VXH lên kết quả kinh doanh Trong đó, Akintimehin và cộng sự (2019) khuyến nghị rằng các DN nên tận dụng các nguồn VXBT cũng như cố gắng xây dựng VXBN của họ vì chúng có thể trở nên quan trọng đối với sự thành công trong kinh doanh Một nghiên cứu khác khám phá mối quan hệ giữa định hướng kinh doanh (tức là tính chủ động, đổi mới, chấp nhận rủi ro) và vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh Kết quả cho thấy việc chấp nhận rủi ro và VXH có liên quan tích cực đến kết quả kinh doanh (Nasip và cộng sự, 2017)

Tại Việt Nam, hội thảo do Tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa Học Công Nghệ) tổ chức với chủ đề về vốn xã hội Kể từ khi tổ chức hội thảo cho đến nay, các nghiên cứu về VXH được phân chia ra 2 nhóm chính: (1) Nhóm tổng kết, phân tích, so sánh quan điểm VXH của các nhà nghiên cứu nước ngoài nhằm mục đích giới thiệu, khuyến khích cộng đồng, nhà nước quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng VXH để phát triển kinh tế; (2) Ứng dụng lý thuyết VXH trong các nghiên cứu thực nghiệm để xây dựng mô hình đo lường VXH của DN trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu giới thiệu lý thuyết VXH Đây là nhóm có nhiều tác giả quan tâm như nghiên cứu về VXH nhằm mục đích phát triển kinh tế (Trần Hữu Dũng, 2006) Tác giả đã giới thiệu lý thuyết VXH và khuyến khích việc sử dụng VXH để phát triển kinh tế Nghiên cứu này đã chứng minh trong một xã hội mọi người có lòng tin, ứng xử chuẩn mực tức là giàu có về VXH sẽ giúp giảm tội phạm, giảm móc nối, giảm phí giao dịch và tăng mức đầu tư trong nền kinh tế Một nghiên cứu khác là tìm hiểu về khái niệm VXH (Trần Hữu Quang, 2006) Tác giả cũng đã giới thiệu các nghiên cứu trước đây về VXH, thảo luận về chất lượng mối quan hệ biểu hiện qua niềm tin, chuẩn mực và hợp tác lẫn nhau

Ngoài ra, còn có các tác giả khác, nổi bật là nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Anh (2011) về VXH ở nông thôn Việt Nam Tác giả cũng đã lược khảo những nghiên cứu

về VXH của các học giả nổi tiếng, phân tích và so sánh các quan điểm khác nhau về

Trang 15

VXH Đồng thời, tác giả cũng phân tích điểm tích cực và tiêu cực của VXH Cuối cùng, tác giả cũng nêu quan điểm của mình về việc nghiên cứu và vận dụng VXH ở các vùng nông thôn là cần thiết Hầu hết, các nghiên cứu về VXH này chỉ tóm tắt lý thuyết, so sánh và nêu quan điểm của tác giả về VXH Các nghiên cứu này chưa tạo

ra luận điểm làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm

Thứ hai, sử dụng VXH trong nghiên cứu thực nghiệm Số lượng nghiên cứu thực nghiệm về VXH trong DN còn rất ít Có thể kể ra một số các nghiên cứu nổi bật của các tác giả Appold & Thanh (2004) đã khẳng định ảnh hưởng của vốn xã hội trong các DN nhỏ tại Tp.Hà Nội Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng VXH giúp DN có được thông tin nhanh hơn, tiết giảm chi phí giao dịch, hạn chế rủi ro Một nghiên cứu khác của Nguyen và Huỳnh (2012) về VXH của các DN trong lĩnh vực bất động sản tại Tp.Hồ Chí Minh Theo đó, kết quả nghiên cứu cũng cho rằng VXH đã hỗ trợ tích cực các hoạt động đầu vào, quá trình và đầu ra của DN; khuyến khích DN cũng như các nhà hoạch định chính sách sử dụng VXH để phát triển kinh doanh Ngoài ra, tác giả còn nêu hàm ý để cho các DN trong ngành bất động sản cần dành nhiều thời gian

để thiết lập và nâng cao chất lượng mối quan hệ, mở rộng mạng lưới quan hệ nhằm

hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh

Tóm lại, các nghiên cứu thực nghiệm về VXH và kết quả của nó được thực hiện

ở ngoài nước rất nhiều, tại Việt Nam số lượng các nghiên cứu thực nghiệm về VXH còn rất hạn chế Thêm vào đó, chưa tìm thấy nghiên cứu nào khám phá mối quan hệ giữa VXH với kết quả kinh doanh, thông qua xem xét vai trò trung gian của cả hai yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm, cũng như xem xét mối quan hê ̣ tác

đô ̣ng lẫn nhau giữa ba yếu tố VXLD, VXBT và VXBN của DN trong ngành dệt may tại Việt Nam

1.2.2 Khe hổng nghiên cứu

Thứ nhất, ở cấp độ DN, nhiều nghiên cứu đã thực hiện trong việc đo lường tác động VXH lên kết quả kinh doanh theo 2 khía cạnh VXBT và VXBN ( Dai và cộng

sự, 2015; Cuevas-Rodríguez và cộng sự, 2014) Hơn nữa, một số tác giả khác còn

Trang 16

nghiên cứu vai trò của nhà lãnh đạo trong việc quản lý, phát triển vốn con người và vốn xã hội lãnh đạo (Hitt & Ireland, 2002; McCallum và O'Connell, 2009), các nghiên cứu này chưa xây dựng thang đo VXLD Tại Việt Nam, Nguyen và Huỳnh (2012) đã xây dựng thang đo VXLD trong ngành kinh doanh bất động sản Do đó, thang đo này cần được phát triển, hoàn chỉnh và kiểm định trong các ngành khác Ngoài ra, chưa tìm thấy nghiên cứu về mối quan hệ giữa 3 yếu tố VXLD, VXBT và VXBN của các

DN ngành dệt may

Thứ hai, nhiều nghiên cứu chỉ xem xét mối quan hệ riêng lẻ giữa VXH với tiếp thu kiến thức (Mikovic và cộng sự, 2019; Yli-Renko và cộng sự, 2001, Suseno & Raden, 2007); hay VXH với đổi mới sản phẩm (Cuevas-Rodríguez và cộng sự, 2014; Laursen và cộng sự, 2012) Tuy nhiên, chưa tìm thấy nghiên cứu về mối quan hệ đồng thời giữa VXH của DN với cả hai yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm Từ

đó, thông qua mạng lưới quan hệ giúp DN không ngừng phát triển kiến thức, cải tiến đổi mới sản phẩm góp phần cải thiện kết quả kinh doanh

Thứ ba, chưa tìm thấy nghiên cứu về VXH trong lĩnh vực dệt may tại Việt Nam

nên vẫn chưa thể khẳng định đóng góp của nó trong chuỗi hoạt động vốn xã hội; tiếp

thu kiến thức, đổi mới sản phẩm; kết quả kinh doanh

Tóm lại, thông qua lược khảo lý thuyết đã chỉ ra rằng VXH là một nguồn lực vô hình càng sử dụng thì càng mang về lợi ích cho DN và ngược lại Do đó, DN hoạt động trong ngành dệt may rất cần một khung lý thuyết khẳng định vai trò của VXH

Từ đó, các nhà lãnh đạo và các bên liên quan nỗ lực tạo lập để làm giàu vốn xã hội Qua đó, DN nên tận dụng VXH để khai thác, sử dụng VXH nhằm mang về nhiều lợi ích Như vậy, rất cần có nghiên cứu về mối quan hệ giữa VXH và kết quả kinh doanh, trong đó có xem xét ảnh hưởng trung gian của cả hai yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm cho trường hợp nghiên cứu điển hình ngành dệt may ở khu vực phía Nam Đặc biệt, khảo sát các DN thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi mà nhiều DN dệt may hoạt động như: TP.HCM, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai, sẽ là trọng tâm của nghiên

Trang 17

(2) Đo lường mức độ tác động trực tiếp, gián tiếp của các yếu tố VXLD, VXBT, VXBN, tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm lên kết quả kinh doanh của DN dệt may (3) Hàm ý quản trị giúp DN dệt may nâng cao kết quả kinh doanh

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Để mu ̣c tiêu nghiên cứu được hoàn thành thì đề tài cần trả lời các câu hỏi sau đây:

(1) Các yếu tố VXLD, VXBT và VXBN tác động như thế nào đến kết quả kinh doanh của DN dệt may?

(2) Các yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm có vai trò trung gian truyền dẫn tác động của VXH đến kết quả kinh doanh như thế nào?

(3) Mức độ tác động giữa các yếu tố VXLD, VXBT, VXBN, tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm lên kết quả kinh doanh như thế nào?

(4) Nghiên cứu rút ra được hàm ý quản trị nào để đóng góp vào kết quả kinh

Trang 18

doanh của DN ngành dệt may?

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu được nêu ra như trong mục 1.3 ở trên, các phương pháp này được trình bày tóm tắt như sau:

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách lược khảo lý thuyết và phỏng vấn tay đôi nhằm xác định khe hổng lý thuyết, từ đó đề xuất mô hình lý thuyết và thang đo sơ bộ, được thực hiện theo 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Đề xuất mô hình nghiên cứu Mục đích của giai đoạn này là mở rộng mô hình nghiên cứu thông qua việc khám phá thêm các yếu tố mới cũng như các mối quan hệ mới trong chuỗi tác động VXH, tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm

và kết quả kinh doanh

Giai đoạn 2: Hiệu chỉnh thang đo của các yếu tố trong mô hình Phần lớn thang

đo của các yếu tố được kế thừa từ các nghiên cứu ở nước ngoài, cho nên, để thang đo phù hợp với bối cảnh thực tiễn cần thực hiện phương pháp thảo luận tay đôi với các chuyên gia nhằm hiệu chỉnh thang đo

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Tóm tắt 3 giai đoạn của nghiên cứu định lượng như sau:

Giai đoạn 1: Thực hiện nghiên cứu khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ kiểm định mô hình bằng PLS-SEM nhằm dự đoán các mối quan hệ trong mô hình với lợi thế là cỡ mẫu ít Sau khi thực hiện nghiên cứu khám phá, tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ và chính thức nhằm khẳng định các mối quan hệ

Giai đoạn 2: Nghiên cứu sơ bộ để kiểm định mô hình và thang đo các yếu tố Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu thị trường thông qua phiếu

Trang 19

khảo sát với kích thước mẫu ít Sau đó, kiểm định hệ số Cronbach’s alpha và phân tích EFA (exploratory factor analysis) nhằm đánh giá sơ bộ thang đo đảm bảo giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.

Giai đoạn 3: Nghiên cứu chính thức nhằm mục đính kiểm định mô hình đo lường

và mô hình lý thuyết Sử dụng phân tích CFA (confirmatory factor analysis) để kiểm định mô hình đo lường các yếu tố nghiên cứu, kiểm định hệ số cronbach’s alpha Sau

đó sử dụng phân tích CB-SEM (Covariance Based - SEM) để kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề xuất Sau đó, thực hiện kiểm định Bootstrap để kiểm tra lại mô hình

1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của VXH lên kết quả kinh doanh của DN, với vai trò trung gian của tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm

Đối tượng điều tra là các DN dệt may có bộ phận thiết kế, bộ phận sáng tạo hoặc

bộ phận kỹ thuật để nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới Các công ty được phân chia thành 3 loại hình sở hữu vốn là công ty có vốn tư nhân (DNTN, TNHH, CP), công ty có vốn nước ngoài và công ty có vốn nhà nước

Đối tượng trả lời phỏng vấn/cung cấp thông tin là lãnh đạo cấp cao và lãnh đạo cấp trung tại các DN dệt may Bởi vì lãnh đạo cấp cao và cấp trung là những người chủ lực trong việc thiết lập, duy trì và mở rộng mối quan hệ cho DN đồng thời chính

họ mới có đủ năng lực trả lời bảng câu hỏi, gồm có: chủ ti ̣ch/phó chủ ti ̣ch hô ̣i đồng thành viên, chủ tịch/phó chủ tịch hội đồng quản tri ̣, tổng giám đốc/phó tổng giám đốc, giám đốc/phó giám đốc công ty và trưởng/phó các phòng ban trong công ty

1.6.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Được giới hạn tại các doanh nghiệp dệt may đang hoa ̣t

đô ̣ng ta ̣i khu vực phía Nam bao gồm Tp.HCM, các tỉnh Miền Tây và Miền Đông Nam

Bộ Trong đó, chủ lực là Tp.HCM và các tỉnh lân cận như Long An, Tiền Giang,

Trang 20

Đồng Tháp, Đồng Nai và Bình Dương là nơi có nhiều khu công nghiệp lớn của cả nước và tập trung nhiều các DN dệt may lớn đang hoạt động

Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2020 Trong đó, dữ liệu thị trường chính thức được điều tra từ tháng 12/2018 đến tháng 05/2019

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu

1.7.1 Ý nghĩa khoa học

Vốn xã hội là một khái niệm còn khá mới tại Việt Nam, do đó, việc thực hiện nghiên cứu sẽ có những bổ sung về lý thuyết khoa học, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trước đây các nghiên cứu về VXH chưa xem xét mối quan hệ nội hàm

giữa các yếu tố thành phần VXH của DN (VXLD, VXBT và VXBN) Ngoài ra, các nghiên cứu trước thực hiện trong lĩnh vực khác nên vẫn chưa thể khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng VXH trong ngành dệt may tại Việt Nam

Thứ hai, khi xác định và chứng minh được vai trò trung gian của các yếu tố tiếp

thu kiến thức và đổi mới sản phẩm trong mối quan hệ giữa VXH và kết quả kinh doanh Nghiên cứu sẽ đóng góp quan trọng về lý thuyết khoa học trong chuỗi tác

động VXH; tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm; kết quả kinh doanh Hơn nữa, khi

hoàn thành nghiên cứu sẽ xây dựng được bộ thang đo lường VXH trong ngành dệt may để các nghiên cứu trong tương lai có thể kế thừa

Thứ ba, với mục tiêu là xây dựng mô hình lý thuyết VXH với kết quả kinh

doanh, trong đó có đề cập vai trò trung gian hai yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm Nghiên cứu này chỉ ra các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp VXH đến kết quả kinh doanh Đây là minh chứng có giá trị khẳng định VXH được xem là một trong những nguồn vốn quan trọng để DN sử dụng trong hoạt động kinh doanh, cũng

như trong công tác điều tiết thị trường dệt may của hiệp hội ngành nghề

Thứ tư, VXH là một nguồn lực vô hình, chưa được phổ biến như các nguồn lực

khác Do đó, nghiên cứu này sẽ tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác không chỉ ở

Trang 21

ngành dệt may mà còn ở nhiều lĩnh vực khác nhau

1.7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án nghiên cứu mối quan hệ VXH của DN và kết quả kinh doanh, trong đó

có xem xét vai trò trung gian của cả 2 yếu tố tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm

Do đó, khi hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, luận án có những đóng góp hết sức cần thiết cho các DN dệt may và các bên liên quan như sau:

Thứ nhất, luận án xem xét chuỗi tác động vốn xã hội; tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm; kết quả kinh doanh dùng làm căn cứ để gợi ý giúp các DN dệt may sử

dụng VXH để phục vụ cho lợi ích kinh doanh

Thứ hai, trong nghiên cứu có xem xét mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố VXH,

tiếp thu kiến thức, đổi mới sản phẩm lên kết quả kinh doanh Đóng góp này sẽ giúp

DN dệt may có căn cứ để xem xét mức độ quan trọng của từng yếu tố VXH của DN cũng như tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm Từ đó, DN có cơ sở để ưu tiên phát triển và sử dụng các thành phần VXH của DN gồm: VXLD, VXBT và VXBN

Thứ ba, các nghiên cứu về VXH của DN hiện tại còn rất ít, vì vậy, với kết quả

đạt được của nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là hiệp hội ngành nghề cần chú trọng đến việc xây dựng, phát hiện và khai thác các nguồn VXH còn đang tồn tại trên thị trường

Sau cùng, nghiên cứu phục vụ cho các hiệp hội dệt may các cấp từ trung ương

đến địa phương, khuyến khích các DN tham gia sinh hoạt nhiều hơn trong hiệp hội Ban chấp hành hiệp hội cần nhận diện nhu cầu và nguồn lực của từng thành viên, từ

đó, tạo ra được sức mạnh từ mạng lưới liên kết giữa các DN, cải thiện năng lực cạnh tranh cho từng thành viên

1.8 Kết cấu của luận án

Luận án gồm có 5 Chương, trong đó, nội dung của chính của từng Chương được thể hiện như sau:

Trang 22

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu – Phân tích bối cảnh lý thuyết và bối

cảnh thực tiễn Kế tiếp, giới thiệu khái quát các nghiên cứu về VXH và kết quả kinh doanh để xác đi ̣nh khe hổng nghiên cứu Tiếp theo, trình bày mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu Sau cùng, trình bày ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn củ a nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu – Tổng kết các lý thuyết sử dụng

nghiên cứu luận án Sau khi lược khảo lý thuyết, áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách thảo luận với các chuyên gia, tiếp theo sử dụng nghiên cứu khám phá định lượng với công cụ kiểm định PLS-SEM để dự đoán kết quả ban đầu Sau cùng, mô hình lý thuyết và các giả thuyết được đề xuất

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày thiết kế nghiên cứu, tiếp

theo, thực hiện nghiên cứu định tính dùng để hiệu chỉnh thang đo Sau cùng, kiểm định sơ bộ thang đo bằng hệ số Cronback’s Alpha và phân tích EFA nhằm hoàn thiện

bộ thang đo lường các yếu tố để sử dụng cho nghiên cứu chính thức

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu – Phân tích các kết quả kiểm đi ̣nh

mô hình đo lường bằng cách sử dụng các công cụ phân tích CFA, hệ số Cronback’s Alpha, tiếp theo, kiểm định mô hình lý thuyết bằng CB-SEM Cuối cùng, kết quả nghiên cứu được thảo luận và so sánh với các nghiên cứu trước nhằm chỉ ra các điểm tương đồng hay khác biệt

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị - Trình bày kết luận cũng như đưa ra

hàm ý quản tri ̣ dành cho các DN trong ngành dệt may và các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là hiệp hội ngành nghề Tiếp theo, nêu ra các đóng góp và các hạn chế của nghiên cứu, đồng thời gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai

Tóm tắt Chương 1

Trong Chương 1 phân tích bối cảnh nghiên cứu và thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng của DN thuộc ngành dệt may Việt Nam, khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan nhằm xác định khe hỏng nghiên cứu Nghiên cứu bối cảnh lý thuyết cho thấy:

Trang 23

(1) Chưa tìm thấy nghiên cứu về VXH đối với kết quả kinh doanh trong ngành dệt may; (2) Các nghiên cứu trước về VXH chủ yếu làm sáng tỏ tác động trực tiếp VXH của DN đến kết quả kinh doanh mà chưa quan tâm đến ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố thành phần gồm: VXLD, VXBT và VXBN; (3) Chưa tìm thấy nghiên cứu thực nghiệm xem xét ảnh hưởng củ a VXH đến tiếp thu kiến thức và đổi mới sản phẩm của

DN trong lĩnh vực dệt may

Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu chỉ ra được ngành dệt may có vai trò rất quan trọng vì giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động, hiện tại, có thể được xem là ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế Việt Nam thể hiện ở vai trò điều tiết về mặt chính sách của chính phủ Ngoài ra, nội dung Chương 1 cũng cho thấy đặc điểm của các DN dệt may là nguồn lực vốn còn hạn chế nên cần tăng cường chất lượng mạng lưới quan hệ chặt chẽ hơn giữa các DN trong ngành dệt may của Việt Nam nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực VXH sẵn có, mỗi DN nên sử dụng VXH

để phục vụ cho các mục đích kinh doanh

Trang 24

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nội dung của Chương 2 trình bày các lý thuyết sử dụng nghiên cứu luận án Trong đó, lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết đổi mới tổ chức và thuyết kiến thức làm nền

tảng để nghiên cứu Ngoài ra, thông qua lược khảo tài liệu kết hợp với nghiên cứu định tính để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành dệt may

Sau đó tác giả sử dụng nghiên cứu khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ kiểm định mô hình bằng PLS-SEM để dự đoán kết quả các mối quan hệ giữa vốn xã hội lãnh đạo với vốn xã hội bên trong và bên ngoài Cuối cùng, đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

1.9 Các lý thuyết sử dụng nghiên cứu luận án

2.1.1 Lý thuyết vốn xã hội

2.1.1.1 Khái niệm vốn

Doanh nghiệp (DN) muốn liên tục duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn, do đó, vốn là một trong các nguồn lực thiết yếu để

DN tạo ra các nguồn lực khác Vấn đề mà DN quan tâm là làm thế nào để có đủ vốn

và sử dụng nó như thế nào nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Theo David Begg đã phân chia vốn theo 2 hình thức là vốn hiện vật và vốn tài chính (Begg, 2007) Theo

đó, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của DN Trong đó, vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của DN và vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để làm ra các loại hàng hóa khác

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, sự gia tăng trong hoạt động mua bán

và sáp nhập mang lại những vấn đề mới trong việc định giá công ty và tính toán cho các giao dịch lên quan Khi đó, giá trị sổ sách của DN chỉ là giá trị tổng hợp của tài sản hữu hình, còn giá trị vốn hóa thị trường thì được tính bằng giá trị sổ sách cộng với giá trị tài sản vô hình (Moore và Craig, 2008)

Do đó, các cách tiếp cận truyền thống để định giá DN trong mua bán và sáp

Trang 25

nhập tỏ ra không phù hợp trong việc xác định giá trị mới Điều này được quy cho tài sản vô hình và các thực thể chưa được công nhận như thương hiệu và sở hữu trí tuệ (Moore và Craig, 2008) Như vậy, vốn của doanh nghiệp không đơn thuần là tài chính

và các tài sản hữu hình thông thường, các tài sản vô hình được xem như nguồn vốn quan trọng đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và kết quả kinh doanh của DN (Bourdieu, 1986)

Trong nghiên cứu này, vốn được hiểu theo quan điểm của Bourdieu (1986) chính là tiền, các tài sản có thể quy đổi thành tiền và các tài sản vô hình

2.1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của vốn trong doanh nghiệp

Vốn là điều kiện đầu tiên quyết định đến sự sống còn, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Vốn kinh tế bao gồm tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền (Bourdieu, 1986), đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân cũng như duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh cho DN theo mục tiêu đã vạch ra Trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0, đổi mới là yếu tố sống còn của DN để phát triển bao gồm các hoạt động như giới thiệu các sản phẩm và công nghệ mới, chuyển giao kiến thức

và quy trình sản xuất mới, việc tiếp cận nguồn vốn tài chính bên ngoài để phục vụ cho sự đổi mới (Ayyagari và cộng sự, 2011)

Bên cạnh vốn kinh tế, các nguồn vốn khác như vốn văn hóa, vốn con người và VXH luôn tồn tại trong đời sống con người, góp phần cho công cuộc phát triển kinh

tế xã hội Trong đó, vốn con người có vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức khi các cá nhân áp dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ của mình; đồng thời VXH nâng cao hiệu quả thông qua các mạng lưới mối quan hệ thúc đẩy hợp tác và trao đổi nguồn lực (Day, 2001)

Như vậy, trong DN các nguồn vốn luôn tồn tại và bổ sung cho nhau, việc sử dụng đa dạng các nguồn vốn khác nhau giúp DN thực hiện đầu tư, đổi mới thiết bị và

mở rộng mối quan hệ tạo ra nhiều lợi thế so với đối thủ cạnh tranh trên thương trường

2.1.1.3 Các hình thức của vốn

Ngày nay, người ta nhận ra rằng quyền sở hữu doanh nghiệp được xác định dựa

Trang 26

trên quyền truy cập của doanh nhân vào cả hai nguồn lực tài chính và phi tài chính (Morris, 1998; Erikson, 2002; Firkin, 2003) Nếu quá trình kinh doanh được xem như

là bao gồm việc theo đuổi cơ hội và huy động các nguồn lực để tạo ra, cung cấp và nắm bắt các giá trị thông qua hoạt động kinh doanh (Garnsey và cộng sự, 2006) thì việc nghiên cứu quá trình kinh doanh này là hợp lý dựa theo quan điểm lấy nguồn lực làm nền tảng (Resource-based perspective) Vai trò của doanh nhân được xem là xác định, truy cập và sử dụng các nguồn lực theo cách phù hợp nhất (Firkin, 2001) Thông thường, vốn tài chính được xem là biến số chính cho những thành tựu của doanh nghiệp, tuy nhiên, Morris (1998) đã chỉ ra rằng các nguồn lực quan trọng thường là phi tài chính Do đó, để hiểu được vai trò của các nguồn lực trong quá trình kinh doanh, sự khác nhau của các hình thức vốn, cụ thể là vốn kinh tế bao gồm cả vốn văn hóa, vốn con người, vốn biểu tượng và vốn xã hội đều phải được xem xét cẩn thận (Nordstrom & Steier, 2015) Tại bất kỳ thời điểm nào, chính cấu trúc và phân phối của các hình thức vốn khác nhau sẽ quyết định đến cơ hội thành công của

DN (Bourdieu, 1985)

Các hình thức của vốn (the forms of capital) được Pierre Bourdieu giới thiệu vào năm 1986, vốn đóng vai trò là một quan hệ xã hội thông qua hệ thống trao đổi,

và thuật ngữ này được mở rộng ra cho tất cả các hàng hóa vật chất lẫn biểu tượng,

mà biểu hiện của chúng là khan hiếm và đáng giá để được tìm kiếm sau một sự hình thành xã hội cụ thể Ông đã phân biệt các loại vốn gồm: Vốn kinh tế (economic capital), Vốn văn hoá (cultural capital), Vốn xã hội (social capital) và Vốn biểu tượng (symbolic capital)

Vốn kinh tế

Pierre Bourdieu (1986) đề cập đến Vốn kinh tế (economic capital) và xem nó như một cái gì đó có thể đổi ngay lập tức hoặc trực tiếp thành tiền hay thể chế hóa thành quyền tài sản Như vậy theo quan điểm của Bourdieu có thể hiểu vốn kinh tế là phương tiện vật chất và tiền bạc mà chúng ta sở hữu Vốn này có thể là tiền, gia tài, lợi tức của kinh doanh mà chúng ta có thể làm ra, thu được Vốn kinh tế có thể nẩy

Trang 27

nở, nhưng chúng ta cũng có thể làm mất nó khi kinh doanh thua lỗ Vốn kinh tế là vốn dễ hiểu nhất trong các loại vốn mà Bourdieu đưa ra, tiền có thể mua được nhiều

đồ vật có giá trị, mua được văn hóa, tức là gầy dựng những loại vốn khác

Vốn văn hóa

Bourdieu (1986) là học giả đầu tiên xem văn hóa như một loại vốn Văn hóa là yếu tố tồn tại, tích lũy không thể thiếu đối với đời sống tinh thần con người Muốn đánh giá ảnh hưởng của văn hóa đến đời sống kinh tế, xã hội của con người thì nên xem văn hóa là một loại vốn (Bourdieu, 1986) Ông cho rằng vốn văn hoá (cultural

capital) có thể tồn tại trong ba hình thứ: (i) Thực thể hóa ẩn chứa trong bản thân mỗi người, (ii) khách thể hóa qua các sản phẩm văn hóa như: Hình ảnh, sách, từ điển, dụng cụ, (iii) thể chế hoá qua các chứng từ, bằng cấp được công nhận

Theo quan điểm của Pierre Bourdieu thì vốn văn hóa thiên về dạng vật chất, vật thể, cụ thể như các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các địa điểm có ý nghĩa văn hóa Vốn văn hóa này có thể mang lại giá trị trong việc cung cấp các loại hình tham quan, du lịch khác nhau

Vốn biểu tượng

Trong xã hội học và nhân chủng học, vốn biểu tượng (symbolic capital) có thể được xem là tài nguyên có sẵn cho một cá nhân trên cơ sở danh dự, uy tín hoặc sự công nhận, và phục vụ như một giá trị mà người ta nắm giữ trong một nền văn hóa Bourdieu (1986) coi vốn biểu tượng là hình thức mà các loại vốn khác nhau sử dụng một khi chúng được người khác cảm nhận và công nhận là hợp pháp và ông mô tả khái niệm này là ít nhiều đồng nghĩa với: địa vị, tên gọi, thanh thế, uy tín và danh tiếng (Bourdieu, 1986)

Các nhà lý luận đã lập luận rằng vốn biểu tượng được tích lũy chủ yếu từ việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội mà bản thân họ có tiềm năng để làm gia tăng uy tín Giống như việc tích lũy vốn tài chính, vốn biểu tượng có thể được tự do chuyển đổi thành lợi thế trong các lĩnh vực chính trị và xã hội Tuy nhiên, không giống như vốn tài chính, vốn biểu tượng không phải là vô hạn, và giá trị của nó có thể bị giới hạn

Trang 28

hoặc phóng đại bởi bối cảnh lịch sử mà nó được tích lũy Vốn biểu tượng phải được xác định trong khung văn hóa và lịch sử mà qua đó nó bắt nguồn để giải thích đầy đủ ảnh hưởng của nó trên các nền văn hóa

mở rộng nhiều mối quan hệ kết nối thì càng có nhiều lợi thế Mạng lưới mối quan hệ này rất có giá trị sử dụng và được xem như một loại vốn

Nhằm đạt được mục tiêu đề ra của luận án, tác giả phân tích sâu các nội dung

về VXH và VXH của DN được trình bày dưới đây

2.1.1.4 Quá trình hình thành và phát triển vốn xã hội

Theo Lyda Judson Hanifan, nhà giáo dục Mỹ, lần đầu tiên vào năm 1916 khi đề cập đến định nghĩa vốn xã hội bàn về vấn đề quan hệ trong các trường học ở các vùng nông thôn tại Bắc Mỹ, ông nói rằng các giá trị hiện thực đó có tác dụng lên hầu hết cuộc sống hàng ngày của con người (Hanifan, 1916) Ông dùng khái niệm VXH để chỉ mối quan hệ thân thuộc, tương tác và thông cảm nhau giữa các cá nhân, gia đình

và cộng đồng Từ đó, VXH đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và ứng dụng hầu hết ở nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý, giáo dục, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn thế giới Từ sau những năm 1980 của thế kỷ trước, VXH được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học, được khuyến khích sử dụng để phục vụ cho các lợi ích tổ chức, cá nhân, cộng đồng và xã hội

Thuật ngữ vốn xã hội bắt đầu xuất hiện trong nhiều nghiên cứu cộng đồng, làm sáng tỏ tầm quan trọng cho sự tồn tại và hoạt động của các mạng lưới quan hệ chặt chẽ, xuyên suốt; phát triển các mối quan hệ cá nhân dựa trên tin tưởng, hợp tác và

Trang 29

hoạt động tập thể trong cộng đồng dân cư (Jacobs, 1961) Đặc biệt, cuối những năm thập niên 80 của thế kỷ trước, trên quan điểm của mình, nhiều học giả đã đưa ra nhiều khái niệm về vốn xã hội và thuật ngữ này được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, kinh tế và đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học

Các nhà nghiên cứu cho rằng mạng lưới xã hội có khả năng cung cấp cho nhà quản trị các nguồn lực có giá trị mà ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của cá nhân và

tổ chức (Adler & Kwon, 2002; Nahapiet & Ghoshal, 1998) Các nguồn lực có được

từ mạng lưới xã hội được gọi chung là VXH VXH được xem như là thiện chí dành cho các cá nhân và nhóm, trong đó thiện chí đề cập đến một cảm giác hoặc thái độ tốt bụng, hữu ích hoặc thân thiện Tác động của vốn xã hội nằm ở thông tin, ảnh hưởng và lợi ích đoàn kết tích lũy cho các thành viên của một tập thể và cho các tác nhân, dù là cá nhân hay tập thể, trong mối quan hệ của họ với các tác nhân khác Nguồn gốc của nó nằm ở các mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể đó, và các mối quan hệ xã hội này có thể được phân biệt với quan hệ trao đổi thị trường và quan hệ phân cấp trong xã hội (Kwon & Alder, 2014) Các Nghiên cứu trong kinh doanh đang ngày càng chứng minh tầm quan trọng của VXH trong quá trình phát triển của DN (Dai và cộng sự, 2015; Cuevas-Rodríguez và cộng sự, 2014)

2.1.1.5 Khái niệm vốn xã hội

Theo Bourdieu (1986) cho rằng VXH là toàn bộ các nguồn lực thực tế hoặc tiềm

ẩn khởi đầu từ mối quan hệ quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp Để có được mạng lưới các mối quan hệ rộng, có chất lượng là kết quả đầu tư của cá nhân hay tập thể, để thiết lập hoặc tái tạo mạng lưới quan hệ xã hội nhằm sử dụng để phục vụ cho lợi ích trực tiếp trong ngắn hạn hay lâu dài (Bourdieu, 1986) Ngoài ra, ông còn cho rằng mỗi cá nhân đều có thể tạo ra nhiều vốn xã hội nếu họ quyết tâm làm điều đó, mỗi cá nhân có thể sử dụng VXH nhằm mang về nhiều lợi ích cho bản thân Tuy nhiên, Bourdieu (1986) cho rằng mức độ lợi ích đạt được cao hay thấp tùy thuộc vào mạng lưới quan hệ (social networking), trách nhiệm xã hội và khả năng kết nối của từng cá nhân Hơn nữa, Coleman (1988) còn chỉ ra rằng VXH giúp cho các cá nhân có nhiều

Trang 30

thay đổi trong các mối quan hệ, do đó, làm thuận lợi hơn cho các hoạt động của họ Nếu như vốn vật chất (physical capital) là hữu hình, tồn tại trong hình thức vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy được, và vốn con người (human capital) là ít hữu hình, được thể hiện ở năng lực cá nhân, trình độ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc và khả năng của một cá nhân (McCallum và O'Connell, 2009); thì vốn xã hội là

vô hình và nó tồn tại trong các mối quan hệ Theo Coleman (1988), VXH có 3 đặc trưng: (1) nghĩa vụ và mong đợi (obligations and expectations), có nghĩa là nó tùy thuộc vào mức độ tin cậy lẫn nhau, nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức cũng như kỳ vọng của người này với người khác; (2) các kênh thông tin (information channels) có nghĩa là thông qua giao tiếp với các bên, các cá nhân được tiếp nhận các thông tin bổ ích trong cuộc sống, thay thế phần nào các thông tin từ sách, báo cũng như phương tiện truyền thông Các thông tin này rất có giá trị sử dụng trong các quan hệ xã hội và (3) các chuẩn mực xã hội (social norms) có nghĩa là VXH càng nhiều khi xã hội càng

có nhiều chuẩn mực (norms), nhất là các quy định có kèm trừng phạt

Quan điểm tương tự như Bourdieu và Coleman, Nahapiet and Ghoshal (1998) tập trung phân tích 3 khía cạnh về VXH là quan hệ, cấu trúc và nhận thức Nahapiet

và Ghosal (1998) cũng cho rằng VXH là tổng hợp các nguồn lực tiềm ẩn và thực tế bên trong mạng lưới quan hệ được sở hữu bởi cá nhân hay tổ chức, thông qua mạng lưới quan hệ các chủ thể có thể khai thác và sử dụng được các nguồn lực lẫn nhau Đặc biệt, Nahapiet & Ghosal (1998) là người đầu tiên chỉ ra ba thành phần của VXH gồm (1) thành phần cấu trúc thể hiện loại mối quan hệ là gần gũi hay xã giao, cơ cấu

tổ chức mạng lưới và sự phù hợp của các tổ chức tham gia mạng lưới; (2) thành phần quan hệ thể hiện qua chất lượng mạng lưới như niềm tin, chuẩn mực, nghĩa vụ và kỳ vọng lẫn nhau và (3) thành phần nhận thức là các quy định về ngôn ngữ và ký hiệu riêng để giao tiếp, chia sẻ những giá trị truyền thống và văn hóa giữa những người trong mạng lưới

Qua dữ liệu thống kê, Putnam (1995) đã có các khám phá mới lạ như: (1) Người dân Hoa Kỳ thích các hoạt động riêng tư hơn là các hoạt động tập thể, cụ thể như xem

Trang 31

tivi một mình, ăn một mình, chơi bowling một mình; (2) ngày càng ít người dân tham gia sinh hoạt cộng đồng và xã hội như các tổ chức tôn giáo, các đoàn hội, hoạt động

từ thiện và tỉ lệ đi bầu cử thấp; (3) Mọi người ít giao tiếp với xã hội do mức độ tin cậy nhau thấp, luật sư ngày càng đông, lái xe ngày càng cộc cằn Robert D.Putnam

đã giải thích sự xói mòn VXH của người dân Mỹ như sau: Người lao động ngày càng mất nhiều thời gian đi từ nhà đến nơi làm việc, phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều, tỉ lệ kết hôn ngày càng thấp, tỉ lệ ly hôn ngày càng tăng Nguyên nhân là các hình thức giải trí hiện đại đã làm thay đổi các thói quen trong cuộc sống, con người không còn quan tâm đầu tư vào VXH qua các chương trình sinh hoạt hội, đoàn cũng như tham gia vào các tổ chức có liên quan Chính sự tham gia ngày càng nhiều vào các mạng lưới xã hội khác nhau, nhờ vậy mà mọi người có lòng tin, tương hỗ lẫn nhau trong cuộc sống Putnam (1995) coi mấu chốt của xã hội là tạo

ra các mối liên kết (social networks) mà tập hợp các mối liên kết đó tạo ra giá trị chung là VXH

Vốn xã hội chính là một tập hợp các mối quan hệ có giá trị hoặc chuẩn mực được chia sẻ giữa các thành viên của một nhóm cho phép họ hợp tác lẫn nhau (Fukuyama, 1997) Theo Fukuyama (1997) có hai điểm cần lưu ý khi bàn về VXH, trước tiên, nó không phải là một tập hợp con của vốn con người, vì nó là một tài sản của nhóm và không phải của cá nhân Điểm thứ hai là VXH không nhất thiết phải là những điều tốt mà là sự phối hợp của tất cả các hoạt động xã hội, dù tốt hay xấu Ngoài ra, Fukuyama còn cho rằng vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người và ngược lại, thí dụ như thông qua mối quan hệ mỗi cá nhân sẽ được chia sẻ thông tin, kiến thức và kinh nghiệm trong công việc, do vậy sẽ làm tăng vốn con người Hơn nữa, người có trình độ sẽ quan tâm đến con cái nhiều hơn, do được quan tâm nên con cái

sẽ cố gắng học tập để làm tăng giá trị vốn con người Tuy nhiên, Fukuyama (1997) còn cho rằng không phải loại vốn nào cũng đáng có bởi vì vốn con người và vốn xã hội cũng có những tiêu cực, thí dụ như con người dùng trí tuệ để tạo ra các vũ khí hủy diệt, tạo ra các phương pháp hành hạ, tra tấn dã man

Trang 32

Một quan điểm khác của Lin (1999) cho rằng VXH là nguồn lực gắn kết trong một cấu trúc xã hội, nó được truy cập hoặc thúc đẩy các hành động có chủ đích Theo định nghĩa này, khái niệm VXH có chứa ba thành phần gồm nguồn lực gắn kết trong một cấu trúc xã hội, khả năng tiếp cận với các nguồn lực xã hội của cá nhân và sử dụng hoặc huy động các nguồn lực xã hội bởi các cá nhân trong các hành động có chủ đích VXH chính là các nguồn lực có thể tiếp cận thông qua các mối liên kết trong

xã hội (Lin, 2001) Trong VXH, Nan Lin giải thích vai trò của việc sử dụng các kết nối xã hội (social connections) và quan hệ xã hội (social relations) trong việc đạt được mục tiêu Vốn xã hội hoặc các nguồn lực thông qua kết nối này là rất quan trọng (cùng với vốn con người, những gì một người hoặc một tổ chức thực sự sở hữu) sẽ giúp cho các cá nhân, các nhóm xã hội, các tổ chức và cộng đồng dễ dàng hơn trong việc đạt được các thành quả Quan điểm khác của Adler & Kwon (2002) mô tả VXH là các nguồn lực sẵn có trong mỗi tác nhân dựa theo chức năng và vị trí của họ trong cấu trúc mạng lưới quan hệ Hơn nữa, các tác giả còn phân biệt 3 loại quan hệ khác nhau: (1) Quan hệ thị trường như sản phẩm và dịch vụ được trao đổi thông qua tiền; (2) quan hệ thứ bậc như việc tuân thủ theo quyền lực, đảng phái để nhận được sự đảm bảo về an ninh, đời sống tinh thần và vật chất; (3) quan hệ xã hội thông qua sự giúp

đỡ, hỗ trợ qua lại với nhau (một đặc ân mà tôi làm cho bạn hôm nay được thực hiện

để đổi lấy một đặc ân tại thời điểm vẫn chưa được xác định) Bảng 2.1 tóm lược một

số định nghĩa về VXH mà các nhà nghiên cứu đã phát biểu

Thông qua việc phân tích các khái niệm về vốn xã hội cho thấy các tác giả đưa

ra nhiều khái niệm và giải thích khác nhau được trình bày trong Bảng 2.1 Nhìn chung,

so sánh cách phân tích của các tác giả về nội hàm của VXH có nhiều điểm giống nhau

ở chỗ cho rằng VXH nằm trong quan hệ xã hội, VXH gắn liền với mạng lưới xã hội

và mạng lưới xã hội là một thành tố của VXH

Các nhà nghiên cứu về lý thuyết vốn xã hội như lược khảo tài liệu ở trên đưa ra nhiều khái niệm về VXH có khác nhau nhưng bổ sung cho nhau Tổng kết các quan điểm trên, vốn xã hội có ba khía cạnh là khía cạnh cấu trúc, khía cạnh nhận thức và

Trang 33

khía cạnh quan hệ (Bảng 2.2)

Bảng 2.1 Tổng kết các khái niệm của vốn xã hội

1 Bourdieu

(1985)

VXH là tổng hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm ẩn có liên quan đến sở hữu mạng lưới mối quan hệ bền vững, ít nhiều đã được thể chế hoá thông qua sự quen biết và công nhận lẫn nhau

2 Coleman

(1988)

VXH không phải là một thực thể duy nhất mà tồn tại trong một loạt các thực thể khác nhau, với hai đặc điểm chung là bao gồm một số khía cạnh của cấu trúc xã hội và chúng tạo điều kiện thuận lợi cho từng cá nhân trong cấu trúc đó

hệ sở hữu bởi cá nhân hay đơn vị xã hội

6 Lin (1999) VXH được xem như nguồn lực gắn kết trong một cấu trúc xã hội,

nó được truy cập hoặc thúc đẩy các hành động có chủ đích

Trang 34

Thứ nhất, khía cạnh cấu trúc mạng lưới của chủ thể có bốn đặc trưng: (1) Mạng

lưới quan hệ rộng hay hẹp; (2) kết cấu tổ chức mạng lưới tức là những người và vị trí của họ tham gia mạng lưới; (3) sự phù hợp của các tổ chức tham gia trong mạng lưới thể hiện thông qua tính ổn định của mạng lưới; (4) các chủ thể tham gia trong mạng lưới quan hệ với nhau theo chiều dọc hay chiều ngang

Thứ hai, khía cạnh nhận thức của mạng lưới có bốn đặc trưng: (1) Chia sẻ về

mục tiêu và tầm nhìn giữa các đơn vị trong tổ chức; (2) chia sẻ về ký hiệu, ngôn ngữ trong giao tiếp; (3) chia sẻ về văn hóa; (4) chia sẻ về kiến thức và thông tin

Thứ ba, khía cạnh chất lượng mối quan hệ mạng lưới có năm đặc trưng: (1)

Niềm tin giữa các cá nhân; (2) nghĩa vụ, chuẩn mực và sự kỳ vọng lẫn nhau; (3) các hình thức liên kết xã hội; (4) quan hệ thị trường, xã hội, thứ bậc; (5) tần suất tham gia vào mạng lưới nhiều hay ít, đoàn kết trong mạng lưới

Bảng 2.2 Tổng hợp các đặc trưng của vốn xã hội

Ghosal (1998); Brookes & cộng sự (2006)

Mối quan hệ mạng lưới rộng hay hẹp (Network ties)

Tasavori và cộng sự (2018), Brookes &

cộng sự (2006), Nahapiet & Ghosal (1998), ABS (2004); Putnam (2000)

Kết cấu tổ chức trong mạng lưới (Network configuration) Nahapiet & Ghosal (1998); Brookes &

cộng sự (2006)

Sự phù hợp của tổ chức tham gia mạng lưới (thể hiện tính ổn định của mạng lưới)

Trang 35

Niềm tin

Nahapiet & Ghosal (1998); Brookes &

cộng sự (2006), ABS (2004); Putnam (2000), Mikovic và cộng sự (2019)

Nghĩa vụ, chuẩn mực,

kỳ vọng

Meyerson (1993), ABS (2004), Putnam (2000), Polyviou và cộng sự (2019), Prieto-Pastor và cộng sự (2018)

Sự liên kết

Adler & Kwon (2002), Granovetter (1985) Lin (2002), ABS, (2004), Polyviou và cộng sự (2019)

Quan hệ thị trường, xã hội, thứ bậc Coleman (1990), Bourdieu (1986), Putnam

(1995), Fukuyama (1997), Nahapiet &

Ghosal (1998), Brookes & cộng sự (2006), Putnam (2000), Laursen và cộng sự (2012), Polyviou và cộng sự (2019), Mikovic và cộng sự (2019)

Sự tham gia

Trang 36

Vốn xã hội

(tt)

Tác giả (tt)

Đặc trưng (tt)

Chia sẻ tầm nhìn giữa các cá nhân, đơn vị trong tổ chức Tasavori và cộng sự (2018), Brookes &

cộng sự (2006), Nahapiet & Ghosal (1998), ABS (2004), Putnam (2000)

Chia sẻ về ký hiệu, ngôn ngữ giao tiếp Tasavori và cộng sự (2018), Brookes &

cộng sự (2006), Nahapiet & Ghosal (1998)

Chia sẻ về văn hóa

Nahapiet & Ghosal (1998), Brookes &

cộng sự (2006), Prieto-Pastor và cộng sự (2018), Mikovic và cộng sự (2019)

Chia sẻ về kiến thức và

thông tin

(Nguồn: Tổng kết từ lược khảo lý thuyết của tác giả)

2.1.1.6 Vốn xã hội và hiệu quả kinh tế

Lins và cộng sự (2017) cho rằng niềm tin có liên quan đến tăng trưởng GDP, quy mô của các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng như việc tuân thủ chính sách thuế của người dân và các vấn đề tham nhũng trong xã hội VXH là một khái niệm gắn liền với việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế (Dasgupta, 2005) Guiso và cộng sự (2004) nhận thấy rằng ở các quốc gia giàu có vốn xã hội, người dân thường sử dụng séc để chi tiêu, ít sử dụng tiền mặt, đầu tư nhiều hơn vào cổ phiếu, các cá nhân có điều kiện tiếp cận các tổ chức tín dụng dễ dàng hơn và sử dụng tín dụng phi chính thức ít hơn

Khi vốn xã hội trong một quốc gia được coi trọng, nghĩa là chất lượng mạng lưới giữa các cá nhân cũng như môi trường hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp nơi có lòng tin cao sẽ tiết giảm chi phí giao dịch, do ít tốn kém trong việc bảo vệ bản

Trang 37

thân khỏi bị lợi dụng trong các quan hệ kinh tế cũng như các giao dịch xã hội (Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên, 2014) Như vậy, các điều khoản chi tiết trong hợp đồng sẽ không thực sự cần thiết Khi đó, thay vì tốn công sức trong việc giám sát lẫn nhau thì các cá nhân, doanh nghiệp nên huy động các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu, đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ Chính điều này, vốn

xã hội sẽ thúc đẩy hợp tác, giảm chi phí giao dịch, cải thiện kết quả kinh doanh Vì vậy, VXH góp phần mở rộng các hoạt động giao thương, phát triển kinh tế, mang lại phồn thịnh cho từng quốc gia

Ngoài ra, Chou (2006) còn khẳng định rằng vốn xã hội có 3 đóng góp quan trọng giúp tăng trưởng kinh tế như: (1) VXH tác động đến tăng trưởng bằng cách hỗ trợ tích lũy vốn con người; (2) tác động đến phát triển tài chính thông qua tác động của nó đối với lòng tin tập thể và các chuẩn mực xã hội và (3) tạo điều kiện kết nối giữa các doanh nghiệp dẫn đến việc tạo ra và phổ biến những đổi mới về công nghệ

tổ chức khác) Trong ngành dệt may, vốn xã hội bên ngoài (VXBN) có thể được hiểu

là các liên kết xã hội với các thực thể bên ngoài, chẳng hạn như các đối tác kinh doanh Trong khi đó, vốn xã hội bên trong (VXBT) phản ánh quan hệ xã hội giữa các

cá nhân hoặc các đơn vị/bộ phận trong DN Hầu hết các nghiên cứu về VXH của doanh nghiệp tập trung vào (1) chất lượng mạng lưới quan hệ được đo lường bởi niềm tin, chia sẻ thông tin, kiến thức, hỗ trợ qua lại, tránh gây tổn hại đến lợi ích lẫn nhau (Dai và cộng sự, 2015); (2) cấu trúc mạng lưới của từng khía cạnh VXH của doanh nghiệp (Hitt & Ireland, 2002)

Trang 38

Trong nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của Nguyen và Huỳnh (2012) về VXH của DN chính là cấu trúc và chất lượng mạng lưới quan hệ của lãnh đạo, của các nhân viên và bộ phận bên trong và bên ngoài DN Chính nhờ các mối quan hệ đã được thiết lập sẵn từ VXH mà các tác nhân có thể huy động nguồn lực bằng cách tạo

ra các mối quan hệ mới (Adler & Kwon, 2002)

2.1.2.2 Cấu trúc vốn xã hội của doanh nghiệp

Khi nghiên cứu về cấu trúc VXH của DN, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu

về ba thành phần như sau: (1) VXBT là chất lượng mạng lưới quan hệ giữa các cá nhân, các bộ phận hoặc phòng ban nội bộ trong DN (Tasavori và cộng sự, 2018; Dai

và cộng sự, 2015; Adler và Kwon, 2002); (2) VXBN là chất lượng mạng lưới quan

hệ của DN với các đối tác bên ngoài (Dai và cộng sự, 2015; Suseno và Ratten, 2007); (3) VXLD là chất lượng mạng lưới quan hệ của lãnh đạo với các cá nhân bên trong

và bên ngoài DN (Nguyen & Huỳnh, 2012)

Các nghiên cứu về VXH của DN tập trung nghiên cứu về cấu trúc và chất lượng mạng lưới trên từng thành phần VXH gồm VXLD, VXBT và VXBN được trình bày trong các mục 2.1.2.3, 2.1.2.4 và 2.1.2.5 dưới đây

2.1.2.3 Vốn xã hội lãnh đạo

Khái niệm

Các nhà lãnh đạo chiến lược hiệu quả thường xuyên xây dựng và triển khai nguồn vốn xã hội để có được kết quả kinh doanh tốt hơn (Mc Callum và O’Connell, 2009) Nhưng làm thế nào để họ làm được điều đó, những nhà lãnh đạo như vậy không coi lãnh đạo là cấp bậc và chức danh, mà là một vị trí có trách nhiệm với nhiều bên liên quan (Ireland và Hitt, 2005) Họ tham gia vào trong các nhóm lớn như cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề; họ quản lý nghịch lý thông qua việc sử dụng các nhóm lớn (Ireland và Hitt, 2005), nghịch lý được hiểu là nơi vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với các DN khác Sự phát triển lý thuyết VXH gần đây cho thấy rằng các nguồn vốn xã hội có sẵn trong một nhóm, nó sẽ làm tăng hiệu quả của nhóm, với

Trang 39

yêu cầu các mối quan hệ phải được xây dựng chặt chẽ bên trong và bên ngoài ranh giới nhóm (Oh và cộng sự, 2006)

Theo quan điểm của Hitt & Ireland (2002) thì các nhà lãnh đạo cấp cao phải chú trọng đến nguồn VXH trong tổ chức cũng như nguồn VXH nằm ngoài DN Chất lượng mạng lưới quan hệ của lãnh đạo biểu hiện qua giao tiếp, niềm tin, thân thiện, đồng thuận, chia sẻ, giúp đỡ, nghĩa vụ và cam kết của lãnh đạo (Nguyen & Huỳnh, 2012; McCallum và O’Connell, 2009)

Trong nghiên cứu này, sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyen và Huỳnh (2012)

về VXLD là chất lượng mạng lưới quan hệ của lãnh đạo với các cá nhân nội bộ doanh nghiệp và các đối tác có liên quan bên ngoài

Cấu trúc và chất lượng mạng lưới vốn xã hội lãnh đạo

Cấu trúc mạng lưới VXLD rất rộng bao gồm các cá nhân liên quan đến gia đình, dòng họ, bạn bè, đối tác kinh doanh, đồng nghiệp, các cấp chính quyền, lãnh đạo cộng đồng (Hitt và Ireland, 2002) Đo lường chất lượng mạng lưới thể hiện ở việc thiết lập, duy trì, tin tưởng, chia sẻ, tránh làm tổn hại nhau và giúp đỡ qua lại giữa lãnh đạo và các bên liên quan trong mạng lưới (Nguyen và Huỳnh, 2012; Dai và cộng sự, 2015)

Về tổng thể, VXLD là một khái niệm đa hướng (Nguyen và Huỳnh, 2012) Tuy nhiên, tùy theo ngành nghề kinh doanh của DN mà mức độ quan trọng của các bên liên quan trong cấu trúc mạng lưới VXLD có sự thay đổi, cụ thể như nghiên cứu trong lĩnh vực bất động sản, lãnh đạo có mối quan hệ tốt với các cấp chính quyền ảnh hưởng mạnh đến thành quả kinh doanh của DN, điều này có nghĩa là những DN bất động sản vì không có mối quan hệ tốt với chính quyền nên không tiếp cận được quỹ đất phát triển

dự án (Huỳnh Thanh Điền, 2011)

Trong nghiên cứu này, do đặc thù của ngành dệt may, thông qua nghiên cứu định tính (Phụ lục 1) đã xác định được ba thành phần quan trọng trong thang đo đa hướng VXLD bao gồm: (1) Hiệp hội ngành nghề; (2) đối tác kinh doanh; và (3) đồng nghiệp

Trang 40

2.1.2.4 Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp

Khái niệm

Vốn xã hội bên trong (internal social capital) nuôi dưỡng các liên kết chặt chẽ trong tổ chức (Tsai, 2000) tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sự tương tác, phối hợp giữa các nhân viên và bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp (Adler và Kwon, 2002) Trong doanh nghiệp, các nhân viên hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau sẽ hỗ trợ nhau trong việc chia sẻ thông tin, kiến thức một cách thường xuyên thông qua các cuộc trò chuyện thân mật, dẫn đến đạt được hiệu quả cao hơn của các nhóm chức năng chéo (Rosenthal, 1996) Như Chen và Tseng (2012) cho rằng hợp tác giữa các bộ phận hay phòng ban chức năng là chìa khóa để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Ngoài ra, vốn xã hội bên trong dẫn đến một bầu không khí làm việc thân thiện dựa trên sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau giữa các nhân viên (Yang và cộng sự, 2012)

Do đó, duy trì một lực lượng lao động ổn định là rất quan trọng để đạt được chất lượng công việc xuất sắc và lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp có mức vốn xã hội nội bộ cao hơn có nhiều khả năng cải thiện lợi nhuận (Dai và cộng sự, 2015)

Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của Yli-Renko và cộng sự (2002), vốn xã hội bên trong được xem như là mức độ và chất lượng của mạng lưới quan hệ giữa các nhân viên và đơn vị/bộ phận nội bộ trong DN Theo đó, từng nhân viên và các đơn vị luôn nỗ lực tìm ra các phương pháp khác nhau để đảm bảo liên kết giao tiếp thành công trong doanh nghiệp nhằm mục đích cuối cùng là xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiệu quả (Tasavori và cộng sự, 2018) Ví dụ, trong một doanh nghiệp có vốn xã hội phát triển mạnh mẽ, tầm nhìn của doanh nghiệp được chia sẻ giữa tất cả nhân viên (Mikovic và cộng sự, 2019) để cho phép việc tạo ra các đội nhóm làm việc hiệu quả

và giúp gia tăng kết quả kinh doanh (Akintimehin và cộng sự, 2019)

Đo lường chất lượng mạng lưới bên trong biểu hiện qua giữ lời hứa, có chung mục tiêu và tầm nhìn, trao đổi kiến thức và thông tin, tránh làm tổn hại lẫn nhau cũng như duy trì mối quan hệ chặt chẽ

Ngày đăng: 03/07/2023, 14:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội (Trang 60)
Hình 2.3: Vốn xã hội lãnh đạo và vốn xã hội bên ngoài - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 2.3 Vốn xã hội lãnh đạo và vốn xã hội bên ngoài (Trang 68)
Hình 2.6: Mô hình lý thuyết tác động vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 2.6 Mô hình lý thuyết tác động vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh (Trang 76)
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu của đề tài - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu của đề tài (Trang 79)
Bảng 3.3: Thang đo tiếp thu kiến thức - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.3 Thang đo tiếp thu kiến thức (Trang 87)
Bảng 3.4: Thang đo đổi mới sản phẩm - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.4 Thang đo đổi mới sản phẩm (Trang 88)
Bảng 3.5: Thang đo vốn xã hội lãnh đạo - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.5 Thang đo vốn xã hội lãnh đạo (Trang 89)
Bảng 3.6: Thang đo vốn xã hội bên trong doanh nghiệp - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.6 Thang đo vốn xã hội bên trong doanh nghiệp (Trang 90)
Bảng 3.7: Thang đo vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.7 Thang đo vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp (Trang 91)
Bảng 3.18: Kiểm đi ̣nh EFA thang đo kết quả kinh doanh. - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.18 Kiểm đi ̣nh EFA thang đo kết quả kinh doanh (Trang 104)
Bảng 3.19: Thang đo chính thức của các yếu tố nghiên cứu - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Bảng 3.19 Thang đo chính thức của các yếu tố nghiên cứu (Trang 105)
Hình 4.1: Kết qua ̉  CFA các thành phần vốn xã hội lãnh đạo. - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 4.1 Kết qua ̉ CFA các thành phần vốn xã hội lãnh đạo (Trang 115)
Hình 4.2: Kết qua ̉  CFA các yếu tố trong mô hình tới hạn. - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 4.2 Kết qua ̉ CFA các yếu tố trong mô hình tới hạn (Trang 118)
Hình 4.3 mô tả các chỉ số trong kiểm định mô hình lý thuyết như sau: Mô hình - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 4.3 mô tả các chỉ số trong kiểm định mô hình lý thuyết như sau: Mô hình (Trang 122)
Hình 4.3: Kết qua ̉  kiểm định CB-SEM của mô hình lý thuyết - Luận án tiến sĩ kinh tế tác động của vốn xã hội đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp   trường hợp nghiên cứu ngành dệt may khu vực phía nam, việt nam
Hình 4.3 Kết qua ̉ kiểm định CB-SEM của mô hình lý thuyết (Trang 123)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm