Tính mới và sáng tạo Thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh Bình Dương với nhiều chính sách trong đó hoạt động tài chính vi mô là một công cụ hiệu quả trong công tác xóa đói giả
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính vi mô tại tỉnh Bình Dương, từ đó góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo trong khu vực.
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tài chính vi mô (TCVM) tại tỉnh Bình Dương trong thời gian qua
- Phân tích những vấn đề còn tồn tại ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính vi mô (TCVM) tại tỉnh Bình Dương
- Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của TCVM trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Đối tƣợng nghiên cứu
Các đơn vị tài chính tại tỉnh Bình Dương cung cấp các hoạt động tài chính vi mô (TCVM) trong khu vực chính thức và bán chính thức Những đối tượng thụ hưởng sản phẩm TCVM sẽ có cơ hội tiếp cận thông tin đa chiều hơn, từ đó hỗ trợ quá trình hoàn thiện và phát triển hoạt động TCVM.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt đƣợc các mục tiêu trên, đề tài đặt ra các câu hỏi nhƣ sau:
- Hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô ở Bình Dương trong thời gian qua ở mức độ nào?
- Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này cần có những giải pháp gì?
CÁCH TIẾP CẬN DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cách tiếp cận chính là thông qua danh sách các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô tại tỉnh Bình Dương, cùng với các khách hàng sử dụng sản phẩm và dịch vụ tài chính vi mô.
Dữ liệu nghiên cứu đƣợc cung cấp bởi các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Xác định mục tiêu nghiên cứu
Xác định mục tiêu nghiên cứu nhằm nâng cao hoạt động tài chính vi mô và đề xuất các giải pháp để phát huy vai trò của hoạt động này trong bối cảnh tỉnh Bình Dương.
- Tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận
Công tác nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận được thực hiện thông qua việc tham khảo tài liệu liên quan và khảo sát các công trình nghiên cứu trước đó Qua đó, chúng tôi hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn, từ đó rút ra kết luận và đề xuất các giải pháp cho đề tài nghiên cứu.
- Thu thập và phân tích dữ liệu thống kê
Việc thu thập dữ liệu đƣợc thực hiện các các tổ chức cung cấp tài chính vi mô, số liệu từ các báo cáo nghiên cứu có liên quan…
Phương pháp phân tích dữ liệu thống kê là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu, giúp thống kê mô tả các báo cáo nghiên cứu và thực hiện phân tích thống kê Đề tài này tập trung vào việc phân tích dữ liệu nghiên cứu từ các nghiên cứu trước và trong quá trình thực hiện đề tài, nhằm rút ra những kết luận có giá trị.
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong thời gian qua, nhiều nghiên cứu về hoạt động tài chính vi mô (TCVM) đã được thực hiện tại Việt Nam Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế, do hầu hết các đề tài gặp khó khăn trong quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu.
Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính vi mô, các tổ chức vẫn đối mặt với nhiều thách thức do thiếu khung pháp lý rõ ràng Hiện tại, cả nước chỉ có 3 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép hoạt động, trong khi phần lớn còn lại chủ yếu hoạt động dưới hình thức tín dụng vi mô.
Đối tượng sử dụng dịch vụ tài chính vi mô (TCVM) chủ yếu là các hộ gia đình nghèo, có thu nhập thấp và sống tại các khu vực nông thôn Những khu vực này thường bị chia cắt và phức tạp, gây khó khăn trong việc khảo sát và thu thập dữ liệu, dẫn đến chi phí cao và tốn nhiều thời gian Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn này, và để thực hiện nghiên cứu hiệu quả, cần có sự hợp tác từ các tổ chức nghiên cứu và các dự án lớn.
Giai đoạn 2011-2015 trong công tác giảm nghèo đã ghi nhận nhiều thành tựu và thách thức, đánh dấu sự chuyển mình sang tiêu chí đa chiều hơn Mục tiêu hiện tại là đánh giá lại hoạt động của tài chính vi mô trong việc hỗ trợ giảm nghèo tại tỉnh Bình Dương, nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn tiếp theo.
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của tài chính vi mô (TCVM) đối với người nghèo, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng sử dụng dịch vụ TCVM Nghiên cứu này nhằm đưa ra những nhận định tổng quát về tác động của TCVM trong công tác giảm nghèo tại Bình Dương.
Mặc dù có những hạn chế nhất định, nghiên cứu này nhằm phân tích khách quan và trung thực về hoạt động của Tổ chức Tín dụng Vi mô (TCVM) tại Bình Dương Mục tiêu là đưa ra những đề xuất hợp lý, thiết thực và khả thi Hy vọng rằng nghiên cứu sẽ tiếp tục được khảo sát và kiểm chứng một cách toàn diện, từ đó củng cố và bổ sung các giải pháp, khuyến nghị nhằm đạt được hiệu quả bền vững hơn.
KẾT CẤU NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động tài chính vi mô tại tỉnh Bình Dương Chương 3: Giải pháp và kết luận
LÝ LUẬN VỀ NGHÈO
Nghèo là tình trạng mà một bộ phận dân cư chỉ đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống, với mức sống thấp hơn so với cộng đồng Định nghĩa khác về nghèo là mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo, mà ngưỡng này phụ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương và thời kỳ phát triển kinh tế xã hội Tại Việt Nam, nghèo được phân loại thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo có nhu cầu tối thiểu.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng mà một bộ phận dân cư không có khả năng đáp ứng các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống, bao gồm ăn, mặc, ở và đi lại.
Nghèo tương đối là tình trạng mà một bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương mà họ sinh sống.
Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng mà một bộ phận dân cư chỉ có đủ các điều kiện cơ bản để duy trì cuộc sống, bao gồm đủ ăn, đủ mặc, đủ chỗ ở và một số sinh hoạt hàng ngày, nhưng tất cả đều ở mức tối thiểu.
Hộ đói là nhóm dân cư có mức sống thấp hơn mức tối thiểu, không đủ để đáp ứng nhu cầu vật chất cần thiết cho cuộc sống Họ thường xuyên thiếu ăn, trải qua tình trạng đứt bữa, phải vay nợ và gặp khó khăn trong việc trả nợ.
Hộ nghèo được định nghĩa là tình trạng của những gia đình không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống, với mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng trên tất cả các khía cạnh.
1.1.2 Chuẩn nghèo của thế giới
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ những năm 80 đến nay, ranh giới giữa người giàu và người nghèo ở các nước đang phát triển, đặc biệt là trong khu vực ASEAN, được xác định dựa trên chi phí lương thực cần thiết để duy trì cuộc sống Cụ thể, mức tiêu thụ năng lượng tối thiểu là từ 2100 đến 2300 calo/ngày/người, hoặc thu nhập bình quân khoảng 370 USD/người/năm.
- Ở Ấn Độ: Lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày
- Bangladesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày
- Ở Indonexia: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lƣợng là 2100calo/ người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo
- Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150calo/người/ngày
- Các nước công nghiệp phát triển Châu Âu: 2570 calo/người/ngày
1.1.3 Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn
Vào những năm 1990, chuẩn nghèo ở Việt Nam được xác định dựa trên thu nhập bình quân đầu người, với mức 45.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, 70.000 đồng/người/tháng cho nông thôn đồng bằng, và 100.000 đồng/người/tháng cho khu vực thành thị Đến năm 2006, theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, chuẩn nghèo được điều chỉnh lên 200.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng cho khu vực thành thị, áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010.
Bước sang giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ – TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011- 2015 nhƣ sau:
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015
Khu vực Thành thị Nông thôn
Hộ nghèo 500.000đ/người/tháng 400.000đ/người/tháng
Hộ cận nghèo 501 đến 650.000đ/người/tháng 401 đến 520.000đ/người/tháng
Công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với tỷ lệ nghèo giảm mạnh trong hơn một thập kỷ qua Từ 37,4% vào năm 1998, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống chỉ còn 8,4% vào năm 2014 Khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Trung du và miền núi phía Bắc với 18,4%, tiếp theo là Tây Nguyên với 13,8% và Bắc Trung Bộ cùng duyên hải miền Trung với 11,8% Khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất, chỉ 1%.
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Theo nghiên cứu của Dominique và Dileni (2000), Bales (2001), và WB (2007), có nhiều yếu tố tác động đến nghèo Đinh Phi Hổ (2009) đã tổng hợp các yếu tố này, nhấn mạnh sự đa dạng và phức tạp của nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói.
Nghề nghiệp và tình trạng việc làm có sự phân hóa rõ rệt, với nghèo đói chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn Ngược lại, những người có thu nhập cao thường làm việc trong các lĩnh vực ổn định như buôn bán và công chức.
Người nghèo thường phải bỏ học sớm hoặc không có cơ hội học tập do không đủ tiền trang trải chi phí giáo dục Hệ quả là họ thiếu hiểu biết và không có khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh tế.
Nghiên cứu cho thấy, chủ hộ nữ có nguy cơ nghèo cao hơn so với chủ hộ nam Điều này xuất phát từ việc phụ nữ thường không đảm nhận công việc nặng nhọc và chủ yếu làm việc nhà, phụ thuộc vào thu nhập của nam giới trong gia đình, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn.
Quy mô gia đình lớn dẫn đến chi tiêu bình quân trên đầu người giảm và tăng nguy cơ nghèo đói, do phải gánh chịu nhiều khoản chi phí như học hành và khám chữa bệnh.
Quy mô diện tích đất sở hữu ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng sản xuất và tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình Ngược lại, việc hạn chế hoặc không có đất thường liên quan đến tình trạng nghèo đói.
TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ
1.2.1 Khái niệm về tài chính vi mô
Tài chính vi mô (TCVM) là một khái niệm được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập Tại Việt Nam, thuật ngữ này được thay thế bằng "tài chính quy mô nhỏ" theo Nghị định 28/2005/NĐ-CP, định nghĩa là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính đơn giản cho hộ gia đình và cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là người nghèo Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) cho rằng TCVM bao gồm việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản như gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền và bảo hiểm để đáp ứng nhu cầu của người nghèo.
TCVM, hay Tài chính vi mô, được định nghĩa là việc cung cấp các khoản vay nhỏ cho các hộ gia đình nghèo nhằm hỗ trợ họ tham gia vào sản xuất hoặc khởi nghiệp kinh doanh Hình thức tài chính này thường đi kèm với nhiều dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm, do nhu cầu lớn về sản phẩm tài chính của người nghèo và rất nghèo, những người không thể tiếp cận các tổ chức tài chính chính thức.
1.2.2 Sự khác nhau giữa TCVM và tín dụng vi mô
TCVM bao gồm các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm và cung cấp dịch vụ tài chính cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp Tín dụng vi mô là khoản vay nhỏ được cấp bởi ngân hàng hoặc tổ chức tài chính.
Tín dụng vi mô thường dành cho cá nhân vay, không cần tài sản thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm
Người nghèo cần nhiều loại công cụ tài chính để tích lũy tài sản, ổn định tiêu dùng và tự bảo vệ trước rủi ro Tài chính vi mô (TCVM) được hiểu là việc tìm ra phương pháp hiệu quả để cung cấp nhiều sản phẩm TCVM hơn Sản phẩm tài chính vi mô khác biệt với các sản phẩm khác nhờ vào các khoản vay nhỏ, không yêu cầu tài sản bảo đảm, và dễ dàng tiếp cận cho người nghèo Tài chính vi mô được phân loại theo các nhóm hoạt động trong khu vực chính thức, bán chính thức và phi chính thức.
- Nhóm chính thức: Bao gồm Ngân hàng Chính sách Xã hội, các Quỹ Tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Nhóm bán chính thức: Quỹ Hỗ trợ nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội
Cựu chiến binh và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)
- Nhóm phi chính thức: Các cá nhân cho vay nặng lãi, phường hụi, bạn bè…
1.2.3 Sự cần thiết và vai trò của TCVM
1.2.3.1 Sự cần thiết để phát triển hoạt động tài chính vi mô
Tài chính vi mô được coi là một "đòn bẩy" quan trọng trong chính sách giảm nghèo, điều này đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm Ngày nay, ngay cả các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc cũng đang chú trọng phát triển hoạt động tài chính vi mô, với xu hướng ngày càng phổ biến Vai trò của tài chính vi mô trong việc xóa đói giảm nghèo đã được thừa nhận là không thể thiếu và là lĩnh vực tiên phong trong nỗ lực này.
Tại Việt Nam, sau hơn 30 năm phát triển, tài chính vi mô đã đạt được những thành công đáng kể trong việc xóa đói giảm nghèo Nhiều tổ chức hoạt động hiệu quả đã nổi bật và trở thành những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này.
Hội phụ nữ Uông Bí đã có những bước tiến quan trọng trong hoạt động tài chính vi mô, điển hình là việc thành lập tổ chức tài chính vi mô (TYM) và các tổ chức khác như M7, cùng với Quỹ hỗ trợ việc làm CEP sắp tới.
Công tác xóa đói giảm nghèo là chiến lược quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội Để thực hiện mục tiêu này, vào năm 2015, chính phủ đã thành lập Ban Đề án tài chính vi mô, nhằm hỗ trợ người lao động nghèo và hộ nghèo cải thiện cuộc sống Sáng kiến này không chỉ kích thích năng suất lao động mà còn đảm bảo ổn định kinh tế gia đình, tăng cường quyền cho phụ nữ và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
Giải pháp thoát nghèo ở Việt Nam cho thấy TCVM đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo, với nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định hiệu quả của nó (Vachya và B.Kamaiah, 2015; Puhazhendhi và Satyasai, 2001) Trong những năm qua, TCVM đã được công nhận là công cụ hữu hiệu trong công tác giảm nghèo, với tài chính vi mô được xem là giải pháp khả thi cho bất kỳ quốc gia nào (Adamu, 2007; Irobi, 2008) Tại Việt Nam, tỉ lệ nghèo đã giảm từ 60% trong những năm 90 xuống còn 20.7% vào năm 2010 Tuy nhiên, theo số liệu của World Bank (2011), khoảng 79% người dân vẫn không tiếp cận được dịch vụ tài chính chính thức, dẫn đến việc họ phải tìm kiếm nguồn vốn từ các tổ chức tài chính phi chính thức để đáp ứng nhu cầu tài chính của mình.
Nhiều người nghèo thường phải vay nặng lãi với lãi suất cao hơn 100% mỗi năm Để giải quyết vấn đề này, các tổ chức cung cấp tín dụng vi mô như Ngân hàng Chính sách Xã hội, Hợp tác xã, Quỹ Tín dụng trung ương và các tổ chức tín dụng vi mô khác đã cung cấp dịch vụ tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác nhằm hỗ trợ người dân.
Quản lý tài chính và rủi ro, hướng dẫn chăn nuôi, chăm sóc sức khỏe, và vệ sinh môi trường đã giúp người dân thoát nghèo, với dịch vụ này được người nghèo đánh giá cao Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy hơn 90% người vay hài lòng với các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) vì tính thuận tiện và phù hợp với nhu cầu của họ; 95,30% mong muốn được vay vốn từ các tổ chức này Điều này khẳng định vai trò quan trọng của TCVM trong công tác giảm nghèo.
TCVM cung cấp dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo, giúp cải thiện đời sống và phát triển kinh tế Một đặc điểm nổi bật của TCVM là sản phẩm tiết kiệm bắt buộc, giúp người vay có trách nhiệm hơn với khoản vay, từ đó giảm thiểu rủi ro trong hoạt động Mặc dù vốn vay của TCVM nhỏ hơn so với ngân hàng thương mại, nhưng chúng rất quan trọng vì đến tay người nghèo đúng lúc, như cung cấp nước cho đồng ruộng khô hạn, hỗ trợ khởi nghiệp, tạo dựng tài sản, ổn định chi tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói, mặc dù quá trình này cần thời gian.
Giải pháp gia tăng thu nhập hộ gia đình thông qua Tài chính vi mô (TCVM) đã được chứng minh là hiệu quả trong việc cải thiện mức sống cho các hộ gia đình nghèo Nhiều nghiên cứu, như của Vachya và Kamaiah (2015) cùng Puhazhendhi và Satyasai (2001), đã khẳng định vai trò quan trọng của TCVM trong việc tăng thu nhập, tạo dựng tài sản, cải thiện sức khỏe và đầu tư cho giáo dục, đồng thời nâng cao quyền lực cho phụ nữ (Nguyễn Thị Thanh Nhàn, 2014) Tại Việt Nam, TCVM cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng như cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, cùng với giáo dục tài chính và hỗ trợ kịp thời cho khách hàng gặp khó khăn, giúp người nghèo thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.
12 dạng các khoản thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, có các khoản thu nhập khác từ tiểu thủ công nghiệp, thương mại và kinh doanh doanh nhỏ
Theo Nguyễn Kim Anh và ctg (2013), tài chính vi mô (TCVM) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, với tác động cả về tài chính lẫn xã hội TCVM giúp người nghèo giảm thiểu rủi ro kinh tế và cú sốc cuộc sống, cung cấp nguồn vốn vay đáng tin cậy mà không cần tài sản thế chấp Điều này tạo điều kiện cho việc khởi động sản xuất, mở rộng kinh doanh và cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình Về mặt xã hội, TCVM hỗ trợ tìm kiếm và ổn định việc làm, đồng thời giảm thiểu tình trạng vay nặng lãi và nợ nần do các hình thức vay phi chính thức.
LÝ LUẬN VỀ VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
1.3.1 Xây dựng nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô
TCVM không chỉ hỗ trợ tài chính cho người nghèo, giúp họ cải thiện cuộc sống và nâng cao mức sống cho gia đình, mà còn đóng góp vào sự ổn định của các chính sách an sinh xã hội và gia tăng phúc lợi cho cộng đồng.
1.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Khandker (2001) nhấn mạnh rằng hiệu quả tín dụng và chất lượng tín dụng là hai chỉ tiêu quan trọng, phản ánh lợi ích mà dòng vốn mang lại cho người nghèo.
- Đánh giá về phía người nghèo
Tỷ lệ người nghèo tiếp cận tài chính vi mô cho thấy mức độ sử dụng dịch vụ tài chính vi mô của người nghèo Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia số người nghèo đã tiếp cận tài chính vi mô cho tổng số hộ nghèo trong tỉnh, phản ánh khả năng tiếp cận tài chính của nhóm đối tượng này.
Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận TCVM Số hộ nghèo đƣợc tiếp cận TCVM x 100 Tổng số hộ nghèo
Số tiền vay vốn bình quân trên mỗi hộ phản ánh sự thay đổi trong mức đầu tư cho hộ nghèo, cho thấy liệu việc cho vay vốn có đáp ứng được nhu cầu của người nghèo hay không.
Số tiền vay bình quân/hộ Số dƣ nợ cho vay đến thời điểm báo cáo x 100 Tổng số dƣ nợ cho vay
Số hộ thoát nghèo là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô Những hộ gia đình này có mức thu nhập vượt qua ngưỡng chuẩn nghèo theo quy định.
Tổng số hộ đã thoát nghèo
Số hộ trong danh sách nghèo đầu kỳ
Số hộ trong danh sách nghèo đầu kỳ
Số hộ nghèo đã chuyển đi địa bàn khác trong kỳ
Số hộ nghèo đã chuyển đến trong kỳ
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức cung cấp hoạt động tài chính vi mô
Quy mô tỷ trọng tín dụng Dƣ nợ tín dụng hộ nghèo x 100 Tổng dƣ nợ tín dụng
Tăng trưởng dư nợ tín dụng hộ nghèo Dƣ nợ hộ nghèo tín dụng năm sau x 100
Dư nợ hộ nghèo năm trước
Tỷ lệ nợ quá hạn Dƣ nợ quá hạn cho vay hộ nghèo x 100 Tổng dƣ nợ hộ nghèo
1.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả về mặt xã hội
TCVM hỗ trợ các hộ gia đình nghèo bằng cách tạo ra nhiều công ăn việc làm và ổn định cuộc sống, từ đó tạo ra của cải vật chất cho cả gia đình và xã hội Nhờ vào việc tiếp cận nguồn vốn tài chính vi mô, người nghèo giảm thiểu tình trạng cho vay nặng lãi, góp phần ổn định an ninh chính trị tại địa phương và bảo đảm chính sách an sinh xã hội Kết quả này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương mà còn phản ánh hiệu quả hoạt động của TCVM đối với toàn xã hội.
THỰC TRẠNG NGHÈO TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1.1 Chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương
Trong giai đoạn 2011 - 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 49/2010/QĐ-UBND vào ngày 22/12/2010, quy định chuẩn nghèo của tỉnh với mức thu nhập 1.000.000đ/người/tháng cho khu vực thành thị và 800.000đ/người/tháng cho khu vực nông thôn Vào ngày 27/12/2013, Quyết định số 51/2013/QĐ-UBND được ban hành để quy định chuẩn hộ nghèo và bảo lưu đối với hộ thoát nghèo cho giai đoạn 2014-2015.
Bảng 2.1: Mức chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương năm 2014 – 2015
Khu vực Thành thị Nông thôn
Nguồn: QĐ số 51/2013/QĐ-UBND
Theo các quy định về mức chuẩn nghèo, tỉnh Bình Dương không có hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia Mức chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương cao hơn mức chuẩn nghèo của cả nước, cụ thể là 600.000đ/người/tháng.
2.1.2 Thực trạng nghèo tại tỉnh Bình Dương
Nghèo đói là một thách thức lớn mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt Trong số các chiến lược chống nghèo đói, tài chính vi mô được coi là một cơ chế hiệu quả để xóa đói giảm nghèo Các chương trình tài chính vi mô không chỉ cải thiện thu nhập mà còn nâng cao mức sống cho người nghèo, theo nghiên cứu của Vachya và Kamaiah (2015), CGAP (2006), và Mavhungu Abel Mafukata cùng Willie Dhlandhara (2014).
Tài chính vi mô cung cấp cho người nghèo các khoản vay nhỏ, giúp họ có nguồn vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh và cải thiện cuộc sống Với ưu điểm nổi bật là tính linh hoạt và quy trình đơn giản, tài chính vi mô khắc phục các rào cản pháp lý mà các tổ chức tài chính khác thường gặp, từ đó tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn Các dịch vụ tài chính vi mô bao gồm các khoản vay nhỏ, tiết kiệm, bảo hiểm và lương hưu, góp phần ổn định cuộc sống gia đình.
Người nghèo thường thiếu tài sản bảo đảm và gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin kinh tế xã hội, dẫn đến việc sản xuất dựa trên thói quen và kinh nghiệm mà không có kỹ năng chuyên môn Đối tượng sản xuất kinh doanh thường xuyên thay đổi, và do đó, các tổ chức tài chính vi mô, bao gồm Quỹ Tín dụng Nhân dân, Ngân hàng Chính sách Xã hội và các tổ chức xã hội (NGO), cung cấp dịch vụ tài chính nhằm hỗ trợ họ.
Trong những năm qua, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả đáng kể trong công tác giảm nghèo, với tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh và mức sống của người dân ngày càng được cải thiện Điều này phản ánh hiệu quả của các chính sách địa phương và vai trò của tài chính vi mô trong việc thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo Đến năm 2020, việc thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo bền vững là một trong những chiến lược quan trọng của tỉnh Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh Xã hội năm 2015, tỉnh có gần 2000 hộ nghèo và hơn 3000 hộ cận nghèo Mức chuẩn nghèo tại Bình Dương đã được điều chỉnh hai lần trong giai đoạn 2011-2015, với chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 1 triệu đồng/tháng, gấp 2,5 lần mức chuẩn nghèo của Trung Ương Tương tự, chuẩn nghèo ở khu vực thành thị là 1,1 triệu đồng/tháng, cao hơn mức chuẩn của Trung Ương là 500 ngàn đồng/tháng.
Giai đoạn 2011 – 2015, toàn tỉnh đã có 11.383 hộ thoát nghèo, bình quân mỗi năm giảm 1% hộ nghèo
Bảng 2.2: So sánh mức chuẩn nghèo Trung Ương và địa phương từ 1997-2015 Đơn vị tính: Đồng
Chuẩn nghèo TƢ Chuẩn nghèo của địa phương Chênh lệch giữa chuẩn nghèo TƢ và địa phương
Nguồn: Sở LĐ và TBXH tỉnh Bình Dương
2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.2.1 Khái quát về hoạt động tài chính vi mô tại Bình Dương
Theo Cục thống kê tỉnh Bình Dương (2014), tỉnh hiện có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 4 thị xã và 4 huyện, với tổng dân số hơn 1,8 triệu người, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chỉ chiếm 0,1% Địa phương đã thực hiện các chỉ đạo về công tác giảm nghèo thông qua Quyết định số 46/2012/QĐ-UBND ngày 17/10/2012, nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu sang công nghiệp và dịch vụ.
Công tác chính sách người nghèo đã có những cải thiện rõ nét từ năm 2010 đến nay, với tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 0,5% vào năm 2010 xuống chỉ còn 0,1% vào năm 2014 Mức chuẩn nghèo của Bình Dương cao hơn so với chuẩn nghèo của cả nước Theo Quyết định số 49/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010 và Quyết định số 51/2014/QĐ-ĐHTDM ngày 12/12/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, quy định chuẩn nghèo của cả nước dựa trên mức thu nhập.
800.000đ/tháng/người, tại Bình Dương mức thu nhập 1.000.000đ/tháng/người, cao hơn chuẩn của cả nước 200.000đ/người/tháng
2.2.2 Hoạt đông tài chính vi mô tại Bình Dương
Theo Derg (2012), hoạt động tài chính vi mô được chia thành ba khu vực: chính thức, bán chính thức và phi chính thức Nghiên cứu này tập trung vào phân tích hoạt động tài chính vi mô trong khu vực chính thức và phi chính thức Tại Bình Dương, hoạt động tài chính vi mô được phân loại theo các khu vực chính thức và bán chính thức, như thể hiện trong sơ đồ 2.1.
Sơ đồ 2.1: Hoạt động tài chính vi mô tại Bình Dương
Nguồn: Tổng hợp từ thực tiễn nghiên cứu
2.2.2.1 Hoạt động của khu vực chính thức
- Hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH)
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tổ chức lại hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo tách ra từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cơ cấu quản trị của NHCSXH bao gồm Hội đồng quản trị tại Trung ương, 63 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện Mục tiêu chính của ngân hàng là hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, và góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
Các đơn vị cung cấp sản phẩm tài chính vi mô tại Bình Dương
Ngân hàng chính sách xã hội
Quỹ tín dụng nhân dân
Ngân hàng NNo và PTNT
Các tổ chức phi chính phủ khác
Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức
Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) hiện cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ, bao gồm cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách, nhận tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thanh toán ngân quỹ, và nhận vốn ủy thác từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Ngoài ra, NHCSXH còn phát hành thẻ ATM cho học sinh, sinh viên và phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh.
Tính đến tháng 9/2015, tại Bình Dương, báo cáo từ NHCSXH cho biết đã hỗ trợ hơn 70.000 hộ nghèo và đối tượng chính sách tiếp cận tín dụng, với mức dư nợ bình quân đạt cao.
Hỗ trợ 16 triệu đồng cho mỗi khách hàng, chương trình đã giúp hàng nghìn lao động tìm việc làm có thời hạn ở nước ngoài Đồng thời, hơn 3 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đã được vay vốn học tập Ngoài ra, chương trình còn cấp vốn cho việc xây dựng 4,2 triệu công trình cung cấp nước sạch và nhà vệ sinh.
484 căn nhà cho hộ nghèo…
NHCSXH có 91 thành viên, bao gồm 12 thành viên cấp tỉnh và 79 thành viên cấp huyện, đảm bảo nguồn vốn giải ngân kịp thời theo kế hoạch Tính đến ngày 30/6/2015, tổng nguồn vốn đạt 1.116 tỷ đồng Tổ chức giao dịch cố định hàng tháng tại trụ sở UBND cấp xã, phường giúp tiết kiệm chi phí đi lại cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, đồng thời thực hiện tốt các chỉ đạo và giám sát tín dụng chính sách trên địa bàn tỉnh.
Bảng 2.3: Tình hình huy động nguồn vốn tại NHCSXH tỉnh Bình Dương Đvt: Triệu đồng
Năm Dƣ nợ Nguồn vốn cho vay
TW chuyển về HĐ tiết kiệm NS tỉnh
Nguồn: NHCSXH tỉnh Bình Dương
Các chương trình cho vay tại NHCSXH:
+ Cho vay đi xuất khẩu lao động
+ Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ
+ Cho vay học sinh, sinh viên
+ Cho vay giải quyết việc làm
+ Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn
+ Cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa (KfW)
+ Một số chương trình cho vay khác
Trong 06 tháng đầu năm 2015, NHCSXH tỉnh đã hỗ trợ vốn cho hơn 13.000 lƣợt hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách khác: cho hơn 4.000 lao động vay vốn giải quyết việc làm, gần 500 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đƣợc vay vốn đi học; xây dựng gần 18.000 công trình nước sạch và công trình vệ sinh môi trường ở nông thôn…
Hiện nay, tỉnh Bình Dương không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn quốc gia
Những vấn đề còn tồn tại
2.5.1 Đối với khu vực chính thức
Công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Bình Dương chủ yếu được thực hiện qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, trong khi Quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa tập trung vào đối tượng người nghèo Quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu phục vụ các thành viên trong Quỹ, và hoạt động cho vay tín chấp cho hộ nghèo thông qua các Hội đoàn thể và chính quyền địa phương còn hạn chế Quy trình rà soát và phê duyệt khoản vay gặp nhiều bất cập, dẫn đến rủi ro gia tăng nợ xấu do khách hàng di dời mà không thông báo cho chính quyền Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ yếu cung cấp dịch vụ cho các hộ nông dân có tài sản bảo đảm, không tách biệt các hoạt động dành riêng cho người nghèo, điều này không phù hợp với nguyên tắc của tài chính vi mô.
Tỉnh Bình Dương áp dụng chuẩn nghèo riêng thay vì theo tiêu chí của Trung ương, dẫn đến việc công tác giảm nghèo phải dựa vào nguồn vốn huy động từ địa phương Điều này tạo ra áp lực lớn trong việc phân bổ nguồn vốn cho công tác giảm nghèo, trong khi số lượng đối tượng nghèo theo tiêu chí của tỉnh vẫn còn khá nhiều.
Mặc dù một số hộ nghèo đã nỗ lực vươn lên để thoát nghèo, vẫn còn nhiều gia đình thiếu ý chí và phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, cũng như sử dụng vốn vay một cách không hiệu quả.
2.5.2 Đối với khu vực bán chính thức
Hoạt động tài chính tại khu vực bán chính thức cần được tăng cường để phát huy vai trò của tài chính vi mô, hiện tại còn yếu và thiếu tính chuyên nghiệp Cần có nguồn vốn huy động và các kế hoạch chiến lược lâu dài để hỗ trợ người nghèo một cách hiệu quả hơn Việc thực hiện các hoạt động xóa đói giảm nghèo cần đồng bộ và nhất quán, theo dõi tình hình vay vốn và khả năng sử dụng nguồn vốn của khách hàng Đồng thời, cần phát huy nội lực của khách hàng và tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ Liên kết giữa các cấp Hội và xây dựng mạng lưới thông tin cho khách hàng là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính vi mô và giảm thiểu bất cập thông tin cho người nghèo tại địa phương.