1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp giúp học sinhlớp 1 học tốt toán có lời văn

62 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 học tốt toán có lời văn
Tác giả Đoàn Kiều Trang, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Nguyễn Thùy Trang, Nguyễn Lệ Diễm Trinh
Người hướng dẫn Th.S Đoàn Thị Diễm Ly
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư phạm
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Lý do chọn đề tài (7)
  • II. Đối tượng nghiên cứu (7)
  • III. Mục tiêu nghiên cứu (7)
  • IV. Phạm vi nghiên cứu (8)
  • V. Thời gian nghiên cứu (8)
  • VI. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ (9)
    • 1.1. Cơ sở lí luận (9)
      • 1.1.1. Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học (9)
      • 1.1.2. Nội dung chương trình dạy Toán lớp 1 (11)
      • 1.1.3. Phân tích sơ lược sách giáo khoa (11)
      • 1.1.4. Nguyên tắc và phương pháp dạy Toán (15)
      • 1.1.5. Tầm quan trọng của toán có lời văn trong toán lớp 1 (17)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (18)
    • 1.3. Kết luận (20)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN TRONG TOÁN 1 (21)
    • 2.1. Thực trạng dạy và học toán có lời văn (21)
      • 2.1.1. Thực trạng dạy học của giáo viên (21)
      • 2.1.2. Thực trạng học của học sinh (22)
    • 2.2. Nguyên nhân (23)
      • 2.2.1. Từ học sinh (23)
      • 2.2.2. Từ giáo viên (24)
    • 2.3. Kết luận (24)
  • CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT TOÁN CÓ LỜI VĂN (26)
    • 3.1. Phương pháp 1: dạy học theo phương pháp dạy học tích cực (26)
    • 3.2. Phương pháp 2: giải toán có lời văn theo quy trình chung (27)
    • 3.3. Phương pháp 3: dạy học toán có thời văn theo từng mức độ (31)
      • 3.3.1. Nội dung dạy học giải toán có lời văn cụ thể ở lớp 1 (31)
      • 3.3.2. Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 phân loại theo phép tính sử dụng trong bài giải (35)
      • 3.3.3. Tổng hợp cách thức hướng dẫn học sinh cách giải toán có lời văn (38)
    • 3.4. Phương pháp 4: dạy học toán có lời văn theo (40)
      • 3.4.1. Dạng 1: Làm quen với dạng toán có lời văn (40)
      • 3.4.2. Dạng 2: Giải bài toán có lời văn về thêm, bớt một số đơn vị (42)
    • 3.5. Phương pháp 5: Giải pháp dạy toán có lời văn theo tiến trình SGK (50)
    • 1. Đánh giá chung (59)
    • 4. Ý kiến đề xuất (0)

Nội dung

BÁO CÁO TỔNG KẾTĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014 - 2015 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT TOÁN CÓ LỜI VĂN

Mục tiêu nghiên cứu

Chúng tôi mong muốn đóng góp vào việc cải thiện chất lượng giảng dạy môn Toán, nhằm tìm ra phương pháp hiệu quả hơn cho giáo viên trong việc dạy học sinh lớp 1.

+ Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của một bài toán có lời văn lớp 1.+ Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán.

+ Giải toán đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ).

+ Trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số.

+ Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau.

Qua đó, đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên giảng dạy và HS giải toán tốt hơn.

Thời gian nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã đề ra chúng tôi xác định phương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết bao gồm việc thu thập thông tin từ sách giáo khoa và tài liệu dạy học của giáo viên tiểu học Nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập thông tin về quá trình giảng dạy và các phương pháp dạy toán có lời văn cho học sinh lớp 1 tại một số trường tiểu học trong khu vực tỉnh Bình Dương.

Phương pháp điều tra : Khảo sát mức độ nắm bắt cách giải toán có lời văn của các em HS lớp 1 ở một trường tiểu học.

Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm : Rút ra kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu.

PHẦN B NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

Cơ sở lí luận

1.1.1 Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học. a Vị trí của dạy học môn Toán.

Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vai trò quyết định vì:

Kiến thức và kỹ năng môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống, đóng vai trò quan trọng đối với người lao động Ngoài ra, những kiến thức này còn là nền tảng vững chắc để học sinh tiếp tục các môn học khác ở Tiểu học và tiếp tục nghiên cứu môn Toán ở Trung học.

Môn Toán giúp học sinh hiểu rõ các mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian trong thế giới thực Qua đó, học sinh phát triển phương pháp nhận thức về các khía cạnh của môi trường xung quanh và biết cách hoạt động hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày.

Môn Toán đóng vai trò quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giúp phát triển khả năng suy luận và giải quyết vấn đề Nó không chỉ nâng cao trí thông minh mà còn khuyến khích tư duy độc lập, linh hoạt và sáng tạo Hơn nữa, việc dạy học môn Toán còn góp phần hình thành những phẩm chất cần thiết cho người lao động.

Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:

Hệ thống kiến thức cơ bản về số học bao gồm các số tự nhiên và số thập phân, với nhiều ứng dụng trong đời sống Bài viết sẽ trình bày cách đọc, cách viết và so sánh các số tự nhiên, giúp người học nắm vững các khái niệm này một cách đơn giản và hiệu quả.

Các đóng góp ban đầu về các đại lượng cơ bản như độ dài, khối lượng và thời gian là rất thiết thực Người học cần biết cách sử dụng các dụng cụ đo lường và có khả năng ước lượng các số đo đơn giản.

- Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số hình học thường gặp.

- Biết cách giải và trình bày giải với những bài toán có lời văn Nắm chắc, thực hiện đúng quy trình bài toán.

Thông qua các hoạt động học tập toán, chúng ta có thể phát triển một cách hợp lý những khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng như so sánh, phân tích và tổng hợp.

Hình thành phong cách học tập và làm việc cần có sự suy nghĩ, kế hoạch rõ ràng, kiểm tra thường xuyên, tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo Ngoài ra, cần phát triển ý chí vượt khó khăn, sự cẩn thận, kiên trì và tự tin trong mọi hoạt động.

Bài viết này cung cấp kiến thức cơ bản và thiết thực về phép đếm, các số tự nhiên trong phạm vi 100, phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100 Ngoài ra, nó cũng đề cập đến độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20cm, các ngày trong tuần, cách đọc giờ trên đồng hồ, một số khái niệm hình học, và các bài toán có lời văn.

Học sinh lớp 1 được rèn luyện các kĩ năng thực hành như đọc, đếm, so sánh và ghi lại cách đọc các số, cũng như hiểu giá trị vị trí của các chữ số trong số có hai chữ số trong phạm vi 100 Các em thực hành nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng và điểm, đồng thời vẽ đoạn thẳng có độ dài đến 10cm Học sinh cũng giải quyết một số bài toán đơn giản về cộng và trừ, bước đầu biết diễn đạt nội dung bài học bằng lời và kí hiệu Việc dạy học môn Toán ở lớp 1 yêu cầu học sinh tập dượt, so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa các kiến thức trong chương trình.

 Yêu cầu kiến thức, kĩ năng:

- Biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên từ 0 đến 10.

Học sinh cần nắm vững các bảng tính đã học và thực hiện thành thạo các phép tính cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100 Ngoài ra, các em cần biết tên gọi và ký hiệu của đơn vị đo độ dài, sử dụng dụng cụ đo độ dài, và xem ngày tháng trong những trường hợp đơn giản Học sinh cũng phải nhận dạng và gọi đúng tên các hình đã học, cũng như sử dụng thước để vẽ chúng Cuối cùng, các em cần giải và trình bày bài toán có lời văn một cách rõ ràng.

 Trình độ tối thiểu cần đạt:

- Học sinh phải đọc , viết, so sánh được các số trong phạm vi 100.

- Thực hiện phép tính: nhanh, chính xác, nắm chắc thứ tự khi thực hiện phép tính các nhiều dấu phép tính cộng, trừ.

- Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở mức độ đơn giản (dạng điền số thích hợp vào ô trống).

- Đọc, biết vẽ, đo đoạn thẳng có độ dài cho trước (cm) Xem lịch, đồng hồ.

- Yếu tố hình học: Nhận biết, gọi đúng tên điểm, đoạn thẳng các hình đã học.

- Giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn không quá 3 bước với cấu trúc đơn giản.

1.1.2 Nội dung chương trình dạy Toán lớp 1.

Môn Toán và môn Học vần (kì II chuyển sang Tập đọc) chiếm 3 phần thời gian so với các môn học khác Mỗi tiết học kéo dài từ 35-40 phút và được chia thành 4 giai đoạn.

- Giai đoạn 1: Từ tuần 1 đến tuần 6 Học sinh được học các số đến 10, hình vuông, hình tròn, hình tam giác.

Trong giai đoạn 2, từ tuần 7 đến tuần 17, học sinh sẽ được làm quen với phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10 Đây là lần đầu tiên các em tiếp xúc với dạng toán đơn giản, trong đó học sinh sẽ nhìn hình vẽ, từ đó nêu thành bài toán và thực hiện phép tính.

Giai đoạn 3, kéo dài từ tuần 18 đến hết tuần 28, tập trung vào việc học các số trong phạm vi 100, đo độ dài và giải bài toán Đặc biệt, trong tiết 84 của tuần 21, học sinh sẽ được hướng dẫn về cách giải toán có lời văn.

Giai đoạn 4, kéo dài từ tuần 29 đến hết tuần 35, tập trung vào việc học phép cộng và phép trừ trong phạm vi 100, cũng như đo thời gian Trong giai đoạn này, học sinh sẽ thường xuyên được rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn.

1.1.3 Phân tích sơ lược sách giáo khoa:

Toán học đóng vai trò quan trọng trong các môn học tự nhiên xã hội, với ứng dụng rộng rãi trong đời sống và khoa học kỹ thuật hiện đại Toán có lời văn lớp 1 giúp trẻ rèn luyện tư duy và phương pháp suy luận, tạo nền tảng cho những bài toán khó hơn sau này Nó là cầu nối giữa toán học và thực tiễn, bắt đầu xuất hiện vào tiết thứ 80 trong tổng số 133 tiết dạy toán ở lớp 1.

Cơ sở thực tiễn

Toán có lời văn là những bài toán thực tế phản ánh các mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày Thách thức của loại bài toán này là phải tách biệt yếu tố ngôn ngữ để làm rõ bản chất toán học, từ đó xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và lựa chọn phép tính phù hợp để tìm ra đáp số Đề bài của bài toán có lời văn luôn bao gồm hai phần.

- Phần đã cho hay còn gọi là giả thiết của bài toán.

- Phần phải tìm hay còn gọi là kết luận của bài toán.

Trong đề toán, có sự liên kết giữa phần đã cho và phần cần tìm, thể hiện các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận Quy trình giải toán có lời văn thường được thực hiện qua các bước cụ thể.

Đọc kỹ đề toán là bước đầu tiên quan trọng, giúp hiểu rõ ý nghĩa và nội dung của bài toán Cần chú ý đặc biệt đến câu hỏi của bài toán và tránh vội vàng tính toán trước khi nắm vững thông tin.

Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho là bước quan trọng trong việc diễn đạt nội dung bài toán Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng ngôn ngữ rõ ràng để tóm tắt các điều kiện của bài toán hoặc minh họa thông qua sơ đồ hình vẽ.

Lập kế hoạch giải toán là bước quan trọng, trong đó học sinh cần xác định các phép tính cần thực hiện để trả lời câu hỏi của bài toán Học sinh nên xem xét các số đã cho và điều kiện của bài toán để rút ra thông tin hữu ích Cần phân tích xem phép tính nào có thể được thực hiện và liệu phép tính đó có giúp giải quyết câu hỏi hay không Dựa trên những yếu tố này, học sinh sẽ thiết lập trình tự giải toán hợp lý.

Thực hiện các phép tính theo trình tự đã lập để tìm ra đáp số chính xác Mỗi phép tính cần được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo tính đúng đắn và cơ sở thực hiện là hợp lý.

Sau khi giải xong bài toán, cần kiểm tra lại xem đáp số có đúng với yêu cầu của bài toán và có phù hợp với các điều kiện đã cho hay không Trong một số trường hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm kiếm các phương pháp giải khác có thể ngắn gọn và hiệu quả hơn.

Ví dụ : Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà Hỏi nhà An còn lại mấy con gà ?

Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài toán trên bằng cách dùng phương pháp vấn đáp, kết hợp với minh họa bằng tóm tắt đề toán.

+ Phân tích nội dung đềtoán: Giáo viên dùng hai câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Để học sinh thấy rõ nội dung:

- Nhà An có 9 con gà.

- Mẹ An bán 3 con gà.

- Hỏi nhà An còn bao nhiêu con gà ?

+ Tóm tắt bài toán: Theo những câu trả lời của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau:

Tóm tắt là công cụ hỗ trợ học sinh tự tìm ra lời giải và phép tính tương ứng Giáo viên có thể thiết lập trình tự giải bằng cách đặt câu hỏi như: "Để biết còn lại bao nhiêu con gà, ta cần làm gì?" Học sinh sẽ trả lời: "Ta lấy số con gà nhà An có và trừ đi số con gà đã bán."

Số gà còn lại là:

9-3 = 6 (con) Đáp số: 6 con gà.

Kết luận

Đối với học sinh lớp 1, môn toán có thể dễ nhưng việc đọc và hiểu bài toán có lời văn lại không hề đơn giản Việc viết một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là một thách thức lớn.

Mục đích chính của đề tài là tìm ra cách để giáo viên truyền đạt hiệu quả, giúp học sinh hiểu bài học và thực hành diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán.

THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN TRONG TOÁN 1

Thực trạng dạy và học toán có lời văn

2.1.1 Thực trạng dạy học của giáo viên Đa phần giáo viên hiện nay đều sử dụng phương pháp chung về giải toán có lời văn lớp một nhằm đáp ứng hai yêu cầu chính.

- Nhận biết bước đầu về cấu tạo của bài toán có lời văn.

Biết cách giải các bài toán liên quan đến thêm và bớt thông qua phép cộng hoặc phép trừ là rất quan trọng Học sinh cần trình bày bài giải một cách rõ ràng, bao gồm câu lời giải, phép tính và đáp số Phương pháp dạy học toán ở tiểu học nên chú trọng vào việc phát triển kỹ năng này để giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản.

Quy trình chung dạy học sinh giải toán gồm các bước sau:

Cho ví dụ : Trong vườn có 12 cây chuối, có thêm 3 cây nữa hỏi có tất cả bao nhiêu cây chuối?( tiết 84)

+ HS tự đọc bài toán , quan sát tranh vẽ.

+ HS tự nêu tóm tắt hoặc điến số thích hợp vào chỗ chấm rồi nêu lại tóm tắt.

Trong bài toán, HS cần nêu câu lời giải bằng cách sử dụng các cụm từ như: “Trong vườn có tất cả là:” hoặc “Số cây chuối trong vườn có tất cả là:”.

HS trao đổi ý kiến, lựa chọn câu trả lời thích hợp nhất rồi viết vào bài giải. + HS viết phép tính : 12+3 = 15 (cây).

+ HS viết đáp số: 15 cây chuối.

Toàn bộ bài giải có thể là:

Số cây chuối trong vườn có tất cả là:

12+3= 15 (cây) Đáp số: 15 cây chuối” [SGV, tr.144]

2.1.2 Thực trạng học của học sinh

Bài toán khảo sát: Lớp 1A trồng được 24 cây, lớp 1B trồng được

30 cây Hỏi cả hai lớp trồng được bao nhiêu cây?

Kết quả khảo sát của 2 lớp 1/1 và 1/2 ở trường tiểu học Thuận Giao – Khu phố Bình Thuận 2 – Phường Thuận Giao – Thị xã Thuận An.

Học sinh viết đúng câu lời giải

Học sinh viết đúng phép tính

Học sinh viết đúng đáp số

Học sinh giải đúng cả 3 bước

- Những vấn đề còn tồn tại trong cách giải toán của HS.

 Học sinh biết cách giải toán có lời văn nhưng hiệu quả chưa cao.

 Số học sinh viết đúng câu lời giải đạt tỉ lệ thấp.

 Lời giải toán chưa sát với câu hỏi của bài toán.

Nguyên nhân

Khi vào lớp 1, trẻ lần đầu tiếp xúc với toán học như một môn học chính thức, rèn luyện các thao tác tư duy như so sánh, quan sát và phân tích Đây là một thách thức lớn cho học sinh, đặc biệt khi trẻ chưa đọc thông và viết thạo Để giúp trẻ tập trung chú ý vào việc học, cần xem xét một số nguyên nhân chính.

 Học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này.

Tư duy của trẻ em ở giai đoạn này chủ yếu mang tính trực quan Do chưa thành thạo trong việc đọc và viết, các em thường phải đánh vần khi đọc Điều này dẫn đến việc sau khi đọc xong bài toán, các em vẫn chưa hiểu rõ nội dung của bài toán.

 Giáo viên chưa yêu cầu học sinh đọc kỹ bài toán , xem bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?

 Không biết tìm hiểu bài toán như: bài toán cho biết gì?Bài toán hỏi gì?

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá các thuật ngữ toán học cơ bản như thêm, bớt, cho đi, mua về, bay đi và chạy đến Những câu hỏi quan trọng như "Có tất cả bao nhiêu?" và "Còn lại bao nhiêu?" sẽ được làm rõ để giúp người đọc hiểu rõ hơn về các khái niệm này.

Học sinh thường gặp khó khăn trong việc tóm tắt bài toán và lúng túng khi trình bày lời giải, thậm chí có thể lặp lại câu hỏi của bài toán Việc không hiểu rõ các thuật ngữ toán học dẫn đến nhầm lẫn trong việc xác định phép toán cần thực hiện, gây ra sai sót trong phép tính, đơn vị và đáp số.

Một số học sinh có thể làm đúng bài toán nhưng khi được hỏi lại không thể trả lời, điều này cho thấy các em chưa nắm vững cách giải bài toán có lời văn một cách chắc chắn.

Nhiều phụ huynh không thể quan tâm đến việc học của con cái do bận rộn với công việc, hoặc họ muốn giúp đỡ nhưng không biết cách dạy đúng phương pháp Điều này khiến giáo viên gặp khó khăn trong việc giảng dạy các dạng bài toán có lời văn.

Chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy

Chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước

Nhiều học sinh có khả năng giải quyết các bài hình vẽ viết phép tính tích hợp, dẫn đến việc giáo viên thường chủ quan và không chú trọng vào những bài tập này Thay vào đó, họ thường tập trung vào việc dạy kỹ năng đặt tính.

Chưa rèn luyện thói quen cho học sinh nhìn hình vẽ để nêu bài toán, dẫn đến việc các em bỡ ngỡ khi học bài toán có lời văn, khó khăn trong việc tiếp thu, hiểu và giải đúng Đồ dùng dạy học hiện tại còn sơ sài, tạm bợ và cũ, thiếu tính trực quan hấp dẫn để thu hút học sinh trong tiết học.

Giáo viên ngại soạn giáo án Power Point và dạy trình chiếu trong khi trường đã đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho giáo viên khi giảng dạy.

Phương pháp dạy học hiện tại chưa đa dạng, chủ yếu chỉ sử dụng phương pháp gợi mở và cho học sinh làm bài tập mà không áp dụng nhiều phương pháp khác như trực quan, so sánh hay luyện tập Giáo viên thường nghĩ rằng "Giải Toán có lời văn" chỉ cần thiết khi học sinh học tiết 84, dẫn đến việc chỉ chú trọng vào kỹ năng đặt tính và làm tính mà không nhận ra rằng những bài toán này là bước đệm quan trọng bắt đầu từ tiết 26: Phép cộng trong phạm vi 3 cho đến tiết 63: Luyện tập, trước khi chính thức bước vào giai đoạn học "Giải Toán có lời văn".

Kết luận

Hệ thống bài tập Toán có lời văn trong Toán lớp 1 gặp nhiều khó khăn từ cả giáo viên và học sinh, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo viên cần chủ động tìm ra các phương hướng khắc phục Là một giáo viên tương lai, chúng tôi sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện những khó khăn này trong chương 3 dưới đây.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT TOÁN CÓ LỜI VĂN

Phương pháp 1: dạy học theo phương pháp dạy học tích cực

Một trong những phương pháp dạy học toán ở tiểu học hiện nay là áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, nhằm tối đa hóa khả năng học tập chủ động và tích cực của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

 Phương pháp dạy học tích cực trong dạy học toán ở tiểu học:

Phương pháp dạy học tích cực là một hệ thống các phương pháp mà giáo viên sử dụng để kích thích tư duy và tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Phương pháp này khuyến khích sự tham gia tích cực của cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, giúp học sinh tiếp cận kiến thức thông qua việc làm bài tập, làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, và trao đổi hợp tác với bạn bè cũng như giáo viên.

Trong phương pháp dạy học tích cực:

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các tình huống học tập, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề và khẳng định kiến thức mới trong kho tàng tri thức của các em.

Giáo viên cần nói ít và giảng ít, nhưng thường xuyên tương tác với từng học sinh hoặc nhóm học sinh Điều này đòi hỏi giáo viên phải tổ chức các hoạt động học tập hiệu quả và có kiến thức rộng hơn lĩnh vực giảng dạy của mình Phương pháp dạy này giúp học sinh phát triển năng lực và sở trường cá nhân.

Học sinh cần chủ động và độc lập trong việc suy nghĩ, làm việc tích cực và tự học từ nhiều nguồn khác nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên Phương pháp học này giúp hình thành thói quen tự giác, khuyến khích sự chủ động, và khả năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và bạn bè, đồng thời tạo ra niềm vui và niềm tin trong quá trình học tập.

Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học, điều này có nghĩa là các em cần tích cực tham gia vào các hoạt động để hoàn thành yêu cầu của bài học Giáo viên đóng vai trò là cộng tác viên thực sự, cùng làm việc và thực hiện nhiệm vụ thông qua nhiều hình thức khác nhau.

Phương pháp dạy học tích cực không chỉ chú trọng đến vai trò của giáo viên và học sinh mà còn xem xét yếu tố môi trường, bao gồm cơ sở vật chất, tâm tư, tình cảm và tính cách Môi trường có ảnh hưởng lớn đến phương pháp học của học sinh cũng như phương pháp sư phạm của giáo viên, và giữa chúng tồn tại sự tác động qua lại.

Phương pháp 2: giải toán có lời văn theo quy trình chung

Trong cuốn “Giải toán như thế nào” của G.Pôlya đã tổng kết quá trình dạy toán và nêu ra sơ đồ 4 bước sau:

- Tìm hiểu nội dung bài toán.

- Tìm cách giải bài toán.

- Thực hiện cách giải toán.

- Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải lời toán.

Sơ đồ 4 bước giải toán đã được chứng minh là hiệu quả trong thực tiễn dạy học Đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là lớp 1, việc hình thành thói quen và kỹ năng áp dụng sơ đồ này là rất cần thiết Học sinh cần được hướng dẫn để nắm vững và hiểu rõ mục đích cũng như ý nghĩa của việc giải toán có lời văn.

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Quá trình tìm hiểu nội dung bài toán bắt đầu từ việc đọc đề toán một cách cẩn thận Học sinh cần nắm rõ đề bài, phân biệt giữa thông tin đã cho và điều cần tìm Việc hiểu các từ và thuật ngữ quan trọng, hay còn gọi là "từ chìa khóa", như "thêm" và "bớt", là rất cần thiết để giải quyết bài toán hiệu quả.

Trong dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học, đặc biệt là lớp một, cần chú ý đến việc kết hợp giảng giải từ và thuật ngữ toán học để giúp học sinh hiểu rõ nội dung bài toán Giáo viên nên yêu cầu học sinh diễn đạt lại yêu cầu bài toán bằng cách của riêng mình, thay vì chỉ đọc thuộc lòng Sau khi đọc bài toán, học sinh cần xác định được ba yếu tố cơ bản của bài toán.

- Những dữ kiện của bài toán: Đó là những cái đã cho và những cái đã biết của bài toán.

- Những ẩn số: Là cái chưa biết, cái cần tìm là bài toán yêu cầu.

- Những điều kiện của bài toán: Đó là mối liên hệ giữa các dữ kiện và các ẩn số.

Bước 2: Tìm cách giải toán

Hoạt động khám phá giải pháp cho bài toán liên quan đến việc phân tích các dữ liệu, ẩn số và điều kiện, từ đó xác định mối quan hệ giữa chúng.

Từ đó lựa chọn phép tính số học thích hợp Hoạt động này thường diễn ra như sau:

- Minh họa bài toán thông qua tóm tắt đề toán.

- Lập kế hoạch giải toán nhằm xác lập trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số học.

 Về tóm tắt đề toán:

Việc tóm tắt đề toán giúp học sinh làm bài gọn gàng hơn và làm rõ mối quan hệ giữa các số đã cho và số cần tìm Có một số phương pháp tóm tắt đề toán hiệu quả, bao gồm: tóm tắt bằng chữ (lời), tóm tắt bằng chữ và dấu, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, và tóm tắt bằng hình tượng trưng.

Cách hình tượng trưng có thể là hình vuông, hình tròn, hình tam giác,hình chữ nhật, dấu gạch chéo.

Trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 thường thấy các cách tóm tắt bằng lời và bằng sơ đồ đoạn thẳng.

 Có 2 hình thức thể hiện tương ứng với hai phương pháp tìm cách giải cho một bài toán.

Thứ nhất: Phép phân tích đi lên.

Phương pháp này bắt đầu từ câu hỏi của bài toán và xác định các dữ kiện cần thiết để trả lời Người giải cần tập trung vào câu hỏi và suy nghĩ về những thông tin cần biết cũng như các phép tính cần thực hiện Quan trọng là phân biệt giữa những điều kiện đã có sẵn và những điều cần tìm, cùng với cách thức tìm kiếm chúng Từ đó, ta có thể suy nghĩ ngược lại từ câu hỏi đến các điều kiện của bài toán, đây là phương pháp giải quyết bài toán phổ biến nhất.

Thứ hai: Phép tổng hợp.

Phương pháp tìm cách giải toán bắt đầu từ dữ kiện của bài toán và hướng đến câu hỏi cần giải quyết Nó dựa vào việc suy ra hoặc tính toán từ những thông tin đã cho để hỗ trợ trong việc giải quyết bài toán Tuy nhiên, phương pháp này không phổ biến vì học sinh thường không hiểu rõ mục đích của từng phép tính và lý do thực hiện chúng Thông thường, phương pháp này chỉ được sử dụng để trình bày cách giải của bài toán.

Bước 3: Thực hiện cách giải bài toán

Khi đã hoàn thành bước hai, ta thực hiện cách giải theo cách đã nêu ở bước hai.

Hoạt động này bao gồm việc thực hiện phép tính đã được nêu trong bước tìm cách giải bài toán nêu trên và trình bày bài giải.

Cách trình bày bài giải:

Trong bài giải, cần ghi lời giải cho từng phép tính, chú ý rằng các phép tính phải được thể hiện bằng hư số và kèm theo đơn vị trong ngoặc đơn sau mỗi kết quả Câu lời giải cần ngắn gọn nhưng đầy đủ ý để khẳng định mệnh đề.

+ Cần có đáp số cuối lời giải (bài toán có bao nhiêu câu hỏi thì có bấy nhiêu đáp số, chỉ ghi đáp số).

+ Nếu bài toán có nhiều cách giải thì chỉ ghi đáp số sau cách giải cuối cùng.

+ Yêu cầu các phép tính viết theo hàng ngang, không viết theo hàng dọc.

Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán

- Việc kiểm tra nhằm phân tích xem cách giải phép tính và kết quả là đúng hay sai, có các hình thức thực hiện sau:

+ Thiết lập tương ứng các phép tính giữa các số đã tìm được trong quá trình giải với các số đã cho.

+ Tạo ra bài toán ngược với bài toán đã cho rồi giải nó.

+ Giải bài toán bằng cách khác rồi so sánh đáp số.

+ Xét tính hợp lí của đáp số.

Việc kiểm tra cách giải và đáp số của bài toán là yêu cầu không thể thiếu khi giải toán.

Quan sát học sinh tiểu học trong quá trình giải toán cho thấy rằng các em thường cho rằng bài toán đã hoàn thành khi có đáp số Tuy nhiên, khi giáo viên đặt câu hỏi: “Em có chắc chắn đó là kết quả đúng không?”, phần lớn học sinh tỏ ra lúng túng và không thể trả lời ngay lập tức.

Kiểm tra cách giải và đáp số của bài toán là các việc như kiểm tra về:

+ Cách sử dụng dữ kiện.

+ Lựa chọn và thực hiện phép tính

+ Cách trình bày bài giải (diễn đạt câu văn, thứ tự thực hiện).

Kiểm tra lại phương pháp và thủ thuật khi giải toán là bước quan trọng trong quá trình học toán ở tiểu học, giúp học sinh đảm bảo tính chính xác và phát triển năng lực sáng tạo, tính tích cực, chủ động và độc lập Đối với học sinh giỏi, việc tìm ra nhiều cách giải cho cùng một bài toán là biện pháp hiệu quả nhất để xác định cách giải và đáp số Điều này không chỉ thúc đẩy tư duy linh hoạt và sáng tạo mà còn khuyến khích học sinh đánh giá các phương pháp giải, từ đó tạo động lực để tìm ra nhiều cách giải khác nhau.

Phương pháp 3: dạy học toán có thời văn theo từng mức độ

3.3.1 Nội dung dạy học giải toán có lời văn cụ thể ở lớp 1.

Sau đây chúng tôi xin thống kê nội dung dạy học giải toán có lời văn lớp một như sau:

Dạng bài tập Ví dụ Bài – Trang

“bài toán có lời văn”

-Viết số thích hợp vào chỗ trống để có bài toán.

Bài toán : có….con thỏ.

Có thêm con thỏ đang chạy tới Hỏi có tất cả bao nhiêu con thỏ?

-Viết tiếp câu hỏi để có bài toán.

Bài toán: Có 1 con gà mẹ và 7 con gà con.

-Nhìn tranh vẽ để viết tiếp về chỗ chấm để có bài toán.

Bài toán: Có…con chim đậu trên cành, có thêm…con chim bay đến Hỏi….?

Giải bài toán có lời văn về thêm, bớt một số đơn vị

-Viết số thích hợp vào chỗ chấm.

An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?

Tóm tắt: An có…quả bóng

Cả 2 bạn có:… quả bóng?

Cả hai bạn có là:

…………=…(quả bóng) Đáp số:…quả bóng

Viết số thích hợp vào tóm tắt và giải bài toán. Đàn vịt có 5 con dưới ao và 4 con ở trên bờ. Đàn vịt có tất cả mấy con?

Dưới ao:…con vịt Trên bờ:…con vịt

Có tất cả:….con vịt?

Giải bài toán theo tóm tắt.

Có: 2 gà trống Có: 5 gà mái

Có tất cả:…con gà?

Bài toán có liên quan đến số đo độ dài. Đoạn thẳng AB dài 3cm và đoạn thẳng BC dài 6cm Hỏi đoạn thẳng

AC dài mấy xăng ti mét?

Bài toán về “thêm” một số đơn vị.

An có 30 cái kẹo, chị cho An thêm 10 cái nữa.

Hỏi An có bao nhiêu cái kẹo?

Bài toán về “bớt” một số đơn vị.

Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt đi 2 cm.

Hỏi thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăngtimet?

Dạy học giải toán là một phương pháp quan trọng trong giáo dục toán học, giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy và khả năng giải quyết vấn đề Qua việc giải toán, học sinh học cách áp dụng phương pháp đúng đắn và rèn luyện khả năng suy luận Điều này không chỉ yêu cầu các em tư duy tích cực và linh hoạt mà còn phải biết phát hiện các dữ kiện và điều kiện chưa được nêu rõ Học sinh cần có khả năng suy nghĩ sáng tạo để tìm ra giải pháp chính xác cho các bài toán.

Phương pháp dạy học giải toán có lời văn giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết các bài toán theo yêu cầu Trong quá trình dạy học, cần chú trọng vào hai vấn đề then chốt để đạt hiệu quả cao.

- Làm cho học sinh nắm được các bước cần thiết của quá trình giải toán và rèn luyện kỹ năng thực hiện các bước đó một cách thành thạo.

Mục tiêu là giúp học sinh hiểu và áp dụng các phương pháp và thủ thuật phù hợp với từng loại toán phổ biến ở tiểu học, nhằm đạt được kết quả đúng theo yêu cầu của bài toán Để thực hiện điều này, có ba mức độ cần được xác định.

Mức độ 1: Hoạt động chuẩn bị cho việc giải toán.

Hoạt động dạy học giải toán có lời văn là rất quan trọng cho học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 Việc rèn luyện các thao tác trên tập hợp nhóm đồ vật, mô hình và sơ đồ giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề hiệu quả.

Hầu hết các bài toán đều có thể được phân tích thành các bài toán đơn giản hơn Do đó, việc nắm vững các bài toán đơn là bước chuẩn bị quan trọng để giải quyết các bài toán phức tạp hơn.

Mức độ 2: Hoạt động làm quen với giải toán.

- Tìm hiểu nội dung bài toán,

- Tìm cách giải bài toán.

- Thực hiện cách giải bài toán.

- Kiểm tra cách giải bài toán.

Các bước này cũng chính là quy trình chung để giải một bài toán có lời văn ở tiểu học Chúng tôi xin trình bày các bước này ở phần sau.

Mức độ 3: Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán.

Mục tiêu của mức độ này trong giải toán là phát triển năng lực khái quát và kỹ năng giải toán cho học sinh, đồng thời rèn luyện khả năng sáng tạo trong học tập Để đạt được điều này, có thể thực hiện một số phương pháp giải quyết khác nhau.

- Giải bài toán với nhiều cách khác nhau Giải pháp này được áp dụng khi giải các bài toán hợp thường gặp ở lớp 3, 4, 5.

- Tiếp xúc với bài toán thừa dữ kiện hoặc thiếu dữ kiện.

- Giải các bài toán trong đó phải xét đến nhiều khả năng xảy ra để lựa chọn một khả năng thỏa mãn điều kiện của bài toán.

- Lập và biến đổi bài toán Hoạt động này có thể tiến hành theo các theo hình thức sau đây:

+ Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết số liệu hoặc dữ kiện.

+ Đặt điều kiện cho bài toán.

+ Chọn số hoặc số đo đại lượng cho bài toán còn thiếu dữ liệu.

+ Lập bài toán tương tự bài toán đã giải.

+ Lập bài toán theo tóm tắt hoặc theo sơ đồ minh họa.

+ Lập bài toán theo cách giải cho sẵn. Đây là hình thức đã được áp dụng trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.

3.3.2 Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 phân loại theo phép tính sử dụng trong bài giải

Dạy học giải toán giúp học sinh hình thành các thao tác cần thiết để giải bài toán theo yêu cầu Đặc biệt ở lớp 1, giáo viên cần chú trọng vào việc giúp học sinh không chỉ giải quyết từng bài toán cụ thể mà còn nhận biết được dạng toán và thể loại của nó Để nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn, giáo viên cần hệ thống hóa và phân loại bài tập, đồng thời hướng dẫn học sinh nắm vững phương pháp giải cho từng dạng bài Việc này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về bài toán và cách thức giải quyết hiệu quả.

3.3.2.1 Loại 1: Các bài toán đơn giản bằng phép cộng

Các bài toán về "tìm tổng 2 số" và "thêm một số đơn vị" là hai dạng bài học cơ bản từ lớp 1 Để học tốt những bài toán này, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy và cách hướng dẫn học sinh.

Trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về việc cộng hai số tự nhiên, giúp các em nắm vững quy trình giải toán qua 4 bước cụ thể Bước đầu tiên là tìm hiểu nội dung bài toán.

Học sinh phân tích đề bài toán để biết bài toán cho biết gì, hỏi gì, thêm bao nhiêu đơn vị.

Học sinh cần nắm rõ ý nghĩa của các từ khóa "thêm" và "tất cả", vì khi gặp bài toán có chứa những từ này, phép tính cần thực hiện sẽ là phép cộng.

+ Bước 2: Tìm cách giải bài toán

Giáo viên nên hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán trước khi giải, có thể bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng tùy thuộc vào dạng toán Đối với bài toán “tìm tổng”, việc tóm tắt thường được thực hiện bằng lời, đặc biệt là khi có “thêm một đơn vị” Học sinh cần tự lập kế hoạch giải sau khi nắm rõ nội dung đề toán và xác định cách giải thông qua các từ chìa khóa và tóm tắt.

+ Bước 3: Trình bày cách giải toán

Trong bước này, giáo viên nên khuyến khích học sinh tự nêu câu lời giải và sau đó hỗ trợ các em chọn câu lời giải phù hợp nhất Việc tự nêu câu lời giải giúp học sinh rèn luyện khả năng diễn đạt đầy đủ ý, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1.

Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững các bước cần thiết khi trình bày bài giải, bao gồm việc ghi rõ câu lời giải, thực hiện phép tính và ghi đáp số chính xác.

+ Bước 4: Kiểm tra kết quả bài toán.

Các biện pháp dạy học giải các bài toán về “Tìm tổng”, “Thêm một số đơn vị”, nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh:

+ Rèn năng lực giải các bài toán nên thông qua việc giải bài tập trong sách giáo khoa.

+ Trong các giờ luyện tập giải các bài toán nên nâng cao về các dạng

“Tìm tổng”, “Thêm” như: Giải toán theo tóm tắt, tự đặt bài toán và tự giải bài toán đó.

Khi dạy, giáo viên nên hướng dẫn học sinh tìm ra cách giải dựa trên sự hiểu biết về nội dung bài toán, thay vì làm thay hoặc chỉ rõ để học sinh có thể tự tìm ra kết quả.

Việc giải các bài toán đơn giản thường dễ dàng hơn so với việc đặt lời giải cho chúng Do đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đặt ra lời giải và lựa chọn câu trả lời phù hợp nhất cho từng bài toán.

Ví dụ 1: Lớp em có 21 bạn gái và 14 bạn trai Hỏi lớp em có tất cả bao nhiêu bạn? [Bài 3, SGK, tr.156]

Phương pháp 4: dạy học toán có lời văn theo

3.4.1 Dạng 1: Làm quen với dạng toán có lời văn

Mức độ 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán.( tiết 81 – bài toán có lời văn )

Tư duy của học sinh phát triển từ hình ảnh sang ngôn ngữ và chữ viết Việc giải toán có lời văn ban đầu thông qua phép tính cộng phù hợp với cách tư duy của các em.

Ví dụ: Ở bài toán số 1 trang 115 Ở mức độ này, học sinh quan sát hình vẽ dễ dàng hoàn thành bài toán.

Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 2 phần:

- Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố.

- Câu hỏi (thông tin cần tìm).

Mức độ 2 yêu cầu học sinh viết tiếp câu hỏi để tạo thành bài toán, đồng thời sử dụng tranh vẽ để phát triển nội dung cho phần chấm Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà học sinh gặp phải ở mức độ này là không biết cách đặt câu hỏi một cách hợp lý.

Ví dụ: Ở bài toán số 3 trang 116 Ở sách giáo viên trang 139 có cách hướng dẫn:

Để giúp học sinh hiểu cách đặt câu hỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ và đọc bài toán một cách rõ ràng Sau đó, giáo viên nên nêu ra những lưu ý quan trọng để hỗ trợ học sinh trong quá trình đặt câu hỏi.

- Trong câu hỏi của bài toán này nên có từ “tất cả”.

- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu bài toán

- Bài toán còn thiếu gì?

- Trước và sau dấu ba chấm có gì?

- Học sinh đọc bài toán

- Trước có chữ “ Hỏi”, sau có

- Tổng số con gà là bao nhiêu?

- Làm phép tính gì để biết?

- Phép cộng thì câu hỏi dùng từ gì?

- Vậy nếu bài toán dùng phép cộng thì trong câu hỏi phải có từ “ Có tất cả bao nhiêu “

- Gọi học sinh luyện tập đặt câu hỏi bài toán. dấu chấm hỏi.

- Học sinh tiến hành đặt câu hỏi

Giáo viên có thể cho thêm nhiều ví dụ tương tự để học sinh làm quen với việc đặt câu hỏi.

Như vậy, học sinh có thể dễ dàng đặt ra câu hỏi để hoàn thành bài toán.

3.4.2 Dạng 2: Giải bài toán có lời văn về thêm, bớt một số đơn vị Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán Biết tóm tắt để toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn.

Ví dụ: SGK Toán 1 trang 117.

Bài giải gồm 3 phần: Câu lời giải, phép tính và đáp số.

Tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng cần được luyện tập kỹ để học sinh nắm vững và chính xác Câu lời giải không yêu cầu phải theo mẫu giống nhau, cho phép học sinh diễn đạt theo cách hiểu của mình Học sinh cần nhớ quy ước viết đơn vị của phép tính khi trình bày bài giải.

Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu sau khi học sinh đã nắm vững phép tính cộng Giáo viên hướng dẫn cách giải tương tự bằng cách thay thế phép tính cho phù hợp Ở lớp 1, học sinh chỉ cần giải toán về thêm, bớt với một phép tính cộng hoặc trừ, và mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập dễ dàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể.

Giáo viên dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau:

- Đọc kĩ đề bài: Đề toán cho biết những gì? Đề toán yêu cầu gì?

- Tìm được cách giải bài toán.

- Kiểm tra bài giải và đáp số.

 Mức độ 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm Ở bài tập dạng này học sinh cần hiểu rõ, phân tích đề bài.

Ví dụ: Ở bài toán số 1 trang 117.

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài toán.

- Bài toán cho biết những gì?

- Học sinh đọc bài toán.

- An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả

- Giáo viên yêu cầu học sinh điền vào tóm tắt.

- Giáo viên nêu phần bài giải đã cho sẵn câu trả lới, chỉ cần viết phép tính và đáp số. bóng.

- Hỏi cả 2 bạn có mấy quả bóng?

- Học sinh điền vào tóm tắt.

- Học sinh viết phép tính vả đáp số.

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững nội dung bài toán để có thể giải quyết các bài tập tiếp theo Đặc biệt, khi gặp từ "có tất cả", giáo viên nên nhấn mạnh rằng cần thực hiện phép tính cộng.

Trong bài toán trang 148, học sinh đã nắm vững cách giải Giáo viên hướng dẫn cách làm tương tự bằng cách thay thế phép tính cộng bằng phép tính trừ Học sinh nhận ra rằng câu lời giải của loại toán bớt chỉ khác ở cụm từ “có tất cả” được thay bằng “còn lại”.

- Giáo viên cho học sinh đọc bài toán.

- Bài toán cho biết những gì?

- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu tóm tắt.

- Muốn biết nhà An còn lại mấy con gà ta làm phép tính gì?

- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu lại bài giải gồm những gì?

- Yêu cầu học sinh nêu lời giải bài toán.

- Yêu cầu học sinh nêu phép tính.

- Hướng dẫn: 6 ở đây là số gà còn lại nên phải viết đơn vị là “con gà” vào trong ngoặc đơn để bên phải kết quả.

- Viết đáp số: chữ “ Đáp” thẳng cột với chữ “ Bài”

- Học sinh đọc bài toán.

- Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán

- Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

- Học sinh nêu tóm tắt.

- Gồm có câu lời giải, phép tính và đáp số.

- Số con gà còn lại là.

Để giải bài toán có lời văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tóm tắt và trình bày bài giải một cách hợp lý Học sinh nên viết số thích hợp vào tóm tắt để làm rõ nội dung và giúp việc giải quyết bài toán trở nên dễ dàng hơn.

Chú ý cách trình bày bài giải:

- Viết phép tính giải sao cho chữ số đầu tiên của phép tính thẳng cột với chữ thứ 2 của câu lời giải, tên đơn vị để trong ngoặc đơn.

- Viết đáp số: chữ “Đáp” thẳng cột với chữ “Bài”.

+ Bài toán thường có câu hỏi: “Hỏi mấy ?”

+ Giáo viên yêu cầu học sinh gạch dưới những từ: “ Hỏi, mấy bạn”

+ Yêu cầu học sinh bỏ những từ trên khi đặt lời giải và ở cuối lời giải có từ là và có dấu hai chấm.

+ Hoặc thay thế từ “Hỏi” là từ “Số” + “đơn vị tính” của bài toán trước cụm từ “có tất cả là :”

+ Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ

“dài” vào trước chữ “là : ”.

- Tên đơn vị để trong ngoặc đơn.

- Đáp số là trả lời yêu cầu của bài toán.

Ví dụ : Bài 3 trang 118 Ở bài toán này có câu hỏi: “ Hỏi đàn vịt có tất cả mấy con?”

Giáo viên hướng dẫn học sinh loại bỏ các từ "Hỏi, mấy con" khi trình bày lời giải cho bài toán Học sinh cần ghi rõ đơn vị "con" trong ngoặc đơn khi tìm kiếm số lượng Đáp số phải bao gồm kết quả của phép tính và đơn vị, không được bỏ trong dấu ngoặc đơn.

Ví dụ: bài 2 trang 149. Ở bài toán này có câu hỏi: “Hỏi An còn lại mấy quả bóng?”

Giáo viên yêu cầu học sinh gạch dưới các từ "Hỏi" và "mấy", sau đó bỏ những từ này Thay thế từ "Hỏi" bằng "Số" và thêm đơn vị tính "quả bóng" vào bài toán.

Mức độ 3 yêu cầu học sinh giải bài toán dựa hoàn toàn vào tóm tắt mà không có bài toán cụ thể nào được cung cấp.

Ví dụ: Bài tập 3 trang 122

Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán như sau:

Bài toán yêu cầu xác định tổng số gà trong một đàn, trong đó có 2 gà trống và 5 gà mái Để giải bài toán này, học sinh cần trình bày rõ ràng cách tính tổng số gà bằng cách cộng số gà trống và số gà mái lại với nhau.

Số con gà có tất cả là:

2 + 5 = 7 (con gà) Đáp số: 7 con gà

 Mức độ 4: Bài toán có liên quan đến số đo độ dài

Ví dụ: Bài tập 4 trang 125

Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng cách vẽ sơ đồ đoạn thẳng Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày bài giải:

Số xăngtimet đoạn thẳng AC dài là:

 Mức độ 5: Bài toán về “thêm” một số đơn vị

Ví dụ: Bài tập 3 trang 131

Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt:

Hỏi bài toán cho biết những gì? ( có 30 cái kẹo, chị cho thêm 10 cái nữa) Bài toán yêu cầu tìm gì? (có tất cả bao nhiêu cái kẹo)

Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày bài giải:

Số cái kẹo An có tất cả là:

30 + 10 = 40 (cái kẹo) Đáp số: 40 cái kẹo

 Mức độ 6: Bài toán về “bớt” một số đơn vị

Ví dụ: Bài tập 2 trang 169

Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.

Giáo viên hỏi học sinh cho biết những gì? (thanh gỗ dài 97cm, cưa bớt 2cm).

Giáo viên hỏi bài toán yêu cầu tìm gì? (thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăngtimet?). Giáo viên hướng dẫn cách trình bày bài giải:

Số xăngtimet thanh gỗ còn lại dài là:

Phương pháp 5: Giải pháp dạy toán có lời văn theo tiến trình SGK

GV dạy cho HS giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau:

- Đọc kĩ đề bài: Đề toán cho biết những gì? Đề toán yêu cầu gì?

- Tìm được cách giải bài toán

- Kiểm tra lời giải và đáp số

Khi giải bài toán có lời văn, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ các thông tin đã cho và yêu cầu cần tìm Học sinh cũng cần biết cách chuyển đổi ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán học, từ đó xác định phép tính phù hợp.

Khi có một số quả cam, việc thêm vào bằng cách mua thêm hoặc nhận thêm sẽ yêu cầu thực hiện phép cộng Ngược lại, nếu cho đi hoặc bán, chúng ta cần thực hiện phép trừ.

GV nên hướng dẫn HS tạo ra đề toán phù hợp với một phép tính đã cho, giúp các em rèn luyện tư duy ngược, phát triển ngôn ngữ và ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn.

Ví dụ, với phép tính 3 + 2 = 5 Có thể có các bài toán sau:

- Bạn Hà có 3 chiếc kẹo, chị An cho Hà 2 chiếc nữa Hỏi bạn Hà có mấy chiếc kẹo?

- Nhà Nam có 3 con gà, mẹ mua thêm 2 con gà Hỏi nhà Nam có tất cả mấy con gà?

- Có 3 con vịt bơi dưới ao, có thêm 2 con vịt xuống ao Hỏi có mấy con vịt dưới ao?

- Hôm qua lớp em có 3 bạn được khen Hôm nay có 2 bạn được khen Hỏi trong hai ngày lớp em có mấy bạn được khen?

Nêu đề bài toán từ một phép tính giúp học sinh hiểu vấn đề một cách sâu sắc và chắc chắn hơn Việc này không chỉ phát triển tư duy mà còn nâng cao khả năng ngôn ngữ của học sinh.

*Tìm ra điểm yếu của HS:

 HS biết giải toán có lời văn nhưng kết quả chưa cao.

 Số HS viết đúng câu lời giải đạt tỷ lệ thấp.

 Lời giải của bài toán chưa sát với câu hỏi của bài toán.

*Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm:

Trong phạm vi 27 tiết dạy từ tiết 81 đến tiết 108 tôi đặc biệt chú ý vào 1 số tiết chính sau đây:

Tiết 81 Bài toán có lời văn

Có…bạn, có thêm….bạn đi tới hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?

HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3.

Qua tìm hiểu bài toán giúp cho HS xác định được bài có lời văn gồm 2 phần:

- Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố.

- Câu hỏi ( thông tin cần tìm).

Từ đó HS xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang 116:

Có 1 con gà mẹ và 7 con gà con Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?

Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của GV, HS hoàn thành bài toán 4 trang 116:

Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

Tiết 82 Giải toán có lời văn

GV nêu bài toán HS đọc bài toán

- Đây là bài toán gì? Bài toán có lời văn.

- Thông tin cho biết là gì? Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà.

- Câu hỏi là gì? Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?

Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu, GV đưa ra cách giải bài toán mẫu:

Nhà An có tất cả là:

5 + 4 = 9 (con gà) Đáp số: 9 con gà Bài 1 trang 117 HS đọc bài toán – phân tích đề bài – điền vào tóm tắt

Cả hai bạn có: ….quả bóng?

Cả hai bạn có là:

4+ 3 = 7 (quả bóng) Đáp số: 7 quả bóng Bài 2 trang 118

6+3=9 (bạn) Đáp số: 9 bạn Qua 2 bài toán trên, tôi rút ra là cách viết câu lời giải như sau: Lấy dòng thứ 3 của phần tóm tắt + thêm chữ là:

VD – Cả hai bạn có là:

Tương tự bài 3 trang 118 câu lời giải sẽ là:

Bài 1 và bài 2 trang 121 tương tự bài 1,2,3 trang 177 Nhưng câu lời giải được mở rộng hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào trước cụm từ có tất cả là

- Bài 1 tr.121 Trong vườn có tất cả là:

- Bài 2 tr.122 Trên tường có tất cả là:

Bài 1 trang 122 HS đọc đề toán – phân tích bài toán (như trên) Điền số vào tóm tắt

Vài ba HS nêu câu lời giải khác nhau

GV chốt lại một cách trả lời mẫu:

- Số quả bóng của An có tất cả là:

- Số bạn của tổ em có là:

- Số gà có tất cả là:

Vậy qua 3 bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viết câu lời giải khác nhau, song GV chốt lại cách viết lời giải như sau:

Thêm chữ Số+đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở tiết 82 đã làm.

Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ dài vào trước chữ là

Tóm tắt: Đoạn thẳng AB: 5 cm Đoạn thẳng BC: 3 cm

Cả hai đoạn thẳng:…cm?

Cả hai đoạn thẳng dài là:

Hầu hết các bài toán có lời văn đều áp dụng kiến thức toán học theo chương trình đã được phân phôi Việc phân tích đề, tóm tắt và giải bài toán cần được củng cố và nâng cao dần mức độ Tuy nhiên, vẫn cần chú trọng vào các mẫu lời giải cho các bài toán.

- Số (đơn vị tính) + có tất cả là:

- Vị trí ( trong, ngoài, trên, dưới…) + có tất cả là:

Tiết 105: Giải toán có lời văn (tiếp theo)

Bài toán: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

HS đọc – phân tích bài toán:

- Thông tin cho biết gì? Có 9 con gà, bán 3 con gà.

- Câu hỏi là gì? Còn lại mấy con gà?

GV hướng dẫn HS cách đọc tóm tắt và bài giải mẫu GV giúp HS nhận ra rằng câu lời giải cho loại toán bớt chỉ khác với loại toán thêm ở chỗ cụm từ "có tất cả" được thay thế bằng cụm từ "còn lại".

Số con gà còn lại là:

9-3=6 (con) Đáp số: 6 con gà Bài 1 trang 148

Số con chim còn lại là:

8-2=6 (con) Đáp số: 6 con chim Bài 2 trang 149

Có: 8 quả bóng Đã thả: 3 quả bóng

Số quả bóng còn lại là:

8-3=5 (quả bóng) Đáp số: 5 quả bóng Bài 3 trang 149

Tóm tắt: Đàn vịt có: 8 con Ở dưới ao: 5 con

8-5=3 (con vịt) Đáp số: 3 con vịt.

Tiết 106 Luyện tập Bài 1,2 (Tương tự tiết 105)

Tiết 107 Luyện tập Bài 1,2 (Tương tự như trên)

*Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang 151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 của phần tóm tắt bài toán:

Số hình tam giác không tô màu là: Số hình tròn không tô màu là:

8 – 4 = 4 (hình) 15 – 4 = 11 (hình) Đáp số: 4 hình tam giác Đáp số: 11 hình tròn.

*Bài 3 trang 151: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Sợi dây còn lại dài là:

Tiết 108 Luyện tập chung Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán thêm và bớt ở lớp 1. Bài 1 trang 152

A, Bài toán: Trong bến có …ô tô, có thêm…ô tô vào bến Hỏi……… ?

HS quan sát tranh và hoàn thiện bài toán thêm rồi giải bài toán với câu lời giai3co1 cụm từ có tất cả

B, Bài toán: Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có…con bay đi. Hỏi……….?

HS quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với câu lời giải có cụm từ còn lại

Học sinh đã quen với việc giải bài toán có lời văn, vì vậy cần hướng dẫn các em cách viết câu lời giải sao cho gần gũi và phù hợp nhất với câu hỏi.

- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi.

- Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số.

- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm

A, Câu hỏi là: Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô?

Câu lời giải là: Có tất cả số ô tô là:

B, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?

Câu lời giải là: Trên cành còn lại số con chim là:

 Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây?

Câu lời giải là: Hai lớp trồng được tất cả số cây là:

 Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăngtimet?

Câu lời giải là: Con sên bò được tất cả số xăngtimet là:

 Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách? Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là:

Hai mẫu toán điển hình trong phần giải toán có lời văn ở lớp 1 đã được trình bày Phương pháp dạy được áp dụng từ dễ đến khó, giúp học sinh giải toán một cách dễ dàng, đặc biệt là trong việc viết câu lời giải Học sinh có lực học trung bình yếu cũng có thể lựa chọn cách viết đơn giản nhất bằng cụm từ.

Học sinh khá giỏi có thể lựa chọn nhiều phương pháp giải khác nhau, từ đó nâng cao độ khó của bài toán Những lời giải này sẽ trở nên phong phú và chính xác hơn, phù hợp với yêu cầu của câu hỏi.

Đánh giá chung

Dựa trên nghiên cứu và phân tích SGK Toán 1, chúng tôi đã rút ra những kết quả quan trọng hỗ trợ cho quá trình giảng dạy Các giải pháp được đề xuất phù hợp với nội dung kiến thức Toán lớp 1 Nghiên cứu cho thấy, khó khăn chính của học sinh không nằm ở việc viết phép tính và đáp số, mà ở việc hiểu đề bài để viết lời giải Do đó, giáo viên cần chú trọng vào việc này để nâng cao khả năng giải toán cho học sinh Đồng thời, cần kết hợp tinh thần trách nhiệm với việc tạo ra bầu không khí học tập vui tươi, giúp học sinh học mà chơi, chơi mà học, từ đó ghi nhớ kiến thức lâu hơn và cảm thấy thoải mái khi học.

Qua nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng đóng góp vào việc rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 1, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi kêu gọi sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo và các ban ngành giáo dục.

Cung cấp tài liệu tham khảo phong phú cho giáo viên và học sinh nhằm nâng cao phương pháp giảng dạy, đáp ứng nhu cầu dạy – học, đồng thời tạo nguồn tài liệu học tập bổ ích cho sinh viên ngành sư phạm.

Nên tiến hành khảo sát hàng năm về chất lượng dạy và học Toán đối với cả giáo viên và học sinh, nhằm thu thập dữ liệu và cái nhìn chính xác để giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp Đồng thời, khảo sát cũng cung cấp ý kiến quý báu cho các đợt thay đổi chương trình sách giáo khoa của Bộ Giáo dục.

Giải pháp mà chúng tôi đề xuất vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót, được hình thành từ kinh nghiệm giảng dạy cá nhân và phân tích sách giáo khoa Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành từ các bạn và các thầy cô để nâng cao kiến thức cho việc giảng dạy trong tương lai.

PHẦN D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Đình Hoan (chủ biên) , Nguyễn Áng – Vở bài tập Toán 1 (tập 2,2002) – Nhà xuất bản Giáo dục.

2 Đỗ Đình Hoan (chủ biên) , Nguyễn Áng , Đỗ Trung Hiệu , Phạm Thanh Tâm – Sách giáo khoa Toán 1 (2002) – Nhà xuất bản Giáo dục.

3 Đỗ Đình Hoan (chủ biên) , Nguyễn Áng , Đỗ Tiến Đạt , Đỗ Trung Hiệu , Phạm Thanh Tâm – Sách giáo viên Toán 1(2002) – Nhà xuất bản Giáo dục.

4 G.Polya – Giải toán như thế nào – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

5 Hà Sĩ Hồ - Một số vấn đề cơ sở về phương pháp dạy học Toán ở cấp I phổ thông – Nhà xuất bản Giáo dục 1995.

6 Nguyễn Bá Kim – Phương pháp giảng dạy Toán học – Nhà xuất bản Đại học

7 Nguyễn Tuấn , Lê Thị Thu Huyền – Thiết kế bài giảng Toán 1 (Tập 2,2002) – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

8 PGS TS Trần Diên Hiển – Thực hành giải Toán tiểu học tập 1+2 – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm 2004.

9 PGS TS Trần Diên Hiển (chủ biên), PGS TS Vũ Quốc Chung, TS Trần Ngọc Lan, ThS Tô Văn Dung, ThS Nguyễn Hùng Quang – Toán và phương pháp dạy Toán ở Tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục.

Ngày đăng: 03/07/2023, 11:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w