Trong lĩnh vực Công Nghệ Thông Tin nói riêng, yêu cầu quan trọng nhất của người học đó chính là thực hành. Có thực hành thì người học mới có thể tự mình lĩnh hội và hiểu biết sâu sắc với lý thuyết. Với ngành mạng máy tính, nhu cầu thực hành được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong điều kiện còn thiếu thốn về trang bị như hiện nay, người học đặc biệt là sinh viên ít có điều kiện thực hành. Đặc biệt là với các thiết bị đắt tiền như Router, Switch chuyên dụng
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và sự cần thiết phải thu hồi đất
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá (CNH, HĐH & ĐTH) là con đường phát triển thiết yếu cho mọi quốc gia Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng và kinh tế tri thức ngày càng trở nên quan trọng, CNH, HĐH đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nước chậm phát triển rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến Toàn cầu hoá là xu thế không thể tránh khỏi, và việc áp dụng CNH, HĐH sẽ tạo ra cơ hội cho các quốc gia này trong việc hội nhập và phát triển bền vững.
Trong những năm gần đây, thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy rằng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và đô thị hóa (ĐTH) là những yếu tố quyết định trong việc thay đổi căn bản phương thức sản xuất Sự chuyển đổi này không chỉ đưa nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất hiện đại mà còn làm thay đổi nội dung kinh tế – xã hội của nông thôn Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, CNH và HĐH đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững.
CNH, HĐH gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành tiến trình thống nhất thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội Về kinh tế, chúng làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao Về xã hội, đô thị hoá không chỉ là sự hình thành đô thị mới mà còn là nấc thang tiến hoá vượt bậc, thể hiện trình độ văn minh mới và phương thức phát triển mới, bao gồm tổ chức và bố trí lực lượng sản xuất, cũng như cơ cấu lại nền kinh tế.
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, xã hội đã trải qua những thay đổi cơ bản, bao gồm sự phát triển đô thị và sự thu hẹp của xã hội nông thôn Đô thị hoá được xem là một trong những đặc trưng nổi bật của sự biến đổi xã hội hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của xã hội Đây là một quá trình lịch sử, trong đó nâng cao vai trò của đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề cốt lõi Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, dân cư, cấu trúc nghề nghiệp - xã hội, cấu trúc dân số, cũng như lối sống và văn hoá.
Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, hình thành và phát triển các hình thức sống đô thị Quá trình này diễn ra theo hai hình thức chính: đô thị hoá theo chiều rộng, mở rộng quy mô diện tích và dân số đô thị, và đô thị hoá theo chiều sâu, hiện đại hoá và nâng cao trình độ của các đô thị hiện có Đô thị hoá không chỉ là sự phát triển của các thành phố lớn mà còn là sự phổ biến lối sống thành thị trong dân cư Nó gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu các nhà quản lý đô thị phải điều tiết và tận dụng tối đa tiềm năng sẵn có Đô thị hoá nông thôn là xu hướng bền vững, phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố, trong khi đô thị hoá ngoại vi thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của vùng ngoại vi thành phố.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự hình thành các đô thị hiện đại đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội Đô thị, bên cạnh nông thôn, là hình thái quần cư cơ bản thứ hai của xã hội loài người Mặc dù đô thị ra đời sớm, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, trở thành hiện tượng xã hội và kinh tế có ảnh hưởng lớn đến mọi lĩnh vực đời sống Đô thị không chỉ là bộ phận của nền kinh tế quốc dân mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước Sự phát triển đô thị kích thích tăng trưởng và phát triển các vùng lãnh thổ xung quanh, đồng thời lan tỏa tiến bộ công nghệ, văn hóa và xã hội Nhiều quốc gia đã hình thành các vùng lãnh thổ phát triển, đảm nhận chức năng thúc đẩy kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, tiếp nhận thông tin và thành tựu phát triển từ thế giới để lan rộng ra các khu vực xung quanh.
Biểu đồ 1.1 : Vai trò và tác động tích cực của phát triển đô thị
Các đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thu nhập quốc dân và nguồn thu cho ngân sách quốc gia Chẳng hạn, bốn thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng vào năm 2004 đã chiếm khoảng 14% dân số, nhưng lại tạo ra 36,4% GDP, 45,7% giá trị sản xuất công nghiệp và gần 50% giá trị xuất khẩu của cả nước Những đô thị này đã trở thành các vùng động lực với tốc độ tăng trưởng cao, góp phần quan trọng vào việc mở rộng quy mô nền kinh tế và nâng cao giá trị công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu.
Với quy mô sản xuất, diện tích và dân số lớn, các đô thị tại Việt Nam không ngừng gia tăng năng lực sản xuất, cung cấp một lượng lớn sản phẩm công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo nguồn hàng cho xuất khẩu Số liệu dưới đây sẽ làm rõ vai trò của bốn đô thị lớn nhất ở Việt Nam.
Phát triển và phân bố các ngành công nghiệp mới
Tăng việc làm và dân số trong vùng
Tạo ra các ngoại ứng tới các hoạt động kinh tế
Cung cÊp kết cấu hạ tầng tốt hơn cho sản xuất và đời sèng
Nâng cao trình độ của lao động công nghiệp
Phát triển các ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu đầu vào của công nghiệp
Thu hút thêm vốn đầu t− và sự phân bổ các doanh nghiệp mới
Tăng nguồn thu cho ngân sách
Mở rộng quy mô và phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống
N©ng cao phóc lợi xã hội cho các vùng
Biểu 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của cả n−ớc và các đô thị lớn năm 2004
Chỉ tiêu Cả n−ớc Hà Nội TP HCM Hải Phòng Đà Nẵng Phần còn lại
Tỷ trọng dân số (%) 100,0 3,75 7,38 2,15 0,93 85,79 GDP (Tỷ đồng) 362092 30526,7 79121 12521,5 9564,4 230358,4
Tỷ trọng GDP (%) 100,0 8,43 21,85 3,45 2,64 63,63 Tốc độ tăng GDP (%) 7,69 11,12 11,6 11,39 13,26 ……
Hệ số GDP bình quân so với cả n−ớc (lần)
GTSX công nghiệp (Tỷ đồng) 354030 35365,8 102063 18269,9 7059,5 191271,8
Tỷ trọng GTSXCN (%) 100,0 9,9 28,8 5,1 1,9 54,3 Giá trị xuất khẩu (Tr USD) 26003 2164,2 9816,0 700,5 310,4 13011,9
Tỷ trọng GTXK (%) 100,0 8,3 37,7 2,7 1,2 50,1 Giải quyết việc làm (ng−ời) …… 78000 221600 39100 24400 ……
Nguồn: Tính từ số liệu của Niên giám thống kê Hà Nội 2004, Cục Thống kê Hà Nội
Các đô thị lớn đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của các vùng và cả nước, dẫn dắt nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong hợp tác và giao lưu quốc tế Các hoạt động dịch vụ quan trọng như xuất nhập khẩu, tài chính, vận tải, du lịch và khoa học công nghệ từ các đô thị lớn không chỉ có sức lan tỏa mà còn thúc đẩy sự phát triển chung của các lãnh thổ trên toàn quốc.
Các đô thị với nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng cao có khả năng nhanh chóng tiếp cận công nghệ tiên tiến, từ đó phát triển các công nghệ và thiết bị hiện đại Những sản phẩm này không chỉ phục vụ cho sự phát triển của đô thị mà còn đáp ứng nhu cầu của các vùng lãnh thổ khác trên toàn quốc.
Các đô thị đang dần cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, giúp đảm bảo việc tiếp cận nhanh chóng và kịp thời các nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin kinh tế và thị trường Điều này không chỉ tạo điều kiện cho việc cung cấp, chuyển tải và phản hồi thông tin mà còn khuyến khích các vùng tham gia trao đổi thông tin, hòa nhập vào sự phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế.
Sự phát triển đô thị tại Việt Nam đã nâng cao năng suất và chất lượng lao động cho toàn bộ nền kinh tế Đội ngũ lao động và cán bộ quản lý có trình độ cao đã hình thành, với phần lớn lực lượng lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên tập trung tại các đô thị Kỹ năng và kinh nghiệm quản trị kinh doanh của người lao động được cải thiện và lan tỏa đến các vùng khác thông qua các chi nhánh và cơ sở sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và năng suất lao động, đặc biệt là ở các khu vực kém phát triển.
Với lợi thế về lực lượng và tiềm lực khoa học kỹ thuật, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu, bao gồm các trường đại học và viện nghiên cứu đầu ngành, đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Điều này góp phần nâng cao chất lượng lao động cho nền kinh tế quốc gia.
Sự gia tăng GDP/người và sự phát triển của các cơ sở công nghiệp chế biến, xuất khẩu đã làm tăng sức mua tại các đô thị, đặc biệt là đối với hàng nông lâm thủy sản chất lượng cao Các đô thị trở thành trung tâm tiêu thụ nông sản chất lượng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở cung cấp nguyên liệu và dịch vụ, góp phần chuyển đổi tập quán sản xuất truyền thống ở nhiều vùng nông thôn Điều này mở ra cơ hội nâng cao chất lượng và giá trị nông sản, đồng thời mở rộng thị trường Như vậy, sự phát triển của các đô thị có ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn và của cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Sự phát triển của các đô thị đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc bổ sung nguồn vốn đầu tư vào các vùng nông thôn và vùng kém phát triển Các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức từ các thành phố lớn đã chuyển vốn đầu tư để phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch và văn hóa tại những khu vực này Bên cạnh đó, việc thu hút lao động đến các đô thị cũng góp phần quan trọng, khi một phần lớn thu nhập của họ được gửi về quê hương để hỗ trợ gia đình trong việc xây dựng, sửa chữa nhà cửa, phát triển hạ tầng và kinh tế nông hộ.
Tầm quan trọng của việc thu hồi đất để công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở nước ta
Thực tiễn ở n−ớc ta trong những năm vừa qua cho thấy, CNH, HĐH
Đô thị hóa sẽ dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng một phần đất đai Trong quá trình này, Nhà nước sẽ thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, và xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm phục vụ nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia.
Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị, cũng như phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đã diễn ra mạnh mẽ từ khi Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được đẩy nhanh từ những năm 1990, khi đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh CNH, HĐH để đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Cùng với đó, nhiệm vụ xây dựng và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng như giao thông, điện lực, thông tin, và cấp nước trở nên cấp thiết Tiến trình CNH, HĐH từ những năm 1990 gắn liền với đô thị hóa, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010 nhấn mạnh việc phát triển mạng lưới đô thị hợp lý và hiện đại hóa các thành phố lớn, đồng thời thúc đẩy đô thị hóa nông thôn Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam giai đoạn 1996 – 2020 đặt ra mục tiêu phát triển đô thị toàn quốc đến năm 2020.
1 Vân kiiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2001, trang 89
Đến năm 2020, mục tiêu là hoàn thiện đô thị trên toàn quốc với kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, và phát triển hợp lý Dự kiến, dân số đô thị sẽ chiếm khoảng 45% tổng dân số cả nước.
Từ những năm 1990, Việt Nam đã mạnh mẽ thực hiện thu hồi đất để phát triển đô thị, xây dựng khu công nghiệp và cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Biểu 1.3: Tình hình biến động các loại đất giai đoạn 1990 -2003 Đơn vị : ha
Nguồn : Tổng cục Thống kê, 2004
Theo thống kê năm 1996, tổng diện tích đất đai cả nước khoảng 33.104.200 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 8.104.241 ha, đất lâm nghiệp 10.935.362 ha, đất chuyên dùng 1.301.782 ha, đất ở 439.670 ha và đất chưa sử dụng 12.604.100 ha Đến năm 2003, diện tích đất nông nghiệp tăng lên 9.531.800 ha, đất lâm nghiệp có rừng đạt 12.402.200 ha, đất chuyên dùng là 1.669.600 ha, đất ở 460.400 ha, và đất chưa sử dụng giảm còn 8.867.400 ha Sự gia tăng đất chuyên dùng khoảng 367.818 ha trong giai đoạn này chủ yếu do nhu cầu xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, đô thị, cũng như hạ tầng kinh tế xã hội Biểu 1.3 minh họa tình hình biến động các loại đất ở nước ta từ năm 1990 đến 2003.
Theo biểu 1.3 cho thấy, trong 13 năm, từ năm 1990 đến năm 2003, chúng ta đã thu hồi tới 697.410 ha đất phục vụ cho việc xây dựng các khu
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, đất dành cho xây dựng chiếm 70,248 ha, trong khi đất giao thông là 250,494 ha và đất cho thủy lợi là 242,388 ha Mặc dù đất ở đô thị tăng nhanh, nhưng việc điều chỉnh định mức đất ở cho khu vực nông thôn theo Luật đất đai năm 1993 đã dẫn đến sự giảm số lượng đất ở vào năm 2003 so với năm 1990.
Từ năm 2001 đến 2003, tổng diện tích đất thu hồi đạt 153.979 ha, trong đó đất chuyên dùng chiếm 136.757 ha và đất ở là 17.222 ha Đáng chú ý, diện tích đất thu hồi phục vụ xây dựng trong ba năm này lớn hơn tổng diện tích thu hồi của mười năm trước Bên cạnh đó, đất ở tại khu vực đô thị tăng nhanh hơn so với đất ở ở khu vực nông thôn.
Việc thu hồi đất ở Việt Nam không đồng đều giữa các vùng và tỉnh thành, mà chủ yếu tập trung vào những khu vực có điều kiện thuận lợi như gần sân bay, bến cảng và các đầu mối giao thông Mức độ thu hồi đất còn phụ thuộc vào năng lực và sự sáng tạo của đội ngũ cán bộ tại các tỉnh, thành phố, cũng như chính sách cởi mở phù hợp với xu thế phát triển địa phương.
Các vùng có đất thu hồi nhiều nhất tại Việt Nam là đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, với các tỉnh như Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, và thành phố Hồ Chí Minh nằm trong số những địa phương có đất bị thu hồi nhiều Những bức xúc liên quan đến thu hồi đất, như giá đền bù, tái định cư, và giải quyết việc làm, chủ yếu xảy ra ở các khu vực này.
Biểu 1.4: Tình hình thu hồi đất ở một số địa ph − ơng giai đoạn 2001-2005
STT Tỉnh, thành phố Diện tích đất thu hồi (ha)
Nguồn : Báo cáo của các tỉnh và tài liệu của Bộ Lao động - TB và Xã hội, 2005
Trong những năm gần đây, việc thu hồi đất ở Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ, chủ yếu nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng đất Nhờ vào quá trình này, nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp đã được xây dựng, đồng thời mở rộng và phát triển các khu đô thị mới Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cũng được cải thiện đáng kể, bao gồm giao thông, cấp điện, cấp - thoát nước, thông tin liên lạc, trường học và bệnh viện.
Hoàn thiện và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại và du lịch, cùng với việc mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên và cây xanh, đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những nỗ lực này thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ hơn.
Việc thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị, cũng như xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa.
HĐH & ĐTH Tác động này thể hiện rõ ở những điểm dưới đây
Việc thu hồi đất đã giúp cả nước xây dựng 131 khu công nghiệp và khu chế xuất, thu hút hàng trăm dự án đầu tư trong và ngoài nước, mang lại hàng chục tỷ USD và hàng ngàn tỷ đồng cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta, một quốc gia nông nghiệp, tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, đồng thời giảm thiểu lao động nông thôn Quá trình này đặc biệt liên quan đến việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất.
Tính đến cuối năm 2005, cả nước đã có 131 khu công nghiệp và khu chế xuất với tổng diện tích 28.076 ha Bên cạnh đó, có 124 cụm công nghiệp hoặc khu công nghiệp vừa và nhỏ do các địa phương thành lập, trải dài tại 19 tỉnh, thành phố với tổng diện tích hơn 6.500 ha Hiện tại, gần 350 khu vực ở 54 tỉnh, thành phố đã kiến nghị đưa vào quy hoạch xây dựng thành khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 35.000 ha.
Biểu 1.5: Phát triển các khu công nghiệp của n − ớc ta đến năm 2005 phân theo vùng
Vùng Số l−ợng khu công nghiệp (khu)
Diện tích sử dông (ha)
1- Vùng trung du miền núi phía Bắc 4 577
2- Vùng đồng bằng sông Hồng 29 5.066
3- Vùng duyên hải miền Trung 22 4.088
6- Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 17 3.641
Nguồn : Vụ Quản lý khu công nghiệp và chế xuất, Bộ Kế hoạch và Đầu t−, 2005
Biểu 1.6 : Đầu t − trực tiếp n − ớc ngoài đ − ợc cấp phép và đầu t − của khu vực dân doanh thời kỳ 1988 -2004
Năm Số dự án đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài đ−ợc cÊp phÐp (dự án)
Vốn đóng góp đầu t− trùc tiÕp n−íc ngoài (triệu USD) Đầu t− của khu vùc d©n doanh (tû VN§)
Nguồn : Tổng cục Thống kê, 2005
Thứ hai, nhờ có việc thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng, nên quá trình đô thị hoá cũng đ−ợc đẩy mạnh
Năm 1954, dân số thành thị ở n−ớc ta là 2.748.000 ng−ời trong tổng số
Những vấn đề nảy sinh trong quá trình thu hồi đất để Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, việc thu hồi đất và chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng và đất chuyên dùng là cần thiết Quá trình này nhằm phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, hệ thống giao thông và các công trình quốc gia khác Tuy nhiên, việc thu hồi đất cũng đặt ra nhiều vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến ba đối tượng chính: nhà nước, các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng và người dân có đất bị thu hồi.
Đối với người dân có đất bị thu hồi, việc giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập và đời sống là rất quan trọng.
Vấn đề việc làm của người dân có đất bị thu hồi là một trong những vấn đề quan trọng nhất Người dân thường sống trong ngôi nhà của họ và có công việc ổn định, đặc biệt là nông dân Khi đất bị thu hồi, họ không chỉ phải di chuyển nơi ở mà còn phải thay đổi nghề nghiệp, dẫn đến những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới Do đó, vấn đề việc làm trở thành một thách thức lớn đối với những người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất.
Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế ở các đô thị mới diễn ra nhanh chóng nhờ vào sự tập trung lực lượng sản xuất và tổ chức lao động hiện đại, dẫn đến năng suất lao động cao Sự tăng trưởng kinh tế đô thị không chỉ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mà còn thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong đô thị Ngược lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị góp phần làm tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, nâng cao năng suất lao động xã hội và tăng GDP bình quân đầu người tại đô thị.
Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi để giải quyết quá tải dân số, các khu dân cư sẽ hình thành và hoạt động thương mại, dịch vụ sẽ phát triển mạnh mẽ Ngoại thành trở thành nơi có sự thay đổi đáng kể về thương mại và dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và nhu cầu giải trí của cư dân nội thành.
Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn đã mất phần lớn ruộng đất canh tác khi chuyển sang sống ở đô thị Số tiền được Nhà nước đền bù hoặc từ việc bán đất cho cư dân mới đã giúp họ tạo ra nghề mới và tìm kiếm việc làm mới, dẫn đến nhiều thay đổi trong cuộc sống của họ.
Người lao động cần việc làm để kiếm tiền, vì vậy họ cung cấp sức lao động của mình Các ngành kinh tế chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có sự tham gia của người lao động, những người cũng là người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ do các ngành sản xuất Do đó, sự phát triển của các ngành kinh tế phụ thuộc vào lao động, và ngược lại, người lao động cần cung cấp sức lao động của mình Tuy nhiên, lao động tại đô thị yêu cầu trình độ chuyên môn cao hơn, dẫn đến mức giá lao động ở đô thị cao hơn so với nông thôn.
Sự phát triển đô thị tạo ra nhiều việc làm cho lao động tại thành phố, đồng thời thu hút lao động từ các vùng nông thôn, giúp giảm tình trạng thất nghiệp ở những khu vực kém phát triển Điều này góp phần nâng cao năng suất lao động tại các vùng nông thôn Chỉ riêng bốn thành phố lớn như Hà Nội
Trong năm 2004, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng đã tạo ra khoảng 363.000 việc làm cho người lao động Bên cạnh số lao động chính thức tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh, còn có một lượng lớn lao động làm việc trong các ngành dịch vụ, xây dựng cơ bản và các khu vực phi chính thức khác, góp phần vào sự phát triển của các đô thị này.
Gia tăng quy mô thành phố thông qua việc mở rộng không gian và hình thành các quận, phường mới có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, khi nhiều lao động nông nghiệp bị mất việc làm do thu hồi đất đai để xây dựng đô thị Mặc dù họ nhận được tiền đền bù, nhưng nếu không sử dụng đúng mục đích, tình trạng thất nghiệp sẽ trầm trọng hơn và phát sinh các vấn đề xã hội khác Nguyên nhân chính là do sự phát triển của ngành công nghiệp và thương mại - dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu việc làm, cùng với hạn chế về năng lực và trình độ của người lao động nông dân, khiến họ khó thích ứng với công việc mới Nhiều người sau khi làm việc tại các nhà máy không đáp ứng được yêu cầu và lại rơi vào tình trạng thất nghiệp Mặc dù đã có các trung tâm giáo dục và dạy nghề, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động.
Sự di chuyển ồ ạt của lao động từ nông thôn ra thành phố, trong khi số lượng việc làm tại các khu vực đô thị không tăng nhanh, đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm cao.
Vấn đề lao động và việc làm cần được chú trọng do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Việc xây dựng các chương trình và dự án cụ thể nhằm giải quyết thất nghiệp, chuyển đổi nghề và tạo việc làm mới là rất cần thiết Đặc biệt, việc đào tạo và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất cần trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
Mặc dù đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng hiện nay, vấn đề thu hồi đất vẫn đang là một thách thức lớn.
"nóng", bức xúc ở nhiều địa phương Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập nhiều đến vấn đề này
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giai đoạn 2000-2004, gần 157.000 ha đất nông nghiệp đã được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có gần 22.000 ha cho các khu công nghiệp, 35.000 ha cho cụm công nghiệp vừa và nhỏ, và gần 100.000 ha cho cơ sở hạ tầng đô thị Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 62,5% tổng diện tích các khu công nghiệp cả nước, tương đương 73,2% tổng diện tích của ba vùng kinh tế trọng điểm Theo khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động không có việc làm, và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi dẫn đến 13 lao động mất việc làm trong nông nghiệp.
Từ năm 2000 đến 2004, có tới 204.100 lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề nghiệp Hiện nay, nhiều người trong số đó vẫn chưa tìm được việc làm và đang rơi vào tình trạng thất nghiệp toàn phần.
Giai đoạn 2001-2005, tại 14 tỉnh có tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh, tổng diện tích đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng là
20.631,4 ha Những địa phương có diện tích thu hồi lớn là Hà Nội, Hải
Phòng, Hà Tây, Hải D−ơng, Vĩnh Phúc, Phú Yên, Cần Thơ