1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức bình đẳng giới trong gia đình của sinh viên đại học khoa học xã hội nhân văn đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2007

164 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức bình đẳng giới trong gia đình của sinh viên đại học khoa học xã hội nhân văn đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2007
Tác giả Nguyễn Ngọc Thư, Trần Thị Mai Thoa
Người hướng dẫn Trần Thị Anh Thư GV
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: DẪN LUẬN (3)
  • PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (21)
    • II. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH (23)
    • A. CÁC MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG (23)
      • 1. Cái nôi gia đình của sinh viên (23)
      • 2. Nhà trường và môn học về giới cùng các chương trình ngoại khóa (28)
      • 3. Phương tiện truyền thông (37)
    • B. NHẬN THỨC SINH VIÊN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH 40 1. Quan niệm bình đẳng giới trong gia đình của sinh viên Nhân Văn (42)
      • 5. Những khó khăn và giải quyết (56)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (58)
  • PHỤ LỤC (64)

Nội dung

Thêm vào đó sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn còn trường đại học giảng dạy các môn khoa học về nhân văn và xã hội, chú trọng đến con người và đào tạo con người nên nhậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

SV ngành Xã Hội Học Khóa 2003-2007 Người hướng dẫn khoa học:

GV : TRẦN THỊ ANH THƯ

T.p Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 5 năm 2007

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: DẪN LUẬN 1

PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SINH VIÊN NHÂN VĂN: 19

II MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH 21

A CÁC MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG: 21

1 Cái nôi gia đình của sinh viên: 21

2 Nhà trường và môn học về giới cùng các chương trình ngoại khóa 26

3 Phương tiện truyền thông 35

4.Nhóm bạn 37

B NHẬN THỨC SINH VIÊN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH 40 1 Quan niệm bình đẳng giới trong gia đình của sinh viên Nhân Văn: 40

2.Khả năng có thể thay đổi của nhận thức : 50

3 Thái độ với bình đẳng giới: 51

4.Nhận thức bất lợi và lợi ích của bình đẳng giới : 52

5 Những khó khăn và giải quyết: 54

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

PHỤ LỤC 62

Trang 3

Sinh viên được coi là nhóm xã hội có khả năng tiếp thu nhanh các giá trị mới và tiếp cận với những quan điểm tiến bộ vì vậy khảo cứu nhận thức sinh viên về bình đẳng giới cũng có thể góp phần nâng cao nhận thức giới, giảm đi những bất bình

Trang 4

đẳng giới vẫn tồn tại nhiều trong xã hội Đó cũng là lý do mà đề tài về nhận thức bình đẳng giới trong sinh viên được chọn

Hơn nữa, tìm hiểu về nhận thức bình đẳng giới là việc làm khá nhạy cảm và có những khó khăn chủ quan riêng của nó, ít nhất là về phía người được hỏi Tuy nhiên, chọn sinh viên là nhóm xã hội để nghiên cứu về bình đẳng giới bởi đây là nhóm có những đặc điểm đặc thù Trước hết đây là những chủ thể năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, là những người có khả năng tiếp thu và lĩnh hội nhanh những tác động xã hội cả tích cực và tiêu cực Họ cũng là nhóm đối tượng sống và làm việc trong một môi trường tri thức đó là trường đại học mà không phải ai cũng

có được Thêm vào đó sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn còn trường đại học giảng dạy các môn khoa học về nhân văn và xã hội, chú trọng đến con người và đào tạo con người nên nhận thức sinh viên về bình đẳng giới trong một môi trường như vậy hẳn có những nét riêng biệt Ngoài ra trường còn có dạy

bộ môn về giới là Xã hội học về giới và môn Giới và phát triển một cách chính quy

và hệ thống nên xem xét ảnh hưởng các môn học này cùng với các hoạt động ngoại khóa về giới ở trường cũng là nghiên cứu hết sức thú vị Đây cũng là điểm nhấn của đề tài trong việc xem xét, đánh giá ảnh hưởng của các môi trường đại học với nhận thức sinh viên

Quan trọng hơn đây cũng là một mảng đề tài đáng quan tâm, vì nghiên cứu, tìm hiểu nhận thức sinh viên về bình đẳng giới và các yếu tố tác động của nó giúp chúng ta hình dung rõ hơn tình trạng bình đẳng giới trong xã hội Nghiên cứu về mặt nhận thức cũng có thể nhận diện khả năng có thể thay đổi của quan hệ giới trong xã hội, vì nhận thức cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến những thay đổi hành vi và cách ứng xử, thái độ về giới

Trang 5

- Đánh giá tác động ảnh hưởng của ba môi trường : gia đình, nhà trường với các môn học giới, chương trình ngoại khóa và xã hội qua tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng và nhóm bạn tới nhận thức sinh viên về bình đẳng giới, đặc biệt là sự tác động của môn học giới và các chương trình ngoại khóa ở trường đối với sinh viên

- Đề xuất một vài ý kiến có ý nghĩa góp phần thay đổi nhận thức về giới của sinh viên

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

- Mô tả nhận thức bình đẳng giới trong gia đình của sinh viên qua hiểu biết, quan niệm, thái độ của họ về bình đẳng giới

- Nghiên cứu sự tác động của ba môi trường: gia đình, nhà trường, xãhội Tìm

hiểu nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức sinh viên

- Đề xuất một vài kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức giới của sinh viên về vấn

đề này

Trang 6

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

Nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới trong gia đình

6 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU :

Trường Đại Học Khoa học Xã hội & Nhân Văn

7 TIẾP CẬN LÝ THUYẾT

a Quan điểm tiếp cận giới:

 Mối quan hệ giữa hai giới nam nữ trên mọi mặt đời sống, lao động và hưởng thụ,

quyền lợi và nghĩa vụ trong gia đình, ngoài xã hội, làm rõ sự so sánh nam nữ về địa

vị, vị trí trong gia đình, ngoài xã hội Những thiệt thòi yếu kém của phụ nữ từ nguyên nhân nào, khoảng cách giữa nam và nữ và phương hướng khắc phục khoảng cách đó, đem lại sự bình đẳng giữa hai giới về mọi mặt

 Trong việc nghiên cứu, không được nghiên cứu đặc điểm riêng của phụ nữ, không tách rời đặc điểm chung hai giới, nếu vậy sẽ thiếu sự nghiên cứu so sánh tình trạng nam nữ trong các tình huống cần thiết Điều này dẫn đến bất lợi cho phụ nữ, dẫn đến kết quả ngiên cứu bị hạn chế, không có cái nhìn tổng quát trong sự giải thích chung tình hình hai giới, khoảng cách tồn tại giữa hai giới

Ở đây đề tài cố gắng sử dụng quan điểm tiếp cận giới để làm rõ nội dung nghiên cứu và để đề tài có tính khoa học, khách quan và chính xác

7.1 Tiếp cận xã hội hoá:

Nhận thức chịu tác động của ba môi trường là gia đình, nhà trường (chủ yếu là các chương trình về giới và môn học về giới), xã hội (các phương tiện thông tin đại chúng và nhóm bạn)

Trang 7

Trong môi trường gia đình: gia đình là bối cảnh xã hội quan trọng nhất trong đó

diễn ra qu trình x hội hĩa Nhà xã hội học John J.Macionis cho rằng kinh nghiệm xã hội ngaỳ càng tăng diễn ra trong gia đình hình thành nền tảng nhân cách của chúng ta, cho

dù sau nay chúng ta có thay đổi nhiều đến đâu đi chăng nữa Gia đình phần lớn là nguyên nhân gây nênquá trình truyền dẫn văn hoá qua đó các giá trị và tiêu chuẩn được dạy cho các thành viên mới của xã hội và kết hợp vào ý thức cá nhân vào chính mình

Mặc dù bố mẹ không hề hình thành quyết định sự phát triển của con cái, những khuôn khổ tới hạn của sự tự nhận thức chẳng hạn như thái độ, quan tâm, mục đích, niềm tin và thành kiến có được trong gia đinh

Đề tài dựa vào cách tiếp cận này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của cha mẹ qua cách giáo dục cuộc sống con cái cũng như những mong muốn kỳ vọng ở những đứa con

sẽ tác động đến nhận thức của chúng ra sao về vấn đề bình đẳng giới Mà ở đây chính là sinh viên, liệu họ có chịu ảnh hưởng từ cuộc sống gia đình, từ người cha, người mẹ, và cách thức đối xử của bố mẹ với con trai và con gái trong gia đình như

lý thuyết đã đề cập không?

Môi trường xã hội hoá ở nhà trường (chương trình về giới và môn học về giới ở

trường đai học) Đề ti tìm hiểu sự quan tâm của sinh viên với các chương trình này và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với phát triển nhận thức của sinh viên về giới

Môi trường xã hội hoá ngoài xã hội (bao gồm các phương tiện thông tiên đại

chúng )

Phương tiện thông tin đại chúng là các kênh truyền đạt định hướng đến một lượng khán giả khổng lồ trong xã hội biến đổi với các xã hội công nghiệp, phương tiện thông tin đại chúng bao gồm truyền hình, truyền thông, nhật báo và tạp chí Tất cả chúng đưa cho chúng ta thông tin đầy đủ mọi loại và do đó, có tác động rất lớn đối với thái độ và hành vi của chúng ta

Trong đề tài này chúng tôi xét hai loại phương tiện truyền thông là truyền hình

và báo chí Một khía cạnh của truyền hình đó là các phim truyện và các chương

Trang 8

trình về giới, tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình trên báo chí Xem xét mức độ ảnh hưởng của chúng tới nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới Việc tiếp cận với báo chí liệu có làm cho nhận thức của sinh viên về vấn đề này khoa học hơn và hướng về bình đẳng giới hơn không ?

Ngoài ra trong nghiên cứu về nhóm bạn cùng tuổi, đề tài cũng muốn tìm hiểu về môi trường này Bởi nhóm bạn cùng tuổi tạo cơ hội cho thành viên thảo luận các chủ đề quan tâm không có sự tham phần của bố mẹ cũng như các chủ đề mà thanh niên thường cố tránh khi có mặt thầy cô và bố mẹ (tình dục và ma tuý) Tham gia vào nhóm bạn cùng tuổi có ảnh hưởng rất lớn tới cá nhân đó Cá nhân tìm cách tuân thủ với nhóm của riêng mình trong khi hình thành sự nhận dạng đối lập với nhiều nhóm khác Vậy ở đây liệu nhóm bạn chơi ở trường đại học với các đặc điểm nam và nữ khác nhau cùng các vấn đề bàn luận có ảnh hưởng như thế nào tới quan niệm bình đẳng giới của sinh viên

xã hội, khẳng định vai trò của mình như bảo vệ phụ nữ, xem mình là kẻ chuyên quyền, rộng lượng, trong khi đó phụ nữ vẫn bị phân biệt đối xử Như thế đã giảm thiểu mức độ mà ở đó nam giới và nữ giới sống hợp tác với nhau trong gia đình

7.3 Tiếp cận thuyết kiến tạo xã hội

Các kiến tạo giới trong xã hội truyền thống, đặc biệt là gia đình như một gia đình thu nhỏ đã tạo ra những nhận thức về giới truyền thống và khó thay đổi ngay cả khi

ở xã hội hiện đại

Trang 9

Theo cách tiếp cận này, trong xã hội truyền thông tồn tại một khái niệm “chế độ gia trưởng” có nghĩa là hình thức tổ chức xã hội trong đó phái nam thống trị phái

nữ Cách tiếp cận này dựa trên sự phân biệt đối xử giới tính, cho rằng, phái này bẩm sinh đã vượt trội hơn phái kia và sự thống trị là điều hợp lý Phái nam được cho là phái vượt trội trong khi phái nữ là những người thấp kém bẩm sinh so với phái nam

8 GIẢ THUYẾT NGHIN CỨU

- Sinh viên có sự thay đổi nhận thức bình đẳng giới đầy đủ, tích cực hơn và phổ biến đối với nữ.So sánh nam và nữ sinh viên thì nữ giới có quan điểm ủng hộ bình đẳng giới nhiều hơn

- Bình đẳng giới cũng mang lại những bất lợi cho nam giới vì thế vẫn còn chưa được chấp nhận rộng rãi

- Môn học giới và các chương trình ngoại khóa ở trường đóng vai trò quan trọng dẫn đến những thay đổi trong nhận thức bình đẳng giới của sinh viên

Trang 10

GIA ĐÌNH NHÀ TRƯỜNG XÃ HỘI

9 MÔ HÌNH KHUNG PHÂN TÍCH

BÌNH ĐẲNG GIỚI NHẬN THỨC

Trang 11

10 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: 1

2 Giới tính:

Là một khái niệm sinh vật học, chỉ sự khác biệt nam nữ về mặt sinh học Những thiệt thòi cũng như một số bất bình đẳng cũng được giải thích dựa trên những đặc điểm giới tính bẩm sinh theo quan điểm của một số người

3 Phân công lao động theo giới:

Chỉ việc gán các công việc hay các loại công việc khác nhau cho nam và nữ, thường là theo truyền thống hay tập quán

Trong đề tài, khái niệm được phân tích rõ ở việc phân công lao động trong gia đình của bố và mẹ trong các công việc nhà Xem xét sự phân công này có phù hợp hay không, nó vẫn nặng về truyền thống, tập quán hay có sự đổi mới và giải thích sự phân biệt này vẫn còn tồn tại dai dẳng, đặc biệt là nội trợ

4 Bình đẳng giới:

Một cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề đang đối diện với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bình đẳng, đảm bảo chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực

Đây là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu bình đẳng giới trong các mặt của đời sống gia đình, sự hiểu biết về bình đẳng giới trong sinh viên cũng như những quan niệm của sinh viên thế nào là bình đẳng giới Liệu theo suy nghĩ của

họ có bình đẳng giới hay không và nếu có thì tác động của nó là như thế nào

1

PGS-TS Trần Thị Kim Xuyến- tài liệu giảng dạy xã hội học về giới

Trang 12

Khái niệm bình đẳng giới sử dụng trong đề tài là mô hình Bình đẳng giới phân chia theo quyền, tiếng nói và nguồn lực Trong đó quyền bao gồm quyền theo luật

và quyền trong thực tế về chính trị, kinh tế xã hội và hôn nhân, quan hệ gia đình Tiếng nói thể hiện trong gia đình (quyết định phân bổ nguồn lực và đầu tư nguồn lực) và ngoài xã hội (tham gia tiến trình chính trị, quyết định trong cộng đồng) Nguồn lực bao gồm tiếp cận về giáo dục, y tế sức khỏe, tư liệu sản xuất, việc làm thu nhập Tuy nhiên đề tài chỉ nghiên cứu nhận thức bình đẳng giới trong gia đình nên các nội dung bình đẳng giới chủ yếu là phân công lao động, quyền quyết định, quyền sở hữu giấy tờ nhà đất, hộ khẩu và đóng góp thu nhập trong gia đình

5 Sinh viên :

Sinh viên là một bộ phận của thanh niên Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn hình thành nhân cách và chuẩn bị gia nhập vào đội ngũ tri thức của đất nước Sinh viên tuy có chung một số đặc điểm như cùng độ tuổi, trình độ văn hóa, ước

mơ được cống hiến nhưng lại có sự khác nhau về nơi xuất thân

6 Nhận thức :

Là sự phản ánh của hiện thực khách quan trải qua một quá trình biện chứng phức tạp, phát triển từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng Tức là sự xem xét hiện thực sinh động lên tư duy trừu tượng, khái quát những tài liệu thuộc về cảm giác và tri giác bằng những khái niệm phán đoán, suy lý để đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng (Định nghĩa Triết học )

Trong đề tài khái niệm nhận thức được hiểu là tất cả những gì cá nhân học hỏi được về giới phản ánh trong thế giới quan và thể hiện quan những kiến thức, hiểu biết

về giới, những quan niệm giới và thái độ của họ với bình đẳng giới

11 PHƯƠNG PHÁP NGHIN CỨU :

- Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có

- Phương pháp điều tra sử dụng bảng hỏi gồm 100 bảng

Mẫu nghiên cứu:

- Chọn mẫu chỉ tiu sau đó chọn ngẫu nhiên

Trang 13

Khung mẫu: danh sách sinh viên trường ĐHKHXH&NV v chia làm 3 khối: khối

xã hội, khối nhân văn và khối ngoại ngữ Trong khối X hội chọn khoa X hội học, khối Nhân văn chọn khoa Nhn học, khối ngoại ngữ chọn khoa Ngữ Văn Anh

- Đặc điểm sinh viên các khoa: khoa Xã Hội Học và Nhân Học chủ yếu l sinh viên tỉnh, có học môn học về giới, khoa Ngữ Văn Anh chủ yếu có hộ khẩu thành phố và không học môn xã hội học về giới

Biến độc lập : giới tính, hộ khẩu, tuổi, năm học, học môn giới…

Biến phụ thuộc : Nhận thức, hiểu biết, quan niệm…

- Tiêu chí chọn mẫu : sinh viên nam và nữ các khoa Xã Hội Học, Nhân Học, Ngữ Văn Anh từ năm một đến năm tư Số lượng sinh viên được chia đều theo giới, khu vực sinh sống theo tỷ lệ Sau đó mẫu được chọn ngẫu nhiên

12 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI

12.1 Ý nghĩa khoa học:

Đề tài cung cấp những số liệu và những thông tin nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới Thông qua đó có thể đánh giá tác động các môi trường hình thành nhận thức giới Hơn nữa những quan điểm, thái độ sinh viên về bình đẳng giới cũng là một thang đo lường đánh giá một nhóm xã hội khá quan trọng đó là sinh viên Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là một tham khảo cho các nghiên cứu về giới không chỉ nhóm sinh viên mà bổ ích để so sánh các nhóm khác

12.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài góp phần tìm hiểu quan điểm, thái độ và góc nhìn của sinh viên về bình đẳng giới Do đó có thể giúp ích cho việc lồng ghép giới trong môi trường đại học, xóa bỏ dần những kỳ thị giới không đáng có, xóa dần khác biệt không có lợi cho cả hai giới

Trang 14

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:

Nội dung tổng quan taì liệu được chia làm hai phần:

- Một là những nghiên cứu về bình đẳng giới :

Chủ đề này được đề cập đến ở khá nhiều các nghiên cứu về giới và gia đình trong thời gian gần đây Những nghiên cứu này phần lớn mô tả và giải thích sự bất bình đẳng mà phụ nữ và trẻ em gái phải gánh chịu với các phương pháp sử dụng là định tính và định lượng Các lý thuyết sử dụng là lý thuyết x hội hĩa, cấu trúc chức năng, xung đột, nữ quyền…

- Hai là những nghiên cứu về sinh viên : hướng nghiên cứu của các đề tài thực hiện là tìm hiểu quan niệm, thái độ, hành vi của sinh viên về một số lĩnh vực liên quan đến giới như quan điểm hôn nhân, gia đình, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời, quan niệm về trinh tiết mà ít có đề tài nghiên cứu nhận thức sinh viên về bình đẳng giới

Các nghiên cứu về bình đẳng giới

 Nâng cao chất lượng sống của cả nam và nữ

Trong tài liệu: “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hoá và sự phát triển bền vững” _ viện Khoa học Xã hội Việt Nam_ GS Lê Thi, NXB KHXH Tác giả đã phân tích rằng, để nâng cao chất lượng sống của cả hai giới có nghĩa là:

+ Cải thiện đời sống phụ nữ nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người

+ Dựa trên quan điểm giới để xem xét vấn đề, phân tích mối quan hệ giữa giới nam và giới nữ trong sự phát triển của văn hoá, con người, nguồn nhân lực ở nước

ta Và để thực hiện công việc này đòi hỏi phân tích tác động của sự bình đẳng về giới đến chất lượng sống con người, nguồn nhân lực, trong việc tạo cơ hội cho hai giới nam và nữ tiếp thu được ăn hoá công nghệ một cách tốt nhất

+ Xây dựng sự bình đẳng về giới trong gia đình, ngoài xã hội tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa hai giới tạo sự cn bằng về tâm lý cho mỗi thành viên

Nhận xét: tài liệu này đã trình bày khá rõ ràng về việc để phụ nữ hoà nhập vào

cuộc sống dễ dàng và làm tròn trách nhiệm trong tất cả mọi lĩnh vực Những kết

Trang 15

quả cho thấy vai trò của cả hai giới nam và nữ Thực hiện sự bình đẳng giới không chỉ đem lại lợi ích cho riêng nữ giới mà vì lợi ích chung của cả hai giới và xã hội

 Bình đẳng trong giáo dục, chăm sóc con cái

Cũng trong tài liệu trên tác giả cho rằng:

+ Cả người cha và người mẹ đều phải có trách nhiệm chăm sóc con cái như nhau, người chồng có thể giúp vợ cho con ăn, giạt quần áo… Điều này có lợi cho sự phát triển cân bằng về tâm lý, tình cảm và sự hình thành nhân cách đứa trẻ bởi hình ảnh người cha người mẹ được in đậm

+ Sự thiếu vắng người mẹ hoặc người cha đều gây những hậu quả không tốt cho

sự phát triển của trẻ

Nhận xét: cũng như tâm lý học như những kết quả này cho thấy được vai trò tích

cực của người cha và người mẹ, trong sự phát triển tâm lý con trẻ Đây là một hệ quả rất tốt của bình đẳng giới mang cách tiếp cận xã hội học Ngay trong môi trường xã hội hoá đầu tiên ở gia đình nếu có sư bình đẳng của cha và mẹ thì con ci

sẽ có một nền móng vững chắc phát triển nhân cách hoàn thiện Hướng nghiên cứu này cũng sẽ được đề cập đến trong đề tài và là cơ sở cho những nghiên cứu về sau

 Bình đẳng giới: theo các tài liệu còn là xoá bỏ hoàn toàn tư tưởng trọng nam khinh nữ

Nhận thức về phân công lao động nam, nữ

Trong báo cáo “Về phân công lao động nam, nữ như một công cụ phân tích giới” _ Nguyễn Kim Hà_Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam_ Nguyễn Linh Khiếu Tác giả đưa ra một số kết quả:

Kabbeer (1994) đưa ra nhận định: có một số hạn chế trong phân công lao động theo giới Bởi vì nó chỉ nhấn mạnh vào các quan hệ logic chứ không nhấn vào các quan hệ xã hội giữa con người Điều này đã dẫn đến việc coi sự phân công lao động theo giới như là một mối quan hệ của các hoạt động mang tính chia rẽ, như các hoạt động trên đồng ruộng hay trong vụ mùa và đã bỏ qua những mối quan hệ liên kết trong

xã hội trong quá trình hoạt động sản xuất khác nhau Vì thế sự phân tích các loại công việc vô hình chung đã tách biệt công việc của nam giới và nữ giới Mà trên thực tế

Trang 16

mục đích của việc phân tách này nhằm đem lại sự kết nối các hoạt đông mang tính chia rẽ chung

Nhận xét này có một ý nghĩa quan trọng cho việc nhận thức về vấn đề giới và bình đẳng giới, đặc biệt trong nghiên cứu sự phân công lao động giữa hai giới Theo ông nghiên cứu theo cách tiếp cận phụ nữ học chỉ tính đến một loại công việc của nam giới hoặc nữ giới sẽ không mang lại kết quả cho sự bình đẳng giới do không có sự liên kết các quá trình hoạt động sản xuất khác nhau Điều này rất khó cho sự phù hợp trong phân công lao động

Báo cáo “Nâng cao tính triết lý về con người trong nhận thức về giới” _ Phan

Thanh Khôi Tác giả nhận xét rằng:

 “Không nên đơn giản cho rằng nhưng gì khác biệt về giới là đều phải khắc phục để đi đến bình đẳng nam nữ, và những gì khác biệt về giới tính là nhất thành bất biến”

 Nếu tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức giới đối với việc khắc phục và xoá bỏ bất bình đẳng nam nữ,nâng cao địa vị của phụ nữ, động viên được tích cực của cả hai giới cho tiến bộ xã hội … lại là không tưởng Đây cũng là hai nhận xét rất đáng chú ý và dựa vào kết quả nghiên cứu của đề tài để giải thích và chứng minh xem liệu những nhận xét này có phù hợp và đúng đắn hay không

Về nội dung này trong “Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam”_ GS Lê Thi_TTKHXH&NVQG_ TT nghiên cứu khoa học về gia đình

và phụ nữ.Tác giả chỉ ra rằng:

 “ Bất bình đẳng giữa nam và nữ không có nghĩa là đối xử với nam và nữ trong việc làm, trong học tập, trong gia đình như nhau, khi điều kiện, hoàn cảnh, cơ hội của mỗi giới lại khác nhau và họ ở những điểm xuất phát khác nhau Nêú máy móc đối xử như nhau lại là không công bằng đối với phụ nữ”

Trang 17

 Quan tâm tạo việc làm cho cả hai giới là bình đẳng, nhưng phụ nữ có những điều kiện, hoàn cảnh đặc thù, khó khăn hơn nam giới thì sự công bằng đòi hỏi tạo cho họ nhưng điều kiện tốt hơn, dễ dàng tiếp cận hơn Nhận xét : Những kết quả trên giúp chúng ta có những hướng đi đề ra các chính sách, chương trình một cánh đúng đắn, hiệu quả, làm sao tạo ra được công việc với cả hai giới phù hợp với đặc tính của hai giới mà lại không mang tính bất bình đẳng

Nghiên cứu: “Quan niệm của thanh niên về vai trò giới trong giai đoạn hiện nay”

(đề tài nghiên cứu khoa học–khoa xã hội học năm2004-2005)

Một số kết quả của đề tài:

Nữ thanh niên : được tạo ra nguồn kinh tế cho gia đình chỉ là trách nhiệm của người chồng mà người vợ cũng cần phải đóng góp, các nữ thanh niên quan tâm, là người phụ nữ khi cùng chồng tạo dựng lên kinh tế cho gia đình thì vai trò và địa vị của họ trong gia đình sẽ được nâng cao, người vợ có quyền hơn tiếng nói có trọng lượng hơn trong việc ra quyết định hình ảnh người vợ sẽ khác hơn trong mắt xã hội, gia đình chồng …

Họ ý thức được rằng giá trị của họ chỉ có được khi họ là những người độc lập về kinh tế, có khả năng xử lí những tình huống để đạt được

sự tôn trọng Nhưng một điều là mười trường hợp được phỏng vấn đều mong muốn người chồng phải là người có vai trò chính trong việc tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình họ không muốn bản thân mình vượt qua chồng về thu nhập Sự mong muốn về một người chồng giỏi giang, lãnh đạo gia đình (đây chính là nguyên nhân tâm lý )

 Họ suy nghĩ cho đàn ông, đàn ông muốn hơn vợ, vợ giỏi hơn là có vấn đề Có nghĩa rằng để đảm bảo hạnh phúc, phụ nữ không cần thiết phải vượt qua mặt chồng Mặc dù mong muốn người chồng tôn trọng, công nhận vai trò vị trí của họ nhưng họ lại mong muốn người chồng phải là trụ cột kinh tế, người giữ vai trò chính (điều này gây

Trang 18

khó khăn cho việc giải quyết bình đẳng giới vì những mâu thuẫn trong suy nghĩ và thực tế )

Nam thanh niên:

 Đa phần cho rằng họ là người đóng góp chính cho kinh tế gia đình đó

là trách nhiệm của họ

 Hầu hết nam thanh niên muốn vợ của họ sau này ra ngoài xã hội mở mang kiến thức, nhưng sự đóng góp của phụ nữ trong gia đình là không quan trọng “Nếumà đóng góp được thì tốt, không có thì cũng không sao”

 Xu hướng cho là phụ nữ nên tham gia vào hoạt động thu nhập nhưng không kỳ vọng

 Nam giới cho rằng vai trò sản xuất chính trong gia đình là nam, nữ chỉ phụ thêm và thừa nhận vai trò này, đối với cộng việc cộng đồng, nam thanh niên nghĩ: ai thực hiện tốt thì tham gia, cốt là có thời gian phù hợp Điều này thể hiện một quan niệm khá thoáng, là cơ hội để

nữ giới tham gia hoạt động xã hội nhiều hơn, bình đẳng hơn

 Nam thanh niên cũng công nhận xã hội ngày nay có nhiều phụ nữ làm tốt vai trò trụ cột Cần có sự bàn bạc hai bên cho một gia đình hạnh phúc, quyền lực trong gia đình là ngang nhau

Có một số kết quả như sau

 Thanh niên vẫn giữ những giá trị truyền thống Họ có những quan điểm nhận định rất khác nhau Ý thức làm chủ bản thân là xu hướng của phụ nữ hiện nay, thể hiện qua sự mong muốn độc lập về kinh tế

 “Các nữ thanh niên ngoài việc muốn được chồng chia sẻ công việc gia đình còn ý thức được sự “nhường nhịn” chồng con trong quá trình xây dựng tổ ấm Đây là nét đẹp của phụ nữ Việt Nam Nhưng nếu bị lợi dụng nó chính là mảnh đất màu mỡ, tạo điều kiện cho sự bất bình đẳng giới trong quá trình thực hiện vai trò giới, điều này càng khẳng định “Bình đẳng nam nữ thực sự là một cuộc cách mạng

Trang 19

khó khăn và lâu dài” (Chủ tịch Hồ Chí Minh với công cuộc giải phóng phụ nữ)

Nghiên cứu: “Khảo sát thái đô, nhận thức của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn và đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh về hôn nhân”_ Mai Thị Kim Khánh

Một số kết quả:

 Quyền tự do lựa chọn bạn đời và định đoạt hạnh phúc cao điều đó chứng tỏ sinh viên ngày nay đã dành quyền chủ động trong hôn nhân nhưng vẫn không chối bỏ vai trò của gia đình

 Xu hướng bình đẳng trong hôn nhân được các bạn sinh viên hướng tới, đây là sự thay đổi trong suy nghĩ nhiều thế hệ trẻ do cách được giáo dục và thích ứng với xã hội không giống nhau dẫn đến sự khác nhau trong sự lựa chọn mô hình gia đình chung sống với điều kiện kinh tế xã hội đang phát triển, sinh viên có nhiều cơ hội hơn, không phải dựa dẫm vào cha mẹ, họ tin vào khả năng của mình, một sự nhận thức cao hơn

 Nữ sinh viên có sự hưởng ứng cao hơn so với nam sinh viên về ý kiến “ vợ chồng cùng đi làm và chia sẻ việc nhà với nhau”

 Nữ sinh viên nhận thức được rằng: “Chỉ có được việc làm ổn định trong xã hội thì vị trí người phụ nữ trong gia đình mới được nâng cao, người vợ mới khẳng định được sự ảnh hưởng của mình và tiếng nói trong gia đình”

Tóm lại dù có một số thái độ khác nhau thì duy nhất vẫn là: gia đình được xây dựng trên mối quan hệ vợ chồng bình đẳng, trong đó có cả vợ chồng cùng đi làm, cùng có trách nhiệm chia sẻ công việc với nhau với tư cách người chủ gia đình là

cả hai

Trang 20

Đóng góp mới của đề tài

 Đã có một số đề tài nghiên cứu về nhận thức của sinh viên nhưng nhận thức về bình đẳng giới thì chưa phổ biến, hơn nữa là sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

 Ngoài việc đưa ra những nghiên cứu về mức độ hiểu biết, thái độ của sinh viên một trường đại học thuộc khoa học nghiên cứu về con người, đề tài còn chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của

sinh viên về bình đẳng giới

 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môn học về giới đối với nhận thức

sinh viên về bình đẳng giới trong gia đình

Trang 21

PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SINH VIÊN NHÂN VĂN:

Nằm trong hệ thống đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn chuyên đào tạo các cử nhân chuyên ngành về các vấn đề xã hội Hiện nay trường có ba khối, khối xã hội bao gồm các khoa Xã Hội Học, Giáo Dục Học, Địa Lý, Báo Chí Khối nhân văn bao gồm Ngữ Văn, Triết, Lịch Sử, Văn Hóa Học, Đông Phương Học Và khối ngoại ngữ là các khoa Ngữ Văn Anh, Ngữ Văn Pháp, Ngữ Văn Nga, Ngữ Văn Đức, Ngữ Văn Trung

Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn hiện có hai cơ sở Cơ sở chính nằm tại trung tâm quận 1 dùng cho các sinh viên năm ba, năm tư, các sinh viên nước ngoài đến học tập và chương trình cao học Cơ sở hai nằm ở khu phố 6, phường Linh Trung – Thủ Đức, là nơi tập trung các trường đại học lớn của đại học quốc gia tạo thành làng đại học: đại học Bách Khoa, đại học Khoa Học Tự Nhiên, Khoa Kinh Tế, Đại Học Quốc Tế

Với số lượng sinh viên tuyển sinh là khá lớn - hằng năm gần hai nghìn sinh viên với đa đạng các nghành nghề đào tạo, trường đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các bạn trẻ với nguyện vọng được tham gia học tập và sinh hoạt Không giống như một số trường đại học khác như Kỹ Thuật hay Bách Khoa, Tự Nhiên, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn đào tạo một dải kiến thức nền rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp cho sinh viên Nhân Văn khi ra trường có thể thích nghi với đa dạng ngành nghề

Mang tính chất của khoa học nhân văn và nghiên cứu về nền văn hóa các nước nên trường thu hút khá nhiều các sinh viên nước ngoài đến nghiên cứu và học tập, đây cũng là một đặc điểm thuận lợi cho sinh viên trường giao lưu học hỏi văn hóa các nước bạn, tạo không khí tiếp xúc và môi trường hòa nhập với người nước ngoài

Sinh viên theo học tại trường đến từ mọi miền đất nước, trong đó miền Bắc cũng khá đông, từ sinh viên thành thị đến sinh viên nông thôn, tất cả những điều

Trang 22

này đều góp phần tạo nên những nét văn hóa khác nhau cũng như những khác biệt trong suy nghĩ và quan niệm của họ về mọi vấn đề

Vấn đề bình đẳng giới hiện nay đang rất được quan tâm trên tất cả các biểu hiện của nó Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là ngôi trường đào tạo các kiến thức khoa học cơ bản về cuộc sống, về con người cung cấp một nền móng vững chắc cho sinh viên khi trở về xã hội và chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai của mình Mang tính chất của khoa học nhân văn, trường thường xuyên có các chương trình giao lưu văn hóa- ít nhất là ở trong các khoa tiếng- với các sinh viên nước ngoài cũng như với các tổ chức kết nghĩa của trường Trong những buổi giao lưu như thế sinh viên được trao đổi kiến thức khoa học, tìm hiểu văn hóa nước bạn đồng thời nâng cao tầm nhận thức của mình trên nhiều lĩnh vực Những vấn đề văn hóa, quyền con người trên mọi khía cạnh đang được quan tâm của nó, trong đó có những kiến thức về giới, về xây dựng một xã hội có bình đẳng giới thực sự

Thực hiện cách chọn mẫu chỉ tiêu, nhóm nghiên cứu đã chọn được ba khoa cho cuộc nghiên cứu này đó là: Xã Hội Học, Nhân Học, Ngữ Văn Anh Hai khoa

Xã Hội Học và Nhân Học là hai khoa được học môn hoc về giới Là khoa tương đối mới ở nước ta, Xã Hội Học đã có chín năm thành lập, đào tạo lượng sinh viên rất có ích cho yêu cầu mới của xã hội, sinh viên Xã Hội Học có cái nhìn về giới khá tốt và khách quan do được học khá kỹ lưỡng với người thầy là một người chuyên nghiên cứu các vấn đề giới và gia đình Bộ môn Nhân Học tuy mới được tách ra từ khoa Lịch Sử nhưng trên thế giới khoa học này đã phát triển từ rất lâu và đạt được những nghiên cứu vô cùng quan trọng trong nghiên cứu về con người, chủng tộc cũng như các nền văn hóa đa dạng trên thế giới Môn Giới Và Phát Triển

là một chuyên ngành của các sinh viên Nhân Học có cùng phương pháp và nội dung như Xã Hôi Học Về Giới ở khoa Xã Hội Học Là hai chuyên ngành đang có triển vọng ở trường vì những nội dung nghiên cứu của nó Cùng với khoa Ngữ Văn Anh là một khoa tiếng với số lượng sinh viên đông nhất trường Học một ngôn ngữ mang tính quốc tế các bạn sinh viên khoa này chắc chắn có sự giao lưu rộng cũng như sự hiểu biết nhất định về các vấn đề xã hội Những phân tích trên đây là lý do chính giải thích việc chọn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn làm địa bàn nghiên cứu của đề tài

Trang 23

II MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH

A CÁC MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG:

1 Cái nôi gia đình của sinh viên:

Như chúng ta đã giải thích trong phần tiếp cận lý thuyết, gia đình là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình xã hội hóa Nhân cách trong mỗi thế hệ mới được hình thành trong gia đình sao cho theo lý tưởng con cái lớn lên sẽ hội nhập tốt và trở thành thành viên trong xã hội rộng lớn

Những gì gia đình dạy con cái không phải tất cả đều có chủ ý Trẻ có thể học hỏi thói quen ứng xử thường ngày của những người thân trong gia đình Liệu trẻ có cho rằng mình yếu hay mạnh tối dạ, được yêu thương hay hoàn toàn được tha thứ trong gia đình hay không? Tất cả những điều này phần lớn đều do kết quả xã hội hóa trong môi trường đầu tiên này

Sinh viên là nhóm xã hội có đặc điểm lối sống cũng như lý tưởng khác với các nhóm xã hội khác như công nhân, nông dân, ….Tuy nhiên họ cũng đã trải qua thời thơ

ấu là những đứa trẻ được xã hội hóa trong môi trường quan trọng này Đến trước khi đi học đại học và bắt đầu một cuộc sống xa nhà thực sự thì môi trường xã hội hóa này mới

bị gián đoạn Bấy giờ nhóm bạn cùng tuổi, trường học, và các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng thay thế Sinh viên tiếp tục trưởng thành và học cách thay đổi trong môi trường mới này Kết quả thu nhận được tình hình thực tế trong các gia đình sinh viên được hỏi về các mặt học vấn, nghề nghiệp bố mẹ, phân công lao động trong gia đình, mức độ tham gia và quyết định vào các công việc nhà của bố mẹ như sau

Về học vấn 2, từ nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ học vấn của bố mẹ chưa bao giờ đi học và chỉ học hết tiểu học là rất thấp còn tỷ lệ trung học phổ thông và cao đẳng đại học

là khá cao, cụ thể là: học vấn bố cấp trung học cơ sở là 21,4%, trung học phổ thông 38,8%, cao đẳng đại học và trên đại học : 24,5% Trong khi đó học vấn của mẹ cũng không phải thấp Trung học cơ sở là 26,5%, trung học phổ thông 36,7%, cao đẳng đại học và trên đại học là 21,4 %

2

Phụ lục Môi trường gia đình, bảng 1.3

Trang 24

Về nghề nghiệp 3 của bố chủ yếu là cán bộ nhà nước 29,6%, bố làm nội trợ chỉ chiếm 4,1%, trong khi đó mẹ tham gia nội trợ là 32,5% và cán bộ nhà nước chỉ chiếm 16,5%

Với bảng kết quả trên cho thấy rằng hầu hết các ngành nghề tỷ lệ tham gia nam

nữ là gần như nhau chỉ có khác biệt khá lớn là trong công việc nội trợ

Người đứng tên hộ khẩu 4 chủ yếu là bố (69,7%) đứng tên và ngay cả trong sở hữu giấy tờ nhà đất thì người đứng tên cũng vẫn là bố (61%) Trong khi đó tỷ lệ này ở

mẹ lần lượt là 25,3% và 29 %

Không phải chỉ riêng ở nước ta, theo các tài liệu trước đó ở nhiều nước phụ nữ còn chưa có quyền độc lập trong việc sở hữu đất đai, quản lý tài sản Ví dụ như ở nhiều nước Châu Phi, Hạ Sahara, phụ nữ có được quyền về đất đai chủ yếu thông qua người chồng chừng nào hôn nhân của họ còn tồn tại và sẽ mất ngay quyền đó khi li dị chồng hoặc chồng mất (Đưa giới vào phát triển- UNDP) Một phát hiện của Điều tra lối sống Việt Nam lần II (VLSS98) thì trong gia đình với người chủ hộ là nam, đồng thời là chủ gia đình là đối tượng được tiếp cận với đất đai, tín dụng và đào tạo kỹ thuật Cũng như trong cuộc điều tra này các nhà nghiên cứu chỉ ra sự thiệt thòi đáng kể trong sở hữu đất đai của nữ giới Cụ thể diện tích canh tác do nữ vận hành chỉ bằng 54% diện tích trang trại do nam vận hành Sự phân biệt quyền hạn trong giới đã hạn chế những cơ hội lựa chọn dành cho phụ nữ trong nhiều mặt cuộc sống thường đã hạn chế khả năng tham gia hoặc hưởng lợi từ sự phát triển của họ

Về thu nhập 5 thì chồng là thu nhập chính chiếm 42%, vợ 21%

Phân công lao động trong gia đình 6, vợ là người đảm nhận chính việc nội trợ 81% trong khi chỉ có 1% các ông chồng chăm lo nội trợ Nói chung đàn ông chỉ đóng góp một ít cho công việc này Với các công việc như chăm sóc nhà cửa, con cái, kết quả chỉ ra cả hai cùng tham gia như nhau Có sự chênh lệch khá lớn ở công việc sửa chữa lặt vặt trong gia đình, chồng là người tham gia thường xuyên hơn chiếm 70 % trong khi

đó vợ là 9%, ngược lại mua sắm đồ dùng vợ là người có tiếng nói quyết định hơn

Trang 25

Những kết quả từ những cuộc nghiên cứu gần đây cũng cho thấy những công việc nội trợ của người vợ và người chồng gần đây cho thấy người vợ là người đảm nhận chính những công việc này cũng như các công việc khác trong gia đình còn nam giới đảm nhận các công việc bên ngoài, dù xã hội có thay đổi như đến ngày nay và dù sự nghiệp công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tác động rất nhiều đến các mặt gia đình như cơ cấu gia đình, quy mô gia đình, quyền quyết định hôn nhân

Ở đây chúng ta không bàn nhiều đến trình độ học vấn của cả vợ và chồng mà tập trung đi sâu phân tích đến công việc và vai trò của họ ngày nay

Mặc dù nam và nữ đều có số giờ làm việc như nhau trong các hoạt động có thu nhập đi chăng nữa thì thời lượng phụ nữ phải làm việc nhà nhiều gấp đôi nam giới, có nghĩa là mỗi ngày họ phải làm việc hơn 6-8 tiếng mỗi ngày (Phụ nữ ở Việt Nam-Báo cáo Quốc Gia tóm tắt- ADB,2002) Những công việc đó là nội trợ và giặt giũ, dọn dẹp, chăm sóc con cái… Như trong nghiên cứu trên con số người mẹ làm nội trợ chiếm tới 61%, rõ ràng gánh nặng công việc như vậy có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe phụ nữ

và cũng hạn chế sự tham gia của họ vào giáo dục, các hoạt động xã hội và tiến trình ra quyết định của họ ngoài cộng đồng hay trong chính gia đình họ Mặc dù ngày nay đã có

sự chia sẻ của người chồng nhưng nhìn chung phụ nữ vẫn bị thiệt thòi trong các hoạt động không được trả lương này

Mức độ tham gia vào các công việc gia đình của vợ và chồng 7: Kết quả cho thấy chồng tham gia thường xuyên vào các công việc như sửa chữa đồ trong gia đình, mua sắm đồ dùng, làm vườn trong khi đối với công việc nội trợ có tới 38% số phiếu được hỏi trả lời bố ít tham gia, và riêng trong lĩnh vực chăn nuôi thì số người trả lời bố không tham gia chiếm tới 46,7% Còn đối với mẹ, hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc nhà cửa, chăm con, mua sắm đồ dùng hay làm vườn, chăn nuôi đều tham gia thường xuyên, chỉ có riêng lĩnh vực sửa chữa vặt cũng ít tham gia

Quyền quyết định 8của người chồng và người vợ trong gia đình Theo lý thuyết những đặc điểm của phân công vai trò giới phù hợp với mô hình quyết định trong gia đình Người nào làm chủ yếu công việc gì thì cũng là người quyết định những công vịêc

Trang 26

đó Trong khi người vợ là người làm và quyết định chủ yếu các công việc nội trợ thì trong các quyết định quan trọng của gia đình như mua đồ đạc đắt tiền vai trò người chồng lại tăng lên Mặc khác trong lĩnh vực giao tiếp thường phải thay đổi thói quen để làm hài lòng chồng nhiều hơn, tuy nhiên trong nghiên cứu này thì ngoài công việc nội trợ do người vợ quyết định còn các công việc khác như sửa chữa nhà cửa, mua đồ đắt tiền thì vai trò người vợ và người chồng là ngang nhau Như vậy là ngày nay các công việc trong gia đình được người đàn ông chia sẻ, điều này thì chỉ có trong công việc nội trợ mới có sự khác biệt, đối với công việc này ý kiến của người chồng chỉ mang tính tham khảo còn vợ là người quyết định Điều này cũng dễ hiểu và hợp logic Còn các việc khác quan trọng như sữa chữa nhà cửa, mua đồ đắt tiền, lo việc học tập cho con cái hay việc hôn nhân của con, công việc kinh doanh thì cả bố và mẹ đều đưa ra quyết định quan trọng cuối cùng Người phụ nữ cũng đã tham gia khá thường xuyên các công việc

xã hội chiếm 32% Tuy nhiên ở đây chúng ta mới xem xét đến quyết định của người phụ nữ trong gia đình mà chưa xem xét nó ở ngoài xã hội bởi giới hạn đề tài là nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình Nhưng hiện nay người phụ nữ đã có tiếng nói mạnh

mẽ trong quốc hội cũng như trong hội đồng nhân dân các cấp huyện Điều này được giải thích là do họ được cộng đồng tin tưởng và bầu lên Xã hội hiện đại cùng với sự đấu tranh không ngừng cho bình đẳng giới đã đưa đến những kết quả này Kiến thức về giới và những hiểu biết về tâm lý đã khiến hai giới hiểu được công việc của nhau và biết chia sẻ Điều này thì chỉ có trong công việc nội trợ mới có sự khác biệt, đối với công việc này ý kiến của chồng chỉ mang tính tham khảo còn vợ là người quyết định Còn các việc khác quan trọng như sửa chữa nhà cửa, mua đồ đắt tiền, lo việc học tập cho con cái hay việc hôn nhân của con, công việc kinh doanh thì cả bố và mẹ đều đưa

ra quyết định quan trọng cuối cùng Như vậy là ngày nay các công việc các công việc trong gia đình được san sẻ như nhau, người đàn ông đã cùng vợ chia sẻ những công việc nhà, cũng như cùng nhau trong những quyết định quan trọng, chăm lo các con Người phụ nữ cũng đã tham gia khá thường xuyên vào các công việc xã hội như họp tổ dân phố, tham gia các khóa học khuyến nông Trong khi bố chiếm 58% số phiếu được hỏi trong việc họp tổ dân phố thì cũng có 32% cho rằng mẹ là người tham gia vào công việc (bảng 1.15)

Trang 27

Một điều đáng nói ở đây là mặc dù vẫn còn lệch về con trai hơn nhưng khi được hỏi về việc có chấp nhận sinh thêm con trai không thì rất ít người trong số được hỏi trả lời rằng bố mẹ không chấp nhận cũng như có tới 78,8% bố và 81,8% mẹ coi con trai con gái như nhau Điều này tạo một cơ hội ngang bằng cho con trai và con gái trong việc được hưởng các quyền lợi về giáo dục, y tế và dinh dưỡng (Bảng 1.17)

Nếu chúng ta đi ngược thời gian quay lại xã hội gia trưởng không có gì phải ngạc nhiên trước thực tế những đôi vợ chồng đều thích con trai hơn Trong một cuộc khảo sát gần đây ở toàn nước Mỹ thậm chí phụ nữ cũng thích có con trai hơn con gái: 45% muốn con trai trong khi chỉ có 20% thích con gái Rất may hiện nay điều này ở Việt Nam và ít nhất là trong cuộc nghiên cứu này điều đó đã không đúng như những gì rút ra được ở trên

Trong quan niệm của bố mẹ về vai trò và vị trí của đàn ông và phụ nữ thì vẫn còn nặng với tư tưởng truyền thống Cả bố và mẹ đều cho rằng đàn ông là trụ cột, là người tạo thu nhập chính, con trai thông minh hơn con gái Công việc nội trợ vẫn là con việc của con gái Trong những khác biệt giữa phái nam và phái nữ còn dựa trên những cách đối xử khác nhau của bố mẹ đối với con cái Nghiên cứu thái độ của bố mẹ với con cái cho thấy cả bố mẹ đều có khuynh hướng nhấn mạnh đến sức khỏe cơ thể, tính xốc vác và thành tựu ở con trai trong khi lại nghĩ con gái phải mềm mại và nhu mì và kém quyết đoán hơn Thông thường bố mẹ chuyển tải những kỳ vọng này vào cách đối

xử với con cái Và không ai cho rằng con gái không cần phải học nhiều Điều này cũng

dễ hiểu bởi ngày nay thì bất cứ gia đình nào cả cha lẫn mẹ cũng đều rất quan tâm đến việc học hành của con cái Đặc biệt có một số nghiên cứu chỉ ra rằng, bố mẹ luôn muốn cho con cái mình học hành đến nơi đến chốn chưa nói là học trên cao học (Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ trong việc học của con cái- Lê Thúy Hằng, tạp chí

Xã Hội Học số 2/2006) Hoặc có chăng con gái chỉ thiệt thòi hơn con trai một chút ít nhưng nó không nằm trong các trường hợp được khảo sát

Theo như những gì đã trình bày ở trên, môi trường xã hội hóa gia đình được nhìn nhận dưới góc nhìn của sinh viên đó là tình hình chung về phân công lao động trong gia đình của chính họ, quyền ra tiếng nói của vợ và chồng cũng như sự tham gia vào các công việc của gia đình, những quyết định quan trọng trong việc học hành của con cái

Trang 28

Bởi vì đây là đề tài nghiên cứu nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới nên những

gì thuộc về công việc và quyền quyết định của bố và mẹ trong gia đình có thể sẽ chưa được chính xác theo đúng như những gì mà người chồng và người vợ vẫn làm Nhưng

nó sẽ là một cách nhìn mới, bởi nếu chúng ta biết được sinh viên nhìn nhận và hiểu biết đến đâu về vấn đề này trong chính gia đình của họ thì sẽ rất có ý nghiã trong nghiên cứu về nhận thức sinh viên Liệu có sự khác biệt lớn nào giữa gia đình của những sinh viên này với các nhóm xã hội khác? Và liệu những gì tồn tại trong gia đình họ cũng như cách đối xử với con cái của bố mẹ có ảnh hưởng nhiều hoặc chi phối sinh viên nhiều về nhận thức bình đẳng giới của họ hay không? Và nếu gia đình thực sự không gây được ảnh hưởng thì môi trường nào gây nên sự thay đổi trong quan niệm và nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới Liệu đó có phải là các chương trình học về giới ở trường đại học và bạn chơi cũng như các phương tiện giao thông đại chúng Những tìm hiểu đó

sẽ được làm rõ trong phần nhận thức sinh viên về bình đẳng giới gia đình khi so sánh các tác động của các môi trường còn lại

2 Nhà trường và môn học về giới cùng các chương trình ngoại khóa

2.1 Sinh viên với việc học môn giới:

2.1.1 Tình hình học môn giới ở các khoa:

Các khoa trong trường chia làm ba khối là khối nhân văn, khối xã hôi, khối ngoại ngữ với đặc điểm, đặc thù của từng khối Ở đây trong nghiên cứu, các khoa được chọn từ các khối này không hoàn toàn ngẫu nhiên vì mục tiêu của đề tài là so sánh và tìm hiểu sự khác biệt trong nhận thức của sinh viên có học môn học về giới và sinh viên không học về giới Liệu môn học về giới có làm thay đổi và tác động nhận thức sinh viên nhiều không? Hơn thế sự khác biệt giữa sinh viên thành phố và sinh viên các tỉnh cũng được chú ý Vì thế mà sinh viên khoa Xã Hội Học và sinh viên Nhân Học được chọn nghiên cứu vì hai khoa này sinh viên được học môn học về giới, đối với sinh viên

Xã Hội Học là môn Xã Hội Học về giới và sinh viên Nhân Học là môn Giới và Phát Triển Sinh viên Ngữ Văn Anh cũng được chọn để so sánh vì sinh viên khoa không học môn học nào về giới và khoa cũng có nhiều sinh viên thành phố hơn các khoa khác Bảng hỏi được phát chia đều cho sinh viên năm 1,2,3,4, nên mỗi sinh viên đều có cơ

Trang 29

hội được lựa chọn như nhau ở tất cả các khoa vì vậy hoàn toàn có thể so sánh số lượng sinh viên có học môn giới hay không học môn này.

Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy9 : sinh viên khoa Xã Hội Học có tỷ lệ trả lời cao nhất chiếm 68,3 % sinh viên khoa khẳng định có học môn học về giới, đối với sinh viên Nhân Học tỷ lệ này là 60%, không có sinh viên Ngữ Văn Anh nào trả lời họ có học môn giới Điều này đối với sinh viên Ngữ Văn Anh cũng hoàn toàn hợp lý Bảng trên cũng cho thấy mặc dù số sinh viên năm 4 có học giới của khoa Xã hội hoc được hỏi ít hơn nhưng họ lại có câu trả lời có học môn giới cao hơn sinh viên khoa Nhân Học

Như vậy trong so sánh các khoa có môn học về giới chúng ta chỉ còn quan tâm

và so sánh sinh viên hai khoa Xã Hội Học và Nhân Học Ở hai khoa này mức độ hứng

thú 10của các sinh viên cũng không hoàn toàn giống nhau Sinh viên Xã hội học có tỷ lệ hứng thú cao với môn học chiếm trên một nửa, tỷ lệ rất hứng thú chiếm 25% Trong khi

đó mức độ hứng thú này có giảm đối với sinh viên Nhân học Có đến 33,3% sinh viên rất không hứng thú với môn này Theo dõi bảng kết quả cũng thấy mức độ thích thú môn học giới của hai khoa khá chênh lệch Tuy nhiên không phải hầu hết sinh viên Nhân Học không có sự hứng thú gì với môn giới vì vẫn có đến 50% sinh viên khoa hứng thú và rất hứng thú với môn học

Với sinh viên Nhân Học, môn học giới mà họ học là môn giới và phát triển cung cấp khá nhiều những quan điểm giới trong mối quan hệ với phát triển và nhiều sinh viên cho rằng họ thật sự hứng thú với sự hiểu biết này Hơn thế qua môn học, bức tranh giới được vẽ ra rõ ràng hơn, những suy nghĩ về giới của họ có cơ sở và hệ thống hơn Ngoài ra còn có nhiều lí giải trong môn học mà họ thấy phù hợp và gây được hứng thú cho họ Dù vậy không ít sinh viên tỏ ra không thích thú với môn học này, vì cho rằng môn học không cung cấp cho họ những hiểu biết mới, mà chỉ nói đi nói lại quyền lợi của phụ nữ

Trong số những sinh viên trả lời có học môn giới thì mức độ đồng ý 11với môn học lại rất cao chiếm 57,7 %, số sinh viên còn lại có 33,3 % là chỉ đồng ý một số điểm, không có sinh viên nào phản đối hoàn toàn Dù mức độ đồng tình với môn học là khá

Trang 30

cao nhưng họ lại không nghĩ rằng môn học này tác động tới họ quá nhiều Mức độ tác

động 12 nhận thức chỉ ở mức 20 %, như vậy là đã có sự thay đổi đáng kể nhưng cũng chưa phải là nhiều

Số liệu điều tra chỉ ra có tới 40 % sinh viên Nhân học cho rằng môn học hoàn toàn không tác động lên họ Như vậy có thể dự đoán ngoài số sinh viên không hề hứng thú với môn học không bị ảnh hưởng bởi các quan điểm trong môn học thì vẫn còn có một số sinh viên mặc dù có quan tâm và thích học môn này nhưng trong quá trình học

họ cũng hoàn toàn không thay đổi và không chịu bất cứ tác động này theo đánh giá chủ quan cuả họ Cũng có thể những tác động này là lâu dài, hoặc khó nhận thấy,vì những tác động nhận thức, đặc biệt là nhận thức về giới lại càng khó thay đổi và khó nhận biết

sự thay đổi đó Tuy nhiên khi tìm mối liên hệ giữa mức độ hứng thú và mức độ tác động nhận thức của sinh viên trong nghiên cứu này thì chưa có mối liên hệ chặt chẽ giữa hai biến số này Dù sinh viên có mức độ hứng thú cao với môn học thì cũng có một tỷ lệ nhất định bị tác động bởi môn học nhưng mức độ tác động không nhiều

Tiếp tục tìm hiểu về khả năng có thế tác động của môn học, biến số “mức độ đồng ý với các quan điểm của môn học” được đưa vào để xem xét sự biến đổi, vì có thể mức độ đồng ý càng cao có thể kéo theo sự thay đổi nhận thức theo hướng đó Tuy nhiên ở đây mặc dù có một sự liên quan chút ít giữa mức độ đồng ý các quan điểm giới với mức độ tác động nhưng mối quan hệ này cũng chưa phải là nhiều Vẫn có tỷ lệ sinh viên không đồng ý với môn học nhưng họ lại hoàn toàn thay đổi Tuy nhiên ở thấy bắt đầu có xu hướng thay đổi đồng thuận, nghĩa là mức độ đồng tình với môn học cao thì

có khả năng thay đổi nhận thức cao (Bảng 2.8)

Đối với sinh viên khoa Xã Hội Học tình hình này có vẻ khác hơn đôi chút Hầu hết sinh viên đều hứng thú với các môn học về giới, chiếm hơn 2/3, rất ít sinh viên cảm thấy ít hoặc không hứng thú với môn học này, chỉ chiếm 12,5% Và mặc dù hầu hết sinh viên đều hứng thú với môn học nhưng không phải tất cả đều đồng ý với những gì

mà họ được học ở đó Có 25% sinh viên khoa Xã Hội Học không đồng ý với các quan điểm môn học đề cập tới, tuy nhiên tỷ lệ đồng tình cũng không phải là nhỏ chiếm tới 53,2 % Mức độ đồng tình với môn học chỉ khảo sát trong nhóm sinh viên trả lời có học

12

Phụ lục 2: Môn giới và nhận biết bình đẳng giới, bảng 2.6

Trang 31

môn Xã hội học về giới vì những câu trả lời là không hoặc không biết sẽ không có ý nghĩa và ảnh hưởng việc đánh giá, và các số liệu cũng trở nên vô nghĩa Sinh viên khoa qua khảo sát đều nhân thấy rằng môn học Xã Hội Học Về Giới cung cấp nhiều hiểu biết

về giới hơn hết Các bài tập tổng quan về giới mà sinh viên thực hiện giúp họ có cái nhìn rõ ràng hơn về sự bất bình đẳng mà phụ nữ nhiều nơi còn phải gánh chịu Họ cũng được tiếp cận nhiều hơn những quan điểm giới tiến bộ và các giải pháp giảm bớt bất công đối với phụ nữ và đặc biệt là sự ảnh hưởng của bất bình đẳng giới đến sự phát triển chung của xã hội

Tác động của các môn học về giới lên nhận thức của nhiều sinh viên khoa là khá đáng kể 43,8%, có 12,5 sinh viên nhận định họ không hề chịu tác động nào từ môn học

Liệu những sinh viên có thái độ tích cực với môn học có chịu ảnh hưởng nhiều hơn các sinh viên ít hứng thú hơn không? Hay cũng giống như sinh viên Nhân học mối quan hệ này cũng chưa rõ ràng? Theo dõi bảng kết quả có thể thấy bắt đầu dấu hiệu của

sự ảnh hưởng qua lại giữa mức độ hứng thú và mức độ tác động của môn học Những sinh viên khá hứng thú với môn học thì mức độ tác động môn học lên họ cũng nhiều lên, và những sinh viên đặc biệt hứng với môn học cũng có tỷ lệ trả lời họ thay đổi nhận thức hoàn toàn Dù vậy các số liệu cũng chưa cho phép khẳng định hoàn toàn điều này, nhưng đó cũng là một xu hướng cần lưu ý (Bảng 2.7)

Ngoài ra yếu tố tác động về nhận thức cũng được xem xét trong mối quan hệ với yếu tố đồng ý với các quan điểm trong môn học Kết quả cũng không cho một câu trả lời chắn chắn nào vì mặc dù sinh viên rất đồng ý với các quan điểm giới nhưng chưa hẳn họ bị tác động hoàn toàn Ở mức độ nhận định có thay đổi nhận thức một ít thì không phải chỉ ở các sinh viên có đồng tình với các quan điểm môn học mà cả ở các sinh viên ít hoặc không đồng tình với quan điểm này Sự đồng tình quan điểm sẽ diễn ra khi sinh viên có những quan điểm giới giống như những gì mà họ được học, đã quan niệm trước đó, kiến thức giới ở trường sẽ chỉ củng cố thêm hiểu biết của họ Còn ở sinh viên không đồng tình với môn học thì quá trình chịu ảnh hưởng này có thể đi theo hai hướng tiêu cực hay tích cực.(Bảng 2.8)

Như vậy là môn học giới được đón nhận nhiều hơn là bị từ chối ở các khoa được học vì hầu hết sinh viên đều có thái độ thích thú và yêu thích môn học này Có một tỷ lệ

Trang 32

không hề thấy hứng thú với môn học nhưng chiếm phần trăm không cao So sánh các khoa cho thấy khoa Xã Hội Học quan tâm tới môn học nhiều hơn và chịu tác động nhiều hơn so với sinh viên khoa Nhân Học mặc dù mức độ đồng tình với môn học là gần tương đương nhau Nghiên cứu cũng chỉ ra chưa thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa mức độ hứng thú và mức độ đồng tình các quan điểm giới với sự tác động của môn học này lên nhận thức, mà chỉ mới là một xu hướng chưa phố biến Những kết luận về việc học môn giới, những quan tâm và sự tác động giới lên sinh viên cũng sẽ làm một phông nền để có thể hiểu hơn nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới Những gì họ được học ở trường có thật sự ảnh hưởng hay tác động lên họ? Câu trả lời sẽ được làm rõ hơn trong phần nhận thức sinh viên về bình đẳng giới

2.1.2 Sự khác biệt giới và môi trường sống với môn học về giới:

Quan điểm tiếp cận giới yêu cầu chỉ ra được những khác biệt nam nữ trong cùng một môi trường tác động Ở cùng một hệ quy chiếu là trường đại học nhưng mỗi giới có cái nhìn khác nhau về môn học này, và cách mà nam giới tương tác với môn học cũng hoàn toàn không giống với nữ giới Và điều này có thể ảnh hưởng tới sự khác nhau trong nhận thức về bình đẳng giới của họ

Bảng số liệu13 cho thấy một kết quả đáng lưu ý, đó là tỷ lệ nam hứng thú với môn học giới chiếm 82,6 % cao hơn nữ giới là 77,3%, số nam giới có ít hứng thú cũng thấp hơn hẳn nữ giới Mức độ đồng tình các quan điểm giới trong môn học của nam giới là khá cao (64,8%), so với nữ (49,9%) Tuy nhiên, dù cho nam giới có một tỷ lệ cao đồng tình thì cũng có một tỷ lệ đáng kể sinh viên hoàn toàn phản đối Sự phản đối này mạnh và khá gay gắt trong khi nữ giới lại thận trọng và dè dặt khi tiếp cận những quan điểm của môn học giới vì cũng có khá nhiều sinh viên nữ chỉ đồng ý với một vài điều được dạy ở trường Với nữ thì mặc dù họ không hoàn toàn ủng hộ các quan điểm giới nhưng họ cũngkhông bác bỏ hoàn toàn, còn với nam giới thái độ của họ rõ ràng và

dễ nhận thấy Họ gần như chia làm hai phía đối lập nhưng phía đồng ý vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn Những lưu ý này sẽ là một chủ đề quan trọng trong việc phân tích nhận thức nam giới và nữ giới trong phần trình bày tiếp sau này

13

Phụ lục 2: Môn giới và nhận biết bình đẳng giới, bảng 2.4,bảng 2.9

Trang 33

Ở phần trên, nghiên cứu đã chỉ ra trong số các nam trả lời có học môn giới thì mức độ hứng thú và mức độ đồng ý với các quan điểm giới trong môn học của họ đều cao hơn nữ giới Tỷ lệ này có thay đổi trong việc nhận thức tác động của môn học của

cả hai giới không? Và liệu tỷ lệ hứng thú và mức độ đồng thuận cao như đã nói trên của nam giới có khiến họ chịu tác động nhiều hơn nữ giới không? Nghiên cứu cho thấy điều này không hẳn diễn ra như đã dự đoán, vì thực tế dù nam giới có đồng tình cao nhưng

họ lại cho rằng những môn học này không hoàn toàn tác động lên họ Có 11,5% không thấy ảnh hưởng của môn học này, và có tới 52,9% thì cho biết môn học chỉ làm họ thay đổi một ít Nếu so sánh với nữ thì chúng ta cũng nhận ra nữ giới chịu tác động nhiều từ các môn học ở trường Những nhận xét này sẽ được kiểm chứng trong tìm hiểu nhận thức sinh viên để thấy rõ hơn mức độ ảnh hưởng các môn học giới lên nhận thức giới ở trường đại học

Sẽ là thiếu xót nếu không quan tâm tới khác biệt giữa sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố Vì mỗi cá nhân khi sống trong môi trường nào thì sẽ học hỏi và tiếp thu những giá trị, chuẩn mực của môi trường ấy Khi cá nhân rời bỏ môi trường sống quen thuộc đến một nơi mới họ cũng có thể mang theo cả những gì mà họ học được từ môi trường ban đầu Sinh viên các tỉnh chủ yếu đến từ vùng nông thôn hay các đô thị nhỏ, nơi mà gia đình và quan hệ xóm làng còn được gìn giữ khá rõ nét Nông thôn cũng là nơi lưu giữ các giá trị truyền thống, điều này hàm ý cả những quan niệm giới cũ còn khá mạnh mẽ.Trong khi thành thị lại là nơi có khả năng thay đổi nhanh đặc biệt là những biến đổi gia đình và giới Vì vậy mà sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố có thể

có sự khác nhau trong nhìn nhận vấn đề vì đơn giản họ được sinh ra từ những nơi khác nhau, và yếu tố môi trường sống cũng là yếu tố có khả năng làm thay đổi nhận thức Quan sát cho thấy sinh viên thành phố hứng thú cao hơn sinh viên tỉnh, họ cũng có mức

độ đồng tình cao hơn sinh viên tỉnh Trong số sinh viên trả lời không có sinh viên thành phố nào phản đối hoàn toàn các quan điểm giới mà họ được học trong khi tỷ lệ này ở sinh viên tỉnh là 25,8% Và cũng như những gì phân tích sự khác biệt giới thì dù cho mức độ hứng thú và đồng ý các quan điểm giới trong môn học có cao hơn hẳn thì sinh viên thành phố cũng chưa hẳn bị tác động nhiều bởi môn học Lí do đưa ra là bởi những

gì họ được học không có gì quá mới so với môi trường mà họ đang sống 71,4 % cho rằng họ có bị thay đổi một chút,còn thay đổi nhiều chỉ chiếm 4,8 % Đối với sinh viên

Trang 34

tỉnh, những kiến thức giới tác động tới họ nhiều hơn, bằng chứng là có 48,4 %sinh viên cho là nhận thức của họ có thay đổi, và 35,5% là thay đổi một ít (Bảng2.9)

Tóm lại môi trường học đại học với các môn học về giới đã cung cấp cho sinh viên những kiến thức cần thiết và bổ ích về giới Hầu hết sinh đều đón nhận các môn học này Sinh viên cũng không phản đối quá gay gắt các quan điểm giới trong môn học

và có sự chênh lệch về giới và khi so sánh sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố Mặc

dù vậy những ảnh hướng của môn giới theo nhận thức của sinh viên là có nhưng chưa phải là nhiều Những nhận định ban đầu cho phép chúng ta hình dung về mức độ tác động của môn học này và sẽ được làm rõ hơn trong những phần sau qua tìm hiểu khách quan nhận thức sinh viên về bình đẳng giới, cũng là những gì họ đã được học ở trường

2.2 Các chương trình ngoại khóa về giới ở trường :

 Thông tin về các chương trình ngoại khóa 14:

Là một trong số các trường đại học có nhiều hoạt động đoàn hội, các chương trình ngoại khóa phong phú nên ngoài các hoạt động vui chơi như thể thao, văn nghệ, các hoạt động ngoại khóa học tập, giao lưu, còn có nhiều chương trình ngoại khóa liên quan tới giới cũng được tổ chức khá thường xuyên và đa dạng Những chương trình đáng chú ý được đưa ra trong đề tài này để tìm hiểu mức độ tham gia của sinh viên là các buổi thảo luận, chiếu phim về chương trình giới,sức khỏe sinh sản, tư vấn tình yêu, hôn nhân gia đình, nghiên cứu các đề tài, khảo sát thực tế về giới, mùa hè xanh, truyền thông thực tế (tuyên truyền, phát tờ rơi ) Qua khảo sát mức độ nhận biết của sinh viên

về vấn đề này cho thấy sinh viên chủ yếu biết ở trường có tổ chức chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh 82,5% Các chương trình liên quan tới giới khác thì sinh viên ít biết đến hơn, chiếm tỷ lệ cao khá cao Sự nhận biết này cũng khá khác nhau ở các khoa Sinh viên khoa Xã Hội Học biết nhiều hơn về các hoạt động thảo luận chuyên đề, chiếu phim về sức khỏe sinh sản hơn hắn sinh viên Nhân học và sinh viên Ngữ Văn Anh Đối với chương trình tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình thì 25,6% sinh viên Xã Hội Học có nghe biết 32,7% sinh viên Ngữ văn anh cũng có biết hoạt động này Riêng đối với sinh viên Nhân học thì tỷ lệ nhận biết này là 100% Sinh viên khoa Xã Hội Học cũng biết nhiều hơn sinh viên hai khoa còn lại về các hoạt động nghiên cứu, khảo sát thêm về giới

14

Phụ lục: Môn học giới và nhận biết bình đẳng giới, bảng 2.10, bảng 2.11

Trang 35

và các hoạt động truyền thông thực tế Đó cũng là vì một trong số đặc thù của sinh viên khoa Xã Hội Học là tham gia công tác xã hội, thực tế nhiều nên họ quan tâm nhiều hơn tới các hoạt động ngoại khóa

Ngoài ra, sinh viên nam cũng có ít thông tin hơn nữ giới về tất cả các hoạt động ngoại khóa được đề cập đến ở trên Bảng kết quả dưới đây cũng cho thấy sinh viên tỉnh trả lời có khi được hỏi về các hoạt động cũng nhiều hơn sinh viên thành phố Vì sinh viên tỉnh có điều kiện thuận lợi là sống tập trung ở ký túc xá hoặc nhà trọ ở các khu vực gần trường học nên họ có nhiều thông tin hơn sinh viên thành phố về các hoạt động ngoại khóa ở trường

 Mức độ tham gia các hoạt động15:

Ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu xem sinh viên có biết đến các hoạt động ngoại khóa nhiều không? Và số liệu cho thấy hơn một nữa sinh viên hoàn toàn không biết đến các hoạt động này,ngoại trừ hoạt động mùa hè xanh được hầu hết sinh viên biết tới Sinh viên khoa Xã Hội Học trong tất cả các hoạt động ngoại khóa theo điều tra thì đều

có tỷ lệ cao, tiếp đó là sinh viên Ngữ Văn Anh và sinh viên Nhân học

Sinh viên nữ tham gia nhiều hơn nam giới trong các buổi chiếu phim, thảo luận chuyên đề về giới, và cả những chương trình tư vấn tâm lý tình yêu, hôn nhân gia đình Riêng các hoạt động nghiên cứu,làm đề tài, mùa hè xanh tình nguyện và các chương trình truyền thông thực tế thì nam giới lại có tỷ lệ tham gia cao hơn nữ giới

So sánh sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố thì trong tất cả các hoạt động ngoại khóa thì sinh viên tỉnh tham gia sôi nổi hơn

Nhìn chung mặc dù sinh viên các khoa biết nhiều về các hoạt động ngoại khóa này nhưng mức độ tham gia của họ lại rất ít, hầu hết là không tham gia hoặc không bao giờ tham gia, chỉ có mùa hè xanh là được đông đảo sinh viên đón nhận So sánh sinh viên các khoa thì sinh viên Xã hội học tham gia tương đối nhiều hơn hai khoa còn lại, tiếp đó là sinh viên Ngữ văn anh Họ cũng khá năng nổ trong một vài hoạt động như mùa hè xanh, thảo luận chiếu phim chuyên đề

15

Phụ lục: Môn học giới và nhận biết bình đẳng giới, bảng 2.10, bảng 2.12, 2.13,2.14

Trang 36

Về giới tính, rõ ràng sinh viên nữ nắm nhiều thông tin về các hoạt động hơn nam

và họ cũng tham gia nhiều hơn nam giới trong tất cả các hoạt động này Sinh viên tỉnh cũng tích cực hơn sinh viên ở thành phố

 Mức độ hài lòng và mức độ tác động nhận thức:

Hầu như sinh viên đều khá hài lòng với các chương trình họ đã tham gia Với sinh viên Xã Hội Học tỷ lệ hài lòng là 86,5 %, khoa Nhân Học là 71,5 %, khoa Ngữ Văn Anh là 59%, đây là những con số rất cao Riêng với nữ giới dù cho họ tham gia nhiều hơn thì mức độ hài lòng cũng không phải là cao hơn Nam giới ngược lại đánh giá khá dễ chịu về những chương trình họ đã tham gia Sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố có mức hài lòng cao và gần như tương đương nhau

Những phân tích trên cho thấy dù cho sinh viên có tham gia nhiều thì chưa hẳn

họ đã hoàn hài lòng với các chương trình họ đã tham gia Nhưng ngược lại những gì mà

họ hài lòng lại có vẻ như sẽ ảnh hưởng tới họ nhiều hơn Trong bảng dưới chúng ta có thể thấy những sinh viên hài lòng thì họ cũng có những đánh giá tích cực hơn về các chương trình về giới Sinh viên các khoa đều cho rằng các chương trình này khá tác động lên nhận thức của họ Nữ giới ít hài lòng hơn nam giới và họ cũng cho rằng họ ít chịu tác động hơn, tỷ lệ này quả thật là có ít hơn nam giới, nhóm có mức hài lòng cao hơn

Hầu hết sinh viên cho rằng từ các hoạt động ngoại khóa này sinh viên trưởng thành và tự tin hơn, có thêm nhiều kinh nghiệm cuộc sống Và điều quan trọng là họ có cái nhìn đúng hơn và sâu sắc hơn về giới, về vai trò nam và nữ và bình đẳng hai giới “ Tham gia ngoại khóa giúp thay đổi những quan niệm, chuẩn mực, vai trò của hai giới nam nữ so với quá khứ”, hay họ cũng nhận thấy nhiều tích cực khác như suy nghĩ về giới, về tập thể, và nhiều thứ khác Ngoài ra cũng có nhiều sinh viên cho rằng các hoạt động này còn mang tính chất phong trào Việc tham gia chỉ gợi ra một vài suy nghĩ chứ cũng chưa ảnh hưởng sâu sắc hay ảnh hưởng nhiều tới quan điểm suy nghĩ của họ

Tóm lại, những phân tích về môn học giới và các chương trình ngoại khóa liên quan tới giới ở trường đại học được chọn để tìm hiểu môi trường học của sinh viên và những tác động có thể có lên nhận thức của họ về bình đẳng giới Tất nhiên, môi trường đại học với nhiều môn học lý luận cơ sở như triết, các môn khoa học nhân văn và khoa

Trang 37

học xã hội cũng góp phần nâng cao nhận thức giới của sinh viên nhưng nghiên cứu chỉ chọn hai vấn đề trên để phân tích vì chúng có khả năng ảnh hưởng trực tiếp và dễ nhận thấy hơn hết Các số liệu cũng được phân chia theo các khoa và hộ khẩu sinh viên để có thể thấy được sự khác biệt, đặc biệt là tiếp cận quan điểm giới đã cung cấp những hiểu biết hữu ích cho việc tìm hiểu nhận thức sinh viên ở phần sau và tác động, mối liên hệ giữa nhà trường lên nhận thức của họ So sánh cũng chỉ dừng lại ở sinh viên hai khoa là sinh viên Xã Hội Học và Nhân Học vì sinh viên Ngữ Văn Anh chưa học môn học về giới Nhìn chung tỷ lệ sinh viên trả lời có học môn giới là khá cao, và sinh viên cũng hứng thú với môn học này Mức độ đồng tình và mức độ tác động của môn học lên sinh viên được họ khẳng định là khá cao dù có sự khác nhau đôi chút giữa các khoa Ngoài

ra kết quả nhận được cũng khá thú vị khi tỷ lệ nam hứng thú với môn giới cao hơn nữ giới, họ cũng có tỷ lệ đồng tình cao, nhưng chính nữ giới mới là nhóm chịu tác động lên nhận thức nhiều hơn cả Tình hình cũng tương tự đối với sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố Sinh viên thành phố cũng hứng thú và đồng tình với các quan điểm giới hơn nhưng họ cũng cho rằng môn giới ít tác động lên họ hơn

Đối với các hoạt động ngoại khóa ở trường sinh viên biết đến không nhiều So sánh giữa các khoa thì khoa Xã Hội Học có tỷ lệ sinh viên tham gia hoạt động nhiều hơn hai khoa còn lại Hầu hết các sinh viên tham gia đều thấy hài lòng với các chương trình họ tham gia Tuy nhiên không phải sinh viên tham gia nhiều đều hài lòng, điển hình là nữ giới, họ tham gia nhiều hơn nam giới nhưng lại ít hài lòng hơn nam giới Nhưng lại một sự đồng thuận giữa mức độ hài lòng và tác động lên nhận thức của sinh viên Sinh viên càng hài lòng lại càng chịu tác động lớn hơn Ví dụ như tỷ lệ hài lòng và mức độ chịu tác động nhận thức của sinh viên nam và sinh viên nữ ở trên

3 Phương tiện truyền thông 16

Các phương tiện truyền thông đại chúng là các kênh truyền đạt định hướng tới tới một lượng khán giả khổng lồ trong xã hội, bao gồm truyền thanh, truyền hình, báo chí và internet Tất cả các phương tiện này thường cung cấp một dải rộng các thông tin

vì vậy mà chúng có tác động rất lớn đến thái độ và hành vi của mỗi cá nhân Những quan tâm chính trong chủ đề này chỉ bao gồm truyền hình với phim truyện và báo chí

16

Phụ lục 3: Phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 38

Vì truyền hình với rất nhiều các chuyên mục đều có thể có những ẩn chứa giới, nhưng phim truyện với các tính cách nhân vật được khắc họa có thể ảnh hưởng nhiều tới mẫu người đàn ông hoặc phụ nữ lý tưởng của cả hai giới Các tờ báo về phụ nữ và gia đình cung cấp nhiều hiểu biết, quan niệm về giới và đây cũng là phương tiện truyền thông hết sức gần gũi với sinh viên Riêng đối với internent đề tài không đề cập tới vì cũng có nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của phương tiện này tới một phần nhận thức sinh viên, đó

là quan niệm về tình dục trước hôn nhân của Nguyễn Quý Thanh Vì vậy mà nghiên cứu chỉ tập trung vào hai phương tiện là phim truyện trên tivi và báo chí

Số liệu chỉ ra hầu như tất cả sinh viên đều thường xem phim truỵện và họ có tỷ

lệ thích xem phim phương Đông nhiều hơn phương Tây

Qua việc các hình ảnh và nội dung trong phim, những tính cách phương Đông được coi là tiêu biểu mà sinh viên nhận thấy là gia trưởng, thu nhập chính trong gia đình và thương vợ, trong khi tính cách nữ là đảm đang, tần tảo và chịu đựng Còn đối với nam giới phương Tây đó là tôn trọng phụ nữ, ưu tiên phụ nữ, và mạnh mẽ, tính cách

nữ giới phương tây tiêu biểu là độc lập, năng động và đóng góp tài chính trong gia đình Khi được hỏi về các tính cách họ cho là phù hợp với xã hội Việt Nam hiện tại thì nhận được nhiều trả lời khác nhau, tuy nhiên có thể tập trung vào một số điểm chính

Theo nghiên cứu “Khảo sát những biến đổi về quan hệ giới trong đời sống hộ gia đình phường 12, quận Gò Vấp”- Nguyễn Thị Thủy Cúc/2002 có đến 52,7 % cả nam và

nữ quan niệm chồng là trụ cột, vợ là nội trợ chính Đáng chú ý là có đến 56% nữ đồng ý trong khi nam chỉ chiếm 50%

Qua các hình ảnh và tính cách nhân vật trên phim ảnh, trong số những tính cách sinh viên cho là tiêu biểu thì họ cũng cho biết những tính cách phương Đông và cả phương Tây nào được coi là phù hợp với xã hội Việt Nam hiện tại

Tính cách nam phương Đông phù hợp là thu nhập chính, thương vợ, mạnh mẽ Không có sự khác biệt giữa nam sinh viên với nữ sinh viên, giữa sinh viên tỉnh và sinh viên thành phố Như vậy là nam giới vẫn được kỳ vọng là thu nhập chính trong gia đình, họ cũng phải là người đàn ông mạnh mẽ Bên cạnh đó yếu tố thương vợ cũng được đề cao trong gia đình ở cả hai giới

Trang 39

Tính cách nữ phương Đông phù hợp là đảm đang, tần tảo, năng động Ở đây thấy hình ảnh người phụ nữ thuộc về gia đình nhiều hơn là người phụ nữ bên ngoài xã hội Tính cách đảm đang, tần tảo là những tính cách cần thiết của người nội trợ chính trong nhà Cả nữ giới và nam giới đều cho điều này là phù hợp với xã hội Việt Nam hiện tại

Tính cách nam phương Tây phù hợp là mạnh mẽ, tôn trọng phụ nữ và ưu tiên phụ nữ Quá trình học hỏi văn hóa cũng là một đặc điểm dể thấy khi mà thành thị ngày càng phát triển Sinh viên cho rằng nam giới phương Tây cũng có nhiều tính cách phù hợp với phương Đông Mẫu người đàn ông mạnh mẽ vẫn được chú ý, tiếp theo đó là tôn trọng và ưu tiên phụ nữ Sự phù hợp này có tính nhiều tới quyền lợi mà phụ nữ nhận được

Tính cách nữ phương Tây phù hợp là năng động, độc lập và đóng góp tài chính

Ở đây cũng không có nhiều khác biệt nam nữ, nhưng có thể thấy những gì phù hợp không còn là đảm đang, tần tảo nữa mà là mẫu phụ nữ của xã hội, năng động, độc lập

và không phụ thuộc tài chính vào chồng

Tóm lại với nam giới những tính cách sinh viên cho là phù hợp là mạnh mẽ, thương vợ, tôn trọng và ưu tiên phụ nữ, đặc biệt nam giới vẫn là người đóng góp thu nhập chính Những tính cách nữ giới được mong đợi vừa phải đảm đang các công việ nhà, tần tảo thì tính các năng động độc lập cũng được coi trọng Dù cho nam giới đóng góp tài chính trong gia đình thì nữ giới vẫn nên là người có trách nhiệm chia sẻ tài chính với chồng Tất cả những mong đợi tính cách phù hợp với nam và nữ này cũng sẽ

là một lưu ý khi tìm hiểu mẫu người đàn ông và mẫu người phụ nữ của cả hai giới

4.Nhóm bạn

Nghiên cứu nhóm xã hội là một đặc trưng trong các nghiên cứu xã hội học Các hành vi cá nhân mang tính riêng tư và không mang tính xã hội ít được chú ý tới Ngay trong nghiên cứu này sinh viên cũng được nghiên cứu như một nhóm Việc lấy thông tin của từng cá nhân không đơn thuần chỉ là phép cộng rời rạc các số liệu, điều mà đề tài muốn tìm hiểu chính là xu hướng nhận thức chung và phổ biến nhất trong nhóm sinh viên được nghiên cứu, và đâu là tác nhân có ảnh hưởng tới nhóm chứ không phải chỉ một cá nhân đơn lẻ Trong môi trường xã hội, sinh viên thường dể kết giao với các sinh viên khác vì cùng môi trường học tập, và ở một trình độ tương đương thì những quan

Trang 40

điểm cũng dễ được chia sẻ và chấp nhận hơn Quan niệm, thái độ cá nhân cũng không phải chỉ là quá trình cá nhân tự học hỏi mà thông qua một loạt các tương tác xã hội có ý nghĩa khác với nhóm bạn đồng lứa và các phương tiên thông tin đại chúng Đặc biệt là khi sinh viên bắt đầu sống xa nhà, bắt đầu suy nghĩ về bản thân như những người lớn có trách nhiệm thì ảnh hưởng của gia đình tạm thời bị gián đoạn “Khoảng cách thế hệ” tăng lên khi các khuôn mẫu xã hội thay đổi nhanh chóng cũng là một nguyên nhân khiến suy nghĩ bố mẹ và con cái ngày càng xa nhau, và gia đình bớt dần đi các ảnh hưởng quan trọng của nó Và lúc này nhà trường, xã hội với nhóm bạn và các phương tiện truyền thông lại có sự ảnh hưởng nhất định tới quá trình xã hội hóa ở giai đoạn sinh viên Dù vậy, chưa hẳn gia đình đã mất đi tầm quan trọng của mình, vấn đề này sẽ được tìm hiểu và minh chứng cụ thể hơn qua các số liệu thu được trong nhóm sinh viên điều tra

Theo John J.Macionis (Xã hội học nhà xuất bản Thống kê) thì nhóm bạn cùng tuổi là những người có cùng quan tâm và quan điểm xã hội thường ở cùng độ tuổi Đặc điểm nhóm bạn là điểm được quan tâm đầu tiên vì sự chênh lệch về giới cũng có thể ảnh hưởng tới những chủ đề về giới được bàn luận trong sinh viên cách ứng xử, thái độ của nam hay nữ giới cũng có khả năng ảnh hưởng nhận thức giới, vì những gì diễn ra trong nhóm thường được các thành viên đồng tình hơn là phản đối, nếu mẫu thuẫn là quá lớn thì các nhóm cũng không tồn tại lâu

 Đặc điểm giới tính trong nhóm17: Như phần đặc điểm sinh viên trường Nhân Văn đã trình bày trong phần đầu thì trường có số lượng sinh viên nữ nhiều hơn hẳn nam giới Vì vậy mà trong hầu hết các nhóm thì tỷ lệ nữ chiếm số đông(các nhóm nữ nhiều hơn nam chiếm tới 55%).Tuy nhiên, trong các nhóm của nam giới được hỏi thì họ lại chủ yếu kết thân với một nhóm

có nhiều nam(43,3%) hơn là với nhóm có nhiều nữ (30%) và trong các nhóm có tỷ lệ cân bằng giới là 44,4 % Nữ giới cũng chủ yếu kết thân với nhóm có nữ nhiều hơn Nam và nữ chơi chung trong các nhóm là một tình trạng phổ biến trong các nhóm bạn chơi

17

Phụ lục 3 : Nhóm bạn chơi ở đại học, bảng 3.1, bảng 3.2

Ngày đăng: 03/07/2023, 06:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w