TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘTKHOA SƯ PHẠM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015 XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015
XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ
ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT" NĂM 2014
VẤN ĐỀ RÈN KỸ NĂNG NGHE NÓI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 2
Thuộc nhóm ngành khoa học: Giáo dục Tiểu học.
Trang 2KHOA SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2014-2015
XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ
ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT" NĂM 2014
VẤN ĐỀ RÈN KỸ NĂNG NGHE NÓI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 2
Thuộc nhóm ngành khoa học: Giáo dục Tiểu học.
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Thu Nam, Nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh.
Lớp, khoa: D12TH01 Khoa: Sư phạm
Năm thứ: Thứ 3 Số năm đào tạo: 2012 - 2016
Ngành học: Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn: Vũ Đình Bính.
Học vị: Thạc sĩ.
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
Tên đề tài: “Vấn đề rèn kỹ năng nghe nói trong chương trình Tiếng Việt lớp
2 ”
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Thu
Số năm đào tạo: 2012 - 2016
Người hướng dẫn: ThS Vũ Đình Bính
2 Mục tiêu đề tài:
- Tìm hiểu để nắm được chương trình Tiếng Việt lớp 2 nói chung và yêu cầu nội dungrèn kỹ năng nghe – nói nói riêng được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 mới Từ
đó, có kế hoạch cho việc giảng dạy nội dung này ở trường Tiểu học
- Sau khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có thêm một số hiểu biết nhất định áp dụngphục vụ công tác giảng dạy Tiếng Việt lớp 2 ở các trường Tiểu học trong tỉnh
- Tìm thiểu thực trạng nghe nói của học sinh từ đó đề ra các biện pháp rèn luyện
kỹ năng nghe – nói Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
3 Tính mới và sáng tạo:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra các biệnpháp nhằm rèn luyện kỹ năng nghe – nói cho học sinh trong chương trình Tiếng Việtlớp 2
4 Kết quả nghiên cứu:
Chúng tôi đã phân tích vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói trong chương trình TiếngViệt lớp 2 Và đưa ra những nhận xét, đánh giá các dạng bài tập để người đọc dễ nắmbắt được nội dung chương trình Đưa ra một số thực trạng về kỹ năng nghe – nói từ đó
đề ra một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe – nói cho học sinh lớp 2 trong chươngtrình Tiếng Việt
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Xã hội ngày càng phát triển yêu cầu về khả năng giao tiếp, ứng xử xã hội ngàycàng cao Vì vậy môn Tiếng Việt có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và
Trang 4thành niềm yêu thích Tiếng Việt, đồng thời giúp ích cho công việc học tập, cuộc sống
và góp ích cho xã hội sau này
Về kinh tế xã hội: Kết hợp chặt chẽ với nhà trường, các tổ chức giáo dục xâydựng các mối quan hệ từ đó triển khai các kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và họchỏi thêm kinh nghiệm nghiên cứu phục vụ cho công tác sau này
Về giáo dục: Đề tài tập trung chủ yếu về nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng nghe –nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, có đóng góp một phần vào việc giảng dạytheo hướng tích cực nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục Từ việc nghiên cứu đề tàihình thành niềm say mê, hứng thú, yêu thích nghiên cứu khoa học của sinh viên
Về khả năng ứng dụng vào thực tế: Hình thành cơ sở khoa học để học sinh vàgiáo viên có thể tham khảo, áp dụng vào thực tế dạy học
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn mang tính quan trọng cấp thiết trong việc giáodục và đào tạo học sinh Tiểu học, trang bị các kiến thức nền tảng cho các cấp học saunày của học sinh Là cơ sở giúp giáo viên và học sinh có thêm nguồn tài liệu thamkhảo trong quá trình dạy học
6.Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
họ tên tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của
cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày tháng năm
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 5Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 6THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Lê Thị Thu
Sinh ngày: 06 tháng 09 năm 1989
Nơi sinh: Nga Sơn – Thanh Hóa
Lớp: D12TH01 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Khoa Sư Phạm
Địa chỉ liên hệ: Tổ 22 - Chiêu Liêu – Tân Đông Hiệp – Dĩ An – Bình Dương
Điện thoại: 01679904694 Email: maihuyen2520@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 7Thủ Dầu Một , ngày tháng năm
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Tên tôi (chúng tôi) là: Lê Thị Thu
Sinh ngày 06 tháng 09 năm 1989
Sinh viên năm thứ: 3 Tổng số năm đào tạo : 2012 - 2016
Lớp, khoa : D12TH01 Khoa : Sư phạm
Ngành học: Giáo dục Tiểu học
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ : Tồ 22 – Chiêu Liêu – Tân Đông Hiệp – Dĩ An - BD
Số điện thoại (cố định, di động): 01679904694
Địa chỉ email: maihuyen2520@gmail.com
Tôi (chúng tôi) làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi (chúng tôi) đượcgửi đề tài nghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻĐại học Thủ Dầu Một” năm 2015
Tên đề tài: “Vấn đề rèn kỹ năng nghe nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2”
Tôi (chúng tôi) xin cam đoan đây là đề tài do tôi (chúng tôi) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Vũ Đình Bính; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Nếu sai, tôi (chúng tôi) xin chịu trách nhiệm trước Khoa và Nhà trường
(ký, họ và tên)
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Thủ Dầu Một,chúng tôi luôn được sự giúp đỡ nhiệt tình và đầy trách nhiệm của các thầy cô TrườngĐại học Thủ Dầu Một
Chúng tôi xin được dành những dòng chữ đầu tiên của đề tài này để bày tỏ lòngkính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy cô đã quan tâm, giúp đỡ chúng tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu đề tài Đặc biệt là ThS.Vũ Đình Bính đã tận tình hướngdẫn chúng tôi để chúng tôi biết cách làm đề tài và định hướng mục đích rõ ràng đểchúng tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này
Bên cạnh thầy cô giáo, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiềubạn bè trong lớp D12TH01 của trường đại học Thủ Dầu Một thuộc khoa Sư Phạm, từnhững ý kiến đóng góp và sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều bạn bè mà chúng tôi đã hoànthành đề tài của mình một cách thật tốt
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng khảnăng nghiên cứu và tầm hiểu biết còn có giới hạn, những kinh nghiệm trong vấn đềnghiên cứu còn hạn chế đôi lúc còn chưa làm nổi bật lên vấn đề, có thể chưa thu hútđược người đọc do đó đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôirất mong được sự đóng góp và chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo, các bạn sinh viên để
đề tài của chúng tôi được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 10MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Nhóm phương pháp quan sát 3
5.2 Nhóm phương pháp thống kê 3
5.3 Nhóm phương pháp phân tích – tổng hợp 3
5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu 3
6 Cấu trúc của đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.Cơ sở lí luận 4
1.1.1 Một số tri thức cần thiết về rèn luyện kỹ năng nghe – nói 4
1.1.2 Một số điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 mới liên quan trực tiếp đến đề tài 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 7
CHƯƠNG 2.VẤN ĐỀ RÈN KỸ NĂNG NGHE – NÓI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 2 8
2.1.Tổng quan về vấn đề rèn kỹ năng nghe - nói trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học 8
2.2 Vấn đề rèn kỹ năng nghe-nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 10
2.3 Thực trạng kỹ năng nghe – nói trong chương trình tiếng việt lớp 2 ở một số trường tiểu học ở tỉnh Bình Dương 18
2.3.1 Sơ lược về trường Tiểu học Trần Quốc Toản 18
2.3.2 Sơ lược về trường Tiểu học Phú Hòa 2 20
2.3.3 Thực trạng kỹ năng nghe – nói của học sinh trong chương trình tiếng việt lớp 2 ở một số trường Tiểu học ở tỉnh Bình Dương 22
Trang 112.3.4 Nguyên nhân kỹ năng nghe – nói của học sinh trong chương trình tiếng việt lớp
2 ở một số trường Tiểu học ở tỉnh Bình Dương 26
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG NGHE – NÓI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 2 28
3.1 Biện pháp: Giáo viên chú ý đến kỹ năng nghe – nói của từng học sinh 28
3.2 Biện pháp: Giáo viên phân tích tổng hợp kỹ năng nghe – nói của học sinh theo nhóm 28
3.3 Biện pháp: Giáo viên sử dụng nhiều phương pháp, hình thức, tổ chức thực hành luyện tập trong dạy học 29
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
1 KẾT LUẬN 37
2 KIẾN NGHỊ 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 12Tên bảng biểu Trang
Bảng 1.1 Bảng thống kê số lớp – số học sinh 19Bảng 1.2: Bảng liệt kê các lỗi nghe – nói của học sinh 24Bảng 1.3: Bảng thống kê kỹ năng nghe – nói của học sinh lớp 2D 25Bảng 1.4: Bảng thống kê kỹ năng nghe – nói của học sinh lớp 2G 25Bảng 1.5: Bảng thống kê kỹ năng nghe – nói của học sinh lớp 2/1 25
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sân trường Tiểu học Trần Quốc Toản 18
Hình 1.3 Sơ đồ thống kê kỹ năng nghe – nói của học sinh lớp 2 26
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhâncách con người, đặt nền tảng cho các cấp học trên Là những chủ nhân tương lai củađất nước, đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức cần thiết Vì đây là cấp học mở đầucung cấp những kiến thức cơ bản, ban đầu cho học sinh đồng thời thông qua các hoạtđộng học tập đó người giáo viên còn dạy cho học sinh phương pháp học tập đúng đắnchuẩn bị cho các cấp học tiếp theo
Trong cấp tiểu học thì các lớp đầu cấp (lớp 1,2) là thời kỳ các em bắt đầu làm
quen với một hệ thống các tri thức mới của rất nhiều các môn học Trong đó mônTiếng Việt giúp cho các em hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
(nghe, nói, đọc, viết) Từ đó giúp các em học tập tốt các môn học khác và tham gia
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi đồng thời rèn luyện các thao tác
tư duy
Kỹ năng nghe – nói là những kỹ năng quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việcnâng cao chất lượng học tập của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nóiriêng Kỹ năng nghe – nói cũng góp phần làm giàu vốn từ và khả năng sử dụng TiếngViệt cho học sinh trong giao tiếp Giúp học sinh nâng cao khả năng lắng nghe – phảnhồi một cách chính xác, nhanh nhạy các thông tin trong học tập cũng như trong cuộcsống hàng ngày
Chính vì vậy, tất cả những ai đang theo đuổi và gắn bó với sự nghiệp giáo dụcTiểu học đều hết sức quan tâm đến vấn đề rèn luyện kỹ năng nghe – nói Nhằm đápứng được mục tiêu giáo dục, có thể áp dụng vào quá trình học tập và quá trình giảngdạy sau này đạt được hiệu quả tốt nhất
Mặt khác, là một sinh viên trường ĐH thuộc khoa Sư phạm, nghiên cứu đề tàinày chúng tôi nhằm trang bị cho bản thân những kiến thức nhất định về việc rèn luyện
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt và đặc biệt là kỹ năng nghe – nói Đây là một trong nhữngyêu cầu trọng tâm của chương trình Tiếng Việt lớp 2, từ đó nâng cao chất lượng đàotạo và phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học Xuất phát từ những lý
do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói trong chương trìnhTiếng Việt lớp 2” Với mong muốn tìm hiểu vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói của họcsinh từ đó đề xuất ra những biện pháp để giúp học sinh có kỹ năng nghe – nói tốt hơn
Trang 152 Mục tiêu đề tài:
- Tìm hiểu để nắm được chương trình Tiếng Việt lớp 2 nói chung và yêu cầu nộidung rèn kỹ năng nghe – nói nói riêng được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việtlớp 2
- Sau khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có thêm một số hiểu biết nhất định ápdụng phục vụ công tác giảng dạy Tiếng Việt lớp 2 ở các trường Tiểu học trong tỉnh
- Tìm thiểu thực trạng nghe nói của học sinh từ đó đề ra các biện pháp rèn luyện
kỹ năng nghe – nói Tiếng Việt cho học sinh lớp 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ năng nghe – nói trong chương trình Tiếng Việtlớp 2
- Nghiên cứu thực trạng về kỹ năng nghe – nói trong chương trình Tiếng Việtlớp 2
- Đề xuất ra một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng nghe – nói trong chươngtrình Tiếng Việt lớp 2
4 Phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là một vấn đề có tầm cỡ lớn và rất quan trọng vì nó làmột trong những vấn đề trọng tâm của chương trình Tiếng Việt lớp 2 Tuy nhiên, dothời gian và các điều kiện khác không cho phép nên trong đề tài này chúng tôi xin giớihạn phạm vi nghiên cứu là: Tìm hiểu “Vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói trong chươngtrình Tiếng Việt lớp 2” ở một số trường Tiểu học trong Tỉnh Bình Dương
5 Phương pháp nghiên cứu:
Chúng tôi sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 165.3 Nhóm phương pháp phân tích – tổng hợp.
Phương pháp này được áp dụng khi xử lý số liệu trong nghiên cứu
5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu.
Khi muốn rút ra những đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu, chúng tôi ápdụng phương pháp này
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu khác
6 Cấu trúc của đề tài:
Bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về nghe – nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2.Chương 2: Vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2.Chương 3: Một số biện pháp rèn kỹ năng nghe – nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận.
1.1.1 Một số tri thức cần thiết về rèn luyện kỹ năng nghe – nói.
1.1.1.1 Nghe – nói là 1 trong 2 dạng giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Theo giáo sư Nguyễn Quang Ninh “ Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ởTiểu học theo hướng giao tiếp” 1998: NXB Giáo dục” thì “Hoạt động giao tiếp bằngngôn ngữ” được thể hiện dưới hai dạng:
Giao tiếp bằng lời nói (nhân vật giao tiếp là người nói và người nghe)
Giao tiếp bằng chữ viết (nhân vật giao tiếp là người nói và người đọc)
Như vậy, dạy kỹ năng - nghe nói ở trường tiểu học là dạy một trong hai hoạtđộng giao tiếp của con người để học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp mộtcách hiệu quả, điều mà trong các chương trình trước đây mặc dầu có đặt ra nhưng chưachú ý thực hiện, chưa thể hiện trong sách giáo khoa, tài liệu buộc phải thực hiện
Hoạt động giao tiếp được diễn ra trong hai hoạt động, hai hoạt động này tồn tạisong song và là hai mặt của một vấn đề, nếu thiếu mặt này thì mặt kia không còn giátrị Đó là :
Hoạt động sinh ngôn ngữ (nói hoặc viết)
Hoạt động tiếp nhận ngôn ngữ (nói hoặc đọc)
Với hoạt động giao tiếp nghe – nói, có thể hình dung như sau:
- Giao tiếp song thoại: là giao tiếp hai chiều, một người nói và một ngườinghe Hai người hai đầu kênh giao tiếp và thay phiên nhau đảm nhận vai nói và vainghe theo quy tắc luân phiên lượt lời và một số quy tắc khác
- Giao tiếp đa thoại: là giao tiếp hai chiều, trong cuộc thoại có sự hiện diệncủa nhiều nhân vật giao tiếp và cũng có sự chuyển đổi vài theo quy tắc luân phiên lượtlời
- Cả hai dạng giao tiếp trên đều thuộc kiểu giao tiếp hội thoại Ngoài hộithoại, giao tiếp bằng lời còn một kiểu phổ biến nữa là đơn thoại
Trang 18- Giao tiếp đơn thoại: là giao tiếp một chiều, trong đó, vai nói là một ngườicòn vai nghe có thể là một người cũng có thể là nhiều người Suốt cả cuộc thoại không
có sự chuyển đổi vai nói và vai nghe
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học trước đây rất ít chú ý rèn kỹ năng nghe – nói
mà có thì cũng chỉ chú ý đến kiểu giao tiếp đơn thoại còn kiểu hội thoại hầu như bỏtrống Chương trình Tiếng Việt Tiểu học mới đã chú ý rèn luyện cả hai hình thức đơnthoại và hội thoại
1.1.1.2 Dạy học sinh Tiểu học hình thành và phát triển kỹ năng.
Dạy học sinh Tiểu học hình thành và phát triển kỹ năng tức là phải tuân thủ theomột quá trình hoạt động nhất định
Theo giáo sư Nguyễn Trí, “để hình thành được một kỹ năng, học sinh phải thựchiện nhiều thao tác” Các thao tác này phải kế tiếp nhau và phải được rèn luyện liêntục Trình độ tự động hóa các thao tác sẽ quyết định mức độ thành thục của chúng Khicác thao tác đã được tự động hóa hoàn toàn, kỹ năng đó sẽ trở thành kĩ xảo
Quá trình rèn luyện kỹ năng, bất cứ kỹ năng nào, phải được trải qua hai giaiđoạn:
Giai đoạn hình thành và xây dựng “biểu tượng”
Giai đoạn củng cố và hoàn thiện các “biểu tượng” thông qua nhiều hình thứcluyện tập khác nhau
Thực ra, trong giao tiếp thì hai kỹ năng nghe và nói không thề tách rời nhau Tuynhiên, xét về góc độ sư phạm, chúng ta có thể chia tách thành kỹ năng nghe và kỹ năngnói để đặt ra nhiệm vụ và yêu cầu rèn luyện còn khi rèn luyện cho học sinh thì hai kỹnăng này lại luôn có mặt ở bên nhau Trong quá trình rèn luyện, cả thầy giáo và họcsinh đều phải tuân theo cơ chế hai giai đoạn như đã nói trên Tuy nhiên so với kỹ năngđọc, viết thì “biểu tượng” trong kỹ năng nghe – nói trừu tượng hơn, khó xây dựng hơn
Đó chính là nội dung lời nói; cách nói, cách nghe; thái độ, tình cảm khi sản sinh vàtiếp nhận ngôn ngữ; nhận thức và thể hiện vấn đề trên qua việc mã hóa và giải mã cácthông tin…
Quá trình hình thành và phát triển kỹ năng nghe – nói có thể cụ thể hóa từ giaiđoạn nêu trên thành các bước sau:
Bước 1 : Nêu yêu cầu và giải thích cách nghe nói (hoặc là nghe, nói)
Trang 19Ở bước này, giáo viên giao nhiệm vụ và hướng dẫn tỉ mỉ cách thực hiện vànhững yêu cầu của bài tập rèn luyện kỹ năng nghe – nói
Bước 2 : Hình thành mẫu (biểu tượng) lời nói để học sinh tri giác
Mẫu này có thể do giáo viên đưa ra hoặc học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫncủa giáo viên
Bước 3 : Luyện tập
Bước này đòi hỏi giáo viên phải tổ chức để học sinh được luyện tập nhiều lầntrên lớp, không có học sinh nào là quan sát viên, không có học sinh nào đứng ngoàicuộc Ở bước này, giáo viên có thể kết hợp đánh giá, rút kinh nghiệm để học sinh nângcao và đẩy nhanh quá trình tự động hóa, tiến đến đạt kĩ xảo nghe – nói
1.1.2 Một số điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 mới liên quan trực tiếp đến đề tài.
1.1.2.1 Quan điểm biên soạn bộ sách Tiếng Việt lớp 2
Cả ba quan điểm (giao tiếp, tích hợp và tích cực hóa hoạt động của học sinh)(giáo trình Phương pháp dạy học ở Tiểu học, trang 36)), đều trực tiếp liên quan đến đềtài này Song, ở đây chúng tôi chỉ xin lưu ý đến quan điểm giao tiếp vì đây là điểm mớinhất của sách Tiếng Việt Tiểu học lần này và nó chi phối từ đầu đến cuối quá trình xử
lí đề tài Các quan điểm khác chúng tôi sẽ lưu tâm đến quá trình nghiên cứu
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện: nội dung và phươngpháp dạy học Về nội dung, sách dạy học sinh từ các nghi thức nói năng thông thườngđến các kỹ năng làm việc và giao tiếp cộng đồng Về phương pháp dạy học, các kỹnăng dạy trên được dạy thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp vớitình huống giao tiếp tự nhiên qua các phân môn và bằng phương pháp tích cực hóahoạt động của học sinh
1.1.2.2 Những điểm mới trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2
Như chúng ta đã biết, sách Tiếng Việt lớp 2 mới được xây dựng theo hai trục:trục chủ điểm và trục kỹ năng Điều đó không có gì mới Nói như giáo sư NguyễnMinh Thuyết, ( chủ biên bộ sách, “cái mới ở đây là sự thay đổi ở từng phân môn”.Giáo sư đề cập đến bốn phân môn có sự thay đổi lớn là Tập đọc, Kể chuyện, Tập làmvăn, Luyện từ và câu Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến bốnphân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu vì nó liên quan rất nhiềuđến việc rèn kỹ năng nghe – nói cho học sinh
Trang 20+ Phân môn Tập đọc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng,đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bàiđọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phânmôn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết tự nhiên, xã hội và con người,cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốttruyện, nhân vật…) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
Phân môn Kể chuyện: Học sinh chỉ kể lại những câu chuyện (hoặc dựng lạihoạt cảnh từ câu chuyện) đã được học ở phân môn Tập đọc chứ không có sách Truyện
kể dành riêng cho môn Kể chuyện Chúng tôi chú ý đến vấn đề này khi phân tích rènluyện kỹ năng nghe – nói qua phân môn Kể chuyện
Phân môn Luyện từ và câu: Học sinh được học và thực hành từ, câu quahoạt động nghe - nói trong giờ học
Phân môn Tập làm văn: Nhiệm vụ của phân môn này là rèn cả 4 kĩ năngnghe, nói, viết và đọc dạy học sinh thực hành một số nghi thức lời nói tối thiểu, một số
kỹ năng đời sống hằng ngày
Kỹ năng nghe nói được rèn luyện chủ yếu qua các phân môn này theo cách thứcmới rất hiệu quả Chúng tôi sẽ làm rõ điều này ở các chương tiếp theo của đề tài
Trang 21CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ RÈN KỸ NĂNG NGHE – NÓI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 2 2.1 Tổng quan về vấn đề rèn kỹ năng nghe - nói trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
Mục tiêu số một của chương trình Tiếng Việt mới ở Tiểu học là “Hình thành vàphát triển ở học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để các em có thể học tập và giao tiếptrong các môi trường hoạt động lứa tuổi” Từ đó, giúp các em tự tin hơn trong việcchiếm lĩnh các tri thức văn hóa và kiến thức đời sống, nhanh chóng hòa nhập vào cộngđồng xã hội Cả bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) đều được rèn luyện từ lớp 1 cho đếnlớp 5 Sau đây là những điểm chính về kỹ năng nghe - nói được dạy trong chươngtrình
+ Lớp 2
Ở lớp 2, kỹ năng nghe vẫn như lớp 1 nhưng yêu cầu cao hơn Đặc biệt, chươngtrình lớp 2 đặt ra yêu cầu “tư thế thái độ lịch sự văn minh khi nghe” trong hội thoại.+ Lớp 3
Kỹ năng nghe đòi hỏi rất thiết thực, phù hợp với lứa tuổi lớp 3 và được rèn luyệntrong tất cả các môn học, trong đó tập trung chủ yếu ở các môn Tập đọc, Kể chuyện,Tập làm văn, Luyện từ và câu Nhằm hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp, TiếngViệt lớp 3 dạy các kỹ năng giao tiếp thông thường đồng thời dạy cho các em các hoạtđộng nghe gắn liền với thông tin đời sống văn hóa và văn học
+ Lớp 4
Kỹ năng nghe đã được nâng cao lên một bước, đặc biệt, yêu cầu lịch sự, tinh tếtrong khi nghe đã được chú ý Người nghe phải nhận ra được thái độ, tình cảm của
Trang 22người nói qua các biểu hiện của ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Trong hoạt động nghehiểu, chương trình hướng học sinh vào các lĩnh vực tin tức, bình luận mang hơi thởcuộc sống thường nhật Yêu cầu nghe, nhớ và bình luận, nhận xét về văn bản văn họcnghệ thuật đã được đặt ra đúng mức.
+ Lớp 5
Ngoài các yêu cầu như ở lớp 4, chương trình lớp 5 còn thêm một số nội dungnhư nghe các bài viết về khoa học thường thức, về đạo đức, thẩm mĩ, về tình bạn Họcsinh được rèn kỹ năng nghe nghi và tìm hiểu cốt lõi vấn đề khi nghe
+ Lớp 4
Cũng vẫn hai hình thức nói đơn thoại và hội thoại nhưng yêu cầu rèn luyện caohơn Chương trình chú ý tới sự tinh tế trong khi nói như giữ đúng vai, biết trình bày đủmọi nội dung vấn đề khi tranh luận, trò chuyện, biết tôn trọng và tận dụng quy tắc giaotiếp, biết thay đổi ngôi khi kể chuyện, biết thông báo kèm lời bình luận, biết giới thiệuvới tư cách là chủ nhân trước khách lạ
+ Lớp 5
Trang 23Ở lớp 5, kỹ năng nói được nâng cao một bước nữa so với lớp 4 Học sinh đượctập bác bỏ, tranh luận, tán thành hoặc giải thích thêm đối vấn đề đang nói Ngoài ra,những yêu cầu về mức độ tinh tế, lịch sự khi giao tiếp đã được học ở lớp 4 được tiếptục rèn luyện, phát triển hơn ở lớp 5
Nhìn chung, kỹ năng nghe – nói được dạy từ lớp 1 tới lớp 5 Những yêu cầu vềnội dung và mức độ luôn luôn phù hợp với tâm lý và tư duy vủa lứa tuổi học sinh theo
từng khối lớp Đặc biệt, cả hai hình thức nghe – nói là hội thoại và đơn thoại luôn luôn
song hành trong chương trình và không xa lạ đối với đời sống thường nhật của tuổihọc trò Những kỹ năng giao tiếp bằng lời nói được nâng dần từ đơn giản đến phứctạp Càng lên lớp trên, yêu cầu về sự tinh tế, lịch sự và linh hoạt trong nghe - nói càngđược nâng cao chứng tỏ, chương trình đã chú ý rất nhiều đến việc “hình thành và pháttriển các kỹ năng cuộc sống” đặc biệt là rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữcho học sinh để các em hồn nhiên, tự tin bước vào cuộc sống nhiều khó khăn này
Rèn kỹ năng nghe – nói vốn không có gì là mới song nội dung, mức độ và hìnhthành rèn luyện lại hoàn toàn mang diện mạo mới tạo nên sức thuyết phục lớn chochương trình
Một điều đáng quan tâm nữa là: Vấn đề rèn kỹ năng nghe – nói được thực hiệntrong tất cả các môn học trong nhà trường và trong tất cả các phân môn Tiếng Việt Bàitập rèn luyện rất đa dạng và theo đó, hình thức tổ chức rèn luyện cũng rất phong phú,hấp dẫn và sinh động Điều này sẽ giúp chúng tôi trình bày cụ thể trong phần tiếp theocủa chương trình này
2.2 Vấn đề rèn kỹ năng nghe-nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 2.
2.2.1 Yêu cầu về nội dung và mức độ của việc rèn kỹ năng nghe – nói ở lớp 2.
2.2.1.1 Kỹ năng nghe
Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học ban hành năm 2002, kỹ năng nghe ởlớp 2 được quy định như sau:
- Nghe trong hội thoại:
+ Luyện tập để có thái độ lịch sự, văn minh khi nghe người khác nói
+ Nghe hiểu và trả lời được những câu hỏi của người đối thoại; tập dùng các câuhỏi, tập hỏi lại người đối thoại nhằm hiểu rõ ý của họ
- Nghe hiểu văn học:
Trang 24+ Nghe hiểu được những văn bản có độ dài thích hợp, có nội dung gần gũi với họcsinh lớp 2.
+ Nghe để kể lại được nội dung chính của văn bản ngắn, truyên ngắn
2.2.1.2 Kỹ năng nói
Cũng trong tài liệu đã dẫn trên, kỹ năng nói trong chương trình lớp 2 được quyđịnh như sau:
- Nói trong hội thoại:
+ Luyện tập để có tư thế, thái độ lịch sự, văn minh khi tham gia hội thoại, giaotiếp
+ Nói rõ ràng, thành câu có nghĩa
+ Bước đầu biết chào hỏi, chia tay, mời, cám ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, tựgiới thiệu đúng ngữ điệu và đúng nghi thức khi giao tiếp nơi công cộng, trong gia đình
Về kỹ năng nói:
Cũng như đối với kỹ năng nghe, kỹ năng nói đòi hỏi thái độ lịch sự văn minhkhi giao tiếp Nghi thức lời nói, nghi thức giao tiếp được đặc biệt chú trọng Qua cácbài tập thực hành, giáo viên tập cho học sinh các kỹ năng giao tiếp bằng lời nói vớinhiều hình thức, biện pháp khác nhau làm cho các em cảm thấy hứng thú, say mê
Đó là con đường ngắn nhất để hình thành kỹ năng nghe – nói cho các em
Trang 252.2.2.1.1 Các hình thức bài tập góp phần rèn luyện kỹ năng nghe – nóitrong phân môn Tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 2.
- Trả lời câu hỏi tìm hiểu bài.
Ví dụ:
Bài Tự thuật (Tiếng Việt lớp 2, tập 1, trang 7)
1 Em biết những gì về bạn Thanh Hà?
2 Nhờ đâu em biết về bạn Thanh Hà như vậy?
Bài Phần thưởng (Tiếng Việt lớp 2, tập 1, trang 13)
1 Hãy kể những việc làm tốt của bạn Na
2 Theo em, điều bí mật được các bạn của Na bàn bạc là gì?
3 Em có nghĩ rằng Na xứng đáng được thưởng không? Vì sao?
4 Khi Na được phần thưởng, những ai vui mừng? Vui mừng như thế nào?
Hình thức bài tập này vốn đã có trong bài Tập đọc chương trình cải cách giáodục Với bài tập này, học sinh chỉ cần trả lời miệng trong giờ học là đủ Vì vậy, hìnhthức bài tập này có tác dụng rèn kỹ năng nghe – nói cho học sinh
- Giao tiếp có tình huống
Ví dụ:
Bài Tự thuật (Tiếng Việt lớp 2, tập 1, trang 7)
5 Hãy cho biết:
- Họ và tên của em
- Em là nam hay nữ
- Ngày sinh của em
- Nơi sinh của em
6 Hãy cho biết địa phương em ở:
- Xã (hoặc phường)
Trang 26- Huyện (hoặc quận, thị xã)
Bài Tìm ngọc ( Tiếng Việt lớp 2, tập 1, trang 138)
3 Mèo và Chó đã làm cách nào để lấy lại viên ngọc?
a) Ở nhà người thợ kim hoàn
b) Khi ngọc bị cá đớp mất
c) Khi ngọc bị quạ cướp mất
Khác với hình thức bài tập trên, hình thức bài tập này xuất hiện ít hơn, khôngphải bài tập đọc nào cũng có
Với loại bài tập này, học sinh phải tập nói không có văn bản cho trước hay nóicách khác, học sinh được rèn kỹ năng vừa nghĩ vừa nói ra những suy nghĩ của mình.Đây là một trong những kĩ năng rất cần thiết trong giao tiếp bằng lời của học sinh
2.2.2.1.2 Các hình thức bài tập góp phần rèn luyện kỹ năng nghe – nóitrong phân môn Tập làm văn trong chương trình Tiếng Việt lớp 2
Bài tập rèn nghi thức lời nói: Tự giới thiệu, chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, khẳngđịnh, phủ định, mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, chia vui, chia buồn ngạc nhiên, tán thành,thán phục, từ chối Đáp lời chào, lời tự giới thiệu, đáp lời cảm ơn, xin lỗi, khẳng định,phủ định, chia vui, chia buồn, khen ngợi, tán thành, từ chối
Ví dụ:
Bài Tập làm văn (trang 54, Tiếng Việt lớp 2, tập 1)
1 Trả lời câu hỏi bằng hai cách theo mẫu:
a) Em có đi xem phim không?
b) Mẹ có mua báo không?
c) Em có ăn cơm bây giờ không?
Mẫu: Em có thích đọc thơ không?
- Có, em rất thích đọc thơ
- Không, em không thích đọc thơ
Bài Tập làm văn (trang 137, Tiếng Việt lớp 2, tập 1)
1 Từ một câu dưới đây đặt 1 câu để tỏ ý khen: