1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề hướng dẫn viên du lịch ở phụ nữ căng thẳng vai trò và xung đột vai trò (khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại thành phố hồ chí minh)

282 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề hướng dẫn viên du lịch ở phụ nữ: Căng thẳng vai trò và xung đột vai trò (Khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh)
Tác giả Bùi Thị Phương Hạ
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thị Kim Xuyến
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 282
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu Phân công lao động theo giới cho phép chỉ ra sự khác biệt và bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới từ

Trang 1

NGHỀ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH Ở PHỤ NỮ: CĂNG THẲNG VAI TRÒ VÀ XUNG ĐỘT VAI TRÒ (Khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch

tại thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017

BÙI THỊ PHƯƠNG HẠ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này thực sự đánh dấu bước trưởng thành của tôi trong chặng đường học tập, nghiên cứu và giảng dạy về ngành xã hội học Vì vậy tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến, nguyên trưởng khoa Xã hội học, quý thầy cô khoa Xã hội học thuộc trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và gia đình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến, giáo viên hướng dẫn, luôn động viên, chia sẻ, tận tình chỉ dẫn và dạy tôi từng bước đi

từ hình thành cho đến khi hoàn tất luận văn

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong khoa Xã hội học thuộc trường Khoa học xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ tôi trong thời gian tham gia học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn các bạn nữ hướng dẫn viên du lịch đã đồng ý nhận lời tham gia phỏng vấn sâu, sẵn lòng chia sẻ những câu chuyện riêng tư trong gia đình, những va chạm, những thử thách trong công việc dường như chỉ còn trong ký ức để giúp tôi có được những thông tin quý giá góp phần hoàn tất luận văn

Và để tôi có được những thành quả như hôm nay, là chuỗi ngày hết sức khó khăn,

có cả nước mắt và những lời động viên, cùng những mong mỏi tha thiết của gia đình Xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, luôn cho tôi nguồn động lực mạnh

mẽ, động viên tôi những khi tưởng chừng không thể đi tiếp con đường này

Cuối cùng, dù có dùng những ngôn từ hoa mỹ vẫn chưa đủ diễn đạt sự biết ơn của tôi Một lần nữa, tôi xin cảm ơn tất cả bằng lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất!

Bùi Thị Phương Hạ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi chú rõ ràng trong phần tài liệu tham khảo và phía dưới mỗi bảng biểu

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Bùi Thị Phương Hạ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN 1: 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

2.1 Mục tiêu chung 5

2.2 Mục tiêu cụ thể 5

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Khách thể nghiên cứu 6

4 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn 6

4.1 Ý nghĩa luận 6

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

5 Điểm mới và hạn chế của đề tài 7

6 Kết cấu của luận văn 8

PHẦN 2: 9

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 32

1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 35

1.2.1 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu: 35

1.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng: 36

Trang 6

1.2.3 Lý thuyết vai trò: 38

1.2.4 Sự giao thoa của các hướng tiếp cận và quan điểm của tác giả luận văn 42

1.3 Những khái niệm chính 43

1.3.1 Khái niệm hướng dẫn viên du lịch: 43

1.3.2 Khái niệm vai trò xã hội: 45

1.3.3 Khái niệm xung đột vai trò: 47

1.3.4 Khái niệm định kiến giới: 48

1.4 Đặc điểm nghề nghệp của hướng dẫn viên du lịch: 49

1.4.1 Vai trò của hướng dẫn viên 49

1.4.2 Những yêu cầu đối với HDVDL 52

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 53

1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 55

1.6.1 Phương pháp luận 55

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 55

1.6.2.1 Mẫu nghiên cứu và tiến trình chọn mẫu trong thực tế 55

1.6.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 57

1.6.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 60

CHƯƠNG II: SỰ CĂNG THẲNG VAI TRÒ VÀ XUNG ĐỘT VAI TRÒ TRONG CÁC DẠNG HOẠT ĐỘNG SỐNG CỦA NỮ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62

2.1 Đặc điểm về địa bàn và mẫu nghiên cứu 62

2.1.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 62

2.1.2 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu 69

2.2 Sự căng thẳng vai trò của nữ hướng dẫn viên du lịch trong các hoạt động nghề nghiệp tại nơi làm việc 71

2.2.1 Vấn đề thu nhập trong hoạt động nghề nghiệp của nữ HDVDL 73

2.2.2 Thời gian hoạt động nghề nghiệp của nữ HDVDL 76

2.2.3 Cường độ làm việc trong hoạt động nghề nghiệp của nữ HDVDL 79

2.2.4 Hoạt động nghỉ ngơi của nữ HDVDL 85

2.3 Sự xung đột vai trò của nữ hướng dẫn viên du lịch trong hoạt động sinh hoạt vật chất tại gia đình 111

Trang 7

2.3.1 Hoạt động quản lý chi tiêu trong gia đình của nữ HDVDL 112

2.3.2 Hoạt động tái sản xuất trong gia đình của nữ HDVDL 117

2.3.3 Các hoạt động lao động ảnh hưởng đến sức khỏe của nữ HDVDL 132

2.3.4 Hoạt động giao tiếp của nữ HDVDL trong gia đình 138

2.3.5 Hoạt động cộng đồng của nữ HDVDL 148

2.4 Quan niệm xã hội đánh giá về nghề của nữ HDVDL 149

PHẦN 3: 160

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 160

1 Kết luận 161

2 Khuyến nghị 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

PHỤ LỤC 174

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đặc điểm chi tiết về mẫu nghiên cứu ……… 84

Hộp 2.2 Trường hợp điển hình về mức độ ảnh hưởng đến tinh thần và hạnh

phúc ……… ……… 86

Hộp 2.3 Trường hợp điển hình về phụ nữ và quyền quyết định ………… 91

Hộp 2.4 Trường hợp điển hình về phụ nữ và định kiến giới ……… 92

Hộp 2.5 Trường hợp điển hình về quyền ra quyết định ……… 97

Hộp 2.6 Trường hợp điển hình mức độ ảnh hưởng đến tinh thần và hạnh

phúc ……… 100 Hộp 2.7 Trường hợp điển hình về cách thức xử lý của người trong cuộc 101 Hộp 2.8 Trường hợp điển hình về cách thức xử lý của người trong cuộc 104 Hộp 2.9 Trường hợp điển hình về phản ứng của doanh nghiệp ………… 111 Hộp 2.10 Trường hợp điển hình về cuộc sốn gia đình và những mâu thuẫn

trong gia đình ……… 115 Hộp 2.11 Trường hợp điển hình về sự khác biệt ứng xử trong gia đình … 128 Hộp 2.12 Trường hợp điển hình về chăm sóc con cái trong gia đình …… 131 Hộp 2.13 Trường hợp điển hình về mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe…… 136 Hộp 2.14 Trường hợp điển hình về sự khác biệt vai trò giới ……… …… 141 Hộp 2.15 Trường hợp điển hình về sự phân biệt ứng xử trong gia đình 142 Hộp 2.16 Trường hợp điển hình về quan niệm xã hội đối với nghề ……… 149 Hộp 2.17 Trường hợp điển hình về phản ứng của gia đình về nghề……… 144

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

đi thăm quan các nước khác NỘI ĐỊA Người Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam đi thăm quan

đi thăm quan du lịch Việt Nam TOUR Chuyến đi

Trang 10

PHẦN 1:

MỞ ĐẦU

Trang 11

1 Lý do chọn đề tài

Hiện tượng căng thẳng vai trò, xung đột vai trò và những tác động ảnh hưởng kinh tế - xã hội của nó đã thu hút sự chú ý của nhiều giới nghiên cứu Đặc biệt các nước phương Tây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng căng thẳng nơi làm việc, tình trạng xung đột vai trò nơi làm việc và gia đình Tình trạng căng thẳng tại nơi làm việc ngày càng trở thành vấn đề bức xúc đối với từng cá nhân và cả xã hội, đặc biệt là các xã hội công nghiệp Tình trạng căng thẳng ngày càng gia tăng đối với người phụ nữ khi trên thực tế tỷ lệ lao động nữ tham gia vào thị trường lao động ngày càng tăng hầu hết các nước trên thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội lớn của cả nước Được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Thành Ủy, Ủy Ban Nhân dân thành phố, ngành du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Năm 2012, thành phố đã đón 3.800.000 lượt khách quốc tế (chiếm 56% tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam) với doanh thu là 71.279 tỷ đồng (chiếm 44,5%) tổng doanh thu du lịch cả nước đóng góp 11% GDP của thành phố Khách du lịch nội địa tăng đều đặn hằng năm, ngay cả trong thời kỳ chịu sự tác động của suy thoái kinh tế với tỷ lệ từ 20% - 30%/năm Riêng trong 6 tháng đầu năm năm 2013, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế của thành phố tăng 5%, tuy giảm 5% so với tốc độ tăng cùng kỳ (6 tháng đầu năm năm 2012 tăng 10%) nhưng tăng trưởng vẫn cao gần gấp đôi mức tăng trưởng của cả nước (khách quốc tế đến Việt Nam tăng 2,6%) Tính đến tháng 6/2013, có 818 doanh nghiệp lữ hành, trong đó doanh nghiệp lữ hành quốc tế là 462, doanh nghiệp lữ hành nội địa là 356 và 08 văn phòng đại diện người nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh Các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn thành phố luôn nằm trong danh sách 10 doanh nghiệp lữ hành hàng đầu của cả nước.1 Đây thực sự là tín hiệu tốt cho thấy du lịch thành phố tăng trưởng bền vững, ổn định, quy mô hoạt động ngày càng lớn, đóng góp

có hiệu quả vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Tuy nhiên, để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, có chiều sâu, đảm bảo

1 www.svtttdl.hochiminh city.gov.vn/…./dulich

Trang 12

chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu, khả năng cạnh tranh, đảm bảo phát triển du lịch bền vững thì công tác quản lý nhà nước về du lịch cũng đòi hỏi phải có bước chuyển và thay đổi sao cho phù hợp với tình hình mới – trong đó công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm Nguồn nhân lực của “ngành công nghiệp không khói” này luôn có chiều hướng tăng, mỗi năm tăng bình quân 10% mặc dù kinh tế có khó khăn

Từ nay đến năm 2025, mỗi năm thành phố Hồ Chí Minh cần khoảng từ 3.000 – 4.000 hướng dẫn viên du lịch; tuy nhiên nguồn nhân lực này chưa đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng so với nhu cầu thực tế Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 50

cơ sở đào tạo nhân lực ngành du lịch, tuy các trường có khoa du lịch đào tạo rất đông nhưng chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu thực tế và còn bộc lộ nhiều bất cập: chương trình đào tạo tại nhiều trường còn chú trọng đến lý thuyết mà chưa có điều kiện tổ chức nâng cao thực hành, vì vậy, sinh viên ra trường thiếu kỹ năng trong khi nhân lực ngành du lịch phải được học từ thực tế để biết cách tổ chức, xử lý tình huống, thông thuộc địa bàn du lịch; hầu hết kiến thức của sinh viên khi ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và phải tự đào tạo trong quá trình tác nghiệp ngoài kiến thức nhà trường cung cấp Trong thực tế, du lịch cạnh tranh bằng hướng dẫn viên, người hướng dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một chuyến đi

có chất lượng và hướng dẫn viên gắn bó với bộ mặt của công ty hay nói cách khác, gắn với chất lượng dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng Và một nghịch lý đang diễn ra đối với nguồn nhân lực du lịch – đó là, các trường đào tạo hướng dẫn viên du lịch, từ trung cấp đến đại học, không khó để nhận thấy sự chênh lệch về giới, điều đó thể hiện ở số sinh viên nam rất ít so với số sinh viên nữ Ngoài ra, chương trình đào tạo không có một môn học hay chuyên đề bổ trợ kiến thức cho sinh viên nữ về những hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới, bổ sung những kiến thức, kỹ năng mềm như: kỹ năng ứng phó tình huống khẩn cấp: cách phòng ngừa và đối phó với các hiện tượng lạm dụng, quấy rối tình dục, kỹ năng tuyên truyền giáo dục du khách trong việc sử dụng các dịch vụ “nhạy cảm” liên quan đến thuần phong mỹ tục Việt

Trang 13

Nam, giúp họ tự tin và bản lĩnh hơn trong công việc sau khi ra trường với môi trường làm việc sau này rất nhiều cám dỗ

Những con số thống kê về hoạt động ngành du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh đã nêu ở trên cho thấy nữ hướng dẫn viên du lịch đảm nhiệm vai trò “làm dâu trăm họ” tại doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, đương đầu với nhiều cạm bẫy, dễ bị lạm dụng, phải chịu áp lực công việc cao như nam giới Đồng thời, họ phải hoàn thành vai trò của người vợ, người mẹ trong gia đình, họ thường lâm vào tình trạng xung đột vai trò Thậm chí do áp lực cao về thời gian, độ tuổi, giới tính, tính chất công việc đòi hỏi cao về trí lực và thể lực, do nhu cầu tiến thân trong xã hội hiện đại,… nhiều nữ hướng dẫn viên du lịch còn gặp khó khăn trong việc thực hiện được mong muốn chính đáng là tìm được “một nửa của mình” để thực hiện được vai trò làm vợ, làm mẹ

Xung đột vai trò ở mức độ lớn tất yếu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và những hậu quả không nhỏ về mặt xã hội Sự căng thẳng trong xã hội

ở cấp độ lớn tất yếu sẽ dẫn đến những thiệt hại không nhỏ về kinh tế và xã hội: Giảm hiệu quả hoạt động, căng thẳng trong gia đình, ly hôn, tỷ lệ độc thân (nuôi con một mình, chưa có gia đình) ngày càng cao… Xung đột vai trò là một hiện tượng tất yếu trong xã hội hiện đại khi phụ nữ nói chung trong đó có nữ hướng dẫn viên du lịch ngày càng tham gia vào nhiều hoạt động bên ngoài gia đình Hiện tượng xung đột vai trò và tác động ảnh hưởng kinh tế - xã hội của hiện tượng này đã được nghiên cứu khá nhiều ở các nước phương Tây nhưng ở khu vực Châu Á bắt đầu có một số công trình về chủ đề này được thực hiện

Đề tài hướng vào giải đáp những câu hỏi: hiện trạng, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của hiện tượng xung đột vai trò ở nữ hướng dẫn viên du lịch như thế nào? Nhu cầu trợ giúp (vật chất và tinh thần) của họ là gì? Mạng lưới hỗ trợ xã hội hiện nay (số lượng và các loại hình dịch vụ, dư luận xã hội…) đã đáp ứng đúng và đủ nhu cầu của các nhóm xã hội trong đó có nữ hướng dẫn viên du lịch hay chưa? Nhu cầu giải quyết tình trạng căng thẳng vai trò và mức độ khả năng nữ hướng dẫn viên du lịch vượt qua được những thách thức trong xung đột vai trò v.v… để trên cơ sở đó đề xuất một số

Trang 14

phương thức hữu hiệu, giúp họ nâng cao khả năng kiểm soát tình huống xung đột vai trò, tình trạng stress Bên cạnh đó, về phía đơn vị đào tạo cũng như doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng cần chú ý hơn về vấn đề bình đẳng giới trong phân công công tác, nhằm tạo điều kiện cho hai giới phát triển tối đa năng lực của họ đặc biệt là

đối với nữ hướng dẫn viên Đó là lý do cho sự lựa chọn vấn đề “Nghề hướng dẫn viên du lịch ở phụ nữ: Căng thẳng vai trò và xung đột vai trò” (Khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên

và nữ hướng dẫn viên du lịch nói riêng

- Những nguyên nhân dẫn đến xung đột vai trò ở nữ hướng dẫn viên du lịch

- Sự ảnh hưởng của xung đột vai trò đối với bản thân nữ hướng dẫn viên du lịch và quan hệ gia đình họ

Trang 15

- Đánh giá sự ảnh hưởng của các chính sách Nhà nước và doanh nghiệp đến

sự phân công lao động theo giới trong gia đình nữ hướng dẫn viên

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu cụ thể nêu trên, đề tài sẽ có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Xây dựng cơ sở luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài này (tìm kiếm các lý thuyết và phương pháp của những người đã thực hiện những vấn đề về căng thẳng vai trò và xung đột vai trò; từ đó đặt các câu hỏi nghiên cứu và các thao tác thiết kế nghiên cứu khác)

- Thu thập thông tin sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn sâu (đối với các đối tượng cung cấp thông tin và những đối tượng có liên quan) và thông tin thứ cấp qua các tài liệu sẵn có

- Xử lý thông tin định tính

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là căng thẳng vai trò và xung đột vai trò ở nữ hướng dẫn viên du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm hướng đến một mục tiêu quan trọng của

đề tài đó là phát hiện khả năng vượt qua những thách thức trong căng thẳng vai trò và xung đột vai trò từ những vấn đề cá nhân của đội ngũ nữ hướng dẫn viên du lịch trong điều kiện làm việc và khả năng biến chuyển thành vấn đề xã hội được nghiên cứu dưới góc độ khoa học

Trang 16

Thông qua nghiên cứu này, đề tài muốn hướng đến một vài suy nghĩ để giúp những nhà nghiên cứu có thêm tư liệu khi nghiên cứu về giới trước những biến đổi xã hội gia tăng hiện nay Đó cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu cùng chủ đề hay lĩnh vực sau này

5 Điểm mới và hạn chế của đề tài

Điểm mới của đề tài này thể hiện ở chỗ:

Về mặt nội dung, đề tài tìm kiếm, khám phá những yếu tố thật sự về mức độ căng thẳng vai trò và xung đột vai trò ở nữ hướng dẫn viên du lịch trong quá trình tham gia các hoạt động xã hội Qua đó, tác giả xem xét các mức độ ảnh hưởng của xung đột vai trò đến bản thân người phụ nữ và mối quan hệ gia đình

Về mặt lý thuyết, đề tài này vẫn tiếp tục sử dụng những lý thuyết quen thuộc từ Giới và phát triển và xã hội học gia đình, do chưa tìm được những lý thuyết hay hướng tiếp cận chuyên sâu cho lĩnh vực cụ thể này Tuy nhiên, cũng chính vì vậy, hy vọng sau khi thực hiện đề tài này tác giả có thể đề xuất một số ý tưởng đóng góp thêm vào hệ thống lý thuyết nghiên cứu về giới, gia đình của nhóm ngành dịch vụ

Về giới hạn, mẫu nghiên cứu bao gồm nhóm nữ hướng dẫn viên du lịch đang hoạt động tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Trong số đó, có những cá nhân không tham gia trực tiếp với vai trò hướng dẫn viên du lịch và đã chuyển sang hoạt động ở một số bộ phận khác trong phòng kinh doanh của doanh nghiệp hay không tiếp tục tham gia các hoạt động xã hội vì nhiều nguyên nhân khác nhau Vì vậy, kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh một số khía cạnh của quá trình hoạt động mà họ đã từng tham gia với vai trò là hướng dẫn viên Một phần mẫu được lựa chọn trên cơ sở mạng

Trang 17

lưới xã hội của các nữ hướng dẫn viên du lịch và những người làm trong ngành du lịch tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay số lượng nữ hướng dẫn viên du lịch rất nhiều nhưng một thực tế họ không bố trí công việc hướng dẫn với nhiều quan niệm khác nhau sẽ được mô tả và phản ánh trong đề tài vì thế nên thông tin thu thập cũng bị ảnh hưởng Do nghiên cứu trong phạm vi nhỏ, luận văn chưa chỉ ra được sự khác biệt về giới trong quá trình phân công lao động của các cá nhân tại các vùng miền khác nhau hoặc tại các thời điểm khác nhau

Cuối cùng, về mặt phương pháp đối với đề tài nghiên cứu này được xây dựng theo phương pháp luận định tính nên những phát hiện không sử dụng để khái quát trên phạm vi rộng lớn, nhưng chỉ có thể mang tính điển hình cho một nhóm nữ hướng dẫn viên du lịch tại một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được hình thành bởi ba phần chính:

Phần 1 - Mở đầu: giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, hạn chế của đề tài, cũng như ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Phần 2 - Nội dung gồm hai chương, trong đó chương một: giới thiệu về cơ sở lý luận và phương pháp luận đề tài, chương hai: trình bày kết quả nghiên cứu nghề hướng dẫn viên du lịch ở phụ nữ: Căng thẳng vai trò và xung đột vai trò (khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh)

Phần 3 - Kết luận và khuyến nghị nêu lên những phát hiện và những nhận định dựa trên những thông tin đã thu thập và đánh giá được

Trang 18

PHẦN 2: NỘI DUNG

Trang 19

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phân công lao động theo giới cho phép chỉ ra sự khác biệt và bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới từ đó dẫn đến sự xuất hiện hiện tượng xung đột vai trò và những tác động ảnh hưởng kinh tế - xã hội của nó đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng căng thẳng tại nơi làm việc, tình trạng xung đột vai trò nơi làm việc và gia đình; những chủ đề liên quan đến hiện tượng xung đột vai trò của giới quản lý, công nhân, nhân viên văn phòng, người phụ nữ,…ngày càng trở thành vấn đề bức xúc đối với từng cá nhân và xã hội, đặc biệt hiện tượng này xuất hiện nhiều ở các xã hội công nghiệp Tình trạng căng thẳng ngày càng trở nên phổ biến và gia tăng đặc biệt đối với phụ nữ khi trên thực tế tỉ lệ lao động nữ tham gia vào thị trường lao động ngày càng tăng Điều đó chứng tỏ trong xã hội đang xuất hiện xu hướng mới, xóa dần khoảng cách chênh lệch về giới tính trong các lĩnh vực đời sống xã hội Phụ nữ có được thu nhập do họ tạo ra và có thể cải thiện được điều kiện sống của chính họ và gia đình

họ Vấn đề này đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu khi số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động ngoài xã hội ngày càng gia tăng, họ đã tiến hành nghiên cứu về

các chủ đề có liên quan đến hiện tượng xung đột vai trò

Bên cạnh đó vấn đề nghiên cứu về giới và cách thức cải thiện tình hình phụ nữ trong xã hội có thể được thực hiện nhiều cách khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề

đã và đang xảy ra trong các nhóm xã hội Giới là vấn đề hiện nay đang thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như các chuyên ngành nghiên cứu xã hội như xã hội học, công tác xã hội, chính sách xã hội, tâm lý học… Bên cạnh đó, vấn đề giới luôn được thể hiện dưới nhiều khía cạnh và những góc nhìn khác nhau như quan hệ giới, bất bình đẳng về giới, giới và phát triển, vai trò và địa vị của phụ

nữ trong gia đình, phân công lao động theo giới…

Trong những năm trở lại đây, vấn đề giới và phát triển đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu cho chiến lược phát triển của các quốc gia nhằm hoạch định những chính sách xã hội về giới và giải quyết những vấn đề liên quan

Trang 20

Mục tiêu mang lại sự “bình đẳng giới” cho tất cả các nhóm trong xã hội dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi cách tiếp cận định hướng mục tiêu mong muốn đạt được mà những người làm công tác phát triển giới hướng tới Đồng thời, giúp cho nhà hoạch định chính sách nắm rõ những nguyên nhân của hiện tượng bất bình đẳng

và khoảng cách về giới Định hướng phát triển giới không chỉ tập trung phát triển ở khu vực đô thị mà nó còn được lan tỏa đến các vùng nông thôn, không chỉ phát triển những nhóm lớn mà còn tập trung chú ý vào những nhóm nhỏ trong cơ cấu xã hội Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về các nội dung được tác giả quan

tâm trong quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Những nội dung chính được quan tâm

Trong xã hội hiện đại, con người càng nắm giữ nhiều vai trò thì càng dễ rơi vào tình trạng xung đột vai trò khi những kỳ vọng của một vai trò không tương thích với

kỳ vọng của những vai trò khác mà họ đang đảm trách ở những môi trường khác Điều đó cũng có nghĩa có nhiều cấp độ xung đột vai trò

Nghiên cứu hiện tượng xung đột vai trò công việc – gia đình có nghiên cứu của

TS Leslie Hammer với đề tài Xung đột vai trò công việc - gia đình (Work – Family

Role Conflict) do Đại học Portland State và tổ chức phi lợi nhuận A sloan Work and

Family tiến hành nghiên cứu2 Kết quả nghiên cứu khẳng định trạng thái xung đột giữa vai trò trong gia đình và vai trò trong công việc ở mức độ cao có mối tương quan cao với trạng thái tình thần: không thoải mái trong cuộc sống, mệt mỏi, lo lắng

và sức khỏe kém; Có mối tương quan mạnh với hiện tượng gia tăng xung đột với mọi người, với hiện tượng li dị, vắng mặt tại công ty, công việc bị trì hoãn và mất tính sáng tạo trong công việc

Powell, Gary N, Hình thành lại khái niệm xung đột gia đình – công việc đối với

những cặp vợ chồng cùng điều hành doanh nghiệp: một mô hình lý thuyết

(Reconceptualizing work – family conflict for business/marriage partners: a theorical

model) đăng trên tạp chí Quản lý doanh nghiệp nhỏ, 1997

2 http://wfnetwork.bc.edu/encyclopedia_entry.php?id=264

Trang 21

Đối tượng nghiên cứu khảo sát là những người đã có gia đình, có mối liên kết kinh doanh (mô hình), công việc – gia đình (mô hình) married people, partnerships (models), work-family (models) Công trình nhỏ này nghiên cứu động thái mối quan

hệ chồng - vợ của những cặp vợ chồng đang cùng nhau điều hành doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp do hai vợ chồng cùng nhau điều hành ở Mỹ đang gia tăng theo mỗi năm, ước tính lên tới 700.000 cặp vợ chồng Mặc dù nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát những cặp vợ chồng cùng điều hành trong khu vực doanh nghiệp gia đình, động thái của những mối quan hệ kinh doanh gia đình có thể gây nên những hậu quả sâu sắc ảnh hưởng đến thành công của hoạt động kinh doanh

Một trong những khái niệm quan trọng liên quan, đi liền với những quan hệ gia đình trong công trình này là xung đột gia đình - công việc Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, khó có thể định vị những cặp vợ chồng kinh doanh vào những mô hình quan hệ hiện có và do vậy cần thiết phải xây dựng một định nghĩa mới và mô hình xung đột gia đình – công việc Công trình đã sử dụng nhiều lý thuyết từ những trường phái nghiên cứu khác nhau để phát triển một khung khái niệm có thể phản ánh được hết những động thái của mối quan hệ này Khung khái niệm này xác định những yếu tố gây nên và hậu quả của xung đột vai trò gia đình – công việc đối với những vợ chồng cùng điều hành doanh nghiệp Tóm lại, các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề: Có thể giải thích hiện tượng xung đột vai trò gia đình – công việc trong khuôn khổ mối quan hệ gia đình – công việc của những cặp vợ chồng và những đối tác kinh doanh như thế nào? Mô hình chính là xung đột vai trò gia đình – công việc Xung đột vai trò gia đình – công việc được các nhà nghiên cứu định nghĩa như

là “một hình thức xung đột giữa các vai trò trong đó những sức ép vai trò trong công việc và trong gia đình không tương thích với nhau ở một vài khía cạnh”

Tác giả Joachin Quah và Kathleen M Camphell với đề tài nghiên cứu về Xung

đột vai trò và sự khó phân định về vai trò là những yếu tố gây nên sự căng thẳng trong công việc của những nhà quản lý Singapor (Role Conflict and Role Ambiguity

as Factors in Work Stress Among manager Singapor)3

Trang 22

Đây là kết quả nghiên cứu bằng phương pháp khảo sát 194 nhà quản lý đang theo học cao học quản trị kinh doanh tại trường Đại học quốc gia Singapore (NUS) Kết quả nghiên cứu phát hiện rằng: Xung đột vai trò và tình trạng khó phân định rạch ròi vai trò có mối tương quan dương tính và có ý nghĩa với tình trạng căng thẳng trong công việc của các nhà quản lý Singapore; Tình trạng căng thẳng trong công việc có mối tương quan âm tính và có ý nghĩa đến sự hài lòng trong công việc Công trình nghiên cứu này nhận định rằng, tình trạng làm việc căng thẳng là phổ biến trong mẫu nghiên cứu khảo sát và nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng này trước hết đều có liên quan đến những vai trò mà họ đảm nhiệm

Sự xung đột và căng thẳng vai trò tại nơi làm việc khi gặp nhiều áp lực từ công việc và tính trách nhiệm với con cái không được quan tâm chăm sóc đó cũng chính là

nội dung của đề tài “Mối quan tâm lo lắng của cha mẹ sau thời gian con tan học ở

Rosalind Banett nghiên cứu Đây là kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu phụ nữ tại trường Đại học Bradeis và Tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ Catalyst cùng thực hiện với tên gọi tắt là PCAST Công trình tiến hành khảo sát 1.755 người đang làm việc cho Công ty Fortune có trụ sở tại các tiểu bang của Mỹ Kết quả khảo sát cho thấy các bậc phụ huynh bị lâm vào tình trạng căng thẳng (stress) cao là do trong lúc họ đang làm việc tại công ty, chịu áp lực cao từ công việc đồng thời họ lo lắng con cái họ sau giờ tan học ở trường không có ai chăm sóc Áp lực về công việc và trách nhiệm với con cái đã khiến họ bị lâm vào tình trạng stress càng cao Đồng thời nghiên cứu cũng phát hiện thấy: con càng lớn thì mức độ stress của bố mẹ càng cao

vì lo sợ không biết con mình đang quan hệ với ai? Chúng cư xử như thế nào khi không có phụ huynh bên cạnh? Chúng có bị lạm dụng tình dục sau khi tan trường không? Kết quả nghiên cứu khẳng định chính sự lo lắng của bố mẹ sau thời gian con tan trường đã ảnh hưởng tới công việc qua những biểu hiện: công việc bị gián đoạn,

4 Theo Karen Gareis and Rosalind Banett, “Parental Concern About After - School Time”,

www.catalyst.org

Trang 23

không quan tâm đến công việc, thờ ơ với những cơ hội nghề nghiệp và ảnh hưởng đến hạnh phúc cá nhân

Xie J.L và Jamal M, “ Tình trạng Type A: tình trạng căng thẳng, thái độ có

liên quan đến công việc và hành vi phi làm việc: nghiên cứu những nhà quản lý ở Trung Quốc” (The Type A Experience: Stress, Job-related Attitudes and non-work

Behavior: A Study of Managers in China) Tạp chí quốc tế (International Journal)

Công trình tiến hành nghiên cứu các nhà quản lý tại các Công ty kinh doanh ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhà quản lý bị stress ở Type A chiếm đa số và là

do họ bị áp lực phải hoàn thành nhiều vai trò cùng một lúc

James A Coan, giảng viên khoa thần kinh Đại học Virginia, Mỹ, Bị stress hãy

sự thay đổi của não diễn ra như thế nào trong tình trạng họ có mối liên hệ xã hội” Qua hình ảnh chụp cắt lớp cộng hưởng não những phụ nữ tham gia nghiên cứu, đã phát hiện thấy tình trạng căng thẳng sẽ nhanh chóng qua đi khi người phụ nữ nắm chặt tay chồng

"Con cái" hay "công việc"? Đó là kết quả khảo sát năm 2007 của Hãng

Synovate trong 425 giám đốc doanh nghiệp lớn ở một số đô thị của Ấn Độ, nhằm tìm hiểu và xây dựng mô hình hành vi của các cặp vợ chồng, tạo cho họ tình trạng cân bằng giữa công việc và gia đình Theo đó, có tới 62% các cặp vợ chồng ở Delhi và 35% các cặp vợ chồng ở Mumbai chỉ ở bên các con vào dịp cuối tuần; Chỉ có 23,5% các cặp vợ chồng ở Pune thực hiện được việc chơi đùa với con vào ngày nghỉ 6

Tình trạng căng thẳng, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể mắc phải stress vào bất cứ lúc nào Nhiều biến cố trong đời sống đều có thể gây ra stress - sinh con, kết hôn, tang tế Sinh hoạt ngày nay biến chuyển ngày càng nhanh và càng thêm nhiều yếu tố mới đưa đến stress như máy vi tính, tiếng ồn của xe cộ, sự cạnh tranh Stress làm tổn hại cuộc sống nhiều mặt: mệt mỏi nhưng khó ngủ, lo lắng, kém tập trung tâm trí, mất vui Người mắc stress sau vài năm sẽ dễ bị bệnh tim Vượt qua stress trong

5 Theo Dân trí,http://www.phuyen.info.vn/Tintuc/News Social.asp

6 Trác Nhi (Theo Hindustantimes) (Báo Tuổi trẻ, 24-2-2008)

Trang 24

cuộc sống hiện đại trình bày một chương trình hãy năng động để giải quyết chứng stress Bạn sẽ học cách đánh giá stress trong cuộc sống, những dấu hiệu cảnh cáo cần lưu ý, những biến cố và tình huống thường gây ra stress Từ đó, bạn sẽ biết cách đối phó với chúng để có lối sống thăng bằng hơn Trong tác phẩm của Pasty Westcott,

Vượt qua stress trong cuộc sống hiện đại (Huyền Tố biên dịch), Nxb Trẻ xuất bản,

cuốn sách đã phân tích những tác nhân gây ra căng thẳng trong cuộc sống hiện đại chính là do mỗi cá nhân ngày càng phải đảm trách nhiều vai trò cùng một lúc, đặc biệt là người phụ nữ, họ vừa tham gia công việc ngoài xã hội vừa đảm trách vai trò chăm sóc gia đình con cái

Công việc - cuộc sống: làm thế nào để cân bằng? Vấn đề này được các tác giả nhóm Bizpro7đưa ra nhận định, mặc dù chưa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến nhiều, song việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống cho nhân viên được xem là một yếu tố mang tính chiến lược trong lĩnh vực quản lý nhân sự tại các công sở trong thế kỷ XXI Các chương trình hỗ trợ cân bằng công việc và cuộc sống luôn có tác dụng cải thiện lòng trung thành của nhân viên đối với công ty, giảm tỉ lệ vắng mặt cũng như duy trì nguồn trí lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn Trong khi các công ty đều hướng tới việc giảm chi phí để tăng hiệu quả, thì nhiệm vụ của các chuyên gia về nguồn nhân lực là phải hiểu được tầm quan trọng của việc tạo ra một sự hài hòa giữa công việc và cuộc sống cho người lao động, cũng như tác động tích cực của các chương trình hỗ trợ cho mục tiêu cân bằng này

Năm 1997, Powell và Gary thực hiện một cuộc khảo sát về thái độ ứng xử của những cặp vợ chồng cùng quản lý chung doanh nghiệp, doanh nghiệp gia đình, định nghĩa về hiện tượng xung đột vai trò công việc – gia đình, đối với các cặp vợ chồng cùng điều hành công việc với nhau, xung đột vai trò công việc – gia đình phát sinh khi các cá nhân trong mối quan hệ cộng tác không đồng ý với việc phân phối thời gian mà mỗi người dành cho công việc và dành cho gia đình8

Vai trò giới – vị thế xã hội của phụ nữ

7 Bizpro Group Dịch từ Coolavenues

8 Trích lại từ bài viết của Lê Thị Mai về “Xung đột vai trò công việc – gia đình ở nữ doanh nhân thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội số 3 (175),2013

Trang 25

Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình, với đề tài: “Vai trò phụ nữ trong đời sống gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” luận văn thạc sĩ CNXHKH- Trương Trần Hoàng Phúc muốn góp phần vào nhiệm vụ giải phóng phụ

nữ trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và bình đẳng giới hiện nay Mục đích của đề tài là làm rõ vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở phân tích lí luận chung về gia đình, vai trò giới và tìm hiểu thực trạng vai trò phụ nữ hiện nay Ở các thành phố lớn trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, vai trò trụ cột kinh tế hiện nay đã không còn là độc quyền của người chồng, người vợ có xu hướng cùng chồng bàn bạc và đưa ra quyết định đối với vấn đề quan trọng của gia đình Tuy nhiên hiện nay phần lớn phụ nữ phải đảm trách hai vai trò: vừa chăm sóc gia đình, vừa tham gia làm kinh tế họ làm hầu hết các công việc nội trợ

và chăm sóc con cái các đối tượng phụ thuộc Phụ nữ là người chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất trong vấn nạn bạo hành Phụ nữ là người chịu trách nhiệm chính công việc chăm sóc Họ có ít thời gian nhàn rỗi hơn đàn ông mặc dù trên thực tế, phụ nữ làm những công việc được trả công ngoài gia đình ngày càng nhiều hơn trước đây

Sự phân công lao động theo giới tính làm cho xã hội trao trách nhiệm chăm sóc lên vai người phụ nữ Việc phân công lao động theo giới, địa vị thấp kém và sự phụ thuộc kinh tế của người phụ nữ trong gia đình là nguyên nhân dẫn đến bạo hành gia đình nó bắt nguồn từ chế độ gia trưởng có nguồn gốc trong cơ cấu trong phân biệt giới tính

Vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhất là trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn đất nước đang trong xu thế hội nhập và phát triển Vấn đề này được xác định rõ trong bài viết: “Vị thế, vai trò người phụ nữ trong xu thế hội nhập

và phát triển đất nước” của ThS Lê Thị Linh Trang Từ chỗ nhận thức đúng đắn về những vai trò này, hy vọng mỗi người sẽ có thể tự thân giải quyết các vấn đề tương

tự như trên, hướng đến hạnh phúc của người phụ nữ, từ đó góp phần xây dựng một

xã hội văn minh có sự bình đẳng về giới Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm

Trang 26

giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là:

- Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội

- Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam

“giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam

Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết Hơn thế nữa, chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Họ

có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng

Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động… Trong nhiều lĩnh vực,

Trang 27

sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ… Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động của Hội nghị thế giới lần thứ tư về phụ nữ tại Bắc Kinh, vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ

lệ cao trong lực lượng lao động Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động

xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Chỉ cần điểm qua một vài con số cho thấy, hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới và số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20% Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết, tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30% Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới, có tới 71% phụ nữ

từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập, số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004 Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước

đã tạo điều kiện cho phụ nữ Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động… Khi thời kỳ mới, để khẳng định và phát huy vai trò của mình, phụ nữ Việt Nam có nhiều

Trang 28

mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tế mang lại, nhưng đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua Qua báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, đưa vấn đề giới vào phát triển – thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói (năm 2001), tác giả đã đưa ra và vận dụng hợp lý vào tình hình thực

tế của Việt Nam, trong đó:

- Cải cách chế độ lập quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới Cải cách pháp lý sẽ tăng cường bình đẳng giới rõ nét nhất qua Luật hôn nhân gia đình, phòng chống bạo hành, bạo lực, quyền về đất đai, luật lao động, quyền chính trị Tỉ lệ

nữ đại biểu Quốc hội khóa XII là 33.1%…; Cần phát huy, nỗ lực tăng tỉ lệ nữ ở Hội đồng nhân dân ba cấp và các cơ quan quản lý nhà nước Cung cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho việc tiếp cận dành cho phụ nữ, như: hệ thống trường lớp, cơ sở y tế, chương trình cho vay vốn

- Đẩy mạnh nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia và phân bố nguồn lực công bằng hơn Phát triển kinh tế có xu hướng làm tăng năng xuất lao động và tạo nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ, thu nhập cao hơn, mức sống tốt hơn Đầu tư có trọng điểm vào cơ sở hạ tầng và giảm bớt chi phí cá nhân cho phụ nữ khi thực hiện vai trò của họ trong gia đình có thể giúp họ có thêm thời gian để tham gia vào các hoạt động khác, dù là để tạo thu nhập hay làm công tác xã hội Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của phụ nữ Thiết kế chính sách thị trường lao động phù hợp, như về nghỉ hộ sản, sa thải, dưỡng bệnh, nghỉ bắt buộc… trong việc sinh đẻ để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc trên thị trường, đồng thời chăm sóc gia đình Cung cấp bảo trợ xã hội, an sinh xã hội phù hợp

- Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự phân biệt giới trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói chính trị Nhà nước nên thiết lập một môi trường thể chế bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng đến các nguồn lực và dịch vụ công cộng cho cả nam và nữ Tăng cường tiếng nói của phụ nữ (sử dụng sáng kiến, ý tưởng) trong quá trình quy hoạch chính sách, tạo điều kiện trao đổi cởi mở các ý tưởng với phụ nữ, nâng cao tính minh bạch trong hoạch định chính sách

Trang 29

- Triển khai giáo dục vấn đề về giới, bình đẳng giới và phát triển phổ biến trong

xã hội

- Phát huy vai trò của tổ chức Hội phụ nữ, nhất là ở cơ sở, các chiến lược này không chỉ có thể vận dụng vào quản lý xã hội ở cấp vĩ mô mà nó còn có thể vận dụng

cụ thể vào hoạt động quản lý từng cơ sở

“Phụ nữ và quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình” là nội dung tập trung chủ yếu mà tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã trình bày trong bài viết “Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình” Tạp chí xã hội học số 4/2002 dựa trên

cơ sở của Dự án “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ thực hiện Dự án được triển khai ở khu vực phía Bắc với tổng mẫu là 1497 hộ gia đình tại 5 tỉnh và thành phố đại diện là Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Giang và Yên Bái Dựa trên các số liệu thu thập từ dự án, được phân

bổ theo 3 lĩnh vực lớn như sau:

Đầu tiên là phụ nữ và quyền quyết định công việc sản xuất kinh doanh Vì đất đai

có hạn, ngành nghề kém phát triển nên để tăng thêm thu nhập kinh tế cho gia đình, ban giới trong khu vực này thường phải đi tìm việc làm tại các đô thị hay những vùng mới khai thác Do đó, ở làng quê chủ yếu còn lại phụ nữ, người già và trẻ em; trong

đó người lao động chính là phụ nữ Tuy nhiên, việc chiếm một vị trí quan trọng trong việc đóng góp công sức cho phát triển kinh tế gia đình lại chưa thể là một điều kiện cần thiết cho người phụ nữ có được quyền quyết định đối với những vấn đề liên quan trong cùng lĩnh vực Kết quả nghiên cứu cho thấy với 79% nam giới khẳng định người quyết định chính công việc sản xuất kinh doanh của gia đình vẫn phải là người chồng, trong khi chỉ có 18,5% đồng ý với việc phụ nữ hay người vợ sẽ là người quyết định Bên cạnh đó, cũng có sự khác biệt về quan điểm trên giữa thành thị và nông thôn Tỉ lệ người vợ đóng vai trò quyết định công việc sản xuất kinh doanh ở các gia đình thành phố chiếm tỉ lệ cao (40,7%) so với tỉ lệ người chồng quyết định (56,8%),

sự chênh lệch ngày càng lớn hơn theo xuống các khu vực đồng bằng, miền núi và trung du Từ tỉ lệ khá cao người vợ trong các gia đình đô thị đóng vai trò quyết định

Trang 30

trong công việc sản xuất kinh doanh cũng gợi mở cho chúng ta một số suy nghĩ về tương quan giới và những khả năng, tiềm năng của người phụ nữ

Tiếp theo là quyền quyết định các khoản chi tiêu quan trọng trong gia đình Trong gia đình có rất nhiều khoản chi tiêu khác nhau, từ những khoản chi tiêu nhỏ cho đến những khoản chi tiêu lớn Thông thường, theo cách nghĩ truyền thống gắn chặt với công việc nội trợ từ lâu được mặt định là của người phụ nữ thì hiển nhiên, những khoản chi tiêu nhỏ thuộc về phạm vi sinh hoạt trong gia đình đều do phụ nữ quyết định; những khoản chi còn lại như mua sắm đồ đạc/tài sản hay xây sửa nhà, đầu tư đều do chồng tự quyết Nhưng ngày nay thì quan niệm này ít nhiều cũng có sự thay đổi, cụ thể là trong cuộc nghiên cứu này đã chỉ ra được: mặc dù người chồng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc ra quyết định cho các khoản chi tiêu lớn trong gia đình nhưng tỉ lệ người vợ quyết định cũng đáng kể và không có sự chênh lệch quá lớn so với người chồng Thêm vào đó, tỉ lệ cao nhất không thuộc về người đàn ông mà thuộc về cả hai vợ chồng cùng trao đổi, bàn bạc để đưa ra một quyết định thống nhất Đây rõ ràng là một tín hiệu đáng mừng cho sự chuyển biến về quan hệ giới trong gia đình, vai trò của người phụ nữ ngày càng được nâng cao và xem trọng

Và sau cùng là quyền quyết định số con trong gia đình Ngày nay, do sự tiến bộ của khoa học công nghệ nên vấn đề về số lượng con trong mỗi gia đình là hoàn toàn

có thể kiểm soát được Trong xã hội truyền thống, tồn tại quan niệm trọng nam khinh

nữ và do sức ép từ việc phải sinh con trai nối dõi dòng họ nên quyền quyết định sinh con gần như không thuộc về người phụ nữ mà thuộc về người chồng, thậm chí thuộc

về dòng họ hay cộng đồng Nhưng nay thì quyền quyết định đó đã thuộc về các đôi

vợ chồng, trong đó tỉ lệ người chồng hay người vợ là người quyết định chính không

có sự cách biệt lớn Bên cạnh đó thì quyền quyết định số con trong gia đình còn phụ thuộc vào nhiều lứa tuổi, các cặp vợ chồng càng cao tuổi thì tỉ lệ cùng quyết định càng thấp và ngược lại; đồng thời quyền quyết định này còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi trình độ học vấn của các cặp vợ chồng Trình độ học vấn cao đã tác động một cách tích cực tới các cặp vợ chồng làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ

về kế hoạch hóa gia đình

Trang 31

Từ những lý giải và phân tích trên, tác giả cũng đưa ra một số kết luận quan trọng Như vậy, gia đình Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi khá căn bản so với trước đây Nếu như gia đình truyền thống chỉ có người chồng chăm lo, phát triển đời sống kinh tế cho gia đình nay người vợ cũng có những đóng góp trực tiếp về kinh tế cùng với người chồng Bên cạnh sự thay đổi còn mang tính chất gợi mở đó thì gia đình Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng khá lớn từ những tư tưởng truyền thống, đã ăn sâu vào nếp suy nghĩ, nếp sống của từng con người Việt Nam Đó là dù đã có sự san sẻ trong công việc kinh tế nhưng với các công việc nội trợ thì người phụ nữ vẫn hoàn toàn độc lập thực hiện, đây vẫn được xem là “thiên chức” của người phụ nữ; sự chia

sẻ và giúp đỡ từ người chồng dù có, nhưng vẫn chưa đáng kể

Trong biến đổi và hòa nhập vai trò hiện nay giữa nam và nữ, các số liệu thực tế cho thấy người phụ nữ chưa được tiếp cận, kiểm soát và quản lý các nguồn lực phát triển, nhất là trong quản lý tài sản, đất đai,… Sự bất bình đẳng này không những không tạo cơ hội cho họ tham gia một cách tích cực hơn vào quá trình phát triển mà còn hạn chế sự phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế nông thôn nói chung Cũng vì vậy mà vai trò, vị thế của phụ nữ tuy đã được cải thiện rất nhiều nhưng về cơ bản vẫn chưa tương xứng với vai trò thực sự của họ Hay nói cách khác, những người phụ nữ – người vợ trong gia đình vẫn chưa được xã hội nói chung và người đàn ông – người chồng nói riêng nhìn nhận một cách đúng đắn Bài viết tuy chỉ đặt trọng tâm vào một mảng nhỏ trong rất nhiều vấn đề về giới, quan hệ giới trong gia đình Việt Nam nhưng đã đưa ra được một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về hiện trạng vị thế, vai trò của người phụ nữ gia đình hiện nay trong phạm vi tuy chưa lớn của cuộc nghiên cứu, đặc biệt là trong đời sống xã hội của các gia đình ở nông thôn Đó chính là sự phát hiện những thay đổi, dù chỉ ở mức căn bản trong sự biến chuyển của người phụ nữ từ chuyên tâm làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình thì nay đã tham gia vào công việc kinh tế cùng với người đàn ông – người chồng hay khoảng cách chênh lệch trong quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình giữa chồng và vợ đã giảm đi một cách đáng kể, điều này đã được thể hiện khá rõ đối với các cặp vợ chồng thuộc khu vực thành phố và có trình độ học vấn cao

Trang 32

Ngày nay, mặc dù những vị trí, vai trò của phụ nữ nói chung trong gia đình và xã hội đã được nâng lên so với trước nhưng định kiến giới vẫn còn tồn tại Xét về thực trạng vấn đề giới ở nước ta vẫn còn có những bức xúc trong gia đình và xã hội như phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu trong gia đình, vẫn còn những tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình, tình trạng bạo hành, ngược đãi phụ nữ trong gia đình vẫn còn tồn tại xảy ra ở một số nơi

Định kiến giới

Trong những năm gần đây, những đề tài nghiên cứu về định kiến về giới cũng được nhiều nhóm nghiên cứu quan tâm trong đó có đề tài “Tìm hiểu định kiến xã hội đối với phụ nữ” (Trường hợp Xã Mỹ Lộc - Huyện Hậu Lộc - Tỉnh Thanh Hóa), nghiên cứu thực trạng về định kiến xã hội đối với nữ giới nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần khắc phục những định kiến này Thực trạng về định kiến xã hội đối với nữ giới trong đề tài được xem xét trên ba khía cạnh: thứ nhất là nhận thức của người dân tại địa bàn nghiên cứu thể hiện định kiến với người phụ nữ; thứ hai là thái

độ đánh giá thể hiện định kiến với người phụ nữ; thứ ba là xu hướng hành vi thể hiện định kiến với người phụ nữ Đề tài cũng phần nào chỉ ra được một vài nét thực trạng định kiến xã hội đối với người phụ nữ trong gia đình lẫn ngoài xã hội Mỗi luận điểm đều có số liệu thống kê cụ thể và những dẫn chứng minh họa Tuy nhiên, nghiên cứu chưa khai thác hết giá trị của thông tin định lượng cũng như chưa giải thích vấn đề hoàn toàn thấu đáo thông qua những thông tin định tính có được Đồng thời nghiên cứu cũng chưa kết nối các dữ liệu một cách hợp lý nhất khiến cho cách luận chứng chưa được thuyết phục còn mang tính chủ quan khá cao Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ một cách công bằng; như quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, số lần sinh, sinh con nào,

kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc nuôi dạy con cái… Trên cơ sở chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đồng thuận; Sự quan tâm chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững

Trang 33

Trong xã hội hiện đại, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính vì thế, vai trò và vị thế xã hội của phụ nữ cũng được thay đổi tùy theo sự phân công và đảm nhận nhiệm vụ mà xã hội và gia đình giao phó Từ đó, đã hình thành quan niệm về sự phân công công việc theo các chức năng của mỗi giới có sự khác nhau “Tọa đàm về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam” ngày 2 tháng 4 năm 2009, tại Viện Xã hội học, nhóm tác giả nghiên cứu gồm Giáo sư xã hội học John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu Dân số (Đại học Michigan, USA) và Phó giáo sư xã hội học Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học Quản lý Singapore), PGS.TS Vũ Mạnh Lợi và PGS.TS Vũ Tuấn Huy (Viện Xã hội học), đã báo báo kết quả nghiên cứu về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam Tham gia cuộc tọa đàm có các cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, và học sinh cao học của Viện Chú trọng đến chủ đề phân công trong lao động gia đình, đề tài đã tìm câu trả lời cho các câu hỏi là những biến đổi xã hội những năm qua đã tác động thế nào đến sự phân tầng về giới và phụ

nữ Việt Nam đã có những vị trí gì trong không gian gia đình (domestic sphere) Đề tài được thực hiện trong bối cảnh còn ít các tri thức về vai trò giới trong gia đình ở Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn thưa thớt, và thiếu một bộ cơ sở dữ liệu

về phân công lao động gia đình Theo các tác giả, về mặt hệ tư tưởng, ở xã hội Việt Nam hiện đại luôn có các hệ tư tưởng đối lập và cùng tồn tại Tư tưởng của đạo Khổng giáo (hệ phụ quyền) tỏ ra ít nghiêm ngặt Các tư tưởng của chủ nghĩa xã hội xóa bỏ sở hữu tư nhân, khuyến khích bình đẳng nam nữ, hỗ trợ hoạt động của một tổ chức phụ nữ mạnh mẽ Tuy nhiên, theo các tác giả, xã hội ở phía Nam ít tuân thủ các quy tắc của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa so với phía Bắc Trong giai đoạn cải cách thị trường, các giá trị và truyền thống phụ quyền đang khôi phục trở lại, tuy nhiên xã hội cũng có những thể chế mới khuyến khích bình đẳng giới là các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chinh phủ (NGOs) Các tác giả kết luận là các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra ở Việt nam trong những năm qua đã không có tác động âm tính tới vai trò giới Phụ nữ vẫn tiếp tục đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng

Trang 34

lên Giữa các miền, sự khác biệt về vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn Quan điểm

lý thuyết về trao đổi nguồn lực tỏ ra ít có bằng chứng xác nhận Các tác giả cho rằng các giá trị truyền thống về gia đình có sức sống bền bỉ, và tồn tại vượt lên trên các biến đổi xã hội mạnh mẽ Nghiên cứu của các tác giả ghi nhận trong xã hội Việt Nam

có những lực lượng xã hội đối chọi theo hướng thúc đẩy bình đẳng nam nữ và làm gia tăng bất bình đẳng giới Các tác giả ghi nhận sự thích ứng của các giá trị về vai trò giới như một cách đáp ứng với những biến đổi xã hội ở Việt Nam, ví dụ một mức sống mới đang hình thành của tầng lớp trung lưu, hoặc những nhu cầu cao về học vấn cho trẻ em

Trong xã hội Việt Nam, gia đình có một vị trí quan trọng, là tế bào của xã hội, là chiếc nôi nuôi dưỡng con người Đề tài: “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng” - Vũ Tuấn Huy đã sử dụng những số liệu định tính và định lượng từ đó đưa ra được những lý do dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, hay các yếu tố nghề nghiệp của vợ và chồng

Định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng

cụ thể nào đó gán cho nam giới hay phụ nữ Ví dụ, người ta hay cho rằng: Phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái Các quan niệm này thường sai lệch, trong thực tế, những đặc điểm tính cách trên không chỉ của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể có Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnh nào đó Chính định kiến đó

đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng Định kiến giới gây bất lợi cho cả nam và nữ, nhưng phụ nữ ở vị thế bất lợi nhiều hơn, thể hiện trên nhiều khía cạnh Một trong những định kiến giới biểu hiện khá rõ là gắn phụ nữ với vai trò gia đình, coi việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái là của phụ nữ Đáng chú ý là, hiện nay nhiều người đang cổ súy cho tư tưởng đưa phụ nữ quay trở về với gia đình Từ suy nghĩ đó nhiều phụ nữ đã bị hạn chế trên con đường học tập, lao động, phấn đấu và vươn lên trong sự nghiệp, giảm khả năng đóng góp nhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã hội

Trang 35

Những vấn đề định kiến về giới được thể hiện trong bài viết “Định kiến giới – rào cản cho sự tiến bộ và phát triển của phụ nữa Việt Nam” của Phạm Hạnh Sâm – Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra khái niệm định kiến giới và làm rõ các yếu tố liên quan đến các vấn đề này, tác giả cũng đã khái quát được tình trạng tồn tại định kiến giới trong xã hội hiện nay, do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian mới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ Nếu chỉ cần có thêm một ít thời gian trong ngày, công việc của họ sẽ tốt hơn, đem lại lợi ích cho nhiều người Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình, vừa làm tốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách nhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người chủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình Nếu xét tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là 13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ) Do vậy, phụ nữ ít có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội so với nam giới Gánh nặng công việc gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn xa trong sự nghiệp Chúng ta đều biết ở thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nam giới, phụ nữ cần phải có kiến thức chiều sâu, trình độ ngoại ngữ, tin học, sự nhạy bén và lăn lộn thực tế cuộc sống Trong khi đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ Chính vì vậy, nhiều người phụ nữ giỏi giang, được học hành tử tế đã phải nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình, chỉ cốt để giữ tròn hạnh phúc Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc Đó cũng là lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn Đó cũng là nguyên nhân tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý Không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này

có trình độ và kinh nghiệm phù hợp), bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới

Trang 36

mới nên làm việc "đại sự", phụ nữ thì chỉ nên làm công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành cho gia đình Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo, đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với chính giới mình Ngoài hiện tượng "níu kéo áo nhau" thấy ở một số phụ nữ, thì vấn đề ở đây vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn là phụ nữ Vì vậy, trong các kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sách bầu cử có khi không phải là nam, mà lại là nữ Không ủng hộ phụ nữ làm công tác xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ Phụ nữ chiếm tỷ lệ không thua kém trong nhiều ngành nghề và học tập trong các trường, lớp đào tạo đại học chiếm 36,24%; Cao đẳng chiếm 50,01%, nhưng số nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đạt tỷ lệ thấp Nữ lãnh đạo, quản lý ở cấp Trung ương, cấp vụ trở lên và cán bộ nữ chủ chốt cấp tỉnh hiện nay hầu hết ở độ tuổi trên 50; tỷ lệ cán bộ nữ cấp phòng ở huyện, quận giảm; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII thấp hơn tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa

XI (khóa XI là 27,31%, khóa XII là 25,76%) Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học

Tuy nhiên, trong thực tế, các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo – những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách đối với phụ nữ – và người dân Công việc gia đình và thiên chức làm mẹ cũng gây bất lợi cho phụ nữ trong tuyển dụng lao động Theo Sở Lao động – Thương và Xã hội Thành phố Hà Nội, cho biết, từ đầu năm đến nay, chỉ có bốn trong số hàng trăm doanh nghiệp ở địa bàn đăng ký sử dụng nhiều lao động nữ Đó mới chỉ là đăng ký vì nhận một phụ nữ vào làm, sự đóng góp của phụ nữ cho lợi nhuận của doanh nghiệp chưa thấy đâu đã thấy phải chi rất nhiều khoản như: chế độ thai sản, giờ cho con bú, xây nhà vệ sinh

Vì điều này mà ngay cả chủ doanh nghiệp là nữ cũng rất ngại khi nhận lao động nữ Mặc dù ở những xí nghiệp đông lao động nữ, doanh nghiệp đó được miễn giảm thuế thu nhập và được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi Nhưng vấn đề miễn, giảm thuế và

Trang 37

tiếp cận vốn ưu đãi không phải doanh nghiệp nào cũng biết được thủ tục để tiếp cận Trong mục tuyển dụng lao động đăng trên các báo cho thấy, nhiều công ty chỉ tuyển lao động nam mặc dù công việc đó cũng phù hợp với phụ nữ, hoặc có những thông báo tuyển dụng cùng một công việc như nhau, ngành học như nhau, nhưng yêu cầu đối với nữ phải có bằng tốt nghiệp loại khá, giỏi, còn nam chỉ cần tốt nghiệp loại trung bình Một số giải pháp để xóa bỏ định kiến giới trong xã hội hiện nay:

Một là, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân, cộng đồng và xã hội thông qua công tác tuyên truyền về giới góp phần thay đổi nhận thức về giới Những hình ảnh phụ nữ gắn với vai trò xã hội, nam giới làm công việc gia đình đang dần làm thay đổi nhận thức trong công chúng rằng, nam hoặc nữ đều có thể làm bất cứ công việc gì phù hợp với khả năng của họ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội mà không có sự phân định rõ ràng cho một giới nào khác Từ nhận thức giới được thay đổi thông qua hình tượng giới, hành vi giới sẽ thay đổi dần theo hướng tiến bộ bình đẳng nam nữ Một mặt chúng ta khẳng định khả năng trí tuệ của hai giới như nhau nhưng mặt khác chúng ta cũng thừa nhận sự khác biệt về giới tính để đưa phụ nữ vào đúng vị trí, làm tốt chức năng của mình Phụ nữ ngày nay trong xu thế phát triển sẽ ngày càng bộc lộ những phẩm chất mới Tất cả những phẩm chất ấy cần được phát huy, nếu không bị định kiến trói buộc thì sẽ trở thành sự tiến bộ, phát triển và họ sẽ đóng góp được rất nhiều cho sự phát triển của đất nước; hai là, để có thể phát huy được vai trò và khả năng của phụ nữ, các dịch vụ xã hội dành cho gia đình cần được phát triển một cách rộng rãi và phù hợp với thu nhập để phụ nữ dễ dàng được tiếp cận Tạo điều kiện cho phụ nữ đầu tư sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập, có tiếng nói trong gia đình và từ đó ít lệ thuộc hơn vào người chồng Khắc phục về cơ bản tình trạng bất bình đẳng trong một số lĩnh vực như: quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, các phúc lợi xã hội, chế độ bảo hiểmv.v; ba là, phụ nữ cần được giảm bớt gánh nặng gia đình Muốn vậy, không chỉ chia sẻ, nam giới cần phải tham gia vào công việc gia đình cùng với phụ nữ Tuy nhiên, trong khi bình đẳng giới đang là một quá trình thì việc nam giới chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ cũng có một ý nghĩa to lớn Chính sự chia sẻ và cảm thông của người chồng đã làm cho nhiều người phụ nữ

Trang 38

đạt được thành công trong sự nghiệp; bốn là, lãnh đạo ở những cơ quan, đơn vị có nhiều phụ nữ cần được nâng cao nhận thức giới để từ đó có được công bằng giới trong tuyển dụng, đào tạo, đề bạt Đặc biệt, trên phạm vi toàn xã hội, cần tạo điều kiện để người phụ nữ có thời gian làm công việc gia đình, không nên coi phụ nữ cũng như nam giới trong việc phân công, đòi hỏi, yêu cầu mà không tính đến việc người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ…

Phân công giới trong lao động

Báo cáo kết quả nghiên cứu nghiên cứu về phân công giới trong lao động gia đình

ở Việt Nam tham dự tại “Tọa đàm về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam” ngày 02 tháng 4 năm 2009, tại Viện Xã hội học, nhóm tác giả nghiên cứu gồm Giáo sư xã hội học John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu dân số (Đại học Michigan, USA) và Phó giáo sư xã hội học Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học quản lý Singapore), PGS.TS Vũ mạnh Lợi và PGS.TS Vũ Tuấn Huy (Viện Xã hội học), đã báo cáo kết quả nghiên cứu về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam Tham gia cuộc tọa đàm có các cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, và học viên cao học của Viện

Đề tài chú trọng đến chủ đề phân công trong lao động gia đình, kết quả nghiên cứu đã tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi là những biến đổi xã hội qua những năm đã tác động thế nào đến sự phân tầng về giới và phụ nữ Việt Nam đã có những vị trí gì trong không gian gia đình Đề tài được thực hiện trong bối cảnh còn ít các tri thức về vai trò giới trong gia đình Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn thưa thớt, và thiếu một bộ cơ sở dữ liệu phân công lao động trong gia đình

Về không gian, đề tài so sánh những khác biệt ở hai miền Nam Bắc Phía Bắc đã trải nghiệm nhiều hơn với các chính sách xã hội chủ nghĩa, còn phía Nam thì có tiếp cận nhiều hơn với những thông tin của phương Tây Chính sự khác biệt giữa hai miền cũng thể hiện trong sự khác biệt về tuổi kết hôn, các nghi lễ cưới xin ăn hỏi…

Các quan điểm lý luận được nhóm tác giả chú ý xem xét bao gồm các quan điểm

về thời gian cá nhân (phụ nữ có nhiều thời gian ở nhà hơn thì làm nhiều việc nhà hơn); quan điểm trao đổi nguồn lực (ai có nhiều quyền lực hơn, ai kiếm nhiều thu

Trang 39

nhập hơn thì làm ít việc nhà hơn), và vai trò giới do văn hóa quy định (niềm tin quyết định là phụ nữ phải làm hoặc nên làm việc nhà nhất định) Tuy nhiên, các tác giả cho rằng không một luận điểm nào là thống lĩnh và nhiều khi cả hai hay nhiều quan điểm cùng hoạt động cùng một lúc

Về mặt lịch sử, phụ nữ Việt Nam có vai trò tích cực trong hoạt động kinh tế, các chính sách xã hội chủ nghĩa rất khuyến khích cả nam và nữ tiếp cận các cơ hội học vấn Tài liệu cũng cho biết nói chung, khoảng cách về lương giữa nam và nữ ngày càng giảm, năm 1992 khoảng cách này là 31%, năm 1998 là 22%, năm 2002 là 15%

Từ phân tích kết quả điều tra, nhóm tác giả đã ghi nhận, ở Việt Nam, các người

vợ là người chủ yếu nắm giữ “túi tiền” của gia đình Với ba nhóm mẫu của các giai đoạn lịch sử, các con số tương ứng là 65 - 68%, 70 - 72%, 63 - 73% Các tác giả ghi nhận người chồng trẻ hơn đang tham gia quản lý tài chính gia đình nhiều hơn, nhất là

ở phía Bắc

Về công việc nội trợ, phụ nữ vẫn là người đảm trách nhiệm chủ yếu Dựa vào kết quả thống kê, các tác giả đưa ra nhận định đàn ông phía Bắc tỏ ra hữu ích và giúp đỡ nhiều hơn nhưng ở phía Nam ngày càng có nhiều đàn ông tham gia giúp phụ nữ đảm nhận việc nhà Với việc chăm sóc con cái, phụ nữ vẫn đóng vai trò chủ chốt, nhưng càng ngày càng nhiều đàn ông tham gia hơn, đặc biệt người chồng ở miền Bắc tham gia chăm sóc con nhiều hơn

Các tác giả kết luận, các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra ở Việt Nam trong những năm qua đã không có tác động âm tính tới vai trò giới Phụ nữ vẫn tiếp tục đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên Giữa các miền, sự khác biệt về vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn Học vấn và việc làm của người vợ đã tỏ ra có tác động ít tới đóng góp của chồng trong việc nhà Quan điểm lý thuyết về trao đổi nguồn lực tỏ ra ít có bằng chứng xác nhận Các tác giả cho rằng các giá trị truyền thống về gia đình có sức sống bền bỉ, và tồn tại vượt lên trên các biến đổi xã hội mạnh mẽ Nghiên cứu của các tác giả ghi nhận trong xã hội Việt Nam có những lực lượng xã hội đối chọi theo hướng thúc đẩy bình đẳng nam nữ và làm gia tăng bất bình đẳng giới Các tác giả ghi

Trang 40

nhận sự thích ứng của các giá trị về vai trò giới như một cách đáp ứng với những biến đổi xã hội ở Việt Nam, ví dụ một mức sống mới đang hình thành của tầng lớp trung lưu hoặc những nhu cầu cao về học vấn cho trẻ em

Bình đẳng giới

Từ thế kỷ XIX đã cho rằng, giải phóng phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng phụ nữ cùng với nam giới là thước đo văn minh Bài viết: “Bình đẳng giới trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” của tác giả Võ Thị Mai, đăng trên tạp chí Xã hội học số 4 (96), 2006 Bài viết dựa trên cơ sở số liệu định tính, định lượng lấy từ kết quả nghiên cứu đề tài độc lập cấp nhà nước về “nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” của Ban Tổ chức Trung Ương năm 2004 – 2005 Theo tác giả, ngày nay vấn đề giải phóng phụ nữ, tăng cường sự tham gia của phụ nữ, đã và đang được gắn với vấn đề bình đẳng giới và được thể hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng ở những khái niệm, ý tưởng trừu tượng hay những tuyên bố pháp lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa không tưởng Phuriê Trong bài viết tác giả chỉ ra rất rõ về những nội dung sau: qua cuộc nghiên cứu tác giả cũng thấy được, thực tế trong nhiều năm qua tỷ lệ phụ nữ tham gia vào quản lý, lãnh đạo trong hệ thống chính trị còn thấp Phụ nữ thường chỉ đảm nhiệm cấp phó trong hệ thống chính trị Do đó để có được ý thức thực sự về bình đẳng giới trong hệ thống chính trị thì công tác giáo dục tư tưởng, nhận thức về bình đẳng giới còn phải dày công và phải mang tính xã hội hóa cao Điều quan trọng là đào tạo thế hệ trẻ, vì họ có khả năng vượt qua những định kiến do lịch sử để lại rằng

“việc làm quan là việc của đàn ông, còn việc nội trợ là của đàn bà” Từ đó tác giả đưa

ra một số khuyến nghị như: xây dựng năng lực và nâng cao vị thế của phụ nữ phải đảm bảo cho phụ nữ và nam giới là những đối tác bình đẳng trong quá trình phát triển; Thiết kế các chương trình, dự án phát triển, chính sách, dịch vụ xã hội,… sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới; Và xây dựng một cơ cấu giới hợp lý trong tập thể lãnh đạo cân xứng giới có tính khả thi Bài viết của tác giả đã đưa ra những phân tích sâu sắc về bình đẳng giới trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống

Ngày đăng: 03/07/2023, 06:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Fichter, 1973, Xã hội học, Nhà in riêng của Hiện đại Thư xã, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Fichter
Nhà XB: Nhà in riêng của Hiện đại Thư xã
Năm: 1973
2. G.Endruweit, 1999, Các lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Thế Giới, Hà Nội 3. G.Endruweit và G.Trommsdorff, 2002, Từ điển Xã hội học, Nxb Thế Giới, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: G.Endruweit
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 1999
4. Therese L.Baker (1998), Thực hành nghiên cứu xã hội, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành nghiên cứu xã hội
Tác giả: Therese L.Baker
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
5. Peter L. Berger và Thomas Luckmann, 2015, Sự kiến tạo xã hội về thực tại: khảo luận về xã hội học nhận thức (Trần Hữu Quang chủ biên dịch thuật, giới thiệu và chú giải), Nxb.Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiến tạo xã hội về thực tại: khảo luận về xã hội học nhận thức
Tác giả: Peter L. Berger, Thomas Luckmann
Nhà XB: Nxb.Tri thức
Năm: 2015
6. John J. Macionis, 1987, Xã hội học, Nxb. Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: John J. Macionis
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1987
7. 3. Martine Segalen, 2013, Xã hội học gia đình (Phan Ngọc Hà dịch), Nxb. Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Martine Segalen
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
Năm: 2013
8. Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth, Andrew Webster, 1987, Nhập môn xã hội học (Phạm Thủy Ba dịch), Nxb.Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học (Phạm Thủy Ba dịch)
Tác giả: Tony Bilton, Kenvin Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth, Andrew Webster
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 1987
9. Mai Huy Bích, 2003, Xã hội học gia đình, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
10. Mai Huy Bích, 1999, “Mấy nhận xét về tiếp thu và vận dụng lý thuyết giới trong nghiên cứu khoa học”, Tạp chí khoa học về phụ nữ, N.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét về tiếp thu và vận dụng lý thuyết giới trong nghiên cứu khoa học
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 1999
11. Mai Huy Bích, 1999, “Nâng cao tính khao học của nghiên cứu gia đình”, Tạp chí khoa học về phụ nữ, N.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính khao học của nghiên cứu gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 1999
12. Mai Huy Bích, 2001, “Một sự phân biệt cần thiết khi vận dụng quan điểm giới”, tạp chí khoa học về phụ nữ, N.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sự phân biệt cần thiết khi vận dụng quan điểm giới
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: tạp chí khoa học về phụ nữ
Năm: 2001
13. Bùi Quang Dũng (Chủ biên)và các tác giả, 2013, Xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng, các tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
14. Vũ Quang Hà, 2010, Lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
15. Nguyễn Minh Hòa, 1999, Xã hội học những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Lê Ngọc Hùng, 2011, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb. ĐHQG Hà Nội 17. Vũ Tuấn Huy, 2003, Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnhhưởng, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2011
18. Đặng Phương Kiệt, 2011, Gia đình và những biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và những biến đổi gia đình ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2011
19. Tương Lai (Chủ biên), 1996, Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (Tập 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (Tập 2)
Tác giả: Tương Lai
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
20. Vũ Mạnh Lợi, 1999, Việt Nam – Bạo lực trên cơ sở giới, Tài liệu của Ngân hàng Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam – Bạo lực trên cơ sở giới
Tác giả: Vũ Mạnh Lợi
Nhà XB: Tài liệu của Ngân hàng Thế giới
Năm: 1999
21. Nguyễn Hữu Minh, 2001, “Một số cách tiếp cận nghiên cứu về hôn nhân”, Tạp chí Xã hội học, N.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách tiếp cận nghiên cứu về hôn nhân
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2001
22. Mai Quỳnh Nam (Chủ biên), 2002, Gia đình trong tấm gương xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong tấm gương xã hội học
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đặc điểm chi tiết về mẫu nghiên cứu - Nghề hướng dẫn viên du lịch ở phụ nữ căng thẳng vai trò và xung đột vai trò (khảo sát một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại thành phố hồ chí minh)
Bảng 2.1 Đặc điểm chi tiết về mẫu nghiên cứu (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm