Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học từ đó nhằm tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học Toán, thông qua đó đề xuất một số biện pháp gâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014 - 2015
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở thị xã Thuận
An, Bình Dương
- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết Nhung
- Lớp: D13TH04 Khoa: Sư Phạm Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Nhung
2 Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu
học từ đó nhằm tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học Toán, thông qua đó
đề xuất một số biện pháp gây hứng thú học môn Toán cho học sinh nhằm nâng caochất lượng học tập
3 Tính mới và sáng tạo: Đánh giá thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh
tiểu học từ đó xác định một số đặc điểm hứng thú, những yếu tố tác động đến hứng thú học môn Toán ở các em
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một tài liệu góp phần bồi dưỡng giáo viên tiểu học
về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển hứng thú học tập
4 Kết quả nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của đề tài: Hứng thú trong học tập, các yếu
Trang 4học tập môn Toán của HS ở các trường TH khác nói chung, trường TH An Phú và
TH Tuy An nói riêng
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ
tên tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ
sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày tháng năm
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 5UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Sinh ngày: 06 tháng 9 năm 1995
Nơi sinh: TP Hồ Chí Minh
Lớp: D13TH04 Khóa: 2013- 2017
Khoa: Sư Phạm
Địa chỉ liên hệ: 156/1 1A An Phú, Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 01863424690 Email: nttuyetnhung95@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 6DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Nguyễn Thị Tuyết Nhung 1321402020168 D13TH04 Sư Phạm
2 Nguyễn Thị Xuân 1321402020269 D13TH04 Sư Phạm
3 Lê Thị Quỳnh 1321402020188 D13TH04 Sư Phạm
Trang 7THƯ CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu hứng thú học tập môn Toán củahọc sinh tiểu học tại Thị xã Thuận An” Chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ,tạo điều kiện của tập thể Ban Giám Hiệu, Khoa Sư Phạm Tiểu học, giảng viên, cán
bộ phòng, ban chức năng Trường Đại học Thủ Dầu Một, ban Giám Hiệu trường Tiểuhọc An Phú, ban Giám Hiệu trường Tiểu học Tuy An cùng toàn thể giáo viên ở tạihai trường Chúng tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GV Th.S Nguyễn Thị Nhung đã trựctiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Nhóm nghiên cứu.
Trang 8MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Khách thể nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 1
4 Mục đích nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
7 Phạm vi nghiên cứu 2
8 Các phương pháp nghiên cứu 2
9 Đóng góp mới của bài nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận về thực trạng hứng thú trong học tập của học sinh tiểu học 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lí luận về thực trạng hứng thú trong học tập của học sinh tiểu học 8
1.2.1 Khái niệm chung về hứng thú 8
1.2.1.1 Định nghĩa hứng thú 8
1.2.1.2 Cấu trúc của hứng thú 11
1.2.1.3 Phân loại hứng thú 12
1.2.1.4 Quan hệ giữa hứng thú và các khái niệm khác 14
1.2.2 Khái niệm hứng thú học tập 15
1.2.3 Biểu hiện của hứng thú học tập 15
1.2.4 Đặc điểm hứng thú học tập 15
1.2.5 Mức độ hứng thú học tập 16
1.2.6 Sự hình thành và phát triển hứng thú trong học tập 17
1.2.7 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú trong học tập 18
1.2.8 Vai trò của hứng thú đối với cá nhân trong quá trình học tập 20
1.3 Một số đặc điểm của môn Toán trong chương trình Tiểu học và tầm quan trọng của việc học môn Toán đối với học sinh tiểu học 21
1.4 Thể thức nghiên cứu 21
2.1.1 Mẫu nghiên cứu 21
Trang 92.1.2 Công cụ nghiên cứu 22
2.1.3 Cách xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 2: Thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học thị xã Thuận An 26
2.1 Thực trạng hứng thú trong học tập môn Toán của học sinh tiểu học tiểu học ở Thị xã Thuận An 26
2.1.1 Mức độ hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận 26
2.1.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An……… 29
2.1.3 Đánh giá các tác động giáo dục của GV đến hứng thú học tập môn Toán của HS 37
2.1.4 Biểu hiện hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An………39
2.2 So sánh hứng thú học tập môn Toán của học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An 43
2.3.1 Xét theo học sinh ở hai trường 43
2.3.2 Xét theo giới tính ở hai trường 44
2.3.3 Xét theo khối lớp ở hai trường 45
CHƯƠNG 3: Một số biện pháp nâng cao hứng thú trong học tập môn Toán cho học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An 47
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 47
3.1.1 Cơ sở lý luận 47
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 48
3.2 Một số biện pháp nâng cao hứng thú trong học tập môn Toán cho học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 48
3.2.1 Đối với giáo viên 48
3.2.2 Đối với học sinh 49
Tiểu kết chương 3 51
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 52
2 Kiến nghị 52
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 2.2 Mức độ yêu hứng thú học môn Toán của HS 26
3 Bảng 2.3 Sự hứng thú học môn Toán và các môn học
34
8 Bảng 2.8 Đánh giá của GV về những nguyên nhân
khiến HS không hứng thú học môn Toán 36
9 Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các công việc theo đánh
10 Bảng 2.10 Kết quả tìm hiểu biểu hiện hứng thú học môn
Trang 1111 Bảng 2.11 Đánh giá của GV về các biểu hiện, hành
43
14 Bảng 2.14
Sự hứng thú học môn Toán của HS ở 2trường TH AN Phú và TH Tuy AN theo giớitính
45
17 Bảng 2.17 Kết quả so sánh mức độ hứng thú học Toán
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Mức độ hứng thú học Toán của HS tiểu học
Trang 141 Bêlaep M.F (1957), Tâm lý học hứng thú, Luận án Tiến sĩ, Matxcơva.
2 Côvaliôp.A.G (1971), Tâm lý học cá nhân, Tập I, III, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3 Daparogiet.A.V (1974), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4 Phạm Tất Dong (1991), Động cơ và chất lượng học tập của học sinh, Tạp chí,
NCGD, Số 1
5 Phạm Tất Dong (1973), Một số đặc điểm hứng thú nghề nghiệp của học sinh phổ thông và công tác hướng nghiệp, Luận án Phó Tiến sĩ.
6 Đề cương bài giảng Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm (1975), Tài liệu
dùng trong các trường sư phạm
7 Phạm Minh Hạc, chủ biên (1989), Tâm lý học, Tập I, II, Nxb Giáo dục, Hà
11 Liublinkaia.A.A, Tâm lý học trẻ em, Tập I, Sở giáo dục TP Hồ Chí Minh.
12 Marcôva.A.K (1978), Động cơ của hoạt động học tập ở học sinh, Tạp chí
16 Trần Trọng Thủy (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn, Lê Ngọc Lan (1998), Tâm
lý học (Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học hệ CĐSP và SP 12+2), Nxb Giáo dục,
Trang 1521 Sukina.G.I (1973), Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục, Tài
liệu dịch – Tổ tư liệu trường CĐSP Hà Nội I
22 Nguyễn Thị Thu Cúc (2006), “Hứng thú và vai trò nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh”, Tạp chí Tâm lý học (số 2), trang 46
23 Tamlyhoc.net, Hứng thú – khái niệm hứng thú trong tâm lí học.
24 Xôlôvâytrich L X (1975), Từ hứng thú đến tài năng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Tiếng anh
25 Strong.E.K (1931), Change of interest with Age, Standford university Press
26 Baram – Tsabari, Ayelet; Sethi, Ricky J; Bry, Lynn; Yarden, Anat (2006),Science Education, (http://www.eric.ed.gov/ERICWebPortalHome.portal?nfpb=true& pageLabel=ERICSear…)
27 Linnel, Charles C (2004) Technology and Children,(http://goliath.ecnext.com/coms2/gi 0199-2357809/Enhancing-children-s-interest-in.html )
28 Sandstrom Kjellin, Margareta; Granlund, Mats (2006), European Journal ofSpecial Needs Education, ( http://www.eric.ed.gov/ERICWebPortal/Home.portal?nfpb=true& pageLabel=ERICSear )
Các trang web tham khảo
29 Nghiên đặc điểm hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học và biện pháptâm lí sư phạm nâng cap hứng thú học môn Toán(http://www.zbook.vn/ebook/nghien-cuu-dac-diem-hung-thu-hoc-mon-toan-cua-hoc-sinh-tieu-hoc-va-bien-phap-tam-ly-su-pham-nang-cao-hung-thu-hoc-mon-43328/)
Trang 16PHẦN PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
2 Trong các môn em đang học em thích học những môn nào?
Hãy đánh giá mức độ yêu thích của mình đối với mỗi môn học bằng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp nhất với mình.
Trang 17Háy đánh giá đúng mức độ đồng ý của em đối với từng nguyên nhân bàng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp nhất với ý mình.
Không đồng ý
1 Môn Toán rất có ích trong cuộc sống
2 Kiến tức môn Toán là cơ sở để học tốt
các môn học khác
3 Môn Toán giúp em biết suy nghĩ đúng
4 Nội dung môn Toán rất lí thú
5 Em thường đạt điểm cao trong môn Toán
6 Em muốn có kiến thức sâu về môn Toán
7 GV dạy hấp dẫn, lôi cuốn
8 GV thường xuyên kiểm tra kiến thức
trong giờ học
9 GV đánh giá học sinh đúng và công bằng
10 GV luôn động viên, khuyến khích các
em trong học tập
11 Lớp có phong trào thi đua học Toán sôi
nổi
12 Gia đình em cũng có người thích Toán
4 Dưới đây là một số lý do làm cho một số học sinh không yêu thích môn Toán
Trang 18Em hãy đọc kĩ và dánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi lí do đối với bản thân bằng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp với suy nghĩ của mình.
STT
Mức độ ảnh hưởng Các lý do
Ảnh hưởng nhiều
Ảnh hưởng ít
Không ảnh hưởng
1 Môn Toán khô khan, không hấp dẫn
2 Môn Toán khó đạt điểm cao
3 Môn Toán bắt em phải suy nghĩ
nhiều, mệt
4 Môn Toán quá khó
5 Em thiếu phương tiện học tập
6 GV cho nhiều bài tập nhưng ít dành
thời gian chữa bài
7 Em chưa biết cách học Toán
8 GV không thường xuyên kiểm tra
bài làm của học sinh
9 GV dạy chưa thật sự hấp dẫn
10 GV ít quan tâm, động viên học sinh
11 GV đánh giá học sinh chưa chính
xác, thiếu công bằng
12 Gia đình thiếu động viên, khuyến
khích em học môn Toán
5 Dưới đây là một số biểu hiện của HS trong giờ học toán.
Hãy đọc kĩ và tự đánh giá mức độ thực hiện của em đối với mỗi biểu hiện bằng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp với mình.
STT
Mức độ thực hiện Biểu hiện
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Đi học đều
2 Chăm chú nghe giảng
Trang 193 Ghi chép bài đầy dủ
4 Học thuộc bài trước khi đến lớp
5 Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài
và nêu thắc mắc nhờ thầy cô giải đáp
6 Học hiểu bài trước khi làm bài tập
7 Đọc trước Sách Giáo Khoa để hiểu
thêm bài học
8 Chỉ học theo vở ghi
9 Nhìn bài của bạn, sử dụng tài liệu
trong giờ kiểm tra
10 Trao đổi với bạn bè về bài tập, bài học
mà em chưa làm được
11 Làm hết các bài tập được giao
12 Tự tìm thêm các bài tập ngoài yêu cầu
của GV
13 Tự tìm ra cách giải cho một bài toán
14 Tự vận dụng kiến thức Toán học vào
giải quyết vấn đề thực tế
6 Các em có đề xuất gì để giúp cho tiết học môn Toán thú vị hơn?
Cần thêm đồ dùng, thiết bị học tập
Giáo viên nên ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng dạy
Tiết học môn Toán cần nhiều thời gian hơn
Nên cho thêm bài tập môn Toán về nhà
Nên tổ chức các hình thức thi đua hay trò chơi về môn Toán
Ý kiến khác (ghi rõ ý kiến ở bên dưới):
Một lần nữa cám ơn em!
PHỤ LỤC 2: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho giáo viên)
Trang 20Để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh, xin đề nghị quí Thầy/Cô vui lòng chobiết ý kiến của mình về sự yêu thích và những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự yêuthích đó bằng cách đánh dấu (+) vào ô trống hoặc một cột, hay viết thêm vào nhữngchỗ có dấu …phù hợp với các em trong mỗi câu hỏi dưới đây.
Xin trân thành cảm ơn quý Thầy/Cô!
1 Theo Thầy/Cô, các em có thích học môn Toán không?
a.Thích b.Bình thường c.Không thích
2 Sau đây là một số nguyên nhân làm cho học sinh thích học mônToán.
Đề nghị Thầy/Cô hãy đánh giá mức độ yêu thích của HS đối với từng nguyên nhân,bằng cách đánh dấu (+) vào một ô phù hợp với các em
STT
Mức độ
1 Môn Toán rất có ích trong cuộc sống
2 Nội dung môn Toán rất lí thú, hấp dẫn
3 Phương pháp giảng dạy của GV phù hợp với
trình độ của học sinh
4 HS yêu thích quá trình, công việc giải toán
5 HS thường đạt điểm cao trong môn Toán
6 HS có nhiều sách tham khảo về môn Toán
7 HS muốn có nhiều kiến thức sâu hơn về môn
Toán
8 GV thường xuyên kiểm tra, củng cố kiến thức
trong giờ học Toán
9 GV luôn kích thích HS suy nghĩ trong giờ học
Toán
10 Môn Toán dạy cho HS cách suy nghĩ khoa học,
làm việc có hiệu quả
Trang 2111 GV luôn quan tâm động viên học sinh trong học
tập
12 Lớp có phong trào thi đua học Toán sôi nổi
13 Gia đình luôn khuyến khích, giúp đỡ học sinh
học môn Toán
14 Toán học được đánh giá cao
3 Dưới đây là một số lí do làm HS không thích học môn Toán.
Đề nghị Thầy/Cô hãy đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi lí do đối với các em bằng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp với suy nghĩ của mình.
STT
Mức độ ảnh hưởng
Các lí do
Ảnh hưởng nhiều
Ảnh hưởng ít
Không ảnh hưởng
1 Môn Toán khô khan, không hấp dẫn
2 HS thường bị điểm kém trong môn Toán
3 HS ngại suy nghĩ, động não… trong quá trình
Trang 227 Phương pháp giảng dạy của GV chưa thật sự
hấp dẫn, lôi cuốn được HS
8 Thiếu sự quan tâm, động viên, khuyến khích
của gia đình
10 Kiến thức toán của HS sinh bị hỏng nhiều ở
những năm trước
11 Chương trình môn Toán quá nặng
12 HS chưa nắm được phương pháp học môn Toán
1 Dưới đây là một số biểu hiện của HS trong giờ học Toán:
Đề nghị Thầy/Cô hãy đánh giá mức độ thực hiện của mỗi biểu hiện đối với các embằng cách đánh dấu (+) vào cột phù hợp với suy nghĩ của mình
1 Đi học đều
2 Chăm chú nghe giảng
3 Ghi chép bài đầy dủ
4 Học thuộc bài trước khi đếnlớp
5 Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài
và nêu thắc mắc nhờ thầy cô giải đáp
6 Học hiểu bài trước khi làm bài tập
7 Đọc trước sách giáo khoa dể hiểu thêm
bài học
8 Chỉ học theo vở ghi
9 Nhìn bài của bạn, sử dụng tài liệu
trong giờ kiểm tra
10 Trao đổi với bạn về bài tập, bài học mà
em chưa làm được
11 Làm hết các bài tập được giao
Trang 2312 Tự tìm thêm các bài tập ngoài yêu cầu
của GV
13 Tự tìm ra cách giải cho một bài toán
14 Tự vận dụng kiến thức Toán học vào
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Giảng bài thu hút được sự chú ý của học sinh
2 Hay gọi HS kiểm tra việc học toán của các em
3 Kích thích HS suy nghĩ trong giờ học toán
4 Tổ chức các hình thức thi đua học toán
5 Yêu cầu HS đọc thêm tài liệu, sách tham khảo
do GV hướng dẫn
6 Kiểm tra việc chuổn bị bài trước khi đến lớp
của HS (học thuộc bài, làm bài tập về nhà)
7 Phát vấn HS trong giờ học toán
8 Cho nhiều dạng bài tập
9 Nêu ra vấn đề cho HS suy nghĩ
10 Tổ chức ngoại khóa về toán cho HS
11 Chỉ cho HS những sách tham khảo phù hợp
12 Biểu dương, khen khi HS trả lời đúng
13 Giúp đỡ, phụ đạo HS yếu
14 Phát hiện, bồi dưỡng HS giỏi
3 Theo Thầy/Cô có đề xuất gì để giúp cho tiết học môn Toán thú vị hơn?
Cần thêm đồ dùng, thiết bị học tập
Giáo viên nên ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng dạy
Tiết học môn Toán cần nhiều thời gian hơn
Nên cho thêm bài tập môn Toán về nhà
Nên tổ chức các hình thức thi đua hay trò chơi về môn Toán
Ý kiến khác (ghi rõ ý kiến ở bên dưới):
Trang 24Cuối cùng, xin Thầy/Cô cho biết vài điều về bản thân:
Trang 25PHỤ LỤC 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN HỌC SINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN HỌC SINH
-o0o -Thành phần tham dự:
Học sinh lớp 4 - 5 trường tiểu học An Phú và trường tiểu học Tuy An
Một số câu hỏi:
1 Trong các môn em đang học em thích học những môn nào?
2 Em thường dành thời gian học ở nhà bao lâu?
3 Thời gian em tự học Toán ở nhà là bao lâu? Vì sao?
4 Lúc rảnh rỗi em thường làm gì?
5 Khi học bài ở nhà, em thường học môn nào trước?
6 Điểm trung bình môn Toán của em trong học kì vừa qua là bao nhiêu?
Trang 26Qua nhiều công trình nghiên cứu, các nhà tâm lí học nhận thấy rằng: Hứng thú cóvai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩycon người tham gia tích cực vào hoạt động Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dùphải gặp nhiều khó khăn con người cũng cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.
Đối với HS tiểu học, hoạt động học tập được xem là hoạt động chủ đạo ảnh hưởngrất lớn tới sự phát triển nhân cách của các em Các nhà Tâm lý học đã chứng minh có rấtnhiều yếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em trong đó hứng thú là một trongnhững yếu tố ảnh hưởng rất lớn Tình trạng chán học, không thích học do mất hứng thú đãảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của các em nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.Đặc biệt đây là giai đoạn nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, nếu ở giai đoạn này,các em chán nản, sợ học, không thích học thì các em sẽ không nắm vững được kiến thức,ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập của các em sau này
Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt quantâm đến khả năng tư duy, sáng tạo của người học mà để có được tư duy nhạy bén và ócsáng tạo cao thì việc hứng thú đối với học tập là hết sức quan trọng Tạo hứng thú cho họcsinh trong quá trình học tập là nhiệm vụ chung đặt ra cho nền giáo dục ở nước ta cũngnhư mọi quốc gia trên thế giới
Dạy học là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của cả giáo viên vàhọc sinh Tuy nhiên, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn khi học sinh tỏ ra thiếu hứng thúkhi học môn Toán Là một người giáo viên trong tương lai, chúng tôi luôn quan tâm đếnnhững khía cạnh còn hạn chế trong quá trình giáo dục và “Hứng thú trong học môn Toán
ở học sinh tiểu học” là một khía cạnh cần được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc Vì khihiểu được thực trạng, nguyên nhân, đặc điểm của hứng thú và từ đó đề ra những phươngpháp tạo hứng thú trong học tập thì chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao Đây cũng làphương pháp dạy học ở các nước có nền giáo dục tiến bộ trên thế giới
Mặt khác, nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh tiểu học ở Việt Nam chưađược nghiên cứu mang tính hệ thống, chưa thật sự thuyết phục
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học “Thựctrạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở thị xã Thuận An, Bình Dương”
2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh tiểu học ở thị xã Thuận An, Bình Dương
3 Đối tượng nghiên cứu
Hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học
4 Mục đích nghiên cứu
Trang 27Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học từ đó nhằmtìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học Toán, thông qua đó đề xuất một số biệnpháp gây hứng thú học môn Toán cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập
5 Giả thuyết khoa học
Đặc điểm hứng thú của học sinh tiểu học hiện nay nhìn chung còn phân tán, chưabền vững, chưa ổn định, chủ yếu là hứng thú gián tiếp Còn nhiều nguyên nhân ảnh hưởngđến hứng thú học Toán như: Do môn Toán khô khan, không hấp dẫn, phương pháp dạykhông phù hợp, thiếu phương tiện dạy học,…
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của đề tài: Hứng thú trong học tập, các yếu tốhình thành và phát triển hứng thú,
- Làm rõ thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hứng thú trong học môn Toán củahọc sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển và nâng cao hứng thú học môn Toán cho họcsinh tiểu học
7 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế nên không thể nghiên cứu tất cả các học sinh tiểu học trênđịa bàn thị xã Thuận An, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu được học sinh lớp 4 - 5 tại:
+ Trường tiểu học An Phú (Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương)
+ Trường tiểu học Tuy An (Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương)
8 Các phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu một vấn đề có rất nhiều phương pháp tuy nhiên việc thực hiện cácphương pháp còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan Do điều kiện hạn chếnên chúng tôi không vận dụng được tất cả các phương pháp trong quá trình nghiên cứu.Chúng tôi đã vận dụng chủ yếu các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quảnghiên cứu thực tiễn về kết quả học tập của HS tiểu học
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (trong đó điều tra bảng hỏi là phương pháp chính:Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến)
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn cá nhân, chọn một số vấn đề nào đó nổi trội trongphần trả lời để phỏng vấn sâu ở một số đối tượng
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS 13.0 forwindow để xử lí các số liệu)
9 Đóng góp mới của bài nghiên cứu
- Về mặt lý luận:
Trang 28Nghiên cứu này sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận trong lĩnh vực hứng thúhọc tập của học sinh tiểu học, làm rõ hơn đặc điểm hứng thú Góp phần làm phong phúthêm tài liệu về đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học ở Thị xã Thuận An
- Về mặt thực tiễn:
Đánh giá thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học từ đó xác địnhmột số đặc điểm hứng thú, những yếu tố tác động đến hứng thú học môn Toán ở các em;Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một tài liệu góp phần bồi dưỡng giáo viên tiểu học về cơ
sở lý luận và thực tiễn phát triển hứng thú học tập
PHẦN NỘI DUNG
Trang 29CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG HỨNG THÚ TRONG
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Hứng thú là vấn đề hấp dẫn và phức tạp cho việc nghiên cứu Vì thế, đã có nhiềucông trình nghiên cứu về hứng thú có giá trị trên thế giới, đặc biệt là các nhà tâm lí họcnổi tiếng Từ những công trình nghiên cứu ấy có thể khái quát lịch sử nghiên cứu theo các
xu hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận chung, đại cương về hứng thú Có một số tác giả như:
- Từ những năm 20 của thế kỷ trước X L Rubinstein trong các công trình nghiên cứutâm lý học đại cương đã đưa ra các khái niệm về hứng thú, con đường hình thành hứngthú và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm
- Năm 1946, Claparede khi nghiên cứu vấn đề “Tâm lý học trẻ em và thực nghiệm sưphạm” đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhưng dựa trên bản chất sinh học: Hứng thú làdấu hiệu của nhu cầu, bản năng, khát vọng được thỏa mãn [9]
- Năm 1957, nhà nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề hứng thú M F Belaep đưa ra những lígiải hết sức khác nhau về hứng thú; những lí giải này làm tước bỏ đi tính xác định vàgiá trị tâm lý của khái niệm hứng thú Ông chỉ ra rằng: Khái niệm “Hứng thú” bao hàmmột số lượng lớn các quá trình mang nhiều nét đặc trưng riêng biệt không thể kể mộtvài nét đặc trưng chung Liệt vào đây có cả hứng thú của trẻ với các trò chơi, các sựvận động, hứng thú tìm giải đáp cho câu đố, tìm ra cái mới, cái bí ẩn, hứng thú củangười chơi giành chiến thắng, hứng thú chơi cờ, chơi bóng đá, hứng thú biểu diễn,hứng thú đọc truyện Cũng bằng khái niệm “Hứng thú” này, Belaep giải thích và xácđịnh hứng thú của HS đối với các môn học, hứng thú của người nghệ sĩ với nghệ thuật,của nhà bác học đối với khoa học, của người công nhân đối với lao động của mình, củangười phi công với tài bay biểu diễn [24; 25]
- Năm 1911 nhà nghiên cứu X A Ananhin đã quan tâm và lo ngại cho tình trạng sửdụng bừa bãi khái niệm “Hứng thú”, thấy được tính phức tạp và đa dạng của vấn đề,hiểu được sự bất ổn định và lăn lộn của khái niệm này; do vậy họ hầu như muốn lãngtránh khái niệm “Hứng thú” [13;4]
- B M Chieplôp đã coi hứng thú là xu hướng ưu tiên chú ý vào một khách thể nào đó.Những người khác lại gần hứng thú với cảm xúc, thái độ (V A Miaxisep) với địnhhướng của cá nhân (A G Côvaliôp, G I Sukina) [13; 5]
Thứ hai, nghiên cứu sâu về hứng thú nhận thức, có các tác giả như:
- Năm 1966, I V Lepkôp đã có công trình nghiên cứu về vấn đề: “Sự hình thành hứngthú nhận thức cho HS trong quá trình công tác nghiên cứu địa phương”
- Năm 1971, G I Sukina [21] với công trình nghiên cứu về “Vấn đề hứng thú nhận thứctrong khoa học giáo dục” Tác giả đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức cùng với
Trang 30- Những công trình của A G Côvaliôp [5], A V Daparôgiet [7],…đã góp phần quantrọng trong nghiên cứu hứng thú nói chung, hứng thú nhận thức nói riêng.
Thứ ba, nghiên cứu về hứng thú học tập các môn học của HS.
Các nhà nghiên cứu như K Đ Usinxky, A I Ghecxen, V G Bêlinxky, N G.Secnưsepxky, N A Đapraliulop luôn luôn thấy được ảnh hửng lớn lao của hứng thú tớichất lượng học tập, mà việc lĩnh hội tri thức lại có quan hệ trực tiếp với tình trạngkhông có hứng thú học tập và người GV không khơi dậy được hứng thú đó [13; 4]
- Năm 1955, công trình nghiên cứu của A Packhudop về vấn đề “Sự phụ thuộc giữa trithức của HS và hứng thú học tập”
- Năm 1964, N I Ganbiro đã nghiên cứu đề tài: “Vận dụng hứng thú như là một phươngtiện để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tiếng Nga”
- Năm 2004, Linnell, Chares C đã nghiên cứu: “Nâng cao hứng thú của trẻ em trong việchọc môn Toán với công nghệ hiện đại theo phương pháp tích cực” Theo họ, những đứatrẻ cần được chỉ cho thấy ích lợi của việc học môn Toán Để lĩnh hội việc học mônToán theo phương pháp mới thì những khái niệm trong kỹ năng học môn Toán của HS
có thể được truyền sang cho nhau
Bước đầu làm quen với môn Toán có thể tạo cho HS cảm thấy thích thú hơn bằngcách tìm những yếu tố tương quan trong việc học môn Toán với công nghệ hiện đại theophương pháp tích cực và lĩnh hội xem môn Toán được sử dụng như thế nào trong tất cảcác hệ thống của khoa học công nghệ: Chế tạo, xây dựng, vận chuyển, giao tiếp, thiết kế
và kỉ luật mà thực tế HS cần: Nhìn thấy, chạm vào, vận động (thao tác), phương pháp vàhiểu được giá trị của môn Toán Họ làm điều này bằng cách đếm và tính thứ bậc củanhững sự cản trở và sự vận dụng, việc phân loại một tập hợp những chi tiết: Kích thước,hình dáng, màu sắc, bởi cách sử dụng, ứng dụng sự tính toán và những kĩ năng Những
GV giảng dạy cơ bản biết rằng: Những đứa trẻ có suy nghĩ khác nhau về khái niệm củamôn Toán hơn là những SV và những người trưởng thành [27; 1-2]
Thứ tư, các con đường, phương pháp nghiên cứu hứng thú, tác động đến hình thành, phát triển hứng thú.
- L I Bôzôvich, N A Beelacve và những nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, thuật ngữ
“Hứng thú” được sử dụng vô cùng rộng rãi Thường trong cùng một khái niệm bao hàm
cả những nội dung hoàn toàn khác nhau được đưa vào các dạng hoạt động cũng khácnhau: Hoạt động chơi, giải trí, học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất,… Hơn thế nữa
Trang 31ngay cả những trạng thái hoàn toàn khác nhau của con người như say mê công việc,yêu thích hoạt động, thiên hướng ngành nghề, cũng được gọi là hứng thú có nghĩa làbất cứ một thái độ đúng đắn nào đối với hoạt động, đối với một đối tượng hoặc mộtkhách thể nào đó cũng được gọi là hứng thú Các tác giả cũng cho rằng có nhiều ngườicòn lẫn lộn hứng thú với tính tò mò, tính ham hiểu biết, ở đây không có sự phân biệtnhững giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú ở cùng một con người [13; 3]
- Michael Atiyah, người đã đạt giải Abel về Toán học tương đương với giải Nobel đã thể
hiện sự lo lắng về năng lực của GV cũng như việc giảng dạy Toán học trong nhữngnăm gần đây, Ông cho rằng: “Tất cả những trò chơi có tính Toán học đều tốt cho việctạo hứng thú học Toán ở trẻ em”
- Năm 2006, các tác giả Sandstrom Kjellin, Margareta; Granlund, Mats đã nghiên cứu
nhiều trường hợp những đứa trẻ khác nhau gặp khó khăn đối với các em trong việc đọc
và viết nhằm phát hiện đặc tính về mức độ của sự hấp dẫn qua những hoạt động tronglớp Mục đích của nghiên cứu nhằm tìm ra sự giống nhau giữa “Việc dạy đọc và viếtmột cách có hiệu quả”; qua đó cũng thấy được sự thể hiện của hứng thú và sự quan sátcủa những đứa trẻ, cũng như trình hiểu biết của chúng trong từng bản chất khác nhaucủa các hoạt động trên lớp [28;3]
Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, chứng tỏ các nhà tâm lý học ở cácnước đã rất quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận của hứng thú cũng như việc ápdụng chúng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường để phát triểnhứng thú nhận thức của học sinh
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú,theo một số hướng sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận mang tính đại cương của hứng thú thể hiện trong tàiliệu tâm lý học đại cương
- Từ những năm 1960, các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân trong cuốn “Tâm
lý học giảng dạy” ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến những vấn đề lý luậnchung về hứng thú
Nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp
- Năm 1973, luận án Phó Tiến sĩ của Phạm Tất Dong đã nghiên cứu hứng thú nghềnghiệp của học sinh nữ ở ba thành phố Matxcơva, Mytsưsin, Hà Nội Kết quả nghiêncứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú nghề nghiệp giữa nam và nữ, hứng thú nghềnghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và công táchướng nghiệp trong các trường phổ thông không được thực hiện nên các em HS chịunhiều thiệt thòi Hứng thú học tập các bộ môn của HS là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướngnghiệp một cách khoa học [5]
Trang 32- Năm 1993, Nguyễn Công Vinh với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học tập và nguyên nhânhứng thú đối với môn Tâm lý của sinh viên ba trường Đại học Sư phạm, Trung học Sưphạm, Trung học Sư phạm mầm non thành phố Hồ Chí Minh”
Ngoài ra còn có các tác giả sau: Nguyễn Thúy Hường với “Hứng thú học môn giáodục học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang”, hay “Hứng thú học mônTin học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội” của Phan Hạnh Dung
Nghiên cứu hứng thú các môn học ở HS phổ thông, có tác giả:
- Năm 1969, Lê Ngọc Lan tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh đối với môn Toán vàkiểm nghiệm biện pháp giáo dục của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đối với
HS thông qua hoạt động ngoại khóa của Đội dưới hình thức kể chuyện, do GV chỉ đạonhằm nâng cao hứng thú học môn Toán của HS cấp 2 [10]
- Năm 1970, tác giả Phạm Huy Thụ nghiên cứu vấn đề “Hiện trạng hứng thú học tập cácmôn học của HS cấp II” Ông đã tìm hiểu sự phân hóa hứng thú học tập đối với cácmôn học của HS cấp II và phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú họctập của các em
- Năm 1974, Tổ Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm HàNội I đã nghiên cứu: “Hứng thú học tập của HS cấp III đối với các môn học cụ thể” kếtquả cho thấy hứng thú học tập các môn học của HS cấp III là không đồng đều
- Năm 1977, công trình của tác giả Phạm Ngọc Quỳnh với đề tài: “Hứng thú với mônVăn của HS cấp II” đã nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân gây hứng thú học Văn vànhững nguyên nhân làm cho không hứng thú học Văn Từ đó, tác giả đưa ra giải phápnhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn cho HS THCS
- Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học Văn của HSlớp 10 và lớp 11 ở một số trường phổ thông cấp 3 thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả đềxuất 5 biện pháp gây hứng thú cho HS: GV phải nâng cao lòng yêu người, yêu nghề vàrèn luyện tay nghề, tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho HS, tổ chức các giờ dạy mẫu,chương trình phải hợp lý và động viên HS tích cực tham gia các hoạt động văn hóanghệ thuật
- Năm 1988, tác giả Vũ Thị Nho đã tiến hành thực nghiệm hình thành hứng thú và nănglực học Văn ở HS lớp 6 [14]
- Năm 2000, tác giả Trần Công Khanh đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề thực trạng hứngthú học môn toán của HS THCS, kết quả cho thấy đa số HS trong diện điều tra chưa cóhứng thú học môn Toán, từ đó tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứngthú học toán của HS Trung học cơ sở [9]
Nghiên cứu hứng thú học tập của HS tiểu học
- Năm 1984, tác giả Trần Thị Thanh Hương đã tiến hành thực nghiệm “Nâng cao hứngthú học Toán của HS qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của HS”
Trang 33- Năm 1996, tác giả Đào Thị Oanh và nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa
“Hứng thú học tập và sự thích nghi với cuộc sống nhà trường của HS tiểu học” [15]
Có thể nói, cho đến nay đã có nhiều luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ và một số đềtài nghiên cứu về hứng thú Kết quả cho thấy hứng thú của các em HS tiểu học đang đượcquan tâm rất nhiều.Tuy nhiên, ở nước ta các công trình nghiên cứu về hứng thú chỉ tậptrung vào đại thể, chưa chú ý đến đặc điểm hứng thú học tập môn Toán của HS tiểu họctrên từng địa bàn, cũng như ở từng trường Vì kết quả học tập môn Toán ở từng địaphương là khác nhau nên hứng thú học tập môn Toán cũng khác nhau, nếu nắm bắt đượcthực trạng hứng thú học tập môn Toán của HS tiểu học ở từng địa phương sẽ góp phầnnâng cao chất lượng học tập, đồng thời cũng tìm ra những giải pháp tối ưu giúp những HS
đang còn yếu kém ở môn Toán tiến bộ hơn Chính vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học ở thị xã Thuận An, Bình Dương”.
1.2 Cơ sở lí luận về thực trạng hứng thú trong học tập của học sinh TH
1.2.1 Khái niệm chung về hứng thú
Là một hiện tượng tâm lí phức tạp, được thể hiện khá rộng rãi trong thực tiễn cuộcsống cũng như trong các ngành khoa học, hứng thú là một vấn đề đã được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu Do đứng trên những quan điểm và góc độ khác nhau mà cácnhà khoa học có nhiều quan điểm không giống nhau về khái niệm này
1.2.1.1 Định nghĩa hứng thú
Theo một số nhà tâm lí học phương Tây thì hứng thú là thuộc tính có sẵn của conngười, quá trình lớn lên của cá nhân cũng là quá trình bộc lộ dần thiên hướng của họ Họquan tâm đến khái niệm hứng thú trên cơ sở bản chất sinh học của con người, nhưI.Phrebac đã coi hứng thú là thuộc tính có sẵn, mang tính bẩm sinh của con người [23].U.Giem xơ cho rằng: Hứng thú có nguồn gốc sinh vật, còn Fransiska, Baumgasten quanniệm: Hứng thú là trường hợp riêng biệt của thiên hướng
E.K.Strong cho rằng: hứng thú được biểu hiện trong xu thế của con người có mongmuốn học được một số điều nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướngtính tích cực nhất định vào những hoạt động đó [25; 55]
D Super thì quan niệm: “Hứng thú không phải là thiên hướng, không phải là néttính cách của cá nhân, mà đó là một cái gì khác, riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tínhcách, riêng rẽ với cá nhân” Như vậy, hứng thú được coi như một thuộc tính tâm lý có tínhđộc lập tương đối của nhân cách, nó có bản chất riêng
Trong các công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học người Đức Ch Buhler thì
“Hứng thú được coi là một từ không những để chỉ toàn bộ những hành động khác nhau,
mà hứng thú còn chỉ cả cấu trúc, bao gồm các nhu cầu” [23] Ông thừa nhận vai trò to lớncủa hứng thú đối với hoạt động của con người và xác định có sự tham gia của chú ý vàthiên hướng vào hứng thú Còn W D Frohlich thì coi hứng thú là cơ sở của giáo dục
Trang 34Nhà tâm lý học người Mỹ Guilford đã cho rằng: Hứng thú là một trong bảy mặtcấu tạo nên nhân cách, hứng thú là những ham muốn ổn định trong các hoạt động nhấtđịnh [17; 10]
Gần đây, một số tác giả như: Baram – Tsabari, Sethi, Ricky J; Bry, Lynn; Yarden,Anat cho rằng: Hứng thú là động cơ thúc đẩy năng lực của con người Tuy nhiên, nhữngnhà giáo dục thường không có những thông tin cần thiết để tạo ra sức mạnh của nhữnghứng thú đặc trưng ở HS trong quá trình tổ chức giảng dạy khoa học Chương trìnhnghiên cứu này đề nghị một phương pháp học mới, mà phương pháp này có thể có ích choviệc nhận ra những khía cạnh hứng thú khác như: Sử dụng khả năng bẩm sinh của nhữngđứa trẻ thông qua một số câu hỏi như là một sự biểu thị của hứng thú có khoa học của trẻem
Tóm lại, theo các nhà tâm lý học nêu trên thiên về việc coi hứng thú là thuộc tính
có sẵn của con người gắn liền với cơ sở sinh học; quá trình lớn lên của cá nhân cũng làquá trình bộc lộ dần thiên hướng, hứng thú của họ Khái niệm hứng thú dựa trên cơ sở bảnchất sinh học của con người nên dẫn tới các quan niệm cho rằng: Hứng thú là sự pháttriển tự nhiên của con người, chưa chú ý đến vai trò của giáo dục và hoạt động có ý thứccủa con người trong quá trình hình thành, phát triển của hứng thú, nhất là đối với trẻ em,với HS
* Khác với quan điểm của các nhà tâm lý học trên, các nhà tâm lý học theo quanđiểm mác xít cho rằng, hứng thú không phải là cái gì trừu tượng, hoặc những thuộc tínhsẵn có trong nội tại của mỗi cá thể, mà nó là kết quả của quá trình hình thành nhân cách ởmỗi người, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở cá nhân Thái độ đóxuất hiện là do kết quả của sự ảnh hưởng qua lại giữa điều kiện sống và hoạt động củamỗi cá nhân Chính vì vậy mà nguyên nhân gây ra hứng thú rất đa dạng khiến cho kháiniệm “hứng thú” có nhiều cách lý giải khác nhau ở các tác giả khác nhau
Nhóm “khuynh hướng”
Một số nhà tâm lý học đã cho rằng: Hứng thú là khuynh hướng lựa chọn, khuynhhướng chú ý ở con người (T Ribô, N P Đôbrưnhin); hay hứng thú là khuynh hướng ưutiên chú ý vào một khách thể nào đó (B M Chieplôp) [13; 5]; hứng thú biểu hiện như làkhuynh hướng tác động một cách có hiểu biết, có ý thức đối với các khách thể mà conngười định hướng vào đó (X L Rubinstein) V G Ivanôv, V G Ackhipôv,
Còn theo A V Daparogiet, “Hứng thú là khuynh hướng của sự chú ý tới nhữngđối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng càng tỉ mỉ càng hay” [3; 281]; P ARuđich đã xem “Hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thứcnhững hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướngtương đối cố định của con người đối với các loại hoạt động nhất định”
N Leonchiep xem hứng thú là thái độ nhận thức đặc biệt đối với đối tượng hoặchiện tượng của hiện thực khách quan; A A Liublinxkaia cho rằng: “Hứng thú là thái độ
Trang 35Nhà tâm lý học A Kossakowski đã coi hứng thú hướng tính tích cực tâm lý vàonhững đối tượng nhất định với mục đích nhận thức chúng, tiếp thu những tri thức và nắmnhững hành động phù hợp Hứng thú biểu hiện mối quan hệ có tính chất lựa chọn đối vớimôi trường và kích thích con người quan tâm tới đối tượng, tình huống, hành động quantrọng, có ý nghĩa đối với mình hơn là tới những đối tượng hành động khác.
L A Gôđơn coi “Hứng thú là sự kết hợp độc đáo của các quá trình tình cảm- ý chí
và các quá trình trí tuệ, khiến cho tính tích cực nhận thức và hoạt động của con ngườiđược nâng cao” [8; 22]; A G Côvaliôv định nghĩa: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cánhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và sự hấp dẫn vềtình cảm của nó” [2; 100]
Như vậy, khái niệm hứng thú được các nhà tâm lý học sử dụng khá rộng rãi và cóđiểm chung là chú ý tới bản chất hoạt động tâm lý hướng vào đối tượng khách quan;nhưng trong đó có một số quan niệm ít nhiều khác biệt: có tác giả đã thu hẹp khái niệmhứng thú, qui hứng thú vào giới hạn của hoạt động nhận thức; có tác giả gắn hứng thú vớicác quá trình chú ý, tình cảm hay ý chí Hiểu một cách đầy đủ, hứng thú không phải chỉ
là nhu cầu nhận thức, thái độ nhận thức hay xu hướng của chú ý mà hứng thú có quan hệmật thiết với các quá trình, trạng thái và những thuộc tính tâm lý đó
Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú trong mối quan hệ vớitoàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân Sau này, các nhà tâm lý học đã đưa ra định nghĩatương đối hoàn chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đốivới một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lạixúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động" [18; 187]
Quan điểm về hứng thú của các nhà tâm lý học trong nước
Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có hứng thú vềmột cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc
Trang 36sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôicuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận, đi sâuvào nó
Trong khi đó, Nguyễn Quang Uẩn đã đưa ra một khái niệm tương đối thống nhất
“Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đốivới cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạtđộng” [19; 204] Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thúvới hoạt động của cá nhân
Từ những quan điểm hứng thú của tác giả, có thể thấy các tác giả đều có khái niệmhứng thú như sau:
“Hứng thú là thái độ nhận thức đặc biệt đối với đối tượng nào đó vừa có giá trị vừa
có sức hấp dẫn kích thích con người hành động”
Như vậy, hứng thú của cá nhân được hình thành trong hoạt động và sau khi đãđược hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động Vì lý do trên, hứng thútạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra nó Khát vọng nàyđược biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào cái làm cho mình hứng thú,hướng dẫn và điều chỉnh các quá trình tâm lý theo một hướng xác định Do đó, tích cựchóa hoạt động của con người theo hướng phù hợp với hứng thú nên dù phải vượt quamuôn ngàn khó khăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao Chúng tôi lựa
chọn định nghĩa: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” [19; 204] của Nguyễn Quang Uẩn làm khái niệm công cụ cho đề tài
nghiên cứu
1.2.1.2 Cấu trúc của hứng thú
Phân tích cấu trúc của hứng thú, N G Marôzôva đã nêu ra ít nhất 3 yếu tố, đặctrưng cho hứng thú [13; 5]
* Có xúc cảm đúng đắn đối với hoạt động
* Có khía cạnh nhận thức của xúc cảm này (được gọi là niềm vui tìm hiểu và nhậnthức)
* Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tức là hoạt động tự nó lôicuốn và kích thích, không phụ thuộc vào các động cơ khác Những động cơ khác (động cơtinh thần, nghĩa vụ phải thực hiện, yêu cầu của xã hội ) có thể hỗ trợ, làm nảy sinh vàduy trì hứng thú, nhưng những động cơ đó không xác định được bản chất của hứng thú
Ba thành tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá nhân Ởmỗigiai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi thành tố đó có thể nổi lên mạnh hay yếu,
ít hay nhiều
Những năm gần đây, có nhiều nhà tâm lý học đã nghiêng về cách giải thích cấutrúc hứng thú; tán thành với sự phân tích của N G Marôzôva Một số tác giả thấy rằng,trong rất nhiều trường hợp, hứng thú phải có 3 yếu tố kể trên
Trang 37Bất kỳ một hứng thú nào cũng đều có khía cạnh nhận thức bao hàm thái độ nhậnthức của cá nhân đối với đối tượng, ở một mức độ nhất định thì khi thích thú một đốitượng nào đó, con người đều muốn hiểu biết nó kỹ hơn, sâu sắc hơn Do đó, không có yếu
tố nhận thức thì không thể có hứng thú Ngược lại, hứng thú là một điều kiện để nhậnthức đối tượng một cách cơ bản hơn, sâu sắc hơn Tuy nhiên, không thể quy hứng thú vềthái độ nhận thức, bởi vì ngoài hứng thú trực tiếp (hứng thú với quá trình nhận thức) conngười còn có hứng thú gián tiếp - hứng thú của cá nhân tập trung vào kết quả hoạt động.Hơn nữa ở con người còn có hứng thú nhằm chiếm lĩnh đối tượng, nhất là những loạihứng thú với đối tượng vật chất
Thái độ xúc cảm với đối tượng là một dấu hiệu không thể thiếu được của hứng thú,song thái độ nhận thức không thể thay thế cho hứng thú, mà phải có sự kết hợp chặt chẽgiữa thái độ nhận thức và thái độ xúc cảm của cá nhân đối với đối tượng của hoạt động thìmới có thể có hứng thú Tuy nhiên không phải bất kỳ thái độ cảm xúc nào cũng gây nênhứng thú Niềm vui nhất thời diễn ra trong chốc lát chưa phải là biểu hiện của hứng thú ổnđịnh mà “chỉ có những biểu hiện của cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân đối với đốitượng mới có thể trở thành một dấu hiệu, một mặt không thể thiếu được của hứng thú" [4;227]
Trong khi nêu định nghĩa hứng thú, nhiều tác giả đã đề cập đến đặc trưng thứ bacủa hứng thú Coi hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ, bền vững tới tính tích cực của
cá nhân Do ảnh hưởng của nguồn kích thích này mà các quá trình tâm lý diễn ra khẩntrương căng thẳng, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả cao Nhờ có hứngthú mà cá nhân có thể vượt qua được khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình hoạtđộng để đạt được mục đích đã đặt ra
Tóm lại, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm hứng thú, nhưng đều coihứng thú được biểu hiện ở trạng thái tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê, sự hấp dẫn bởinội dung hoạt động, ở bề dày, chiều sâu của sự yêu thích; hứng thú làm nảy sinh khátvọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, làm tăng sức làm việc vàluôn đạt hiệu quả cao nhất
1.2.1.3 Phân loại hứng thú
Tùy theo góc độ xem xét vấn đề mà có nhiều cách phân loại khác nhau:
Căn cứ vào hiệu quả hứng thú, chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú thụ động: còn gọi là hứng thú lĩnh quan, là loại hứng thú nằm ở việcchi giác đối tượng gây nên hứng thú, không thể hiện mặt tích cực dể nhận thức sâu hơndối tượng, làm chủ đối tượng và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hấp thụ
+ Hứng thú tích cực: không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, mà laovào hoạt đông với mục đích chiếm lĩnh đối tượng Nó là một trong những nguồn, kíchthích sự phát triển nhân cách, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, nguồn gốc của sự sáng tạo
Căn cứ vào đói tượng nội dung hoạt động, chia ra làm 5 loại:
Trang 38+ Hứng thú xã hội-chính trị: Hứng thú một lĩnh vực hoạt đông chính trị
+ Hứng thú mĩ thuật: Hứng thú về cái hay, cái đẹp như văn học, phim ảnh, canhạc
Căn cứ vào khối lượng của hứng thú, chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú rộng: Bao quát nhiều lĩnh vực, nhiều mặt nhưng thường không sâu.+ Hứng thú hẹp: Hứng thú với từng mặt, từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể
Trong cuộc sống cá nhân chỉ có hứng thú hẹp, mà không có hứng thú rộng, thìnhân cách của họ sẽ không toàn diện, song chỉ có hứng thú rộng, thì sự phát triển nhâncách cá nhân sẽ hời hợt, thiếu sự sâu sắc Do vậy, đòi hỏi cá nhân phải có hứng thú rộng -hẹp
Căn cứ vào tính bền vững chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú bền vững: Thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu sắcnghĩa vụ và thiên hướng của mình, nó thể hiện tính ổn định và lâu dài Trong thực tế,thường gặp những người mà loại hứng thú của họ, kết hợp với nhau theo một cách nhấtđịnh, tiêu biểu cho họ
+ Hứng thú không bền vững: Thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối tượnghứng thú Những người có hứng thú này thường dễ thay đổi hứng thú
Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thể hiện thái độ thận trọng, có trách nhiệm với hoạtđộng, công việc mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mứchoàn hảo đối tượng của mình
+ Hứng thú hời hợt, bên ngoài: Đây là những người qua loa, đại khái trong quátrình nhận thức cũng như trong hoạt động
Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp: Hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, ít chú ý đếnkết quả hoạt động như: Hứng thú với quá trình nhận thức, quá trình lao động và hoạt độngsáng tạo
+ Hứng thú gián tiếp: Hứng thú với kết quả hoạt động, chứ không tham gia trựctiếp vào quá trình đó
Hứng thú đạt mức lí tưởng, thường có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tích cực vàtính bền vững, giữa chiều rộng và chiều sâu Người có hứng thú lí tưởng là có một hứng
Trang 39thú trung tâm sâu sắc, trong cuộc sống và hứng thú đó dựa trên những hứng thú rộng rãi
và nhiều mặt
1.2.1.4 Mối quan hệ giữa khái niệm hứng thú với một số khái niệm khác
Hứng thú là một thuộc tính của xu hướng trong nhân cách Do đó, nó không tồn tạiriêng lẻ, mà quan hệ chặt chẽ với các thuộc tính khác của xu hướng và các đặc điểm, trạngthái tâm lí khác như:
Hứng thú và nhu cầu
Một số nhà tâm lí học đã đồng nhất hứng thú với nhu cầu, do đó chúng có một sốđặc điểm chung nhưng thực chất chúng không đồng nhất với nhau
Giữa chúng có một số điểm khác biệt:
+ Hứng thú luôn có dấu hiệu cảm xúc tích cực đi kèm theo, nhu cầu không cần yếu
sự hấp dẫn, thì hứng thú sẽ được hình thành
Hứng thú với tình cảm
Xúc cảm, tình cảm là dấu hiệu đặc trưng của hứng thú Hứng thú có thể nảy sinhdưới tác động của tình cảm Nhưng hứng thú không phải là xúc cảm, tình cảm Hứng thúcòn gắn liền với sự nhận thức tầm quan trọng của nhận thức đối với cuộc sống cá nhân
Hứng thú với hoạt động nhận thức
Hứng thú là động lực thúc đẩy con người, tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệuquả Hứng thú làm tích cực hóa các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ tư duy, tưởngtượng ) giúp cho sự nhận thúc về đối tượng đó sâu sác hơn Nhận thức về đối tượng, về ýnghĩa của nó là một trong yếu tố làm nảy sinh hứng thú Tuy nhiên, giữa hứng thú và hoạtđộng nhận thức không đồng nhất với nhau Bởi vì, con người còn có hứng thú giao tiếp
Trang 40tố dẫn đến tài năng Năng lực là cơ sở hình thành và duy trì, phát triển hứng thú.
Tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thật sự sâu sắc, đầy đủ Nói chung,hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài, nếu không có những năng lực cần thiết để thỏamãn hứng thú
1.2.2 Khái niệm hứng thú học tập
Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượngcủa hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trongquá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân
1.2.3 Biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức với xúc cảm tích cực và hành động, nghĩa là
có sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tích cực hoạt động với đốitượng Như vậy, hứng thú học tập được biểu hiện qua ba mặt: Nhận thức về đối tượng,thái độ đối với đối tượng và thể hiện hành vi để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng
Đồng thời, nhà tâm lí học N.G.Marôzôva cho rằng để phát hiện ra hứng thú học tập
có thể căn cứ vào 3 nhóm dấu hiệu dưới đây [12]
+ Những dấu hiệu đặc thù riêng về hứng thú, đó là những biểu hiện về hành vi vàhoạt động của chủ thể trong quá trình học tập trên lớp
+ Những dấu hiệu của hứng thú có liên quan với sự thay đổi hành vi của cá nhân ởngoài giờ học
+ Những dấu hiệu liên quan tới cách sống cá nhân ở nhà là biểu hiện độ bền vững,phát triển cao của hứng thú học tập