DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU: Bảng 1.1: Sự khác nhau về bản chất giữa bồi thường và hỗ trợ Bảng 1.2: Bảng chính sách và thời gian hỗ trợ ổn định đời sống Bảng 2.1: Tiến độ thực hiện công tác
Trang 1TRƯƠNG THÁI TÂN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TRONG CÁC DỰ ÁN THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (TRƯỜNG HỢP DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH TIÊU THOÁT NƯỚC VÀ CẢI THIỆN Ô NHIỄM KÊNH THAM LƯƠNG - BẾN CÁT - RẠCH NƯỚC LÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔ THỊ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2019
Trang 2TRƯƠNG THÁI TÂN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TRONG CÁC DỰ ÁN THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (TRƯỜNG HỢP DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH TIÊU THOÁT NƯỚC VÀ CẢI THIỆN Ô NHIỄM KÊNH THAM LƯƠNG - BẾN CÁT - RẠCH NƯỚC LÊN)
Chuyên ngành: Đô thị học
Mã số: 60.58.01.08
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔ THỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Sơn Thanh Tùng
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2019
Trang 3công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2019
Trương Thái Tân
Trang 4Đầu tiên, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Sơn Thanh Tùng, người đã hướng dẫn khoa học, kịp thời đưa ra những chỉ dẫn và tạo điều kiện, nhắc nhở, động viên tôi nỗ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Đô thị học, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Tp Hồ Chí Minh, các bạn, các anh chị trong lớp cao học đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kinh nghiệm trong nghề nghiệp cho tôi, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Chân thành cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ UBND quận Gò Vấp; phòng Tài nguyên và Môi trường quận Gò Vấp; Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng quận
Gò Vấp…, bạn bè, gia đình và người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảo sát thực địa, thu thập ý kiến tham vấn cộng đồng dân
cư, giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự đóng góp quý báu của các tập thể, cá nhân đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2019
Trương Thái Tân
Trang 5Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Nội dung nghiên cứu 7
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện 8
8 Phương pháp xử lý dữ liệu 9
9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 12
1.1.1 Đường lối, chính sách của Đảng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 12
1.1.2 Cơ sở lý luận của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 14
1.2 Khái niệm, vai trò của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 15
1.2.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi 15
1.2.2 Vai trò của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 21
1.2.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 24
1.3 Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 28
Trang 61.3.5 Chính sách tái định cư cho người bị thu hồi đất 37
1.3.6 Quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 38
Tiểu kết Chương 1 40
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CỦA PHÁP LUẬT VÀ CỦA DỰ ÁN 41
2.1 Đánh giá chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 41
2.1.1 Đánh giá kết quả đạt được của chính sách hỗ trợ 41
2.1.2 Đánh giá một số tồn tại, khó khăn của chính sách hỗ trợ 43
2.2 Giới thiệu về chính sách bồi thường, hỗ trợ của dự án đầu tư công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương-Bến Cát-rạch Nước Lên trên địa bàn quận Gò Vấp 45
2.2.1 Giới thiệu tổng quan về dự án 46
2.2.2 Bồi thường, hỗ trợ về đất 48
2.2.3 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản 50
2.2.4 Bồi thường về tài sản và vật kiến trúc khác 54
2.2.5 Chính sách hỗ trợ 54
2.2.6 Chính sách tái định cư 55
2.2.7 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ 58
2.3 Đánh giá chính sách hỗ trợ cho các hộ dân trong dự án 67
2.3.1 Mô tả một số chính sách hỗ trợ đặc biệt của dự án 67
2.3.2 Ý kiến khảo sát một số trường hợp trong dự án 71
2.3.3 Đánh giá kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ thông qua khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình ảnh hưởng trong dự án 74
Tiểu kết Chương 2 82
Trang 73.1.1 Nhận định 84 3.1.2 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện và đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án 85 3.2 Sự cần thiết, định hướng hoàn thiện pháp luật, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 86 3.2.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật, chính sách bồi thường, hỗ trợ 86 3.2.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật, chính sách bồi thường, hỗ trợ 89 3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 89 3.3.1 Xây dựng và ban hành đơn giá đất để tính bồi thường sát với giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường 90 3.3.2 Xây dựng chính sách hỗ trợ về chỗ ở, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, bảo đảm ổn định cuộc sống cho người bị thu hồi đất 91 3.3.3 Sửa đổi, bổ sung quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư cho người có đất bị thu hồi 92 3.3.4 Xây dựng chính sách hỗ trợ người có đất bị thu hồi trong thủ tục xác nhận nguồn gốc pháp lý nhà đất và nhận tiền bồi thường 93 3.3.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân về chủ trương chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 94 3.3.6 Từng bước thực hiện chính sách "xã hội hóa" công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 98 Tiểu kết Chương 3 99
KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCHTWĐ: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Bộ TN&MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
QĐ 106: Quyết định số 106/2005/QĐ-UBND ngày 16/6/2005
QH, KHSDĐ: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
TSGLVĐ: Tài sản gắn liền với đất
Trang 9DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH
1 DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU:
Bảng 1.1: Sự khác nhau về bản chất giữa bồi thường và hỗ trợ
Bảng 1.2: Bảng chính sách và thời gian hỗ trợ ổn định đời sống
Bảng 2.1: Tiến độ thực hiện công tác bồi thường GPMB của dự án
Bảng 2.2: Bảng đơn giá bán căn hộ chung cư Khang Gia phục vụ dự án
Bảng 2.3: Chính sách TĐC cho hộ dân tại các chung cư được phân bổ trong
dự án
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát người dân về đơn giá bồi thường trong dự án
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát người dân về các chính sách hỗ trợ trong dự án
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát người dân về chính sách tái định cư trong dự án Bảng 2.7: Kết quả khảo sát kiến nghị của người dân đến CQNN về chính sách bồi thường, GPMB, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 1.1: Quy trình đánh giá chính sách công
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ hộ dân, tổ chức ảnh hưởng giải tỏa trên địa bàn quận Gò Vấp
Biểu đồ 2.2: Số trường hợp ảnh hưởng giải tỏa trên địa bàn các Phường thuộc quận Gò Vấp
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ bồi thường, hỗ trợ trong dự án trên địa bàn các Phường thuộc quận Gò Vấp
Biểu đồ 2.4: Tiến độ thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ dự án
Biểu đồ 2.5: Tình hình bố trí TĐC tại các chung cư cho hộ dân trong dự án Biểu đồ 2.6: Khảo sát về phương thức trả tiền TĐC của hộ dân trong dự án Biểu đồ 2.7: Khảo sát về nhu cầu ở nhà TĐC của người dân trong dự án
Biểu đồ 2.8: Khảo sát kiến nghị của người dân trong dự án đối với CQNN
Trang 103 DANH MỤC HÌNH ẢNH:
Hình 2.1: Hình đoạn bờ đề đã xây lắp cống tại cầu Bến phấn sau khi người dân bàn giao mặt bằng
Hình 2.2: Hình đã bàn giao mặt bằng tại cầu An Lộc
Hình 2.3: Hiện trạng khu vực đã tiến hành cưỡng chế dưới chân cầu Bến Phân Hình 2.4: Người dân sửa chữa để bàn giao mặt bằng cho dự án
Hình 2.5: Ý kiến khảo sát về chính sách hỗ trợ cho gia đình ông Phó
Hình 2.6: Ý kiến khảo sát về chính sách hỗ trợ cho hộ bà Điển
Hình 2.7: Ý kiến khảo sát về chính sách hỗ trợ cho ông (bà) Việt - Thu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là thành phần cơ bản của môi trường sinh thái, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông lâm nghiệp, là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất, là địa bàn phân bố dân cư và phát triển đô thị; là nhân tố không thể thiếu cho sự tồn tại của dân tộc và phát triển KT - XH của quốc gia
Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH, xu thế giao lưu, hội nhập quốc tế ngày được mở rộng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt khi nước ta đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) nên việc thu hồi đất để phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển KT - XH là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất Để
bù đắp cho người dân một phần thiệt thòi, Nhà nước đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất
Trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC là những vấn đề không thể thiếu, luôn gắn liền với quá trình thực hiện hoạt động quan trọng này Do
đó, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành, chỉ ra những vướng mắc nảy sinh khi áp dụng quy định của pháp luật về lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC, để đưa ra những định hướng hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn cấp thiết Hơn nữa, việc nghiên cứu, tìm hiểu về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhất là tại
Tp HCM, một trong những thành phố lớn nhất cả nước đang đổi mới và phát triển mạnh mẽ, nhu cầu SDĐ đai cho việc đầu tư phát triển KT - XH là rất lớn Trong giai đoạn hiện nay, Tp HCM đã hoàn thành việc điều chỉnh tổng mặt bằng cải tạo
và xây dựng thành phố đến năm 2020, tầm nhìn 2030, được Bộ Chính trị và Thủ
Trang 12tướng Chính phủ phê duyệt là đô thị đặc biệt, đồng thời hoàn thành việc nghiên cứu
bổ sung quy hoạch chung và công bố quy hoạch ở các quận, huyện
Quận Gò Vấp là một quận nội thành thuộc Tp HCM, có tốc độ đô thị hóa cao của Thành phố, phát triển theo hướng đô thị mở kết hợp phát triển các ngành kinh tế
và các loại hình dịch vụ xã hội cao cấp, tăng cường hợp tác đầu tư cạnh tranh lành mạnh với các địa phương khác; gắn liền với phát triển KT-XH chung của thành phố trong xu hướng mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới và theo hướng tận dụng tối đa các nguồn lực có hạn Những năm qua, quận Gò Vấp đang đẩy mạnh công tác bồi thường, hỗ trợ, thu hồi đất để triển khai các dự án trọng điểm, trong đó Dự án đầu
tư công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên được xem là một trong những dự án an sinh xã hội, có vai trò tích cực cho việc phát triển KT - XH của Quận Do sự tác động khách quan của nền KT
- XH đang phát triển, đất đai ngày càng có giá trị vượt ngoài dự kiến của Nhà nước
đã trở thành nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các vụ khiếu nại, gây nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC của các dự án Vì thế cần có chính sách, phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC phù hợp nhằm đẩy nhanh tiến trình thực hiện dự án, đảm bảo cho sự ổn định đời sống của người dân trong khu vực có đất bị thu hồi
Với tính cấp thiết trên cùng với những kinh nghiệm QLNN thực tế, tôi chọn đề
tài “Đánh giá chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân trong các dự án thu hồi
đất tại Thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp dự án đầu tư công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên)” làm
luận văn với mục tiêu nhận biết tình hình thực tế để đưa ra những giải pháp nhằm góp phần cân bằng lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người dân, tránh vướng mắc, gây khiếu kiện các vấn đề liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, hạn chế tình trạng mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giúp
dự án được triển khai nhanh chóng và có hiệu quả
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Các công trình, sách báo có liên quan
Trang 13Thời gian vừa qua có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình nghiên cứu:
Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2010, Hoàng Thị Nga: "Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp" Đề tài đã phân tích, tìm hiểu nội hàm của các khái niệm bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận xây dựng quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; từ đó đã xác lập định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thời gian tới
Luận văn Thạc sĩ năm 2012, Nguyễn Vĩnh Diện: “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Đà Nẵng)” Đề
tài làm sáng tỏ cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; thực trạng thực hiện quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng; nghiên cứu đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể thu hồi đất và người bị thu hồi đất
Luận văn Thạc sĩ năm 2012, Hoàng Thị Thu Trang: “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An” Đề tài nghiên cứu những cơ sở pháp lý, thực tiễn khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Nghệ An Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, áp dụng tại địa bàn tỉnh Nghệ An
Luận văn tiến sĩ Luật học năm 2013, Phạm Thu Thủy: “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” Đề tài là một công trình
nghiên cứu lý luận và thực tiễn, có tính hệ thống về những cơ sở pháp lý của việc Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu do thực tiễn cuộc
Trang 14sống đặt ra, trong quá trình thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra còn có các chuyên đề, công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Chuyên đề
“Bình luận và góp ý đối với các quy định bồi thường về đất, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” của PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến; nghiên cứu của TS Trần Quang Huy: “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 10/2010; TS Doãn Hồng Nhung (Chủ biên) “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, GPMB ở Việt Nam”, sách chuyên khảo, NXB
Tư pháp năm 2013… Những chuyên đề nghiên cứu này cho thấy được những quan điểm đánh giá, bình luận của các nhà nghiên cứu về chính sách bồi thường, hỗ trợ về đất, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên nhiều phương diện khác nhau, giúp tác giả có những tài liệu tham khảo quý giá để đưa vào công tình nghiên cứu của cá nhân
2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Ở Trung Quốc, nguyên tắc bồi thường khi thu hồi đất được xác định là phải
bảo đảm cho người bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Bồi thường khi thu hồi đất không căn cứ giá thị trường, mà phụ thuộc vào mục đích sử dụng ban đầu của khu đất bị thu hồi, cụ thể là: đối với đất nông nghiệp, cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo tổng giá trị đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do nhà nước quy định Mức bồi thường được tính bằng 6 đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của ba năm trước khi thu hồi Trợ cấp TĐC được tính bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình Bồi thường về hoa màu và các công trình hiện có sẽ do chính quyền địa phương quyết định Trong trường hợp mức bồi thường không đủ duy trì mức sống ban đầu, thì có thể tăng thêm, tuy nhiên, tổng mức bồi thường không vượt quá 30 lần giá trị sản lượng trung bình của 3 năm trước khi thực hiện thu hồi nếu như các quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của người nông dân
Đối với đất ở, số tiền bồi thường được xác định bao gồm: giá cả xây dựng lại nhà ở, sự chênh lệch giữa xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; giá đất tiêu chuẩn và trợ cấp về giá Giá xây dựng nhà mới được xác định là khoảng cách chênh lệch giữa giá
Trang 15trị còn lại của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới Còn giá đất tiêu chuẩn do Nhà nước quyết định, căn cứ theo giá đất trong cùng khu vực Việc trợ cấp về giá cũng do chính quyền xác định Khoản tiền bồi thường này được tính theo mét vuông, cộng lại và nhân với diện tích xây dựng của nhà ở Trường hợp Nhà nước có nhà ở TĐC thì người được bồi thường sẽ được phân nhà với diện tích tương đương
số tiền họ đã nhận được bồi thường
Ở Hàn Quốc, Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất trên cơ sở các nguyên tắc
sau: Thứ nhất, việc bồi thường do chủ dự án thực hiện Thứ hai, chủ đầu tư phải thực hiện bồi thường đầy đủ cho chủ đất và cá nhân liên quan trước khi tiến hành xây dựng các công trình công cộng Thứ ba, thực hiện bồi thường cho chủ đất phải bằng tiền mặt, sau đó mới bằng đất hoặc nhà ở xã hội Thứ tư, thực hiện bồi thường
áp dụng cho từng cá nhân
Về thời điểm xác định giá bồi thường, đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức tham vấn thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận đồng thuận về phương án bồi thường Đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức cưỡng chế thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm CQNN có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế
Việc xác định giá bồi thường không phải do chủ dự án thực hiện mà giao cho ít nhất hai cơ quan định giá độc lập (hoạt động theo hình thức doanh nghiệp hoặc công
ty cổ phần) thực hiện Trường hợp chủ đất yêu cầu xác định lại giá bồi thường thì chủ
dự án lựa chọn thêm một tổ chức tư vấn định giá đất thứ ba Nếu giá trị định giá cao nhất và thấp nhất chênh lệch 10% hoặc nhiều hơn, sẽ phải có chuyên gia định giá khác thực hiện tiếp việc định giá và từ đó, mức bồi thường sẽ được tính toán lại Giá đất được lựa chọn làm căn cứ xác định bồi thường là giá trung bình cộng của kết quả định giá của hai hoặc ba cơ quan dịch vụ tư vấn về giá đất độc lập được chủ thực hiện
dự án thuê định giá
Đối với đất nông nghiệp, nếu bị thu hồi trước khi thu hoạch hoa màu, giá trị hoa màu đó sẽ được bồi thường Khoản bồi thường được tính dựa trên số hoa màu thực tế được trồng tại thời điểm dự án được công bố và đủ để hỗ trợ người nông dân
Trang 16phục hồi lại việc sản xuất của mình Khoản bồi thường được tính bằng 2 lần tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp
Ở Singapore, mức bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất được xác định căn cứ
vào giá trị thực tế BĐS của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới… Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường do Nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại Nhà nước trả tiền cho công tác định lại giá này
Việc xác định giá bồi thường được Singapore thực hiện căn cứ vào giá trị BĐS
do người bị thu hồi đất đầu tư chứ không căn cứ vào giá trị thực tế của BĐS Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường của BĐS Điều này có nghĩa là Nhà nước không bồi thường theo giá BĐS hiện tại mà bồi thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị BĐS tăng thêm
từ sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước
Nhà nước chi trả tiền bồi thường thu hồi đất làm hai đợt: đợt 1, nhà nước trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ nhà ở, phần còn lại sẽ được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở [46]
Từ việc nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số quốc gia trên thế giới, thấy được tuy mỗi nước có chế độ chính trị khác nhau, có phương thức bồi thường, hỗ trợ khác nhau nhưng về cơ bản, đều quan tâm tới chính sách hỗ trợ cho các trường hợp Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt là chính sách hỗ trợ giá bồi thường là vấn đề quan tâm hàng đầu khi thực hiện thu hồi đất
Các công trình nghiên cứu của tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá để tác giả kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu vấn đề “bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất” trên các bình diện: cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và trong thực tiễn thi hành Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Điều này có tác dụng rất lớn đối với việc bổ sung, hoàn thiện những quy định về vấn đề này để có thể đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn
Trang 173 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, từ đó định hướng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
4 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá, tìm hiểu cơ sở pháp lý về chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Đánh giá chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân trong các dự án thu hồi đất tại Tp HCM, áp dụng cho trường hợp dự án công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp HCM
Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực đất đai nói chung và bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng Các quy phạm pháp luật quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất từ Trung ương đến Tp HCM
5.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể chính mà đề tài hướng đến là những hộ gia đình, cá nhân trong dự
án đầu tư công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp HCM bị chính sách bồi thường,
Trang 18hỗ trợ tác động và cơ quan chính quyền, chuyên gia, CBCC về bồi thường, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tham gia điều tra, phỏng vấn
Luận văn nghiên cứu chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân trong các dự
án thu hồi đất tại Tp HCM, tập trung vào dự án đầu tư công trình tiêu thoát nước
và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên trong thời gian
từ năm 2010 đến nay
7 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp khảo sát sử dụng bảng hỏi:
Sử dụng bảng câu hỏi: 200 trường hợp là những hộ dân ảnh hưởng giải tỏa (chia làm 3 phần 30 câu hỏi), cán bộ Phòng, ban chuyên môn thực hiện dự án, cán
bộ địa chính phường (14 câu hỏi) nhằm đánh giá tổng quan về ý kiến của người dân hoặc ý kiến của cán bộ chuyên môn về chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tác giả lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu đối với 05 trường hợp là người dân trên địa bàn, chính quyền sở tại và các chuyên gia thuộc lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó:
Phỏng vấn người dân trên địa bàn nghiên cứu là chủ yếu và cơ bản nhằm đánh giá được nhu cầu, mức độ, mong muốn của họ đối với chính sách hỗ trợ khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án; từ đó có thể đo lường được mức độ thỏa mãn cũng như những bất cập, hạn chế trong chính sách hỗ trợ, qua đó trả lời cho nội dung cần nghiên cứu và đề xuất giải pháp
Trang 19Phỏng vấn chính quyền sở tại và các chuyên gia giúp luận văn thu thập được các ý kiến chuyên môn về chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án; những bất cập, hạn chế về chính sách hỗ trợ; đây cũng là kênh đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Thu thập từ thông tin đại chúng: báo chí, Internet, Trang thông tin điện tử của UBND Thành phố, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố, UBND quận Gò Vấp, báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí, sách, đề tài nghiên cứu khoa học đã được thực hiện, số liệu thống kê có liên quan, các báo cáo KT - XH hàng năm của quận Gò Vấp phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, chủ yếu được cung cấp từ
Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố, UBND quận Gò Vấp, Văn phòng HĐND và UBND quận Gò Vấp, Ban Bồi thường, GPMB quận Gò Vấp, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, UBND 16 phường
Bảng giá đất của UBND quận Gò Vấp các năm 2010 đến nay; các báo cáo về chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất của địa bàn quận
Phương pháp quan sát
Là phương pháp quan trọng nhằm trả lời câu hỏi về thực trạng chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Muốn vậy, tác giả sẽ tiến hành quan sát thực địa, ghi chép, chụp ảnh để đối chiếu với cơ sở lý luận, từ đó đưa ra những kết luận cho thực trạng nghiên cứu Quan sát cuộc sống của người dân sau khi giải tỏa trong dự án công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên và tại khu tái định cư mới để đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ nói chung và hỗ trợ TĐC nói riêng
Trang 20Từ phương pháp quan sát sẽ giúp tác giả có được những ý tưởng, nhận định
để trả lời cho câu hỏi đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án
8 Phương pháp xử lý dữ liệu
8.1 Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp
Xử lý số liệu đã thu thập: tính tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm thống kê: Microsoft Excel, SPSS
Từ ý kiến của người dân bị giải tỏa về cách thức sử dụng số tiền được bồi thường; nhu cầu, mong muốn của người dân đối với các chính sách hỗ trợ khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án, tác giả xử lý số liệu để đưa ra nhận định, đánh giá về hiệu quả của chính sách hỗ trợ
8.2 Phương pháp xử lý dữ liệu thứ cấp
Phương pháp phân tích tổng hợp: từ dữ liệu thu thập được, tác giả phân tích,
tổng hợp các số liệu để đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được, những khó khăn
và hạn chế trong thực thi chính sách hỗ trợ trong thực tiễn cuộc sống của người dân sau giải tỏa
Phương pháp so sánh: so sánh giá đất thị trường với giá đất bồi thường, hỗ trợ
khi thực hiện dự án, so sánh chính sách hỗ trợ của các thời điểm có thay đổi về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và TĐC để tìm ra những mặt tích cực, tiêu cực trong công tác bồi thường, GPMB
9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu mang tính thực tiễn:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn
thiện hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về bồi
thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng về chính sách hỗ trợ trong quy định pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, trên cơ sở đó chỉ ra tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành
Trang 21Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; có thể làm tài liệu
tham khảo cho việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ trong quy định pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố, đặc biệt là với quận Gò Vấp
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Đường lối, chính sách của Đảng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là thành phần cơ bản của môi trường sinh thái, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông lâm nghiệp, là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất, là địa bàn phân bố dân cư và phát triển đô thị Đối với góc độ chính trị - pháp lý, đất đai là nhân tố không thể thiếu cho sự tồn tại của dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, là lãnh thổ của quốc gia và gắn liền với chủ quyền quốc gia; trong luật pháp quốc tế, đất đai gắn liền với lãnh thổ quốc gia Đối với một nước sản xuất nông nghiệp như Việt Nam, đất đai càng có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt Nhận thức sâu sắc vấn đề này, ngay khi mới thành lập, tại Luận cương chính trị năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định thổ địa cách mạng (cách mạng ruộng đất) cùng với cách mạng tư sản dân quyền là một trong hai mục tiêu chiến lược quan trọng của Cách mạng Việt Nam, với nhiệm vụ cụ thể “đánh
đổ đế quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho người cày có ruộng” [43, tr.94]
Từ khi mới thành lập và còn trong chế độ thực dân, chưa giành được chính quyền, Đảng ta vẫn luôn xem trọng và bảo vệ quyền lợi đất đai cho mọi người dân Đến khi giành độc lập, thống nhất đất nước, đất nước bước sang giai đoạn phát triển, kiến thiết thì quan điểm này càng được thực hiện nhất quán hơn
Từ năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 100-CT/TW về
“Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp" Đến Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ
VI (1986), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng đã làm thay đổi cơ bản nội dung chính sách pháp luật về đất đai, đất đai từ chỗ do tập thể các Hợp tác xã, các đơn vị, tổ chức Nhà nước quản lý đã từng bước được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài Và sự thay đổi tư duy của Đảng được
Trang 23thể hiện qua các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung Ương đã tiếp tục khẳng định nhất quán chủ trương “ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng ổn định, lâu dài, Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất” [44, tr.68] Tiếp đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển thì phải thực hiện con đường CNH - HĐH đất nước và để CNH - HĐH đất nước thành công thì phải giải quyết vấn đề đất đai phục vụ cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, cơ sở kinh tế thông qua việc thu hồi đất của người SDĐ Nhận thức được điều này, Hội nghị Trung ương 9 khóa IX khẳng định quan điểm của Đảng về vấn đề duy trì, củng cố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đi đôi với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, trong đó có chú ý đến việc thực hiện đền bù, hỗ trợ cho người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTWĐ khoá IX có những chính sách quan trọng về bồi thường thiệt hại, tổ chức TĐC và hỗ trợ việc làm khi Nhà nước thu hồi đất Và sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, đất nước đã đạt nhiều kết quả tích cực, hiệu quả QLNN về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người SDĐ được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, công tác QLNN về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch SDĐ, định giá đất, bồi thường GPMB, hỗ trợ và TĐC; lợi ích của Nhà nước và người có đất bị thu hồi chưa tương xứng, khiếu nại, tranh chấp về đất đai còn phức tạp Trước tình hình đó, ngày 31/10/2012, Hội nghị lần thứ 6 BCHTWĐ khoá XI
đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó đã đổi mới chính sách về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, như: Nhà nước phải chủ động thu hồi đất theo kế hoạch SDĐ hằng năm đã được xét duyệt; quy định rõ ràng và cụ thể trường hợp Nhà nước thực hiện việc
Trang 24thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển KT - XH Việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật; phương thức chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ để bảo đảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi; ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi
mở rộng theo quy định của pháp luật
Những Nghị quyết trên đã đề ra quan điểm, đường lối chủ trương đầy đủ và toàn diện về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; và là cơ sở để ban hành Luật đất đai và các văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.2 Cơ sở lý luận của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, bản thân nhận thấy chế định này được xây dựng và hình thành trên những cơ sở
lý luận chủ yếu:
Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ
sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ Thứ hai, xét về bản
chất, Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập lên, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt
hại về lợi ích của người SDĐ là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của
Nhà nước gây ra Thứ tư, Nhà nước đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo đóng góp sự nghiệp phát triển đất nước Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng
Trang 25của người dân Đây cũng là một lý do dẫn đến việc ra đời chế định bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất Thứ năm, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được
xây dựng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
Nhìn lại thành tựu hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước nhận thấy thành tựu đạt được là kết quả của quá trình đổi mới tư duy mà hạt nhân cơ bản
là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản Để giải phóng năng lực sản xuất của người lao động, tạo lập một động lực mới cho sản xuất nông nghiệp, Đảng rất sáng suốt khi lựa chọn và thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp làm khâu đột phá cho toàn bộ quá trình cải cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai thông qua giao đất cho họ sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng quyền cho người SDĐ Như vậy, "quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện; còn QSDĐ thuộc sở hữu của người SDĐ" Thực tiễn cho thấy, việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của người SDĐ thì người SDĐ là người "sở hữu" một loại quyền về tài sản đó là "quyền SDĐ" Bởi
vì người SDĐ được pháp luật trao cho các quyền liên quan đến quyền SDĐ: quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền SDĐ Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận QSDĐ là một loại quyền về tài sản của người SDĐ, thì khi Nhà nước thu hồi đất (nghĩa là người SDĐ bị mất QSDĐ do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra) thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ
1.2 Khái niệm, vai trò của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
1.2.1.1 Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
a Định nghĩa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất: là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại QSDĐ hoặc
thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý
Trang 26Nhà nước thu hồi đất: là Nhà nước quyết định thu lại QSDĐ của người được
Nhà nước trao QSDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai [27, tr.2]
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra" [22, tr.79]
Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) thiệt hại
để thực hiện GPMB ở Việt Nam đã được đặt ra từ rất sớm Hiện nay, theo quan điểm của Luật đất đai 2003, 2013: “bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất thu hồi cho người SDĐ”, trong đó, giá trị QSDĐ có thể
là giá trị bằng tiền, bằng vật chất khác do các quy định của pháp luật điều tiết hoặc
do thỏa thuận giữa các chủ thể đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn SDĐ xác định, còn đền bù khi Nhà nước thu hồi đất là sự đền trả lại tất cả những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất
Bồi thường trong đất đai mang một số đặc trưng cơ bản khi Nhà nước thu hồi đất của người SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; việc bồi thường cho người SDĐ không do lỗi của Nhà nước gây
ra mà xuất phát từ nhu cầu của xã hội, của cộng đồng; bồi thường về đất thực hiện không căn cứ vào giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường (trao đổi ngang giá) mà dựa vào khung giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất
b Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự
Để hiểu rõ hơn bản chất của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, cần phải phân biệt nó với các loại bồi thường trong các lĩnh vực pháp luật khác, như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự Hai loại bồi thường này có
sự khác nhau ở một số khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, về chủ thể: bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là trách nhiệm của
Nhà nước, Nhà nước vừa là một tổ chức chính trị, quyền lực vừa là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện chức năng QLNN đối với đất đai; chủ thể
Trang 27của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có phạm vi rộng hơn, bao gồm bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào có hành vi gây thiệt hại cho người khác
Thứ hai, về chủ thể được bồi thường: bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là
người SDĐ hợp pháp bị thu hồi đất, tức là người SDĐ được Nhà nước cấp GCNQSDĐ hoặc có một trong những loại giấy tờ về QSDĐ theo quy định tại Luật Đất đai mà có đất đang sử dụng bị Nhà nước thu hồi; còn chủ thể được bồi thường trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có thiệt hại do hành vi vi phạm ngoài hợp đồng của chủ thể bồi thường gây ra
Thứ ba, về nguyên tắc bồi thường: Nhà nước thu hồi đất được thực hiện khi
người bị thu hồi đất thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về bồi thường do pháp luật quy định; nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng trong pháp luật dân
sự là nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận giữa người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường, chỉ khi nào các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì mới yêu cầu các CQNN có thẩm quyền can thiệp giải quyết
Thứ tư, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ đặt ra khi Nhà nước
ban hành một quyết định hành chính thu hồi đất (quyết định thu hồi đất) làm chấm dứt QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất xác định Hậu quả thiệt hại chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức độ bồi thường; việc Nhà nước thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội: để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp việc Nhà nước bồi thường cho người bị thu hồi đất chưa hẳn đã phải do lỗi của mình gây ra mà ở đây Nhà nước thực hiện nghĩa vụ bồi
thường của xã hội đối với người SDĐ Để thực hiện trách nhiệm xã hội, Nhà nước
không chỉ bồi thường về đất, thiệt hại về tài sản trên đất mà còn hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ di chuyển chỗ ở, giải quyết vấn đề TĐC … cho người SDĐ
Trong khi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được đặt ra khi người có trách nhiệm bồi thường có hành vi gây thiệt hại cho người khác Việc bồi thường trong trường hợp này được thực hiện dựa trên yếu tố lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra; hơn
nữa, người có trách nhiệm bồi thường chỉ chịu trách nhiệm cá nhân đối với người
Trang 28bị thiệt hại; điều này có nghĩa là họ chỉ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại
do lỗi của mình gây ra mà thôi
Thứ năm, về tính chất bồi thường: bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất hàm
chứa cả tính chất hành chính và tính chất dân sự: Tính chất hành chính của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện ở việc CQNN có thẩm quyền ra một quyết định hành chính (quyết định thu hồi đất) làm chấm dứt QSDĐ của người sử dụng đối với một diện tích đất nhất định; tính chất dân sự của loại bồi thường này thể hiện các thiệt hại thực tế của người SDĐ về TSGLVĐ bị thu hồi được Nhà nước bồi thường toàn bộ Trong khi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ thuần túy mang tính chất dân sự giữa cá nhân hoặc tổ chức với nhau
1.2.1.2 Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Trên thực tế, ngoài bồi thường thiệt hại còn một hình thức khác gọi là hỗ trợ,
hỗ trợ tương xứng với với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại
vì một hành vi của chủ thể khác Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào" [22, tr 332]
Thuật ngữ hỗ trợ không chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội mà còn được
sử dụng trong lĩnh vực pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng Theo Luật Đất đai năm 2003, 2013 quan niệm:
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển
Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
Bồi thường, hỗ trợ, TĐC là ba bộ phận cấu thành chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi Các chế định này không những
bù đắp cho người SDĐ quyền lợi về kinh tế họ mất đi mà Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất để họ ổn định đời sống và sản xuất Mặc dù bồi thường và hỗ trợ đều là việc giải quyết về quyền lợi hợp pháp cho người SDĐ - hậu quả của việc Nhà nước thu hồi đất gây ra; song về bản chất vẫn có sự khác nhau:
Trang 29Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa bồi thường và hỗ trợ (Nguồn: tự biên soạn)
Về bản
chất
Bồi thường là trách nhiệm pháp lý
của Nhà nước đối với quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị thu hồi
đất Nhà nước chỉ có trách nhiệm bồi
thường những thiệt hại phát sinh trực
tiếp từ hành vi thu hồi đất của mình
gây ra cho người SDĐ
Hỗ trợ là sự trợ giúp của Nhà nước nhằm chia sẻ khó khăn mà người SDĐ gặp phải do bị thu hồi đất gây
ra Hỗ trợ thể hiện sự nhân đạo, tính nhân văn; trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng của Nhà nước
Về
phạm vi
Bồi thường bao gồm: bồi thường về
đất; bồi thường thiệt hại về tài sản
trên đất
Hỗ trợ bao gồm: hỗ trợ đời sống gặp khó khăn cho người bị thu hồi đất;
hỗ trợ di chuyển chỗ ở; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp
Nguyên
tắc
Bồi thường về đất dựa trên khung giá
đất do Nhà nước quy định tại thời
điểm thu hồi đất;
Bồi thường thiệt hại về tài sản trên
đất thực hiện theo giá thị trường
Căn cứ vào khó khăn thực tế, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người bị thu hồi đất và khả năng tài chính của Nhà nước để xem xét, xác định mức
hỗ trợ cho từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể
Về đối
tượng
Không phải bất cứ người SDĐ nào bị
Nhà nước thu hồi đất cũng được bồi
thường mà chỉ những chủ thể SDĐ
thỏa mãn các điều kiện do pháp luật
đất đai quy định mới được Nhà nước
bồi thường khi bị thu hồi đất
Người SDĐ bị thu hồi đất gặp khó khăn sẽ được xem xét hỗ trợ (không phân biệt đó là người SDĐ hợp pháp hoặc không hợp pháp); tuy nhiên mức hỗ trợ sẽ không giống nhau giữa các đối tượng bị thu hồi đất
1.2.1.3 Khái niệm tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Hiến pháp năm 2013 quy định quyền có chỗ ở là một trong những quyền cơ
bản của công dân “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không
Trang 30được người đó đồng ý” Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người SDĐ thì Nhà
nước phải có trách nhiệm thực hiện việc TĐC cho họ
Theo Từ điển Tiếng Việt: TĐC được hiểu là đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa)
Thuật ngữ TĐC được pháp luật đất đai đề cập nhưng lại chưa có quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này Luật Đất đai 2003 chỉ quy định:
“UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án TĐC trước khi thu hồi đất Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu TĐC”
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, có thể tạm đưa ra quan niệm
về TĐC là việc CQNN có thẩm quyền phải chuẩn bị nơi ở mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định cho người bị Nhà nước thu hồi đất ở để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống khi mà phần đất nơi ở cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi không hết, phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống, phải chuyển đến nơi ở mới, bố trí đất ở, nhà ở mới cho hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi phải di chuyển chỗ ở, tại một vị trí xác định
1.2.1.4 Một số khái niệm cơ bản khác
Sau khi một chính sách công được ban hành và đưa vào thực hiện trong thực
tế một thời gian thì Nhà nước thường bắt đầu tiến hành đánh giá xem chính sách công đó đang được thực hiện như thế nào và chính sách đó có tác động như thế nào đến xã hội? Đồng thời, các cá nhân, tổ chức khác nhau trong xã hội cũng tham gia vào việc đánh giá cách vận hành và những tác động của chính sách công đó để thể
Trang 31hiện sự ủng hộ hay phản đối chính sách, hoặc yêu cầu thay đổi chính sách Vì vậy, khái niệm đánh giá chính sách công liên quan nhiều đến quá trình đánh giá một chính sách công đang vận hành, những biện pháp đang được thực hiện, những mục tiêu đang từng bước hoàn thành Việc đánh giá sâu sắc hay toàn diện một chính sách công phụ thuộc vào những mục tiêu ban đầu của chính sách công và những giải pháp đang thực hiện để hoàn thành mục tiêu đó
Quá trình đánh giá chính sách công được thực hiện theo quy trình tại Biểu đồ 1.1:
Biểu đồ 1.1: Quy trình đánh giá chính sách công Việc đánh giá chính sách công thường bao gồm các nhà hành chính và nhà chính trị liên quan đến chính sách đó và cũng có thể bao gồm nhân dân và các tổ chức trong xã hội hoặc các tổ chức tư vấn Sau khi một chính sách được đánh giá, vấn đề và các giải pháp có thể được cân nhắc lại một cách đầy đủ, có thể quay trở lại giai đoạn thiết lập chương trình nghị sự hoặc giai đoạn khác nào đó của chu trình chính sách công hoặc hiện trạng có thể được duy trì Điều đó có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ hoặc xây dựng lại nền tảng của vấn đề, chấm dứt chính sách hoàn toàn Như vậy, đánh giá chính sách công là việc kiểm tra thực tế, có hệ thống những kết quả do việc thực hiện các giải pháp chính sách mang lại và so sánh nó với mục tiêu ban đầu để xác định liệu có đạt mục tiêu mong muốn hay không [21,
Lựa chọn phương
án
Ban hành
Thực thi
Đánh giá
Trang 32yếu tố này là điều kiện rất cơ bản để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Để thực hiện những công trình xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng - an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia trên thì Nhà nước cần phải
có mặt bằng để thực hiện dự án Thế nhưng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do đó để đảm bảo lợi ích của Nhà nước và lợi ích của Nhân dân, bắt buộc Nhà nước phải thu hồi đất của người SDĐ Vì vậy, công tác thu hồi đất giữ vị trí quan trọng trong quá trình CNH - HĐH đất nước
Đồng thời, việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cũng góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ
1.2.2.2 Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất không chỉ là một công cụ hành chính thuần túy, mà nó còn là một công cụ kinh tế quan trọng của chủ sở hữu Nhà nước Sử dụng công cụ thu hồi đất cho các dự án phát triển KT - XH không có nghĩa là “lạm dụng” quyền lực nhà nước gây tổn hại đến quyền tài sản của người SDĐ Lợi ích của người bị thu hồi đất là lợi ích riêng của từng chủ thể SDĐ, nhưng phát triển bền vững KT - XH chính lại là lợi ích chung của xã hội, chỉ khi nào Nhà nước có quy định phù hợp và vận dụng tốt công cụ thu hồi đất cho phát triển KT -
XH thì hai lợi ích này mới hài hòa được
Mặt khác, vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi đất của người SDĐ để sử dụng cho các mục đích khác nhau, từ đó sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người bị thu hồi
Trang 33đất Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc bị mất nhà ở Vì thế, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của người bị thu hồi đất với lợi ích của Nhà nước, của xã hội để vừa bảo đảm nhu cầu SDĐ đai phục
vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH của đất nước; vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra
Ngoài ra, khi Nhà nước thu hồi đất sẽ gây ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống của người dân cả tinh thần lẫn vật chất Có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ đất của người dân, khi đó họ mất tư liệu sản xuất, có thể họ phải di chuyển chỗ ở và kéo theo đó là những khó khăn sẽ gặp phải trong cuộc sống hiện tại cũng như tương lai Dân gian truyền miệng nhau rằng: “Có an cư, mới lạc nghiệp”, không có chỗ ở ổn định thì con người sẽ không có điều kiện tốt nhất cho việc học tập, lao động Thấy
rõ được những bất cập, Nhà nước ngày càng điều chỉnh để có những chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC hợp lý cho những hộ dân ảnh hưởng để trả lại những quyền lợi
của họ, đảm bảo ổn định cuộc sống như ban đầu, góp phần giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất
1.2.2.3 Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
Vấn đề thu hồi đất để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì đây cũng là hành vi
"đụng chạm" trực tiếp đến quyền lợi vật chất của người SDĐ, vì vậy, thu hồi đất luôn luôn là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất (chủ đầu tư, các doanh nghiệp hoặc cộng đồng xã hội)
Thực tế giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường tổn thất, hỗ trợ, TĐC
Trang 34cho người bị thu hồi đất nhằm giúp họ vượt qua khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với
số đông người dân tham gia Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh những "điểm nóng" gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động, lôi kéo nhân dân không đồng thuận với chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, các công trình hạ tầng công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng Do đó, thực hiện tốt bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng góp phần duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tránh nguy cơ nảy sinh các xung đột xã hội
1.2.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Quá trình phát triển KT - XH của đất nước đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chế độ chính trị khác nhau nên lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng khác nhau
Thời kỳ trước năm 1945
Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam gắn liền với việc hình thành các triều đại phong kiến Ở mỗi kiểu Nhà nước các hình thức sở hữu đất đai luôn được các giai cấp thống trị chú trọng Bắt đầu từ thời vua Gia Long, Nhà nước thật sự thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất không chỉ thuộc sở hữu Nhà nước mà cả sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Tuy nhiên, sở hữu Nhà nước bao giờ cũng lấn át sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Chính sách bồi thường được thực hiện rất nguyên tắc và chặt chẽ
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1975
Sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta tiến hành xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân Hiến pháp năm
1959, Nhà nước thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai bao gồm sở hữu Nhà nước,
sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Khi tiến hành thu hồi đất Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất hoặc nhượng lại ruộng đất cho người bị trưng dụng sẽ được đền bù
từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng được trưng dụng Thực tế trong
Trang 35thời kỳ này phương án bồi thường chủ yếu là thoả thuận sau đó thống nhất giá mà không cần có CQNN có thẩm quyền phê duyệt hay ban hành giá bồi thường
Thời kỳ sau năm 1975 đến trước Luật đất đai năm 1993
Từ khi đất nước độc lập, đi theo con đường CNXH với nền kinh tế tập trung bao cấp nên đất đai chưa có giá trị cao, chính sách pháp luật phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC chưa được chú trọng Nhưng trong thời kỳ này đã xóa bỏ những tàn tích chiếm hữu ruộng đất và một số hình thức bóc lột phong kiến, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển XHCN ở miền Bắc và xây dựng CNXH ở miền Nam, phục vụ cho việc lấy đất các công trình của Nhà nước; các chính sách về đất đai, bồi thường thiệt hại dần dần được ban hành
Điều 19 Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm
mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển, thềm lục địa … là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” với quy định này đã thể hiện rõ đất đai chỉ có một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và công tác tăng cường quản lý ruộng đất trong cả nước quy định người bị thu hồi đất chỉ được bồi thường tài sản trên đất Trường hợp cần đất
sử dụng thì cấp đất khác Giai đoạn này hầu như khung pháp lý về giải tỏa đền bù không đặt ra mà do thương lượng, thỏa thuận, khi Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước giao đất khác hoặc đền bù thực tế đối với đất ở, còn đất nông nghiệp thì hoán đổi đất khác hoặc đền bù từ 3-5 lần giá trị sản lượng mảnh đất đó Còn hầu hết đất xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện khí hóa nông thôn thì Nhà nước dùng phương thức vận động tự nguyện “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nhìn chung giai đoạn này ít xảy ra khiếu nại về bồi thường vì đất đai chưa có giá trị cao Sau Đại hội Đảng lần VI năm 1986 thì đất nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Do đó, nhu cầu SDĐ tăng nên thị trường đất đai sôi động hơn
Năm 1988, Luật đất đai lần đầu tiên ra đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực QLNN về đất đai Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người SDĐ khi bị
Trang 36thu hồi đất được quy định tại Điều 49 “Khi đất đai đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội thì được đền bù thực tế và được giao đất khác” Người nhận đất thì phải đền bù thiệt hại thực tế cho người sử dụng đất giao lại cho mình, phải bồi hoàn thành quả lao động những năm đầu tư làm tăng giá trị đất đó Đây chỉ là thỏa thuận giữa người nhận đất và người có đất bị thu hồi chứ Nhà nước chưa can thiệp tới
Hiến pháp 1992 ra đời thì tiếp tục khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”
Giai đoạn sau khi có Luật Đất đai năm 1993 đến năm 2003
Luật đất đai 1993 ra đời lấy Hiến pháp 1992 làm nền tảng và kế thừa Luật đất đai năm 1988, đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm mới cho phù hợp với thực tế và thừa nhận là đất đai có giá trị
Điều 12 khẳng định: “Đất đai có giá và Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển QSDĐ, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, đền bù thiệt hại về đất khi bị thu hồi”
Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Trong thời gian này một số tiêu cực trong việc quản lý và SDĐ phát sinh như: giao đất không đúng thẩm quyền, trái nguyên tắc, tranh chấp, lấn chiếm đất đai Để Luật đất đai được phát huy, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các Bộ đã ban hành một hệ thống văn bản và chính sách về đất đai, trong đó có Nghị định 87/NĐ-
CP ngày 17/8/1994 và Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994; hai nghị định này ra đời đã giải quyết phần nào những vướng mắc trong công tác đền bù, giải tỏa tạo sự thống nhất trong cách tính đền bù giữa các địa phương trong cả nước, hạn chế được
sự biến động về giá thông qua quy định mức giá cao nhất và thấp nhất
Trang 37Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế không phù hợp với thực tế như: bảng quy định giá đất của địa phương thấp hơn nhiều so với giá trị thực trên thị trường gây ra những phản ứng từ những người có đất bị thu hồi Chính sách TĐC do thiếu quy hoạch, quá trình xây dựng các khu TĐC chưa đồng bộ với việc giải tỏa đền bù
Để khắc phục những hạn chế cho phù hợp với thực tế, Luật Đất đai 1993 đã được sửa đổi bổ sung lần đầu năm 1998 và ngày 24/4/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/NĐ-CP để thay thế Nghị định 90/NĐ-CP, quy định cụ thể, chi tiết đối tượng được bồi thường, không được bồi thường, hỗ trợ thêm cho tài sản bị thiệt hại, giá đền bù thiệt hại gần với giá thị trường hơn, điều chỉnh theo hệ số trượt giá k,
hỗ trợ, trợ cấp thích hợp cho người bị di dời Tuy nhiên, Nghị định 22/NĐ-CP vẫn còn chưa khắc phục được những hạn chế: Người dân sau khi di dời, TĐC lại gặp rất nhiều khó khăn như tìm việc làm mới, học hành, ổn định cuộc sống…
Thời kỳ từ khi có Luật đất đai 2003 đến Luật đất đai năm 2013
Để khắc phục những hạn chế cho phù hợp với thực tế của xã hội, Luật đất đai năm 2003 ra đời, đã có nhiều cập nhật phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước, đặc biệt là công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Trong Luật đất đai năm 2003, Điều 38 bổ sung một số trường hợp phải thu hồi đất của Điều 26 Luật đất đai 1993 cho phù hợp với thực tế Luật đất đai năm 2003 còn mở rộng thêm một số trường hợp được bồi thường và không bồi thường khi thu hồi đất tại Điều 38, Điều 42, Điều 43 Một điểm mới trong Luật đất đai năm 2003 là ngoài việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, còn quy định về việc thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, trong đó có mở rộng đường theo chủ trương chỉnh trang đô thị Đồng thời ngày 29/9/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-
CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 Đồng thời, để hướng dẫn những quy định mới về bồi thường, giải tỏa, TĐC thì ngày 03/12/2004 Chính phủ ban hành NĐ 197
về việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Ngày 21/01/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, trong đó có một số nội dung sửa đổi bổ sung liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Trang 38 Thời kỳ từ khi có Luật đất đai năm 2013 đến nay
Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ
6 thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực ngày 01/7/2014
Luật đất đai 2013 có nhiều cập nhật phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay của đất nước, đặc biệt là về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC đang là vấn đề bức xúc, đáng quan tâm của xã hội
So với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều với 11 điểm mới nổi bật, trong đó có những điểm mới nổi bật về công tác thu hồi đất như: Xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước phải thu hồi đất nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người SDĐ đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội
Quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người SDĐ và nhà đầu tư
Đảm bảo quyền và lợi ích của những người SDĐ hợp pháp được cấp GCN
và bảo đảm các quyền của người SDĐ Đồng thời khắc phục về cơ bản những trường hợp được cấp GCNQSDĐ với việc thực hiện NVTC với Nhà nước đảm bảo
sự bình đẳng giữa những người SDĐ và ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn Ngày 15/5/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Qua những thời kỳ trên, thấy được pháp luật đất đai của nước ta ngày càng được đổi mới, phù hợp hơn và có những đóng góp quan trọng cho công cuộc đổi mới của đất nước, góp phần cải thiện đời sống người dân ngày một tốt hơn góp phần tạo nên một xã hội hiện đại, công bằng, văn minh và dân chủ
1.3 Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 39Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất của Trung ương qua các thời kỳ được thể hiện tại các văn bản như Luật đất đai 2003, 2013; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007, số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009,
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009, số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại Tp HCM qua các thời kỳ được thể hiện tại các văn bản như Quyết định số 106/2005/QĐ-UBND ngày 16/6/2005; số 17/2008/QĐ-UBND ngày 14/3/2008; số 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/5/2010; số 23/2015/QĐ-UBND ngày 15/5/2015; số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND Tp HCM
Mặc dù trải qua các thời kỳ khác nhau, nhưng chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất được thể hiện trên các nội dung chủ yếu như sau:
1.3.1 Quy định chung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.3.1.1 Phạm vi và đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.3.1.2 Nguyên tắc chi trả bồi thường
Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ thì tiền bồi thường và
Trang 40kinh phí tổ chức thực hiện được tính vào vốn đầu tư của dự án
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thu tiền SDĐ, tiền thuê đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường và kinh phí tổ chức thực hiện việc bồi thường và được trừ vào tiền SDĐ, tiền thuê đất phải nộp; mức trừ không vượt quá số tiền SDĐ, tiền thuê đất phải nộp
Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thu tiền SDĐ, tiền thuê đất thì không phải trả vào tiền SDĐ hoặc tiền thuê đất phải nộp
Đồng thời, tùy từng trường hợp cụ thể, người bị thu hồi đất, bị thiệt hại về TSGLVĐ bị thu hồi sẽ được bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản trên đất bị thu hồi, hỗ trợ di chuyển chỗ ở, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ
để ổn định sản xuất và đời sống tại khu TĐC
1.3.2 Bồi thường, hỗ trợ về đất
1.3.2.1 Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất
Người SDĐ được bồi thường hoặc hỗ trợ toàn bộ diện tích đất bị Nhà nước thu hồi; trường hợp toàn bộ hoặc một phần diện tích đất bị thu hồi không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét để hỗ trợ
Người bị thu hồi đất đang SDĐ vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệnh đó được thực hiện thanh toán bằng tiền
1.3.2.2 Điều kiện bồi thường, hỗ trợ về đất
Qua từng thời kỳ, điều kiện bồi thường, hỗ trợ về đất được quy định khác nhau Trong thời điểm hiện nay, ngoài những điều kiện bồi thường, hỗ trợ theo pháp luật đất đai quy định, đã bổ sung hai trường hợp được bồi thường về đất gồm bồi thường đối với các trường hợp SDĐ thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và bồi thường đối với trường hợp cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang SDĐ mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có GCN hoặc có đủ điều