1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN: Liên hệ thực tế mang tính giáo dục ở một số bài trong môn Ngữ Văn

29 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 551,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN: Liên hệ thực tế mang tính giáo dục ở một số bài trong môn Ngữ Văn

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

LIÊN HỆ THỰC TẾ MANG TÍNH GIÁO DỤC Ở MỘT SỐ BÀI TRONG

MÔN NGỮ VĂN

Trang 2

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Môn Ngữ Văn là một trong những môn chính trong các bộ môn học ở nhà trường Nhưng thực trạng học sinh ngày nay không hứng thú với môn này ngày càng nhiều Các em không nhân thấy rằng:Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người

Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo

dục quan điểm, tư tưởng ,tình cảm cho học sinh Mặt khác “ Dạy văn là một quá trình rèn

luyện toàn diện” ( Nghiên cứu giáo dục , số 28, 11/1973), chính vì vậy nội dung giáo dục tư

tưởng , đạo đức cho HS trong quá trình dạy và học văn là vô cùng quan trọng và có nhiều

cơ sở sát thực để giáo viên liên hệ giáo dục thuận lợi hơn các môn học khác

Trong những năm vừa qua , thực hiện chương trình sách giáo khoa mới cùng với phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông , môn văn đã mang tính cập nhật hơn , gắn với thực tế cuộc sống hơn

Theo quan điểm của tôi, muốn dạy chữ, trước hết phải dạy các em làm người Đó là vấn

đề vô cùng khó Nhưng tôi mong rằng, làm cho các em có ý thức trước rồi may ra, dạy và học mới có hiệu quả Đặc biệt với vai trò giáo dục thái độ, tư tưởng, đạo đức nhằm mục tiêu hoàn thiện nhân cách cho học sinh để các em trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa , đồng thời góp phần tích cực trong việc chấn hưng nền tảng đạo đức xã hội trong

giai đoạn hiện nay , vấn đề tích hợp nội dung cuộc vận động Học tập và làm theo tấm

gương đạo đức Hồ Chí Minh là vô cùng thiết thực và cần phải có sự quan tâm đúng mức

của mỗi giáo viên trong quá trình giảng dạy

Môn Ngữ văn ở trường phổ thông có nhiều ưu thế, thuận lợi trong việc tích hợp bộ môn Giáo viên có thể đưa vào tích hợp giảng dạy , giáo dục , tuyên truyền cho học sinh nội dung các cuộc vận động lớn của ngành giáo dục trong những năm vừa qua như cuộc vận động

Hai không , phong trào Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực …với tuyên

truyền bảo vệ môi trương Xanh – Sạch – đẹp, giáo dục ý thức của các em đối với môi

trường xung quanh Đồng thời qua một số bài có liên quan, có thể giáo dục các em lòng thương người, lòng yêu nước, nói thêm cho các em biết thêm về kĩ năng sống, về tình yêu trong sáng, về văn hóa truyền thống…

Có thể nói, tham vọng trên của tôi là quá lớn, nhưng thiết nghĩ, một trong những nguyên nhân khiến cho HS ngày nay không thích học văn vì các em thấy nó xa rời, không thiết thực với cuộc sống Nhiều GV lại dạy khô khan, ít liên hệ, áp đặt, nặng nề , không cho các em nói ra suy nghĩ của mình….GV nói rồi lại đọc, rồi lại chép…khiến giờ học văn trở nên công thức, nhàm chán

Một số học sinh chưa có ý thức và nhận thức đúng đắn đối với các vấn đề xã hội và vấn

đề tự giáo dục đạo đức bản thân Do sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và thông tin , liên lạc do vậy học sinh thường bị phân tán tư tưởng vào những vấn đề hoặc nội dung thông tin ngoài luồng khiến cho các em thờ ơ và rất nhanh quên lãng những nội dung ngoài kiến thức chuẩn của bài học nếu giáo viên chỉ đề cập đến một cách qua loa , đại khái Đa số các em lười hoặc không bao giờ suy nghĩ ,liên tưởng , so sánh , suy luận nội dung tri thức gắn với cuộc sống khi đọc sách ,kể cả văn bản trong SGK cũng như các loại sách báo và các kênh thông tin khác

Chính vì vậy, việc dạy học văn trở nên là một bài toán vô cùng khó Để có một lời giải đưa môn văn thiết thực hơn, không chỉ đổi mới phương pháp dạy và học mà còn làm cho

HS thấy môn văn “gần” với cuộc sống

Trang 3

Vì những suy nghĩ nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “ Liên hệ thực tế mang tính giáo dục ở một số bài trong môn Ngữ Văn.”

Vì khả năng và thời gian có hạn, bản thân tôi đưa ra ở một số bài nhưng có thể mở rộng

ra ở nhiều bài khác nếu có nội dung tương tự

Đây là suy nghĩ của riêng cá nhân sẽ không tránh khỏi những hạn chế Rất mong quý thầy cô góp cho những ý kiến quý báu để tôi có dịp bổ khuyết

Tôi xin chân thành cảm ơn!

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

1 Cơ sở lí luận :

- Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-

BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS.”

- Trong tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa năm 2002 đã nêu rõ : Môn ngữ văn có vị

trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học cơ sở : Góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở , chuẩn bị cho họ ra đời , hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng , biết thương yêu , quý trọng gia đình , bạn bè , có lòng yêu nước , yêu chủ nghĩa

xã hội ; biết hướng tới những tư tưởng , tình cảm như lòng nhân ái , tinh thần tôn trọng

lẽ phải , công bằng …, lòng ghét cái xấu , cái ác ( …).Đó là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Muốn làm được điều đó thì vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn là một trong những

nội dung đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách giáo khoa mới mà chúng ta đã thực hiện trong những năm qua Tích hợp các nội dung giảng dạy đối với các bộ môn khoa học xã hội là mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất của nội dung – tư duy – tư tưởng , luôn tiềm ẩn và rất linh hoạt Trong chương trình giảng dạy , giáo viên ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp nội dung kiến thức , kĩ năng của ba phân môn văn – tiếng Việt – tập làm văn mà còn phải tích hợp nội dung kiến thức , kĩ năng của các môn học khác có liên quan , các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục

thái độ tư tưởng cho học sinh một cách linh hoạt , uyển chuyển và tinh tế

Có thể nói dạy học văn là một bài toán nan giải, quá trình đổi mới là một quá trình tìm tòi ,nhọc nhằn Cần có hiểu biết đến nơi đến chốn về lí luận, về thực tế, cần có phương pháp tiếp cận đồng bộ và thái độ khiêm tốn, cầu thị, mới có thể có được những suy nghĩ chín chắn, có chất lượng và bổ ích Như chúng ta biết: Những tác phẩm văn chương lớn, nhất là những tác phẩm văn chương kiệt xuất, bao giờ cũng có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là nỗi đau của người phụ nữ Việt Nam tài sắc đầu

thế kỉ XVIII Bất hạnh của cô bé Cô – dét đâu chỉ là chuyện của trẻ em nước Pháp thời V Huy – gô Thơ Nguyễn trãi được giới văn học Pháp đánh giá là có “sens cosmique” ( tinh

thần vũ trụ ) Thế nhưng, không phải vì vậy mà mỗi tác phẩm văn chương lại mất đi giá trị

lịch sử của nó Ví như, nếu tách Vợ nhặt của Kim Lân ra khỏi không khí tiền khởi nghĩa thì

làm sao cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật sáng giá trong ý đồ sáng tác của Kim Lân

ở cuối tác phẩm “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ”

Cho nên, để giúp các em yêu mến môn văn, cần làm cho các em hiểu nội dung tác phẩm nói gì? Bài đó nói gì? Mà để hiểu tác phẩm, hãy liên hệ tác phẩm đến những gì xung quanh

Trang 4

cuộc sống của các em Từ đó, các em thấy được sự đồng cảm, sự gần gũi, các em như đang

là người trong cuộc

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

- So với chương trình và sgk cũ, chương trình và sgk Ngữ Văn 12 có những thay đổi nhất định trong việc lựa chọn tác phẩm với ý tưởng mở rộng phần sáng tác sau năm 1975

- Chương trình thay thế và đưa thêm một số tác phẩm như: Đò Lèn ( Nguyễn Duy), Đàn

ghi ta của Lor – ca ( Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường

), Một người Hà Nội ( Nguyễn Khải ), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chiếc

thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu), Hồn TRương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ),…

- Chương trình cũng chú ý thêm về loại thể Về văn nghị luận, có thêm bài Nguyễn Đình

Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc ( Phạm Văn Đồng ) Ngoài ra, còn có một

bài về chân dung văn học của Xvai – gơ và hai văn bản nhật dụng Kịch sau năm 1975 được

đưa vào sgk với Hồn TRương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ) Kí được bổ sung thêm với hồi kí Những năm tháng không thể nào quên ( Võ Nguyên Giáp) và bút kí Ai đã đặt tên cho

dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường )

- Chương trình không chỉ chọn các sáng tác nghệ thuật văn chương mà còn tăng cường phần nghị luận xã hội, nghị luận văn học và thêm một số văn bản nhật dụng

Từ sự phong phú đó, sẽ giúp chúng ta lựa chọn những bài phù hợp để tích hợp trong bộ môn này

2.1 Tích hợp nội dung Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

a/ Cơ sở:

- Trong giáo dục và đào tạo, cũng như trong mọi công tác khác, việc tuân thủ những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tư tưởng Hồ Chí Minh là điều quan trọng Bởi vì, đó là

“nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”

- Môn Ngữ văn ở trường phổ thông có nhiều ưu thế, thuận lợi trong việc tích hợp nội dung bộ môn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh gồm nhiều bộ phận, trong đó tư tưởng đạo đức có vai trò, ý nghĩa quan trọng bởi vì đạo đức là nền tảng của người cách mạng Hơn nữa, nhân dân

ta đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” nên việc quán triệt và làm theo tấm gương đạo đức của Người càng cấp thiết Công việc này

sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đạt mục tiêu giáo dục đã xác định

- Tài liệu “ Nội dung tích hợp học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong môn Ngữ Văn gồm có:

+ Môn Ngữ văn với việc giáo dục tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho Học sinh

+ Nội dung giáo dục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong môn Ngữ Văn ở trường Phổ thông

Trang 5

+ Hướng dẫn dạy học một số bài theo hướng tích hợp

- Để sử dụng tài liệu một cách hiệu quả, Gv phải nhận thức về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh ( Nguồn gốc, quá trình hình thành, nội dung cơ bản và thực hiện học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay), giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh qua môn Văn, năm được các yêu cầu , nguyên tắc của việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho HS…

b/ Giải pháp: Việc giáo dục tư tưởng nói chung, về đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh nói

riêng phải được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc phương pháp luận về sư phạm sau đây:

- Liên kết nội dung bài học với nội dung tư tưởng Hồ chí Minh

- Nêu kết luận khái quát về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cần học tập

- Vận dụng sáng tạo, cụ thể nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động thực tiễn

- Phát huy tính tích cực của HS trong giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ( vận dụng nguyên tắc tự giáo dục, hình thành và phát triển năng lực của HS trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo.)

c/ Lưu ý: Không làm tăng thêm nội dung, thời lượng dạy học, không phải là đưa thêm

các thông tin, kiến thức làm nặng thêm nội dung mà vẫn đảm bảo được các nội dung và yêu cầu dạy học của môn học Dựa trên sự tương đồng giữa nội dung bài học Ngữ Văn với nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, đựa trên hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản thân người học

và quá trình đối thoại, tương tác giữa người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống cuộc sống phù hợp với lứa tuổi

d/ Một số bài tích hợp:

d1 Bài: Tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Trong quá trình dạy phần tác giả, ở

mục vài nét về tiểu sử và sự nghiệp văn học của Người, giáo viên lồng ghép về gương sáng

- Di sản văn học:lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách nghệ thuật

-> Tích hợp: Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức, yêu nước, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc Quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật và những đóng góp lớn lao về văn học nghệ thuật và vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất đạo đức cách mạng của Bác qua sáng tác văn học nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và là nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Người là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào công nhân quốc tế Là nhà nghệ sĩ lớn trên nhiều lĩnh vực , là danh nhân văn hóa thế giới

* Thời điểm: Sau mục tiểu sử, quan điểm sáng tác và di sản văn học của Hồ Chí Minh

Trang 6

* Tài liệu tham khảo:Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do ( Tư tưởng Hồ Chí Minh, di sản văn hóa dân tộc, tr 225 – 229)

d2 Bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:: Tích hợp lòng yêu nước và độc lập dân

+ Là một tác phẩm chính luận đặc sắc Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc,…

+ Là áng văn tâm huyết của HCM, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta

* Tài liệu tham khảo: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp ( Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, tác gia, tác phẩm và nghệ thuật ngôn từ, tr 33 – 71)

d3 Bài Việt Bắc của Tố Hữu: Tích hợp lối sống giản dị, phong thái ung dung tự tại của

Hồ Chí Minh - hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh: Ông Ké Cách mạng giản dị, gần gũi, ung dung tự tại, vượt mọi khó khăn…trong những ngày tháng ở chiến khu Việt Bắc

* Mức độ: Liên hệ

* Thời điểm: Dạy ở khổ thơ :

“- “Ở đâu u ám quân thù,

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi, Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Mười lăm năm ấy, ai quên Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà”

-> Cảm hứng về kháng chiến, về cách mạng gắn liền với cảm hứng ca ngợi lãnh tụ ( Việt Bắc và cụ Hồ là một) Đấy là đặc điểm thường thấy trong thơ Tố Hữu

* Tài liệu tham khảo: Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị ( Lê Anh Trà, Hồ chí Minh, tác gia, tác phẩm và nghệ thuật ngôn từ, tr 781)

d4 Bài Bác Ơi của Tố Hữu: Tích hợp lí tưởng độc lập dân tộc, sự hi sinh quên mình vì

hạnh phúc dân tộc, tình yêu thương nhân loại, lẽ sống giản dị, đức khiêm tốn…của Hồ Chí Minh Qua đó, giúp HS thấy được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh

* Mức độ: Liên hệ

* Thời điểm : Dạy ở những câu thơ:

Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi

Năm canh bớt nặng nỗi thương đời

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mợi kiếp người

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Trang 7

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn

* Tài liệu tham khảo: Hồ Chí Minh, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp (Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Tác gia, tác phẩm và nghệ thuật ngôn từ, tr 33 – 71)

Ngoài ra, GV có thể tích hợp ở những bài có nội dung có thể liên hệ được

2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường :

a Cơ sở: Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống Đó không chỉ là nơi

tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ, trau dồi những nét đẹp văn hóa, thẩm mĩ,……

Chính vì vậy, thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 31/01/2005, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến 2012 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học, thông qua các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, xây dựng mô hình Xanh – sạch –đẹp phù hợp với các vùng miền

Bảo vệ môi trường hiện nay là một trong những mối quan tâm mang tính toàn cầu Ở nước ta, bảo vệ môi trường cuãng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc Nghị quyết số

41/NQ-TƯ ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường

trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Quyết định số 1363/QĐ- TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê

duyệt đề án : “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” và

Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 /12/ 2003 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc phê

duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển một tương lai bền vững của đất nước

- Trong những năm gần đây, giáo dục môi trường (GDMT) được xem là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Nhà nước ta và các nước trên thế giới, bởi lẽ đó là việc làm để bảo tồn

và phát triển bền vững “cái nôi của nhân loại”

- Giáo dục môi trường trong nhà trường lại càng có ý nghĩa quan trọng, được xem là một trong những biện pháp hàng đầu để bảo vệ môi trường (BVMT) có hiệu quả GDMT sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường, về việc khai thác sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và có ý thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước, những người sẽ làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau này Nếu họ có đầy đủ những nhận thức về bảo vệ môi trường, thì từ khi đang học trên ghế nhà trường và cho đến khi ra đời, dù họ làm việc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì cương vị hoạt động nào, cũng đều có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả

- Ở trường THPT, việc truyền thụ kiến thức GDMT đến học sinh thuận lợi và hiệu quả nhất vẫn là hình thức tích hợp và lồng ghép vào các môn học Bên cạnh những kiến thức từ nội dung bài học, các em còn có thể tích lũy được các kiến thức về môi trường từ đó hình thành ý thức bảo vệ, giữ gìn Hiện nay, nội dung này đã và đang được triển khai, phổ biến rộng rãi trong giờ học kể cả chính khóa lẫn ngoại khóa, đặc biệt là lồng ghép trong môn Ngữ Văn

Trang 8

b Giải pháp:Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực liên ngành, vì vậy, được triển

khai theo phương thức tích hợp Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong môn học thông qua các bài cụ thể Trong môn văn, chủ yếu dừng lại ở mức độ liên hệ ( có điều kiện liên hệ một cách logic), giúp HS ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kĩ năng, thói quen bảo vệ môi trường, biết yêu quý thiên nhiên xung quanh chúng ta…

c Lưu ý:

- Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhập vào chương trình Giáo dục Bảo vệ môi trường là cách tiếp cận xuyên bộ môn Giáo dục phù hợp với tâm lí lứa tuổi Không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải

- Chỉ tích hợp với nhứng bài có nội dung thật sự có liên quan đến môi trường, không gượng ép, không tràn lan…không biến giờ học văn thành giwof trình bày về giáo dục môi trường, giáo dục mô trường chỉ là nội dung được tích hợp một cách tự nhiên, hòa đồng trong các đơn vị kiến thức chuyên môn

d Một số bài tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường:

d1.Bài Phong cách ngôn ngữ Khoa học: Khi tìm hiểu đặc điểm và rèn kĩ năng sử dụng

phong cách ngôn ngữ khoa học GV rèn luyện và giúp HS làm quen với các thuật ngữ khoa học môi trường và các văn bản phổ biến khoa học môi trường hay kết hợp trong các bài tập rèn luyện kĩ năng, phân tích ngữ liệu hoặc bài tập tìm từ ngữ( các thuật ngữ hay dùng trong các văn bản khoa học môi trường, đặt câu, viết đoạn,…

d2 Bài Bài viết số 2 ( Bàn về một hiện tượng đời sống): Trong khi củng cố các kĩ năng

nghị luận và liên hệ nâng cao ý thức, thái độ đúng đắn đối với những hiện tượng đời sống hiện nay, giáo viên có thể khái thác khả năng liên hệ đến những vấn đề về môi trường

Ví dụ: Với đề bài : Suy nghĩ của anh ( chị) về hiện tượng “nghiện” Karaoke và in ter nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay

GV có thể hướng dẫn HS khai thác những vấn đề ô nhiễm âm thanh, mất trật tự công cộng, tình trạng nhiễu loạn thông tin, ô nhiễm thông tin,…thậm chí, nhiều vấn đề có thể dẫn đến: nghiện Ka ra ô kê, in ter nét quá, không dọn dẹp không gian mình ở, bỏ rác bừa bãi…đó cũng là ô nhiễm môi trường

Hay giáo viên có thể cho các em một số đề liên quan đến môi trường như: Anh ( chị) suy nghĩ như thế nào về hiện tượng ô nhiễm môi trường? Anh chị làm gì để góp phần môi trường làm Xanh – Sạch – Đẹp ? Anh chị suy nghĩ gì về vấn đề nhiều bạn trẻ hiện nay vứt rác bừa bãi?

-> Có thể nói, GV tranh thủ mọi nội dung để hướng các em đến ý thức với môi trường nhưng nhớ không được lạc hướng, quá sa đà vào vấn đề môi trường mà quên mất mục tiêu của tiết học văn

d3 Bài Vận dụng các thao tác lập luận GV yêu cầu HS về nhà sưu tầm trước những văn

bản viết về môi trường có sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận Đến lớp, những văn bản

đó sẽ giúp các thực hành tiết luyện tập hiệu quả Vừa luyện tập các thao tác lập luận, vừa gợi nhắc bảo vệ môi trường

d4 Ai đã đặt tên cho dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường)

- Trong quá trình dạy học bài này, đặc biệt là phần đọc – hiểu văn bản GV giúp HS từ việc cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp tự nhiên nên thơ, vẻ đẹp trầm lắng, tích đọng lịch sử - văn hóa bao đời của dòng sông Hương qua ngòi bút tài hoa, tinh tế của HPNT – người nghệ sĩ nặng lòng với Huế, gợi liên hệ đến tình yêu thiên nhiên, ý thức giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên, những giá trị từ môi trường lịch sử - văn hóa

Trang 9

- Cụ thể: Khi tìm hiều : Sông Hương nhìn trong mối quan hệ với kinh thành Huế, GV có

thể liên hệ và khẳng định:

Sự xuất hiện một loạt các địa danh văn hóa vốn gắn liền với xứ Huế thực không vô tình,

tác giả muốn nói với bạn đọc: Sông Hương chính là hiện thân, là bộ mặt, là linh hồn của văn hóa Huế Người Việt nào cũng yêu con sông ngọn suối gắn bó với cuộc đời, với quê hương, với dân tộc mình Thiên nhiên đã tô điểm cho cuộc sống những màu sắc, hình hài, những giá trị văn hóa lớn lao

- Từ tác phẩm đó, rút ra ý nghĩa của văn bản: Thể hiện những phát hiện , khám phá sâu sắc

và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương

-> Liên hệ: Tuổi thơ lớn lên, trong cuộc đời mỗi người đều gắn với một con sông Những con sông đã tô điểm cho cuộc đời và con người, những con sông như chứng nhân của thời gian, của đời người Vì vậy, hãy yêu và bảo vệ những con sông …

d5 Người lái đò sông Đà ( Nguyễn Tuân):

- Khi cho HS đọc hiểu tác phẩm này, yêu cầu HS đọc kĩ và gạch tất cả những dẫn chững

có liên quan đến con Sông Đà

- Với hai nét tính cách nổi bật của con sông là : Hung bạo và trữ tình, ta thấy được sự giàu

có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền tây Tổ quốc Từ đó, nâng cao ý thức trân trọng vẻ đẹp thiên nhiên – con người, giữ gìn giá trị môi trường thiên nhiên của đất nước

- Qua bài này, GV cũng làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: Việc mô tả con sông Đà lắm thác nhiều ghềnh đã làm nổi bật hình ảnh người lái đò khỏe mạnh, lão luyện, giàu ý chí, ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc

-> Niềm tự hào của tác giả về Tổ Quốc hùng vĩ giàu đẹp Đoạn văn là âm hưởng của những khúc ca ca ngợi sức mạnh thiên nhiên thật hoang dại mà cũng hết sức tự do và hào phóng

Đó là biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước GV có thể liên hệ thêm về vai trò của Sông Đà trong thủy điện, đóng góp lớn lao vào cuộc sống con người Vì vậy, chúng ta hãy yêu và bảo vệ những con sông quanh ta

d6 Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành

- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã giới thiệu, miêu tả rừng xà nu dưới bom đạn: Cả rừng xà nu

hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại và đặc quyện thành từng cục máu lớn

- Kết thúc truyện cũng lại là hình ảnh rừng xà trong bom đạn của kẻ thù: “Trận đại bác

đêm qua đã đánh ngã bốn năm cây xà nu to Nhựa ứa ra ở những vết thương đang đọng lại, lóng lánh nắng hè Quanh đó, vô số những cây con đang mọc lên Có những cây đang nhú lên khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê….Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác mgoaif những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời

-> Sự xuất hiện hình ảnh rừng xà nu ở đầu và cuối thiên truyện là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Vẻ đẹp của tác phẩm là vẻ đẹp của thiên nhiên và khí phách, truyền thống của con người Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Vẻ đẹp ấy hội tụ , ẩn chứa trong vẻ đẹp của rừng xà nu Ấn tượng về “rừng xà nu” là ấn tượng xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Xà nu hiện diện trong toàn bộ câu chuyện, gắn liền với đời sống dân làng Xô man Rừng xà nu chịu nhiều tàn phá đau thương của bom đạn nhưng không khi nào mất đi sức sống mãnh liệt, quật cường Rừng xà nu là hiện thân của dân làng Xô man, mỗi cây xà

nu là mỗi người của dân làng Xô man, các thế hệ xà nu nối tiếp không ngừng là các thế hệ làng Xô man nối tiếp nhau đứng lên chiến đấu

Trang 10

Ý nghĩa biểu tượng của “rừng xà nu” còn là sức mạnh từ sự giao kết bền chặt giữa thiên nhiên và con người Thiếu đi rừng xà nu là dân làng Xô man thiếu đi sức mạnh quật cường, nghệ thuật mất đi một biểu tượng sử thi đặc sắc

-> Khi đoc – hiểu văn bản, GV giúp và hướng dẫn, khơi gợi, dẫn dắt để từ việc cảm nhận vẻ đẹp của rừng xà nu trong tác phẩm, liên hệ đến ý thức bảo vệ rừng: Trong tác phẩm, rừng như là biểu tượng che chở cho dân làng, song hành cùng dân làng đánh giặc Ông cha ta

thương nói “Rừng vàng biển bạc”, chính vì vậy, chúng ta ra sức bảo vệ rừng, phủ xanh đồi

trống, trồng thêm cây xanh và không được chặt phá rừng Trong thời chiến, rừng cùng con người đánh giặc, che chở cho chúng ta Thời bình, rừng ngăn lũ lụt, cung cấp bóng mát và khí co2… Hãy bảo vệ rừng vì cuộc sống của chúng ta

d7 Bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

- Với đề 1: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

-> Từ việc GV gợi ý cho HS tìm hiểu đề và lập dàn ý như: Vẻ đẹp của núi rừng đêm trăng

khuya được miêu tả như thế nào?( Hình ảnh Trăng, hoa, cây cổ thụ, tiếng suối…)-> HS

thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên -> thêm yêu và quý thiên nhiên xung quanh ta như hài hòa với con người

- Ngoài ra, GV có thể đưa ra một số đề bài là đoạn thơ, bài thơ có liên hệ đến những vấn đề

môi trương, thiên nhiên như đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu, như đoạn thơ trong

Tây Tiến của Quang Dũng…

d8 Bài Việt Bắc của Tố Hữu Thông qua một số câu thơ, đoạn thơ, ta thấy được thiên

nhiên Việt Bắc Đặc biệt nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh và người

với bức tranh bốn mùa thật đẹp

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

-> Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa o Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với

“mơ nở trắng rừng” o Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng” o Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình” o Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”

Thiên nhiên đẹp là thế và gắn bó với con người như thế, Gv dẫn dắt bằng những câu hỏi

để đưa đến kết luận : Thiên nhiên rất đa dạng và đẹp qua bốn mùa khác nhau, nên chúng ta phải biết yêu thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên

Trang 11

2.3 Tích hợp kĩ năng sống(KNS)

a Cơ sở:

- KNS( Kĩ năng sống) bao gồm một loạt các KN cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng

ngày của con người Bản chất của KNS là KN tự quản bản thân và KN xã hội cần thiết để

cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và

với XH, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

- Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người

- Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người

- Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách

Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các Kĩ năng sống cho HS

b Giải pháp:

- Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại

- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như các giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp

- Giúp các em nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần của bản thân và người khác

Trang 12

+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày

+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống

+ Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác ); giúp HS phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân

Muốn thực hiện được điều đó, trong những giờ dạy học văn, để tiết dạy bớt nặng nề, Gv

có thể kể chuyện- những chuyện mang tính giải trí nhưng giàu tính giáo dục Đồng thời, từ những bài văn, có thể liên hệ đến thực tế để trang bị thêm cho các em hiểu thêm về cuộc sống

c Lưu ý:

- GV phải làm sao để HS có hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các KNS mà bản thân

đã rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các KNS đó Từ đó, giúp các em hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp

- Liên hệ, giáo dục phải rõ ràng, tránh gây sự hiểu nhầm ở HS Tạo tâm lí tự nhiên, thích

thú cho HS, làm giảm áp lực học tập và đặc biệt, giúp các em thấy môn Văn thật là gần, thật

là thiết thực và bổ ích

- KNS không phải tự nhiên mà có mà phải hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và

rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục

- KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân KNS mang tính xã hội vì nó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch

sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc

d Một số bài có thể cung cấp, trang bị cho các em các kiến thức, kĩ năng cần thiết:

Qua hình tượng Sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa Sóng và em, bài

thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người Từ đó, giúp các em nhận thức rằng: Tình yêu là một tình cảm cao đẹp của con người, là một hạnh phúc lướn lao của con người

- Ở lứa tuổi các em, phần lớn các em đã biết rung động, biết để ý và nhiều HS đã yêu Tuy nhiên, các em còn khá non nớt và hiểu về tình yêu Vì vậy, khi dạy đến bài này, tâm lí của

HS rất hào hứng Những HS đã yêu hào hứng đón nhận, những HS đang yêu và cả những

HS chưa yêu, nhưng nhắc đến đề tài Tình yêu, hầu hết HS đều rất thích và chăm chú Vì thế, GV một mặt phải dạy bài học để HS hiểu thêm về Xuân Quỳnh, hiểu nội dung và nghệ

thuật của Sóng Một mặt phải trang bị thêm kiến thức về tình yêu học đường Kể chó các em

nghe những câu chuyện liên quan đến tình yêu mang tính giáo dục và học tập các em rút ra

Trang 13

được gì sau những câu chuyện, sau những lời liên hệ bổ ích của GV -> Các em thấy mình

giống và khác trong những câu chuyện như thế nào, thấy môn văn gần gũi với các em

d2.Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 của Cô –Phi – An

– Nan Giáo dục các em biết thêm về căn bệnh thế kỉ

- Qua bài này giúp HS tự nhận thức: Nhận thức được đây là một căn bệnh thế kỷ có tính

chất nóng bỏng của toàn cầu Từ đó, xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham

gia vào cuộc chiến đấu này, có những hành động thiết thực góp phần ngăn chặn sự lây lan

của căn bệnh thế kỷ

- Giao tiếp/ trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với bạn bè, thầy cô, về hiện trạng cuộc

chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay, tác hại, nguy cơ lây lan của căn bệnh thế kỷ và

những giải pháp để góp phần vào cuộc chiến này

- Ra quyết định: Xác định những việc cá nhân và xã hội cần làm để góp phần vào cuộc

chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ

d3.Bài Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Giáo dục các em biết cảm thông

và rung động, biết thêm một số vấn đề mà xã hội đang quan tâm…

Đây là bài mới đưa vào trong sgk, nội dung tác phẩm rất gần gũi trong cuộc sống Những

cảnh trong tác phẩm này gần như chũng ta đã bắt gặp đâu đó Qua tác phẩm này, ngoài nội

dung và nghệ thuật của tác phẩm, GV có thể liên hệ thêm đến vấn đề bạo lực gia đình và

nạn sinh nhiều con, nguyên nhân và hậu quả của chúng Từ đó, giúp các em hiểu thêm về

tác hại của bạo lực gia đình, của vấn đề sinh nhiều con, gia đình lại nghèo, con cái thất

học…đặc biệt, lại sống nhờ trên sông nước

- Qua bài này, rèn cho HS có Kĩ năng thể hiện sự cảm thông: là khả năng có thể hình dung

và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, qua đó hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người

khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

Tham khảo:

- Nhà văn Nguyễn Minh Châu thực sự đã trở thành một trong những người mở đường xuất

sắc cho công cuộc đổi mới văn học nước nhà sau năm 1975 Khuynh hướng sáng tác văn

học của ông trong giai đoạn này thường hướng về cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo

đức và triết lí nhân sinh “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm như thế Bằng một tình

cảm dạt dào với tấm lòng thiết tha hiểu đời, hiểu nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu không chỉ

cho người đọc thấy được mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, giữa sự lam lũ của cuộc

sống và tình người bao la, mà còn lên tiếng tố cáo, đấu tranh cho một vấn nạn đầy bức xúc

và nhức nhối trong xã hội: đó là bạo hành trong gia đình Bạo hành trong gia đình không chỉ

là một đề tài mà Nguyễn Minh Châu quan tâm và nhắc tới trong “Chiếc thuyền ngoài xa”,

mà còn là vấn nạn cả xã hội chúng ta đang đối mặt và cần phải giải quyết

Chỉ có một nhà văn lớn mới khái quát được nhiều vấn đề như thế trong một tác phẩm của

mình, Nguyễn Minh Châu đã làm được điều đó Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn

Minh Châu đã cho người đọc “thấy” được biết bao triết lí nhân văn cũng như đạo đức luân

lí Bạo lực gia đình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” hiện lên một cách quá đỗi ngạc nhiên và

ngỡ ngàng qua con mắt luôn chứa chan vẻ đẹp từ nghệ thuật của nhân vật Phùng Phùng, và

hẳn là nhiều bạn đọc đã bức bối trong lòng biết bao khi phải chứng kiến cảnh bạo hành này

Đó là hình ảnh một người chồng, người cha vũ phu, đánh vợ mình với chiếc thắt lưng một

cách tàn bạo, vừa đánh vừa nhục mạ người đàn bà khốn khổ đó Cảnh tượng hiện lên hệt

Trang 14

như những trận đòi roi thời Trung cổ mà người ta vẫn rùng mình khi nghĩ đến, chỉ khác ở chỗ có lẽ người đàn bà ấy không bị trói lại và cũng không chạy trốn mà thôi Bằng một cảnh tượng quá đỗi tàn ác ấy, Nguyễn Minh Châu không chỉ dẫn dắt người đọc đi tìm hiểu thân thế người đàn bà hàng chài, mà còn cho ta thấy được biết bao là sự đời, nhân tình thế thái

mà con người ta cần phải hiểu Phải chăng vì mang hình dáng xấu xí, thô kệch, thất học hay

vì cuộc sống quá lam lũ, lầm than mà người chồng đã đã đánh người vợ mình như thế Đánh, chửi ác nghiệt tới nỗi chị ta phải xin chồng cho lên bờ đánh, để các con không phải chứng kiến cảnh đó Thật tội nghiệp biết bao khi bức màn về cuộc đời và số phận người phụ

nữ hàng chài được hé mở Làm sao có thể sống mà mưu sinh trên vùng biển này khi không

có một người đàn ông, dù cho hắn ta có đối xử như một con dã thú? Phải sống vì con cái, sống để chúng được nên người là niềm hạnh phúc của chị ta – tuy nhỏ nhoi nhưng thật cao thượng! Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài khép lại ở đó, nhưng hẳn sẽ còn để lại trong lòng độc giả bao ngổn ngang, suy tư về cuộc sống Mối quan hệ đa chiều giữa cuộc đời và nghệ thuật không nên ở cái nhìn phiến diện Làm sao ta có thể phán xét người, xét đời một cách xác đáng khi ta chỉ nhìn nó có một bề! Không, những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu luôn mang trong bản thân nó đầy sinh khí với những triết lí, đạo đức mà con người luôn phải trăn trở, luôn muốn hoàn thiện

Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài và nạn bạo hành gia đình trong “Chiếc thuyền ngoài xa” chỉ là một cái nhìn rất bé nhỏ đối về vấn nạn này trong xã hội ngày nay Bạo hành gia đình không chỉ là một khái niệm để chỉ các hành vi bạo lực trong gia đình, mà

nó còn là một vấn nạn mà một xã hội văn minh không thể chấp nhận tồn tại với nó Hẳn là nhà văn Nguyễn Minh Châu đã hiểu và cảm thông sâu sắc với người đàn bà hàng chài nhiều lắm khi viết nên thật xúc động những áng văn chan chứa sự hi sinh âm thầm cũng như tình cảm mẫu tử thiêng liêng ấy trong tác phẩm của minh Nguyễn Minh Châu đã không chọn đối tượng bị bạo hành trực tiếp là người con, vì có lẽ ông hiểu rằng: người phụ nữ, người vợ trong gia đình mới là những nạn nhân chính của bạo lực gia đình Nói như vậy có lẽ nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi, rằng chỉ có phụ nữ mới bị bạo hành thôi sao? Câu trả lời là không! Bởi lẽ không chỉ riêng phụ nữ, mà ngay tới cả nam giới cũng là nạn nhân của bạo hành trong gia đình Từ xưa, không chỉ ở nước ta, mà còn ở nhiều nước khác, ở nhiều nền văn hóa khác, bạo hành gia đình đã không còn xa lạ Có thể dễ dàng nhận ra bạo hành gia đình ở nhiều trường hợp, ví như việc dùng vũ lực với các thành viên trong gia đình, việc dùng lời nói để làm tổn thương tinh thần … và còn nhiều hình thái bạo hành khác Nhưng phổ biến hơn cả, và được nhiều người biết đến hơn cả là bạo hành thể xác, tức là có những hành động như đấm, đá, tát, đánh … tác động trực tiếp tới sức khỏe nạn nhân

Ngày nay, tuy xã hội đã văn minh hơn, nhưng tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” vẫn tồn tại song song với đó Có lẽ điều tiến bộ hơn chỉ là người phụ nữ được bảo vệ và đối

xử công bằng với nam giới bởi nhiều chính sách tiến bộ của Nhà nước mà thôi, ví như phụ

nữ được đi học, được tham gia hoạt động cộng đồng, chính trị, tôn giáo …

“Chiếc thuyền ngoài xa”, nguyên nhân chủ yếu khiến người đàn bà hàng chài đó bị đánh là

vì cứ mỗi khi khổ quá, anh chồng lại lôi chị ra đánh Rõ ràng hoàn cảnh và điều kiện sống cũng là một nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, đó là còn chưa kể tới những hệ lụy của

nó Cái gì quá khó khăn, quá vất vả thường khiến con người ta ích kỉ và tàn nhẫn hơn, khó

mà giữ được mình trong sạch, giữ mình là mình nữa Chính vì thế, khi ý thức được về bạo hành trong gia đình và nhân quyền, con người ta đã ngày càng tiếp thu và học hỏi nhiều hơn

để xây dựng xã hội thêm văn minh

Ngày đăng: 28/05/2014, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w