1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách khai thác về kinh tếcủa thực dân pháp ở nam kỳ(1874 – 1914)

103 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ (1874 – 1914)
Tác giả Nguyễn Đình Tùng
Người hướng dẫn Th.s Phạm Thúc Sơn
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đề tài nghiên cứu góp phần làm phong phú nguồn tài liệu về chính sáchkhai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ nói riêng, Việt Nam nói chung.5.. Đóng góp về mặt kinh tế - xã

Trang 1

(1874 – 1914)

Bình Dương, năm 2015

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung

Tên đề tài: Chính sách khái thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ (1874 – 1914)Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đình Tùng

Lớp: D12LS02 Khoa: Lịch Sử Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4 nămNgười hướng dẫn: Th.s Phạm Thúc Sơn

Đánh giá ảnh hưởng: “Chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam

kỳ từ 1874 đến 1914” đối với sự phát triển của vùng Nam bộ

Trong quá trình làm bài có những phần chúng tôi nghiên cứu rộng về không giancũng như thời gian so với mục tiêu đề ra, nhằm mục đích làm rõ những vấn đề nghiêncứu của bài

Trang 4

Kết quả đề tài nghiên cứu góp phần làm phong phú nguồn tài liệu về chính sáchkhai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ nói riêng, Việt Nam nói chung.

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng ứng dụng của đề tài

Giúp mọi người hiểu hơn về chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ởNam Kỳ từ 1874 đến 1914

Tạo điều kiện cho các bạn học sinh, sinh viên có thêm nguồn tài liệu để tìm tòi vànghiên cứu Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Cung cấp thêm nguồn tư liệu cho những đọc giả quan tâm đến vấn đề thuộc địa ởNam kỳ, từ đó giúp các độc giả có một cách nhìn khách quan hơn về chính sách khaithác kinh tế của thực dân Pháp đối với Nam kỳ

Chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ có thể xây dựng thànhmột bài giảng hay một chuyên đề chuyên sâu cho học sinh các trường Trung học phổthông

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (nếu có)

Bình Dương, ngày … tháng… năm 2015

Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 5

Bình Dương, ngày… tháng… năm 2015

Xác nhận của lãnh đạo khoa Người hướng dẫn

(Ký, họ và tên) (ký, họ và tên)

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN

Họ và tên: Nguyễn Đình Tùng

Sinh ngày: 01 tháng 09 năm 1994

Nơi sinh: Thọ Xuân - Thanh Hoá

Lớp: D12LS02 Khoá học: 2012 – 2016

Khoa: Lịch Sử

Địa chỉ liên hệ: phường Khánh Bình, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Điện thoại: 0974.844.914 Email: nguyendinhtungls2@gmail.com

2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Năm thứ 1:

Ngành học: Sư phạm Lịch sử Khoa: Sử

Kết quả xếp loại học tập: Trung bình Khá

Sơ lược thành tích: Đạt học bổng học kì II năm học 2012 – 2013

Trang 7

Ngành học: Sư phạm Lịch sử Khoa: Sử

Kết quả xếp loại học tập: học kì I đạt loại Khá

Sơ lược thành tích: Đạt học bổng kì I năm học 2014 – 2015

Bình Dương, ngày… tháng… năm 2015

Xác nhận của lãnh đạo khoa Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

(ký, họ và tên) (ký, họ và tên)

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 8

Bình Dương, ngày… tháng…… năm 2015

Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”

Tên tôi (chúng tôi) là: Nguyễn Đình Tùng

Sinh ngày: 01 tháng 09 năm 1994

Sinh viên năm thứ: 3 Tổng số năm đào tạo: 4 năm

Địa chỉ email: nguyendinhtungls2@gmail.com

Tôi (chúng tôi) làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi (chúng tôi) được gửi đềtài nguyên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại họcThủ Dầu Một” năm 2014

Tên đề tài: Chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ (1874 – 1914).Tôi (chúng tôi) xin cam đoan đây là đề tài do tôi (chúng tôi) thực hiện dưới sự hướngdẫn của Th.s Phạm Thúc Sơn; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nàokhác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp

Nếu sai, tôi (chúng tôi) xin chịu trách nhiệm trước Khoa và Nhà trường

Nguyễn Đình Tùng

Trang 9

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Thủ Dầu Một mở racuộc thi nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên để giúp chúng tôi mở rộng, học hỏi,trau dồi tri thức và rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học.

Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn Th.s Phạm Thúc Sơn, thầy đã tận tìnhgiúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tàinghiên cứu khoa học

Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn quý mến và sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luônquan tâm, hỗ trợ cũng như luôn ủng hộ, động viên Đồng thời, chúng tôi cũng xin bày tỏlòng cảm ơn đến cơ quan và các anh chị nhân viên của thư viện tỉnh Bình Dương, thưviện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một đã hếtlòng giúp đỡ trong việc tìm hiểu đề tài “Chính sách khai thác về kinh tế của thực dânPháp ở Nam Kỳ (1874 – 1914)” để chúng tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa học

Trang 10

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KỲ (1859 – 1874) 8

1.1 Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam 8

1.2 Quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Kỳ 10

1.2.1 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ 10

1.2.2 Hoà ước Nhâm Tuất (1862) 13

1.2.3 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ 15

1.2.4 Hoà ước Giáp Tuất (1874) 16

1.3 Chính sách bành trướng của thực dân Pháp từ 1862 đến 1874 17

1.3.1 Đô đốc Bonard với nhiệm vụ tiến hành thiết lập chế độ bảo hộ của Pháp ở Nam Kỳ 17

1.3.2 Đô đốc De La Grandière với chính sách bành trướng 18

1.3.3 Đô đốc Ohier với những điều kiện áp đặt cho triều đình Huế 19

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH KHAI THÁC KINH TẾ CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KỲ (1874 – 1914) 21

2.1 Khái quát chính sách khai thác của thực dân Pháp ở Việt Nam 21

2.2 Chính sách của Paul Doumer 23

2.2.1 Paul Doumer với chính sách về kinh tế - tài chính 23

Trang 11

2.3 Chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ từ 1874 đến

1914 27

2.3.1 Xây dựng cơ sở vật chất để khai thác thuộc địa 27

2.3.1.1 Hệ thống giao thông vận tải 28

2.3.1.2 Hệ thống các công trình thuỷ nông 30

2.3.2 Chính sách khai thác về nông nghiệp 31

2.3.2.1 Giai đoạn 1874 đến 1897 31

2.3.2.2 Giai đoạn 1897 đến 1914 34

2.3.3 Chính sách khai thác về công nghiệp 38

2.3.3.1 Giai đoạn 1874 đến 1888 38

2.3.3.2 Giai đoạn 1888 đến 1897 40

2.3.3.3 Giai đoạn 1897 đến 1914 42

2.3.4 Chính sách khai thác về thương mại 44

2.3.4.1 Giai đoạn 1874 đến 1888 44

2.3.4.2 Giai đoạn 1888 đến 1897 47

2.3.4.3 Giai đoạn 1897 đến 1914 49

2.3.5 Thực dân Pháp thực hiện chính sách về thuế 51

2.3.5.1 Thuế quan (thuế thương chính) 52

2.3.5.2 Thuế gián thu (thuế công quản) 52

Trang 12

2.3.5.4 Thuế thân (thuế đinh) 55

2.3.5.5 Thuế lao dịch 56

2.3.6 Thực dân Pháp thực hiện chế độ tài chính 57

2.4 Đặc điểm nền kinh tế thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ từ 1874 đến 1914 59

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 68

Phụ lục 1: Một số bản đồ về Nam Kỳ qua các giai đoạn 68

Phụ lục 2: Một số hình ảnh tư liệu về Nam Kỳ thời Pháp thuộc 72

Trang 13

ĐỀ TÀI CHÍNH SÁCH KHAI THÁC VỀ KINH TẾ CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở

vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: chế độ thống trị của chủ nghĩa thựcdân phương Tây đối với các nước thuộc địa là một chế độ áp bức, bóc lột hết sức tàn

bạo và điều đó đáng bị lên án Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn

Ái Quốc đã chỉ ra những tội ác của chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là tội ác của thực dânPháp đối với nhân dân An Nam là minh chứng cho điều đó

Để hợp thức hóa quá trình xâm lược và biến Việt Nam thành thuộc địa, thực dânPháp lấy cớ đến Việt Nam để bảo hộ và khai hoá văn minh Nhưng thực dân Pháp đãlàm gì để bảo hộ và khai hoá cái gọi là văn minh đó? Có lẽ khai thác tài nguyên, đề ranhững loại thuế, hay cưỡng bức, bóc lột, cướp đoạt ruộng đất của nhân dân là cách thực

Page 1

Trang 14

dân Pháp dùng để khai hoá văn minh chăng? Chắc chắn là không, mục đích chính củathực dân Pháp đến Việt Nam là để khai thác, bóc lột làm giàu cho bản thân chúng, làmgiàu cho chủ nghĩa thực dân Pháp Theo Tiến sĩ Lê Huỳnh Hoa, trường Đại học Sưphạm Thành phố Hồ Chí Minh: “Nước Pháp tư bản chủ nghĩa đã tiến hành hoạt động vũtrang xâm lược và thiết lập tại Việt Nam một hình thái chính quyền tồn tại suốt thời kỳ

cận đại của lịch sử Việt Nam – chính quyền thuộc địa Về thực chất, đây là tổ chức

chính quyền đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản Pháp ở chính quốc và cả ở thuộcđịa” [9; 160]

Chính vì vậy, mục đích của người Pháp xâm lược Việt Nam là để thiết lập hệthống thuộc địa, khai thác tài nguyên mang về Chính quốc Để đạt được mục đích đóPháp đặt ra chính sách cai trị vê nhiều mặt: kinh tế, văn hoá giáo dục, xã hộị,v.v….Nam Kỳ là nơi thích hợp cho sự khai thác của thực dân Pháp do có sự hoạt động của

“đồn điền cao su” – việc khai thác cao su ở Nam Kỳ góp phần cho thực dân Pháp thuđược lợi nhận lớn khi cung cấp cao su ra thị trường thế giới

Hậu quả và di chứng chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với nhân dân Nam

Kỳ rất nặng nề Tuy nhiên, không thể phủ nhận những chính sách mà thực dân Pháp ápdụng ở đây vô tình đã tạo điều kiện cho Nam Kỳ có những biến đổi sâu sắc về kinh tế.Nam Kỳ xuất hiện một hình thái kinh tế mới đan sen với cơ cấu kinh tế xã hội truyềnthống – kinh tế tư bản chủ nghĩa Trước đây, khi Nam Kỳ còn nằm dưới sự kiểm soátcủa Chân Lạp ở đây chỉ là một vùng đất hoang sơ hẻo lánh, nhiều rừng rậm Đến thờicác chúa Nguyễn, Nam Kỳ trở thành vùng đất trồng trọt quy mô lớn, nhưng không có sựphát triển vượt bậc như thời Pháp thuộc

Chính vì vậy, việc tìm hiểu chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ởNam Kỳ là rất cần thiết Việc nghiên cứu đề tài này, làm sáng tỏ những chính sách màthực dân Pháp ban hành thông qua việc phân tích những sự kiện, những khoản lợi nhuận

mà Pháp thu được

Page 2

Trang 15

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách khai thác về kinh tế của

thực dân Pháp ở Nam Kỳ (1874 – 1914)”, làm đề tài nghiên cứu để tham gia cuộc thi

sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2014 – 2015

2 Ý nghĩa và sản phẩm của đề tài:

Hoàn thành công trình nghiên cứu: “Chính sách khai thác về kinh tế của thực dân

Chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ có thể xây dựng thànhmột bài giảng hay một chuyên đề chuyên sâu cho học sinh trường Trung học phổ thông

QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ:

Page 3

Trang 16

8/2014 – 9/2014 Tập huấn chuyên đề 1:

“Từ ý tưởng đề tài đến đềcương nghiên cứu

Xác định tên đề tài nghiêncứu Trình bày tính cấpthiết, mục tiêu, đối tượng,phạm vi, cơ sở lí luận,phương pháp, cũng như đềcương nghiên cứu

Nộp bản thuyếtminh đề tài nghiêncứu khoa học cónhững nội dungnhư ở bên

Th.s: PhạmThúc SơnSv: NguyễnĐình Tùng

9/2014 – 10/2014 Xác định rõ tên đề tài và

đề cuơng nghiên cứu

Nộp bản thuyếtminh lần hai

Th.s: PhạmThúc SơnSv: NguyễnĐình Tùng10/2014 – 4/2015 Triển khai thực hiện đề tài

Tập huấn chuyên đề 2: Kỹnăng sử lý và phân tích sốliệu

Báo cáo tiến độ thực hiện

đề tài

Bảo vệ đề tài nghiên cứukhoa học

Hoàn thành côngtrình nghiên cứu

Nộp sản phẩm vềvăn phòng khoa

Hoàn thành buổibảo vệ đề tài

Th.s: PhạmThúc SơnSv: NguyễnĐình Tùng

KẾT LUẬN:

Ngoài những kết quả thu được ở trên Sau khi bảo vệ xong đề tài nghiên cứu ở cấpkhoa, một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu của chúng tôi đã được Hội khoa họclịch sử tỉnh Bình Dương chọn làm bài đăng trong tạp chí số 38 – tháng 4 – 2015

Page 4

Trang 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu sách:

1 Nguyễn Thế Anh (2008), kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn.

Nxb Văn học

2 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học.

3 Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Đông Nam Bộ, Nxb Đại học

Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

4 Nguyễn Ngọc Cơ (cb) (2010), Giáo trình lịch sử Việt Nam – tập 4 Nxb Đại học

Sư phạm, Hà Nội

5 Nguyễn Trí Dĩnh – Phạm Thị Quý (2010), giáo trình lịch sử kinh tế, Nxb Đại học

Kinh tế quốc dân, Hà Nội

6 Philippe Devillers (2006) – Ngô Văn Quỹ dịch, Người Pháp và người Annam bạn

hay thù, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.

7 Nguyễn Khắc Đạm (1957), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam,

Nxb Văn - Sử - Địa

8 Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng Nxb Tp Hồ Chí Minh.

9 Nguyễn Văn Hiệp (cb), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam – tập 2, Nxb Đại học

Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

10 Viện sử học (2003), Lịch sử Việt Nam 1858 – 1896, Nxb Khoa học xã hội.

11 Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa, Nxb.

Đại học Quốc gia, Hà Nội

12 Phan Khánh (2001), Đồng bằng sông Cửu Long lịch sử và lũ lụt, Nxb Nông nghiệp

TP Hồ Chí Minh

13 Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, hội khoa học lịch sử Việt Nam.

14 Đinh Xuân Lâm (cb) – Nguyễn Văn Khánh – Nguyễn Đình Lễ (2000), đại cương

lịch sử Việt Nam – tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

15 Trần Huy Liệu (2003), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Nxb Khoa học xã hội

Page 5

Trang 18

16 Trần Huy Liệu (1958), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp – quyển thứ 2, tập

Thượng (1936 – 1939), Nxb Văn - Sử - Địa

17 Trần Huy Liệu (1961), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp – quyển thứ 2, tập Hạ

(1939 – 1945), Nxb Viện sử học

18 Lịch sử Đảng cộng sản VN (sơ thảo), Nxb Sự thật, 1981.

19 Huỳnh Lứa (cb) (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Tp Hồ Chí

Minh

20 Huỳnh Minh (2001), Định Tường xưa, Thanh niên, Hà Nội.

21 Huỳnh Minh (2001), Tây Ninh xưa, Thanh niên, Hà Nội

22 Huỳnh Minh (2001), Vũng Tàu xưa, Thanh niên, Hà Nội.

23 Huỳnh Minh (2006), Gia Định Xưa, Văn hoá – Thông Tin, Hà Nội.

24 Hồ Chí Minh (1985), Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb Sự thật.

25 Hồ Chí Minh toàn tập – tập 1 (1919 – 1924), Nxb chính trị quốc gia, 1999.

26 Sơn Nam (1973), Lịch sử khẩn hoang Miền Nam, Nxb Đông Phố, Sài Gòn.

27 Nguyễn Quang Ngọc (2013), tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục.

28 Nguyễn Duy Oanh (1994), quân dân Nam kỳ kháng Pháp trên mặt trận quân sự và văn chương (1859 – 1885), Nxb Tp Hồ Chí Minh.

29 Nguyễn Thị Phượng (2007), Lịch sử đồn điền cao su ở miền Đông Nam Bộ thời kỳ Pháp thuộc giai đoạn (1898 – 1939) – luận văn thạc sĩ lịch sử, Tp Hồ Chí Minh

30 Nguyễn Phan Quang (2004), thị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 – 1945), Nxb Tp.

33 Dương Kinh Quốc (1981), Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 – 1945 – tập 1

(1858 – 1896), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

34 Dương Kinh Quốc (1981), Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 – 1945 – tập 2

(1897 – 1918), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

Page 6

Trang 19

35 Dương Kinh Quốc – Ngô Văn Hoà (1978) Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

36 Phạm Quỳnh (2011), Mười ngày ở Huế, Nxb Văn học

37 Nguyễn Khánh Toàn (1985), Lịch sử Việt Nam tập II, Nxb Khoa học xã hội

38 Nguyễn Khoa Trung (cb) – Hà Văn Thắng – Đỗ Ngọc Nam (1999), Lịch sử phong trào công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An, Nxb Bộ giao thông vận tải.

39 Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Huỳnh Lứa (2000), Phong traò đấu tranh của công

nhân cao su Thủ Dầu Một trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb TP Hồ Chí

Minh

40 Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Huỳnh Lứa (2003), Phong traò đấu tranh của công

nhân cao su Thủ Dầu Một trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Lao Động, Hà

Nội

41 Đặng Văn Vinh (2000), 100 năm cao su Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội.

42 Yoshiharu Tsuboi (2011) – Nguyễn Đình Đầu dịch, Nước Đại Nam đối diện với

Pháp và Trung Hoa (1847 – 1885), Nxb Tri thức.

Tài liệu báo, tạp chí:

43 Nguyễn Bình Minh, Giới thiệu vài nét về tình hình công nhân Việt Nam thời Pháp

thuộc, Nghiên cứu Văn - Sử - Địa, số 27.

44 Nguyễn Phan Quang, độc quyền thuốc phiện ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, tạp chí xưa

và nay – Số 55B, tr 69 – 71

45 Nguyễn Phan Quang, thêm một số tư liệu về nghề thủ công truyền thống ở Nam Bộ

thời Pháp thuộc (1867 -1945), Nxb Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh – Số 3, tr.81–

90

46 Nguyễn Phan Quang, Tổ chức hành chính Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định (1862 –

1941), tạp chí xưa và nay

Page 7

Trang 20

vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: chế độ thống trị của chủ nghĩa thựcdân phương Tây đối với các nước thuộc địa là một chế độ áp bức, bóc lột hết sức tàn

bạo và điều đó đáng bị lên án Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn

Ái Quốc đã chỉ ra những tội ác của chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là tội ác của thực dânPháp đối với nhân dân An Nam là minh chứng cho điều đó

Để hợp thức hóa quá trình xâm lược và biến Việt Nam thành thuộc địa, thực dânPháp lấy cớ đến Việt Nam để bảo hộ và khai hoá văn minh Nhưng thực dân Pháp đãlàm gì để bảo hộ và khai hoá cái gọi là văn minh đó? Có lẽ khai thác tài nguyên, đề ranhững loại thuế, hay cưỡng bức, bóc lột, cướp đoạt ruộng đất của nhân dân Nam Kỳ làcách thực dân Pháp dùng để khai hoá văn minh chăng? Chắc chắn là không, mục đíchchính của thực dân Pháp đến Nam Kỳ là để khai thác, bóc lột làm giàu cho bản thânchúng, làm giàu cho chủ nghĩa thực dân Pháp Theo Tiến sĩ Lê Huỳnh Hoa, trường Đạihọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh: “Nước Pháp tư bản chủ nghĩa đã tiến hành hoạtđộng vũ trang xâm lược và thiết lập tại Việt Nam một hình thái chính quyền tồn tại suốt

thời kỳ cận đại của lịch sử Việt Nam – chính quyền thuộc địa Về thực chất, đây là tổ

chức chính quyền đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản Pháp ở chính quốc và cả ởthuộc địa” [9; 160]

Chính vì vậy, mục đích của người Pháp xâm lược Việt Nam là để thiết lập hệthống thuộc địa, khai thác tài nguyên mang về Chính quốc Để đạt được mục đích đóPháp đặt ra chính sách cai trị vê nhiều mặt: kinh tế, văn hoá giáo dục, xã hộị,v.v….Nam Kỳ là nơi thích hợp cho sự khai thác của thực dân Pháp do có sự hoạt động của

“đồn điền cao su” – việc khai thác cao su ở Nam Kỳ góp phần cho thực dân Pháp thu

được lợi nhận lớn khi cung cấp cao su ra thị trường thế giới

Trang 21

Hậu quả và di chứng chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với nhân dân Nam

Kỳ rất nặng nề Tuy nhiên, không thể phủ nhận những chính sách mà thực dân Pháp ápdụng ở đây vô tình đã tạo điều kiện cho Nam Kỳ có những biến đổi sâu sắc về kinh tế.Nam Kỳ xuất hiện một hình thái kinh tế mới đan sen với cơ cấu kinh tế xã hội truyềnthống – kinh tế tư bản chủ nghĩa Trước đây, khi Nam Kỳ còn nằm dưới sự kiểm soátcủa Chân Lạp ở đây chỉ là một vùng đất hoang sơ hẻo lánh, nhiều rừng rậm Đến thờicác chúa Nguyễn, Nam Kỳ trở thành vùng đất trồng trọt quy mô lớn, nhưng không có sựphát triển vượt bậc như thời Pháp thuộc

Chính vì vậy, việc tìm hiểu chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ởNam Kỳ là rất cần thiết Việc nghiên cứu đề tài này, làm sáng tỏ những chính sách màthực dân Pháp ban hành thông qua việc phân tích những sự kiện, những khoản lợi nhuận

mà Pháp thu được

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách khai thác về kinh tế của

thực dân Pháp ở Nam kỳ (1874 – 1914)”, làm đề tài nghiên cứu tham gia cuộc thi sinh

viên nghiên cứu khoa học năm 2014 – 2015

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu Việt Nam thời Pháp thuộc nói chung và chính sách cai trị của thựcdân ở Việt Nam nói riêng đặc biệt là chính sách thực dân của Pháp vùng Nam Kỳ là một

đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu:

Tác giả Nguyễn Khắc Đạm, trong “Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở

Việt Nam”, nhà xuất bản Văn - sử - địa, Hà Nội, 1957 Tác giả đã mô tả và chủ yếu trình

bày về quá trình bỏ vốn và chính sách khai thác, cướp đoạt ruộng đất của tư bản Pháp ởViệt Nam Đồng thời, trong chương 3 tác giả đã giành 10 trang để trình bày sơ lược vềphương thức kinh doanh đồn điền nông nghiệp của tư sản Pháp ở Nam Kỳ Thông qua

đó, sách cung cấp thêm về các chính sách khai thác, cướp đoạt ruộng đất của tư bảnPháp ở Nam Kỳ

Trần Huy Liệu, “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” (quyển II, tập thượng – giai

đoạn 1930 - 1939), Nhà xuất bản Văn Sử Địa, 1958 Trong công trình này, tác giả đãnêu lên những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa tới Việt Nam

Trần Huy Liệu, “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” (quyển II, tập hạ - giai đoạn

1939 - 1945), Nhà xuất bản Sử học, 1961 Trong công trình nguyên cứu này, tác giả đãnói lên việc đầu tư của tư bản Pháp ở Đông Dương cùng những khoản lợi nhuận màchính phủ Pháp đã thu được Nguồn tư liệu này cung cấp cho chúng tôi số liệu về việcđầu tư và thu lời của tư bản Pháp ở Nam Kỳ

Trang 22

Tác giả Dương Kinh Quốc với “Việt Nam những sự kiện lịch sử” (tập 1 và tập 2),

ấn phẩm được nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội phát hành tập một năm 1981, tậphai năm 1982 Tập một trình bày những sự kiện quan trọng về giai đoạn 1858 – 1896,

về cơ bản những sự kiện này nói lên sự suy tàn của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, nêulên dã tâm xâm lược của thực dân Pháp cũng như những thủ đoạn thâm độc của chúng.Tập hai tác giả chủ yếu trình bày những nghị định, những sắc lệnh do toàn quyền ĐôngDương hay chính phủ Pháp đề ra ở Việt Nam từ năm 1897 đến 1918 nhằm thâu tómnhững lợi ích về phía họ

Tác giả Huỳnh Lứa (chủ biên) với ấn phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”,

nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, năm 1987 Thông qua chương 4 của sách, chúng tôi đãhiểu sơ lược về: diện tích đất trồng cây công nghiệp, sự phân bố, năng xuất và tác độngcủa đồn điền nông nghiệp đối với kinh tế xã hội miền Đông Nam Kỳ

Tác giả Dương Trung Quốc “Việt Nam những sự kiện lịch sử” (tập 3), ấn phẩm

được nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 1988 Ấn phẩm chủ yếu nói lên những sựkiện liên quan đến vấn đề khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp từ năm

1919 cho đến khi chế độ thuộc địa kết thúc bởi cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 với

sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 2 tháng 9 năm 1945 Sách giúpchúng tôi so sánh, đối chiếu chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai và chính sáchkhai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp

Philippe Devillers, “Người Pháp và người Annam bạn hay thù”, đây là công trình

được biên soạn cách đây hơn 50 năm Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ mới được xuất bảnbằng tiếng Pháp năm 1998 và được Ngô Văn Quỹ dịch ra bằng tiếng Việt xuất bản ởViệt Nam năm 2006 bởi nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù nộidung của sách chủ yếu nói về những biến cố lịch sử xảy ra đối với nước Pháp và nướcAnnam gay cấn, phức tạp, nhưng tác phẩm đã cung cấp cho chúng tôi một số nguyênnhân khiến thực dân Pháp xâm lược Việt Nam

Nguyễn Văn Khánh với “Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 –

1945)”, sách được nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội phát hành năm 1999 Trong ấn

phẩm tác giả cung cấp cho chúng tôi tính chất, nội dung của khái niệm xã hội thuộc địanữa phong kiến ở Việt Nam Đồng thời ấn phẩm giúp chúng tôi hiểu thêm về nhữngbiến đổi cơ cấu kinh tế xã hội ở Việt Nam từ 1858 đến 1945

Trần Văn Giàu, “Chống Xâm Lăng – lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1898”, cuốn

sách này được nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2001 Đây là nguồntài liệu quan trọng, cung cấp cho chúng tôi những âm mưu xâm lược, quá trình xâm

Trang 23

lược các tỉnh Nam bộ của thực dân Pháp Đồng thời giúp chúng tôi có thêm nguồn tưliệu trong chính sách cai trị về sưu thuế, về tài chính cũng như việc trao đổi, buôn báncủa thực dân Pháp ở Nam Kỳ

Nguyễn Phan Quang, “Thị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 – 1945)”, sách được

nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh phát hành năm 2004 Nội dung của sách chủ yếu nói vềtình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Nam Kỳ trong những năm 1860 – 1945 Do đó,đây là nguồn tài liệu giúp ích cho chúng tôi khi trình bày về phần thương mại

Nguyễn Phan Quang, “Độc quyền thuốc phiện ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX” tạp chí

xưa và nay – số 55B Trong cuốn tạp chí này tác giả đã giành 3 trang (từ 69 – 71) để nóilên tình hình xã hội Việt Nam đối với ma tuý Do đó, tạp chí cung cấp cho chúng tôi sốliệu cụ thể về hoạt động sản xuất, buôn bán ma tuý của tư bản Pháp

Nguyễn Thị Phượng với luận văn thạc sĩ “Lịch sử đồn điền cao su ở miền Đông

Nam bộ thời kì Pháp thuộc giai đoạn 1898 – 1939” luận văn này được nhà xuất bản

Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2007 Trong luận văn này, tác giả đã khái quát

sơ lược về sự hình thành và phát triển của đồn điền cao su ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc.Đặc biệt tác giả đã chỉ ra những hiệu quả và tác động của đồn điền cao su đối với kinh

tế - xã hội Nam Kỳ từ năm 1898 đến năm 1939 Thông qua đó, giúp chúng tôi rất nhiềukhi nghiên cứu về công cuộc khai thác đồn điền của thực dân Pháp

Nguyễn Thế Anh, “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn”, nhà

xuất bản Văn học, năm 2008 Tác phẩm này đã đề cập đến các hoạt động nông nghiệp,công nghệ và thương mại của Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn Từ đó, tạo điều kiệncho chúng tôi so sánh, phân tích các hoạt động nông nghiệp, công nghệ và thương mạicủa Việt Nam thời Pháp thuộc vài thời nhà Nguyễn

Nguyễn Thế Anh, “Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ”, tái bản lần 2 năm 2008 bởi

nhà xuất bản Văn học Tác phẩm được chia làm 3 phần: Sự chiếm cứ quân sự, chế độthuộc địa và phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với chế độ thuộc địa Trong phần thứnhất tác giả đã đưa ra phần mở đầu nói về các nguyên nhân khiến pháp xâm lược ViệtNam và 3 chương khái quát về quá trình đấu tranh chống Pháp đến khi phong trào CầnVương thất bại Đặc biệt, tác giả đã khắc họ tài tình những nổ lực mà thực dân Phápmuốn xâm lược Việt Nam Phần thứ hai gồm có 3 chương nói về sự tổ chức bộ máy caitrị, sự khai thác kinh tế, cũng như những biến đổi xã hội Trong phần này, tác giả đã sửdụng nhiều số liệu về thuế khoá, tài chính và đặc biệt là những hoạt động khai thác ởViệt Nam của Pháp Phần thứ ba cũng có 3 chương chủ yếu nói về những phong tràoyêu nước của các tầng lớp như: tầng lớp nho sĩ, tầng lớp tư sản hay tầng lớp bình dân

Trang 24

Nguyễn Công Bình (chủ biên), “Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ”, ấn phẩm được

nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh phát hành năm 2008 Ấn phẩm cungcấp thêm thông tin cho chúng tôi về chính sách ruộng đất của thực dân Pháp ở Việt Nam

và nền kinh tế Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XX

Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ “Đại cương

lịch sử Việt Nam – tập 2”, ấn phẩm được phát hành vào năm 2008, bởi nhà xuất bản

Giáo dục Tác phẩm có đề cập tới những biến đổi của cơ cấu kinh tế và xã hội ở ViệtNam do cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của tư bản pháp (1897 – 1914)

Nguyễn Quang Ngọc “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, ấn phẩm được nhà xuất bản

Giáo dục phát hành vào năm 2009 Tác phẩm chủ yếu đề cập đến những vấn đề lịch sửcủa nước ta từ thời tiền sử đến năm 1996 Sách được chia ra làm hai phần: Lịch sử ViệtNam cổ - trung đại và Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại Trong ấn phẩm này chúng tôichủ yếu tham khảo ở phần thứ hai: về thời kì từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Namnăm 1858 cho đến năm 1996 Trong phần này tác giả có nói về quá trình xâm lược củathực dân Pháp ở Việt Nam và các cuộc kháng chiến, đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộccủa nhân dân ta

TS Nguyễn Văn Hiệp (chủ biên), “Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam” (tập 2),

ấn phẩm này được phát hành năm 2014, bởi nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ ChíMinh, trong ấn phẩm này tác giả đã tổng hợp nhiều chuyên đề của các Tiến sĩ, Thạc sĩ

Trong đó có chuyên đề “Chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam” do

Tiến sĩ Lê Huỳnh Hoa biên soạn, trong chuyên đề cô Lê Huỳnh Hoa đã cung cấp chochúng tôi thông tin về quá trình thôn tính, cũng như sự hình thành chính quyền thuộcđịa của thực dân Pháp ở Việt Nam

Nguyễn Bình Minh, “Giới thiệu vài nét về tình hình công nhân Việt Nam thời

Pháp thuộc”, trong bài báo – tạp chí này, tác giả đã nêu lên nhiều tội ác của thực dân

Pháp khi họ bắt nhân dân ta vào các nhà máy, đồn điền làm việc cho họ, chúng thựchiện chính sách bóc lột công nhân rẻ mạt Do đó, tạp chí giúp ích cho chúng tôi mộtphần nào trong bài nghiên cứu

Nhìn chung, các tác phẩm trên đã đề cập ở nhiều mức độ khác nhau về chính sáchkhai thác kinh tế thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ Có tài liệu đã nghiên cứu kháchi tiết, có tài liệu chỉ nói một cách sơ lược Song, tất cả đều rất có ích đối với ngườinghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu tập chung và hệ thống về

chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ Vì vậy, nghiên cứu “Chính

Trang 25

sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn (1874 – 1914)” sẽ là

một đóng góp thiết thực để hiểu rõ về hoạt động kinh tế của Nam Kỳ thời Pháp thuộc

Đánh giá ảnh hưởng: “Chính sách khai thác về kinh tế của thực dân Pháp ở Nam

Kỳ từ 1874 đến 1914” đối với sự phát triển của vùng Nam bộ

Trong quá trình nghiên cứu có những phần chúng tôi đề cập về không gian cũngnhư thời gian vượt ra khỏi phạm vi không gian và thời gian của đề tài, nhằm mục đíchlàm rõ những vấn đề được đề cập trong nội dung của bài nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nam Kỳ

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ 1874 đến 1914

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.1 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

Trang 26

Đề tài tiếp cận hệ thống dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn giai cấp, nhà nước và vấn đề kinh tế

Phương pháp nguyên cứu: Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phương phápnghiên cứu cụ thể là phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm phương phápnguyên cứu chính Phương pháp lịch sử được dùng trong việc mô tả và trình bày sự kiệntheo tiến trình Phương pháp logic được dùng trong việc nhận định các sự kiện vấn đề.Đồng thời, chúng tôi sử dụng thêm các phương pháp liên ngành như: phương phápthống kê, phân tích, so sánh

5.2 Nguồn tài liệu

Để thực hiện tốt bài nghiên cứu chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sách, báo,tạp chí, internet để làm rõ đề tài Nguồn tài liệu chúng tôi tham khảo chủ yếu từ: thưviện tỉnh Bình Dương, thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh và thư việntrường Đại học Thủ Dầu Một

6 Đóng góp và khả năng ứng dụng của đề tài

Kết quả của đề tài góp phần giúp mọi người hiểu hơn về chính sách khai thácthuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ từ 1874 đến 1914

Tạo điều kiện cho các bạn đọc giả có thêm nguồn tài liệu để tìm hiểu và nghiêncứu Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ

Cung cấp thêm nguồn tư liệu cho những đọc giả quan tâm đến vấn đề thuộc địa ởNam kỳ, từ đó giúp các độc giả có một cách nhìn khách quan hơn về chính sách khaithác kinh tế của thực dân Pháp đối với Nam kỳ

Chính sách khai thác kinh tế của thực dân Pháp ở Nam Kỳ có thể xây dựng thànhmột bài giảng hay một chuyên đề chuyên sâu cho học sinh các trường Trung học phổthông

Trang 27

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG

CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KỲ (1859 – 1874) 1.1 Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam

Kể từ sau các cuộc cách mạng từ năm 1848 – 1849 ở châu Âu, chủ nghĩa tư bảnngày càng lớn mạnh và trở thành một hệ thống của thế giới Quy luật phát triển của cácnước Tư bản Chủ nghĩa diễn ra không đồng đều đã làm thay đổi nhanh chóng tươngquan lực lượng giữa các nước Tư bản với nhau Do đó, các nước tư bản đua nhau xâmchiếm những vùng đất đai còn bỏ trống để thiết lập hệ thống thuộc địa nhằm mở rộngthị trường tiêu thụ hàng hoá, vơ vét tài nguyên, bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt để nângcao vị thế của mình và thâu tóm những lợi nhuận

Việt Nam là một trong những vùng đất mà thực dân Pháp hướng tới Trước hết,Việt Nam có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là ngã ba của Đông Dương nên thuậnlợi cho việc vận chuyển hàng hoá từ Việt Nam đến các khu vực khác Việt Nam cónguồn tài nguyên, khoáng sản vô cùng phong phú, trên toàn đất nước có tới hàng ngàncác mỏ lớn nhỏ và có hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản kim loại,năng lượng đến khoáng chất công nghiệp, vật liệu xây dựng Chính vì vậy, ngay từ khicòn ở Việt Nam, một giáo sĩ người Pháp tên là Alexandre de Rhodes đã nhận định về

đất nước ta như sau: “Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiếm được vị trí này thì

thương gia Âu Châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”[8; 18].

Việt Nam là một đất nước rộng lớn, đông dân cư, dân trí lại thấp nên thuận lợicho việc cung cấp nguồn nhân lực với giá rẻ và là thị trường tiêu thụ hàng hoá rất lớn

Trang 28

của Pháp Do đó, năm 1753, Sanh pha- lơ, một cựu giáo sĩ người Pháp đã chuyển sangnghề buôn, trình lên chính phủ Pháp bản báo cáo trong đó ông yêu cầu chính phủ Pháp

lập căn cứ ở miền Bắc Việt Nam Sanh pha- lơ báo cáo: “Vương quốc này là một trong

những nước mạnh nhất của vùng Đông Ấn Tuy nó thần cống Trung Quốc, nó lại được nhiều nước láng giềng quy thuận…Nó rộng bằng 2/3 nước Pháp… Thủ đô của nó là Kẻ Chợ (1) rộng lớn như Pari; tôi có đến đó nhiều lần Kẻ Chợ ở trên một con sông gọi là Sông Cái Thuyền bè chen chúc dưới bến, đông đúc quá sức tưởng tượng Vương quốc này, dân số không biết bao nhiêu mà kể, có rất nhiều thị trấn, có những thị trấn có 3, 4,

5 hay 10 vạn dân Xứ này có nhiều sông, ngòi, kênh đào, thuyền bè lưu thông dễ dàng Đất đai màu mỡ Bắc kỳ mở rộng cửa cho người Anh, người Hà, người Pháp đều có thương điếm…” [8; 21].

Với những điều kiện thuận lợi nêu trên không chỉ có thực dân Pháp mới nhận thấyđược điều đó, ngay cả thực dân Anh, sau khi thôn tính gần xong đất nước Ấn Độ, đả để

ý nhiều tới Việt Nam Trước năm 1698 người Anh đã có các thương điếm ở Miền Bắc

và thường xuyên qua lại ở khu vực này Chính sự có mặt và những âm mưu ngày càng

lộ rõ của người Anh, đã làm cho thực dân Pháp ngày càng gấp rút để thực hiện mưu đồxâm lược Việt Nam

Từ giữa thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, ở Việt Nam xảy ra cuộc nội chiến giữacác chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn Đây là điều kiện thuận lợi để cho thực dân Pháp canthiệp bằng quân sự vào Việt Nam Dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Tây Sơn, chúa Nguyễn

và chúa Trịnh bị lật đỗ Với mong muốn đòi lại được ngai vàng, Nguyễn Ánh đã nhờ sựgiúp đỡ của Xiêm Quân Xiêm giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, nhưng bị quân TâySơn tiêu diệt Trước tình hình đó, Nguyễn Ánh chuyển sang cầu cứu Pháp Ngày 28-11-

1787, một hiệp ước giữa Nguyễn Ánh và Pháp được ký kết Theo hiệp ước, Pháp camkết giúp Nguyễn Ánh tầu chiến, súng đạn, quân sĩ; Nguyễn Ánh phải nhượng Đà Nẵng,Côn Lôn và để cho người Pháp được độc quyền thương mại Nhờ có sự giúp đỡ củaPháp, Nguyễn Ánh đã đánh bại được nhà Tây Sơn và lên ngội vua năm 1802, mở đầucho vương triều nhà Nguyễn

Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã dần hạn chế những hoạt động truyền giáo củangười phương Tây đối với Việt Nam Vì trong thâm tâm Nguyễn Ánh không ưa đạoThiên chúa vì đạo Thiên chúa không chấp nhận những tín ngưỡng truyền thống củangười Việt Nam, nhất là việc thờ cúng tổ tiên, một tín ngưỡng lâu đời của người Việt

nhà nước của các triều đại, nhưng nó có một nét đặc sắc riêng

Trang 29

Nam Do đó, Nguyễn Ánh đã cương quyết bảo vệ tín ngường truyền thống của ngườiViệt Năm 1804, Gia Long công khai tuyên bố Thiên chúa giáo là một thứ dị đoan và ra

lệnh: “…từ nay trong các tổng, các làng có nhà thờ của người Thiên chúa giáo cấm sửa

chữa hoặc xây dựng lại những ngôi nhà thờ đã bị hư nát, còn cất nhà thờ mới ở những nơi chưa có tuyệt nhiên cấm hẳn”[13; 73] Cho đến giữa thế kỉ XIX, các vị vua nhà

Nguyễn đã hạn chế hết mức tối đa sự tiếp xúc giữa người Việt Nam và người phươngTây Nhà nguyễn ban hành nhiều sắc dụ cấm đạo, nghiêm cấm hoặc hạn chế tàu buôncủa phương Tây qua lại ở Việt Nam…Trước thái độ cứng rắn của nhà Nguyễn trongviệc hạn chế ảnh hưởng của người phương Tây đối với Việt Nam đã dẫn đến nhữngmâu thuẫn, xung đột giữa nhà Nguyễn với thực dân Pháp ngày một lớn Năm 1847,Thượng tướng Cescille, chỉ huy hải quân Pháp bán phá tầu triều đình và đòi nhà Nguyễnphải cho các giáo sĩ quyền truyền giáo rộng rãi Những hành động đó của người Pháp đãlàm cho vua Thiệu Trị tức giận Vua ra lệnh cho bao vây các chiến thuyền của Pháp vàthi hành những chính sách cấm đạo gắt gao hơn

Tại Pháp, ảnh hưởng của phái Công giáo ngày một tăng, nhất là sau khi nền Đệnhị Đế chính của Napoléon III được thiết lập, với sự ủng hộ nhiệt tình của các đảng pháibảo thủ, mà đặc biệt là phái Công giáo Ảnh hưởng mạnh mẽ của Công giáo đòi hỏiNapoléon III phải có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người Công giáo ở các quốc gia

có liên quan, trong đó có Việt Nam Chính vì vậy, các hoạt động cấm đạo của nhàNguyễn và đặc biệt là việc tử hình các giáo sĩ, đã làm cho Napoléon III can thiệp bằng

vũ lực vào Việt Nam để lấy lòng quân đội và thoả mãn lòng tự ái của chính phủ Pháp

1.2 Quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Kỳ

1.2.1 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ

Tháng 4-1857, kế hoạch xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp được thông qua.Đến tháng 6-1858, Hiệp ước Thiên Tân được ký kết, thực dân Pháp lập tức di chuyểnthuyền về phía Đà Nẵng Tháng 8-1858, đô đốc Rigault de Genouilly đưa một hạm độigồm mười bốn chiếc thuyền đến Đà Nẵng Rạng sáng ngày 1-9-1858, Pháp nổ súng vàobán đảo Sơn Trà, mở đầu cho chiến dịch xâm lược Việt Nam Cuộc chiến đánh vào ĐàNẵng của thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn do thời tiết nóng nực, đói khát, bệnh dịch

và đặc biệt là sự chống cự quyết liệt của quân dân Việt Nam

Thấy không cầm cự được lâu, ngày 2-2-1859, Rigault de Genouilly đưa quân từ

Đà Nẵng tiến vào Gia Định Ngày 9 tháng 2, mười bốn chiếc thuyền của Pháp đã đếncửa sông Đồng Nai Ngày 10 tháng 2, Pháp bắn phá pháo đài Phúc Thắng ở núi Lại Sơn(Bà Rịa), tiếp đó chúng đi ngược sông Sài Gòn phá huỷ các cộng sự phòng thủ và các

Trang 30

chướng ngại vật ven theo các bờ sông của ta Trước khi vào đến thành Gia Định, chúngbắn hạ được một số thành: Lương Thiện (Biên Hoà), Phúc Mỹ (Gia Định), Danh Nghĩa(Gia Định)…

Trong hai ngày 16 và 17 tháng 2-1859, hạm đội Pháp bắn đại bác dữ dội vàothành Gia Định Quân Pháp đem nhiều thuốc nổ đến phá cửa thành, dùng thang tre đểleo lên thành, 2 bên giằng co cho đến khi Võ Duy Ninh hạ lệnh cho quân rút lui ThànhGia Định bị rơi vào tay Pháp ngày 17-2-1859

Sau khi chiếm được thành Gia Định, thực dân Pháp gặp phải sự chống cự quyếtliệt của quân và dân ta Chính vì vậy, thực dân Pháp chiếm được thành mà lại lúng túng,hốt hoảng lo sợ, Rigault de Genouilly hạ lệnh phá thành Gia Định, đốt hết lương thực

có trong thành và cho quân xuống tàu quay ra Đà Nẵng Quân Pháp ở Việt Nam đã khókhăn, nay lại còn khó khăn hơn khi khó có thể được chính phủ Pháp tiếp viện do chínhphủ Pháp đang cùng một lúc phải giàn lực lượng ra nhiều chiến trường Ở Ý, chiếntranh Pháp và Áo nổ ra Ngày 29-4-1859, quân Áo tiến vào Bắc Ý, buộc Pháp phải đưaqua Ý hàng chục vạn quân Ở Trung Quốc, liên quân Anh – Pháp bị quân Trung Quốcđánh bại trên sông Bạch Hà, buộc Pháp phải tăng viện quân đến nơi này

Ngày 19-10-1859, đô đốc Page nhận quyền chỉ huy thay cho Rigault deGenouilly Ngày 18-11, Page cho quân bắn vào các pháo đài ở Kiên Chân (Hải Vân),rồi cho quân quay vào miền Nam Ngày 5-12-1859, thuyền của Page đã vào tới SàiGòn Thực dân Pháp thiết lập một dãy phòng tuyến gồm nhiều đồn: đồn Tân Thuận, đồnKhải Tường, đồn Cây Mai, đồn chùa Ô Ma, đồn chùa Kiểng Phước…Những đồn nàytạo đà cho thực dân Pháp tấn công và mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Gia Định

Ngày 24-2-1861, quân Pháp đồng loạt bắn vào các chiến luỹ phòng thủ của quân

ta Ngày 25-2-1861, thực dân Pháp chiếm được chiến tuyến các pháo đài ở Đồng Nai.Cùng ngày, trong lúc điều khiển trận đánh, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương ở tay

Do đó, cho quân rút về Hóc Môn, rồi từ Hóc Môn về Biên Hoà Ngày 26-2-1861, thựcdân Pháp tiến đánh căn cứ tiếp vận Thuận Kiều, đến 17 giờ cùng ngày Pháp chiếm đượcđồn Tân Thới Đến ngày 28-2-1861, hầu hết các căn cứ của ta ở Gia Định đã bị quânPháp chiếm đóng

Trước tình hình nguy nan, Tự Đức phái thêm 4.000 quân do Tôn Thất Đính dẫnđầu vào Nam tiếp viện nhằm bảo toàn các tỉnh còn lại ở Nam Kỳ là Định Tường, BiênHoà, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Với số lượng binh sĩ này cộng thêm quân cósẵn ở các tỉnh Nam Kỳ thì quân ta cũng khá là đông, tuy nhiên lại không có được sứcmạnh tổng lực do mạnh ai người đó đánh, nhà ai người đó giữ Mặc dù quân ở Biên

Trang 31

Hoà, Mỹ Tho có thể tiếp viện cho Gia Định mà lại không tiếp viện, để cho địch chủđộng chiếm được Gia Định.

Chiếm xong Gia Định, Pháp xúc tiến âm mưu chiếm luôn Định Tường và BiênHoà Do không đủ quân để đánh cả hai cùng một lúc nên Pháp chọn Định Tường làmhướng tiến công tiếp theo Sở dĩ địch đánh Định Tường trước là vì Định Tường dễchiếm hơn và chiếm được vùng này sẽ nắm được vựa lúa gạo lớn của nước ta vì đây làcửa ngõ của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Trong đó, Biên Hoà có quân ở

Kỳ Hoà và Gia Định rút về trấn giữ, cộng thêm viện binh ở Huế đưa vào hỗ trợ nên khóchiếm hơn

Được tin Pháp muốn đánh chiếm Định Tường, tổng đốc Định Tường là NguyễnCông Nhàn và tuần vũ Nguyễn Hữu Thành tăng cường việc bố phòng, cho xây dựngthêm đồn, làm bè, đắp đập, dựng nhiều chướng ngại vật…nhằm chống lại cuộc tiếncông của địch Do đó, để vào được thành Định Tường quân Pháp phải vượt qua sáu đồn

là Tân Hương (đồn số 1), Tịnh Bình (đồn số 2), Cai Lộc (đồn số 3), Phú Thị (đồn số 4),Long Tường (đồn số 5) và Tân Lương (đồn số 6)

Ngày 1-4-1861, quân Pháp tiến công hạ được đồn Tân Hương và Tịnh Bình.Ngày 3-4-1861, đồn Cai Lộc bị Pháp đánh bại Ngày 8-4-1861, quân Pháp đánh vàođồn Phú Thị và chiếm luôn đồn này Ngày 10-4-1861, địch chiếm đồn Long Tường vàđánh đồn Tân Lương Ngày hôm sau, Tân Lương rơi vào tay Pháp Như vậy, tính đếnngày 11-4-1861, 6 đồn do Nguyễn Công Nhàn dựng lên đã bị quân Pháp đánh tan

Hạ được các đồn và chướng ngại vật, thực dân Pháp dễ dàng chiếm được thànhĐịnh Tường Khi quân Pháp kéo tới thành Định Tường thì Nguyễn Công Nhàn đã choquân bỏ thành Như vậy, Pháp chiếm được thành mà không cần phải đánh một trậnquyết liệt Chiếm được thành, đô đốc Leonard Charner cho đóng thêm nhiều đồn ở Cái

Bè, Chợ Gạo, Gò Công, nhưng gặp phải sự chống cự quyết liệt của các nghĩa quân ViệtNam Do đó, Pháp chỉ xây dựng được thêm 3 đồn: Gia Thạnh, Chợ Gạo và Gò Công.Chiếm được Định Tường, thực dân Pháp hống hách tuyên bố Biên Hoà sẽ là mụctiêu tiếp theo của họ Điều này cũng dễ hiểu vì ngay sau khi thực dân Pháp chiếm đượcGia Định chúng đã có ý tiến đánh Biên Hoà rồi Địch có ý đánh ta, còn Tự Đức lại bănkhoăn lo ngại, khi muốn hoà, khi muốn chiến thủ gây khó khăn cho Pháp Nguyễn BáNghi chỉ huy 4 đến 5 ngàn quân lại chủ trương hoà hoãn, không muốn đối đầu với Pháp,viện cớ vũ khí của Pháp mạnh, vũ khí của ta yếu, người của ta ít

Tháng 8-1861, Bonard được Napoléon III chỉ định cho sang Việt Nam thay quyềnLeonard Charner Nắm quyền đô đốc, Bonard đã đẩy mạnh hơn nữa các cuộc càn quét

Trang 32

Ngày 14-12-1861, Bonard tiến quân đánh Biên Hoà Ngày 15-12-1861, địch tấn côngbao vây đồn Mỹ Hoà Đến ngày 16, địch vượt sông Đồng Nai, đánh thẳng vào thànhBiên Hoà Thế địch mạnh, quân ta bỏ thành, rút về giữ đồn Hồ Nhĩ Biên Hoà thất thủ.Như vậy, ngày 16-12-1861, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, ĐịnhTường, Biên Hoà hoàn toàn đã rơi vào tay thực dân Pháp Mất ba tỉnh miền Đông Nam

Kỳ, cộng thêm các cuộc nổi loạn ở Bắc kỳ của Tạ Văn Phụng, Cai Tổng Vàng lànguyên nhân chính dẫn đến việc triều đình nhà Nguyễn cầu hoà và ký với Pháp hoà ướcNhâm Tuất (5-6-1862)

1.2.2 Hoà ước Nhâm Tuất (1862)

Hoà ước Nhâm Tuất được kí kết trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị thực dânPháp chiếm mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Ở Bắc kỳ, các cuộc nổi loạn diễn ra ngàymột nhiều hơn Trước tình hình đó, triều đình Huế ra lệnh cho Phan Thanh Giản và LâmDuy Hiệp vào Sài Gòn giảng hoà với Pháp, để tập trung lực lượng dẹp các cuộc nổiloạn ở miền Bắc đang làm lung lay ngai vàng của nhà Nguyễn Trong khi đó, nướcPháp trong khoảng thời gian này cũng gặp rất nhiều khó khăn do phải chi phối lựclượng ở rất nhiều quốc gia nên không đủ binh lực để mở rộng phạm vi bành chướng ởViệt Nam, nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra khắp nơi

và đặc biệt là nhân dân Pháp phản đối chính sách xâm lăng Viễn Đông của triều đìnhNapoléon III Do đó, Đây là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực dân Phápđồng ý kí hoà ước với triều đình Huế

Ngày 5-6-1862, hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết gồm 12 điều khoản, chủ yếu nói

về các vấn đề:

Nhà Nguyễn cho phép tất cả người dân Việt Nam và người ngoại quốc đang cómặt ở Việt Nam được tự do theo đạo Thiên chúa giáo

Nhà Nguyễn chấp nhận nhường cho Pháp chủ quyền ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ

là Gia Định, Định Tường và Biên Hoà cùng với đảo Côn Lôn

Nhà Nguyễn cho phép các thương gia Pháp - Tây Ban Nha được tự do thôngthương ở các nhánh của sông Mêkông và ba hải cảng là Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng An.Đồng thời, thuyền bè của người Việt không được chở binh lính, vũ khí, đạn dược haylương thực qua lãnh thổ đã nhường cho Pháp Người Việt Nam được phép buôn bán vớicác thương gia Pháp

Trang 33

Nhà Nguyễn chấp nhận bồi thường cho Pháp 4 triệu piaster(2) và trả hết trongvòng 10 năm Vì Việt Nam không có tiền piastre nên Việt Nam phải trả cho Pháp72% lạngbạc

Theo khoản 4: “Nếu có nước nào muốn can thiệp vào Đại Nam, bằng cách gây sựhoặc bằng một hiệp ước giành lấy một phần lãnh thổ của nước Đại Nam, hoàng đế nướcĐại Nam sẽ cho một sứ thần đến báo cho hoàng đế nước Pháp biết, để hoàng đế nướcPháp được hoàn toàn tự do đến tiếp cứu nước Đại Nam” Qua đó thấy được nước Phápkhông muốn cho các quốc gia khác can thiệp vào nước ta

Điều khoản 1: “Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên làHoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bên là vua Đại Nam Tình hữu nghịtoàn diện và lâu bền cũng sẽ được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơiđâu” Điều khoản này khi quy định ra thì thấy thân thiện hữu nghị như thế đó, nhưngthực chất nó không xảy ra như vậy Pháp vẫn tiếp tục xâm lược Việt Nam với quy môngày càng lớn, vũ khí ngày càng hiện đại

Sau khi ký xong hoà ước, triều đình Huế nhận ra sự thua thiệt của mình Do đó,đòi sửa đổi lại các điểm: Sự chuyển nhượng ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoàcần được tu chỉnh, nhà Nguyễn muốn chuộc lại ba tỉnh này Việc bồi thường chiến phí

mà Việt Nam phải trả 4 triệu piastre khó lòng giải quyết được khi Việt Nam đã bị chiếntranh tàn phá tài nguyên của ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà Nhà Nguyễnmuốn sửa đổi luôn việc lưu thông trên dòng sông Cửu Long của thực dân Pháp NhàNguyễn đòi các thương thuyền Pháp khi qua lại trên sông phải trả thuế, còn chiếnthuyền tuyệt đối không được phép qua lại trên dòng sông này Chính vì vậy, nhàNguyễn một mặt đàm phán đòi sửa đổi hoà ước, mặt khác tổ chức các cuộc khởi nghĩa ở

ba tỉnh Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa thất bại nhà Nguyễn đã phải từ bỏ các đòi hỏi trên Năm 1863, nhà Nguyễn phái một sứ bộ do Phan Thanh Giản làm chánh sứ dẫnđầu, đi cùng có Phạm Phú Thứ làm phó sư, Ngụy Khắc Đản làm bồi sứ và 53 tuỳ viênqua Pháp, Tây Ban Nha để đàm phán chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ Được tinvua tự Đức có ý chuộc lại ba tỉnh miền Đông, Ngoại trưởng Pháp Drouyn de Lhuys đãhội ý với Bộ trưởng Hải quân Chassloup Laubat, sau khi hội ý xong cả 2 đều khôngđồng ý trả lại ba tỉnh miền Đông cho Việt Nam Tuy nhiên, G Aubaret (người từngphục vụ cho quân đội Pháp ở Nam Kỳ) đã trình bày lên vua và những người có thế lựctrong triều đình Pháp về những khó khăn nếu trực tiếp cai trị ba tỉnh miền Đông và ôngkhuyên nên trả lại ba tỉnh này, trừ một số căn cứ như Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Cap

Trang 34

Saint Jacques(3), song chính phủ Việt Nam phải chấp nhận cho Pháp bảo hộ trên toàn xứNam Kỳ.

Nghe xong lời trình bày của G Aubaret vua Pháp chấp nhận trả lại ba tỉnh miềnĐông cho Việt Nam với hiệp Aubaret làm minh chứng Tuy nhiên, hiệp ước Aubaretchưa kịp ký thì đến tháng 9-1864 thực dân Pháp trở mặt Không kí được hiệp ước tìnhtrạng Việt Nam ngày càng khó khăn hơn Không những vậy, kể từ đó chính phủ Phápngày càng coi thường triều đình Huế, mọi sự nhượng bộ của triều đình Huế thể hiện sựsuy yếu, nhu nhược trong mắt thực dân Pháp Kể từ đó, Pháp không những không trả lại

ba tỉnh miền Đông mà còn nghĩ đến việc bành chướng toàn bộ Nam Kỳ

1.2.3 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ

Hiệp ước Aubaret không được kí kết, triều đình nhà Nguyễn gặp nhiều khó khăn.Trong khi đó, Cao Miên ngày càng lệ thuộc vào Pháp, ngày 11-8-1863 Pháp ký với CaoMiên hiệp ước Pháp – Miên đặt nhân dân ta vào tình cảnh khó khăn hơn Để thuận lợicho việc liên lạc trên sông Cửu Long từ Sài Gòn đến Cao Miên, khiến Pháp cần phảicấp tốc xâm lược ba tỉnh miền Tây Sau một thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng về tình hìnhcác tỉnh miền Tây, tháng 2 năm 1867, đô đốc De Lagrandière cho lập 8 thanh tra toà ởVĩnh Long, Châu Đốc (An Giang), Hà Tiên, Rạch Giá, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Lố(Định Tường) và Sa Đéc Mỗi một thanh tra toà có một viên thanh tra người Pháp caiquản

Ngày 15-6-1867, Pháp huy động quân đội Ngày 18, tất cả bộ binh, thuỷ binh, dân

vệ, dân công tập hợp ở Mỹ Tho Ngày 19, De Lagrandière trực tiếp chỉ huy 1800 thuỷquân lục chiến và 600 dân vệ, dân công kéo đến Vĩnh Long Ngày 20, tàu thuyền củaPháp bỏ neo trước thành Vĩnh Long Quan quân Vĩnh Long do không có sự chuẩn bịtrước nên đầu hàng Sau khi chiếm được thành, De Lagrandière lệnh cho Phan ThanhGiản viết công thư gửi đến quan tổng đốc thành An Giang và Hà Tiên để đầu hàngPháp, gọi là đầu hàng “tránh mọi sự đổ máu vô ích”

Có được thư do Phan Thanh Giản viết, thực dân Pháp tiếp tục cuộc hành trìnhchinh phục toàn bộ Nam Kỳ Ngày 21-6-1867, lực lượng của Pháp di chuyển bằngđường thuỷ để đến Châu Đốc, trong quá trình di chuyển tàu Pháp gặp thuyền của quantrấn thủ Hà Tiên là Trần Hoán Do đó, thực dân Pháp bắt Trần Hoán lên tàu và đưa côngthư do Phan Thanh Giản viết Đến 23 giờ cùng ngày, tàu Pháp đã đứng trước cổngthành Châu Đốc Pháp kêu gọi quan trấn thủ thành Châu Đốc là Nguyễn Hữu Cơ ra

3 ()Cap Saint Jacques: được thực dân Pháp gọi để chỉ về một tỉnh cũ ở Nam Kỳ, ngàynay đây là một phần thành phố thuộc tỉnh Vũng Tàu

Trang 35

nhận công thư do Phan Thanh Giản Viết Đọc xong công thư, Nguyễn Hữu Cơ, Galey

và Vial công thành Sau 1 giờ đồng hồ thành Châu Đốc rơi vào tay Pháp

Tính đến ngày 21-6-1867, thực dân Pháp đã chinh phục được 5 tỉnh Nam kỳ Do

đó, mục tiêu còn lại của Pháp trong chiến dịch thu phục Nam Kỳ là Hà Tiên Ngày 6-1867, Galey dẫn quân kéo đến Hà Tiên Nắm trong tay quan trấn giữ thành Hà Tiêncùng với công thư do Phan Thanh Giản viết, việc chiếm thành Hà Tiên rất đơn giản vớiPháp 9 giờ sáng ngày 24, tàu Pháp đến Hà Tiên và ngay sau đó thành Hà Tiên bị thựcdân Pháp chiếm luôn

23-Rõ ràng việc xâm chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ của thực dân Pháp là rất đơngiản Đại tá Thomazi gọi quá trình chinh phục ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là “một cuộcbinh lính đi chơi” Như vậy, chưa đầy 10 năm thực dân Pháp đã chiếm được toàn bộNam Kỳ Thấy mọi chuyện tạm ổn, đô đốc De Lagrandière trở về pháp ngày 4-4-1868

và giao lại Nam Kỳ cho thiếu tướng Ohier điều khiển

1.2.4 Hoà ước Giáp Tuất (1874)

Hoà ước Giáp Tuất được kí kết trong bối cảnh Pháp chiếm được toàn bộ Nam kỳ

và đang tích cực xây dựng các dinh thự, cảng, đường bộ, đường sắt, đào tạo quan cai trị,thực hiện các chính sách hà khắc đối với nhân dân… Do đó, chúng đã vi phạm vào nộidung bản hoà ước Nhâm Tuất 1862 Chính vì vậy, Pháp có ý định thay thế bản hoà ướcNhâm Tuất bằng bản hoà ước mới để thực hiện những âm mưu có lợi cho chúng Ở Bắc

kỳ, các tỉnh của ta lần lượt rơi vào tay Pháp Tuy nhiên, sau chiến thắng trận Cầu Giấy,Francis Garnier bỏ mạng, chính phủ Pháp đã ra lệnh cho quân đội rút hết mọi lực lượng

ra khỏi miền Bắc Kể từ sự kiện này, nhiều bản tạm ước được kí kết giữa hai nước Việt

- Pháp Về phía triều đình Huế, sau những biến cố đã xảy ra, vua Tự Đức quyết định điđến một hoà ước mới

Trong bối cảnh như vậy, Ngày 15-3-1874, đại diện cho Việt Nam là Chánh sứtoàn quyền đại thần Lê Tuấn và phó sứ toàn quyền đại thần Nguyễn Văn Tường cùngvới đại diện cho Pháp là thống đốc Nam Kỳ Duypơre đã kí với nhau bản hoà ước GiápTuất Hoà ước Giáp Tuất được kí kết thay thế cho hoà ước Nhâm Tuất

Hoà ước mới bao gồm 22 điều khoản với các nội dung chủ yếu là người Phápcông nhận quyền hành của vua Việt Nam, sẽ có hoà bình, hữu nghị và liên minh vĩnhviễn giữa hai nước Pháp – Việt (điều 1), Chính phủ Việt Nam công nhận chủ quyềnvĩnh viễn của thực dân Pháp ở Nam Kỳ (điều 5), theo điều 3: triều đình nhà Nguyễnmuốn thoả hiệp với một quốc gia ngoại quốc nào cũng phải thông báo trước cho chínhphủ Pháp, ngoại giao Việt Nam bị lệ thuộc vào Pháp, người Pháp có quyền tự do truyền

Trang 36

đạo vì Vua Việt Nam từ bỏ mọi sự ngăn cấm chống đạo và cho phép thần dân của mìnhtheo đạo và truyền đạo một cách tự do (điều 9), người Pháp được tự do qua lại các cảngbiển và trên sông Hồng (điều 11), theo điều 12 người pháp có thể gây dựng, sở hữu và

tự quyết định một cách tự do đối với tất cả những công cuộc làm ăn buôn bán và kỹnghệ Đồng thời chính phủ Việt Nam sẽ tùy theo trường hợp mà cấp đất đai cho côngcuộc thiết đặt cơ sở của họ Qua đó, người Pháp được tự do buôn bán, kinh doanh tạicác tỉnh đã thoả thuận với triều đình nhà Nguyễn

Ngoài những nội dung chính nêu trên còn có một số nội dung khác quy định về sốquân lính của người lãnh sự hay viên đại lý Pháp (điều 13), người Việt có quyền lưuthông, cư trú, sở hữu và buôn bán tại nước Pháp và các vùng thuộc địa của Pháp đúngtheo quy định (điều 14), người Pháp hay người ngoại quốc nào khi đi vào lãnh địa ViệtNam đều phải có giấy thông hành do Pháp cấp (điều 15)

Với bản hoà ước này, Việt Nam thực tế đã trở thành vùng đất thuộc quyền sở hữucủa Pháp Bản hoà ước này đã thể hiện con đường suy sụp hoàn toàn của triều đình nhàNguyễn, mọi quyền lợi chủ yếu thuộc về phía Pháp Sự bất bình đẳng đã thể hiện khá rõqua các điều lệ, điều 16 quy định: “Có sự kiện cáo giữa người Việt Nam và người Phápthì toà án Việt Nam không có quyền tự ý xử người Pháp, và ngay trên đất Trung và Bắccủa Việt Nam, người Việt Nam và người Pháp có gì xung đột nhau thì chỉ có toà ánpháp có quyền phân sử” [8; 322]

Hoà ước Giáp Tuất đã thừa nhận người Pháp có quyền xâm lược và mở rộngphạm vi xâm lược tại Việt Nam Đồng thời hoà ước đã xác nhận quyền thống trị vàngoại giao của người Pháp ở Bắc Kỳ lẫn Trung Kỳ (điều 16, 17)

Bất bình đẳng của hoà ước là rất lớn, ấy thế mà thực dân Pháp vẫn chưa hài lòng.Ngày 31-8-1874, tại Gia Định một hoà ước về thương mại đã được kí kết gồm 29khoản Nội dung của hoà ước này chủ yếu đề cập đến vấn đề mở các cảng như điều 11hoà ước Giáp Tuất nói đến, quy định về các loại mặt hàng không được xuất khẩu, quyđịnh nguyên tắc tàu thuyền ra vào cảng

Như vậy, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn từ ngày 15-3-1874 đến ngày

31-8-1874, triều đình nhà Nguyễn đã ký liên tiếp hai hoà ước bất bình đẳng, công khai quyềnthống trị của Pháp tại Việt Nam

1.3 Chính sách bành trướng của thực dân Pháp từ 1862 đến 1874

1.3.1 Đô đốc Bonard với nhiệm vụ tiến hành thiết lập chế độ bảo hộ của Pháp ở

Nam Kỳ

Trang 37

Ngày 22-11-1861, đô đốc Bonard đến Sài Gòn thay thế quyền chỉ huy của đô đốc

Charner Đến Sài Gòn, Bonard đã có sẵn một đường lối: “Vào lúc ấy, thuộc địa quan

trọng nhất của Pháp là xứ Algérie, và chính phủ pháp, với mục đích giảm thiểu các phí tổn chiếm cứ thuộc địa này, đã áp dụng tại đây một chế độ mềm dẻo, dựa trên sự qui thuận của tù trưởng các bộ lạc, Bonard muốn đem chính sách này thí nghiệm tại Nam kỳ” [2; 118].

Đầu tháng 12 năm 1861, Bonard đẩy mạnh hơn nữa các chiến dịch Bonard tậptrung lực lượng tiêu diệt các căn cứ cuối cùng ở Nam Kỳ Sau khi chiến sự tạm ổn định,Bonard có ý định thiết lập một chế độ cai trị dựa trên các quan chức ở bản xứ Có nghĩa

là mọi quyền hành của các quan chức vẫn được duy trì, nhưng đặt dưới sự kiểm soátcủa các sĩ quan Pháp và một vài người gọi là “thanh tra sự vụ bản xứ”

Với chính sách này, vấn đề ngôn ngữ được xem là một trở ngại vô cùng lớn đốivới các sĩ quan Pháp trong việc cai trị dân bản xứ Do đó, đô đốc Bonard đã tận dụngmột số sĩ quan trẻ bị cảm hoá bởi văn hoá Việt Nam, cho họ nghiên cứu sâu phong tục,ngôn ngữ và các thể chế ở Việt Nam Một số tác phẩm của Việt Nam đã được Aubaret

dịch ra tiếng Pháp như quyển Gia Định thông chí hay bộ Hoàng Việt luật lệ Luro chịu

trách nhiệm nghiên cứu tổ chức hành chính và xã hội Việt Nam Landes chịu tráchnhiệm nghiên cứu ngôn ngữ Chăm và Việt Ngoài ra, người Pháp còn soạn thảo một số

cuốn từ điển, văn phạm Pháp – Việt và xuất bản cuốn Notes historiques sur la nation

annamite

Đồng thời, Bonard chú ý đến việc tái lập chế độ học chính truyền thống để đạotạo những nhà chính bản xứ chất lượng Để thực hiện được mục đích này, Bonard đãgiao phó tất cả quyền hành cho các sĩ quan và thanh tra người Pháp Chính sách cai trịtrực tiếp này được đô đốc De La Grandière hệ thống hoá lại bằng việc tổ chức chế độThanh tra bản sứ vụ Những vị thanh tra này được tìm hiểu những khía cạnh của vănhoá Việt Nam trước khi nhận nhiệm vụ Chính vì vậy, những kế sách mà đô đốc Bonard

đề ra chính là nền để cho đô đốc De La Grandière thực hiện chính sách bành trướng saunày

1.3.2 Đô đốc De La Grandière với chính sách bành trướng

Ngày 1-5-1863, đô đốc De La Grandière thay quyền chỉ huy của đô đốc Bonard.Tuy nhiên, mãi đến tháng 10 năm 1863 De La Grandière mới thực sự được nắm quyền

De La Grandière đã kế thừa và phát huy những cố gắng mà đô đốc Bonard đã làm được.Đồng thời De La Grandière cũng đã rút ra những bài học mà Bonard trước đó đã mắcphải

Trang 38

Mục tiêu của De La Grandière là sau năm 1865 phải chiếm được ba tỉnh miền TâyNam Kỳ Để lấy được ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, De La Grandière đã thương lượng vớitriều đình nhà Nguyễn, cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách êm ấm Do đó, giám đốc

Sở Nội Vụ Paulin Vial được cử ra Huế để đề nghị với nhà Nguyễn nhường luôn ba tỉnhmiền Tây để đổi lấy một sự đền bù công bằng từ phía Pháp Triều đình nhà Nguyễn vẫntiếp tục theo đuổi chính sách hoà hoãn với Pháp, bất chấp mọi sự phản đối của phái chủchiến Việc lựa chọn con đường hoà hoãn của vua Tự Đức đã gây nên một làn sóngphản đối vô cùng mạnh mẽ của các sĩ phu trong nước Do đó, tình trạng chính trị vàkinh tế của nhà Nguyễn ngày càng khó khăn, cho nên không thể ngăn cản được sự bànhtrướng của thực dân Pháp Thực dân Pháp coi con đường mà Tự Đức đã chọn là dấu

hiệu của sự nhu nhược Đô đốc De La Grandière đã nói rằng: “Sự yếu ớt và các mối lo

ngại của triều đình Huế được phản ánh trong thái độ khéo léo và quy phục của chính phủ An Nam” [2; 49,50] Với chính sách thương lượng để có được ba tỉnh miền Tây, đô

đốc De La Grandière đã buộc vua Tự Đức phải thi hành hoà ước Nhâm Tuất 1862 Năm 1866, Triều Nguyễn và Cao Miên xung đột với nhau, Tự Đức đã phái PhanThanh Giản tới Sài Gòn nhờ Pháp đứng ra giải quyết Nhân cơ hội đó, De La Grandièretrả lời là ông không có quyền can thiệp vào sự tranh chấp giữa hai quốc gia đều là nướcbạn của Pháp mà ông chỉ có thể bảo hộ Việt Nam giống như đã bảo hộ Cao Miên De

La Grandière đã phái giáo sĩ La Liraye tới Huế để thiết lập sự bảo hộ này Tuy nhiên,khi La Liraye đến Huế thì cuộc tranh chấp đã giải quyết xong và Tự Đức đã từ chối mọi

đề nghị của La Liraye Trước tình hình như vậy, De La Grandière đã nghĩ đến việc sửdụng vũ lực để chiếm được ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Ngày 15-6-1867, Pháp huy độngquân đội và đến ngày 20-6-1867- thành Vĩnh Long thất thủ, ngày 24-6-1867- thànhChâu Đốc thất thủ, ngày 24-6-1867- quân Pháp chiếm luôn Hà Tiên Chiếm được batỉnh miền Tây Nam Kỳ, De La Grandière cố gắng làm hạn chế các cuộc nổi dậy củanhân dân Việt Nam Ngày 30-6-1867, ông gửi cho vua Tự Đức một lá thư đề nghịthương lượng và chấp nhận sự việc đã xảy ra là ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ đã thuộc vềPháp Tuy nhiên, triều đình Huế đã từ chối các cuộc thương nghị với Pháp Do đó, vấn

đề pháp lý của ba tỉnh miền Tây vẫn chưa được giải quyết Trong lúc đó, sức khoẻ của

De La Grandière không cho phép ông tiếp tục ở lại Sài Gòn sau tháng 3 năm 1868.Ngày 4-4-1868, De La Grandière xin trở về Pháp sau năm năm giữ chức vụ và hoạtđộng, để lại Việt Nam những ảnh hưởng vô cùng sâu sắc

1.3.3 Đô đốc Ohier với những điều kiện áp đặt cho triều đình Huế

Trang 39

Từ tháng 4 năm 1868, Pháp bổ nhiệm đô đốc Ohier sang thay thế vị trí của De LaGrandière Napoléon III trao cho Ohier toàn quyền để đàm phán với triều đình nhàNguyễn một hoà ước mới

Biết rằng sự chiếm cứ ba tỉnh miền Tây của De La Grandière đã làm cho hoà ướcNhâm Tuất mất hiệu lực, song Ohier vẫn tiếp tục áp dụng hoà ước này bất chấp sự phảnđối của triều Nguyễn

Tại Việt Nam, lực lượng chống lại Thiên chúa giáo của nhân dân các tỉnh NamĐịnh, Nghệ An và Quảng Nam nổi lên mạnh mẽ Từ ngày 13-4-1868 đến ngày 17-5-

1868, người làng Thanh Xuyên tỉnh Nghệ An đã đốt phá trên dưới 30 làng theo đạoThiên Chúa giáo Lợi dụng tình hình đó, Ohier cho rằng triều Nguyễn đã vi phạm hoàước Nhâm Tuất và viết thư cho triều Nguyễn đòi Tự Đức phải trừng phạt những ngườichủ mưu trong phong trào chống đạo Thiên Chúa này

Tại Nam Kỳ các phong trào chống Pháp vẫn tiếp tục Ohier tin rằng việc cácphong trào này tiếp tục bùng nổ là do có sự tiếp tay của triều Nguyễn Do đó, ông viếtmột kháng thư yêu cầu vua Tự Đức phải ngăn cản các phong trào chống Pháp của nhândân Việt Nam lại Tuy nhiên, vua Tự Đức trả lời là quân đội Pháp đã đánh chiếm Nam

Kỳ, thì làm sao triều đình có thể bắt các cuộc kháng chiến ở đây dừng được

Sau khi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ rơi vào tay Pháp, triều Nguyễn đã ngừng việcbồi thường chiến phí trong hoà ước Nhâm Tuất Vấn đề này đã không được giải quyếtmột cách triệt để trong các cuộc thương lượng giữa triều Nguyễn và đô đốc De LaGrandière Đến cuối năm 1869, đô đốc Ohier thông báo cho triều Nguyễn biết quanđiểm của chính phủ Pháp là: Triều Nguyễn phải từ bỏ quyền hành ở ba tỉnh miền TâyNam Kỳ Triều Nguyễn phải trả hết khoản bồi thường chiến phí còn thiếu cho Tây BanNha Mọi sự chuyển nhượng lãnh thổ của triều Nguyễn phải được sự đồng ý của Pháphoàng Biết được quyền lợi của mình đã bị giảm xuống, song Tự Đức vẫn không có mộtphương cách nào để phản đối, ngoài việc trao đổi thư từ đòi chính phủ Pháp nhượng bộ.Ohier muốn đi tới một qui chế pháp lí chính thức cho thuộc địa Nam Kỳ Tuynhiên, tình hình quốc tế căng thẳng, người Pháp bị bất lợi trên đấu trường châu Âu Do

đó, người Pháp không thể dùng vũ lực để gây áp lực đối với triều Nguyễn

Ngày 9-1-1870, đô đốc Ohier nhường quyền chỉ huy lại cho đô đốc Lucinière Conulier-Lucinière được lệnh tiếp tục thương lượng với triều Nguyễn để cóđược qui chế pháp lí chính thức cho thuộc địa Nam Kỳ Năm 1874, hoà ước Giáp Tuấtđược kí kết triều Nguyễn công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ

Trang 40

Cornulier-CHƯƠNG IICHÍNH SÁCH KHAI THÁC KINH TẾ CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở NAM KỲ

(1874 – 1914) 2.1 Khái quát chính sách khai thác của thực dân Pháp ở Việt Nam

Đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở phương Tây phát triển khá nhanh Để cạnhtranh được với các nước tư bản khác, thực dân Pháp đã tìm đến bán đảo Đông Dương.Tại Đông Dương, thực dân Pháp tìm mọi cách để xâm nhập vào bán đảo này nhằm mởrộng thị trường, vơ vét tài nguyên, bóc lột đội ngũ nhân công giá rẻ…, để từ đó thu đượcnguồn lợi cao Ở Việt Nam, ngay sau khi hoà ước Giáp Tuất được ký kết, thực dân Pháp

đã bắt tay ngay vào công cuộc khai thác kinh tế với quy mô lớn

Để khai thác có hiệu quả, thực dân Pháp xây dựng một bộ máy cai trị chặt chẽ,với tay xuống tận nông thôn, đặc biệt, thực dân Pháp đã chia Việt Nam thành ba khu vựcriêng biệt là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Bắc Kỳ là xứ nửa bảo hộ, đứng đầu làThống Sứ Pháp Trung Kỳ thuộc chế độ bảo hộ, đứng đầu là Khâm Sứ Pháp Nam Kỳvới chế độ thuộc địa, đứng đầu là Thống Đốc Pháp Trên thực tế, tất cả bộ máy của triềuNguyễn, từ vua đến quan đều do thực dân Pháp sắp đặt Với bộ máy cai trị như vậy, thựcdân Pháp đã tăng cường bóc lột, kìm kẹp, làm giàu cho tư bản Pháp Đồng thời, biếnĐông Dương thành một tỉnh thuộc Pháp và xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchiatrên bản đồ thế giới

Do đất nước Việt Nam ở xa Pháp nên tư bản Pháp không chọn nơi đây là thuộcđịa di dân mà chỉ là thuộc địa khai thác vì ở Việt Nam có nhiều tài nguyên, nguồn lợi.Chính vì vậy, tư bản Pháp ra sức vơ vét sức người, sức của ở nước ta để tiến hành côngcuộc khai thác của họ một cách triệt để

Ngày đăng: 03/07/2023, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2008), kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn. Nxb.Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb.Văn học
Năm: 2008
2. Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2008
3. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Đông Nam Bộ, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống xã hội ở vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb. Đại họcQuốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
4. Nguyễn Ngọc Cơ (cb) (2010), Giáo trình lịch sử Việt Nam – tập 4. Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Cơ (cb) (2010), "Giáo trình lịch sử Việt Nam – tập 4
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ (cb)
Nhà XB: Nxb. Đại học Sưphạm
Năm: 2010
5. Nguyễn Trí Dĩnh – Phạm Thị Quý (2010), giáo trình lịch sử kinh tế, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình lịch sử kinh tế
Tác giả: Nguyễn Trí Dĩnh – Phạm Thị Quý
Nhà XB: Nxb. Đại họcKinh tế quốc dân
Năm: 2010
6. Philippe Devillers (2006) – Ngô Văn Quỹ dịch, Người Pháp và người Annam bạn hay thù, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Pháp và người Annam bạnhay thù
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
7. Nguyễn Khắc Đạm (1957), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb. Văn - Sử - Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn - Sử - Địa
Năm: 1957
8. Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng. Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống xâm lăng
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2001
9. Nguyễn Văn Hiệp (cb), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam – tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hiệp (cb), "Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam – tập 2
Nhà XB: Nxb. Đại họcQuốc gia Tp. Hồ Chí Minh
10. Viện sử học (2003), Lịch sử Việt Nam 1858 – 1896, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện sử học (2003), "Lịch sử Việt Nam 1858 – 1896
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: Nxb. Đạihọc Quốc gia
Năm: 1999
12. Phan Khánh (2001), Đồng bằng sông Cửu Long lịch sử và lũ lụt, Nxb. Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khánh (2001), "Đồng bằng sông Cửu Long lịch sử và lũ lụt
Tác giả: Phan Khánh
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệpTP. Hồ Chí Minh
Năm: 2001
13. Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, hội khoa học lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Kiệm (2001), "Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thếkỷ XVII đến thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Năm: 2001
14. Đinh Xuân Lâm (cb) – Nguyễn Văn Khánh – Nguyễn Đình Lễ (2000), đại cương lịch sử Việt Nam – tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đại cươnglịch sử Việt Nam – tập II
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (cb) – Nguyễn Văn Khánh – Nguyễn Đình Lễ
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2000
15. Trần Huy Liệu (2003), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Huy Liệu (2003), "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
16. Trần Huy Liệu (1958), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp – quyển thứ 2, tập Thượng (1936 – 1939), Nxb. Văn - Sử - Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Huy Liệu (1958), "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp –
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: Nxb. Văn - Sử - Địa
Năm: 1958
17. Trần Huy Liệu (1961), Lịch sử tám mươi năm chống Pháp – quyển thứ 2, tập Hạ (1939 – 1945), Nxb. Viện sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Huy Liệu (1961), "Lịch sử tám mươi năm chống Pháp
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: Nxb. Viện sử học
Năm: 1961
19. Huỳnh Lứa (cb) (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Lứa (cb)
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1987
20. Huỳnh Minh (2001), Định Tường xưa, Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định Tường xưa
Tác giả: Huỳnh Minh
Năm: 2001
21. Huỳnh Minh (2001), Tây Ninh xưa, Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Ninh xưa
Tác giả: Huỳnh Minh
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w