Trong quá trình nhận thức đó, cái tinh thần thể hiện sự tồn tại cụ thể của mình trong các lĩnh vực của pháp luật trừu tượng, đạo đức và luân lý được Hegel triển khai thông qua những lập
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN HEGEL TRONG TÁC PHẨM “NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN” (1821)
Chủ nhiệm đề tài: TS NGÔ THỊ MỸ DUNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN HEGEL TRONG TÁC PHẨM “NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HOC PHÁP QUYỀN” (1821)
Chủ nhiệm đề tài: TS NGÔ THỊ MỸ DUNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM 10
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 10
1.2 Mục đích của tác phẩm 14
1.3 Kết cấu của tác phẩm 20
Chương 2 : MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM 25
2.1 Ý chí tự do với vấn đề pháp luật, đạo đức và luân lý 25
2.2 Gia đình, xã hội công dân và nhà nước 42
2.3 Quyền lực nhà vua, quyền hành pháp và quyền lập pháp 60
2.4 Quan hệ giữa các nhà nước và lịch sử thế giới (Weltgeschichte) 77
2.5 Một số nhận định, đánh giá về những nội dung cơ bản của tác phẩm 84
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Triết học của Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831) là một trong những tiền đề lý luận quan trọng của chủ nghĩa Marx Với những cống
hiến to lớn trong hầu hết các lĩnh vực, Hegel đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ
và sâu sắc trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây Việc nghiên cứu có tính phê phán những tư tưởng triết học Hegel nói chung và triết học pháp quyền của ông nói riêng góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận Như Engels đã viết: “Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện,
va muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [9, 487]
Sự hình thành và phát triển của mỗi học thuyết triết học gắn liền với hoàn cảnh lịch sử đã sản sinh ra nó và dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng văn minh nhân loại Trong lịch sử triết học, nhất là thời kỳ trước Marx, không
có chủ nghĩa duy vật nào là triệt để và cũng không có chủ nghĩa duy tâm nào lai không tìm thấy trong nó những hạt nhân tiến bộ Sự ra đời của triết học Marx không chỉ chịu sự qui định của những điều kiện lịch sử, kinh tế – xã hội Đức những năm 40 của thế kỷ XIX, mà còn là sự kế thừa và phát triển những
tư tưởng văn hóa tinh thần nhân loại, được đúc kết trong các học thuyết triết hoc từ cổ đại đến cận đại, trong đó có triết học pháp quyền Hegel Thông qua
sự phân tích và phê phán trực tiếp triết học pháp quyền Hegel trong các tác phẩm “Phê phán triết học pháp quyền Hegel” (1842/1843) và “Góp phần
Trang 5Phê phán triết học pháp quyền của Hegel Lời nói đầu” (1843/1844), tư tưởng của Marx đã có sự chuyển biến rõ rệt từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật lịch sử
Triết học pháp quyền Hegel thuộc lĩnh vực tinh thần khách quan của Triết học tinh thần (tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan và tinh thần tuyệt đối) trong hệ thống triết học của ông (lôgic học, triết học tự nhiên và triết học tinh thần) Trong hệ thống triết học của Hegel, triết học pháp quyền giữ
vai trò quan trọng Nó chính là cái tinh thần trong quá trình nhận thức bản thân đã
vượt ra khỏi hình thức chủ quan của mình để trở thành hiện thực Trong quá trình nhận thức đó, cái tinh thần thể hiện sự tồn tại cụ thể của mình trong các lĩnh vực của pháp luật trừu tượng, đạo đức và luân lý được Hegel triển khai thông qua những lập luận về gia đình, xã hội công dân và nhà nước, về quyền lực nhà nước, về lịch sử thế giới, Mặc dù những vấn đề trên của triết học pháp quyền Hegel được phân tích trên thế quan duy tâm, tư duy tư biện và thần bí, nhưng Marx vẫn cho rằng đó là “triết học đã được trình bày một cách nhất quán nhất, Phổng phú nhất và hoàn chỉnh nhất” [6, 579] Triết học tư biện
về pháp quyền của Hegel chính là “ý thức chính trị và ý thức pháp quyền của Đức, ý thức mà biểu hiện chủ yếu nhất, phổ biến nhất được đề lên thành khoa
hoc” [6, 579] Việc xem xét một cách có phê phán triết học pháp quyền của Hegel giúp chúng ta hiểu cụ thể hơn về sự đóng góp của Hegel trong lĩnh vực chính trị – xã hội, cũng như những mặt hạn chế của phép biện chứng duy tâm
và những kết luận cực đoan phản động về mặt chính trị của ông Từ đấy chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về triết học Marx, đặc biệt
là về sự đối lập có tính nguyên tắc giữa phép biện chứng duy vật và phép
Trang 6biện chứng duy tâm thông qua sự phân tích nội dung tư tưởng của triết học pháp quyền Hegel
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, triết học Hegel được đề cập đến trong nhiều giáo trình, tài
lieu tham khảo như “Lịch sử triết học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất ban năm 1998, của GS TS Nguyễn Hữu Vui; “Thập đại tùng thư – 10 nhà tư tưởng lớn thế giới” của tác giả Vương Đức Phổng và Ngô Hiểu Minh, do Phổng Bao dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 2003; “Quan niệm của Hêghen về bản chất của triết học” (1998), “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen” (1999) và “Quan điểm lịch sử triết học của Hêghen” (2001), của
GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn và TS Đỗ Minh Hợp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội… Những công trình trên hoặc là phân tích một cách có hệ thống toàn
bộ tư tưởng triết học Hegel, hoặc là nghiên cứu chuyên sâu từng lĩnh vực riêng của nó
Về tư tưởng triết học pháp quyền của Hegel, các nhà nghiên cứu đã đề
cập đến trong một số tài liệu tham khảo như “Lịch sử phép biện chứng” (tập
3), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, của Viện hàn lâm khoa học Liên
Xo, do TS Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính; “Triết học pháp quyền của Hêghen”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2002, của GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn và TS Đỗ Minh Hợp; “Vấn đề triết học trong tác phẩm của C Mác – Ph Ăngghen – V I Lênin”, do PGS TS Doan Chính và PGS
TS Đinh Ngọc Thạch chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2003
Những tài liệu tham khảo trên đã đưa ra một cái nhìn tổng thể và sự đánh giá khái quát nhất về triết học pháp quyền Hegel thông qua việc phân
Trang 7tích một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Hegel như ý chí
tự do và vấn đề bản chất của pháp luật; vấn đề xã hội, nhà nước và con người;
vấn đề quan hệ giữa các nhà nước và lịch sử thế giới Thông qua sự phân tích các tác phẩm của Marx về triết học pháp quyền Hegel như “Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hêghen”; “Lời nói đầu cho tác phẩm
“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, của PGS TS Đinh Ngọc Thạch, một số nội dung tư tưởng của triết học pháp quyền Hegel cùng với thế
giới quan duy tâm thần bí, tính chất dung hòa về mặt chính trị của ông đã
được làm rõ Hiện nay tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” của
Hegel đã được Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải, và được Nxb Tri Thức xuất bản năm 2010 Đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng ta có cơ sở để phân tích tư tưởng triết học pháp quyền Hegel được tốt hơn
Ở các nước trên thế giới, đặc biệt ở Đức, triết học pháp quyền Hegel nhận được sự quan tâm thu hút từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như Triết học, đạo đức học, chính trị học, luật học,… Tài liệu nghiên cứu về triết hoc pháp quyền Hegel rất đa dạng và Phổng phú, xuất phát từ nhiều góc độ
và thế giới quan khác nhau Đáng chú ý nhất là tài liệu của nhà nghiên cứu Manfred Riedel Trong nhiều năm thu thập tài liệu về triết học Hegel nói chung va triết học pháp quyền của ông nói riêng, Riedel đã đem lại cho chúng
ta một cái nhìn vừa tổng thể vừa chuyên biệt về các lĩnh vực của toàn bộ hệ thống triết học Hegel Đối với triết học pháp quyền Hegel, Riedel đã nghiên cứu và tập hợp một khối lượng lớn những bài viết (đồng ý, phê phán, bình luận, giải thích) về tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” của
Hegel trong cac tác phẩm “Nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel”
(“Studien zu Hegels Rechtsphilosophie”), xuất bản tại Frankfurt am Main năm
Trang 81969; “Lý luận và thực tiễn trong tư duy Hegel” (“Theorie und Praxis im Denken Hegel”), xuất bản tại Stuttgart năm 1965; “Những tài liệu về triết học pháp quyền Hegel” (“Materialien zu Hegels Rechtsphilosophie”), tập 1 và 2, xuất bản tại Frankfurt am Main những năm 1974 và 1975; “Xã hội công dân và nhà nước ở Hegel” (“Buergerliche Gesellschaft und Staat bei Hegel”), xuất
bản tại Frankfurt am Main năm 1970
Cac công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học pháp quyền Hegel trong mối liên hệ với lịch sử dân tộc Đức, với chế độ quân chủ Phổ và lịch sử thế
giới được đề cập đến trong các tác phẩm “Triết học pháp quyền của chủ nghĩa duy tâm Đức” (“Die Rechtsphilosophie des deutschen Idealismus”), của Hoesle, Vittorio, xuất bản tại Hamburg năm 1989; “Hegel và nhà nước quân Chủ Phổ” (“Hegel und der preussische Staat”) của Hoceva, Rolf, xuất bản tại Muenchen năm 1973; “Hạn chế và thành công của triết học pháp quyền Hegel” (“Anspruch und Leistung von Hegels “Rechtsphilosophie”), của Jermann, Christian, xuất bản tại Stuttgart, năm 1986; “Sự tự do và hệ thống ở
Hegel” (“Freiheit und System bei Hegel”), của Angehrn, Emil, xuất bản tại Berlin nam 1976; “Hegel và lịch sử triết học” (“Hegel und die Geschichte der Philosophie”) của Dietmar Heidemann, xuất bản tại Berlin năm 2004; “Hegel
va cách mạng Pháp” (“Hegel und die franzoesische Revolution”), của Ritter,
Joachim, xuất bản tại Frankfurt am Main năm 1957
Cùng phân tích và bình luận về tác phẩm “Những nguyên lý của triết hoc pháp quyền” của Hegel, nhưng do xuất phát từ những quan điểm chính trị khác nhau cũng như do tính chất thần bí, tư biện của bản thân tác phẩm, nên những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những bình luận khác nhau, thậm
chí đối lập nhau Cụ thể, trong tác phẩm “Hegel và nhà nước quân chủ Phổ”
Trang 9(“Hegel und der preussische Staat”) của Hoceva, tác giả đã nhận định rằng
Triết học pháp quyền Hegel là triết học của nhà nước quân chủ Phổ, bởi mọi lập luận của Hegel cuối cùng đều vì mục đích bảo vệ quyền thống trị của nhà vua Không có sự độc lập của quyền tư pháp và hệ thống tam quyền phân lập thì mọi biện luận của Hegel về tự do và cách thức bảo vệ sự tự do đó đều trở nên vô nghĩa Trái lại, nhà nghiên cứu Ritter, trong tác phẩm của ông về
“Hegel và cách mạng Pháp” (“Hegel und die franzoesische Revolution”) lại
cho rằng triết học pháp quyền Hegel thể hiện tinh thần tự do của cách mạng Pháp, tuy nhiên hiện thực của tinh thần ấy được Hegel thực hiện bằng con đường dung hòa các mặt đối lập Vì vậy mô hình quân chủ lập hiến của Hegel không hoàn toàn là không có ý nghĩa
Quan điểm chủ đạo của các công trình nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel vẫn là phê phán sự bảo thủ về mặt chính trị và tư duy tư biện,
thần bí về mặt phương pháp Trong tác phẩm “Hegel và thời đại của ông
Những bài giảng về sự hình thành và phát triển, bản chất và giá trị của triết Học Hegel” (“Hegel und seine Zeit Vorlesungen ueber Entstehung und Entwicklung, Wesen und Wert der Hegel’schen Philosophie”) của Haym
Rudolf, xuất bản tại Berlin,năm 1962, tác giả đã phê phán gay gắt quan điểm chính trị cực đoan của Hegel nhằm bảo vệ chế độ hiện tồn của chính quyền
Phổ Trong các tác phẩm “Sự bình luận mang tính phê phán của hệ thống triết hoc Hegel” (“Kritische Erlaeuterungen des Hegelschen Systems”) của Rosenkramz, Karl, xuất bản tại Koeningsberg năm 1963; “Hiện tượng học tinh thần của Hegel và nhà nước Một đóng góp cho sự bình luận về hiện tượng học tinh thần và triết học pháp quyền cũng như lịch sử phát triển của hệ thống triết hoc Hegel” (“Hegels Phaenomenologie des Geistes und der Staat Ein Beitrag
Trang 10zur Auslegung der Phaenomenologie des Geistes und Rechtsphilosophie und zur Geschichte der Entwicklung des Hegelschen Systems”), của Busse, Martin,
xuất bản tại Berlin năm 1971, các nhà nghiên cứu đã phân tích tư tưởng triết hoc Hegel một cách có hệ thống và đưa ra những bình luận, đánh giá về sự tiến bộ cũng như những hạn chế của triết học pháp quyền Hegel Mặc dù nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Hegel từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau, nhưng hầu hết họ đều nhất trí rằng, vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Hegel là vấn đề tự do ý chí, vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước cũng như mối quan hệ giữa chúng
Dựa vào tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” của Hegel va những tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, tác giả sẽ phân tích mot số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Hegel, góp phần đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu chuyên sâu về triết học pháp quyền của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là trình bày và phân tích những nội dung tư tưởng
cơ bản của triết học pháp quyền Hegel trong tác phẩm “Những nguyên lý của Triết học pháp quyền” xuất bản năm 1821 tại Berlin của Hegel
Để thực hiện mục đích trên, đề tài giải quyết những nhiệm vụ sau:
1 Trình bày hoàn cảnh ra đời, mục đích và kết cấu của tác phẩm
2 Trình bày và phân tích một số nội dung cơ bản của tác phẩm, qua đó làm rõ mặt hạn chế và tích cực của tư tưởng triết học học pháp quyền Hegel
Trang 114 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, đối chiếu và so sánh, để làm rõ nội dung tư tưởng, những mặt tiến bộ và hạn chế của triết học pháp quyền Hegel
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung tư tưởng triết hoc pháp quyền của Hegel, đề tài góp phần đưa ra một cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn về những mặt tiến bộ và hạn chế của triết học pháp quyền Hegel, góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận
Ý nghĩa thực tiễn: Với việc phân tích những tư tưởng tiến bộ của triết hoc pháp quyền Hegel trong một số luận điểm nhất định (bổ nhiệm tầng lớp công chức dựa trên trình độ và bằng chứng về năng lực; giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho tầng lớp công chức; sự tương xứng giữa quyền và trách nhiệm), đề tài góp phần đưa ra những gợi ý thiết thực nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của tầng lớp công chức hiện nay trong việc thực hiện nghĩa vụ được giao
Ngoài ra, đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về triết học cổ điển Đức, lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, triết học pháp quyền, triết học chính trị và đạo đức học
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và dânh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 2 chương, 8 tiết
Trang 12Chương 1: trình bày hoàn cảnh ra đời, mục đích và kết cấu của tác phẩm Chương 2: trình bày và phân tích một số nội dung cơ bản của tác phẩm (ý chí
tự do với vấn đề pháp luật, đạo đức và luân lý; gia đình, xã hội công dân và nhà nước; quyền lực nhà vua, quyền hành pháp và quyền lập pháp; quan hệ giữa các nhà nước và lịch sử thế giới), qua đó nêu rõ mặt hạn chế và tích cực của tư tưởng triết học học pháp quyền Hegel
Trang 13Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của nhân loại, Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhà bác học bách khoa với những cống hiến vô cùng to lớn trong nhiều lĩnh vực như triết học lịch sử, lý luận biện chứng, mỹ học, pháp quyền, tôn giáo Trong hệ thống triết học Hegel, triết học pháp quyền giữ vai trò rất quan trọng Nó là sự phản ánh hiện thực của xã hội Đức thời bấy giờ và là tinh thần Đức đầu thế kỷ XIX Với tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” xuất bản năm 1821 tại Berlin, Hegel đã trở thành người đầu tiên trình bày triết học Đức một cách nhất quán nhất, Phổng phú nhất và hoàn chỉnh nhất [6, 579]
Những cuộc chiến tranh của Napleon đầu thế kỷ XIX ở các vùng Trung
Âu, Tây Âu và Nam Âu đã làm cho chế độ Phong kiến ở những nơi đấy lung lay đến tận gốc rễ Tại vương quốc Đức, cuộc chiến của Napoleon (1800 – 1815) đã ảnh hưởng sâu sắc đến trật tự của chế độ Phong kiến, đặc biệt là những tiểu quốc nằm ở tả ngạn sông Rhine Có khoảng gần 100 tiểu quốc được sát nhập vào nước Pháp trên cơ sở hòa ước Luneville năm 1801 Sau khi được sát nhập, những tiểu quốc này chẳng những bị tiêu diệt, mà một số chế
độ Phong kiến tàn dư trên khắp vùng đất này cũng bị tiêu diệt luôn Đặc
Trang 14quyền của quí tộc Phong kiến bị xóa bỏ, tài sản của giáo hội bị tịch thu Tất
cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản chủ nghĩa ở những vùng nay phát triển nhanh chóng Hòa ước này cũng ràng buộc những tiểu vương quốc còn lại trong mối liên minh với Pháp, tất cả ruộng đất của giáo hội đều thuộc sở hữu quốc gia Như vậy, chiến tranh của Napoleon đã xóa bỏ chế độ Phong kiến thời trung cổ ở nhiều khu vực trên nhiều mức độ khác nhau, giảm thiểu sự chia cắt của nước này, góp phần thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa tư ban Cùng với những cải cách của Napoleon trong lĩnh vực pháp luật như đưa các nguyên tắc pháp quyền tư sản vào luật dân sự và luật hình sự nhằm bảo
về quyền tự do cá nhân, tự do sở hữu, bình đẳng trước pháp luật đã ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng của Hegel về vấn đề tự do, cũng như cách thức đảm bảo quyền tự do đó trong triết học pháp quyền của ông
Mặt khác, là một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ những cuộc chiến này, sự thất bại của Napoleon cũng làm tiêu tan những ảnh hưởng tích cực mà chế độ tư sản Pháp đã đem lại cho nước Đức thời bấy giờ Sau chiến thắng Napoleon, tại Hội nghị Wien (1815), một liên bang Đức đã được hình thành Tuy nhiên đây vẫn chỉ là một liên bang chính trị với 34 nước quân chủ và bốn thành phố tự do Với Nghị quyết của Hội nghị Wien (chủ yếu
la bốn nước thắng trận: Nga, Áo, Pháp Phổ) quyền thống trị của nhiều vương triều phong kiến cũ ở nhiều quốc gia đã được khôi phục Ở Đức, nhiều sắc lệnh tiến bộ trước đó như quyền tự do đi lại của nông dân; xóa bỏ mọi nghĩa
vụ Phong kiến đối với người nông dân; thay địa tô bằng tiền chuộc bị loại
bỏ, những đặc quyền của tầng lớp quí tộc Phong kiến lại được khôi phục Pháp lệnh cải cách ruộng đất năm 1816 đã hạn chế gắt gao việc chuộc nghĩa vụ Phong kiến đối với người nông dân (chỉ những nông dân giàu có và có tên
Trang 15trong so thuế mới có quyền trên) Pháp lệnh này làm cho tầng lớp nông dân ngay càng nghèo thêm vì phải bán phần đất của mình cho địa chủ, còn địa chủ càng trở nên giàu có, có thể thuê lao động nông nghiệp và mua sắm máy móc
để trở thành những ông chủ nông trường tư bản sau này Pháp lệnh cải cách ruộng đất, một mặt, duy trì chế độ và địa vị Phong kiến của tầng lớp đại địa chu, mặt khác hình thành nông trường lớn góp phần xúc tiến tư bản chủ nghĩa nông nghiệp phát triển Điều này dẫn đến sự ra đời của tầng lớp tư sản mới và
sự đấu tranh giữa tầng lớp địa chủ quí tộc và tầng lớp tư sản mới nhằm giữ vai trò thống trị mới được hình thành Mối quan hệ này dẫn đến việc hình thành một nhà nước với một bộ máy công chức to lớn và ngày càng trở nên quan liêu Là người luôn hưởng ứng tinh thần tự do của đại cách mạng Pháp và những cải cách tiến bộ do Napoleon đã thực hiện trên nước Đức, nhưng hoàn cảnh xã hội trên đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng triết học pháp quyền của Hegel về mô hình nhà nước quân chủ lập hiến nhằm dung hòa các mối quan
hệ lợi ích cũng như những mâu thuẫn của các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là của tầng lớp địa chủ quí tộc và tầng lớp tư sản mới
Tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền”, được viết xong tháng 6 năm 1820, xuất bản năm 1821 tại Berlin nhưng nội dung của nó đã được Hegel giảng dạy trong các bài giảng về triết học pháp quyền những năm trước đó Thực ra, tác phẩm trên đã được Hegel viết xong khi ông chuyển tới giảng dạy ở Berlin năm 1818, nhưng những biến cố chính trị xảy ra năm 1819 buộc Hegel phải chỉnh sửa một số nội dung tác phẩm nhằm tránh sự kiểm duyệt nghiêm ngặt của chính quyền Phổ lúc bấy giờ Đó là Phong trào sinh viên đòi cải cách chính trị ở Đức được khởi động bởi nhà chính trị Heinrich Karl vom Stein (1757 – 1831) và Karl August von Hardenberg (1750 – 1822)
Trang 16Chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng tiến bộ của cách mạng Pháp, Stein và Hardenberg đã đưa ra những yêu sách đòi cải cách hành chính trong chính quyền và quân đội, giải phóng một phần nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khỏi những ràng buộc Phong kiến Những yêu cầu trên không được chính quyền Phổ chấp thuận nhưng đã tác động mạnh mẽ đến tầng lớp trí thức và sinh viên Họ lập ra “Hội sinh viên huynh đệ Đức” (“Burchenschaft”) với các tôn chí như ủng hộ sự thống nhất nước Đức, thành lập chính thể lập hiến, chống lai tổ chức xã hội Phong kiến và nhà nước cảnh sát trị
Tinh thần chung của giới sinh viên là kết hợp giữa lý tưởng của cách mạng Pháp với chủ nghĩa quốc gia Đức Chính quyền Phổ xem Phong trào cải cach của hội sinh viên là mối đe dọa lớn và tìm cách ngăn cấm Ngày 20.03.1819, thi sĩ August von Kotzebue bị sinh viên Karl Ludwig Sand ám sát
vì cho rằng Kotzebue là điệp viên của Nga hoàng Nhân cơ hội nàý chính quyền Phổ cùng Liên Minh Thần Thánh (bao gồm Ao, Phổ, Nga) đã nhóm hop ở Karlsbad và cho ra đời “chỉ thị Karlsbad” với những qui định nghiêm ngặt nhằm ngăn cấm mọi ấn phẩm đòi cải cách và cho phép truy bức những
“kẻ mị dân”, chủ yếu là sinh viên, giới trí thức, các giáo sư đang giảng dạy tại các trường đại học Chỉ thị Karlsbad qui định cách chức những giáo sư đại học
“đã tác động lên tâm hồn của giới trẻ bằng cách tuyên truyền các học thuyết đồi bại, thù địch với trật tự và an ninh công cộng hoặc nhằm lật đổ các nguyên tắc của định chế chính trị hiện hành; thiết lập chế độ kiểm duyệt đối với mọi ấn phẩm khoa học, lập ủy ban điều tra các hoạt động cách mạng và các tổ chức mị dân” [10, 79] Nhiều đồng nghiệp và sinh viên của Hegel đã bị bắt trong những đợt truy quét của chính quyền Phổ Để tránh sự nghi ngờ là người có cảm tình với Phong trào cộng hòa khi đang sống và làm việc trên đất
Trang 17Phổ, Hegel đã chỉnh sửa khá nhiều phần trong tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” Chính sự chỉnh sửa vì lý do trên đã dẫn đến những mâu thuẫn mang tính chính trị cực đoan trong hệ thống triết học của Hegel Tuy nhiên biến cố chính trị này không ảnh hưởng nhiều đến quan điểm chính thống trong toàn bộ hệ thống triết học của Hegel
1.2 Mục đích của tác phẩm
Hegel cho rằng ở thời đại ông, khoa học triết học bị xuống cấp nghiêm trong Những nhà triết học của trường phái duy cảm (duy nghiệm) cho rằng chân lý dựa trên “tri giác trực tiếp và sự tưởng tượng ngẫu nhiên”
(“unmittelbare Wahrnehmung und zufaelige Einbildung”), chứ không phải trên
cơ sở của “sự phát triển của tư tưởng và các khái niệm (“Entwicklung des Gedânkens ud Begriffs”) [24, 11] Quan điểm này đã xoá bỏ mọi nỗ lực mà
khoa học có được từ trước đến nay “Với phương thuốc rẻ tiền là dựa vào tình cảm (Gefuehl) – Hegel viết – thì lao động suốt nhiều thiên niên kỷ của lý tính
và giác tính hóa ra không cần đến mọi nỗ lực của sự nhận thức lý tính và sự nhận thức khoa học dưới sự hướng dẫn của tư duy khái niệm” [24, 12] Một số
nhà triết học còn cho rằng “sự nhận thức bằng khái niệm về Thượng đế (begreifende Erkenntnis Gottes), về bản tính tự nhiên và tinh thần, nhận thức
về chân lý (Erkenntnis der Wahrheit) la một tham vọng điên rồ, thậm chí là tội
lỗi (eine toerichte suendhafte Anmassung)” [24, 17] Tất cả những quan điểm trên đã dẫn đến kết quả là “các khái niệm về chân lý, các qui luật của đời
sống đạo đức bị qui giản thành những ý kiến chủ quan cá nhân đơn thuần” [24, 18]
Những nhà triết học của trường phái duy lý (“trí khôn trường ốc”) thì cho rằng con người có thể nhận thức được chân lý, hay sự tồn tại của Thượng
Trang 18đế chỉ dựa trên những khái niệm Quan điểm này, theo Hegel, là phiến diện vì thiểu tính hiện thực [24, 18] Vì vậy, điều tất yếu xảy ra là triết học phải được
thay đổi để hướng đến hiện thực, và nhiệm vụ của nó là “nắm bắt cái đang tồn tai và cái hiện thực (Erfassen des Gegenwaetigen und Wirkliche) chứ không phai dựng lên một thế giới bên kia (Jenseitigen) mà chỉ có Thượng đế họa
chăng mới biết ở đâu, hay nói đúng hơn là nằm trong những sai lầm của một
sự lý sự trống rỗng và phiến diện” [24, 19]
Hegel cho rằng một nền triết học không thể vượt qua thế giới hiện đang
tồn tại của mình, vì vậy, nhiệm vụ của triết học la nhận thức (begreifen) cái đang là (was ist), tức thời đại của chính mình, bằng tư tưởng (Gedânken) Ông viết: “thấu hiểu cái đang là là nhiệm vụ của triết học, bởi cái đang là là lý tính (was ist, ist die Vernunft) Con về cá nhân, mỗi cá nhân bao giờ cũng là một đứa con của thời đại mình (ein Sohn seiner Zeit), do đó, triết học cũng thế,
là việc nhận thức thời đại của chính mình bằng tư tưởng (ihreZeit in Gedânken erfasst)” [24, 22] Như vậy, việc nhận thức những gì đang tồn tại và làm cho
nó tương ứng với tư tưởng là con đường đi của triết học Đối với triết học pháp quyền cũng vậy, chúng ta cũng cần phải nỗ lực phấn đấu nắm bắt nó bằng tư tưởng Tuy nhiên, theo Hegel, “tư tưởng” không phải là ý kiến cá nhân mà là
khái niệm về bản thân sự việc
Hegel lập luận rằng khoa học tự nhiên nhận thức về sự tồn tại của giới
tự nhiên bằng những khái niệm, tức cái bản chất làm nên qui luật nội tại của
nó, chứ không phải những hiện tượng ngẫu nhiên bề ngoài, thì khoa học triết học cũng vậy, nó nắm bắt cái bản chất hiện thực của xã hội ngay trong bản
thân nó bằng tư tưởng “Đối với giới tự nhiên – Hegel viết - ai cũng phải thừa
nhận rằng triết học phải nhận thức nó đúng như nó đang là, rằng viên đá của
Trang 19sự thông thái (Stein der Weisen) không nằm ở đâu khác mà nằm trong ban than tự nhiên, rằng tự nhiên là hợp lý tính ngay trong bản thân nó (in sich vernuenftig), và chính cái lý tính hiện thực (Wirklichkeit) đang hiện diện trong
tự nhiên này là cái mà triết học phải nghiên cứu và nắm bắt bằng khái niệm, chứ không phải những hình thái và những sự bất tất hiển hiện trên bề mặt, nói khác đi, chính sự hài hòa vĩnh cửu của tự nhiên là cái phải được nhận thức như
là qui luật và bản chất noi tại (immanent) ở trong tự nhiên.” [24, 8] Như vậy,
theo Hegel, các qui luật của tự nhiên đã có sẵn, con người chỉ việc nhận thức chung bằng tư tưởng mà thôi
Tuy nhiên, sự nhận thức về triết học pháp quyền có chút khác biệt với
tự nhiên Một mặt, chúng ta nhận thức chúng đúng như bản thân chúng đã được các nhà luật học qui định, nhưng mặt khác, những đạo luật pháp quyền
la cái được thiết định từ con người, và, con người thì không phải lúc nào cũng phục tùng cái có sẵn hay tất yếu tự nhiên một cách mù quáng, mà chỉ phục
tùng nó khi nhận thấy rằng chúng là hợp lý tính (Vernunftt), hợp với những
chuẩn mực và những giá trị được thừa nhận [24, 9] Lập luận về vấn đề này, Hegel viết: “Những đạo luật pháp quyền là cái gì “được thiết định”, là cái gì được rút ra từ con người Con người không dừng lại ở cái đang có sẵn mà đòi hỏi ở bản thân mình cũng có thước đo về sự công bằng; con người có thể phải phục tùng sự tất yếu và sức mạnh của quyền uy bên ngoài, nhưng không giống như sự phục tùng tất yếu tự nhiên, bởi tự bản thân con người biết rằng sự việc phải nên như thế nào, và tìm thấy trong chính mình sự xác nhận hay không xác nhận điều đã được chấp nhận như là có giá trị hiệu lực Trong giới tự nhiên, chân lý cao nhất là sự tồn tại của các qui luật, còn trong các đạo luật
Trang 20pháp quyền, sự việc không có giá trị chỉ vì nó tồn tại, trái lại, người ta đòi hỏi rằng nó phải tương ứng với tiêu chuẩn của chính mình” [24, 9]
Xuất phát từ những lập luận trên, Hegel cho rằng nhiệm vụ cơ bản của Triết học pháp quyền là nhận thức về nhà nước và pháp luật, chứng minh tính
hợp lý tính của nhà nước đang tồn tại, haý chính xác hơn là “nhận thức và mô
tả cái hợp lý tính trong bản thân nhà nước” Ông viết: “Bởi vì tác phẩm liên quan đến khoa học về nhà nước (Staatswissenschaft) nên nó sẽ là ý định nhận thức và mô tả nhà nước như một cái hợp lý tính trong bản thân mình (Staat als ein in sich Vernuenftige zu begreifen und darzustellen) Với tư cách là một tác phẩm triết học, nó cần phải đi xa hơn việc kiến tạo nhà nước như là nhà nước cần phải trở nên như thế (Staat, wie er sein soll) Tác phẩm không có ý định
hướng dẫn nhà nước cần phải trở nên như thế nào, mà chỉ có thể hướng dẫn cho nhà nước, với tư cách là một chỉnh thể đạo đức (sittliches Universum), cần phải được nhận thức như thế nào” [24, 21]
Nhận định trên của Hegel nhằm phê phán tư tưởng triết học pháp quyền
của Kant về một mô hình nhà nước lý tưởng cần phải (Sollen) có trong tương
lai Xuất phát vấn đề tự do ý chí, Kant đã đi đến kết luận rằng, con người là tự
do, và tự do là sự thể hiện quyền làm người của mỗi chúng ta Chúng ta cần tin (Glauben) là mình có tự do để có thể thực hiện trách nhiệm của mình phù
hợp với qui luật đạo đức Và, để có thể thực hiện được trách nhiệm của mình
phù hợp qui luật đạo đức còn cần phải có một nhà nước hợp lý tính, được hình
thành trên cơ sở “khế ước ban đầu” (“urspruengliche Konstrat”), nhưng không phải là một nhà nước đang tồn tại trên thực tế mà là một hình thức nhà nước
tồn tại trong ý tưởng theo nguyên tắc pháp quyền thuần túy Theo đó, sự thực thi công lý sẽ đảm bảo nhất, nếu các quyền lực nhà nước độc lập với nhau, và
Trang 21nếu quyền lực lập pháp được tổ chức dưới hình thức cộng hòa của hệ thống đại diện, điều không loại trừ quyền hành pháp nằm trong tay vua
Phê phán những quan điểm trên của Kant, Hegel cho rằng việc Kant
đề cập đến một nhà nước “cần phải” (Sollen) có trong tương lai dựa trên khế ước là quan điểm trống rỗng, thiếu nội dung thực chất Một nhà nước tồn tại hiện thực mới là cái quan trọng mà triết học pháp quyền cần phải bàn tới Bởi Triết học pháp quyền là khoa học về nhà nước và pháp luật, vì vậy, nhiệm vụ
của nó là nhận thức và mô tả cái hợp lý tính (Vernunft) trong bản thân nhà nước và pháp luật Nhưng cái “hợp lý tính” chính là cái “hiện thực” (“Cái gì
hợp lý tính, thì hiện thực; và cái gì hiện thực, thì hợp lý tính” (“Was vernuenftig ist, das ist wirlich; und was wirklich ist, das ist vernueftig”)) [24, 19], vì vậy, việc trình bày một “nhà nước hiện thực” là cần thiết để chứng
minh cho sự “hợp lý tính” của nó
Theo phương pháp lôgic của Hegel, một nhà nước hiện thực (wirklicher Staat) là sự thống nhất giữa khái niệm về nhà nước hiện thực (Begriff uerber
wirklichen Staat) và sự tồn tại hiện có (Dasein), tức nhà nước đang tồn tại, của khái niệm nhà nước ấy Lấy tự do ý chí (Willensfreiheit) làm đối tượng nghiên
cứu của triết học pháp quyền, Hegel đã phân tích sự triển khai cụ thể của khái niệm này trong lĩnh vực pháp luật trừu tượng, đạo đức và luân lý Từ đó đưa ra kết luận rằng nhà nước đang tồn tại là hiện thực của sự tự do ý chí, vì vậy,
phù hợp với khái niệm về một nhà nước hiện thực Bởi nhà nước đang tồn tại
là hiện thực, nên nó là nhà nước hợp lý tính Và, bởi nó hợp lý tính nên
“nhiệm vụ tối cao” (“hoechste Pflicht”) của mọi công dân là trở thành “thành viên của nhà nước” (“Mitglieder des Staats”), hiến thân mình cho lợi ích phổ biến của nhà nước [24, 364]
Trang 22Theo Hegel, để trở thành “thành viên của nhà nước” đòi hỏi cá nhân
phải “đạt tới sự phát triển hoàn chỉnh (vollstaendige Entwicklung) và có sự thừa nhận về những quyền (Anerkennung ihres Rechts) của mình” trong gia
đình và xã hội công dân, sẵn sàng chuyển lợi ích đặc thù sang lợi ích phổ biến
cũng như thừa nhận lợi ích phổ biến như là “tinh thần thực thể của mình (substantieller Geist) và tích cực theo đuổi nó như là mục đích cuối cùng (Endzweck)” [24, 370] Như vậy, trong nhà nước của Hegel có sự phân biệt
giữa công dân với tư cách là công dân, và công dân với tư cách là “thành viên của nhà nước” Mặc dù “nhà nước là hiện thực của sự tự do cụ thể” (“der Staat ist die Wirklichkeit der konkreten Freiheit” [24, 370], nhưng không phải moi công dân đều có thể có được sự tự do đó, mà chỉ có những “thành viên
của nhà nước” mà thôi Vì vậy mỗi công dân cần hoàn thiện mình thông qua
sự nhận thức và hành động vì lợi ích phổ biến, xem nhà nước như là mục đích cuối cùng, để trở thành thành viên của nhà nước
Như vậy, mục đích của tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” là trình bày và phân tích nhà nước và pháp luật đang tồn tại nhằm chứng minh cho sự hợp lý tính của nó, qua đó kêu gọi mọi công dân nhận thức
va hành động vì lợi ích phổ biến của nhà nước Theo Ăngnghen, tinh thần của Triết học pháp quyền Hegel được đúc kết trong luận điểm: “Cái gì hợp lý tính, thì hiện thực; và cái gì hiện thực, thì hợp lý tính” Luận điểm này là sự biện minh cho moi cái đang tồn tại của chế độ chuyên chế quân chủ Phổ
Angnghen viết: “Không một luận điểm triết học nào lại làm cho các chính phủ thiển cận biết ơn và làm cho những người thuộc phái tự do cũng không kém
thiến cận nổi giận, bằng luận điểm nổi tiếng sau đây của Hêghen: “Tất cả
Trang 23những gì là hiện thực, đều là hợp lý, và tất cả cái gì là hợp lý, đều là hiện thực” Cần biết là, luận điểm đó hiển nhiên đã biện minh cho mọi cái hiện
đang tồn tại; là thừa nhận, về mặt triết học, nền chuyên chế, nhà nước cảnh sát, pháp lý của quốc vương và chế độ kiểm duyệt Phriđrich Vinhem III đã hiểu như vậy; và các thần dân của nhà vua cũng hiểu như vậy” [7, 392]
1.3 Kết cấu của tác phẩm
Ngoài lời nói đầu, dẫn luận, tác phẩm gồm ba phần chính đề cập đến ba
lĩnh vực quan trọng, đó là pháp luật trừu tượng, đạo đức và luân lý Trong “Lời nói đầu” (“Vorrede”) Hegel lưu ý độc giả về phương pháp tiếp cận tác phẩm
của ông Theo đó tác phẩm này, “xét một cách toàn bộ, giống như một công
trình kiến trúc gồm nhiều bộ phận, đặt nền tảng trên “tinh thần lôgic” “Lời nói đầu” được xem như là một “tuyên ngôn chính trị” của toàn bộ hệ thống
Triết học của Hegel với câu viết nổi tiếng: “Cái gì hợp lý tính, thì hiện thực; và cái gì hiện thực, thì hợp lý tính” [24, 19] Mặc dù Hegel cố giải thích rằng
“hiện thực” không phải là tất cả những gì đang tồn tại, mà là sự thống nhất giữa khái niệm hiện thực với cái đang tồn tại cụ thể của nó, nhưng vẫn không che đậy được động cơ chính trị của ông là biện minh cho sự tồn tại của chế độ quân chủ Phổ
Quan trong nhất trong phần “Dẫn luận” (“Einleitung”) là vấn đề định
nghĩa khái niệm pháp quyền (Rechtsbegriff), xác định cơ sở triết học cho pháp quyền từ đấy làm cơ sở lập luận cho triết học pháp quyền của ông (§ 1 - § 32) Theo đó “khoa học pháp quyền là một bộ phận của triết học” (§ 2) và đối tượng nghiên cứu của nó là ý niệm về pháp quyền, tức khái niệm pháp quyền
và việc hiện thực hóa khái niệm ấy (§1) Mục đích Hegel là xây dựng môn khoa hoc triết học tư biện (spekulativ) về pháp quyền bao gồm triết học pháp
Trang 24quyền tự nhiên thời cận đại (Kant, Fichte, ) và khoa học về nhà nước Theo ong, pháp quyền tự nhiên không có nghĩa “quyền” hay “luật tự nhiên” như quan điểm của nhà khai sáng Pháp, mà là “bản tính tự nhiên” của pháp quyền, tức khái niệm về pháp quyền, và bản thân khái niệm này tự thiết định nên
hiện thực của chính nó Ý chí tự do (Willensfreiheit) là nguồn gốc của khái niệm pháp quyền, và pháp quyền thực định là “tồn tại hiện có” của ý chí tự do
Pháp quyền chính là “vương quốc của sự tự do đã được hiện thực hóa” (§ 4)
Phần I của tác phẩm trình bày về pháp luật trừu tượng (das abstrakte Recht), tức cái chung nhất (trừu tượng) về các khái niệm và các qui phạm của
luật dân sự và luật hình sự dựa trên cơ sở của nó là ý chí tự do Trong phần này Hegel đặc biệt chú ý đến vấn đề sở hữu (§ 41 - § 71) Quyền sở hữu đối với vật được ông trình bày như là sự thể hiện ý chí tự do ra bên ngoài của chủ thể sở hữu, và vì vậy, là sự thể hiện nhân cách của cá nhân Bởi sở hữu tư nhân đối với vật thông qua sự chiếm đoạt, quyền sử dụng (§ 54 - § 64) thể hiện ý chí tự do, nên mỗi cá nhân đều có quyền sở hữu, và pháp luật hiện hành phải bảo vệ quyền tự do sở hữu của mọi công dân Như vậy, quyền tự do
sở hữu ở Hegel không phải quyền tự nhiên theo quan điểm của các nhà triết hoc tiền bối, mà xuất phát từ ý chí tự do của con người Mỗi cá nhân là một thực thể lý tính (tự do ý chí), vì vậy có quyền sở hữu Quyền sở hữu đối với vật cần phải có sự công nhận của những chủ thể pháp luật thông qua việc ký kết hợp đồng và sự trừng phạt khi vi phạm hợp đồng của các chủ thể trong các mối quan hệ pháp quyền (§ 72 - § 103)
Phần II đề cập đến vấn đề đạo đức (Moralitaet) (§ 105 - § 141) như là ý
chí tự do bên trong của chủ thể liên quan đến các khái niệm như “Chủ tâm và tội lỗi” (“Der Vorsatz und die Schuld”)( § 115 -§ 118), “Chủ ý và phúc lợi”
Trang 25(“Die Absicht und das Wohl”) (§ 119 - § 128), “Cái thiện và lương tâm” (“Das Gute und das Gewissen”)( § 129 - § 141) Đạo đức được hiểu như là “tồn tại hiến có” của ý chí tự do thể hiện trong sự độc lập, tự quyết của chủ thể hành động (§ 106) Quan trọng trong phần này là sự phân biệt của Hegel về hành động (Handlung) và hành vi (Tat) cũng như trách nhiệm đối với hành vi của mình Theo Hegel, chủ thể hành động chỉ chịu trách nhiệm đối với những
hành vi đã làm (Tat), tức những gì đã có chủ ý (Absicht) từ trước, biết (Wissen)
và muốn (Wollen) làm điều đó (§ 17) Những hành vi không cố ý hay do điều
kiện ngẫu nhiên tạo thành thì không phải chịu trách nhiệm Cái thiện và lương tâm là vấn đề được Hegel dành nhiều sự quan tâm trong phần này Tuy nhiên, lương tâm mà Hegel đề cập đến không mang tính chủ quan như cách hiểu thông thường, mà là “những qui định phổ biến của tư duy”, thể hiện trong
“những điều luật và những nguyên tắc” Lương tâm không tồn tại dưa trên cảm nhận về sự thiện, ác mà phải phục tùng sự phán đoán (§ 137) Đánh giá cao cống hiến lịch sử của Kant về trách nhiệm đạo đức tồn tại trong lương tâm mọi người, Hegel cũng đồng thời phê phán tính hình thức trong mệnh lệnh tuyệt đối của Kant Hành vi đạo đức được Hegel xem xét không chỉ đơn thuần
là sự độc lập, tự quyết của cá nhân như quan điểm của Kant mà còn gắn liền với những mối quan hệ xã hội, chịu sự qui định của “quyền lực đạo đức”, tức những định chế trong xã hội (§ 145) Con người cần phải làm gì và những nghĩa vụ đạo đức mà con người phải thực hiện phụ thuộc vào cộng đồng đạo đức mà con người đang sống, hành vi đạo đức cá nhân do xã hội qui định (§ 150)
Trong phần III, Hegel trình bày về vấn đề luân lý (die Sittlichkeit) như
la sự thống nhất giữa “tồn tại hiện có” của ý chí tự do bên ngoài và “tồn tại
Trang 26hiện có” của ý chí tự do bên trong, giữa pháp luật và đạo đức, giữa tính hợp Pháp và tính đạo đức thông qua các khái niệm về “Gia đình” (§ 158 - § 181),
“Xã hội công dân” (§ 182 - § 256), “Nhà nước” (§ 257 - § 360) Theo đó, sự
thống nhất này chỉ có thể có trước tiên trong gia đình với tư cách là đời sống đạo đức tự nhiên dựa trên hôn nhân tự nguyện giữa những cá thể; trong xã hội công dân với tư cách là sự trung giới giữa lợi ích cá nhân đặc thù với lợi ích chung Phổ biến của nhà nước, và cuối cùng là trong nhà nước với tư cách là
“hiện thực của ý niệm luân lý” (§ 257) - sự hiện thực hóa tự do cụ thể - cơ sở chung của gia đình và xã hội công dân Đó là nhà nước quân chủ lập hiến dựa trên sự hợp nhất giữa chế độ quân chủ chuyên chế, quí tộc và dân chủ với sự phân công quyền lực trong sự thống nhất hữu cơ
Với 103 tiểu đoạn (§ 257 - § 360), nhà nước là chương dài nhất của tác
phẩm, nhằm làm rõ sự thống nhất giữa khái niệm về một nhà nước và sự hiện
thực hóa của nó trong nhà nước hiện đang tồn tại với các quyền lực (chủ quyền đối nội) (§ 272 - § 320) và quan hệ của nó với các nhà nước khác (chủ quyền đối ngoại ) (§ 321 - § 329) Xuất phát từ quan điểm cho rằng chủ quyền
nhà nước là nhà vua, vì vậy quan hệ giữa các nước là thẩm quyền của các nhà vua Nhà vua là tinh thần dân tộc, là nhân cách của một dân tộc, vì vậy, quan
hệ giữa các nhà nước là quan hệ giữa “các tinh thần dân tộc” (“Volksgeister”) Khác với chủ quyền nội bộ, chủ quyền đối ngoại giữa các nhà nước dựa trên những hiệp định không có tính bắt buộc cưỡng chế thi hành mà chỉ dựa trên cái “cần phải” Vì vậy, khi không có được sự đồng thuận, chiến tranh giữa các nhà nước sẽ xảy ra Mặc dù chiến tranh gây nên tình trạng bạo loạn, tội ác nhưng là điều cần thiết để chống lại sự trì trệ của một quốc gia giống như
“vận động của gió giữ cho mặt biển khỏi bị tù đọng mà một sự yên tĩnh kéo
Trang 27dài ắt sẽ gây ra” Không những thế, những cuộc chiến thắng trong chiến tranh
sẽ giúp các quốc gia “ngăn chặn sự bất ổn bên trong và củng cố sức mạnh nội tại của nhà nước” (§ 324) Việc giải quyết mọi xung đột giữa các nhà nước đòi hỏi phải có một vị “quan tòa tối cao” đứng trên tất cả “các tinh thần dân tộc”,
đó là “tinh thần thế giới.”(“Weltgeister) Tinh thần thế giới tự thể hiện ra trong lịch sử nhân loại như là “toa án thế giới” (Weltgericht), buoc mỗi quốc
gia, dân tộc phải tuân theo qui luật chung của toàn bộ quá trình lịch sử (§ 341 -
§ 360)
Trang 28Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
2.1 Ý chí tự do với vấn đề pháp luật, đạo đức và luân lý
Hegel cho rằng triết học chỉ làm việc với những ý niệm (Ideen), tức sự thống nhất giữa khái niệm (Begriff) và hiện thực (Wirklichkeit) [24, 26] Vì
vậy, triết học pháp quyền cũng chỉ làm việc với “ý niệm về pháp quyền, tức khái niệm về pháp quyền và việc hiện thực hóa khái niệm ấy” [24, 26] Ý
niệm về pháp quyền là cái tinh thần (Geistige), la ý chí (Wille), nhưng ý chí là
tự do Vì vậy, ý chí tự do (Willensfreieit) là đối tượng nghiên cứu của triết học
pháp quyền Ông viết: “Nói chung, cơ sở (mảnh đất - der Boden) của pháp
quyền là cái tinh thần, còn vị trí gần nhất và xuất phát điểm của nó là ý chí,
do vậy tự do tạo thành thực thể và tính qui định của ý chí, và hệ thống pháp luật là vương quốc của tự do đã được thực hiện, là thế giới của tinh thần do bản thân tinh thần tạo ra như một giới tự nhiên thứ hai” [24, 42] Như vậy, ở
Hegel ý chí tự do không phải là đối tượng của niềm tin hay là một định đề (Postulat) theo quan điểm của Kant, mà là sự thống nhất giữa tư duy
(Denkweise) va ý chí (Wille) Tự do là tự do của ý chí, và ý chí là tự do “Tự
do tạo thành thực thể (Substanz) và tính qui định (Bestimmung) của ý chí” [24, 42] Nghĩa là, “sự tự do tạo nên khái niệm (Begriff) hay tính bản thể (Substantialitaet) của ý chí, và có thể nói, tạo nên trọng lượng (Schwere) của
nó giống như trọng lượng tạo nên tính bản thể của một vật” [24, 48]
Theo Hegel, hiện thực của tự do ý chí là sự thống nhất giữa khái niệm về
tự do và sự tồn tại hiện có của khái niệm này Bao giờ cũng vậy khái niệm
Trang 29(Begriff) và sự tồn tại hiện có (Dasein) gắn bó với nhau như linh hồn và thể xác Tồn tại hiện có là thể xác của khái niệm và khái niệm là linh hồn đã tạo
nên thể xác đó Giống như một linh hồn không có thể xác thì không phải là sự sống đích thực và ngược lại [24, 27] Như vậy, vấn đề cơ bản của triết học
pháp quyền Hegel là ý chí tự do Thế nào là ý chí tự do, và, ý chí tự do trở thành hiện thực như thế nào ?
Về mặt khái niệm, ý chí tự do là một tiến trình phát triển của cái tinh
thần bao gồm ba giai đoạn Đó là “ý chí tự do tự nó” (“der an sich freie
Wille”), “ý chí tự do cho nó” (“der fuer sich freie Wille”), và “ý chí tự do tự
nó và cho nó” (“der an und fuer sich freie Wille”)
Theo Hegel, “Ý chí tự do tự nó” là ý chí trực tiếp hay ý chí tự nhiên
(unmittelbarer oder natuerlicher Wille) tồn tại trong mỗi con người dưới dạng
những khả năng của tự do (nur Moeglichkeit der Freiheit) chứ chưa phải là hiện thực của tự do (Wirklichkeit der Freiheit) “Ý chí tự do tự nó” trên thực tế
bị qui định trực tiếp bởi thiên hướng và khát vọng tự nhiên của con người “Ý
chí mới là tự do tự nó (an sich) là ý chí trực tiếp hay ý chí tự nhiên (unmittelbarer oder natuerlicher Wille) Những qui định của sự khác biệt, cái
được xác định bên trong ý chí bởi khái niệm tự qui định, thể hiện ra trong ý
chí trực tiếp như là nội dung hiện diện một cách trực tiếp, đó là những động lực bản năng (Triebe), ham muốn (Begierden) va thiên hướng (Neigungen), qua
đó ý chí thấy mình bị qui định bởi bản tính tự nhiên.” [24, 53] Chẳng hạn, từ lúc còn nhỏ, trong mỗi đứa trẻ đều có sẵn khả năng của một con người lý tính (khả năng nhận thức và hành động), tuy nhiên khả năng này chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua một quá trình tự rèn luyện bản thân (“đào luyện bản thân” – tự nhận thức) Ông viết: “Đứa trẻ tự nó là con người, lúc đầu có lý
Trang 30tính tự nó, trước tiên là khả năng của lý tính và của tự do, và cũng chỉ là tự do theo khái niệm Cái gì tồn tại tự nó thì chưa có trong hiện thực của nó Con người lý tính tự nó phải tạo ra bản thân mình thông qua sự đi ra ngoài nó, nhưng lại hình thành trong nó, trở thành cho nó” [24, 51]
“Ý chí tự do cho nó” (“der fuer sich freie Wille”) là sự tự do lựa chọn,
tự quyết của mỗi cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể (“sự tùy tiện”
“Willkuer” – theo cách gọi của Hegel) Nguyên tắc của nó luôn là: “người ta
có thể làm, nếu người ta muốn” (“man koenne tun, was man wolle”) [24, 57] Ông viết “Quan niệm quen thuộc nhất khi nghĩ về tự do là quan niệm về sự
tùy tiện Nếu người ta thường nghe nói rằng, tự do nói chung là khả năng làm những gì mình muốn, thì quan niệm như vậy là thiếu vắng hoàn toàn văn hóa
tư duy; trong quan niệm này vẫn không có một chút hiểu biết gì về ý chí tự do
tự nó và cho nó, pháp luật, đạo đức, là gì” [24, 57] Hegel cho rằng con người bình thường tưởng mình là tự do khi được phép lựa chọn, nhưng thực chat sự lựa chọn cái này hay cái khác cũng chịu sự qui định của hoàn cảnh cụ thể, vì vậy, không còn là tự do nữa
“Ý chí tự do tự nó và cho nó” (“der an und fuer sich freie Wille”) la ý
chí đã trưởng thành một cách có ý thức, là “trí tuệ biết tư duy” (“denkende
Intelligenz)” “Ý chí chỉ là ý chí tự do đích thực với tư cách là trí tuệ biết tư duy” [24, 63] Khác với “ý chí tự do tự nó” và “ý chí tự do cho nó”, “ ý chí tự
do tự nó và cho nó” là sự hợp nhất giữa ý chí cá nhân với ý chí chung, giữa tự
do chủ quan và tự do khách quan Nó là tự do đích thực, bởi nó có nội dung của mình là bản thân mình Lập luận về vấn đề này, Hegel viết: “Ý chí tồn tại
tự nó và cho nó (der an sich und fuer sich seiende Wille) là đúng đắn vô cùng (wahrhaft unendlich), bởi đối tượng của nó chính là nó, và vì thế, không phải
Trang 31là một cai khác, cũng không phải là sự hạn chế, trái lại, nó đơn thuần quay trở
lại vào trong chính mình ở ngay trong đối tượng của nó” [24, 64]
Như vậy, theo Hegel, tự do đích thực chỉ có thể là “tự do tự nó và cho nó” Ông cho rằng ý chí tự do mà các nhà khai sáng Pháp và Đức đề cập tới
không phải là tự do đích thực mà chỉ là tự do hình thức, bởi trên thực tế, con người sinh ra đã không có tự do theo nghĩa đích thực của nó, và vì vậy, tự do
không được xem như là quyền bẩm sinh vốn có của con người Mặc dù Hgel
cực lực lên án chế độ nô lệ đã chà đạp lên nhân phẩm con người, coi con
người như một thực thể tự nhiên (Naturwesen), một vật, và chủ nô có quyền
chiếm hữu, định đoạt số phận của họ [24, 106], nhưng ông cũng cho rằng, chế
độ nô lệ là “hiện tượng quá độ từ tính tự nhiên của con người sang trạng thái
đạo đức đích thực” [24, 107] “Con người – Hegel viết – trong sự hiện hữu trực tiếp nơi chính mình, là một thực thể tự nhiên, ….Sự biện minh cho chế độ nô lệ
(với tất cả những lý do chi tiết như là bạo lực thể chất,, bị bắt làm tù binh, ),
cũng như sự biện minh cho cương vị chủ nô (Herrschaft) như là sự làm chủ nói
chung, và mọi quan niệm lịch sử về quyền làm chủ lẫn làm nô lệ đều dựa trên quan điểm xem con người như một thực thể tự nhiên mà sự hiện hữu của nó (trong đó sự tự do lựa chọn là một bộ phận), là không phù hợp với khái niệm
về con người Ngược lại, việc khẳng định rằng chế độ nô lệ là tuyệt đối đi ngược lại công lý lại gắn liền với con người như là tinh thần, như là cái gì tự
do tự mình; quan niệm này cũng phiến diện trong chừng mực xem con người
như là tự do từ bản tính tự nhiên, xem khái niệm về con người, xét như là khái
niệm, là chân lý trực tiếp của nó, chứ không phải là ý niệm [24, 106 – 107]
Tự do đích thực, tức hiện thực của tự do hay “tự do tự nó và cho nó”, là
kết quả của quá trình thực hiện lâu dài khái niệm tự do trong tồn tại hiện có
Trang 32của nó, quá trình đó được thể hiện trước tiên trong lĩnh vực pháp luật trừu tượng (das abstrakte Recht), trong đạo đức (Moralitaet) và trong luân lý (die Sittlichkeit)
Pháp luật trừu tượng (das abstrakte Recht) là tồn tại hiện có
bên ngoài của ý chí tự do (das abstrakte Recht ist ein Dasein des auesseren freien Willens) Theo Hegel, pháp luật trừu tượng hiểu theo nghĩa thông
thường là pháp luật thực định (positives Recht) của một quốc gia, vì vậy, chung gắn liền với tính cách dân tộc và những đặc thù riêng của dân tộc đó (như hoàn cảnh lịch sử và điều kiện tự nhiên) [24, 30] Pháp luật là trừu tượng bởi nó mang tính phổ biến, hình thức và đơn giản [24, 30] Đánh giá cao vai trò của Montesquieu trong việc xác định tính lịch sử của pháp luật, Hegel viết:
“Montesquieu đã đề ra một quan điểm lịch sử đúng đắn, một quan điểm triết
hoc đích thực khi cho rằng việc ban bố pháp luật nói chung cũng như những qui định đặc thù của nó không được phép xem xét cô lập và trừu tượng, mà là
một phận phụ thuộc vào một tổng thể (einer Totalitaet), trong sự nối kết với
những qui định khác, tạo nên tính cách của một quốc gia và một thời đại, và chỉ ở trong sự nối kết này mới có được ý nghĩa thật sự và do đó, có được sự biện minh (Rechtfertigung)” [24, 32]
Phê phán Kant về khái niệm pháp luật, Hegel cho rằng, Kant xuất phát
ý chí tự do cá nhân va vì vậy, đã lấy tự do cá nhân làm giả định cơ sở cho khái
niệm về luật pháp của mình Trên thực tế, theo Hegel, tự do cá nhân mà Kant
đề cập tới chẳng qua là tự do của sự tùy tiện, vì nếu lấy ý chí cá nhân làm cơ
sở cho pháp luật thì điều đó cũng có nghĩa là pháp luật phụ thuộc vào ý chí cá nhân và như vậy là không tự do Ông viết: “trong định nghĩa của Kant về pháp
luật vốn được đồng ý rộng rãi mà yếu tố chủ yếu là “việc giới hạn sự tự do
Trang 33hay sự tự do lựa chọn (Willkuer – tùy tiện) của tôi sao cho nó có thể cùng tồn
tại với sự tự do lựa chọn của mọi người khác, phù hợp với một qui luật phổ
biến,” chỉ chứa đựng một qui định tiêu cực, đó là qui định về giới hạn; và mặt
khác, yếu tố tích cực, tức qui luật phổ biến hay cái gọi là “quy luật của lý tính”, sự phù hợp giữa tự do lựa chọn của mỗi người với sự lựa chọn của những người khác, cuối cùng chỉ dẫn tới nguyên tắc quen thuộc về sự đồng nhất và mâu thuẫn Định nghĩa này về pháp quyền là quan niệm rất phổ biến
từ thời Rousseau, theo đó cơ sở thực chất và yếu tố hàng đầu không phải là ý
chí hợp lý tính tồn tại tự mình và cho mình Tinh thần không phải như tinh thần
đích thực (wahrer Geist), mà trái lại, như là cá nhân đặc thù (besonderes) như
là ý chí của cái cá biệt trong sự tự do lựa chọn của riêng mình” [24, 71]
Theo Hegel, Pháp luật là sự biểu thị của ý chí chung, của cái tinh thần
mà tính qui định duy nhất của nó là tự do Pháp luật không mang tính giai cấp, tính lịch sử mà “pháp luật là một cái thần thánh nói chung (Heilliges
ueberhaupt), thần thánh chỉ vì nó là tồn tại hiện có của khái niệm tuyệt đối (Dasein des absoluten Begriffes), của tự do độc lập (selbstbewusste Freiheit)” [24, 72] Ý chí tự do trong pháp luật thực định mang tính trừu tượng, vì vậy, để
có được sự “tồn tại hiện có” (tính cụ thể) cho mình, ý chí tự do cần phải tìm trong sự tồn tại của sự vật (Sachen) hay các vật (Dinge), mà phương thức đầu
tiên của nó là sở hữu (Eigentum) [24, 87] Hegel lập luận rằng khi cá nhân
đưa ý chí của mình vào vật, thì qua đó vật trở thành sở hữu của cá nhân đó
Thông qua sở hữu của cá nhân đối với vật (chiếm hữu, quyền định đoạt và khả năng sử dụng nó), ý chí tự do của cá nhân riêng biệt mới có sự thể hiện
khách quan của mình và cá nhân trở thành nhân cách (Person) Sở hữu tư nhân
(Privateigentum) la điều cần thiết, biểu thị sự tồn tại hiện có của ý chí tự do,
Trang 34vì vậy mỗi cá nhân, với tư cách là thực thể có ý chí tự do, để biểu thị tự do của mình, đều phải có sở hữu tư nhân [24, 88]
Phê phán Luật La Mã về quyền sở hữu đối với nô lệ, Hegel cho rằng
quyền sở hữu chỉ có đối với vật, chứ không thể sở hữu đối với người “Bất kỳ
quyền nào cũng chỉ có thể thuộc về con người, và, xét một cách khách quan,
một quyền dựa trên hợp đồng không phải là quyền đối với con người, mà chỉ
đối với cái gì là ngoại tại đối với con người, hay nói khác đi, đối với cái gì con
người có thể từ bỏ, tức, bao giờ cũng là một vật” [24, 86] Đối với Hegel, tất
cả mọi vật đều có thể trở thành sở hữu của con người, vì con người có ý chí tự
do, và với tư cách ấy, con người hiện hữu tự mình và cho mình, trong khi đó vật không thể có được phẩm chất đó Do đó, ai cũng có thể biến ý chí của mình thành vật hay biến vật thành ý chí của mình, cải biến nó theo ý chí của mình, ngay cả đối với con vật, bởi chúng không có mục đích tự thân Chỉ duy
có ý chí là cái vô hạn còn vật là tương đối Chiếm hữu cái gì đó làm của riêng
có nghĩa là biểu lộ chủ quyền của ý chí của tôi đối với vật và chứng minh rằng vật không phải tự mình và cho mình, không phải là mục đích tự thân Sự biểu lộ này diễn ra bằng cách tôi đặt vào vật một mục đích khác hơn mục đích
mà vật đã có, tôi ban cho nó một linh hồn khác hơn là cái linh hồn nó đã có trước đó, tôi ban cho nó linh hồn của tôi [24, 89 – 90]
Hegel cho rằng khác với con người, “vật là một cái gì đó không tự do, không nhân cách và vô quyền” (“eine Sache, ein Unfreies, Unpersoenliches
und Rechtloses”) [24, 87], vì vậy mới có “quyền chiếm làm của riêng tuyệt đối của con người đối với mọi vật” (“absolutes Zueignungsrecht des Menschen auf
allen Sachen”) [24, 87] Như vậy, thông qua sở hữu tư nhân, cá nhân có được
Trang 35sự tồn tại hiện có cho ý chí của mình Vì vậy, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân là vi phẩm “bản tính tự nhiên của tự do tinh thần và pháp luật” [24, 93]
Điều đáng ghi nhận ở Hegel là ông đã phân tích vấn đề sở hữu tư nhân đối với vật một cách khá sâu sắc thông qua sự phân biệt giữa chiếm hữu (Besitz) va sử dụng (Gebrauch), giữa giá trị (Wert) và giá trị sử dụng (Gebrauchswert) Sự chiếm hữu thể hiện ý chí sở hữu của cá nhân đối với vật, còn quyền sử dụng chỉ là hình thức biểu hiện của sự sở hữu mà thôi Hegl
viết: “Qua việc chiếm hữu, vật nhận được thuộc tính là vật của tôi, và ý chí có một quan hệ khẳng định với nó… Tuy nhiên, ý chí của chủ sở hữu – theo đó
một vật là của người ấy – là cơ sở thực chất đầu tiên, trong khi các sự qui định tiếp theo – sự sử dụng – chỉ là hiện tượng của nó mà thôi.” [24, 109] Nhìn
chung, “sở hữu, về bản chất, là sở hữu tự do, toàn vẹn”, tức, “sở hữu về giá trị lẫn việc sử dụng nó” [24, 115] Phê phán quan niệm Phong kiến Châu Âu về
vấn đề sở hữu, Hegel viết: “sở hữu của người tá điền trong thái ấp Phong kiến
được phân biệt ở chỗ: người tá điền chỉ là chủ sở hữu của việc sử dụng vật (Gebrauch der Sache), chứ không phải là chủ sở hữu giá trị của vật (Werte der
Sache)” [24, 115] Kế thừa tư tưởng Fichte về vấn đề sở hữu, Hegel cho rằng bất kỳ ai cũng có quyền sở hữu, tuy nhiên sở hữu nhiều hay ít phụ thuộc vào tính đặc thù của mỗi cá nhân Vì vậy, theo ông, sẽ là sai lầm khi đòi hỏi sự bình đẳng (ngang nhau) về sở hữu Sự bình đẳng chỉ có thể được hiểu là mọi người đều có quyền sở hữu mà thôi [24, 98]
Là thực thể lý tính, con người không chỉ thể hiện sự tự do thông qua việc sở hữu đối với vật, mà còn thông qua sự thừa nhận của những ý chí khác
bang hợp đồng (khế ước - Vertrag) Bởi hợp đồng thể hiện mối quan hệ trực
tiếp của các bên ký kết, nên nó là sản phẩm của một ý chí tùy tiện, đồng nhất,
Trang 36thể hiện “ý chí chung của các bên tham gia, chứ không phải ý chí phổ biến tự mình và cho mình Đối tượng của hợp đồng là một vật cá biệt ở bên ngoài”
[24, 133] Theo cach hiểu này, Hegel cho rằng quan hệ giữa công dân và nhà nước không phải là quan hệ hợp đồng, “cho dù xem nhà nước là hợp đồng của tất cả với tất cả, hoặc là hợp đồng giữa tất cả với nhà vua và chính quyền”
[24, 133] Đối với Hegel, nhà nước không dựa trên hợp đồng vốn lấy ý chí tùy tiện làm tiền đề Vì vậy, ông cho rằng sẽ là sai lầm khi nói rằng chính ý chí tùy tiện của mọi người tạo nên nhà nước, bởi thực chất là mỗi người cần thiết phải tồn tại trong nhà nước [24, 134]
Kế thừa tư tưởng của Kant về sự phân loại hình thức của hợp đồng, Hegel cung cho rằng có hai loại hợp đồng cơ bản, đó là hợp đồng biếu tặng (biếu tặng; cho mượn; tặng một dịch vụ) và hợp đồng trao đổi (trao đổi; mua hoặc bán; cho thuê hay cho mướn; thế chấp) [24, 140 – 141] Theo Hegel, “xét
ve ý thức, thì chính nhu cầu nói chung – thiện ý, lợi ích - là cái dẫn dắc những cá nhân đến việc ký kết hợp đồng, nhưng, về mặt tự mình, chính lý tính mới là kẻ dẫn dẫn dắc họ… Hợp đồng tiền giả định rằng các bên ký kết hợp
đồng thừa nhận lan nhau như là những nhân cách và như là các chủ sở hữu” [24, 129] Vì vậy, mệnh lệnh của mối quan hệ pháp luật là: “Hay là một nhân cách và tôn trọng những người khác như là những nhân cách” (“sei eine Person und respektiere die anderen als Personen” [24, 82]
Mặc dù hợp đồng được ký kết dựa trên ý chí chung của các bên, nhưng Việc thực thi hợp đồng lại thuộc vào tính đặc thù của mỗi cá nhân, vì vậy có
thể dẫn đến những trường hợp vi phạm hợp đồng hay những hành vi phi pháp (das Unrecht) Hegel phan biệt theo ba cấp độ khác nhau của những hành vi
phi Pháp: từ không cố ý đến có chủ ý và cuối cùng là tội ác [24, 147] Ông cho
Trang 37rằng không nên có hình phạt đối với những vi phạm không cố ý, bởi trong những trường hợp ấy, chủ thể không hề muốn vi phạm pháp luật Nhưng trong trường hợp lừa đảo cần phải có hình phạt tương xứng Tuy nhiên, giữa tội ác
và lừa đảo có sự khác biệt lớn, trong sự lừa đảo vẫn có sự thừa nhận sự hiện diện của luật pháp, còn trong tội ác, luật pháp không được tôn trọng Sự phi
Pháp này dẫn đến quyền cưỡng bức của pháp luật, vì vậy, “có thể định nghĩa
Pháp luật trừu tượng hay pháp luật theo nghĩa chặt chẽ nhất ngay từ đầu như
là quyền có chức năng biện minh cho việc sử dụng sự cưỡng bức cần phải
được hiểu như là kết quả nảy sinh một cách gián tiếp từ sự phi pháp” [24, 154]
Sự trừng phạt được Hegel lập luận xuất phát từ ý chí tự do của kẻ phạm
tội Bởi hành vi phạm tội thể hiện sự thống nhất giữa ý chí và hành động của chủ thể, vì vậy sự trừng phạt cũng phải xuất phát từ chính hành vi của kẻ phạm tội chứ không đơn thuần là sự trả thù hay sự răn đe Trừng phạt, về
nguyên tắc, là công lý đối với kẻ phạm tội, bởi “ngay trong hành động của kẻ phạm tội có ý muốn của bản thân cá nhân Vì thế, trong chừng mực sự trừng phạt được xem như sự hiện thân cho quyền của chính người phạm tội (ein Recht an den Verbrecher), người phạm tội được hưởng dânh dự (Ehre) như một hữu thể có lý tính… và họ cũng bị tước mất dânh dự nếu không bị trừng phạt
đúng với tiêu chuẩn hay bị xem đơn thuần như một con vật có hại cần phải làm cho trở thành vô hại hay cần phải được trừng phạt nhằm răn đe hay cải tạo họ” [24, 161] Kế thừa tư tưởng của Kant về giá trị tuyệt đối của con người, Hegel tán thành án tử hình dành cho tội giết người bởi mạng sống là toàn bộ sự tồn tại hiện có của con người, không có gì có thể so sánh được với mạng sống ngoài việc phải chịu bị tước bỏ mạng sống [24, 163]
Trang 38Với việc sở hữu tư nhân đối với vật, ý chí tự do cá nhân được thể hiện thông qua việc chiếm đoạn, quyền sử dụng, định đoạt đối với vật Cũng thông qua sở hữu, các cá nhân công nhận nhau như là những nhân cách thông qua viec ký kết hợp đồng Nhưng tự do ý chí không chỉ có trong những mối quan
hệ với vật và các mối quan hệ dựa trên ý chí chung thông hợp đồng, trừng
phạtt, mà còn nằm trong chính chủ thể (Subjekt), trong sự tự quyết của mỗi cá
nhân, trong hành vi đạo đức
Đạo đức (Moralitaet) là tồn tại hiện có bên trong của ý chí tự do
(Die Moralitaet ist ein Dasein des inneren freien Willens) Nghĩa là, ý chí tự do
thể hiện trong sự độc lập, tự quyết (Selbstbestimmung) và chủ ý (Absicht )
của chủ thể hành động Chủ thể phải chịu trách nhiệm (Pflicht) ve hành vi của
mình một khi hành vi đó đã có chủ ý từ trước [24, 182] Hegel lập luận rằng hành vi xuất phát từ sự tự quyết của ý chí cá nhân nhưng ý chí đó “cần phải”
phù hợp với ý chí chung Khác với Kant, Hegel cho rằng kết quả hành vi không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể hành động, mà còn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài, vì vậy trong những điều kiện khác nhau, kết quả hành vi sẽ khác nhau Tuy nhiên, chủ thể hành động không
chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả, mà “chỉ chịu trách nhiệm về những hậu qủa đầu tiên, bởi chỉ có chúng mới là bộ phận gắn liền với chu ý của chủ thể”
[24, 183]
Nếu Kant cho rằng giá trị hành vi nằm trong Nguyên tắc của ý chí (Willensprinzip), tức trong động cơ của chủ thể, thì đối với Hegel giá trị đạo đức nằm trong ket quả (Folgen) của hành vi, bởi kết quả là “hình thái nội tại
va đích thực của hành động, chúng biểu lộ bản tính của chúng và không gì khác hơn là bản thân hành động” [24, 183] Tuy nhiên “những kết quả cũng
Trang 39bao hàm những sự can thiệp từ bên ngoài và những sự thêm thắt ngẫu nhiên không liên quan gì đến bản tính của bản thân hành động” [24, 183], vì vậy cần phải xem xét kỹ hoàn cảnh trong đó chủ thể hành động [24, 184] Với những lập luận trên, Hegel đã có cái nhìn tổng thể hơn khi đánh giá hành vi đạo đức
so với các nhà triết học tiền bối, cụ thể là Kant và Fichte Ông không chỉ quan tâm đến ý chí, tức động cơ của chủ thể, mà còn đề cập đến hoàn cảnh, kết qua của hành vi trong đó chủ thể hành động
Kế thừa Kant, Hegel cũng cho rằng tự do chỉ có được khi ý chí con người hoàn toàn độc và tự quyết, nghĩa là không bị qui định hay lệ thuộc vào cái gì khác với chính bản thân nó Tuy nhiên khác với Kant, khái niệm tự do theo Hegel luon lệ thuộc và biến đổi theo đời sống cá nhân và lịch sử xã hội
Nếu Kant cho rằng tự do là tự đặt mình dưới các qui luật đạo đức do lý tính qui định, hay là sự tự thoát khỏi mọi qui định của tự nhiên và xã hội cũng như mọi ham muốn và các xu hướng khác, thì Hegel lại cho rằng từ bỏ hay tự không chế những ham muốn của con người cũng có nghĩa là không còn được
tự do Sự tự do không gắn liền với hoàn cảnh sống là “tự do hình thức và trừu tượng” (“abstrakte und formelle Freiheit)”) [24, 189] Theo Hegel: “Sự tự do
chỉ có được nội dung xác định hơn trong sự tồn tại hiện có chủ quan tự nhiên (natuerlich subjectives Dasein), đó là: những nhu cầu, xu hướng, đam mê, ý kiến, tưởng tượng… Việc thỏa mãn những nhu cầu nàý chính là sự bình an (Wohl) hay hanh phúc (Glueckseligkeit” [24, 189] Phê phán quan điểm của
Kant ve vấn đề này, Hegel cho rằng con người có quyền lấy những nhu cầu của mình làm mục đích Hành động nhằm thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên không phải là hạ thấp phẩm giá con người Tuy nhiên là thực thể lý tính con
Trang 40người cần phải “nâng cái gì đang có lên thành một tiến trình tự sáng tạo hướng đến cái thiện” [24, 189]
Không đồng ý với quan điểm Kant rang cái thiện (das Gute) tồn tại tien nghiem trong moi con người, Hegel cho rằng cái thiện là kết quả của nhận thức (Erfolgen der Erkenntnis), của “kiến thức của ý chí chủ quan” [24, 200], của
sự giáo dục và tính đặc thù của mỗi cá nhân [24, 201] Kế thừa tư tưởng của Kant va Fichte rằng lương tâm là tòa án cao nhất của con người, Hegel cũng cho rằng lương tâm là yếu tố quy định và quyết định hành vi thiện ác ở con người Tuy nhiên, lương tâm mà Hegel đề cập đến không phải là lương tâm mang tính chủ quan, hay “sở hữu đặc thù cá nhân” (“besonderes Eigentum des Individuums”) [24, 209], mà là “những qui định phổ biến của tư duy” (“allgemeine Bestimmung”) [24, 209], thể hiện trong “những điều luật và những nguyên tắc” (“Gesetze und Grundsaetze”) [24, 209] Lương tâm không tồn tại dưa trên cảm nhận về sự thiện, ác mà phải phục tùng sự phán đoán
“Lương tâm diễn tả thẩm quyền chính đáng tuyệt đối của tự ý thức chủ quan, biết trong chính mình và từ chính mình cái gì là đúng và nghĩa vụ, và không
thừa nhận những gì ngoài điều nó biết là cái thiện, đồng thời, khẳng định rằng
điều nó biết và mong muốn chính là sự đúng đắn và nghĩa vụ trong sự thật
Với tư cách là sự thống nhất giữa cái biết chủ quan và cái gì tồn tại tự mình và
cho mình, lương tâm là cái gì thiêng liêng (Heiligtum) mà việc xúc phạm nó là một tội phẩm thánh Song lieu lương tâm của một cá nhân nhất định có tương ứng với ý niệm này về lương tâm hay không, liệu điều nó xem là tốt hay tuyên
bố là tốt có thực sự là tốt không, điều nà chỉ nhận biết được từ nội dung của
cái tốt được giả định ấy Cái gì là sự đúng đắn và nghĩa vụ, tức cái hợp lý tính
tự mình và cho mình của những sự qui định về ý chí, về bản chất không phải