Với hệ thống tiếng nói, chữ viết riêng cùng óc thẩm mỹ và năng lực sáng tạo nghệ thuật ở trình độ cao, người Khmer Nam Bộ đã tạo nên nền văn học dân gian phong phú cùng với sự phát triển
Trang 1
TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
NGƯỜI KHMER NAM BỘ VỚI NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP Ở SÓC TRĂNG VÀ TRÀ VINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ: VIỆT NAM HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 3MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU IV DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT IV
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
6 Cơ sở lý thuyết 8
7 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
8 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER NAM BỘ VÀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ 1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Nghệ thuật sân khấu 11
1.1.1.1 Nghệ thuật sân khấu tổng hợp nhiều thành tố văn hoá 11
1.1.1.2 Nghệ thuật sân khấu là một thành tố văn hoá 18
1.1.2 Lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận của đề tài 20
1.1.2.1 Chức năng luận (Functionalism) 20
1.1.2.2 Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hoá (Acculturation) 20
1.1.2.3 Đặc thù luận lịch sử (Historical Particularism) và tương đối luận văn hoá (Cultural Relativism) 23
Trang 41.2 Khái quát về người Khmer Nam Bộ 24
1.2.1 Lược sử về vùng đất Nam Bộ và cộng đồng người Khmer Nam Bộ 24
1.2.2 Một số đặc điểm về loại hình cư trú, kinh tế, xã hội và văn hoá của người Khmer Nam Bộ 26
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu Dù kê 33
1.3.1 Tên gọi nghệ thuật sân khấu Dù kê và lokhol Bassac 33
1.3.2 Quá trình hình thành sân khấu Dù kê 35
1.3.3 Quá trình phát triển của sân khấu Dù kê 38
Tiểu kết chương 1 45
CHƯƠNG 2 CÁC THÀNH TỐ CỦA NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ KHMER NAM BỘ 2.1 Hoạt động cúng tổ và ca múa nhạc trước khi diễn Dù kê 46
2.2 Kịch bản sân khấu Dù kê 49
2.2.1 Phân loại 49
2.2.2 Nhân vật 57
2.3 Âm nhạc sân khấu Dù kê 60
2.3.1 Các thể loại bài ca bản nhạc 61
2.3.2 Dàn nhạc 62
2.4 Nghệ thuật diễn xuất trong sân khấu Dù kê 67
2.5 Mỹ thuật sân khấu Dù kê 73
2.5.1 Hóa trang 73
2.5.2 Trang phục 76
2.5.3 Bài trí sân khấu 78
2.6 Diễn viên sân khấu Dù kê 79
2.6.1 Sự lựa chọn vai diễn 80
2.6.2 Quá trình rèn luyện 83
2.7 Khán giả sân khấu Dù kê 87
Tiểu kết chương 2 89
Trang 5CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG BẢO TỒN NGHỆ THUẬT SÂN
KHẤU DÙ KÊ KHMER NAM BỘ
3.1 Giá trị của nghệ thuật sân khấu Dù kê 90
3.1.1 Nơi lưu giữ bản sắc văn hoá dân tộc Khmer Nam Bộ 90
3.1.2 Loại hình nghệ thuật giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Khmer Nam Bộ 97
3.1.3 Biểu hiện của sự giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa người Khmer với người Kinh và người Hoa 103
3.2 Thực trạng sân khấu Dù kê 107
3.2.1 Về nội lực 107
3.2.2 Về khán giả 115
3.3 Nguyên nhân dẫn đến khó khăn cho sân khấu Dù kê 120
3.3.1 Nguyên nhân khách quan 120
3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 120
3.3 Xu hướng phát triển của sân khấu Dù kê 123
3.4 Hướng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu Dù kê 126
3.4.1 Đầu tư cho việc sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ 126
3.4.2 Tập trung đào tạo, phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực liên quan đến sân khấu Dù kê 127
3.4.3 Phát huy vai trò của các đơn vị nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp 129
3.4.4 Thu hút sự quan tâm của cộng đồng Khmer Nam Bộ 130
3.4.5 Xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch Dù kê 131
Tiểu kết chương 3 132
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 148
PHỤ LỤC 1: BẢNG CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ 149
Trang 6PHỤ LỤC 2: NHẬT KÝ ĐIỀN DÃ 150
PHỤ LỤC 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 166
PHỤ LỤC 4: TÀI LIỆU ĐIỀN DÃ 195
PHỤ LỤC 5: KỊCH BẢN SÂN KHẤU DÙ KÊ KHMER NAM BỘ 209
PHỤ LỤC 6: HÌNH ẢNH 233
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số gánh Dù kê ở Trà Vinh
42 Bảng 1.2 Một số gánh Dù kê ở Sóc Trăng
44 Bảng 2.1 Một số nhạc cụ trong dàn nhạc sân khấu Dù kê
Bảng 2.2 Vũ đạo - vũ thuật trong sân khấu Dù kê 71
Bảng 3.1 Hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc
Biểu đồ 3.1 Hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc
Bảng 3.2 Hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh
Bình Minh tỉnh Trà Vinh từ 2005 - 2012 117 Biểu đồ 3.2 Hoạt động của Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh
Bình Minh tỉnh Trà Vinh từ 2005-2012 117
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VHTTDL Văn hoá, Thể thao và Du lịch
VTV Cần Thơ Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam luôn chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế thì việc “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” càng được chú trọng Đặc biệt, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể, trong đó có nghệ thuật biểu diễn dân tộc được nhấn mạnh
Người Khmer Nam Bộ hiện nay có 1 260 640 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009), là dân tộc thiểu số cư trú lâu đời và tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, đông nhất là ở các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang Qua quá trình cộng cư lâu dài với người Kinh, người Hoa và người Chăm trên vùng đất Nam Bộ, ở người Khmer đã có sự giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em; nhưng cơ bản, người Khmer vẫn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, những cốt cách của dân tộc mình Với hệ thống tiếng nói, chữ viết riêng cùng óc thẩm mỹ và năng lực sáng tạo nghệ thuật ở trình độ cao, người Khmer Nam Bộ đã tạo nên nền văn học dân gian phong phú cùng với sự phát triển cao của các loại hình nghệ thuật âm nhạc, múa, sân khấu, kiến trúc và điêu khắc, nhờ đó, họ đã xác lập được bản sắc của dân tộc mình
Nghệ thuật sân khấu vừa gắn bó, gần gũi vừa có khả năng thể hiện, phản ánh phong phú, đa dạng cuộc sống con người Nghệ thuật sân khấu là một nét nổi bật trong văn hoá Khmer Nam Bộ Là một loại hình nghệ thuật sân khấu tiêu biểu của người Khmer Nam Bộ, nghệ thuật sân khấu Dù kê được hình thành và phát triển trong không gian văn hóa - xã hội Khmer Nam Bộ cùng với sự giao lưu, tiếp biến với văn hoá của người Kinh và người Hoa ở Nam Bộ Do đó, nghệ thuật sân khấu
Dù kê không chỉ phản ánh những nét văn hoá tiêu biểu của người Khmer Nam Bộ,
là nơi thể hiện tâm tư, tình cảm của người Khmer Nam Bộ mà còn là biểu hiện của
sự giao lưu văn hoá ở vùng đất này
Trang 8Hiện nay, dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường, sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng cùng với xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá, các yếu tố văn hoá truyền thống nói chung, nghệ thuật sân khấu truyền thống nói riêng, trong đó có loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ đang mất dần khán giả và có nguy cơ bị mai một Đồng thời, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa - nghệ thuật dân tộc đang gặp nhiều khó khăn Do đó, chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu nghệ thuật sân khấu Dù kê để có phương hướng bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật sân khấu tiêu biểu của người Khmer Nam Bộ
Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Người Khmer Nam Bộ với
nghệ thuật sân khấu Dù kê” (Nghiên cứu trường hợp ở Sóc Trăng và Trà Vinh) để
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các thành tố của nghệ thuật sân khấu Dù kê
Nhận diện giá trị của loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê trong đời sống văn hoá tinh thần của người Khmer Nam Bộ và xu hướng phát triển của loại hình nghệ thuật này qua việc nghiên cứu trường hợp ở Sóc Trăng và Trà Vinh
Đề xuất một số hướng giải quyết, góp phần vào việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu Dù kê - một loại hình nghệ thuật tiêu biểu của người Khmer Nam Bộ
3 Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tính cấp bách, cần thiết
Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ đã được Bộ VHTTDL đưa vào danh sách các di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO công nhận ở giai đoạn 2012 - 2016 Muốn vậy, cần có những công trình khoa học nghiên cứu về loại hình nghệ thuật sân khấu này Do đó việc thực hiện đề tài này là cấp bách và cần thiết
Ý nghĩa khoa học
Đề tài tiếp cận nghiên cứu một loại hình nghệ thuật - nghệ thuật sân khấu Dù
kê Khmer Nam Bộ dưới góc nhìn của ngành Việt Nam học Qua đó, góp phần bổ
Trang 9sung tri thức về một số lý thuyết liên quan đến nghệ thuật sân khấu và văn hoá; về mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật với hệ thống văn hoá
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật sân khấu Dù kê với tính chất là một dạng thức văn hóa phi vật thể mang tính đặc trưng dân tộc của người Khmer Nam Bộ
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Vùng Nam Bộ và được giới hạn tại địa bàn của hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Chọn hai tỉnh này làm địa bàn nghiên cứu vì vùng đất Sóc Trăng và Trà Vinh là nơi cư trú lâu đời và có đông người Khmer Nam Bộ sinh sống nhất, đồng thời là nơi mà vốn văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ được bảo lưu rõ nét nhất Hiện nay, đây là hai tỉnh có hoạt động nghệ thuật Khmer tiêu biểu nhất, có Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng và Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh tỉnh Trà Vinh là hai đoàn nghệ thuật công lập lấy sân khấu Dù kê làm nền tảng nghệ thuật và có hoạt động truyền nghề sân khấu Dù kê
- Về thời gian: Từ thời điểm nghệ thuật sân khấu Dù kê được hình thành cho đến nay
5 Lịch sử nghiên cứu
Thuật ngữ “người Khmer Nam Bộ” trong luận văn được dùng để chỉ chung cho các cách gọi: người Việt gốc Miên, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer ở Nam Bộ,… trong các công trình nghiên cứu khác nhau
Trang 10Vùng đất Nam Bộ và người Khmer Nam Bộ được tìm hiểu từ rất sớm Trước năm 1975, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã tiến hành khảo cứu văn hóa Khmer
Nam Bộ Công trình Người Việt gốc Miên (1969) của Lê Hương đã đề cập đến lịch
sử dân tộc và mô tả khá cặn kẽ về văn hóa vật chất lẫn văn hoá tinh thần của người Khmer ở vùng đất này
Sau năm 1975, vấn đề lịch sử dân tộc, đặc điểm cư trú, phân bố dân cư, hoạt động kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa - xã hội của người Khmer Nam Bộ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Công trình Người Khơ-Me 1 tỉnh Cửu Long do Sở Văn hoá - Thông tin Cửu
Long xuất bản năm 1987 đã giới thiệu khái quát về người Khmer tỉnh Cửu Long (gồm Trà Vinh và Vĩnh Long) từ tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục, hội lễ đến văn học nghệ thuật và truyền thống đoàn kết Kinh - Khmer trong chiến đấu và xây dựng
Công trình Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ (1988) của Viện
Văn hoá đã tập hợp nhiều bài viết về người Khmer Nam Bộ, nổi bật là những nét văn hóa như phong tục lễ nghi, nghệ thuật tạo hình, điêu khắc đồng thời, đề cập đến
sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa người Khmer với người Kinh và người Hoa Đặc biệt, sân khấu Rô băm và sân khấu Dù kê được giới thiệu cụ thể từ tuồng tích, nhân vật, múa nhạc đến trang trí sân khấu và hoá trang
Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long (Trường Lưu chủ
biên năm 1993) là một công trình biên soạn có hệ thống về diện mạo văn hóa tinh thần của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long từ tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội đến văn học - nghệ thuật
Công trình Về sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ do Sở Văn hoá – Thông
tin tỉnh Sóc Trăng và Phân viện Văn hoá nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998 đã đi sâu vào lĩnh vực học thuật, đánh giá thực trạng và hướng triển vọng của sân khấu Khmer Nam Bộ Những bài viết và phát biểu được ghi lại từ các cuộc hội thảo về sân khấu Khmer được giới thiệu trong công trình vẽ nên diện mạo
cơ bản của sân khấu Rô băm và Dù kê – hai hình thức sân khấu chứa đựng những
1 Khơ-Me: cách phiên âm cũ của Khmer
Trang 11tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người Khmer Nam Bộ Tuy gồm những bài viết riêng lẻ song công trình này đã nêu lên khá đầy đủ quá trình tiến triển của sân khấu truyền thống Khmer từ diễn xướng dân gian đến Rô băm và Dù kê cũng như khẳng định những giá trị truyền thống dân tộc độc đáo của sân khấu Rô băm và Dù kê, đồng thời đề xuất những hướng phát triển cho sân khấu truyền thống Khmer Nam
Bộ trong xã hội đương đại
Những bài viết: “Sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ - Kho tàng văn hoá phi vật thể cần được lưu giữ” của Trần Kim Dung, “Vài ý kiến trao đổi về sân khấu nghệ thuật truyền thống Khmer Nam Bộ” của Sorya, “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Rô băm Khmer Nam Bộ trong thời kỳ đương đại” của Hoàng Túc, “Người hát – người xem – người nuôi Dù kê nói…!” của Sơn Ngọc Hoàng,… trong Kỷ yếu hội
thảo khoa học Xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc Khmer Nam Bộ do Bộ Văn
hoá - Thông tin xuất bản năm 2004 cho thấy thực trạng khó khăn của sân khấu Rô băm và sân khấu Dù kê đương đại và bước đầu đề xuất một vài phương hướng bảo tồn
Công trình Nhạc khí dân tộc Khmer Nam Bộ (2005) của Viện Khoa học xã
hội vùng Nam Bộ đã giới thiệu một cách hệ thống và chi tiết các loại nhạc cụ của người Khmer Nam Bộ
Công trình Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam (Vũ Minh Giang chủ biên
2008) đã trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về lịch sử của vùng đất Nam Bộ, trong đó có đề cập đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng Khmer Nam Bộ
Công trình Địa chí tỉnh Sóc Trăng (2012) của Tỉnh uỷ - UBND tỉnh Sóc
Trăng đã đề cập một cách toàn diện về đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của người Khmer ở Sóc Trăng Bên cạnh đó, bài viết “Sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ”
của Trần Văn Bổn trong Sân khấu dân gian do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc phát
hành năm 2012 đã giới thiệu chi tiết về âm nhạc, nghệ thuật múa và nghệ thuật sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ (sân khấu Rô băm và sân khấu Dù kê) Đặc biệt,
công trình Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc
Trăng (2012) do Sơn Lương làm chủ nhiệm đề tài đã phác họa một cách có hệ thống
Trang 12và toàn diện về nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ ở Sóc Trăng từ quá trình hình thành, phát triển đến những thành tố của loại hình nghệ thuật này Có thể xem đây là một công trình độc lập đầu tiên khảo cứu về sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ
Liên hoan Nghệ thuật Sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ lần thứ nhất năm
2013 được Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam phối hợp với Sở VHTTDL Sóc Trăng tổ chức từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 11 năm 2013 tại Trung tâm Văn hoá tỉnh Sóc Trăng Đây là lần đầu tiên loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ được tổ chức với quy mô toàn quốc Liên hoan lần này nhằm giới thiệu nghệ thuật sân khấu Dù kê của người Khmer Nam Bộ đến với đông đảo công chúng, đồng thời, đây cũng là dịp để các đơn vị nghệ thuật gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm nhằm bảo tồn
và phát huy hơn nữa giá trị của nghệ thuật sân khấu dân tộc 2
Đối tượng tham gia liên hoan này không chỉ là các đơn vị nghệ thuật công lập
mà còn là các đoàn, đội, câu lạc bộ nghệ thuật bán chuyên nghiệp đang hoạt động tại các địa phương trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Mỗi đơn vị dàn dựng một
vở diễn dự thi, thời lượng từ 90-120 phút Khoảng 500 diễn viên, nghệ nhân của 10 đơn vị nghệ thuật thuộc 6 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tham gia liên hoan, gồm:
Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng với vở Pream Riêm và nàng Xê Đa; Đội Dì
kê huyện Tri Tôn tỉnh An Giang với vở Chuyện tình Tum Tiêu; Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Bạc Liêu với vở Truyền thuyết Vua Thần; Đội Thông tin văn nghệ Khmer tỉnh Cà Mau với vở Hương sắc tình quê; Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh tỉnh Trà Vinh với vở Lưỡi kiếm oan nghiệt; Đội Văn nghệ Khmer của Trường Đại học Trà Vinh tỉnh Trà Vinh với vở Cạm bẫy học đường; Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long với vở Vì một tình thương; Doanh nghiệp tư nhân Đoàn Ánh Bình Minh tỉnh Sóc Trăng với vở Anh hùng cứu quốc; Doanh nghiệp tư nhân Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Ron Ron tỉnh Sóc Trăng với vở Duyên tiền định và Doanh
nghiệp tư nhân Đoàn Nghệ thuật Dù kê tập thể Sơn Nguyệt Quang tỉnh Sóc Trăng
với vở Mối tình thủy chung
2 thu-I.3861.detail.aspx [Liên hoan Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ lần thứ I]
Trang 13http://vhttdlkv3.gov.vn/Hoat-dong-Lanh-dao/Lien-hoan-Nghe-thuat-san-khau-Du-ke-Khmer-Nam-Bo-lan-Cùng thời gian này, chương trình Hội thảo khoa học Nghệ thuật sân khấu
Dù kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hoá dân tộc do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ,
UBND tỉnh Trà Vinh, VTV Cần Thơ và Trường Đại học Trà Vinh phối hợp tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 11 năm 2013 tại tỉnh Trà Vinh đã tạo ra một diễn đàn trao đổi giữa các học giả, các nghệ sĩ, các nhà quản lý liên quan đến nghệ thuật sân khấu
Dù kê Hội thảo nhằm triển khai thực hiện chương trình sưu tầm, nghiên cứu, đúc kết những luận chứng, cứ liệu một cách khoa học về nguồn gốc lịch sử hình thành
và phát triển, tính dân gian và độc đáo của nghệ thuật sân khấu Dù kê Trên cơ sở
đó, các cơ quan chức năng sẽ báo cáo Bộ VHTTDL xem xét, lập hồ sơ trình UNESCO công nhận nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể trong thời gian tới 3
Hội thảo đã nhận được hơn 70 bài tham luận cùng nhiều ý kiến phát biểu trực tiếp của các đại biểu là những nhà quản lý, nghiên cứu khoa học và phê bình trong lĩnh vực nghệ thuật Tiêu biểu như: “Nghệ thuật sân khấu Dù kê là di sản văn hoá (Chuyển từ nghệ thuật vị nghệ thuật sang nghệ thuật vị nhân sinh)” của Sang Sết, “Các loại hình nghệ thuật của đồng bào Khmer Nam Bộ - Thực trạng và giải pháp” của Thạch Muni, “Nghệ thuật sân khấu Dù kê - Kịch hát dân tộc trong hình thức sân khấu mới” của Nguyễn Thị Mỹ Liêm, “Bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hoá của dân tộc” của Lê Tiến Thọ, “Đôi điều về nghệ thuật sân khấu Dù kê” của Mai Mỹ Duyên,… Mặc dù hội thảo chưa làm rõ về xuất xứ của sân khấu Dù kê cũng như chưa chỉ ra được sự khác biệt giữa sân khấu Dù kê và sân khấu Dì kê nhưng hội thảo đã khẳng định Dù kê là một loại hình nghệ thuật sân khấu đặc sắc, mang giá trị độc đáo của người Khmer Nam Bộ cần phải được bảo tồn và phát huy
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu về người Khmer Nam Bộ mang tính chất gợi mở cho việc nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó, các công trình, bài viết về các loại hình nghệ thuật truyền thống của người Khmer Nam Bộ thì đều có đề cập đến loại
3 http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=74086&sitepageid=73 [Hội thảo khoa học về sân khấu
Dù kê Khmer Nam Bộ]
Trang 14hình nghệ thuật sân khấu Dù kê Đồng thời cũng có một số công trình, bài viết chuyên sâu về nghệ thuật sân khấu Dù kê Đặc biệt, Liên hoan Nghệ thuật Sân khấu
Dù kê Khmer Nam Bộ lần thứ nhất năm 2013 tại Sóc Trăng và Hội thảo khoa học
Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hoá dân tộc (2013) tại Trà
Vinh đã cung cấp cái nhìn toàn diện và cụ thể về nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ Tựu trung lại, tất cả nguồn tham khảo kể trên đều là những nguồn tài liệu hữu ích, giúp chúng tôi tiếp cận nghiên cứu sân khấu Dù kê - một loại hình nghệ thuật sân khấu tiêu biểu của người Khmer Nam Bộ
7 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
Ngoài việc tham khảo những công trình nghiên cứu khoa học từ các thư viện tại thành phố Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Sóc Trăng, thư viện tỉnh Trà Vinh, thư viện trường Đại học Trà Vinh về người Khmer nói chung và loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê nói riêng như đã nêu trên, trong luận văn này, chúng tôi còn sử dụng nguồn tài liệu và tư liệu thu thập được trong quá trình đi điền dã ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong hệ thống các phương pháp nghiên cứu chung của ngành khoa học
xã hội
- Phương pháp phân tích - tổng hợp - so sánh các nguồn tài liệu thư tịch và tài liệu, tư liệu thu thập được qua các đợt khảo sát thực địa
Trang 15- Phương thức điền dã Dân tộc học trong đó sử dụng phương pháp quan sát tham dự 4 kết hợp với phương pháp phỏng vấn 5 (phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố)
Áp dụng phương thức điền dã Dân tộc học, chúng tôi đã thực hiện những chuyến khảo sát thực địa tại một số nơi trên địa bàn hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Trong thời gian điền dã, để quan sát, nắm bắt thông tin và ghi chép lại trong Nhật ký điền dã, chúng tôi đã tham dự một số đêm lưu diễn Dù kê tại Sóc Trăng và Trà Vinh,
Hội thảo khoa học Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hoá dân
tộc năm 2013 tại Trà Vinh và Liên hoan Nghệ thuật Sân khấu Dù kê Khmer Nam
Bộ lần thứ nhất năm 2013 tại Sóc Trăng Áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố đối với các đối tượng: diễn viên Dù kê, những người có chuyên môn, am hiểu và đang hoạt động trong lĩnh vực có liên quan đến sân khấu Dù kê cùng với một số khán giả Dù kê là người Khmer Nam Bộ ở Sóc Trăng và Trà Vinh Tại tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi thực hiện 4 chuyến điền dã tập trung ở thành phố Sóc Trăng và huyện Mỹ Xuyên: lần 1 vào ngày 01/08/2012, lần 2 vào ngày 09/01/2013, lần 3 từ 20/02/2013 đến 22/02/2013 và lần 4 từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 11 năm
2013 Tại tỉnh Trà Vinh, chúng tôi dành phần lớn thời gian khảo sát ở trung tâm thành phố Trà Vinh và huyện Trà Cú với 4 chuyến điền dã: lần 1 vào ngày 02/08/2012, lần 2 từ ngày 18/02/2013 đến ngày 20/02/2013, lần 3 từ ngày 23/02/2013 đến ngày 24/03/2013 và lần 4 từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 11 năm
2013 Trong quá trình điền dã, dù gặp phải không ít khó khăn và thách thức trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ địa phương nhưng chúng tôi đã sưu tầm được những tài liệu hữu ích và thực hiện những cuộc phỏng vấn phục vụ mục đích nghiên cứu
4
Quan sát tham dự là phương pháp mà người nghiên cứu thâm nhập vào đời sống cộng đồng thuộc đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên của cộng đồng đó Người nghiên cứu vừa là người quan
sát đồng thời cũng là người tham gia vào các hoạt động của cộng đồng [Xem Khoa Nhân học (2008), Nhân
học đại cương, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr 29]
5 Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu hỏi mà người phỏng vấn đặt
ra nhằm mục đích thu thập thông tin phù hợp với mục đích nghiên cứu
Trang 16Tài liệu thu thập được và tư liệu điền dã (nhật ký điền dã và biên bản phỏng vấn) là nguồn tài liệu sử dụng chủ yếu trong đề tài này
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đặt nghệ thuật sân khấu Dù kê trong sự tương quan với một số loại hình nghệ thuật sân khấu khác như nghệ thuật sân khấu Rô băm của người Khmer Nam Bộ, sân khấu cải lương của người Kinh và sân khấu hát Tiều của người Hoa để thấy được những đặc trưng cũng như giá trị của nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ
- Phương pháp liên ngành: Khai thác và kết hợp sử dụng thành tựu của các ngành Mỹ học, Nghệ thuật học, Văn hoá học, Nhân học, Dân tộc học, Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn,… trong việc nghiên cứu một loại hình nghệ thuật Trong đó, chủ yếu dựa trên cơ sở chính là ngành Nhân học, Dân tộc học và Văn hoá học
Chương 2: Các thành tố của nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ
Trong chương này, chúng tôi trình bày các thành tố của nghệ thuật sân khấu Dù kê như kịch bản, âm nhạc, nghệ thuật diễn xuất, mỹ thuật sân khấu, diễn viên, khán giả
Chương 3: Giá trị, thực trạng và hướng bảo tồn nghệ thuật sân khấu Dù
kê Khmer Nam Bộ Ở chương cuối cùng này, chúng tôi trình bày các giá trị của
nghệ thuật sân khấu Dù kê, đồng thời phân tích thực trạng của nó, từ đó đề xuất hướng bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật này
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER NAM BỘ
VÀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nghệ thuật sân khấu
1.1.1.1 Nghệ thuật sân khấu tổng hợp nhiều thành tố văn hoá
Nghệ thuật là một khái niệm trừu tượng, do đó có nhiều cách giải thích khác
nhau
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia 6, nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng - thẩm mỹ, mang tính văn hóa, mang đến sự rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức
Theo Giáo trình Mỹ học đại cương 7, “Nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của các hoạt động con người, là phương thức quan trọng để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành, phát triển các năng lực chiếm lĩnh, cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo quy luật của cái đẹp Nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của con người bằng phương tiện hình tượng Các hình tượng nghệ thuật được sáng tạo theo các loại hình nhất định” [26:256]
Theo Mỹ học 8, “Nghệ thuật là một loại hoạt động, nhưng là một hoạt động tinh thần - thực tiễn Đó là một mô hình đa diện phản ánh toàn bộ những hình thái hoạt động quan trọng nhất của con người: thực tiễn, giao tiếp, nhận thức và giá trị Nghệ thuật thực hiện mô hình hoá toàn diện cuộc sống của con người nhằm tái hiện một cách toàn diện những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm tình cảm của con người” [27:87]
6 http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngh%E1%BB%87_thu%E1%BA%ADt [Nghệ thuật]
7 Xem Khoa Triết học (2003), Giáo trình Mỹ học đại cương, Chính trị quốc gia, Hà Nội
8 Xem Lâm Vinh (1997), Mỹ học, Đại học sư phạm, Hà Nội
Trang 18Tuy các khái niệm về nghệ thuật có khác nhau nhưng ta vẫn thấy có sự gặp
gỡ trong việc xem nghệ thuật đã phản ánh bộ mặt của xã hội, do đó, nó có những vai trò, giá trị nhất định đối với đời sống con người
Trong thực tế, nghệ thuật tồn tại như một hệ thống nhiều loại hình có mối
liên hệ qua lại với nhau và phục tùng những nhiệm vụ chung của hoạt động nghệ thuật ở một thời đại nào đó Mỗi loại hình nghệ thuật riêng biệt vừa biểu hiện những quy luật chung của sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính đặc thù, có những nét độc đáo riêng Vì vậy, cần chú ý rằng các cách phân loại nghệ thuật sau đây chỉ mang tính tương đối
Vào thế kỷ XVIII, người ta bắt đầu phân biệt nghệ thuật thành nghệ thuật tiện ích và nghệ thuật thẩm mỹ Trong phạm vi của nghệ thuật thẩm mỹ có thể phân chia thành nghệ thuật ngôn từ (văn chương), nghệ thuật biểu diễn (nhạc, vũ, kịch) và nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc) 9
Theo Mỹ học cơ bản và nâng cao 10, người ta thừa nhận cách phân chia các nghệ thuật ra thành ba nhóm: nhóm nghệ thuật không gian (kiến trúc, điêu khắc, hội họa, ), nhóm nghệ thuật thời gian (văn học, âm nhạc) và nhóm nghệ thuật không gian - thời gian (sân khấu,…) Người ta cũng gọi các nghệ thuật không gian là nghệ thuật tĩnh (hay mang tính đối tượng), gọi các nghệ thuật thời gian là động (hay mang tính chất quá trình), các nghệ thuật không gian - thời gian là tổng hợp (muốn nói đến
sự tổng hợp thời gian và không gian, tính đối tượng và tính quá trình) Sự phân biệt các nhóm nghệ thuật này cũng gắn liền với sự phân biệt các giác quan cảm thụ: các nghệ thuật không gian được lĩnh hội bằng thị giác, các nghệ thuật thời gian được lĩnh hội (hoặc có thể lĩnh hội) bằng thính giác, còn các nghệ thuật không gian - thời gian cùng một lúc được lĩnh hội vừa bằng thị giác vừa bằng thính giác [102:387]
9 http://vanhoahoc.hcmussh.edu.vn/3cms [Phan Thu Hiền, Văn hoá học nghệ thuật như một chuyên ngành
của Văn hoá học, 2005]
10 Xem M F Ôp-xi-an-nhi-côp (2001), Mỹ học cơ bản và nâng cao, Văn hoá thông tin, Hà Nội
Trang 19Công trình Mĩ học đại cương 11 chia nghệ thuật thành năm nhóm: nhóm nghệ thuật ứng dụng (nghệ thuật trang trí - thực dụng, kiến trúc); nhóm nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, điêu khắc); nhóm nghệ thuật biểu hiện (âm nhạc, múa); nhóm nghệ thuật ngôn từ (văn học); nhóm nghệ thuật tổng hợp (điện ảnh, sân khấu)
Nghệ thuật sân khấu được xếp vào loại hình nghệ thuật tổng hợp Cụ thể,
“Sân khấu là một loại hình nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời, bằng sự kết hợp
nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như văn chương, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa,… tạo thành một chỉnh thể thống nhất […] Sự tổng hợp đó tạo nên một chất mới, một ngôn ngữ nghệ thuật mới có khả năng phản ánh sâu sắc và toàn diện thế giới hiện thực, do đó nó tác động toàn diện đến người cảm thụ” [26: 295] Hay cũng
có thể hiểu nghệ thuật sân khấu là “nghệ thuật phản ánh cuộc sống thông qua hành
động của các nhân vật được diễn viên thể hiện trực tiếp trên sàn diễn, trước sự chứng kiến của đông đảo người xem Tác phẩm của nghệ thuật sân khấu gọi là vở diễn: nó là kết quả sáng tạo tổng hợp của nhiều hình thức nghệ thuật như kịch bản văn học, công tác đạo diễn, biểu diễn, âm nhạc, ánh sáng,… với nhiều đối tượng tham gia: tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ,…” [85:102] 12 Như vậy, nghệ thuật sân khấu đã tổng hợp nhiều thành tố khác nhau của một nền văn hoá
Trên thực tế, nghệ thuật sân khấu thường được gọi tắt thành sân khấu (chỉ
một loại hình nghệ thuật, ví dụ, nghệ thuật sân khấu cải lương thường được gọi là
sân khấu cải lương hoặc ngắn gọn hơn chỉ là cải lương) Tuy nhiên, sân khấu còn
được dùng với nghĩa là “sàn dùng cho diễn viên trình bày tiết mục” [17:1093] 13 Do
đó, trong phạm vi luận văn, thuật ngữ sân khấu được dùng với cả hai nghĩa này
11 Xem Lê Văn Dương - Lê Đình Lục - Lê Hồng Vân (2011), Mĩ học đại cương, Giáo dục, Hà Nội, tr 186
đến tr 194
12 Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyển 3 (N - S),
Từ điển bách khoa, Hà Nội
13 Hoàng Phê (chủ biên 2010), Từ điển tiếng Việt, Từ điển bách khoa, Hà Nội
Trang 20Khi đề cập đến khái niệm nghệ thuật sân khấu, khái niệm kịch cũng được
nhắc đến
Trong phạm vi văn học, kịch là kịch bản sân khấu tức là phần văn bản của tác
phẩm kịch (vở kịch) trên sân khấu Kịch là một trong ba phương thức phản ánh hiện thực của văn học, bên cạnh phương thức tự sự và trữ tình Kịch cũng là một loại tác phẩm tự sự, có cốt truyện, có nhân vật Tuy nhiên, kịch viết ra không phải để đọc hay để kể, mà chủ yếu là để trình diễn trên sân khấu Như vậy, một vở kịch phải trải qua chặng đường với hai giai đoạn chính là sáng tác kịch bản và biểu diễn trên sân
khấu “Kịch bản là một loại văn bản văn học làm cơ sở đầu tiên cho một tác phẩm
sân khấu ra đời, được sử dụng để dàn dựng và biểu diễn trên sân khấu” 14 Kịch bản chỉ thực sự được khai thác trọn vẹn và bộc lộ được đầy đủ vẻ đẹp của nó khi được biểu diễn trên sân khấu Bằng những trình thức 15 nghệ thuật của dàn dựng, diễn xuất, âm nhạc, màu sắc, ánh sáng, bài trí sân khấu, trang phục,… những người đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ đã đem nội dung kịch bản văn học tái hiện một cách trực tiếp và sinh động trên sàn diễn 16 Như vậy, khái niệm kịch vừa chỉ một loại hình văn học vừa chỉ một loại hình nghệ thuật Khi xem kịch là một loại hình nghệ thuật thì nó sẽ đồng nghĩa với loại hình nghệ thuật sân khấu
Mỗi loại hình nghệ thuật đều có phương tiện nghệ thuật đặc trưng riêng cho mình Phương tiện nghệ thuật đặc trưng cho sân khấu là hành động thông qua diễn xuất của diễn viên Tuy nhiên, hành động trong nghệ thuật sân khấu là hành động kịch, hành động mang tính xung đột, nhằm biểu hiện tư tưởng của kịch bản mang tính nhất quán chứ không phải hành động bất kì có tính chất ngẫu nhiên Do đó, xung đột và hành động được xem là hai thành tố cơ bản trong kịch bản sân khấu
14
Xem Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyển 2 (E -
M), Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 559
15 Trình thức: Mẫu chung nhất của một loại người, một loại động tác,… trong nghệ thuật sân khấu, có phạm
vi co dãn rộng rãi để diễn viên có thể sáng tạo thêm [Hoàng Phê (chủ biên 2010), sđd, tr 1325]
16 Xem Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương (1998), Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, Giáo dục, Hà
Nội, tr 105 và Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), sđd, tr 559
Trang 21Hành động kịch là “một hệ thống việc làm của con người nhằm thay đổi từ một tình huống mâu thuẫn xung đột này sang một tình huống khác” 17 Kịch bản bao gồm những hành động kịch Diễn viên thể hiện nhân vật thông qua hành động sân khấu Hành động trên sân khấu có thể được chia thành hai dạng chính là hành động bên trong và hành động bên ngoài Hành động bên trong là diễn biến của những yếu
tố nội tâm nhân vật như chiều hướng tâm lý, cảm xúc, tình cảm Hành động bên ngoài là cử chỉ, điệu bộ, động tác hình thể của diễn viên Hai dạng hành động này tồn tại trong sự tương hỗ nhau, không thể tách rời Hành động bên trong là cái gốc xuất phát quan trọng, ảnh hưởng đến khâu biểu diễn những điệu bộ và cử chỉ của diễn viên trên sân khấu Trong khi đó, hành động bên ngoài lại chính là phương tiện diễn đạt hiệu quả thế giới nội tâm của nhân vật với những chiều sâu tâm lý tinh tế, tạo ra sự sinh động và biểu cảm cho vở diễn 18
Xung đột hiển hiện trong sự vận động đa chiều giữa các mặt đối lập từ tính cách nhân vật, quan hệ giữa các vai, hay trong bối cảnh câu chuyện chi phối đến cấu trúc tác phẩm và sự chuyển biến của cốt truyện Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xác lập nên các quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của kịch bản Nội dung của xung đột phản ánh cuộc sống hiện thực, được khái quát và nghệ thuật hoá cao độ từ trong kịch bản cho đến trên sân khấu [16:202] 19
Kịch bản sân khấu được xây dựng trên tinh thần của ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đối thoại là sự đối đáp qua lại giữa các nhân vật Xen kẽ giữa hệ thống ngôn ngữ đối thoại riêng là những mẫu độc thoại của các nhân vật Ngôn ngữ độc thoại là tiếng nói của nhân vật chỉ nói với chính mình Để nhân vật tự nói lên những uẩn khúc bên trong, các tác giả kịch nhằm khai thác chiều sâu tâm lý cho các nhân vật Khi trình diễn trên sân khấu, người ta có thể thay đổi màu sắc, ánh sáng, sử
17 Dẫn theo Đỗ Hương (2005), Về nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống và kịch nói Việt Nam, Sân khấu,
Hà Nội, tr 15
18 Xem Lưu Tuấn Anh (2010), Đặc điểm văn hoá của hý khúc Trung Hoa, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Châu Á học, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr 18.
19 Xem Hà Minh Đức (chủ biên 2002), Lí luận văn học, Giáo dục, Hà Nội
Trang 22dụng tiếng vọng, hoặc tái hiện lại những hình bóng đã lùi vào quá khứ Sân khấu hiện đại còn sử dụng thủ pháp đồng hiện: nhân vật tự phân thân để đối thoại cùng nhau Những hướng tìm tòi này cũng đã tạo nên được những hiệu quả nghệ thuật nhất định trong lĩnh vực kịch (bao gồm cả kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu) Ngôn ngữ nhân vật kịch dù đối thoại hay độc thoại trước hết đó là ngôn ngữ khắc hoạ tính cách [16:208]
Khán giả khi xem kịch, chỉ được nhìn, được nghe những gì diễn ra trong kịch một lần Chỗ nào chưa rõ, không thể dừng lại hoặc đọc lại như khi xem sách Vì vậy, vấn đề, chi tiết cũng như cách diễn đạt, ngôn ngữ trong tác phẩm kịch nói chung phải sáng sủa, không thể rườm rà, mơ hồ, gây trở ngại cho sự tiếp nhận của khán giả [49:105-106]
Như vậy, nghệ thuật sân khấu trước hết là nghệ thuật diễn giải kịch bản trên sân khấu Kịch bản là cơ sở chủ đề, tư tưởng của nghệ thuật sân khấu Tuy không hề thu hẹp ý nghĩa của các phương tiện dàn dựng, nhưng cũng không thể không tính rằng khả năng của sân khấu được thực hiện trọn vẹn, nhất là khi nó được làm phong phú lên bằng lời nói Việc công nhận vai trò quyết định của kịch bản là một trong những dấu hiệu quyết định của chủ nghĩa hiện thực 20 trong sân khấu Tuy nhiên, việc công nhận vai trò chủ đạo của kịch bản trong nghệ thuật sân khấu không hề làm giảm nhẹ và hạ thấp ý nghĩa của sân khấu với tính cách là một lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật độc lập Vở diễn không phải là bản sao của kịch bản mà là tác phẩm nghệ thuật mới được sáng tạo trên cơ sở kịch bản Bản thân kịch bản cũng cần sân khấu cũng như sân khấu cần kịch bản Tất nhiên kịch bản có thể được người đọc cho là hay, nhưng nó được sáng tác trước tiên là cho người xem Ở ngoài sân khấu, kịch bản không thể bộc lộ toàn bộ nội dung phong phú hàm chứa trong nó một cách cần thiết 21
Trang 23Kịch bản khi đã hoàn thành sẽ được chuyển giao cho đạo diễn sân khấu Nghệ thuật đạo diễn sân khấu là lĩnh vực hoạt động có tính chất quyết định của một
vở diễn Nghệ thuật đạo diễn sân khấu bắt đầu hình thành và giữ vị trí chủ chốt trong nghệ thuật sân khấu từ đầu thế kỉ XX Đạo diễn có thẩm quyền xử lý kịch bản, làm việc với diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ thiết kế,… nhằm hướng vở diễn đạt tới ý đồ mục đích nghệ thuật cuối cùng của mình Nghệ thuật đạo diễn sân khấu có tác dụng tích cực nâng cao chất lượng vở diễn, giúp cho nghệ thuật sân khấu phát triển phong phú và đa dạng [85:91]
Diễn viên là nhân tố chủ yếu biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật sân khấu Diễn viên đã tái thể hiện nhân vật và sự kiện trong kịch bản thông qua diễn xuất của mình Diễn viên làm cho nhân vật kịch bản trở thành người sống với tất cả suy nghĩ, hành động bên trong cũng như hành động bên ngoài Nhờ tài năng biểu diễn của diễn viên mà bộ xương kịch bản trở thành những cơ thể sống có tâm hồn, gây ấn tượng sâu sắc cho khán giả [102:445]
Trong nghệ thuật sân khấu, không thể không kể đến tầm quan trọng của âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật sân khấu; những yếu tố này sẽ hỗ trợ cho nghệ thuật diễn xuất của diễn viên, giúp khán giả có điều kiện cảm thụ nghệ thuật một cách hiệu quả
và toàn diện hơn
Sự thành công của một vở diễn sân khấu được tạo nên bởi nhiều thành tố Bên cạnh bản thân vở diễn, đối tượng thưởng thức cũng là một thành tố cơ bản của sân khấu Khán giả - những người xem biểu diễn sân khấu, thành phần cuối cùng tham gia vào quá trình xây dựng hoàn chỉnh vở diễn (sáng tác - biểu diễn - thưởng thức), là mục đích sáng tạo của diễn viên và đạo diễn, là đối tượng phục vụ, là khách hàng tiêu thụ sản phẩm (vở diễn) Không có khán giả thì mọi sáng tạo của đạo diễn, diễn viên trở nên vô nghĩa Số lượng khán giả, thái độ xem của khán giả có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sáng tạo của diễn viên trên sân khấu [84:485]
Nghệ thuật sân khấu thường được phân loại thành kịch hát, kịch múa, kịch nói, kịch câm,… Bản thân cách gọi này đã nói lên đặc trưng biểu diễn của từng loại hình Từ cái gốc là kịch bản, mỗi loại hình có những chất liệu riêng để làm nên một
Trang 24vở diễn: kịch hát là âm nhạc, kịch múa là vũ đạo, kịch nói là văn học [16:200] Bên cạnh đó còn có những cách khác để phân loại nghệ thuật sân khấu Căn cứ vào cơ sở xung đột kịch thì có thể chia thành: bi kịch, hài kịch, chính kịch [102:401] Căn cứ theo thời gian biểu diễn thì có thể chia thành: kịch dài, kịch vừa và kịch ngắn [84:559]
1.1.1.2 Nghệ thuật sân khấu là một thành tố văn hoá
Văn hoá là một tiêu chí quan trọng để xác định một tộc người 22
hay một dân tộc 23 Văn hoá thường được phân loại thành văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần (bao gồm cả văn hoá xã hội) Văn hoá vật chất theo nghĩa rộng là tổng hoà tất cả sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định, như: cơ sở tôn giáo, nhà ở, trang phục, ẩm thực, công cụ sản xuất (nông cụ, ngư cụ, bẫy thú, công cụ nghề thủ công,…), phương tiện di chuyển (ghe, tàu, xe,…) Văn hoá tinh thần hội tụ những khía cạnh thuộc về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán (liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội,…), các loại hình sân khấu, văn học dân gian, âm nhạc, lễ hội,… Văn hoá xã hội bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội, các quy tắc xã hội về hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế văn hoá, xã hội, đời sống pháp luật, tổ chức chính trị,… UNESCO phân loại văn hoá theo góc độ di sản văn hoá, gồm văn hoá vật thể là những yếu tố vật chất trong hiện vật văn hoá như đình, chùa, miếu, nhà cửa, trang phục, ẩm thực,… và văn hoá phi vật thể là các biểu hiện tượng trưng của văn hoá, là những yếu tố tinh thần trong hiện vật văn hoá như âm nhạc, múa, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, bí quyết của nghệ nhân trong chế tác nghề thủ công,… Sự
- xã hội - quốc gia Việt Nam [Hoàng Phê (chủ biên 2010), sđd, tr 331].
Trang 25phân loại này chỉ mang tính tương đối vì giữa chúng không có ranh giới rạch ròi mà luôn gắn bó hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành đặc trưng văn hoá tộc người cũng như tổng thể văn hoá tộc người [25:103-105]
Trong nghiên cứu văn hoá, cần phân biệt văn hoá của tộc người và văn hoá
tộc người Văn hoá của tộc người là tổng thể những thành tựu văn hoá thuộc về một
tộc người nào đó, do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu vay mượn của các tộc
người khác trong quá trình lịch sử [25:73], còn văn hoá tộc người thì bao gồm tổng
thể những yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người, làm cho tộc người này khác với tộc người khác [25:74] Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể phân định một cách rạch ròi giữa văn hoá của tộc người và văn hoá tộc người Trên thực tế, một số hiện tượng văn hoá được du nhập trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá đã được bản địa hoá, trở thành văn hoá tộc người, mang sắc thái tộc người [25:74]
Văn hoá của bất cứ tộc người nào cũng đều bao hàm những loại hình nghệ thuật Nghệ thuật không chỉ đáp ứng những nhu cầu thiết thực của đời sống vật chất, tinh thần, xã hội của tộc người mà còn thường được tô điểm, trang trí theo quan niệm, theo tâm thức cội rễ sâu xa của tộc người đó Có thể nói sự biểu đạt thẩm mỹ trong nghệ thuật là một trong những phương tiện giúp phân biệt được đặc trưng văn hoá của từng dân tộc, từng vùng [25:118] Là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, sân khấu luôn phản ánh thực tế nền văn hóa của nó, tức là phản ánh tâm lý, sắc thái văn hoá cội nguồn, truyền thống của dân tộc đó Như vậy, loại hình nghệ thuật sân khấu
là một thành tố của văn hoá
Nghệ thuật không nhất thiết phải đi kèm với giá trị cao về kinh tế, nhưng nghệ thuật luôn có giá trị rất cao về văn hoá, thậm chí là vô giá [25:141] Nghệ thuật sân khấu cũng thế Việc muốn hiểu thấu đáo cũng như diễn giải ý nghĩa nghệ thuật sân khấu của một dân tộc chỉ có thể được thực hiện bởi chính những người trong cuộc của xã hội ấy Dĩ nhiên một người thuộc một nền văn hoá khác vẫn có thể thưởng thức, đánh giá, đồng cảm với nghệ thuật sân khấu của dân tộc khác về đặc
Trang 26tính thẩm mỹ, nhưng họ sẽ khó có thể hiểu biết, cảm nhận sâu sắc trọn vẹn ý nghĩa cội nguồn của nền văn hoá khác với văn hoá của họ
1.1.2 Lý thuyết nghiên cứu và quan điểm tiếp cận của đề tài
1.1.2.1 Chức năng luận (Functionalism)
Trường phái chức năng gắn với tên tuổi của nhà nhân học Bronislaw Kaspar Malinowski 24 (1884-1942) Theo Malinowski, “bất kì văn hóa nào trong tiến trình phát triển của nó đều tạo ra một hệ thống cân bằng và ổn định, trong đó, mỗi bộ phận của chỉnh thể đều thực hiện một chức năng của nó Nếu triệt tiêu một yếu tố nào đó trong văn hoá thì toàn bộ hệ thống văn hóa tộc người sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại” [25:25] Các nhà chức năng luận nhấn mạnh đến phương pháp nghiên cứu hệ thống văn hoá, phương pháp so sánh và đặt vấn đề nghiên cứu các tập tục trong bối cảnh xã hội của nó [25:26]
Vì vậy, khi tìm hiểu văn hóa tộc người, phải tìm hiểu từ bên trong với việc thực hiện các chức năng khác nhau của nó và phải luôn tôn trọng các giá trị văn hóa
do tộc người đó tạo ra Vận dụng lý thuyết trên, chúng tôi xem văn hóa của người Khmer Nam Bộ là một hệ thống mà trong đó loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê - đối tượng nghiên cứu của đề tài - là một trong những yếu tố cấu thành nên hệ thống văn hoá đó, đồng thời, bản thân nghệ thuật sân khấu Dù kê cũng là một hệ thống được tạo nên bởi nhiều thành tố văn hoá Khmer Nam Bộ
1.1.2.2 Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hoá (Acculturation)
Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học Anglo - Saxon
đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau mà hệ quả là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa
hoặc của cả hai nền văn hóa đó Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn
24 Bronislaw Kaspar Malinowski: Nhà nhân học văn hoá người Anh gốc Ba Lan Trở thành giáo sư Đại học London từ năm 1927, đến năm 1933 sang Mỹ làm giáo sư Đại học Yale Đề ra học thuyết chức năng trên cơ
sở những kết quả điều tra điền dã ở quần đảo Trobriand ( Papua New Guinea) [Vũ Minh Chi (2004), Nhân học
văn hóa - Con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 417].
Trang 27hoá là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa
khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy [25:107]
Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa,
đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các hình mẫu văn hóa nguyên thủy của một cộng đồng hoặc của cả hai cộng đồng có thể bị biến đổi thông qua quá trình tiếp xúc này Các thành tố của các nền văn hóa biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình [25:107]
Bối cảnh xã hội là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển các thành tố văn hoá của một dân tộc Nền văn hoá cụ thể của một dân tộc
là nền văn hoá trong một xã hội cụ thể “Sự biến đổi của văn hoá có liên quan chặt chẽ với sự biến đổi xã hội” 25, tức là sự biến đổi xã hội sẽ tác động mạnh mẽ tới sự biến đổi văn hoá Các loại hình nghệ thuật là yếu tố cấu thành văn hoá dân tộc, do
đó, trong quá trình phát triển xã hội, nó cũng biến đổi cho phù hợp với môi trường mới Sự biến đổi này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: sự phát triển văn hóa trong khu vực; sự tiếp xúc của các tộc người qua lao động, trao đổi mua bán, hôn nhân, du
lịch,… Những biến đổi này có thể xét trên hai tính chất của văn hóa là tính truyền
thống - hiện đại (hay tính ổn định - biến đổi) và tính cộng sinh văn hoá
Tính truyền thống (hay ổn định) của văn hoá được thể hiện ở việc văn hoá được tích luỹ, lưu truyền, tái tạo trong cộng đồng, do đó, trong bất cứ xã hội nào, cộng đồng nào cũng đều có truyền thống văn hoá của nó Tuy nhiên, không có một nền văn hoá nào tồn tại trong trạng thái bất biến hoàn toàn mà nó luôn trải qua những biến đổi, nhất là trong thời kỳ hội nhập vào hệ thống xã hội hiện đại Quá trình biến đổi này đã tạo nên tính biến đổi (hay hiện đại) của văn hoá Như vậy, khi nghiên cứu văn hoá của tộc người phải nghiên cứu văn hoá truyền thống trong sự biến đổi, thể hiện nó ở trạng thái động - một quá trình trong đó có các yếu tố văn
25 Xem Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí
Minh, tr 29.
Trang 28hóa truyền thống bền vững, có yếu tố mất đi, có yếu tố được tái tạo, có yếu tố biến đổi, cách tân [25:109]
Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá thường diễn ra hiện tượng cộng
sinh văn hoá, tức là sự cùng tồn tại của yếu tố nội sinh và ngoại sinh của nhiều
thành tố văn hoá thuộc những nền văn hoá khác nhau Yếu tố nội sinh chính là yếu
tố văn hoá bản địa, còn yếu tố văn hoá do tiếp nhận và ảnh hưởng từ bên ngoài gọi
là ngoại sinh Những yếu tố văn hoá ngoại sinh khi gặp gỡ với văn hoá nội sinh có thể nảy sinh những hiện tượng tích cực cũng như tiêu cực: nếu không có sự chọn lọc, không có bản lĩnh của phía tiếp nhận thì có khi văn hoá bản địa sẽ phải trả giá rất đắt; còn nếu nội lực của văn hoá bản địa vững vàng sẽ tránh được tình trạng bị động, phụ thuộc khi các yếu tố văn hoá ngoại sinh xâm nhập [25:110]
Trong quá trình phát triển văn hoá dân tộc, yếu tố nội sinh bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo, củng cố nền tảng bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc đó Trên nền tảng văn hoá nội sinh, yếu tố văn hoá ngoại sinh du nhập vào sẽ làm phong phú
đa dạng hơn cho nền văn hoá bản địa, vì vậy yếu tố văn hoá ngoại sinh cần được sàng lọc, lựa chọn sao cho hài hoà với văn hoá bản địa Nhiều yếu tố văn hoá ngoại sinh sau khi xâm nhập vào nền văn hoá bản địa đã được tiếp nhận trở nên hoà hợp,
và nhanh chóng hoà trộn với văn hoá nội sinh, lâu dần trở thành yếu tố nội sinh, hay
nói cách khác là yếu tố văn hoá ngoại sinh đã được nội sinh hoá, bản địa hoá Yếu
tố bản địa, nội sinh đã làm nền tảng để tiếp nhận, cải biến, chuyển đổi những yếu tố ngoại sinh bên ngoài, làm cơ sở để nối các yếu tố ngoại sinh từ nhiều nguồn hơn vào dòng chảy văn hoá dân tộc [25:110-111]
Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hoá cùng với quan điểm về biến đổi văn hoá gắn liền với bối cảnh xã hội được vận dụng vào việc nghiên cứu loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê của người Khmer Nam Bộ Một là phải nghiên cứu sân khấu Dù kê trong mối quan hệ giữa tính ổn định và biến đổi của nó Hai là để làm rõ những yếu
tố văn hóa nội sinh của sân khấu Dù kê, đồng thời nhận biết những yếu tố ngoại sinh
đã được người Khmer Nam Bộ tiếp nhận khi cộng cư với người Kinh, người Hoa và
Trang 29trong quá trình tiếp xúc qua lại với đồng tộc - người Khmer ở Campuchia đã dần dần được nội sinh hoá trong sân khấu Dù kê dưới sự thay đổi của bối cảnh xã hội
1.1.2.3 Đặc thù luận lịch sử (Historical Particularism) và tương đối luận
văn hoá (Cultural Relativism)
Trong đặc thù luận lịch sử, theo Franz Boas 26 (1858-1942), “một mặt ông thừa nhận tính thống nhất và quy luật chung của sự phát triển văn hoá nhân loại, mặt khác, ông đã khẳng định một cách hoàn toàn có lý rằng văn hoá của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể” [25:24] Do đó, khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi luôn gắn chặt việc nghiên cứu văn hóa Khmer trong bối cảnh lịch sử hình thành cộng đồng Khmer Nam Bộ, bối cảnh xã hội và những điều kiện địa lý môi sinh ở vùng đất Nam Bộ
Bên cạnh đó, Boas còn nhấn mạnh tầm quan trọng của tương đối luận văn hoá với ý tưởng chủ yếu là thừa nhận sự bình đẳng của các giá trị văn hoá do các cư dân khác nhau sáng tạo ra Ông cho rằng, không có một nền văn hoá nào cao hơn một nền văn hoá khác, không có sự hơn kém, tốt xấu giữa các nền văn hoá Đó cũng
là việc thừa nhận tính độc lập và giá trị tự thân của mỗi nền văn hoá, là sự khước từ những nguyên tắc tộc người trung tâm khi so sánh các nền văn hoá của các cư dân khác nhau 27
Việt Nam có 54 dân tộc Trong một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc khác nhau sẽ có vai trò khác nhau, từ đó xuất hiện khái niệm dân tộc đa số và dân tộc thiểu số “Dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất, so với các dân tộc chiếm số
ít, trong một nước có nhiều dân tộc” [17:331], còn “Dân tộc thiểu số là dân tộc có
26
Franz Boas: Nhà nhân học văn hoá Mỹ, sinh ở Đức, sang Mỹ nghiên cứu điều tra năm 1886 Trở thành giáo
sư Đại học Colombia từ năm 1899 đến năm 1936 và là thầy của nhiều nhà nhân học nổi tiếng khác nên được xem là ông tổ của nhân học văn hoá Mỹ Du nhập khái niệm lĩnh vực văn hoá, đặc tính văn hoá vào việc giải thích có phân tích quá trình truyền bá văn hoá của dân bản xứ Bắc Mỹ Cũng có thể xem ông là người khai phá ra con đường đi tới lý thuyết phương thức văn hoá và thuyết biến đổi văn hoá [ Vũ Minh Chi (2004), sđd,
tr 416]
27 Xem thêm Khoa Nhân học (2008), sđd, tr 23-24 và tr 106-107
Trang 30dân số ít (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó, có một dân tộc có số dân đông nhất” 28
Cụ thể, ở Việt Nam, dân tộc Kinh là dân tộc đa số còn 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu số Như vậy, một đặc điểm quan trọng khi hiểu về dân tộc thiểu số là dân tộc đó có ít người so với dân tộc đa số chiếm phần đông cư dân trong một quốc gia nhất định Do đó, ở Campuchia, người Khmer là dân tộc đa số nhưng ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc thiểu số Thế nên, chính sách đối với dân tộc Khmer ở Việt Nam - người Khmer Nam Bộ là chính sách đối với dân tộc thiểu số
Vận dụng quan điểm trên khi xét trong sự tương quan với văn hoá của người Kinh - dân tộc đa số, văn hoá của người Khmer Nam Bộ - dân tộc thiểu số, mang những đặc trưng với giá trị và vai trò riêng, biểu hiện cụ thể qua loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê
1.2 Khái quát về người Khmer Nam Bộ
1.2.1 Lược sử về vùng đất Nam Bộ và cộng đồng Khmer Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời Năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret đã tiến hành một cuộc khai quật ở địa điểm Óc Eo 29 Nhiều di tích kiến trúc và hiện vật quý đã được phát hiện và được chứng minh là di tích vật chất của nước Phù Nam Niên đại các di chỉ thuộc văn hoá Óc Eo 30 phù hợp với thời kỳ tồn tại của quốc gia Phù Nam được phản ánh trong các sử liệu chữ viết Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của Việt Nam, cư dân chủ thể là người Mã Lai - Đa Đảo có truyền thống hàng hải và thương
28 Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyển 1 (A - Đ),
Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 655
29 Địa điểm Óc Eo: Tên một cánh đồng gần núi Ba Thê (nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) Theo dân địa phương, địa danh này trong tiếng Khmer có thể đọc là Ô Keo, có nghĩa là một vùng trũng (Ô) phát ra ánh sáng lóng lánh như thuỷ tinh (Keo) Sở dĩ cánh đồng này được đặt tên như vậy vì dân địa phương thường thấy ở đây những ánh sáng lạ phát ra vào ban đêm mà không hiểu vì sao [Vũ Minh
Giang (chủ biên 2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam, Thế giới, Hà Nội, tr 15]
30 Văn hoá Óc Eo: Trung tâm của một nền văn hoá lớn thời đại đồng thau và sắt sớm ở Tây Nam Bộ ngày nay Văn hoá Óc Eo trở thành cơ sở của vương quốc Phù Nam tồn tại ở các thế kỉ I – VI [Trương Hữu Quýnh
(chủ biên 2003), Sổ tay kiến thức lịch sử - Phần lịch sử Việt Nam, Giáo dục, Hà Nội, tr 179]
Trang 31nghiệp khá phát triển Phù Nam đã phát triển thành đế chế lớn mạnh từ thế kỉ III đến thế kỉ VI nhưng đến cuối thế kỉ VI thì bắt đầu quá trình tan rã 31
Quốc gia Chân Lạp do người Khmer (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ hệ Nam Á) xây dựng, lúc bấy giờ ở vùng trung lưu sông Mê Kông 32 và khu vực phía Bắc Biển Hồ 33, lấy nông nghiệp là nghề sống chính, là một thuộc quốc của Phù Nam Chân Lạp đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỉ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỉ VII - phần lãnh thổ tương ứng với vùng đất Nam Bộ của Việt Nam ngày nay [98:20]
Sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam, xuất hiện tên gọi “Thuỷ Chân Lạp” để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ và để phân biệt với vùng đất “Lục Chân Lạp”, tức là vùng đất gốc của Chân Lạp - vương quốc Campuchia hiện nay
Từ đây, vùng đất Nam Bộ trên danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát của Lục Chân Lạp, nhưng trên thực tế thì khác Do nhiều khó khăn chủ quan như dân số ít, chưa quen với việc khai thác vùng đồng bằng mới bồi lấp còn ngập nước, sình lầy nên Lục Chân Lạp không trực tiếp chiếm giữ Thuỷ Chân Lạp mà phải giao lại cho những người thuộc dòng dõi Phù Nam quản lý Từ thế kỉ IX đến cuối thế kỉ XI, Chân Lạp tập trung sức lực để phát triển các vùng trung tâm truyền thống của mình
ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông và hướng nỗ lực mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây đã tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ Vì thế, vùng đất Thuỷ Chân Lạp không chịu nhiều ảnh hưởng của Lục Chân Lạp [98:23-24] Cho đến thế
kỉ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ vẫn thưa thớt Viên quan Trung Quốc tên là Chu
Đạt Quan từng đến Chân Lạp vào thời gian này đã ghi lại điều đó trong Chân Lạp
phong thổ ký là: “Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, phần lớn là rừng thấp cây rậm Sông
31 Xem thêm Vũ Minh Giang (chủ biên 2008), sđd, tr 15 đến tr 20.
32 http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AA_K%C3%B4ng [Mê Kông]
33 http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_H%E1%BB%93 [Biển Hồ]
Trang 32dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở đó” 34
Từ thế kỉ XII, những người nông dân Khmer nghèo khổ, bị các thế lực phong kiến của đế chế Angkor đàn áp, bóc lột với các loại thuế khoá nặng nề, đã tìm đến vùng đất Nam Bộ Tại đây, họ tập trung sống ở các giồng cát lớn, cư trú theo từng khu vực, dựa trên mối quan hệ dòng họ và gia đình Từ thế kỉ XV, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiến Thái Lan, đặc biệt là vương triều Ayutthaya 35, nhiều nhóm người Khmer, trong đó có cả sư sãi và trí thức Khmer đã
di cư đến khu vực Nam Bộ sinh sống Tại đây, họ hoà nhập với những người Khmer đến trước hình thành các điểm dân cư tập trung của người Khmer [95: 22] 36
Nhìn chung, người Khmer ở Nam Bộ và người Khmer ở Campuchia là những người đồng tộc có cùng nguồn gốc cư dân, có chung ngôn ngữ, tôn giáo và một số đặc trưng dân tộc Do sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian dài nên người Khmer Nam Bộ đã hình thành những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hoá, xã hội Sau đó, cùng với quá trình cộng cư với các dân tộc khác diễn ra liên tục từ thế kỉ XVII và đặc biệt là từ khi chúa Nguyễn và nhà Nguyễn quản lý vùng đất Nam Bộ, người Khmer Nam Bộ trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Như vậy, văn hoá của người Khmer ở Nam
Bộ có nhiều điểm khác biệt so với văn hoá của người Khmer ở Campuchia
1.2.2 Một số đặc điểm về loại hình cư trú, kinh tế, xã hội và văn hoá của người Khmer Nam Bộ
Hiện nay, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có dân số là 1 260 640 người, chiếm tỷ lệ 1,46% trong tổng dân số cả nước,
34 Xem Chu Đạt Quan (2011), Chân Lạp phong thổ ký, Hà Văn Tấn dịch, Thế giới, Hà Nội, tr 37
35 http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91c_Ayutthaya [Vương quốc Ayutthaya]
36 Xem thêm Võ Văn Sen (chủ biên 2010), Một số vấn đề cấp bách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
Trang 33đứng thứ năm sau người Kinh, người Tày, người Thái và người Mường 37 Họ cư trú tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ): đông nhất là ở Sóc Trăng (397 014 người, chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Khmer tại Việt Nam) và Trà Vinh (317 203 người, chiếm 31,6% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Khmer tại Việt Nam), Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang; một bộ phận sống rải rác ở khu vực Đông Nam Bộ: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh,…38
Người Khmer có mặt ở hầu hết các tỉnh của vùng đất Nam Bộ nhưng quy tụ vào ba vùng trọng điểm, mỗi vùng có những sắc thái riêng quy định bởi điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và quá trình cộng cư hòa hợp với các dân tộc anh em Kinh, Hoa, Chăm Đó là: vùng Trà Vinh - Trà Cú là một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của người Khmer; vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu là vùng cư trú nổi bật bởi sự hòa hợp văn hóa - nhân chủng giữa ba dân tộc Khmer, Kinh, Hoa; vùng ven biên giới Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) là vùng mang tính trung gian giữa người Khmer ở Nam Bộ và người Khmer ở Campuchia
Từ xa xưa, người Khmer Nam Bộ đã có truyền thống trồng lúa nước Cho đến nay, hoạt động kinh tế chính của cư dân Khmer Nam Bộ vẫn là sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi); đánh bắt ven bờ, một số ngành thủ công nghiệp (đan lát, đóng thuyền, dệt vải, làm gốm, nấu đường thốt nốt) Chính nền sản xuất nông nghiệp đã chi phối cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ
Là cư dân nông nghiệp lúa nước nên yếu tố tự nhiên của địa hình đã ảnh hưởng đến các kiểu, loại hình cư trú của người Khmer Nam Bộ Họ thường cư trú tập trung trong một khu vực bám sát đất trồng trọt hình thành phum và srok (sóc), xen kẽ với các ấp, xã của người Kinh và khu dân cư của người Hoa Phum và sóc
37 http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_c%C3%A1c_d%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Vi%E1%BB
%87t_Nam_theo_s%E1%BB%91_d%C3%A2n [Danh sách các dân tộc Việt Nam theo số dân]
38 http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khmer_Vi%E1%BB%87t_Nam [Người Khmer]
Trang 34trước đây là những đơn vị tổ chức xã hội cổ truyền trên địa bàn cư trú của người Khmer Nam Bộ Nhờ khuôn khổ phum sóc ấy, từng người Khmer đã sinh ra, lớn lên, làm ăn, hoạt động trong không gian xã hội của mình Chính không gian văn hóa - xã hội này đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa Khmer Nam Bộ
Tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ phần lớn có liên quan đến nông nghiệp như thờ Mặt trăng, thờ Hồn lúa (Mẹ lúa), thờ Arăk, Neak Tà Đa số người Khmer theo Phật giáo Theravada hay còn gọi là Phật giáo Nam tông 39 Phật giáo đã chi phối sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ Triết lý Phật giáo đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong ý thức hệ của người Khmer Họ đặt mọi niềm tin vào Phật giáo mà điểm hội tụ là các ngôi chùa và sư sãi Mỗi phum, sóc có
ít nhất một ngôi chùa Hiện nay, cả vùng Nam Bộ có 460 ngôi chùa Phật giáo Nam tông 40 Chùa là công trình kiến trúc độc đáo, là không gian thiêng liêng, là trung tâm tôn giáo - văn hoá của người Khmer Nam Bộ Do cùng cộng cư lâu dài với người Khmer Nam Bộ, nên dù không theo Phật giáo Nam tông nhưng người Kinh, người Hoa trong vùng vẫn đi chùa Khmer cầu Phật, cúng dường và mời các vị sư Khmer về nhà cầu kinh, ban phước lành
Lễ hội của người Khmer Nam Bộ mang đậm dấu ấn của lễ nghi nông nghiệp, tín ngưỡng dân gian, nghi thức của Bà la môn giáo và Phật giáo Nam tông 41 Một
số lễ hội tiêu biểu như Chol Chnam Thmây (lễ vào năm mới), Sen Đolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), lễ cầu an, lễ dâng bông, lễ dâng y,… Do sống cộng cư nên lễ hội của dân tộc này cũng là dịp để các dân tộc khác chung vui và tham gia mừng lễ Đặc biệt là vào dịp Ok Om Bok, ở Sóc Trăng và Trà Vinh tổ chức
39 Phật giáo Nam tông của người Khmer gồm các giáo phái: Mohanikay (có nghĩa là Phái lớn) và Thommayut (có nghĩa là Làm đúng theo Phật pháp) Phái này nguyên của hoàng tộc Campuchia lập ra, Việt Nam chỉ có
mười tám chùa ở An Giang [Phan Thị Yến Tuyết (2011), Tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam, Chuyên đề
Cao học, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh]
40 Xem Thạch Muni (2013), “Các loại hình nghệ thuật của đồng bào Khmer Nam Bộ - Thực trạng và giải
pháp”, tham luận trong Hội thảo khoa học Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ - Di sản văn hoá dân
tộc, Đại học Trà Vinh, Trà Vinh, tr 66
41 Xem Trường Lưu (chủ biên 1993), Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Văn hóa dân
tộc, Hà Nội, tr 71 đến tr 105
Trang 35lớn nên thu hút đông đảo người Khmer, Kinh, Hoa ở địa phương và cả khu vực khác cùng tham gia Hội đua ghe ngo, hội đua bò của người Khmer Nam Bộ đã trở thành một cuộc đua hứng thú, thu hút đông đảo người Kinh tham gia cổ vũ nhiệt tình cho đội đua ở địa phương mà họ sống hoặc có quan hệ gần gũi với người Khmer Nam
Bộ Mặt khác, do họ cũng là người Việt Nam, nên ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Kinh, người Khmer Nam Bộ cũng xem trọng
Ở vùng đất Nam Bộ, việc kết hôn giữa hai người thuộc các dân tộc khác nhau
rất phổ biến Các đám cưới hỗn hợp Khmer - Kinh hay Khmer - Hoa thì được tiến
hành theo hai hình thức: nếu nhà trai là người Kinh hay người Hoa thì làm theo nghi thức Kinh hay Hoa ở nhà trai, sau đó đến nhà gái thì làm theo nghi thức Khmer; nếu nhà trai là Khmer thì ngược lại, làm theo nghi thức Khmer rồi đến nhà gái làm theo nghi thức cưới của người Kinh hay người Hoa Việc cô dâu, chú rể có nguồn gốc dân tộc khác nhau đã làm cho các nghi thức thay đổi ít nhiều Tùy theo sự thỏa thuận của hai họ mà các nghi thức có thể được giữ lại hoặc bỏ đi Tuy nhiên, đối với
người Khmer, lễ cột tay 42 trong đám cưới là rất quan trọng nên thường được giữ lại
và cô dâu chú rể cũng mặc trang phục cưới truyền thống khi tiến hành nghi thức này
Là một dân tộc có tiếng nói và chữ viết riêng từ lâu đời, người Khmer Nam
Bộ đã biết ghi chép những sáng tác dân gian, những sự kiện lịch sử, văn hoá, tôn giáo mà đến nay vẫn còn tồn tại trên bia đá, trên lá buông, trên giấy xếp hoặc trên những tấm da thô Tuy nhiên, văn học dân gian thì vẫn gần gũi hơn với đời sống của người dân Văn học dân gian Khmer Nam Bộ thường được chia thành ba mảng chính là truyện dân gian, tục ngữ và dân ca Trong đó, truyện dân gian bao gồm các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười Đây là nguồn cảm hứng sáng tạo cho những loại hình nghệ thuật khác: điêu khắc, hội hoạ,… và cũng được khai thác để biểu diễn trên sân khấu, đặc biệt là thần thoại và truyện cổ tích Văn học viết là một biểu hiện của sự phát triển cao của văn hoá
Trang 36Khmer Nam Bộ, phần lớn được lưu giữ trên các tập lá buông Trong đó nổi bật là những tập ghi chép về Phật thoại và kinh Phật, đây là những pho sách cổ rất quý hiện vẫn được lưu giữ trong các ngôi chùa Nam tông và bảo tàng Khmer Ngoài ra còn có những truyện thơ cổ, diễn ca truyện dân gian, đa số xoay quanh đề tài diệt Chằn cứu người với hai tuyến nhân vật thiện - ác rõ rệt Đây chính là nguồn tư liệu dồi dào để soạn thành kịch bản sân khấu Rô băm, sân khấu Dì kê và sau này là sân khấu Dù kê 43
Ở vùng đất Nam Bộ, người Khmer hiểu và nói được tiếng Việt còn một bộ phận người Kinh và người Hoa hiểu hoặc nói được tiếng Khmer Trong giao tiếp hàng ngày, người dân chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác một cách rất tự nhiên tạo nên hiện tượng song ngữ, tam ngữ ở vùng đất này Bên cạnh đó, các dân tộc thường vay mượn các lớp từ vựng thông dụng của nhau 44 Tuy nhiên, bản thân mỗi dân tộc đều có ý thức gìn giữ tiếng nói riêng Người Khmer Nam Bộ dù vẫn có thể hiểu và nói được tiếng Việt nhưng họ vẫn thích giao tiếp bằng tiếng Khmer hơn
43 Xem Trường Lưu (chủ biên 1993), sđd, tr 150 đến tr 223
44 Sự vay mượn từ vựng lẫn nhau giữa các dân tộc diễn ra phổ biến Có thể kể những lớp từ ngữ mà tiếng Việt
đã vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Khmer Một là, từ mượn có liên quan đến các vật dụng của người Khmer Nam Bộ: cà-ràng: một loại bếp; cần xé: một loại giỏ lớn bằng tre đan khít; cà-om: một loại nồi đất; xà neng: dụng cụ đan bằng nan tre của người Khmer, có hình một cái xuổng, người Khmer dùng để bắt cá; nóp: bao đệm dùng để ngủ thay chiếu và mùng, Hai là, từ mượn có liên quan đến các món ăn truyền thống của người Khmer Nam Bộ: mắm bồ hóc, mắm bò ót, canh sim lo (hay sum lo) Ba là, từ mượn có liên quan đến cây cối: cây thốt nốt, cây chùm ruột, cây tầm vông, trái cà na,… Bốn là, từ mượn có liên quan đến các loại cá: cá tra,
cá vồ, cá bông lau, cá chốt, cá thát lát,… Năm là, từ mượn chỉ địa hình: bưng trong bưng biền, vàm,… Sáu là,
từ mượn chí các hình thức sinh hoạt, nghệ thuật: Rô băm, Dù kê, lâm thôn, rom vong,… Bảy là, từ mượn chỉ trang phục: xà rông, quần xà lỏn,… Trong quá trình giao lưu ngôn ngữ, bên cạnh việc làm phong phú thêm kho từ vựng Nam Bộ, tiếng Khmer còn bổ sung thêm sắc thái biểu cảm Ví dụ, khi nói về sự cô độc hay cô đơn, người Nam Bộ thường nói “mình ên” thay vì “một mình” “Mình” là yếu tố tiếng Việt, “ên” là yếu tố Khmer cũng có nghĩa là một mình Hiện nay, quá trình sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày, người Khmer thường xen thêm yếu tố tiếng Việt trong câu nói của mình: Êng onki giường tâu (Mày ngồi trên giường đi); Khnhôm tâu chặc xăng muôi phlét (Tôi đi đổ xăng một chút); Photo ồi ành phon! (Phô
tô cho tao với!),…[Xem Triệu Văn Phấn (chủ biên 2012), Ngữ văn địa phương Trà Vinh, Giáo dục Việt Nam,
Bến Tre, tr 92 - 93]
Trang 37Vì vậy, hiện tượng một người nói tiếng Khmer và một người nói tiếng Việt trong giao tiếp với nhau là việc phổ biến ở đây
H: Cùng chung sống với người Kinh, người Hoa trên mảnh đất Nam Bộ thì ngôn ngữ có sự ảnh hưởng qua lại không ạ?
TL: Nói chung, trong quá trình giao tiếp giữa các dân tộc thì không thể tránh khỏi việc vay mượn từ vựng, đặc biệt là vay mượn những từ ngữ nổi bật, đặc trưng của các dân tộc khác Ví dụ, người Kinh, người Hoa phát triển hơn ở lĩnh vực thương mại thì người Khmer vay mượn lớp từ vựng này
(Trích Biên bản phỏng vấn số 16, Phụ lục 3)
Tôi đến ấp Tắc Gồng vào lúc 17 giờ Lúc này, một số anh chị diễn viên và các nhân viên của đoàn đang ngồi trò chuyện nên tôi cũng tham gia (đã quen biết trong cuộc phỏng vấn hôm qua) Các anh chị nói tiếng Khmer xen lẫn tiếng Việt nên tôi có thể hiểu được Cuộc trò chuyện diễn ra thân mật và vui vẻ
(Trích Nhật ký điền dã ngày 21 tháng 02 năm 2013, Phụ lục 1)
Các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, múa và sân khấu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ
Âm nhạc của người Khmer Nam Bộ được thể hiện trong các môi trường diễn xướng khác nhau Bộ phận hát trong lao động - sinh hoạt gồm: Thứ nhất là hát lao động gồm có hát quăng chài, ném lưới; hát bổ củi; hát dệt vải; hát đập cói, dệt chiếu; hát nghề nông (hát nhổ mạ, hát cấy lúa, hát giã gạo, );… Thứ hai là hát ru con Thứ
ba là hát dành cho các trò chơi của trẻ em (bắt con diều với lời hát là bài đồng dao)
và những bài hát theo lối hát đối đáp tập thể giữa hai phe nam nữ gắn với trò chơi của thanh thiếu niên như kéo co, giấu khăn, Thứ tư là hò: hò kéo cày, hò kéo thuyền, hò đua ghe,… Bộ phận hát trong phong tục - lễ nghi: chủ yếu là những bài hát trong lễ cưới và những bài ca cầu khấn trong lễ cúng Arăk, Neak Tà và trong các
Trang 38lễ nghi nông nghiệp Bộ phận hát trữ tình: Aday (đối đáp), Chom riêng (độc xướng cùng với cây đàn, thường là đàn chà pây hay tà khê) 45
Người Khmer Nam Bộ có ba loại dàn nhạc Thứ nhất là dàn nhạc dân gian (còn gọi là dàn nhạc dây) thường có mặt trong các dịp sinh hoạt ca múa hội hè vui chơi và đặc biệt là trong đám cưới Dàn nhạc cưới gồm các nhạc cụ như truô u, truô
sô, khưm, khlôy, skô đay, krap Thứ hai là dàn nhạc lễ (còn gọi là dàn nhạc gõ) Đây
là dàn nhạc ngũ âm, năm âm được xác định theo năm chất liệu khác nhau để tạo nên các nhạc cụ, đó là đồng, sắt, gỗ, da và hơi tạo ra âm lượng rất lớn, thường được dùng trong những ngày lễ ở chùa, trong các đám phước, hoặc trong các lễ tang Dàn nhạc này bao gồm các nhạc cụ: rôneat ek, rôneat thung, rôneat đek, kôông tôch, kôông thum, skô samphô, skô thum, chhưng Thứ ba là dàn nhạc sân khấu, tiêu biểu
là dàn nhạc Rô băm và dàn nhạc Dù kê Trước đây, trong phum sóc, dàn nhạc Rô băm và Dù kê tương đối đơn giản Dàn nhạc trong sân khấu Rô băm thường gồm: hai srolay Rô băm, skô samphô, skô thum và hai kôông Dàn nhạc truyền thống trong sân khấu Dù kê thường gồm truô sô, truô u, skô thum và lôô cùng một số nhạc
cụ khác 46
Nghệ thuật múa chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ, có thể được chia thành hai nhóm là múa dân gian và múa chuyên nghiệp Nhóm múa dân gian rất phong phú được chia thành múa trong sinh hoạt vui chơi với những điệu múa phổ biến như rom vông, lăm lêu, xaravan; múa sarikakeo; múa trống chhay dzăm; múa trong hát Aday và múa trong nghi lễ - tín ngưỡng như múa trong đám cưới; múa khi cúng Neak Tà, cầu Arăk Nhóm múa chuyên nghiệp là những sáng tạo của các nghệ sĩ chuyên nghiệp Khmer với những nguyên tắc mang tính khái quát nghệ thuật cao bao gồm những điệu múa thuần tuý được biểu diễn trên sân khấu (gồm múa cổ điển như điệu múa tiên nữ và múa dân gian như múa gáo
45 Xem Trần Văn Bổn (2012), “Sân khấu truyền thống Khmer Nam Bộ”, trong Sân khấu dân gian, Văn hoá
dân tộc, Hồ Chí Minh, tr 154 đến tr 178 và Trường Lưu (chủ biên 1993), sđd, tr 224 đến tr 232
46 Xem Trần Văn Bổn (2012), sđd, tr 186 đến tr 190 và Người Khơ-Me tỉnh Cửu Long (1987), Sở Văn hoá -
Thông tin Cửu Long, Cửu Long, tr 164 đến tr 168
Trang 39dừa); múa được tích hợp trong nghệ thuật sân khấu (múa trong sân khấu Rô băm và múa trong sân khấu Dù kê) 47
Các loại hình sân khấu phổ biến nhất của người Khmer Nam Bộ là sân khấu
Rô băm, sân khấu Dì kê và sân khấu Dù kê
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu Dù kê
1.3.1 Tên gọi nghệ thuật sân khấu Dù kê và lokhol Bassac
Nghệ thuật sân khấu Dù kê là một thành tố trong văn hoá Khmer Nam Bộ nói riêng và là một thành phần trong nền nghệ thuật Việt Nam nói chung
Tên gọi “nghệ thuật sân khấu Dù kê” được chính thức công nhận vào năm
1985, từ đợt hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc lần thứ nhất tại Quy Nhơn
Với vở ca kịch Dù kê Mối tình Bôpha - Răngxây, Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh
Bình Minh tỉnh Trà Vinh đã đạt được huy chương vàng Từ đó, Bộ Văn hoá - Thông
tin đã công nhận “Nghệ thuật sân khấu Dù kê là loại hình kịch hát dân tộc 48
nằm trong hệ thống sân khấu truyền thống Việt Nam” [61:17] 49
Có những ý kiến khác nhau để giải thích thuật ngữ Dù kê Một là do xuất phát từ tên chú bé tên Kê quê ở Hiếu Tử, Tiểu Cần, Trà Vinh Người Khmer Trà Vinh thường kể nhau nghe câu chuyện vào thập niên 20 của thế kỉ XX, chú bé Kê thường tụ tập bạn bè múa hát ở dưới giàn bầu Những buổi biểu diễn của chú ngày càng đông người đến xem Mỗi khi đến xem thì mọi người thường nói với nhau là
“đi xem vũ Kê” (nghĩa là đi xem Kê múa) nên từ “vũ Kê” dần dần đọc trại thành Dù
47 Xem Trường Lưu (chủ biên 1993), sđd, tr 274 đến tr 301 và Trần Văn Bổn (2012), sđd, tr 191 đến tr 215
48 Kịch hát dân tộc, khái niệm xuất hiện ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chỉ chung hai loại kịch hát truyền thống là chèo và tuồng, cùng tất cả các loại hình kịch hát khác ra đời đầu thế kỉ XX theo phương pháp sáng tạo của nghệ thuật chèo và tuồng, như các nghệ thuật: cải lương, ca kịch Huế,… Kịch hát dân tộc thuộc loại sân khấu tự sự (kể chuyện), phương tiện biểu hiện bao gồm từ lời nói thường, nói lối đến ngâm vịnh, ca hát; từ động tác thường đến cách điệu và múa phối hợp hài hoà với nhau Hát và múa phát triển
từ dân ca, dân vũ đã tạo nên màu sắc dân tộc đậm đà, phong phú trong kịch hát dân tộc [Trung tâm biên soạn
từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), sđd, tr 560]
49 Xem Sang Sết (2013), “Nghệ thuật sân khấu Dù kê là di sản văn hoá (Chuyển từ nghệ thuật vị nghệ thuật
sang nghệ thuật vị nhân sinh)”, tham luận trong Hội thảo khoa học Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam
Bộ - Di sản văn hoá dân tộc, Đại học Trà Vinh, Trà Vinh
Trang 40kê [61:13-14] Hai là do đọc trại từ thuật ngữ Dì kê 50 Ba là do phiên âm trại ra từ
thuật ngữ Yuke - di sản lâu đời (trong tiếng Khmer, yu là lâu, ke là di sản) 51
Ngoài ra, nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ còn có tên gọi khác là
lokhol Bassac do người Campuchia đặt Lokhol là sân khấu, Bassac là sông Hậu 52 ở Việt Nam, nghĩa là “sân khấu của những người ở xứ Bassac” hoặc “kịch hát miền sông Hậu”
Từ tên gọi lokhol Bassac, công trình Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù kê
Khmer Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng (Giai đoạn từ năm 1920 đến năm 2000)
do Sơn Lương làm chủ nhiệm đề tài được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng
xuất bản năm 2012 cho rằng: Do lokhol là sân khấu còn Bassac chính là tên gọi xưa
của địa danh Sóc Trăng nên bản thân từ lokhol Bassac đã nói lên phần nào về ý nghĩa nguồn gốc khai sinh và hình thành nên sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ [66:96-97] Theo chúng tôi, cách hiểu như thế có phần khiên cưỡng Bởi vì, khi gánh Dù kê Tự Lập Ban của ông Lý Kọn qua Campuchia biểu diễn loại hình sân khấu này, người Campuchia xem người Khmer Nam Bộ là người ở xứ sở Bassac nên gọi loại hình sân khấu này là lokhol Bassac, chứ bản thân tên gọi này không thể nói chính xác, cụ thể nguồn gốc của nó
Tóm lại, vùng đất Nam Bộ, với những điều kiện tự nhiên - văn hoá - xã hội đặc thù, đã sản sinh ra loại hình nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ Đây là một loại hình nghệ thuật tổng hợp về văn học, âm nhạc, vũ đạo - vũ thuật, mỹ thuật sân khấu Ở đó, dựa theo cốt truyện nhất định hoặc kịch bản của tác giả, đạo diễn hướng dẫn diễn viên biểu diễn để tạo ra những hình tượng nghệ thuật trên sân khấu cho khán giả thưởng thức
50
Xem Trần Văn Bổn (2012), sđd, tr 260
51
Xem Lâm Vĩnh Phương (2013), “Kinh nghiệm truyền dạy, đào tạo đội ngũ sáng tác, biểu diễn loại hình sân
khấu Dù kê tại Sóc Trăng”, tham luận trong Hội thảo khoa học Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ -
Di sản văn hoá dân tộc, Đại học Trà Vinh, Trà Vinh, tr 137.
52 Sông Hậu là một trong hai phân lưu của sông Mê Kông ở Việt Nam Ở Campuchia, sông Hậu được gọi là sông Bassac (Việt hoá thành Ba Thắc) Sông Hậu đổ ra biển Đông qua cửa Trần Đề và cửa Định An Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi từ khoảng năm 1970 nên không còn nữa