Đối tượng, khách thể và mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả thực trạng nhà ở của công chức trẻ hiện nay
- Phát hiện các mức độ về nhu cầu nhà ở của công chức trẻ
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng mua nhà của công chức trẻ như: thu nhập và tích lũy, khả năng vay, khả năng chi trả
- Nhận diện các tác động, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt đối với công chức trẻ khi chưa có nhà riêng
Bài viết này nghiên cứu thực trạng sở hữu và nhu cầu về nhà ở của công chức trẻ, đồng thời phân tích các tác động xã hội đến nhóm đối tượng này Từ đó, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và các công ty xây dựng, nhằm đáp ứng hợp lý nhu cầu về nhà ở cho công chức trẻ, một nhóm đối tượng tiềm năng trong thị trường bất động sản.
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu xoay quanh việc trả lời các câu hỏi sau:
- Công chức trẻ đang ở chung với ai, có sở hữu nhà riêng không?
- Công chức có mong muốn thay đổi điều kiện ở không?
- Các mong muốn về nhà ở dựa trên nhu cầu cụ thể nào?
- Công chức trẻ có khả năng mua nhà hay không?
- Việc chưa có nhà riêng có ảnh hưởng lớn thế no đến đời sống, sinh hoạt của công chức trẻ?
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính
Tác giả nghiên cứu thực trạng và nhu cầu nhà ở cho cán bộ, công chức thông qua việc sưu tầm tư liệu từ báo cáo khoa học, bài viết trên tạp chí chuyên ngành và internet Nghiên cứu sử dụng các câu hỏi mở, câu hỏi nhiều lựa chọn trong phiếu thu thập thông tin, cùng với nhóm câu hỏi phỏng vấn sâu để làm luận cứ chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp định lượng
Bài phỏng vấn đã được thực hiện với 200 công chức trẻ thông qua bảng hỏi gồm 41 câu hỏi theo chủ đề nghiên cứu Bảng hỏi được phân chia thành các phần, trong đó có thông tin về nhân khẩu xã hội, bao gồm các chỉ báo như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, năm tốt nghiệp, tình trạng hôn nhân và nơi cư trú trước khi tốt nghiệp lớp 12.
Phần thu nhập và chi tiêu được phân loại thành hai nhóm: độc thân và có gia đình, với các chỉ báo cơ bản bao gồm thu nhập, chi tiêu và tích lũy hàng tháng cũng như hàng năm.
Thực trạng tình hình nhà ở hiện nay được đánh giá qua các chỉ báo như: chủ sở hữu của căn nhà hiện tại, loại hình nhà ở, diện tích và mức độ hài lòng về điều kiện sống hiện tại.
Phần khảo sát nhu cầu nhà ở trong tương lai sẽ tập trung vào các chỉ báo như ý định cải thiện chỗ ở, diện tích nhà cho bốn người, loại nhà và đất mà người dân sẽ chọn nếu có đủ tài chính Nhu cầu thuê, thuê mua căn hộ chung cư và khu vực định cư lâu dài cũng sẽ được xem xét Mục V sẽ đề cập đến giá nhà (giá tiền/m²) và hình thức thanh toán, bao gồm khả năng chi trả của công chức trẻ cùng với các nguồn hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và cơ quan Cuối cùng, công chức sẽ tự đánh giá khả năng mua nhà và các tác động đến đời sống, học tập, công tác, thăng tiến, cũng như việc kết hôn và sinh con muộn do chưa có nhà riêng.
Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện có chủ đích, dựa vào mô hình bộ máy công quyền cấp thành phố
Khối Đảng sẽ tập trung vào việc lựa chọn các công chức trẻ làm việc tại văn phòng Thành ủy và các văn phòng quận ủy Đối với khối chính quyền, do số lượng công chức trẻ chủ yếu làm việc tại văn phòng và các phòng, ban trực thuộc Ủy ban nhân dân quận, nên việc phỏng vấn sẽ chủ yếu diễn ra với các công chức trẻ đang công tác tại các phòng, ban này.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào nhóm công chức trẻ trong độ tuổi từ 21 đến 37 Đây là những cá nhân đã hoàn thành chương trình phổ thông, cao đẳng hoặc đại học, đang có việc làm ổn định và có thể là độc thân hoặc đã kết hôn.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 13 quận trong 19 quận nội thành để khảo sát số lượng công chức trẻ trong độ tuổi từ 21-37, với mục tiêu đạt được 200 người tham gia Cụ thể, 100 công chức trẻ làm việc tại Thành ủy và các Quận ủy, cùng với 100 công chức trẻ tại văn phòng và các phòng ban trực thuộc Ủy ban nhân dân các quận Phương pháp khảo sát bao gồm việc phát bảng hỏi tại chỗ để công chức điền thông tin, sau đó kiểm tra và thu lại Ngoài ra, 100 phiếu khảo sát cũng được gửi qua hệ thống văn phòng UBND để công chức tự trả lời, và chúng tôi sẽ hẹn ngày để thu lại các phiếu này.
Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu nhà ở tại Việt Nam
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu nhà ở tại các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn, ngày càng gia tăng do xu hướng sống tập trung của con người Nghiên cứu về nhu cầu nhà ở không chỉ thuộc về ngành kiến trúc và xây dựng mà còn liên quan đến các ngành khoa học xã hội như kinh tế học, văn hoá học và xã hội học Tại Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỷ 20, đã có những nghiên cứu xã hội học về nhà ở đô thị, điển hình là đề tài “Tiến bộ khoa học – kỹ thuật về nhà ở (26-01)” với sự tham gia của nhiều Bộ, Viện nghiên cứu và cộng tác viên Cuộc điều tra này đã khảo sát tình trạng và nhu cầu nhà ở của người dân, chỉ ra rằng sự phát triển dân số nhanh chóng và sự tập trung đông đúc tại các đô thị lớn đã tạo ra sự mất cân đối giữa khả năng đầu tư xây dựng và nhu cầu nhà ở, dẫn đến tình trạng căng thẳng về nhà ở ngày càng nghiêm trọng Chương trình (26-01) đã thống kê quỹ nhà ở và đối chiếu với dự báo dân số, từ đó khái quát nhu cầu nhà ở của nhân dân và đề xuất phương hướng thỏa mãn nhu cầu này trong tương lai.
Trong nghiên cứu Xã hội học về nhà ở, tác giả Trương Quang Thao
Nhu cầu về chỗ ở trong xã hội đô thị được cấu thành từ nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm nhu cầu ở, căn hộ, đơn vị ở, tiểu khu và quần thể ở Những yếu tố này không chỉ đảm bảo đời sống vật chất mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho cư dân.
Từ năm 1982 đến 1996, lĩnh vực nghiên cứu về nhà ở từ góc độ xã hội học đã ghi nhận 44 bài viết được công bố trên Tạp chí xã hội học, cho thấy sự quan tâm đáng kể đến vấn đề này Đặc biệt, Tạp chí xã hội học số 3 năm 1985 đã đăng tải 11 bài viết, phản ánh sự phong phú và đa dạng trong các nghiên cứu về nhà ở của cả tác giả trong và ngoài nước.
Vào năm 1986, tạp chí số 2 và số 4 đã đăng sáu bài viết Sau đó, vào năm 1992, số lượng bài viết giảm xuống còn bốn Tuy nhiên, đến năm 1993, tình hình nghiên cứu về nhà ở đã có sự cải thiện đáng kể, với tạp chí số 3 đăng tải 12 bài viết.
Từ năm 1994 đến 1996, có khoảng 10 bài viết nghiên cứu về nhà ở trên Tạp chí Xã hội học, với nội dung phong phú và đa dạng góc độ như tâm lý, lối sống và nhu cầu Tuy nhiên, sau giai đoạn này, số lượng nghiên cứu và bài viết của các nhà xã hội học về lĩnh vực nhà ở đã giảm dần, cho thấy sự đứt quãng trong nghiên cứu xã hội học về nhà ở tại Việt Nam từ sau đổi mới (1986) đến nay.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về nhà ở từ các tác giả uy tín trong và ngoài nước đã đóng góp giá trị lý thuyết và thực tiễn đáng kể Nổi bật trong số đó là các công trình của Trịnh Duy Luân, Nguyễn Quang Vinh, Micheal Leaf, Nguyễn Minh Hòa, Nguyễn Xuân Mai cùng với một số tác giả khác.
Nhiều nghiên cứu và bài viết đã áp dụng lối tiếp cận đa ngành với các lý thuyết và phương pháp khác nhau để phân tích nhu cầu nhà ở của người dân Tuy nhiên, nghiên cứu về nhu cầu nhà ở của cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức trẻ, vẫn còn hạn chế.
7.1 Tổng quan các nghiên cứu về thực trạng nhà ở của cán bộ công chức
Thực trạng nhà ở của cán bộ công chức hiện nay cho thấy đa số họ phải sống trong điều kiện chật chội, thường ở ghép với gia đình hoặc thuê nhà, ảnh hưởng đến công việc và đời sống Khảo sát của Công đoàn Viên chức Việt Nam tại 18 cơ quan cho thấy hơn 90% cán bộ công chức ở các đô thị lớn chưa có điều kiện ổn định về nhà ở, với gần một nửa trong số họ phải ở nhờ hoặc ở tạm Kết quả khảo sát này được thu thập từ 1.000 phiếu điều tra, trong đó có 992 phiếu trả lời, phản ánh rõ ràng nhu cầu cấp thiết về nhà ở của đội ngũ cán bộ công chức.
Khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy chỉ 2/3 trong số hai triệu cán bộ, công chức trên cả nước sở hữu nhà riêng Khoảng 700 ngàn cán bộ, công chức còn lại chưa có chỗ ở ổn định, phải sống ghép với gia đình, thuê nhà, hoặc ở nhờ.
(Nguồn: http:// www.vnn.vn, ngày 31 - 7 – 2008)
Theo số liệu từ Sở Xây dựng Hà Nội, hàng ngàn cán bộ, công chức, viên chức vẫn đang sống trong điều kiện chỗ ở không đạt tiêu chuẩn tối thiểu Chỉ khoảng 30% trong số họ được phân phối nhà ở, trong đó tỷ lệ các gia đình trẻ chưa có nhà ở, phải ở ghép hoặc ở tạm, chiếm một tỷ lệ lớn.
Theo một khảo sát được đăng trên Tuổi trẻ Online, gần 100% cặp vợ chồng trẻ tại Hà Nội chưa sở hữu nhà riêng, mà phải sống nhờ vào bố mẹ, thuê nhà tạm, hoặc thậm chí ở trong khu nhà trọ dành cho sinh viên Hiện tượng cán bộ, công chức phải ở lại công sở cũng diễn ra khá phổ biến.
Tình trạng cán bộ, công chức phải ở ghép, ở nhờ, hoặc thuê nhà không chỉ xảy ra ở các thành phố lớn mà còn phổ biến tại các thành phố trực thuộc tỉnh Theo khảo sát tại thành phố Cần Thơ, có gần 28.900 trên tổng số 82.560 cán bộ, công chức, viên chức (khoảng 30%) chưa có nhà ở, phải sống cùng cha mẹ, ở ghép hoặc thuê nhà.
Báo Tuổi trẻ ngày 12-7-2007, trang 6)
Kết quả điều tra nhà ở của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước do Nguyễn Hữu Cát (2008) công bố trên VietNamNet cho thấy 31% hộ gia đình, chủ yếu là các hộ trẻ, chưa sở hữu nhà ở, trong khi 4% thuê nhà tạm hoặc nhà cấp bốn của tư nhân Mặc dù thông tin chỉ nêu kết quả khảo sát mà không cung cấp phương pháp chọn mẫu hay thu thập dữ liệu, nhưng các nghiên cứu này vẫn có những điểm cơ bản để tiếp tục làm rõ hoặc kiểm chứng.
- Đa số công chức đang ở chung với cha mẹ và mong muốn thay đổi về điều kiện ở
- Công chức ở nhà chật chội, ảnh hưởng đến đời sốn,g học tập, công tác
- Chỉ 2/3 trong số hai triệu cán bộ, công chức trên cả nước có nhà riêng
Hiện nay, cán bộ, công chức đang bày tỏ nhu cầu cấp thiết về nhà ở Tuy nhiên, cần đánh giá mức độ nhu cầu và khả năng đáp ứng một cách khoa học và hợp lý.
7.2 Các nghiên cứu về nhu cầu sửa chữa, nâng cấp, xây mới nhà ở
Theo chu trình sống và sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu về nhà ở của con người tăng dần từ thấp đến cao, phù hợp với từng giai đoạn và điều kiện kinh tế Cá nhân thường bắt đầu bằng việc sửa chữa, nâng cấp hoặc mở rộng diện tích nhà ở, sau đó tiến tới xây mới hoặc mua nhà mới.
Trong khảo sát của Trịnh Duy Luân (2004), tác giả đưa ra khái niệm
Ý nghĩa nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này đóng góp vào việc mở rộng cơ sở lý luận và lý thuyết về nhà ở đô thị, đồng thời cung cấp phương pháp luận hữu ích cho chuyên ngành xã hội học đô thị.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng và nhu cầu nhà ở của công chức trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời làm cơ sở cho các cơ quan chức năng lập kế hoạch khai thác tiềm năng kinh tế - xã hội, nhằm cung ứng nhà ở cho nhóm đối tượng này.
Việc phát hiện nhu cầu, diện tích, khu vực và loại nhà ở thực tế giúp các cơ quan hữu quan dự báo xu hướng tiêu dùng của công chức trẻ Điều này tạo cơ sở cho các công ty xây dựng và kinh doanh nhà phối hợp để cung cấp nhà ở phù hợp cho nhóm đối tượng này.
Cách tiếp cận của luận văn
Tiếp cận theo quan điểm kinh tế học đô thị
Theo tác giả Micheal Leaf (1996), nhu cầu nhà ở được phân tích từ "quan điểm kinh tế", cho rằng sự thiếu hụt trong cung cấp nhà ở không đáp ứng nhu cầu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng sản xuất nhà ở không bình thường.
Quan điểm kinh tế nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách nhằm cải thiện cung cấp nhà ở bằng cách tăng cường đầu vào phía cung, từ đó ổn định nhu cầu Để cân bằng cung - cầu và giảm tình trạng sản xuất nhà ở không bình thường, nhà nước cần thực hiện các biện pháp như giảm thuế đất, thuế thu nhập và thuế gia tăng Những chính sách này sẽ giúp giảm giá thành, thúc đẩy sản xuất nhà ở giá rẻ, đáp ứng nhu cầu cho nhóm thu nhập thấp và ổn định thị trường nhà ở.
Nhà ở được xem như một hàng hóa trên thị trường, và sự mất cân đối giữa cung và cầu đã dẫn đến việc giá nhà tăng cao, vượt khả năng chi trả của nhóm thu nhập thấp Để cải thiện nguồn cung nhà ở, chính phủ cần đóng vai trò là người đỡ đầu, can thiệp vào thị trường bất động sản thông qua các chính sách nhằm nâng cao điều kiện sản xuất nhà ở.
Để sản xuất nhà ở giá rẻ, các yếu tố đầu vào quan trọng bao gồm lao động giá rẻ, vật liệu xây dựng và phương pháp xây dựng tiết kiệm, đất đai, cơ sở hạ tầng, cùng với tài chính và quy trình điều tiết Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo quỹ đất, phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp hỗ trợ tài chính, góp phần quyết định vào việc giảm chi phí sản xuất nhà ở.
- Khả năng sản xuất nhà ở và nhu cầu nhà ở của cán bộ, công chức hiện nay ở trạng thái cân bằng, hay mất cân bằng
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp quỹ đất, hỗ trợ tài chính và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển nhà giá rẻ, đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân.
Tiếp cận theo quy luật cung - cầu trong kinh tế học
Quy luật cung - cầu trong kinh tế học cho rằng thị trường sẽ điều chỉnh để xác định mức giá và lượng giao dịch hàng hóa cân bằng Mức giá và lượng này tương ứng với giao điểm của đường cung và đường cầu, tạo ra trạng thái cân bằng cho một mặt hàng, được gọi là cân bằng bộ phận.
Theo cách tiếp cận này, giá nhà trong nền kinh tế thị trường được xác định bởi thị trường thông qua quy luật cung-cầu Số lượng nhà ở sản xuất cần phải cân bằng với nhu cầu của người mua, cho thấy nhà ở được coi là một loại hàng hóa Trong đó, cả người bán và người mua đều phải tuân theo các quy luật của thị trường; khi khách hàng có nhu cầu mua nhà, bên cung sẽ đáp ứng.
Thị trường bất động sản xác định giá cả và các giao dịch mua bán nhà ở dựa trên nguyên tắc cung cầu Số lượng nhà ở được sản xuất cần phải tương xứng với nhu cầu của người mua.
Khi xem xét nhu cầu nhà ở của công chức trẻ, cần phân tích mối quan hệ giữa nguồn cung nhà ở do các công ty xây dựng và nhu cầu của người mua, cũng như giá nhà trên thị trường bất động sản Các nhà sản xuất sẽ điều chỉnh số lượng nhà ở để đáp ứng nhu cầu của khách hàng dựa trên khả năng thanh toán của người mua Nếu cung và cầu phát triển song song, thị trường sẽ đạt trạng thái cân bằng; ngược lại, sẽ xảy ra tình trạng mất cân bằng.
Tiếp cận theo nhu cầu và cầu hiệu quả
Xác định nhu cầu nhà ở của người dân, đặc biệt là nhóm công chức trẻ, là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình phát triển nhà ở Nhu cầu nhà ở hiệu quả là mục tiêu cần đạt được, đóng vai trò là động lực chính cho các công ty phát triển và kinh doanh nhà Dựa vào mức cầu, các công ty sẽ lập kế hoạch xây dựng hợp lý, đáp ứng nhu cầu cho từng nhóm đối tượng.
Trước đây, các nhà kinh tế thường tập trung vào cầu thông thường để giải thích vấn đề cung - cầu Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, lý thuyết cầu hiệu quả đã trở thành một chủ đề quan trọng hơn trong phân tích kinh tế.
J.M.Keynes, nhà kinh tế học Anh đang được các nhà kinh tế trên thế giới đánh giá cao về tính thực tiễn của nó
Lý thuyết Keynes nhấn mạnh tầm quan trọng của tiêu dùng và trao đổi trong kinh tế học, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu cần giải quyết Ông cho rằng khi việc làm và thu nhập tăng lên, tiêu dùng cũng sẽ tăng, nhưng mức tăng này chậm hơn so với thu nhập, dẫn đến cầu tiêu dùng, đặc biệt là cầu hiệu quả, giảm xuống Do đó, để thúc đẩy sản xuất và duy trì cân đối cung - cầu, cần nâng cao cầu tiêu dùng và áp dụng các biện pháp kích thích cầu hiệu quả.
Tại kỳ họp thứ 9 Hội đồng Lý luận Trung ương vào ngày 20-8-2009, các nhà khoa học Việt Nam đã đồng thuận với quan điểm của Keynes rằng Nhà nước cần can thiệp vào nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nhà ở Cần tìm ra các biện pháp kích thích cầu hiệu quả và khuyến khích cá nhân, tổ chức có khả năng chi trả khi mua nhà Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Mai (2001) và Trịnh Duy Luân (2004) đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhu cầu và cầu hiệu quả, đồng thời nêu lên nghịch lý rằng nhóm thu nhập thấp thường có nhu cầu cao về nhà ở nhưng lại thiếu khả năng thanh toán Việc phân định giữa nhu cầu thông thường và nhu cầu hiệu quả là cần thiết để đáp ứng nhu cầu nhà ở một cách hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Nhu cầu nhà ở được xác định qua các yếu tố như giá nhà, tiền thuê và mức độ sản xuất Mặc dù nhu cầu là một khái niệm chuẩn, nhưng thường xảy ra xung đột giữa nhu cầu thực tế và cầu hiệu quả.
Cầu là yếu tố quyết định trong nền kinh tế thị trường, vì nó được hỗ trợ bởi sức mua Đặc biệt, cầu hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực trong lĩnh vực nhà ở.
Nhu cầu hiệu quả về nhà ở thường nhỏ hơn so với tổng nhu cầu, dẫn đến việc các chính sách nhà ở có thể gây ra tình trạng thừa cung Cầu hiệu quả, theo Trịnh Duy Luân (2004), được định nghĩa là nhu cầu tức thời và khả năng thanh toán ngay khi mua nhà, phản ánh nhu cầu tiêu thụ thực tế trên thị trường.
Các công ty sản xuất và kinh doanh nhà ở cần lập kế hoạch xây dựng hợp lý để đáp ứng hiệu quả nhu cầu thị trường, đồng thời tránh tình trạng mất cân bằng giữa cung và cầu trong lĩnh vực nhà ở.
- Trong xã hội các nhóm có thu nhập thấp thường có nhu cầu cao và cấp thiết về nhà ở, nhưng phần lớn họ lại thiếu khả năng thanh toán
- Cầu hiệu quả là nhu cầu tức thời có khả năng thanh toán tiền ngay khi mua nhà
-Trong thực tế, cầu hiệu quả luôn nhỏ hơn đáng kể với toàn bộ nhu cầu về nhà ở
Các chính sách nhà ở cần phải tập trung vào nhu cầu thực tế để tránh tình trạng sản xuất thừa, dẫn đến mất cân đối giữa cung và cầu.
Tiếp cận theo hướng phân tầng trong xã hội học
Những cơ sở của phân tầng xã hội hiện đại đã được P.A.Sorokin thiết lập từ những năm 1920, mở đường cho các nghiên cứu về sự phân hóa xã hội Trước ông, các nhà xã hội học như K.Marx, E.Durkheim, và M.Weber đã thảo luận về vấn đề này R.Merton nhận xét rằng P.A.Sorokin đã tạo ra một cái nhìn tổng quát và nghiêm túc về phân tầng xã hội, kết hợp lý luận và thực tiễn Lý thuyết của ông đã được khẳng định và làm phong phú thêm theo thời gian Sorokin phân chia các nhóm xã hội thành nhóm đơn giản, nhóm phức tạp, và các kết khối phức tạp, trong đó nhóm phức tạp có thể được chia thành nhóm đoàn kết và nhóm đối kháng.
Cũng như K Marx và M Weber, P A Sorokin chú trọng đến giai cấp xã hội, phân tích sự phân chia giữa các nhóm dựa trên tình trạng tài sản, quyền lực và lợi ích nghề nghiệp Các giai cấp này bao gồm công nhân, tư sản và quý tộc.
Sự phân tầng xã hội có thể được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm tính chất kinh tế với sự phân chia giữa người giàu và người nghèo, tính chất nghề nghiệp thể hiện qua sự khác biệt giữa lao động có uy tín và không uy tín, cùng với tính chất chính trị liên quan đến hoạt động quản lý và cai trị so với những người bị quản lý và cai trị.
Học thuyết của K Marx nhấn mạnh sự phân hoá xã hội dựa trên mối quan hệ kinh tế và phương tiện sản xuất, trong khi học thuyết phân tầng xã hội của Sorokin cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về sự phân hoá xã hội, bao gồm cả chiều ngang và chiều dọc, với độ chính xác và chặt chẽ cao hơn.
(Nguồn: http://vn.myblog.yahoo.com)
Phân tầng trong lĩnh vực nhà ở (Nguyễn Xuân Mai, 2001), hiểu theo nghĩa rộng thì nhu cầu nhà ở là một quá trình phát triển từ thấp đến cao
Xem xét nhu cầu nhà ở cần dựa trên các tiêu chí cụ thể như cải tạo, mở rộng diện tích và nâng cấp, không chỉ đơn thuần là việc mua nhà mới Ngoài ra, nhu cầu và sở hữu nhà ở cũng khác nhau giữa các tầng lớp, thu nhập, tuổi tác và địa vị xã hội.
Khi xem xét nhu cầu nhà ở của công chức trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh, cần chú trọng đến quá trình cải tạo, nâng cấp, xây dựng hoặc mua mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, thay vì chỉ tập trung vào chi phí một lần Đồng thời, việc đánh giá khả năng thu nhập, tích lũy và các yếu tố khác của các tầng lớp khác nhau sẽ giúp làm rõ sự phân tầng trong nhu cầu nhà ở.
- Các tầng lớp, thu nhập, tuổi tác và địa vị xã hội… khác nhau có nhu cầu và sở hữu nhà ở khác nhau.
Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Đa số công chức trẻ hiện nay chưa có nhà riêng, họ thường sống chung với người thân hoặc thuê nhà, và đang khao khát cải thiện điều kiện nhà ở của mình.
Hầu hết công chức trẻ hiện nay đều có nhu cầu về nhà ở, nhưng gặp khó khăn trong việc mua nhà do thu nhập thấp và tích lũy tài chính không đáng kể Họ cũng có ít khả năng nhận trợ giúp tài chính từ gia đình và người thân, cùng với việc khó khăn trong việc vay tiền từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Nhận thức về nhà ở Thực trạng sở hữu nhà
Bối cảnh kinh tế - xã hội
Nhu cầu nhà ở của công chức Tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã hội
Khả năng thỏa mãn nhu cầu nhà ở
Giả thuyết 3 cho rằng việc thiếu nhà riêng đang gây ra nhiều khó khăn cho công chức trẻ trong các lĩnh vực sinh hoạt, học tập, thăng tiến nghề nghiệp, cũng như trong việc kết hôn và sinh con muộn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ NHÀ Ở
1 Vài nét về nhu cầu nhà ở của con người
Trong lịch sử, nhà ở luôn gắn liền với sự tiến hóa của loài người Ban đầu, con người chỉ cần một mái lá để che thân và tìm nơi ở an toàn Khi xã hội phát triển, nhu cầu về nhà ở cũng đa dạng hơn Ngày nay, nhà ở không chỉ là tổ ấm mà còn mang giá trị thẩm mỹ, kinh tế và thể hiện địa vị xã hội.
Nhà ở, bao gồm chỗ ở, nơi ở, mái nhà và căn hộ, được hiểu chung là không gian sống Dù mỗi địa phương, dân tộc hay quốc gia có cách gọi khác nhau, nhà ở vẫn luôn là nơi thân thuộc và quan trọng trong đời sống con người.
Trong thời kỳ sơ khai, con người đã chọn hang động làm nơi cư trú để bảo vệ mình khỏi thú dữ, thời tiết khắc nghiệt và kẻ thù Đến thời kỳ đồ đá cũ, họ bắt đầu dựng trại ngoài trời làm nơi ở Sau đó, những ngôi nhà đơn sơ hình dáng chiếc tổ và những ngôi nhà sơ sài hình bán nguyệt được xây dựng từ cành cây nhỏ, giống như những túp lều che gió, đã xuất hiện.
Qua hàng ngàn năm, nhà ở của các tộc người sơ khai đã có sự thay đổi đáng kể, nhưng vào thời điểm đó, chúng chưa được coi là tài sản Những ngôi nhà đầu tiên được xây dựng từ vật liệu tự nhiên như da thú, gỗ và đá, như các nền văn minh Maya, Aztec và Inca Một kiểu nhà đặc biệt là "nhà hang", nửa nổi nửa chìm trong đất, giúp giữ ấm và dễ dàng cải tạo không gian mà không cần xây tường.
Thời gian và sự tiến hóa của xã hội đã tạo ra nhu cầu phát triển nhà ở cho con người, bắt đầu từ nhà ở cộng đồng, sau đó là những ngôi nhà cho nhiều gia đình và dòng họ sống chung, cuối cùng hình thành nên làng mạc và thành phố với sự tập trung đông đảo dân cư và nhiều tầng lớp khác nhau.
Nhà ở ngày nay không chỉ đơn thuần là nơi cư trú mà còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều khía cạnh khác nhau, từ cá nhân đến tập thể, và mang lại giá trị kinh tế lẫn xã hội Dù ở bất kỳ thời kỳ nào, nhu cầu về nhà ở vẫn là thiết yếu đối với con người Nhà ở không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc; việc thiếu nhà ở hoặc sống trong điều kiện tồi tàn có thể khiến con người bị xem thường và khó có được địa vị xã hội cao.
Nhà ở, theo E Adamson Hoebel (2007: 322-323), phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và văn hóa của từng thời kỳ và dân tộc Một kiểu nhà có thể được coi là sơ khai hoặc hiện đại tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa của mỗi dân tộc Thời tiết và khí hậu cũng tạo ra sự khác biệt trong kiến trúc nhà ở; ví dụ, người da đỏ Navaho xây dựng nhà bằng gỗ trát bùn, trong khi người thổ dân có những kiểu nhà khác phù hợp với môi trường sống của họ.
Nhà ở của người Pawnee được xây dựng bằng đất, trong khi ở Việt Nam, khái niệm về nhà như “nhà tranh, vách đất” hay “nhà ngói, cây mít” thể hiện ước mơ của nhiều cặp vợ chồng trẻ Những hình ảnh này không chỉ phản ánh giá trị truyền thống mà còn là điều kiện lý tưởng trong xã hội, mang lại cảm giác ấm cúng và hạnh phúc cho các đôi lứa.
Ngày nay, giới trẻ có xu hướng thực dụng hơn, mong muốn có cuộc sống đầy đủ với những tài sản như nhà lầu, xe hơi, và biệt thự Họ cũng chú trọng đến địa vị xã hội, thể hiện qua việc sở hữu nhà mặt phố và có cha mẹ làm trong các vị trí cao.
Các quan niệm hiện nay đã trở nên công khai trong nền kinh tế thị trường, không còn bị che giấu dưới nhiều hình thức ngôn ngữ như trong thời bao cấp, và chúng mang lại giá trị cả về mặt kinh tế lẫn địa vị xã hội.
Nhà ở được coi là một giá trị đặc biệt trong xã hội, dẫn đến một chuỗi hành động và mong muốn nhằm đạt được giá trị này Điều này tạo ra nhu cầu và các mối quan hệ xã hội khác, với mục tiêu cao nhất là sở hữu nhà ở.
Nhu cầu về nhà ở gắn liền với sự phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội Con người trải qua các giai đoạn khác nhau trong cuộc sống, bắt đầu từ việc sống cùng cha mẹ, sau đó là nhu cầu về nhà ở khi trưởng thành và lập gia đình Khi có con, nhu cầu về không gian sống cũng mở rộng, đòi hỏi nhà ở lớn hơn và đẹp hơn Nhu cầu này phát triển theo từng giai đoạn của cuộc đời và ngày càng hoàn thiện hơn.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, nhà ở không chỉ đơn thuần là nơi cư trú mà còn đảm nhận nhiều vai trò khác nhau theo sự phát triển kinh tế - xã hội Tùy thuộc vào các quy định về giá trị trong từng xã hội, hoàn cảnh cụ thể và tiến bộ khoa học, nhà ở được gán cho những vai trò đa dạng.
Nhà ở không chỉ là nơi cư trú mà còn là không gian sống cho gia đình và là đơn vị kinh tế độc lập Theo quan điểm sinh thái học, nhà ở có vai trò quan trọng trong việc giữ ấm và bảo vệ con người khỏi các tác hại của nhiệt độ cực đoan, tiếng ồn, bức xạ, cũng như các yếu tố hóa học và sinh học.
Nhà ở không chỉ là nơi trú ngụ và tránh mưa nắng, mà còn là thế giới riêng tư và tổ ấm hạnh phúc của mỗi gia đình Vai trò của nhà ở còn thể hiện qua việc tạo ra chất lượng cuộc sống, nơi mà nhiều nhu cầu giải trí và hưởng thụ văn hóa được đáp ứng ngay tại nhà.
LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Lý thuyết nhu cầu của A Maslow phân loại các nhu cầu tự nhiên của con người thành nhiều cấp độ, bắt đầu từ nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở Khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn, các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện (Nguyễn Thường Lạng, 2005).
Trong xã hội, hành động của con người, dù là cá nhân hay trong tổ chức, chủ yếu dựa vào nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu đó Khi nhu cầu được đáp ứng, con người sẽ cảm thấy hài lòng và làm việc hiệu quả hơn Tuy nhiên, các nhu cầu thường không xuất hiện đồng thời; khi một nhu cầu được thỏa mãn, nhu cầu khác sẽ phát sinh Sự phát triển của nhu cầu diễn ra theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, phụ thuộc vào hoàn cảnh và vị thế kinh tế - chính trị - xã hội của từng cá nhân.
Nhu cầu nhà ở của công chức trẻ là một nhu cầu cơ bản của con người, cần được xem xét ở các cấp độ khác nhau, từ cải tạo, nâng cấp đến xây mới Khi nhu cầu này không được thỏa mãn, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội của công chức trẻ.
- Nhà ở là nhu cầu cơ bản của con người
- Sẽ có các tác động, ảnh hưởnglớn đến đời sống xã hội khi con người chưa có nhà riêng
Ngoài lý thuyết nhu cầu của A Maslow, lý thuyết kinh tế vi mô còn bao gồm mô hình kinh tế dựa trên quy luật cung cầu Mô hình này được phát triển bởi Alfred Marshall, nhằm mục đích mô tả, giải thích và dự đoán giá cả cũng như lượng hàng hóa sẽ được bán ra và tiêu thụ trên các thị trường cạnh tranh.
Thuyết cung - cầu chỉ ra rằng khi lượng cầu vượt quá lượng cung trên thị trường, giá hàng hóa sẽ có xu hướng tăng Những người tiêu dùng có khả năng chi trả sẽ đẩy giá lên cao hơn giá trị thực Ngược lại, nếu lượng cung lớn hơn lượng cầu, giá sẽ giảm Cơ chế điều chỉnh này giúp thị trường đạt đến điểm cân bằng, nơi không còn áp lực thay đổi giá và lượng Tại điểm cân bằng, sản lượng hàng hóa sản xuất sẽ tương ứng với nhu cầu của người tiêu dùng.
Khi phân tích nhu cầu nhà ở của nhóm công chức trẻ, cần xem xét tình hình cung - cầu trên thị trường Nếu cầu về nhà ở vượt quá khả năng cung, giá nhà sẽ tăng cao hơn giá trị thực, khiến người đầu tư mua với giá cao và các nhà sản xuất cũng đẩy giá lên để thu lợi, dẫn đến việc nhóm thu nhập thấp không thể mua được nhà.
Trong thực tế hiếm khi cung-cầu gặp nhau, thường thì có cầu sẽ có cung và mối quan hệ này dựa trên cơ sở “tiền trao, cháo múc”
- Xem xét tình hình cung - cầu và giá nhà trên thị trường nhà ở tại thành phố Hồ Chí Minh đang ở trạng thái cân bằng, hay mất cân bằng
Nhu cầu về nhà ở hiện nay vượt xa khả năng sản xuất, dẫn đến việc những người có tiền và các nhà sản xuất đẩy giá nhà lên cao hơn giá trị thực nhằm thu lợi.
2 Lý thuyết đô thị hóa
Các nhà lý thuyết đô thị hóa cho rằng, sự tập trung con người gia tăng trong những vùng địa lý hạn chế gọi là thành phố (John F Macionis, 2004:
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư vào các ngành dịch vụ, thủ công, sản xuất công nghiệp và thương mại, tách biệt với nông nghiệp Quá trình này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị, làm thay đổi cơ cấu giai cấp và chuyển từ lối sống phân tán sang lối sống tập trung với mật độ dân cư cao Sự gia tăng dân số đô thị cũng làm thay đổi phân công lao động theo hướng chuyên nghiệp, tạo ra các nhu cầu mới và khởi đầu cho sự phân chia giai cấp, bao gồm cả phân cấp về nhà ở.
Mật độ dân số đô thị cao dẫn đến sự cạnh tranh về nguồn lực xã hội, đặc biệt là nhu cầu nhà ở gia tăng Tại các đô thị, những người có thu nhập cao dễ dàng thỏa mãn nhu cầu nhà ở, trong khi nhóm thu nhập thấp gặp khó khăn trong việc mua nhà Công chức trẻ thuộc nhóm thu nhập thấp, mặc dù có nhu cầu, nhưng không đủ khả năng tài chính để mua nhà theo giá thị trường, do đó họ cũng bị ảnh hưởng bởi sự phân tầng xã hội trong lĩnh vực nhà ở.
Sự gia tăng nhanh chóng của dân số đô thị trong tổng thể dân cư đã dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp, tạo ra các nhu cầu mới và khởi đầu cho sự phân chia giai cấp Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong lĩnh vực nhà ở, nơi mà phân tầng xã hội ngày càng trở nên rõ nét.
Tại các đô thị, những người có thu nhập cao và địa vị xã hội tốt thường dễ dàng thỏa mãn nhu cầu về nhà ở, trong khi nhóm có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn trong việc sở hữu nhà.
3 Các khái niệm cơ bản Ở chương I, tác giả luận văn đã bàn về nhu cầu nhà ở của con người, vai trò, chức năng của nhà ở, theo đó trong đời sống xã hội nhà ở đóng nhiều vai trò chức năng khác nhau, tùy theo mục đích của người sở hữu nó sử dụng thế nào Trong tiểu mục này tác giả luận văn sẽ tìm hiểu, làm rõ và thống nhất cách hiểu chung về khái niệm nhà ở, nhu cầu nhà ở; khái niệm công chức và công chức trẻ và một số chỉ báo trong nghiên cứu
Nhà ở là một khái niệm rộng, được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau như kiến trúc, xây dựng, kinh tế và xã hội học Nó có thể được hiểu theo hình thức sở hữu, phân chia theo người ở, hoặc theo chính sách, kết cấu và thời gian sử dụng Ví dụ, "nhà tôi" có thể chỉ chủ sở hữu căn nhà hoặc là cách nói của vợ/chồng về "nửa kia" của mình Các loại hình nhà ở như căn nhà, ngôi nhà, căn hộ, biệt thự, nhà vườn, nhà lá, nhà gỗ, nhà rông, nhà sàn, nhà bè, và nhà thuyền đều chỉ nơi để ở, mặc dù mỗi địa phương có cách gọi khác nhau Do đó, trong luận văn này, tất cả các tên gọi trên đều được hiểu chung là nhà ở.
Theo Turner và Fichter (1972), "nhà ở là một động từ hơn là một danh từ", vì nó mang nhiều ý nghĩa khác nhau Trong nghĩa rộng, nhà ở được xem như một quá trình sản xuất, trong khi theo nghĩa hẹp, nó chỉ đơn thuần là sản phẩm - cái nhà, ngôi nhà (Nguyễn Xuân Mai, 2001: 140).
Nhà ở, theo từ điển tiếng Việt (2005), được định nghĩa là công trình xây dựng có mái và tường vách, phục vụ cho việc ở hoặc các mục đích khác Đây là nơi cư trú riêng của các gia đình, nơi tập hợp những người có quan hệ gia đình sống chung trong một ngôi nhà.