1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào đấu tranh của trí thứcthủ dầu một (1954 – 1975)gvhd huỳnh tâm sángsvth đoàn thị như thủy nguyễn thị ngọc mai nguyễn thị bích như ngô thị xuân hườngthuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văntrang 1

102 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975)
Tác giả Đoàn Thị Như Thủy, Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Bích Như, Ngô Thị Xuân Hường
Người hướng dẫn P. T. S. Huỳnh Tâm Sáng
Trường học Trường đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Lịch sử và Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thủ Dầu Một
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 541,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Bố cục Chương 1: Khái quát về tỉnh Thủ Dầu Một và khái niệm về trí thức (5)
    • 1.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Thủ Dầu Một (19)
      • 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Thủ Dầu Một (19)
      • 1.1.2. Bối cảnh xã hội trước năm 1954 (21)
    • 1.2. Khái niệm về trí thức (25)
  • Chương 2: Trí thức Thủ Dầu Một trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1965) (19)
    • 2.1. Trí thức Thủ Dầu Một từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève tiến tới “đồng khởi” năm 1960 (1954-1960)...............33 1. Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Genève .33 (29)
    • 2.2. Trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn chống chiến lược “Chiến (44)
      • 2.2.1. Cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị của trí thức Thủ Dầu Một (45)
      • 2.2.2. Trí thức Thủ Dầu Một bước đầu xây dựng hậu phương cách mạng ở chiến khu (56)
    • 2.3. Trí thức Thủ Dầu Một trong đấu tranh trực diện chống đế quốc Mĩ xâm lược (1965-1972) (61)
      • 2.3.2. Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ (66)
    • 2.4. Trí thức Thủ Dầu Một trong việc góp phần đánh bại đế quốc Mĩ, hoàn thành thống nhất đất nước (1973-1975) (71)
      • 2.4.1. Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Pariss. 83 2.4.2. Trí thức Thủ Dầu Một đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Pariss sau năm 1973 (71)
      • 2.4.3. Trí thức Thủ Dầu Một góp phần xây dựng lực lượng hậu phương vững chắc tiến tới giành thắng lợi trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 (76)
    • 3.1. Vai trò của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóng dân tộc (78)
    • 3.2. Đặc điểm của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóng dân tộc (83)
  • Kết luận (18)

Nội dung

- Bước đầu đưa ra những nhận xét, kinh nghiệm từ phong tràođấu tranh cách mạng giai đoạn 1954 – 1975 để tạo cơ sở khoa họcgóp phần cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về nhữngđó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Nguyễn Thị Ngọc Mai Nguyễn Thị Bích Như Ngô Thị Xuân Hường

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và nhân văn

Trang 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Trí thức Thủ Dầu Một trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1965) 33

2.1 Trí thức Thủ Dầu Một từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệpđịnh Genève tiến tới “đồng khởi” năm 1960 (1954-1960) 332.1.1 Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Genève.33

Trang 3

2.1.2 Phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève.38

2.1.3 Trí thức Thủ Dầu Một từng bước củng cố xây dựng lực lượngcách mạng tiến tới “đồng khởi” 452.2 Trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn chống chiến lược “Chiếntranh đặc biệt” của Mĩ (1961-1965) 542.2.1 Cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị của trí thức Thủ DầuMột 552.2.2 Trí thức Thủ Dầu Một bước đầu xây dựng hậu phương cáchmạng ở chiến khu 662.3 Trí thức Thủ Dầu Một trong đấu tranh trực diện chống đế quốc Mĩxâm lược (1965-1972) 71 2.3.1 Trí thức Thủ Dầu Một đấu tranh chống chiến lược “Chiếntranh cục bộ” của Mĩ 732.3.2 Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một trong giaiđoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ 792.4 Trí thức Thủ Dầu Một trong việc góp phần đánh bại đế quốc Mĩ,hoàn thành thống nhất đất nước (1973-1975) 832.4.1 Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Pariss.83

2.4.2 Trí thức Thủ Dầu Một đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệpđịnh Pariss sau năm 1973 852.4.3 Trí thức Thủ Dầu Một góp phần xây dựng lực lượng hậuphương vững chắc tiến tới giành thắng lợi trong cuộc tổng tiến công

và nổi dậy mùa xuân năm 1975 90

Trang 4

Chương 3: Vai trò và đặc điểm của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóng dân tộc giai đoạn 1954 – 1975 93

3.1 Vai trò của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóng dântộc 933.2 Đặc điểm của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóngdân tộc 96

Trang 5

sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc.

Cách mạng Việt Nam từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

đã được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng Trong đó, lựclượng trí thức yêu nước đã tiên phong và tự nguyện đứng vào hàngngũ của Đảng Tầng lớp trí thức cùng với các tầng lớp và giai cấpkhác đã tạo thành mặt trận đoàn kết “toàn dân và toàn diện” để làmnên những chiến thắng vẻ vang cho dân tộc Cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đặc biệt là công cuộc đấu tranh chống đếquốc Mĩ xâm lược là những ví dụ điển hình và vô cùng sinh động chophong trào đoàn kết đấu tranh của nhân dân Riêng đối với trí thứctrên địa bàn Thủ Dầu Một trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ từ1954-1975, do những điều kiện của lịch sử dân tộc mà lực lượng tríthức Thủ Dầu Một đã có sự chuyển biến sâu sắc về mặt chính trị; qua

đó đóng góp vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng Thủ DầuMột nói riêng và miền Nam nói chung

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước cùng nhau hăng saytiến hành xây dựng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Nhận thức được tráchnhiệm và vai trò của mình, lực lượng trí thức đã đi đầu trong việc

1 Thân Nhân Trung, Bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442).

Trang 6

nâng cao dân trí, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật để xâydựng và kiến thiết nước nhà Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng

định: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến

quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần” Theo Người: “Muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phải cần các kỹ sư” 1 Vìvậy mà đội ngũ trí thức có vai trò quyết định đóng góp tài năng vàsức lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới đấtnước, xây dựng xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh” Thực tiễn lịch sử mang lại nhận thức đúng đắn rằng

“trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cách mạng đều rất cần đến học vấn,tài năng và tâm huyết, sức lực của giới trí thức”2 Từ đây, đội ngũ tríthức sẽ đồng hành cùng dân tộc tiến hành cuộc cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân và tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa

Với mong muốn có cái nhìn sâu sắc và hoàn thiện hơn về lựclượng trí thức ở Thủ Dầu Một và cũng nhằm cung cấp nhận thức khoahọc và hệ thống về hoạt động và vai trò của trí thức Thủ Dầu Mộttrong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, chúng tôi đã chọn đề tài

“Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975)” để

nghiên cứu

Làm rõ diện mạo của phong trào đấu tranh của trí thức Thủ DầuMột không những góp phần nhận diện và làm rõ những đóng góp củatrí thức Thủ Dầu Một mà qua đó còn cho thấy một lát cắt lịch sử củaphong trào đấu tranh của trí thức Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1954– 1975 Thêm nữa, việc nghiên cứu và đánh giá đúng vai trò vànhững đóng góp của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào đấu tranhcách mạng giai đoạn 1954 – 1975 sẽ tạo điều kiện cho việc:

1 Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, t.7, NXB Sự thật, Hà Nội, tr 374.

2 Lê Văn Điện, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng”, Tạp chí Xây

http://www.xaydungdang.org.vn/Home/Lyluan-Thuctien-Kinhnghiem/2012/5235/Tu-tuong-Ho-Chi-Minh-ve-vi-tri-vai-tro-cua-tri.aspx , truy cập ngày 3/3/2015.

Trang 7

- Hệ thống hóa toàn bộ lịch sử đấu tranh cách mạng và nhữngđóng góp của trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn 1954 – 1975 Từđây, ý nghĩa lịch sử của đề tài sẽ được làm rõ.

- Rút ra những đặc điểm chính từ “Phong trào đấu tranh của trí

thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975)” Những thành tựu, hạn chế và bài

học rút ra từ việc nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở quan trọng để đónggóp cho việc xây dựng đội ngũ trí thức trong công cuộc hiện đại hóađất nước thời hiện đại

- Làm rõ những đóng góp của trí thức địa phương trong một giaiđoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Đề tài sẽ góp phần vào bứctranh tổng thể nghiên cứu phong trào đấu tranh của trí thức Thủ DầuMột nói riêng và trí thức Đông Nam Bộ nói chung

- Bước đầu đưa ra những nhận xét, kinh nghiệm từ phong tràođấu tranh cách mạng giai đoạn 1954 – 1975 để tạo cơ sở khoa họcgóp phần cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về nhữngđóng góp của trí thức Thủ Dầu Một trong công cuộc xây dựng và bảo

vệ đất nước hiện nay

- Công trình nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo và giảng dạy cho các môn học và chuyên đề có liên quan như:Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử trí thức Việt Nam, Lịch sử khángchiến Nam Bộ Xa hơn, những cá nhân và ban ngành quan tâm cóthể xem đây là đóng góp hữu ích để vận dụng vào thực tiễn điềuhành và quản lý tại địa phương và cơ sở cũng như hoạch định chiếnlược phát triển đội ngũ trí thức trong thời đại mới

Những nhiệm vụ và ý nghĩa nêu trên đã cụ thể hóa cho tầm

quan trọng của việc nghiên cứu đề tài: “Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954 – 1975)” Về tổng quát, đề tài đã cho

thấy được tính cấp thiết cả về cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng,nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa thì Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trang 8

đã ngày càng nêu cao vai trò của trí thức trong công cuộc hội nhậpquốc tế của đất nước.

Tác phẩm “Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” của tác giả Hồ Sơn Diệp (Nxb Đại học Quốc gia thành

phố Hồ Chí Minh, 2005) đã đi vào làm rõ vai trò của tầng lớp trí thứctrong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) Trong cuộc khángchiến ở Đông Nam Bộ, đại đa số trí thức đều tham gia kháng chiến;đặc biệt là đội ngũ trí thức ở Nam kỳ lục tỉnh như Bình Dương, BìnhPhước, Đồng Nai, Họ tham gia đấu tranh trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, Bác Hồ từng đánh giá vai trò của đội ngũ

trí thức như sau: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước

khác như thế, ở Việt Nam càng như thế Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài”1

1 Trả lời một nhà báo nước ngoài, ngày 22-6-1947, trong Một số lời dạy và mẫu chuyện về

tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, t.5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995,

tr 156.

Trang 9

Tác phẩm “Trí thức Sài Gòn - Gia Định 1945 – 1975” do tiến

sĩ Hồ Hữu Nhựt chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2002) đã tổng kếtlại những chặng đường cách mạng của giới trí thức trong sự nghiệpgiải phóng dân tộc Cuốn sách nói về hoạt động của đội ngũ trí thức

ở thành phố nói chung và ở bưng biền nói riêng (trong đó có Thủ DầuMột) trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng với những hình thức đấutranh đặc sắc trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế,… đánhnhững đòn càng lúc càng hiểm vào kẻ thù Ngoài ra cuốn sách cònnêu lên một số gương mặt trí thức tiêu biểu cho phong trào yêu nước

và cách mạng như Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Bính, Nguyễn Hữu Ba,Phạm Văn Bạch,… thể hiện ý chí anh hùng và trí tuệ Việt Nam trongthời đại mới Thời kì 1945-1975, tầng lớp trí thức Sài Gòn - Gia Định

đã không thờ ơ với sự nghiệp cứu nước, không đứng nhìn thời cuộc

mà họ đã tham gia đấu tranh từ đầu đến cuối của cuộc cách mạng,sớm hay muộn, mạnh hay yếu, có lãnh đạo hay tự phát, họ đã luônluôn đứng vào hàng ngũ cách mạng để đấu tranh, họ cùng sát cánhvới đồng bào mình chống kẻ thù xâm lược đến phút cuối cùng

Tác phẩm “Thủ Dầu Một Bình Dương đất nước – con người”

do tiến sĩ Hồ Sơn Diệp chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, HàNội, 2012) Sách nói về truyền thống đánh giặc ngoại xâm của cưdân Thủ Dầu Một – Bình Dương, tinh thần bất khuất trước quân xâmlược đã ngấm sâu vào trong mỗi con người, và khi tiếp thu ánh sángcủa chủ nghĩa Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, người dân BìnhDương đã đoàn kết một lòng dưới ngọn cờ Đảng Truyền thống cáchmạng cùng với địa thế chiến lược là điều kiện để ta tổ chức các trậnchiến quan trọng, xây dựng căn cứ kháng chiến Trong hoàn cảnhnhư vậy, con người Bình Dương (trong đó có phần lớn những người tríthức) đã được tôi luyện trong sự khốc liệt của chiến tranh, phát huy

sự đoàn kết, tài năng lãnh đạo góp phần làm nên những thắng lợi vẻvang như: chiến thắng Bến Cát, chiến thắng Phước Thành, chiến

Trang 10

thắng Đường Long, chiến thắng Đất Cuốc, phá ấp chiến lược BếnTượng,

Tác phẩm “Một số vấn đề về trí thức và nhân tài” của Phó

Giáo sư, Tiến sĩ Đức Vượng (NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội,2013) Nội dung sách đề cập tới việc xây dựng và phát triển đội ngũtrí thức là một trong những chiến lược trọng điểm của đất nước,thông qua một số chuyên đề nghiên cứu trong sách sẽ làm sáng tỏ tưtưởng Hồ Chí Minh về trí thức, quá trình đổi mới tư duy của Đảng vềvấn đề trí thức, đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ trí thức ViệtNam hiện nay, dự báo về khả năng phát triển của đội ngũ trí thứctrong giai đoạn 2011 – 2020, đưa ra một số biện pháp , kiến nghị đểgóp phần xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam đáp ứng nhu cầu của sựnghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Tác phẩm “Phụ nữ Bình Dương 45 năm đấu tranh giải phóng (1930 -1975)” do Ban chấp hành hội liên hiệp phụ nữ tỉnh

Bình Dương biên soạn (NXB Chính trị quốc gia, 2003) Trải qua haicuộc đấu tranh kháng chiến trường kỳ của dân tộc, bên cạnh nhữngđóng góp to lớn của nam giới, thì những đóng góp của phụ nữ cũngkhông kém phần quan trọng trong đó có phụ nữ tỉnh Bình Dương,phụ nữ tỉnh đã góp phần tô điểm lên những trang lịch sử hào hùngcủa dân tộc tiêu biểu như : Lưu Hồng Thoại, Nguyễn Thị Hiếu,…Mặtkhác cuốn sách đã ghi lại những đặc điểm truyền thống hào hùngcủa phong trào đấu tranh phụ nữ Thủ Dầu Một trong những nămkháng chiến chống ngoại xâm làm góp phần giáo dục truyền thốngcho các thế hệ sau, cùng tiếp bước xây dựng chính quyền cáchmạng

Tác phẩm “Phong trào đấu tranh chống Mĩ của giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn” của Hồ Hữu Nhựt do (Nxb Chính trị

Quốc gia – Sự thật, Hà Nội), nói về hoạt động yêu nước của giáo viên,học sinh, sinh viên ở Sài Gòn nói chung và ở các vùng tạm chiếm nói

Trang 11

riêng như ở Thủ Dầu Một, Đồng Nai, Mĩ Tho,… là một bộ phận đặcbiệt quan trọng của mặt trận đấu tranh chính trị công khai trong lòngđịch, trong kháng chiến chống Mĩ, một số giáo viên đứng ra vận độnggiáo viên, học sinh và nhân dân đấu tranh chống tố cộng, diệt cộng,chống bắt lính, đòi dân sinh dân chủ, họ đã cống hiến sức lực và trítuệ của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Tác phẩm “Lịch sử Đảng bộ thị xã Thủ Dầu Một tập II (1954 -1975)” do Đảng Cộng Sản Việt Nam, Ban chấp hành thị xã

Thủ Dầu Một biên soạn (Nxb Chính trị quốc gia, 1988) Bên cạnh Lịch

sử Đảng bộ thị xã Thủ Dầu Một tập I (1930 -1954) thì tập II đã tái tạohoàn cảnh lịch của thị xã Thủ Dầu Một trong những năm (1954 –1975), đây là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và trường kỳ củadân tộc ta trong tất cả các lĩnh vực mà nổi trội là cuộc đấu tranh củahọc sinh, sinh viên sau hiệp định genève 1954 và hiệp định Pariss1973

Tác phẩm “Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại” do Hàm

Châu biên soạn (Nxb Trẻ, 2014) trong tác phẩm đã giới thiệu 56gương mặt trí thức Việt Nam tiêu biểu, tất nhiên 56 gương mặt nàychỉ là một phần nào đó trong đông đảo các tầng lớp trí thức ra sứccống hiến cho dân tộc làm cho Việt Nam ngày càng tiến bộ Họkhông chỉ gồm những nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo, nghệ sĩ,

… họ đã lập thân tong bối cảnh đất nước có nhiều biến động nhưngkhông vì thế mà những nhà trí thức này chấp nhận số phận mà họtìm cách thích nghi với mỗi hoàn cảnh cụ thể nhằm vượt qua để xâydựng đất nước của mình văn minh, tiến bộ hơn Nhà văn hóa HữuNgọc đã đánh giá cuốn sách “một bức họa hoành tráng phản ánh giaiđoạn lịch sử Việt Nam đương đại”

Tác phẩm “Vấn đề Trí thức và cách mạng” tác giả Hồ Chí

Minh do (Nxb Sự thật, 1976) trong tác phẩm thể hiện cao sự quantâm sâu sắc đến lực lượng trí thức bồi dưỡng nâng cao của dân trí

Trang 12

trong toàn quốc Người từng nói “ Trí thức là vốn liếng quý báu củadân tộc”, người khẳng định trong sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh

đã khẳng định lực lượng cách mạng là chủ yếu là công nhân và nôngnhân, nhưng đồng thời trí thức cũng là lực lượng quan trọng của cáchmạng Trong tác phầm này chủ yếu thể hiện các lời kêu gọi của Báctrong Lời kêu gọi Xóa nạn mù chữ như “ Thư gửi anh chị em giáo viênbình dân học vụ, bên cạnh đó người còn gửi dến cán bộ giáo dục, họcsinh sinh viên các trường lớp bổ túc văn hóa” Sự quan tâm sâu sắccủa Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giáo dục đặt nền tảng cho sự pháttriển

Tác phẩm “Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng” do Giáo

sư Phạm Tất Dong, (Nxb Chính trị quốc gia,1995) qua tác phẩm thểhiện trí thức cách mạng và phát triển là ba vấn đề chính không thểtách rời nhau Sự đoàn kết giữa các tầng lớp nông-công-trí thức đãlàm nên nhiều cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chống giặc ngoạixâm Trong cuốn sách này thể hiện vai trò quan trọng của đội ngũ tríthức không ngừng nâng cao kiến thức của các tầng lớp khác công-nông dân dần dược trí thức hóa thực hiện nhiệm vụ cách mạng củamình Sau chặng đưởng cách mạng 50 năm xây dựng và bảo vệ Nhànước xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhân dân ta bắt tay vào sự nghiệpcông nghiệp hóa hiên đại hóa đất nước Điều này phụ thuộc vàochính sách giáo dục đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực và cũngnhư trình độ và nhân cách con người Việt Nam

Tác phẩm “Trí thức với Đảng Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước” tác giả Nguyễn Văn

Khánh (Nxb Thông tấn, 2012) tác phẩm thể hiện các vấn đề cụ thể

về trí thức Việt Nam qua quan diểm của chủ nghĩa Mác-Lenin và tưtưởng Hồ Chí Minh cũng như vai trò của trí thức trong sự nghiệp cáchmạng vô sản của mình.Trí thức thời nào cũng có trong giai đoạnphong kiến chưa hình thành nhiều và thể hiện ở mọi mặt trong đời

Trang 13

sống xã hội trước khi có Đảng lãnh đạo Sau khi có đảng hoạt độngcủa giới trí thức càng mạnh mẽ và có những đóng góp to lớn vào haicuộc kháng chiến chống Pháp và Chống Mĩ, cũng như trong sựnghiệp phát triển và đổi mới Tác phẩm này thể hiện sự đánh giá sâusắc của Hồ Chí Minh vai trò và những đóng góp to lớn của trí thứctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Những bài học đấu tranh cách mạng của giới trí thức cùng với sựlãnh đạo của Đảng có ý nghĩa sâu sắc đối với giai đoạn hiện nay và

về sau, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcgóp phần từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức theo định hướng

xã hội chủ nghĩa đối với Đông Nam Bộ nói chung và Bình Dương nóiriêng

Đề tài hướng đến những mục tiêu chủ yếu:

- Làm rõ vai trò, đặc điểm của đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một trongphong trào đấu tranh cách mạng giai đoạn 1954 – 1975

- Làm rõ thực tiễn đấu tranh cách mạng trên các “mặt trận” chủ

chốt (chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa – tư tưởng,…) của trí thứcThủ Dầu Một trong giai đoạn 1954 – 1975

- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh cáchmạng của trí thức Thủ Dầu Một giai đoạn 1954 – 1975 trên cả haiphương diện lý luận và thực tiễn

- Từ những bài học kinh nghiệm, góp phần đề xuất những giảipháp để xây dựng và phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức ThủDầu Một trong giai đoạn mới

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: “Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một từ năm 1954 đến năm 1975”.

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, đề tài đề cập đến tỉnh Thủ Dầu Một trong giaiđoạn từ 1954 đến 1975 Trong giai đoạn này thì tỉnh Thủ Dầu Mộttrải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính như sau:

 Tháng 5-1951, do yêu cầu thống nhất chỉ đạo chiến trường, tỉnhThủ Dầu Một và Biên Hòa sát nhập thành tỉnh Thủ Biên

 Tháng 1-1955, Xứ ủy Nam Bộ quyết định tách tỉnh Thủ Biênthành hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa Thủ Dầu Một lúc đó gồmcác huyện: Lái Thiêu, Châu Thành, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh

và các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Quản Lợi, Lộc Ninh

 Tháng 9-1960, Xứ ủy Nam Bộ quyết định sát nhập tỉnh Thủ DầuMột và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên lần thứ hai

 Tháng 6-1961, Xứ ủy Nam Bộ lại tách tỉnh Thủ Biên thành haitỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa, thành lập thêm 3 tỉnh: Phước Thành,Bình Long, Phước Long theo địa bàn hành chính của ngụy quyền SàiGòn Tỉnh Thủ Dầu Một lúc này gốm các huyện: Lái Thiêu, ChâuThành, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thị xã Thủ Dầu Một

 Tháng 10-1967, Trung ương Cục thành lập 5 phân khu là 5 mũitiến công vào Sài Gòn và phân khu 6 nội đô Sài Gòn để chuẩn bị chocuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 Phân khu 5 hướngbắc Sài Gòn gồm các huyện: Tân Uyên, Phú Giáo, Châu Thành, thị xãThủ Dầu Một, Lái Thiêu, Dĩ An và bắc Thủ Đức

 Tháng 5-1971, phân khu 5 giải thể, thành lập phân khu Thủ Biên

 Tháng 9-1972, tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập gồm các huyện:Dầu Tiếng, Bến Cát, Tân Uyên, Phú Giáo, Châu Thành, Lái Thiêu, Dĩ

An và thị xã Thủ Dầu Một

Trang 15

 Tháng 10-1973, Trung ương Cục chủ trương tách các huyện: TânUyên, Phú Giáo của tỉnh Thủ Dầu Một, huyện Định Quán và Độc Lậpcủa Biên Hòa để thành lập căn cứ Tân Phú.

 Cuối năm 1974, Phú Giáo và Tân Uyên được trả về tỉnh Thủ DầuMột

 Đầu năm 1975, tỉnh Thủ Dầu Một gồm các huyện: Bến Cát, LáiThiêu, Châu Thành, Tân Uyên, Dĩ An, Phú Giáo, Dầu Tiếng và thị xãThủ Dầu Một

Về thời gian, đề tài giới hạn trong phạm vi 21 năm kháng chiếnchống đế quốc Mĩ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1975 Trong giaiđoạn này, đề tài đi sâu nghiên cứu hoạt động của trí thức Thủ DầuMột trong bối cảnh chung của Đông Nam Bộ lúc bấy giờ, từ đó làm rõnhững đóng góp của trí thức Thủ Dầu Một trong tiến trình lịch sử củadân tộc

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU

5.1.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài “Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một trong sự

nghiếp đấu tranh giải phóng dân tộc 1954 -1975” là một đề tài mang

tính lịch sử

Phương pháp chủ đạo và xuyên suốt quá trình chúng tôi thực

hiện đề tài là “phương pháp nghiên cứu lịch sử” nhằm phục lại quá

trình đấu tranh cách mạng vẻ vang của trí thức Thủ Dầu Một giaiđoạn 1954 - 1975 Mặt khác, áp dụng phương pháp này chúng tôicũng hướng đến cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện vềphong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn 1954 -

1975 Qua đó, chúng tôi đưa ra các vấn đề được xem xét cùng vớidiễn trình thời gian để tránh bỏ qua những giai đoạn hay sự kiện lịch

sử quan trọng

Trang 16

Cùng với phương pháp lịch sử thì chúng tôi cũng áp dụng

“phương pháp logic” nhằm rút ra mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử

có mối tương quan với nhau Trong khi nghiên cứu phong trào đấutranh của trí thức Thủ Dầu Một trong giai đoạn 1954 -1975, chúng tôikhông loại trừ việc xem xét quá trình đấu tranh của trí thức BìnhDương trong các giai đoạn trước đó nhằm nhận thức tương đối đầy

đủ về các mối tương quan giữa các giai đoạn lịch sử Phương phápnày còn hướng đến nhìn nhận phong trào đấu tranh của trí thức ThủDầu Một trong tổng thể phong trào đấu tranh của trí thức Đông Nam

Bộ với những tính chất chung như tinh thần cách mạng và phươngpháp đấu tranh cách mạng Tinh thần dân tộc cũng được làm rõ ởphương pháp này nhằm xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau và hìnhthành những quan điểm thống nhất trong quá trình nghiên cứu đềtài

Ngoài ra hai phương pháp chủ đạo trên thì chúng tôi còn sử dụngphương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp nghiên cứu liênnghành để làm rõ mối tương quan giữa các giai đoạn với nhau, để có

sự tiếp cận phù hợp về kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đối chiếu sosánh, tổng hợp để thấy được sự khác biệt của giai đoạn này với giaiđoạn trước đó nhằm bổ sung và kế thừa cho giai đoạn tiếp theo

Những phương pháp trên đây được áp dụng linh hoạt cho từnggiai đoạn và từng phần của công trình nghiên cứu, tất nhiên trongquá trình đó cũng có sự bổ sung, kết hợp giữa các phương pháp lạivới nhau để tránh đưa ra cái nhìn chủ quan, làm tăng tính thuyếtphục cho đề tài nghiên cứu

5.2.Nguồn tài liệu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệuchính như sau:

Trang 17

• Thứ nhất, nguồn tài liệu chính thống có mức độ tin cậy cao

nhất là các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước về trí thức trongcác giai đoạn

• Thứ hai, những công trình nghiên cứu chính thức được thực

hiện liên quan đến đề tài Những công trình này bao gồm các luận ántiến sĩ và luận văn thạc sĩ, những báo cáo khoa học như luận văn tiến

sĩ của tác giả Hồ Sơn Diệp về đề tài trí thức Đông Nam Bộ trong sựnghiệp kháng chiến chống Mĩ xâm lược (1945-1975),…

• Thứ ba, các sách chuyên khảo và sách tham khảo như: “Trí

thức Sài Gòn - Gia Định 1945 – 1975” của Hồ Hữu Nhựt, “Địa chí Bình Dương”, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1954-1975)”, “Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống xâm lược (1945-1975)” của tác giả

Hồ Sơn Diệp, “Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương

(1945-1975)”,

• Thứ tư, những trang báo, tạp chí, website chính thống và có độ

tin cậy cao

6 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Đề tài “Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954-1975)” được bố cục thành ba chương trải dài trong giai đoạn

từ năm 1954 – 1975 trong lịch sử đấu tranh chống đế quốc Mĩ củadân tộc

Chương I: Khái quát về tỉnh Thủ Dầu Một và khái niệm về trí thức.

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu khái quát về về quá trìnhhình thành và phát triển của tỉnh Thủ Dầu Một; bước đầu nêu lênkhái niệm về trí thức trong giai đoạn năm 1954 – 1975 và trong giaiđoạn hiện nay

Trang 18

Chương II: Trí thức Thủ Dầu Một trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1965).

Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Genève vàcuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève; Các hoạt động chốngchiến lược “Chiến tranh đặc biệt” chiến lược “Chiến tranh cục bộ”,chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ; Tình hình đội ngũ tríthức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Pariss năm 1973, các hoạt động đấutranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Pariss; Tham gia vào các cuộcđấu tranh giải phóng toàn miền Nam năm 1975

Chương III: Vai trò và đặc điểm của trí thức Thủ Dầu Một trong phong trào giải phóng dân tộc giai đoạn 1954 – 1975

Trên cơ sở nghiên cứu “Phong trào đấu tranh của trí thức Thủ Dầu Một (1954-1975)” bước đầu nêu lên vai trò và một số

đặc điểm rút ra từ những phong trào đấu tranh của trí thức Thủ DầuMột

Kết luận:

Rút ra một số bài học kinh nghiệm từ phong trào đấu tranh củatrí thức Thủ Dầu Một (1954-1975), từ đó đưa ra một số đề xuất nhằmphát huy tốt vai trò lịch sử của đội ngũ trí Thủ Dầu Một trong hiaiđoạn hiện nay

Trang 19

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THỦ DẦU MỘT VÀ KHÁI NIỆM VỀ TRÍ

về phía tây và nối sườn phía nam của dãy Trường Sơn với các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long Vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng này

đã giúp Bình Dương trở thành một vùng đệm không thể thay thếnằm trên hành lang nối Sài Gòn với các tỉnh miền Đông, miền Trung

và miền Tây Nam Bộ1 Bình Dương là mảnh đất chứa đựng nhiều giátrị văn hóa truyền thống như các ngôi chùa (Hội Khánh, Tây Tạng )

và còn nổi tiếng với các khu di tích lịch sử dân tộc (nhà tù Phú Lợi,chiến khu Đ )

Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương địa bàn tương đối rộng lớn

và hoang vu, trải qua nhiều giao đoạn biến động theo chiều dài lịch

sử phát triển vùng đất Đông Nam Bộ (Bình Dương) Từ rất sớm, chúaNguyễn đã ý thức việc mở rộng lãnh thổ thông qua hoạt động khẩnhoang và khai phá vùng đất phía Nam Năm 1698, chúa NguyễnPhúc Chu (Tộ Minh Vương, 1691-1725) “sai Thống suất Nguyễn HữuKính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ ĐồngNai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên

1 Hồ Sơn Đài (chủ biên) (2010), Lịch sử Lực lượng Vũ trang Nhân dân tỉnh Bình Dương

(1945 – 2005), Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr 639.

Trang 20

(tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (naythăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay)”1 vàthiết lập các đơn vị hành chính Địa phận tỉnh Bình Dương hiện naytương ứng với tổng Bình An, tỉnh Biên Hòa Nhờ có vị trí thuận lợi, đấtđai màu mỡ nên xứ Đàng Trong (trong đó có Bình Dương ngày nay)thu hút nhiều cư dân sinh sống và lập nghiệp Trải qua nhiều biếnđộng trong lịch sử đấu tranh để gìn giữ và phát huy những giá trị củamiền đất mới, mảnh đất Bình Dương luôn không ngừng phát triển và

có thay đổi về nhiều mặt (vị trí hành chính, kinh tế, văn hóa, giáodục )

Nằm trong kế hoạch cải cách các đơn vị hành chính trên toànquốc, Minh Mệnh đã chia vùng Gia Định Thành thành 6 tỉnh (Nam Kỳlục tỉnh)2 Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện Bình An (ThủDầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức) Đều này giúp ta chứng minh rằngThủ Dầu Một là tên gọi cũ của tỉnh Bình Dương trước năm 1956 Saukhi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta (rạngsáng 1-9-1858) tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) Tuy nhiên, địch vấp

phải sự kháng cự mãnh liệt của ta và kế hoạch “đánh nhanh, thắng

nhanh” đã bị thất bại Giữa lúc phong trào kháng Pháp ngày càng

dâng cao và tạo cho ta ưu thế rõ rệt thì triều đình Huế lại ký Hòa ướcNhâm Tuất (5-6-1862), với điều khoản thứ 3 là nhượng ba tỉnh miềnĐông Nam kỳ (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) cho thực dân Pháp.Theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống Ngô ĐìnhDiệm, Nam Phần (tức Nam Bộ) được phân thành bao gồm Đô thànhSài Gòn và 22 tỉnh Trong đó, Thủ Dầu Một trực thuộc Biên Hòa

Trải qua thăng trầm của lịch sử, vùng đất Bình Dương đã cónhiều giai đoạn phân tách và hợp nhất các đơn vị hành chính Từ saungày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), căn cứ theo Quyết

1 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo

dục, Hà Nội, tr 111.

2 “Lục tỉnh” (6 tỉnh) hay “Nam Kỳ lục tỉnh” chỉ chung toàn bộ khu vực Nam Bộ thời Nguyễn

là cách gọi xuất hiện từ sau việc thiết lập 6 tỉnh năm 1832 này.

Trang 21

định ngày 2-7-1976 tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa VI của Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Sông Bé đượcthành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Bình Phước.

Kể từ ngày 1-1-1997, tỉnh Bình Dương được chính thức thành lập trên

cơ sở là một trong hai tỉnh được tách ra từ tỉnh Sông Bé (tỉnh còn lại

là tỉnh Bình Phước)1

Trải qua hai cuộc kháng chiến (chống Pháp và chống Mĩ)ròng rã, Thủ Dầu Một ngày càng khẳng định vai trò quan trọng gópphần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Ngay từ khi xâm lượcViệt Nam thực dân Pháp chọn Thủ Dầu Một làm trụ sở và đặt trụ sởhành chánh tại Thủ Dầu Một (hạt tham biện Thủ Dầu Một) vì nơi đâyđịa bàn rộng lớn luyện tập quân lính kịp thời chi viện cho chiếntrường Đông Nam Bộ Trên địa bàn tỉnh Bình Dương liên tiếp nổ racác cuộc đấu tranh chống chính quyền thực dân Pháp tạo ra các tầnglớp lao động mới như công nhân cao su, công nhân xe lửa bị áp bứcnặng nề sức lao động điều kiện sống khắc nghiệt Bình Dương banđầu một vùng đất nhiều cánh rừng già, đầm lầy nhiều thú dữ chínhnhững cư dân ta đã khai phá tạo dựng xóm làng thực dân Pháp đãtàn phá những giá trị vật chất lẫn tinh thần, họ đã đứng lên lôi kéocác tầng lớp khác như học sinh, sinh viên, đấu tranh chống lạichính sách cai trị của thực dân Pháp2

1.1.2 Bối cảnh xã hội trước năm 1954.

Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng nhanh chóngtriển khai các chiến lược nhằm mục đích biến Việt Nam thành thuộcđịa Miền Đông Nam Bộ đã nhanh chóng trở thành thuộc địa củaPháp sau hai bản hiệp định Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874) màtriều đình Nguyễn đã ký với thực dân Pháp Với “thắng lợi” này, thực

1 Hồ Sơn Đài (chủ biên) (2010), Lịch sử Lực lượng Vũ trang Nhân dân tỉnh Bình Dương

(1945 – 2005), Sđd, tr 9.

2 Phan Xuân Biên (chủ biên) (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà

Nội.

Trang 22

dân Pháp đã thi hành các biện pháp hà khắc nhằm kìm hãm sự pháttriển của các phong trào đấu tranh từ các tầng lớp yêu nước trong xãhội Tỉnh Bình Dương (Thủ Dầu Một) - nơi luôn sôi sục tinh thần đấutranh chủ yếu tập trung vào lực lượng công nhân đồn điền, nhữngbước đầu hình thành trong chính lòng địch gia cấp công nhân trởthành lực lượng nòng cốt lãnh đạo cuộc kháng chiến thành công1.Giai đoạn trước năm 1954, dưới tác động của chính sách khaithác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, tình hình trong nướcdiễn biến vô cùng phức tạp Mục đích của thực dân Pháp là vơ vétcạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn công nhân rẻ mạt tạithuộc địa với thị trường tiêu thụ rộng lớn Trong chiến tranh thế giớithứ I (1914 – 1918) Pháp là nước thắng trận nhưng phải chịu ảnhhưởng nặng nề của chiến tranh Để nhanh chóng hàn gắn các vếtthương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế tại chính quốc, Pháp phảităng cường đầu tư khai thác thuộc địa (Việt Nam) Nhưng song đóchính sách của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biếnđộng Cùng với sự ra đời của nhiều tầng lớp như công nhân và tiểu tưsản, thì tầng lớp trí thức cũng là lực lượng đấu tranh ngoài mặttrận và ngay trong lòng địch Tầng lớp trí thức mới ra đời nhưng làlực lượng nòng cốt cho cách mạng, góp phần tạo nên sức mạnh đoànkết dân tộc.

Đứng trước tình hình khó khăn của cách mạng trong nước, ngày28/1/1941 Nguyễn Ái Quốc trở về nước nhằm đưa ra đường lối lãnhđạo cho cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã học tập theo con đườngCách mạng Tháng mười Nga (tiếp thu tư tưởng Mác –Lênin) và ápdụng vào tình hình thực tế ở Việt Nam Chính Nguyễn Ái Quốc đã gópphần hình thành một giai cấp công nhân mới ở Việt Nam Nguyễn ÁiQuốc đã soi sáng con đường cách mạng đang dần bước vào bế tắc,thức tỉnh, giác ngộ mọi tầng lớp nhân dân ta đứng lên đấu tranh

1Đinh Xuân Lâm (chủ biên)(2008), Đại cương lịch sử Việt Nam tập III , Nxb Giáo dục.

Trang 23

chống ách áp bức của thực dân Pháp và phong kiến tồn tại dai dẳng

ở nước ta

Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn ÁiQuốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản đã diễn ra và nhất tríthành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam(3/2/1930) Từ đó cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng duynhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “Đảng có vững cách mệnhmới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”1.Đảng Cộng sản ra đời đã cổ vũ tinh thẩn đấu tranh của quân và nhândân ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của cách mạng ThángTám năm 1945 đã xóa tan hai tầng xiềng xích (Pháp - Nhật) Bêncạnh đó, thắng lợi còn khẳng định cách mạng Việt Nam ngày cànglớn mạnh và phát triển qua việc xây dựng lực lượng chính trị, lựclượng vũ trang, căn cứ địa các mạng thể hiện tinh thần đoàn kết mọitầng lớp nhân dân

Đó là những bước chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sau này

Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập

khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Miền Bắc hoàn toàn giảiphóng là hậu phương vững chắc cho cách mạng lâu dài ở miền Nam.Trong giai đoạn quan trọng đánh dấu bước phát triển nhảy vọt củacách mạng thì chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi (1954) đánh bạithực dân Pháp đã tạo ra bước ngoặc trong lịch sử đấu tranh của nhândân ta trước một cường quốc trên thế giới

Tình hình thế giới trong giai đoạn này xảy ra nhiều sự kiệnquan trọng Cách mạng tháng mười Nga (1917) thành công đã cổ vũcho phong trào đấu tranh của các nước đi theo con đường xã hội chủnghĩa Tinh thần đó đã lan rộng ra toàn châu Á, châu Âu và các nướckhác trên thế giới, góp phần hình thành khối liên minh công-nông.Cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1933) đã ảnh hưởng đến sức sảnxuất xã hội, lực lượng cách mạng cũng suy yếu dần, các nhà máy

1 Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr 289.

Trang 24

đóng cửa, mất việc làm dẫn đến đời sống giai cấp công nhân gặpkhó khăn Năm 1945 nhân dân ta phải chịu hai tầng áp bức là Pháp-Nhật, làm cho đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Lợi dụng tìnhhình Nhật đảo chính Pháp, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắnglợi trong cách mạng tháng Tám Sau thất bại trận Điên biên phủ(1954) thực dân Pháp đã kí hiệp định Genève (21-7-1954) nhằmchấm dứt chiến tranh ở Đông Dương nói riêng và Việt Nam nóichung Từ đây, cách mạng Việt Nam đã trưởng thành dưới sự lãnhđạo của Đảng và được nhiều tầng lớp hưởng ứng tham gia Trong đótầng lớp trí thức đóng vai trò quan trọng.

Trang 25

1.2 Khái niệm về trí thức.

Hiện nay có khá nhiều cách tiếp cận về trí thức và những đặc điểm của trí thức.Theo quan điểm của Lenin thì trí thức là những người lao động trí óc và có trình độchuyên môn cao Lenin quan niệm: “Tôi dịch người trí thức, tầng lớp trí thức theo ngữnghĩa Đức là Literat, Literatentum bao gồm không chỉ các nhà văn hóa học mà là tất cảnhững người có văn hoá, những người làm nghề tự do nói chung, những đại biểu củalao động trí óc (brain worker - như người Anh nói) để phân biệt với những đại biểu củalao động chân tay”1 Theo Từ điển Triết học thì “trí thức là tập đoàn người gồm những

người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc,luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viênchức”2

Dựa vào tiêu chuẩn phân loại của Karl Marx thì trí thức gồm những đối tượng cụthể như: nhà văn, nhà báo, giáo viên, bác sĩ, luật sư, sĩ quan, viên chức, các nhà hoạtđộng chính trị, những người hoạt động nghệ thuật, Dựa trên cách phân loại này, cóthể nhận thấy trí thức không phải là một lực lượng thuần nhất, không có địa vị kinh tế,không có địa vị chính trị mà trí thức được xem như là một tầng lớp trung gian có mốiquan hệ với tư sản mà đặc biệt có mối quan hệ gần gủi với tầng lớp công nhân do cónhiều yếu tố tác động như: điều kiện làm việc, đời sống vật chất, Mặt khác trí thức

có nguồn gốc xuất thân từ nhiều giai cấp khác nhau như một số xuất thân từ giai cấpbóc lột và một số ra đời trong giai cấp bị bóc lột, nên trí thức đã sớm giác ngộ hơn và

có thái độ chính trị kiên quyết hơn Xét về thái độ chính trị thì Lenin phân loại làm banhóm: trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản, trí thức vô sản, với từng loại trí thức mà ông

có những cách ứng xử và tiếp cận một cách khác nhau Như trí thức vô sản được coinhư là động lực của cách mạng, trí thức tư sản thì lợi dụng hoặc trung lập đây đượcxem như phần tử thường dao động,

Qua tiếp thu chủ nghĩa Marx – Lenin về trí thức, Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ vềvai trò và vị trí của trí thức trong xã hội Mặt khác do xuất thân trong một gia đình tríthức, sinh ra trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược nên Hồ Chí Minh đã sớm nhận

1 Lênin, Toàn tập, t.8, tr 309 (bản tiếng Nga).

2 Từ điển triết học (1986), tr 598.

Trang 26

thấy rõ thực dân Pháp bóc lột nhân dân và các tầng lớp trong xã hội hết sức nặng nề(trong đó có tầng lớp trí thức) Xuất phát từ hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh đã khôngngừng học tập và nâng cao trình độ của mình Sau nhiều năm hoạt động ở nước ngoài,Người đã tiếp thu chủ nghĩa Marx - Lenin và nhận thấy: “Thiểu số các nhà nho hay cácnhà trí thức là các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa Chính họ đã kích động mọi cuộcnổi dậy trong quá khứ”1 Do nhận thức rõ vai trò của trí thức nên Người hết sức quantâm đến việc đào tạo đội ngũ trí thức Người nhận thấy “trí thức: từ học trò đến côngchức, thầy thuốc, vì có trình độ văn hóa tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với vănhóa người Pháp, hay vì họ bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét ngườiPháp Song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ dám nghĩ mà khôngdám nói”2 Đối với trí thức, Người căn dặn “Dân như nước mình như cá Lực lượngbao nhiêu là nhờ dân hết”3 Đối với Người, tầng lớp trí thức là một lực lượng yêunước, tiên phong trong các phong trào cách mạng Người cho rằng cách mạng muốnthành công thì phải xây dựng một lực lượng cách mạng đông đảo phải kéo tiểu tư sản,trí thức, trung nông về phía cách mạng Ngoài nhận thức rõ được tầm quan trọng củatầng lớp trí thức, Hồ Chí Minh đã đưa ra những biện pháp, phương hướng nhằm xâydựng tầng lớp trí thức phát triển vững mạnh Người đánh giá cao vai trò của tầng lớptrí thức trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Nếu không cólực lượng trí thức thì cách mạng sẽ gặp khó khăn rất nhiều Tuy nhiên, Người cũngnêu rõ những mặt hạn chế của tầng lớp trí thức và đề ra những phương hướng khắcphục một cách hiệu quả

Theo quan điểm của đồng chí Phùng Hữu Phú, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phótrưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tại Hội nghị Báo cáo viên trựctuyến ngày 22-7-2008 Trí thức được hiểu theo 3 cách chung nhất:

- Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu và rộng, thông

thường, có trình độ đại học và tương đương trở lên, có năng lực sáng tạo, có trình độphát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổi mới để phát triển

1 Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, t.6, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 464-465.

2 Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, t.3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 164.

3 Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 116.

Trang 27

- Thứ hai, trí thức có trình độ chuyên môn sâu, rộng trong một lĩnh vực nhất

định, được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển không ngừng bằng conđường tự đào tạo, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân

- Thứ ba, trí thức có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới các giá

trị chân - thiện - Mĩ; có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ, công bằng1

Ngoài quan hai quan điểm chính trên chúng tôi còn đưa ra một số quan điểm vềtrí thức nhằm đưa ra một cái nhìn đa chiều về tầng lớp trí thức Hiện nay còn có hơn

60 quan điểm về trí thức khác nhau theo Ja Tchepanxky

Theo từ điển tiếng Nga (11-1991) ghi rằng: “Trí thức là những người có học vấn

và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hóa và đang làmnghề lao động trí óc”

Theo Crane Brinton, trí thức là những nghề như viết văn, giảng dạy, truyềnđạo, Đây là khái niệm thu hẹp về định nghĩa trí thức Theo Crane Brinton thì trí thứcchỉ dừng lại ở lĩnh vực văn hóa, xã hội, còn lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật chưađược trí thức tiếp nhận và phát huy

Mặt khác liên đoàn Lao động trí thức quốc tế quy định: trí thức là những nhà hoạtđộng có sự sáng tạo như trong các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, nghệ thuật, văn học, những trí thức được trả lương như: bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, sinh viên,

Nhìn chung thì trí thức có hai dấu hiệu cơ bản sau:

- Lao động có trí óc

- Có trình độ chuyên môn cao

Theo Ju.Kurmosov, không phải ai lao động trí óc cũng là trí thức, trí thức baogồm “những người có văn hóa và đạo đức cao tích cực tham gia các vào đời sống xãhội”2, đây là những yếu tố quan trọng quyết định tới sự tồn tại của trí thức trong một

1 Phùng Hữu Phú, “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, 22/7/2008, http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx? co_id=30463&cn_id=243880 , truy cập ngày 25/2/2015

2 Phạm Tất Dong (1998), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB chính Trị quốc gia, Hà

Nội, tr.17

Trang 28

xã hội như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã từng nói: có tài mà không có đức làngười vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó Vì thế lao động trí óc vàđạo đức là hai yếu tố hình thành nên trí thức có yếu tố quyết định, hai yếu tố này gắnchặt chẽ với nhau.

Từ những quan điểm trên chúng tôi đề ra quan điềm về trí thức như sau: “Trí

thức là những người lao động trí óc như bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, công nhân những nhà hoạt động chính trị, trí thức là những người có trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực như kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa, xã hội, Bao gồm những người có bằng cấp, người tự học, tự đào tạo trong mọi hoàn cảnh phù hợp”.

Trí thức có vai trò to lớn và có vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và pháttriển của một quốc gia Trí thức là một lực lượng không thể thiếu trong sự nghiệp xâydựng đất nước đặc biệt là trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân trên thếgiới (trong đó có Việt Nam) Trí thức đã đóng góp to lớn vai trò của mình trong cáclĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – kỹ thuật, Ngoài vai trò to lớn trong sựnghiệp xây dựng đất nước vững mạnh thì lực lượng trí thức có vai trò “châm ngòi, làm

“ngòi nổ của nhiều biến cố chính trị và các phong trào xã hội”1 được biểu hiện rõ quaphong trào đấu tranh của nước thuộc địa và nữa thuộc địa tiêu biểu là Việt Nam

1 Nguyễn Văn Khánh (2001), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, NXB Lao động, tr.19.

Trang 29

CHƯƠNG 2 TRÍ THỨC THỦ DẦU MỘT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG

MĨ CỨU NƯỚC (1954 – 1965).

2.1 Trí thức Thủ Dầu Một từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève tiến tới “đồng khởi” năm 1960 (1954- 1960).

2.1.1 Tình hình đội ngũ trí thức Thủ Dầu Một sau Hiệp định Genève.

Ngay sau hiệp định Genève được ký kết vào ngày 21-7-1954, cuộc chiến tranhcủa ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) kết thúc

Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp định Genève, với mưu đồ thôn tínhnước ta từ trước, Mĩ ra sức tìm mọi cách phá hoại hiệp định Genève bằng cách dùngmọi thủ đoạn gạt Pháp ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam và dựng lên chínhquyền tay sai Ngô Đình Diệm nhằm thiết lập bộ máy cai trị thực dân kiểu mới trên đấtnước ta với âm mưu chia cắt nước ta thành hai miền Nam và Bắc Để thực hiện âmmưu của mình, Mĩ đã đổ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam nhằm biến miền Nam

Việt Nam thành một “tiền đồn chống cộng Miền Nam bất khả xâm phạm”

Ngay sau khi hiệp định Genève được ký kết, lệnh ngừng bắn được ban hành.Nhân dân tỉnh Thủ Dầu Một đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh chào mừng chiến thắngtrong không khí tưng bừng náo nhiệt Ở các ấp xã đã được giải phóng thì nhân dânđứng ra lập ban tự quản, đội dân phòng để bảo vệ an ninh trật tự Còn các ấp chưađược giải phóng thì nhân dân đứng ra lập các ban đại diện tham gia vào bộ máy chínhquyền cách mạng, mặt khác thành lập các tổ chức yêu nước như Hội cày, Hội cấy, Hộivăn nghệ,… nhằm tập hợp quần chúng nhân dân đấu tranh thực hiện các điều khoảntrong hiệp định Genève Cùng với cao trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh ThủDầu Một thì ngày 30-7-1954 tỉnh Thủ Dầu Một tổ chức tổ chức cuộc họp quán triệt sựchỉ đạo của Đảng về việc thi hành hiệp định Genève, việc tổ chức lại lực lượng cán bộ

để tiến hành ứng phó với tình hình mới, đồng thời bàn kế hoạch chuẩn bị chuyển quân

Trang 30

cho việc tập kết Trong cuộc họp, tỉnh ủy Thủ Biên nhận định: “Tuy thực dân đã bịthất bại hoàn toàn miền Nam nhưng vẫn tồn tại hai khả năng đó là: nếu Pháp – Mĩ thựchiện hiệp định, nước Việt Nam sẽ có điều kiện tổng tuyển cử hai miền Nam – Bắc, nếuPháp – Mĩ ngoan cố không thi hành hiệp định mà quyết tâm chống phá cách mạngnhằm duy trì chủ nghĩa thực dân đối với ba nước Đông Dương thì nhân dân Thủ Biênnói riêng và nhân dân ba nước Đông Dương nói chung phải tiếp tục chiến đấu đếnthắng lợi cuối cùng nhằm giành lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Sau khi hất cẳng Pháp, Mĩ - Diệm tập hợp một số trí thức chống cộng và cũngđồng thời dựng lên thuyết Duy nhân vị, Đảng Cần Lao, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ

liên đới,… Ngoài ra, Mĩ - Diệm còn thực hiện chính sách “tố cộng diệt cộng” và ban

hành luật 10/59 nhằm khủng bố tiêu diệt những người yêu nước Mặt khác Mĩ - Diệmliên tục nổ ra các cuộc càn quét khắp các tỉnh Nam Bộ gây nhiều tổn thất cho nhân dâncác tỉnh Nam Bộ đặc biệt là tỉnh Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Gia Định, Sài Gòn,

Sau khi trở lại miền Nam Việt Nam, Mĩ - Diệm thiết lập bộ máy cai trị chủ nghĩathực dân mới, cùng với đó thực hiện chính sách tố cộng diệt cộng, đàn áp những ngườiyêu nước Nhưng do vốn xuất thân trong một gia đình quan lại triều đình Huế lại làngười đứng đầu miền Nam Việt Nam nên Ngô Đình Diệm vẫn nhận thức rất rõ vai trò

to lớn của lực lượng trí thức đối với miền Nam Việt Nam Số lượng trí thức tương đốiđông đảo “nếu tính tổng dân số toàn Nam Bộ năm 1954 là 6.068,260 người đến năm

1958 là 8.151.270 người thì những người có bằng cấp lên đến 6 vạn người”1 Do Nam

Bộ có lực lượng trí thức đông đảo nên Ngô Đình Diệm ra sức chiêu dụ lực lượng tríthức nhằm biến họ thành những công cụ đắc lực dùng để lôi kéo tập hợp quần chúngnhân dân tham gia vào mục đích chống cộng Trong bối cảnh đó, lực lượng trí thức ởNam Bộ bị phân hóa sâu sắc thành nhiều thành phần khác nhau: “một bộ phận theođịch bán nước cầu vinh, một bộ phận chủ trương trung lập phó thác số mệnh cho dântộc cho lịch sử, một bộ phận khác không tuyên bố lập trường chính trị nhưng hăng háitham gia đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, bộ phận còn lại tiếp

1 Dương Kiều Linh (1999), Báo chí Sài Gòn thời kỳ 1954 -1963, Luận án Tiến sĩ, Khoa học

Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, tr.166.

Trang 31

tục kiên định với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh Mĩ cứu nước (trí thức cáchmạng)”1.

Sau khi thực dân Pháp bại trận trong chiến tranh ở Việt Nam, miền Nam vốn làthuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp trước đó vì thế lực lượng trí thức ở đây đã nhạybén với thời cuộc lúc bấy giờ Vì thế, ngay khi Mĩ - Diệm lên nắm chính quyền ở miềnNam Việt Nam thì lực lượng trí thức theo Pháp ở đây một phần “sẵn sàng ôm chân đếquốc để vinh thân phù gia”2 Họ giúp Ngô Đình Diệm tuyên truyền thuyết Duy linhnhân vị, thành lập Đảng cần lao, tham gia Hội Nạn nhân Cộng sản,… Để có đượcnhóm thân sĩ trí thức này Mĩ - Diệm phải bỏ ra rất nhiều tiền để mua chuộc, lôi kéo họtham gia cùng Mặc khác Mĩ - Diệm dùng những đòn tra tấn bằng bạo lực, uy hiếp lựclượng này làm cho lực lượng trí thức này chấp nhận hoàn cảnh mà sẵn sàng ôm chân

đế quốc

Bên cạnh nhóm trí thức “ôm chân ông chủ mới”3 thì giai đoạn này trí thức ở đây

cũng xuất hiện một thành phần trí thức mới đó là “trí thức di cư”4 Vào tháng 8/1954

trong làn sóng di cư do Mĩ - Diệm tạo nên, một bộ phận đông đảo người dân từ miềnBắc di cư vào Miền Nam Trong đó có đông đảo lực lượng trí thức vào miền Nam đểhoạt động cách mạng, một số khác do bị kích thích lôi kéo vào Nam theo Chúa

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, trí thức miền Nam mà cụ thể ở ThủBiên có sự phân hóa thành nhiều bộ phận khác nhau do nhiều yếu tố tác động nhưng

do một số trí thức tầm hiểu biết chưa sâu, chưa rộng đã bị tác động bởi những thuyếtduy linh nhân vị, hay sự tuyên truyền của Đảng cần lao Những hội chống phá cáchmạng như: Nha chiến tranh tâm lý, Hội Nạn nhân Cộng sản, một dân biểu Lý QuýChung tâm sự “ánh sáng ý tưởng tỏa ra bên kia chiến khu và từ bên kia nữa phần tổquốc không dễ dàng đến với tất cả thanh niên và trí thức miền Nam, tổ chức chỉ đếnvới một số người chọn lọc, thông qua trung gian bí mật, vì thế một người bình thường

1 Hồ Sơn Diệp (2006), Trí thức Nam Bộ trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược

(1945-1975, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh , tr 83.

2 Hồ Sơn Diệp (2006), Trí thức Nam Bộ trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược

Trang 32

không thể biết được”1 Vì thế, nhóm trí thức này bị Ngô Đình Diệm lợi dụng một cáchtriệt để.

Bên cạnh những trí thức tình nguyện theo Mĩ - Diệm hay một bộ phận khác dohoàn cảnh ép buộc, một khi đã là trí thức theo giặc thì dù bất cứ lý do hay trong hoàncảnh nào thì họ cũng được xem là đồng phạm và không được nhân dân kính trọng màngược lại lực lượng này còn được gọi là phản nước, hại dân Vì thế, nhận thức rõ điềunày một bộ phận trí thức trong thời kỳ này không tham gia bất kỳ hành động nào cóhại cho dân cho nước, họ đứng im một chỗ quan sát tình hình, một số khác do nhậnthức được sai lầm nên đã chủ động rút lui không theo Mĩ - Diệm nữa

Bước qua giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, lực lượng trí thức có sự phân hóa rõrệt và sâu sắc Tuy vậy, đội ngũ trí thức Thủ Biên chiếm một phần nhỏ nhoi trong lựclượng trí thức ở Nam Bộ Thế nhưng, chính họ là những mầm mống, những nguồnsáng cho những hoạt động yêu nước của học sinh, sinh viên, làm thổi bùng lên ngọnlửa đấu tranh, ngọn lửa yêu nước của toàn dân tộc

2.1.2 Phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève.

Sau khi hiệp định Genève được ký kết trải qua chín năm kháng chiến gian khổ và

hy sinh, nhân dân cả nước đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân Pháp buộcPháp phải ký kết hiệp định Genève công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của nhân dân ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia)

Trong khi đất nước chuyển sang giai đoạn mới từ chiến tranh sang hòa bình thìlãnh thổ Việt Nam tạm thời chia hai vùng tập kết với vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sựtạm thời Trên tinh thần của hiệp định Genève, thì lực lượng kháng chiến của Nam Bộtrong đó có tỉnh Thủ Biên2 phải chuyển quân tập kết từ ngày 25-8-1954 Vì thế việcchuyển quân ra Bắc tập kết, sắp xếp cán bộ đi và cán bộ ở lại được tiến hành một cáchkhẩn trương, được quán triệt trong từng cán bộ Đảng viên

1 Lý Quý Trung, Chánh Trinh (2004), Hồi ký không tên, NXB Trẻ, tr 123.

2 Tháng 5-1951, do yêu cầu thống nhất chỉ đạo chiến trường, tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa sát nhập thành tỉnh Thủ Biên.

Trang 33

Cùng với việc tổ chức cho cán bộ ra Bắc tập kết Tỉnh ủy Thủ Biên đã có chỉ thị

số 33/CT-TU đề ra nhiệm vụ trước mắt đối với cán bộ ở lại Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ

đề ra là ra sức đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủtrong toàn quốc Phương pháp đấu tranh là đấu tranh chính trị, không đối phó bằng vũtrang nhằm bảo đảm thực hiện đúng với Hiệp định Ngoài nhiệm vụ và phương pháp,thì chỉ thị cũng nêu rõ những vấn đề đặt ra về công tác dân vận, địch ngụy vận, nhữnghình thức và khẩu hiệu đấu tranh trong thời gian này phải xác định giai đoạn đấu tranhchính trị cũng trường kì, gian khổ và không kém phần phức tạp chỉ thị cũng nhấnmạnh “dù trong hoàn cảnh nào cũng không được thủ tiêu tổ chức, thủ tiêu phong trào,

dù hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn cho được tổ chức Đảng, giữ gìn lực lượng vàphong trào cách mạng của quần chúng”1

Trong thời điểm hiện nay, cách mạng Miền Nam mà cụ thể là tỉnh Thủ Biên sửdụng phương pháp công khai, bí mật Mỗi cán bộ Đảng viên phải hòa mình vào quầnchúng nhân dân, cùng nhân dân bám chắc địa bàn, tham gia tổ chức hợp pháp, nửa hợppháp để gần gũi quần chúng nhằm nắm những nguyện vọng của quần chúng nhân dânqua đó tuyên truyền vận động tập hợp quần chúng Đây là một lực lượng vô cùng quantrọng có nhiệm vụ tuyên truyền miệng hằng ngày, tham gia dán, rải truyền đơn bí mậtcủa Đảng cho quần chúng nhân dân nhằm tạo động lực cho cách mạng để tập hợpđông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp địnhGenève

Bên cạnh sự thay đổi về tổ chức chiến lược, sắp xếp lại lực lượng, đề ra nhiệm vụchiến lược thì xứ ủy Nam Kỳ quyết định chia Nam Bộ thành ba liên tỉnh: miền Đông,miền Tây Nam Bộ, miền Trung và Sài Gòn - Chợ Lớn Tỉnh Thủ Biên được tách rathành hai tỉnh: Thủ Dầu Một và Biên Hòa Trong đó, tỉnh Thủ Dầu Một gồm: LáiThiêu, Châu Thành, Bến Cát, Hớn Quản, Quản Lợi, Lộc Ninh và quản lý các đồn điềncao su Dầu Tiếng

Về xây dựng khu căn cứ, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng khu căn cứ trong dân, chonhân dân đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ cách mạng Mặt khác, còn xây dựng cơ

1 Nguyễn Minh Giao (chủ biên) (2014), Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương

(1945-1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 213.

Trang 34

quan thường trực Tỉnh ủy thành hai khu vực: “khu vực phía Nam, dựa vào cơ sở quầnchúng trung kiên trong kháng chiến chống Pháp ở Lái Thiêu và nam Châu Thành, đàohầm bí mật để hoạt động, khu vực phía Bắc đứng chân tại địa bàn Bến Cát, một phầndựa vào dân, một phần dựa vào thế rừng căn cứ cũ đứng chân để bảo tồn lực lượng”1 Công tác xây dựng căn cứ do hai đồng chí phụ trách: Lưu Thị Hồng Thoại và SáuSàng Phụ trách việc đảm bảo liên lạc từ tỉnh xuống huyện và ngược lại với hai hìnhthức là công khai và bí mật Công khai là do các đồng chí hoạt động công khai thựchiện, khi viết thư đều phải viết theo hình thức bạch tự viết bằng nước cơm hoặc nhựacây xương rồng Còn hình thức bí mật thì phải thiết lập một hệ thống chặt chẽ dùng đểchuyển các loại sách, báo thông tin, được chuyển đến các hộp thư cố định, đây cònđược gọi là đường dây giao liên du kích Vì để đảm bảo tính bí mật nên công tác giaoliên có vai trò rất quan trọng và được giao cho những đồng chí có lòng trung thànhtuyệt đối với Đảng, khéo léo và có tinh thần dũng cảm như: Phạm Thị Anh, Mai ThịNiên, Nguyễn Thị Hoa, Phạm Thị Nghĩa, Tư Bùi, Út Én, Vương Ngọc Ánh, Ba Rẻ,Hai Liên, Chín Cẩm,… Ngoài ra để đảm bảo cho hoạt động bí mật của mình mỗi đồngchí phải tạo cho mình một nơi ăn ở hợp pháp, có một nghề tự kiếm sống như: bán bánh

mì, bán kem, bán rau Như chị Ba Rẻ (Nguyễn Thị Rẻ) ngụy trang làm giáo viên ởHớn Quản, chị Bảy Sẳng người xã An Thạnh giả bán hàng bông ở Sài Gòn nhằm làmhộp thư mật ở Sài Gòn và nhận giao tài liệu thư mật giữa Xứ ủy và Tỉnh ủy

Trong khi phía ta thực hiện và thi hành hiệp định Genève một cách nghiêm chỉnhthì ngược lại phía Mĩ và bọn tay sai Mĩ - Diệm thực hiện chính sách phá hoại hiệp địnhnhằm biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Mĩ ở chiến trườngĐông Dương Mặt khác, thông qua các tổ chức do địch lập ra, cán bộ Đảng viên đã tìmmọi cách lọt vào để tập hợp quần chúng, tổ chức hoạt động chính trị, tuyên truyền chủtrương chính sách của cách mạng, từng bước lãnh đạo phong trào Từ đó, tổ chứchướng dẫn cho quần chúng đấu tranh trực diện với địch Với các khẩu hiệu đấu tranhban đầu là đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi quyền dân sinh, dân chủ,… nhưng càng

về sau khẩu hiệu mang màu sắc chính trị rõ nét như: đòi hòa bình, đòi tổng tuyển cử,đòi tự do hội họp, tự do đi lại,… Nổi bật nhất là cuộc đấu tranh trước ủy hội quốc tế

1 Nguyễn Minh Giao (chủ biên) (2014), Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương

(1945-1975), Sđd, tr 220.

Trang 35

kiểm soát đình chiến ở Sài Gòn của 4000 người dân Thủ Dầu Một do đồng chí HuỳnhThị Hiếu đứng đầu Qua các cuộc đấu tranh ta đã tập hợp được đông đảo quần chúngnhân dân tham gia.

Bên cạnh đó có phong trào đấu tranh đòi hòa bình do luật sư Nguyễn Hữu Thọkhởi xướng ở Sài Gòn sau đó lan ra các tỉnh lân cận, nhân dân Thủ Dầu Một đã nổi lênhưởng ứng một cách sôi nổi Mở đầu phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp ở ThủDầu Một là những cuộc tuần hành của các tầng lớp quần chúng nhân dân, tổ chứcthành các đoàn đông đảo kéo nhau lên gặp tỉnh trưởng với danh nghĩa mừng hòa bình,yêu cầu chính phủ Mĩ – Diệm thi hành Hiệp định Genève Ngoài ra các cuộc biểu tìnhđòi Mĩ – Diệm không được bắt bớ hay bắt giết những người kháng chiến cũ với cáckhẩu hiệu như: “hòa bình rồi bắt dân vào lính làm chi, cách mạng đi hết rồi chỉ có dânvới quốc gia”1

Sau khi nhận thấy được âm mưu của Mĩ từ cuối năm 1954 đến năm 1956 thìphong trào đấu tranh chính trị đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ đòi thi hành Hiệp địnhGenève của nhân dân Thủ Dầu Một Ngày càng phát triển mạnh mẽ ở cả nông thôn vàthành thị đặc biệt là cuộc đấu tranh mạnh mẽ của công nhân trong các đồn điền cao su.Dựa trên Hiệp định Genève nhiều nơi nhân dân đã kéo lên quận, huyện đấu tranh trựctiếp với địch bằng biện pháp đấu tranh chính trị Sôi nổi nhất là cuộc đấu tranh của hơn

40000 công nhân cao su ở Dầu Tiếng, Quản Lợi, Lộc Ninh,… đòi bỏ chế độ cấp phátgạo mục, cá ươn, không đánh người, tăng lương giảm giờ làm, đòi thi hành Hiệp địnhGenève Tiếp đó là cuộc đấu tranh của công nhân huyện Lái Thiêu, Tân Uyên, Bến Cát

và công nhân lò đường, lò gốm nổi dậy đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Genève Hòa trong không khí đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève, thì việc

có giấy tờ hợp pháp để đảng viên đi lại hoạt động một cách dễ dàng là rất cần thiết.Chính vì thế Đảng ta đã bố trí cán bộ nằm trong bộ máy chính quyền của Mĩ - Diệm.Tại văn phòng của ngụy ở huyện Dầu Tiếng đã có một nữ thư ký của ta đó là chịNguyễn Thị Dậu Hàng tháng, lợi dụng địch đốt thẻ căn cước của người chết, chị Dậu

1 Phan Xuân Biên (chủ biên) (2010), Địa chí Bình Dương, tập 2, Sđd, tr 205.

Trang 36

lấy thẻ này làm “thẻ căn cước”2 cho cán bộ, đảng viên khi đi từ chiến khu về Ngoài rachị còn cung cấp và lấy tài liệu mật của địch gửi ra ngoài

Song song với mọi hoạt động đấu tranh trên mọi lĩnh vực, thì phong trào đấutranh trong ngành giáo dục ở thị xã Thủ Dầu Một do đồng chí Mười Phương phụ tráchcũng phát triển mạnh mẽ Đồng chí Mười Phương đã tìm mọi cách liên hệ với chínhquyền Mĩ – Diệm nhằm đưa một số cán bộ nòng cốt của ta tiêu biểu là đồng chí: TámẤn,… vào giảng dạy các trường Các giáo viên đã tiến hành một các khéo léo lồngghép nội dung cách mạng, yêu nước, chống ngoại xâm vào các bài giảng nhằm chốnglại các học thuyết mị dân mà địch tuyên truyền

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Thủ Dầu Một tiếp giáp giữa chiếnkhu và Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định Sau Hiệp định Genève 1954, hầu hết cán bộhoạt động thời kháng chiến chống thực dân Pháp đều ở lại miền Nam hoạt động, làmchỗ dựa cho phong trào trí giáo ở Sài Gòn – Gia Định Cùng với đó là các nhà giáo yêunước được hình thành gồm: Nguyễn Văn Chúc, Nguyễn Văn Răng, Nguyễn NgọcÁnh

Năm 1957, một số giáo sinh yêu nước Trường Quốc gia sư phạm, ra trường vềdạy ở Thủ Dầu Một Họ đã cùng cán bộ cựu kháng chiến thời Pháp Trần Văn Đẩu –nhà giáo tại tỉnh – hình thành 4 tổ nòng cốt cách mạng

- Tổ 1: Nguyễn Văn Răng (Bến Thế), Nguyễn Văn Thái (SP Long An), Nguyễn ThanhVân (Tân Phú Trung 2 – Củ Chi), Nguyễn Quốc Phú (Tân Định – Bến Cát)

- Tổ 2: Nguyễn Thị Hạnh, Huỳnh Thị Tuyết Mai, Trần Hồng Phước (nhà ở Sài Gòn);

- Tổ 3: Trần Văn Đẩu, Nguyễn Văn Khương (Bến Cỏ);

Ba tổ nòng cốt trên đặt dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Hẹ, Thị Ủyviên thị xã Thủ Dầu Một lúc bấy giờ

- Tổ 4: ở Trường Tân Phú Trung 2, Củ Chi gồm: Phan Văn Cam, Phan Thị Thân, PhanVăn Phất, Nguyễn Văn Dân, do đồng chí Nguyễn Thạch Vân làm tổ trưởng… Các tổ

2 Thẻ căn cước là thẻ không có hình, chỉ có dấu điểm chỉ của 10 đầu ngón tay.

Trang 37

nòng cốt nhà giáo yêu nước đặt dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Văn Rảnh(Năm Rảnh, 1958 – 1962)1.

Hòa trong không khí đấu tranh của công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên ,giáo viên, thì phong trào đấu tranh của các tăng ni, phật tử nổi dậy vào rằm thánggiêng tại các chùa ở An Sơn, An Thạnh nhằm tổ chức lễ cầu siêu cho cán bộ chiến sĩ,nhân dân bị hy sinh cho cuộc kháng chiến, nhằm thu hút nhiều người tham gia, bêncạnh đó cũng tuyên truyền đòi thi hành Hiệp định Genève

Cũng trong thời gian này, nhiều cán bộ Đảng viên, cơ sở cách mạng của ta bằngnhiều bút hiệu khác nhau đã viết những bài báo có xu hướng tiến bộ đăng trên các tờnhư Sống mới, Tiến bộ,… nhằm đề cao chính nghĩa, bên vực quyền lợi chính đáng củanhân dân, đòi thi hành Hiệp định Genève

Trên thực tế, xuất phát từ tình hình phong trào cách mạng của nhân dân trongtỉnh cũng như cách mạng miền Nam từ sau chiến dịch Trương Tấn Bửu, cho thấy cuộcđấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève, thực hiện hiệp thương tổng tuyển

cử thống nhất là không còn Khi Ngô đình Diệm đã tuyên bố “lấp sông Bến Hải”, thựchiện “Bắc tiến” Do đó, con đường đấu trang chính trị lúc này là không còn phù hợp,khi kẻ thù chống phá cách mạng một cách quyết liệt Yêu cầu bức thiết lúc này cầnphải có một lực lượng vũ trang để tự vệ và bảo quản thành quả của cách mạng

2.1.3 Trí thức Thủ Dầu Một từng bước củng cố xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới “đồng khởi”.

Khi Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, tinh hình nội bộ chính quyền tay sai Mĩ

- Diệm tương đối ổn định, khi có sự viện trợ của Mĩ vào miền Nam ngày càng nhiều,đẩy mạnh xây dựng các hệ thống căn cứ quân sự, xây dựng bộ máy quản lí từ nôngthôn đến thành thị, ngoài ra còn xây dựng hệ thống bộ máy kiềm kẹp từng khu, từng

ấp Chính sách “tố cộng, diệt cộng” được Mĩ - Diệm đặt lên hàng đầu với nhiều thủ

đoạn và phương thức hoạt động nhằm xóa sổ cách mạng miền Nam

1 “Phong trào yêu nước của trí thức sinh viên học sinh tỉnh Bình Dương (1930 – 1975)”,

http://new.binhduong.gov.vn/trangchu/sobannganh_detail.php?

id=14256&idcat=15&idcat2=353 , truy cập ngày 25/2/1015.

Trang 38

Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư xứ ủy đã đề ra đường lối cách mạngViệt Nam dựa trên tình hình của miền Nam Đồng chí Lê Duẩn khẳng định “tình hình

ấy nhất định phải thúc đẩy nhân dân Miền Nam đứng lên đập tan chính sách độc tàiphát xít của Mĩ - Diệm để tự cứu mình Mục đích cách mạng là đánh đổ chính quyềnđộc tài phát xít Mĩ - Diệm, thực hiện chính quyền liên hiệp dân chủ có tích chất dântộc để giải phóng miền Nam ra khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài Mĩ - Diệm, đểcùng toàn dân thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”1

Tháng 12/1956, Xứ ủy Nam Bộ trên cơ sở Nghị quyết Bộ Chính trị (6/1956) và

Đề cương Cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo (8/1956) cho rằng:Cách mạng miền Nam đang bị dìm trong bể máu nên cách mạng cần phải tổ chức lựclượng vũ trang, trong đó có lực lượng vũ trang tự vệ và lực lượng vũ trang tuyêntruyền Hội nghị cũng chủ trương “Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền,lập đội vũ trang bí mật, xậy dựng căn cứ ở rừng núi, tranh thủ vận động cải tạo, tậphợp lực lượng giáo phái bị Mĩ - Diệm đánh tan rã, đưa họ đứng vào hàng ngũ cáchmạng và cần lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn”2

Từ khi Đảng có chủ trương tổ chức vũ trang tự vệ để hỗ trợ cho cách mạng thìviệc xây dựng lực lượng vũ trang trong tỉnh được tiến hành một cách khẩn trương.Tỉnh ủy cử đồng chí Đào Trọng Hằng (Phó bí thư tỉnh ủy, Trưởng ban quân sự, phụtrách công tác binh vận), đồng chí Nguyễn Như Phong (Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủyChâu Thành) giao nhiệm vụ phụ trách xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng lựclượng vũ trang, tỉnh ủy rút một số cán bộ đang bám trong rừng xây dựng khu căn cứđưa về khu căn cứ Long Nguyên để xây dựng lực lượng, giao nhiệm vụ cho đồng chíHai Phong mở đường dây giao liên từ Châu Thành lên Long Nguyên

Để tiếp tục có nguồn cán bộ, đủ sức để vận động nà tổ chức lãnh đạo quần chúngnhân dân đấu tranh Từ cuối năm 1955, Tỉnh ủy đã mở nhiều lớp bồi dưỡng cho ủyviên chi bộ, học tập cho Đảng viên, đoàn viên do đồng chí Nguyễn Khắc Cần -Thường vụ Tỉnh ủy, trưởng ban tuyên huấn phụ trách Các lớp được tổ chức tại nhữngvùng căn cứ ở các xã Lai Hưng, Thanh Tuyền, An Điền, Long Nguyên, Kiến An Nội

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập.17, tr 787.

2 Lịch sử kháng chiến chống Mĩ, cứu nước 1954 -1975, Nxb quân đội nhân dân, tập 1, tr.

24.

Trang 39

dung học tập tập trung vào các tài liệu thiết yếu cho cán bộ như: “5 bước công tác”,

“những việc cần biết và cần phải làm”, “26 câu hỏi về đường lối cách mạng miềnNam”, “Sống vĩ đại, chết vinh quang”,… với mục đích hướng dẫn cho cán bộ biết cáchhoạt động công khai hợp pháp, xây dựng củng cố tổ chức cơ sở Đảng,…

Đầu năm 1958, thực hiện sự chỉ đạo của Liên tỉnh ủy miền Đông, Tỉnh ủy triệutập một cuộc hội nghị cán bộ của huyện Hớn Quản, do đồng chí Sáu Chí (Sáu FM)quyết định thành lập Đảng ủy cao su tỉnh Thủ Dầu Một Ban chấp hành gồm 11 đồngchí, đồng chí Tám Cường thường vụ tỉnh ủy được chỉ định làm bí thư, đồng chí Lê SắcNghi (Bảy Nghi) làm phó bí thư

Để tạo thanh thế cho lực lượng cách mạng và cổ vũ phong trào đấu tranh củaquần chúng, Tỉnh ủy chủ trương chỉ đạo cho huyện ủy Lái Thiêu tổ chức cho đồng chí

Út Bảo, cán bộ hoạt động hợp pháp phối hợp với cơ sở của ta đang hoạt động trong bộmáy chính quyền địch là đồng chí Tám Cẩn và đồng chí Nguyễn Thị Dậu (thư ký vănphòng ngụy quyền quận Trị Tâm ở Dầu Tiếng) nhằm nắm tình hình vẽ sơ đồ bố trí củađịch nhằm phục vụ trận đánh Với chiến thắng Dầu Tiếng đã cổ vũ phong trào cáchmạng toàn tỉnh sau những âm mưu thủ đoạn chống phá của địch, nối được đường dâygiao liên từ Long Xuyên, Thanh An, Thanh Tuyền, Kiến An tới căn cứ ba xã Tây Namnhằm tạo ra địa bàn đứng rộng lớn cho cách mạng

Sau khi thất bại về cả hai mặt là chính trị và quân sự ở miền Nam, vào đầu tháng12/1958 Mĩ - Diệm thực hiện vụ đầu độc tù nhân ở nhà tù Phú Lợi Ngày 31/11/1958,chúng cấp phát cho tù nhân bánh mì và cà ri thịt bò, trong đó một số bánh mì đượctrộn thuốc độc Sau buổi ăn đó thì số tù nhân ở các trại bắt đầu nôn, đau bụng, ngất xỉulên đến vài chục người, đến buổi chiều thì con số đã lên đến vài trăm người Sáng ngày1/12/1958 số người chết đã tăng lên, một số khác thì hôn mê, bất tỉnh Nhận thấy tìnhhình nghiêm trọng, cấp ủy chi bộ hoạt động bí mật trong nhà tù đã lãnh đạo quầnchúng đòi địch cứu chữa những người bị hại, một số khác chủ động liên lạc với bênngoài để đấu tranh tố cáo tội ác của Mĩ - Diệm

Sau khi sự kiện nhà tù Phú Lợi diễn ra, Tỉnh ủy thành lập ban chỉ đạo đấu tranh

để tố cáo tội ác của địch Cấp ủy, các huyện thị phân công một đồng chí làm trưởng

Trang 40

ban, mỗi xã có một đồng chí chi ủy viên tham gia trong ban chỉ đạo, đồng thời tổ chứcban chỉ huy trực tiếp tổ chức quần chúng đấu tranh trực tiếp với địch Sự kiện nhà tùPhú Lợi thu hút mạnh mẽ quần chúng trong tỉnh tham gia đấu tranh, khắp nơi nhân dân

ồ ạt xuống đường đấu tranh chống khủng bố với băng rôn, khẩu hiệu,… Tiêu biểu là ởBến Cát, vào ngày 20-12-1958 Ban chỉ đạo đấu tranh của huyện đã tổ chức cuộc biểutình trên 2000 quần chúng tham gia do đồng chí Nguyễn Thị Xưởng (Tám Liên) huyện

ủy viên, làm trưởng ban và đồng chí Lê Thị Thao (Tư Thao) làm phó ban

Trong lúc ấy, tại phòng nữ, dưới sự lãnh đạo kịp thời của các Đảng viên như Nga

Tơ, Tư Bông, Mười Nguyệt, các chị em đã nhanh chóng tập hợp lại, tích cực lo cứuchữa cho những người ngộ độc Nhiều anh chị em đã xuống nhà bếp, lấy đậu xanh dã,nước lọc cho anh em uống, lấy muối rang bọc trong khăn chà xát vào bụng anh em.Trong khi đó nhiều anh em đã dùng loa giấy, trèo lên cửa sổ hô vang bên ngoài “Đảđảo Ngô Đình Diệm giết người!”, “ Hồ Chí Minh muôn năm!”

Ngoài ra khi được cơ sở nhà tù báo tin, đồng chí Ba Bá ( Bí thư huyện ủy ChâuThành ) đã khẩn trương phát động và huy động mọi tầng lớp tham gia đấu tranh vạch

ra âm mưu của kẻ thù Chỉ trong vòng vài ngày, tại tòa hành chánh tỉnh đã diễn ranhiều cuộc đấu tranh với đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kéo về nhà tù PhúLợi đòi địch phải giải quyết cho người nhà vào thăm tù nhân Sự kiện nhà tù Phú Lợidiễn ra trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một đã nhanh chóng lan ra toàn tỉnh, trong cả nước

và trên thế giới Nó đã khơi dậy lòng căm thù của nhân dân đối với tội ác mà Mĩ Diệm gây ra cho chiến tranh của Việt Nam

-Cuối năm 1958, Tỉnh ủy họp tại căn cứ Long Nguyên, đánh giá tình hình và đề ranhiệm vụ mới, hội nghị cũng đánh giá tình hình: từ cuối năm 1957 địch gây ra cho tanhiều tổn thất, phong trào đấu tranh chính trị có phần lắng xuống Nhưng không vì thế

mà khuất phục được ý chí cách mạng của cán bộ và quần chúng nhân dân, phong tràođấu tranh vũ trang, trong đó lực lượng vũ trang của tỉnh đã hình thành từ cấp ủy xuống

cơ sở Thông qua phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong vụ Mĩ - Diệmthảm sát nhà tù Phú Lợi, cho thấy tầng lớp nhân dân trong tỉnh sôi sục căm thù Mĩ -Diệm, sẵn sàng đứng lên theo tiếng gọi của cách mạng Thông qua cuộc đấu tranh ta

Ngày đăng: 03/07/2023, 10:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w