Mặt khác, với sự ra đời ngày càng nhiều các kênh truyền hình Việt Nam và quốc tế, thì phim truyện được trình chiếu trên các kênh truyền hình ngày càng nhiều và tác động không nhỏ đến hoạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI ĐỨC SANG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHIM TRUYỆN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 05/2013
Trang 2i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
5 Đóng góp của luận văn 11
6 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1. Các khái niệm 13
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới 15
1.2.1 Ngày khai sinh của ngành điện ảnh thế giới và thể loại phim đầu tiên được trình chiếu 16
1.2.2 Điện ảnh: sự hấp dẫn của phim ảnh 20
1.2.3 Sơ nét về phim ảnh của một số nước trên thế giới 21
1.3. Tính chất của phim truyện 31
1.3.1 Phim truyện thời kỳ đầu 32
1.3.2 Tính xác thực trong phim truyện 33
1.3.3 Ngôn từ được dùng trong phim truyện 34
1.3.4 Phim truyện và tính đại chúng của phim truyện 34
1.3.5 Phim truyện và tính thương mại của phim truyện 35
1.4. Phân loại phim truyện (Feature-film) 37
1.4.1 Phim truyện bạo lực (Violence films) 37
1.4.2 Phim truyện tâm lý xã hội (Drama films) 38
1.4.3 Phim hài (Coedy films)………39
1.4.4. Một số thể loại phim truyện Việt Nam khác 39
CHƯƠNG 2: ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM 42
2.1 Lịch sử hình thành nền điện ảnh Việt Nam 42
2.1.1 Các Hãng phim của người Pháp tại Việt Nam 43
2.1.2 Các Hãng phim và nhóm làm phim của người Việt 43
2.1.3 Những rạp chiếu phim đầu tiên ở Việt Nam 47
2.1.4 Công luận với phim ảnh Việt Nam thời kỳ đầu 49
2.2 Sự hình thành và phát triển của điện ảnh Cách mạng Việt Nam 50
2.2.1 Sự khởi đầu gian khó và phim truyện đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam 50
2.2.2 Sự phát triển của điện ảnh cách mạng Việt Nam trước 1975 53
2.3 Sơ lược điện ảnh tại miền Nam trước 1975 55
2.4 Phim truyện Việt Nam trong và sau thời kỳ Đổi Mới 56
2.4.1 Giai đoạn 1986-2002 56
2.4.2 Phim truyện Việt Nam từ 2002 đến hiện nay 62
Trang 3ii
CHƯƠNG 3: PHIM TRUYỆN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SINH VIÊN 76
3.1 Phim truyện Việt Nam – Nhận định từ sinh viên TP HCM 76
3.1.1 Tình hình hưởng thụ phim truyện chiếu rạp của sinh viên TP HCM 77
3.1.2 Rạp chiếu phim – Nơi gặp gỡ lý tưởng 81
3.2 Sinh viên xem phim truyện trên các kênh truyền hình và trên internet 83
3.3 Mục đích và tiêu chí chọn phim để xem của sinh viên ở TP HCM 88
3.3.1 Mục đích xem phim của sinh viên ở TP HCM 88
3.3.2 Các tiêu chí chọn lựa phim truyện của sinh viên ở TP HCM 89
3.3.3 Những quan tâm của sinh viên TP HCM khi xem phim truyện 94
3.3.4 Tiêu chí để chọn xem một phim truyện của sinh viên TP HCM 96
3.4 Điện ảnh Việt Nam – Nhu cầu và thực tế 99
3.4.1 Phim truyện Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu người xem 99
3.4.2 Ảnh hưởng diễn viên ngôi sao trong công chúng 104
3.4.3 Phim ảnh với nguyện vọng của sinh viên 109
3.5 Nhận định của một số nhà chuyên môn về phim truyện Việt Nam 117
3.5.1 Phim truyện Việt Nam: món ăn tinh thần của công chúng 118
3.5.2 Âm nhạc là “nhân vật” không thể thiếu trong phim truyện 120
3.5.3 Công chúng khán giả - Giá trị bền vững 120
3.6 Phim bạo lực và tác động của nó đối với xã hội 122
3.6.1 Ảnh hưởng từ phim truyện bạo lực 124
3.6.2 Phim ảnh bạo lực và phim truyện bạo lực trên truyền hình 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 152
PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI KHẢO SÁT 153
PHỤ LỤC 2 159
PL2.1 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN NSƯT- ĐẠO DIỄN LÊ DÂN 159
PL2.2 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN PGS.TS TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN (nhà Nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật và điện ảnh) 164
PL2.3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN BIÊN KỊCH DIỆU NHƯ TRANG 166
PHỤ LỤC 3 168
PL3.1 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 1 - NH 168
PL3.2 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 2 - NH 174
PL3.3 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 3 - NH 178
PL3.4 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 4 - NH 182
PL3.5 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 5 - NH 184
PL3.6 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 6 - XHH 186
PL3.7 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 7 - XHH 188
PL3.8 BIÊN BẢN CUỘC PHỎNG VẤN 8 - XHH 191
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ
Bảng 1: Mẫu khảo sát chia theo ngành học, giới tính, năm học, nơi ở hiện nay 5
Bảng 2: Sinh viên xem phim truyện tại rạp chia theo ngành học, giới tính, năm học và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú 78
Bảng 3: Sinh viên xem phim tại rạp chia theo tình trạng đi học thêm và đi làm thêm 80
Bảng 4: Sinh viên xem phim tại rạp với ai, theo giới tính, ngành học, năm học 82
Bảng 5: Ngày đi xem phim tại rạp, chia theo giới tính, ngành học và năm học 83
Bảng 6: Sinh viên xem phim truyện trên TV, theo ngành học, giới tính, năm học 84
Bảng 7: Sinh viên xem phim truyện trên internet, theo giới tính, ngành học và năm học 86
Bảng 8: Kết quả kiểm định Chi-quare về mức độ xem phim trên internet so sánh giữa nam và nữ; sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 87
Bảng 9: Mục đích xem của SV phim chia theo giới tính, ngành học, năm học 89
Bảng 10: Bạn thường xem phim do nước nào sản xuất? Chia theo giới tính, ngành học và năm học 90
Bảng 11: Bạn thích xem phim nước nào? Theo giới tính, ngành học, năm học 91
Bảng 12: Yếu tố quan tâm trong phim? Theo giới tính, ngành học, năm học 95
Bảng 13: Tiêu chí chọn xem phim truyện, theo giới tính, ngành học, năm học 96
Bảng 14: Thể loại phim truyện được chọn xem, chia theo giới tính, ngành học và năm học 98
Bảng 15: Phim truyện Việt Nam: Ý kiến sinh viên về việc đáp ứng nhu cầu người xem 100
Bảng 16: Ý kiến của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung phản ánh của phim truyện Việt Nam 102
Bảng 17: Nhận xét về phim bạo lực Việt Nam – Khảo sát theo tuổi và giới tính 103
Bảng 18: Khán giả thường làm theo điều gì mà diễn viên diễn trong phim? Chia theo giới tính, ngành học và tuổi 106
Bảng 19: Tái hiện hành vi - thái độ, như trong phim vào đời sống hàng ngày? 107
Bảng 20: Bạn có mong điều gì cho mình như trong phim?- Khảo sát theo giới tính, ngành học và năm học 109
Bảng 21: Bạn mong muốn gì về thị trường phim Việt Nam? – Khảo sát theo tuổi và giới tính 111
Bảng 22: Bạn muốn học hỏi điều gì từ phim Mỹ chia theo giới tính, ngành học và năm học 112
Bảng 23: Bạn mong muốn học tập điều gì từ phim Hàn Quốc? 114
Bảng 24: Bạn mong muốn học tập điều gì từ phim Trung Quốc, chia theo giới tính, ngành học và năm học 115
Trang 5iv
Bảng 25: Đề xuất của sinh viên TP HCM để phim Việt Nam phát triển? Khảo
sát theo giới tính, ngành học và năm học 117Bảng 26: Sở thích về nội dung phim ảnh của phạm nhân thanh thiếu niên ở trại
giam Thanh Xuân (Hà Nội) .123Bảng 27: Nguyên nhân dẫn đến tội phạm 124Bảng 28: Tỷ lệ các loại thông tin trong các bản tin thời sự trên truyền hình và
báo chí Mỹ: 128
Trang 6KT-VH-XH : Kinh tế - văn hóa – xã hội
LHP : Liên hoan phim
Trang 71
DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu
Năm 1986 đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc “Đổi mới” của Đảng và Nhà nước cho đến nay đã tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ và tích cực trên mọi mặt của đời sống Trong quá trình đó, hoạt động văn hóa – nghệ thuật, đặc biệt là lãnh vực điện ảnh - một loại hình nghệ thuật tổng hợp đương đại, đã vươn lên không chỉ
về mặt kỹ thuật mà cả về nội dung nhằm phản ánh những thay đổi, những vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội đồng thời đáp ứng nhu cầu giải trí và hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân Trong sự nghiệp Đổi mới, Việt Nam cũng đã mở cửa và chủ động hội nhập và đã tạo nên những vận hội mới cho sự phát triển của nghệ thuật thứ bảy Mặt khác, với sự ra đời ngày càng nhiều các kênh truyền hình (Việt Nam và quốc tế), thì phim truyện được trình chiếu trên các kênh truyền hình ngày càng nhiều và tác động không nhỏ đến hoạt động giải trí, thị hiếu của người xem và
cả trong hành vi ứng xử của khán giả, nhất là giới trẻ trong đó có sinh viên
Trong các loại hình nghệ thuật, điện ảnh - đặc biệt là phim truyện, đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và định hướng cho các chuẩn mực xã hội Phim truyện cũng như nhiều loại hình văn học, nghệ thuật khác đã phê phán một cách sâu sắc những thói hư tật xấu trong xã hội, cổ vũ cho một lối sống lành mạnh, bảo vệ truyền thống văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần xác lập các chuẩn mực mới phù hợp với sự phát triển xã hội Phim truyện nói chung (phim truyện điện ảnh, phim truyện truyền hình,…) tác động đáng kể trong việc xây dựng một lối sống thể hiện bản sắc và bản lĩnh của dân tộc đối với đông đảo tầng lớp nhân dân Phim truyện càng có ý nghĩa giáo dục đối với lớp trẻ, trong đó có sinh viên Sinh viên được trang bị một số vốn kiến thức đủ để có tầm nhìn bao quát, cũng như có khả năng thẩm định mức độ nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng Có thể nói, sinh viên là lớp trẻ ưu tú trong xã hội Nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật nói chung và phim truyện nói riêng của sinh viên là một trong những đối tượng cần được tìm hiểu một cách nghiêm túc và khoa học để các nhà hoạt động
Trang 82 nghệ thuật trong lãnh vực điện ảnh, nhất là phim truyện có thêm những cơ sở định hướng cho hoạt động sáng tác, diễn xuất, tổ chức phục vụ nhằm phát triển điện ảnh nói chung và loại hình phim truyện nói riêng của nước nhà Phim truyện Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực đồng thời đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt với phim truyện nước ngoài ngay trong hoạt động nghệ thuật của nước nhà
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa về văn hóa, điện ảnh Việt Nam tuy
có sự tiếp cận với điện ảnh thế giới từ khá sớm (1898), nhưng có những bất cập trong quá trình phát triển và hội nhập, nên có phần yếu thế trong cạnh tranh với những nền điện ảnh khác như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Mặt khác, kinh tế và xã hội nước ta ngày càng phát triển, công chúng ngày càng có điều kiện và nhu cầu cao hơn về thụ hưởng văn hóa, trong khi nền điện ảnh nước nhà dường như chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó Trong bối cảnh phim ảnh ngoại nhập được trình chiếu ngày càng nhiều, được cung cấp cho người xem dưới nhiều hình thức nên đang có khuynh hướng chiếm lĩnh thị trường nội địa Có một thực tế
là phim ảnh Việt Nam dù có được lợi thế “sân nhà”, “khán giả nhà” nhưng chưa có
được nhiều sản phẩm phim truyện đủ sức cạnh tranh với phim truyện nước ngoài Phim truyện Việt Nam cũng chưa tạo ra được một phong cách riêng để thu hút được khán giả nhà Đó là thách thức to lớn trong sự nghiệp phát triển điện ảnh và phim truyện của nước nhà Làm thế nào để đưa phim truyện Việt Nam đáp ứng được nhu cầu cũng như thỏa mãn được sở thích của công chúng Việt cũng là vấn đề cấp thiết Trong bối cảnh chủ động hội nhập và giao lưu văn hóa, đã xuất hiện những tín hiệu đáng lạc quan như sự ra đời của các hãng phim tư nhân, hoạt động liên hoan phim, đầu tư trang bị các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại… tạo tiền đề cho sự cất cánh của điện ảnh Việt Nam, đáp ứng được nhu cầu người xem, đủ sức cạnh tranh với điện ảnh nước ngoài trong thời gian tới Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, ngành điện ảnh và giới nghệ sĩ Việt Nam (nhà biên kịch, đạo diễn, diễn viên,…) không chỉ phải hiểu rõ về văn hóa nước nhà, lịch sử, tâm lý, tình cảm của dân tộc mà còn phải nắm bắt về nhu cầu, thị hiếu của người xem, nhất là thanh niên, trong đó, một bộ phận quan trọng là sinh viên
Trang 93 Với bối cảnh nêu trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu ảnh hưởng của phim truyện Việt Nam đối với sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) nhằm tìm ra nhu cầu, thị hiếu của sinh viên đối với phim truyện Việt Nam, trong tương quan so sánh giữa phim truyện Việt Nam với phim truyện của nước ngoài được trình chiếu trong nước nói chung và ở TP HCM nói riêng là rất cần thiết Mục tiêu cụ thể của đề tài là ghi nhận sự đánh giá của sinh viên trên các mặt kịch bản, diễn xuất, nội dung phản ánh, lời thoại, kỹ thuật và kỹ xảo,… của phim truyện Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến nay Từ những đánh giá trên có thể phân tích được mặt mạnh và mặt yếu của phim truyện Việt Nam dưới góc nhìn của sinh viên ở TP HCM Có thể nói, sinh viên trong đó sinh viên ở TP HCM là một bộ phận quan trọng, có năng lực và tri thức để đánh giá về giá trị cũng như chất lượng của các bộ phim cũng như dòng phim truyện nói chung Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp thêm những dữ liệu thực tế cho giới chuyên môn tham khảo để nâng cao chất lượng của phim truyện Việt Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khán giả trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của phim truyện Việt Nam với phim truyện của nước ngoài
Tóm lại, với những lý do và mục đích nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của phim truyện Việt Nam đối với sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp
Hồ Chí Minh)” làm luận văn tốt nghiệp
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn tốt nghiệp bậc cao học, chúng tôi chỉ chọn khảo sát sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHKHXH&NVTPHCM) để khảo sát Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất nước, hoạt động văn hóa nghệ thuật phong phú và đa dạng, ảnh hưởng đến nhiều tỉnh ở phía Nam nên việc khảo sát trên địa bàn TP HCM cũng có thể đại diện cho
khán giả sinh viên của các tỉnh phía Nam Mặt khác, đề tài luận văn này chỉ nghiên
cứu về ảnh hưởng của dòng “Phim truyện Việt Nam” đối với sinh viên hai khoa kể trên để phân tích các mặt mạnh, mặt yếu trong các khâu kịch bản, diễn viên, kỹ
Trang 104 thuật, lời thoại,… của dòng phim truyện Việt Nam này Và, trong một chừng mực
có thể, luận văn cũng cố gắng thu thập thông tin nhằm so sánh tương quan giữa phim truyện Việt Nam và phim truyện của một số nước về mức độ ảnh hưởng đối với sinh viên khảo sát
Về mặt thời gian, luận văn giới hạn trong việc khảo sát ảnh hưởng của các phim truyện ra đời từ 1986 đến nay, gồm cả phim truyện điện ảnh (chiếu rạp) và phim truyện truyền hình, trong đó có cả những phim truyện hợp tác với nước ngoài đối với sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG – TP.HCM, tại hai khoa Nhân học và Xã hội học
Về mặt nội dung, đề tài luận văn này sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
+ Nhu cầu thưởng thức phim truyện của sinh viên được khảo sát;
+ Đánh giá của sinh viên khảo sát đối với phim truyện Việt Nam ;
+ So sánh mức độ ưa thích của sinh viên được khảo sát đối với phim truyện Việt Nam với phim truyện của một số nước (Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc…) Phim truyện truyền hình nhiều tập; phim truyện chiếu rạp (phim nhựa);…
+ Ghi nhận những ý kiến của sinh viên khảo sát về việc nâng cao chất lượng phim truyện Việt Nam trong thời gian tới
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện chủ đề nghiên cứu của luận văn này chúng tôi vận dụng cả hai cách tiếp cận: tiếp cận định lượng và tiếp cận định tính [176:2010] Dữ liệu định lượng được thu thập bằng phiếu thăm dò ý kiến của sinh viên [xem Phụ lục 1] tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (Trường ĐHKHXH&NV-TPHCM) Trường ĐHKHXH&NV-TPHCM có 20 khoa, 6 bộ môn, 13 trung tâm với hơn 11 ngàn sinh viên hệ chính qui Các khoa, bộ môn, trung tâm,… của trường thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn Với điều kiện thời gian và kinh phí có hạn, chúng tôi chỉ có thể khảo sát 150 sinh viên Để tiện cho việc khảo sát và được sự cho phép của Ban Chủ nhiệm khoa, chúng tôi đã chọn khảo sát sinh viên của khoa Nhân học và khoa Xã hội học đều thuộc lãnh vực khoa học nhân văn để khảo sát; mỗi khoa 75 sinh viên, gồm sinh viên năm thứ hai và
Trang 115 năm thứ ba Do số lượng mẫu tương đối nhỏ (150 sinh viên) nên phương pháp chọn mẫu được vận dụng là phương pháp chọn mẫu theo hạn ngạch (quota sampling) với
75 sinh viên khoa Nhân học và 75 sinh viên khoa Xã hội học (mỗi khoa 50% tổng
số sinh viên khảo sát), 75 (50%) nam và 75 nữ (50%) Mẫu khảo sát với những đặc trưng về ngành học, giới tính, năm học, nơi ở của đối tượng khảo sát được phản ánh
cụ thể trong bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Mẫu khảo sát chia theo ngành học, giới tính, năm học, nơi ở hiện nay
Ngành
Học
Giới tính Năm học Nơi ở hiện nay
Tổng cộng
Ngoại Thành
Các tỉnh ngoài TP.HCM Nhân
Tài liệu định tính [176:2010], được thu thập từ các cuộc phỏng vấn các
“chuyên gia” và phỏng vấn sâu các sinh viên Các “chuyên gia” được chọn là
những người am hiểu trong trong lãnh vực điện ảnh và phim truyện Chúng tôi đã liên hệ và may mắn được sự đồng ý của ông Lê Dân, NSƯT, đạo diễn và là Giám đốc Trung tâm UNESCO Điện ảnh Đa truyền thông Việt Nam; của PGS TS Trần Trọng Đăng Đàn, nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật và điện ảnh; của nhà biên kịch Diệu Như Trang, tác giả của nhiều kịch bản phim truyện Việt Nam Đối với sinh viên, chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu tám sinh viên, gồm năm sinh viên
khoa Nhân học và ba sinh viên khoa Xã hội học Ý kiến của các “chuyên gia” trong
Trang 126 lãnh vực nghiên cứu giúp chúng tôi lý giải một cách sát thực về sự phát triển của điện ảnh và phim truyện nước nhà trong gần 30 năm qua cũng như về vai trò của điện ảnh trong đời sống nghệ thuật của TP HCM từ sau Đổi mới Ý kiến của các sinh viên trong các cuộc phỏng vấn sâu, giúp chúng tôi phân tích sâu hơn kết quả thu thập từ dữ liệu định lượng bằng phiếu hỏi đối với 150 sinh viên
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: giúp phân tích theo chiều lịch đại về nội
dung tác phẩm, bối cảnh hình thành nguyên nhân, sự kiện mà nó miêu tả và sự phát triển của kỹ thuật… Qua đó chúng ta có thể nhận biết nghệ thuật điện ảnh chịu sự khúc xạ của lịch sử sâu sắc như thế nào và ngược lại
- Phương pháp liên ngành: phương pháp nghiên cứu liên ngành giúp triển
khai những kiến thức Việt Nam học đã tiếp thu trong quá trình học tập, cũng như sử dụng một số kết quả của các ngành học liên quan gồm Xã Hội học, Văn Hóa học, Đông Phương học, Nhân học…
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tuy đã có không ít công trình nghiên cứu, phân tích, phê bình những vấn đề liên quan đến điện ảnh trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng hiệu quả của những công trình đó vẫn chưa đáp ứng so với nhu cầu cấp thiết của nền điện ảnh phim truyện hiện nay Sách chuyên khảo về điện ảnh thì khá nhiều, nổi bật nhất có thể kể đến hai công trình nghiên cứu, biên soạn của Iecgi Teplix – “Học giả” điện
ảnh Xô Viết và Georges Sadoul - nhà “bác học” điện ảnh người Pháp (theo Bành
Bảo) về nền tảng của nghệ thuật điện ảnh thế giới, nhất là về lĩnh vực phim truyện
và một số tác giả có tên tuổi lớn được đề cập trong luận văn này
- Trong cuốn Lịch sử điện ảnh thế giới, do Nxb Văn hóa ấn hành năm 1979,
tác giả Iecgi Teplix nêu lên những yếu tố chính về việc hình thành, phát triển nền điện ảnh thế giới như: người sản xuất phải biết thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình bằng những hình tượng có sức tác động nghệ thuật mạnh; xoáy sâu vào lĩnh vực hoàn thiện ngôn từ của điện ảnh, đặc biệt tác giả đã nêu bật vai trò điện ảnh Mỹ trong giai đoạn cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra toàn diện vào năm 1929 và những
năm sau đó Đồng thời Iecgi Teplix cũng chỉ rõ về bản chất, hiện tượng góc khuất
Trang 137
trong sự hào nhoáng của Hollywood Lịch sử điện ảnh thế giới là công trình nghiên
cứu khá toàn diện về lịch sử điện ảnh thế giới, đúng như tên gọi của tác phẩm
- Trong cuốn Lịch sử điện ảnh Cách mạng Việt Nam do Nguyễn Duy Cần
chủ biên (1983), nói lên sự khó khăn, thiếu thốn nhưng con người Việt Nam đã biết
tự mình sáng tạo để ngành phim ảnh ra đời và hoạt động hiệu quả, góp phần không nhỏ cho công cuộc thống nhất đất nước Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này các tác giả đề cập khá sâu về cái đẹp trong nghệ thuật điện ảnh Xã hội chủ nghĩa
như: “Có thể nói trong mỗi hình tượng người chiến sĩ trên màn ảnh Việt Nam - dù
đó là phim truyện, phim tài liệu hay thời sự - đều chứa đựng một phần cuộc đời, những tâm tư, những tình cảm tốt đẹp nhất là của những người sáng tạo ra nó và, nhiều hay ít, đã đáp ứng lòng mong ước, trí tưởng tượng của đông đảo người xem”
[13:434] Công trình nghiên cứu này đã phác họa được giai đoạn hình thành ngành nghệ thuật phim truyện Việt Nam, phân tích những phần được và chưa được của các phim truyện từ thời kỳ đầu thành lập cho đến những phim sản xuất vào những năm
1980 Trong tác phẩm này, tác giả cho rằng phim Chung một dòng sông là sự khởi
đầu rất ấn tượng của ngành phim truyện Việt Nam Ở lĩnh vực phim đề tài chiến
tranh tiêu biểu với các phim Vỹ tuyến 17 ngày và đêm, Nổi gió, Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng… là những thành công Trong đề tài lao động sản xuất có: Bức tường không xây, Bản đồ án bị bỏ quên, Chuyến xe bão táp,… phản ánh một cách sinh động sự cần cù, chăm chỉ của con người Việt Nam
- Sách Lịch sử điện ảnh thế giới của Georges Sadoul do Nxb Ngoại văn ấn
hành năm 1985, ngoài phần phác họa lại lịch sử điện ảnh thế giới, Georges Sadoul dành nhiều chương đề cập đến nền điện ảnh Mỹ Qua các chương: “Sự cất cánh đầu tiên của Mỹ” (chương IV); “Sự đi lên của Mỹ” (chương VII); “Xây dựng Hollywood” (chương XII); “Mười lăm năm phim Mỹ” (chương XIV); “Hollywood những năm 1945 -1962” (chương XIX);… tác giả đã nêu những đóng góp của điện ảnh Mỹ trong sự phát triển của điện ảnh thế giới Bên cạnh đó, Georges Sadoul còn
đề cập đến những nền điện ảnh mới phát triển như:“Thế giới A rập và Châu Phi đen” (chương XXVI) cũng như “Vùng Viễn Đông” (chương XXIV) Đặc biệt
Trang 148
Georges Sadoul cũng đề cập đến lịch sử điện ảnh Việt Nam bên cạnh những nền điện ảnh lân cận như Nhật, Philippine, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài
Loan v.v… Với đề tài nghiên cứu rộng lớn như vậy Lịch sử điện ảnh thế giới của
Georges Sadoul thật sự mở ra một cái nhìn mới về điện ảnh thế giới
- Trong Tiểu luận phê bình điện ảnh (Nxb Trẻ, 1996) đã tập hợp những tiểu
luận phê bình của cây bút phê bình điện ảnh Đức Kôn Ông có cái nhìn sắc sảo và
mạnh mẽ, nêu bật khuyết điểm tồn tại trong những bộ phim mà ông gọi là “mì ăn liền” [78:222], của các hãng phim tư nhân sản xuất “Còn đối với loại phim “cúng cụ” thì vừa cũ, vừa nhàm, khô khốc, nửa vời, phim “hành động” không ra hành động, “tâm lý “ không ra “tâm lý”, “truyện” không ra “truyện”, “tài liệu” không
ra “tài liệu” như thế, thì ngay cả đối với người có thị hiếu hiền lành, nghiêm túc cũng ngán, nói chi đối với số đông xem phim chỉ cốt để giải trí Phim ế cũng không
có gì là lạ cả” [78:221] Đức Kôn đã công bằng và thiết tha với điện ảnh Việt Nam,
khi không ngớt lời ca ngợi trong sự hoài cổ, khi nói về thành công của hoạt động
phim ảnh, sau hai mươi năm giải phóng của phim ảnh TP.HCM Tác giả cũng đã nói về những thành tựu của phim truyện Việt Nam trước đây qua các bộ phim: “Chị
Tư Hậu”, “Cánh đồng hoang”, “Chung một dòng sông”, “Con chim vành khuyên”,
“Người chiến sĩ trẻ”, “Nổi gió”, “Đến hẹn lại lên”, “Đường về quê mẹ” v.v,…
- Đồng hành cùng màn ảnh (Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998) của nhà lý
luận, phê bình điện ảnh Ngô Phương Lan Trong tác phẩm, tác giả có hai tiểu luận
về một cái nhìn toàn cảnh điện ảnh Việt Nam thời chống Thực dân – Đế quốc và thời kỳ thống nhất đất nước Đặc biệt, Ngô Phương Lan dành phần lớn tác phẩm
của mình để nhấn mạnh phần phê bình phim, bắt đầu từ phim “Ngõ hẹp” mà tác giả
đã viết năm 1988, đến phim “Cây bạch đàn vô danh”, phim được giải thưởng Bông
sen bạc của Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 11 năm 1996
- Văn hóa nghe nhìn & Giới trẻ (Nxb Khoa học Xã hội, 2005), do Đỗ Nam
Liên chủ biên, đề cập đến giá trị, cũng như ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với giới trẻ Đặc biệt, công trình này còn đề cập đến vấn đề bạo lực và bạo lực trên phim truyện truyền hình dựa trên những khảo sát của tác giả rất có giá trị tham
Trang 159 khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan Ngoài ra, tác giả đã cung cấp nhiều số
liệu thống kê, bổ ích, mang ý nghĩa đánh cao: “Đánh giá chất lượng chương trình giải trí”; “Loại phim ưa thích”; “Mục đích khi xem truyền hình”; “Đánh giá chất lượng chương trình khoa học, giáo dục”; “Đánh giá chất lượng chương trình thời sự”; “Đánh giá của giới trẻ về chất lượng chương trình truyền hình; “Mục đích xem TV trong học sinh, sinh viên” v.v…
- Tác phẩm “Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện Việt Nam”
(Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007), của tác giả Phan Bích Hà, tiếp cận chủ đề nghiên
cứu trên ba bình diện: 1/ Cấu trúc văn bản nghệ thuật điện ảnh trong những mối tương quan nội tại của loại hình, 2/ Bình diện thẩm mỹ, đạo lý- xã hội, nghệ thuật trong sáng tác của văn học nghệ thuật truyền thống, 3/ Mối liên hệ giữa những đặc điểm của văn học nghệ thuật truyền thống với tác phẩm phim truyện [48:14] Tác giả đã đưa ra nhận xét: “Phim truyện Việt Nam tiếp thu tính khuyến giáo, tuy nhiên không nên vì thiên quá về nội dung giáo dục, nặng nề tính giáo huấn mà coi nhẹ hình thức biểu hiện Vì tác phẩm nghệ thuật không chỉ là những bài huấn ca về đạo đức, mà còn là tấm gương phản chiếu xã hội, lịch sử với những vấn đề triết lý, nhân
sinh mang ý nghĩa thời đại” [48:241]
- Hoàng Trần Doãn (2009), trong tác phẩm: “Họ muốn gì…?”, Nxb Lao
động, đề cập về đặc điểm của điện ảnh và khán giả điện ảnh Việt Nam Tác giả khá công phu khi đề cập đến tổng quan tình hình nghiên cứu khán giả phim ảnh trong nước và nước ngoài Đặc biệt công trình nghiên cứu của tác giả đã gây được sự chú
ý khi đề cập đến nhóm khán giả chuyên biệt: sinh viên Những tiểu mục: Nhu cầu điện ảnh của sinh viên; Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu điện ảnh của sinh viên; Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên v.v… rất có giá trị đối với những nghiên cứu liên quan và trong luận văn này
- Trần Trọng Đăng Đàn (2010- 2011), “Điện ảnh Việt Nam - Lịch sử - Tác
phẩm - Nghệ sĩ - Lý luận-Phê bình - Nghiên cứu” (Nxb Tổng hợp TP HCM ấn
hành), là một công trình nghiên cứu đồ sộ về điện ảnh Việt Nam Chúng ta có thể
tìm thấy những vấn đề: “Phim truyện truyền hình và phim video Việt Nam”; “Điện
Trang 16hĩnh và ý nhị, tác giả đã có những nhận định sâu sắc về phim truyện trong tác phẩm,
làm cho nó tăng sức hấp dẫn và cả giá trị của công trình nghiên cứu:“Với “phim thị trường”, “phim thương mại” dù được rất nhiều người xem chưa hẳn đã là phim hay, nhưng phim không ai muốn xem thì dù sao cũng đành phải nói đó chắc chắn là phim dở” [38:650]
- Trần Thanh Tùng, trong tác phẩm Khuôn mẫu văn hóa và nghệ thuật phim
truyện Việt Nam (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2011), đã làm rõ khái niệm “khuôn
mẫu văn hóa” và các khái niệm khác cũng như về phương pháp tiếp cận đã đề cập đến những ảnh hưởng của “khuôn mẫu văn hóa” trong nội dung tác phẩm phim truyện, và cả những ảnh hưởng của khuôn mẫu văn hóa đến hình thức của tác phẩm
điện ảnh Theo Trần Thanh Tùng, thì: “Khuôn mẫu văn hóa ảnh hưởng đến phim truyện thông qua các hệ thống tín hiệu nghệ thuật Vì vậy việc giải mã các tín hiệu nghệ thuật (và văn hóa) sẽ cho phép tiếp cận với các ảnh hưởng khác nhau của khuôn mẫu đối với một tác phẩm” [169:55,56] Những ảnh hưởng của khuôn mẫu
văn hóa mà tác giả đề cập khá rộng, gồm ảnh hưởng qua tâm thức dân gian; ảnh hưởng đến tư duy tiếp cận hiện thực; ảnh hưởng tới những mẫu hình tiêu biểu qua các giai đoạn lịch sử dân tộc; ảnh hưởng đến tư tưởng và quan điểm nghệ sĩ v.v… Những ảnh hưởng trực tiếp đến phim truyện gồm có: ảnh hưởng đến đặc trưng ngôn ngữ điện ảnh; ảnh hưởng đến nghệ thuật dựng phim như dàn cảnh, thủ pháp đặc tả, bối cảnh và thiết kế mỹ thuật, màu sắc và không gian biểu hiện; kết cấu cốt truyện
và thể loại tác phẩm; đặc điểm tính cách và ứng xử của nhân vật; lời thoại v.v…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về điện ảnh nói chung, điện ảnh Việt Nam và phim truyện đã cung cấp một cái nhìn lịch sử về quá trình hình thành
và phát triển của điện ảnh Việt Nam Những công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều
đề cập đến khán giả là thanh niên, trong đó có sinh viên Tuy nhiên, có thể nói rằng,
Trang 1711 cho đến nay, một chuyên khảo về ảnh hưởng của phim truyện Việt Nam đối với sinh viên ở TP HCM chưa được thực hiện Trong bối cảnh đó, luận văn này hy vọng thu thập được những dữ liệu cần thiết, để từ đó đóng góp một phần vào việc tìm ra những chiều kích của phim truyện ảnh hưởng đối với thanh niên, mà trước nhất là sinh viên ở TP HCM
5 Đóng góp của luận văn
Hội nhập kinh tế tác động mạnh đến hội nhập văn hóa, nhất là phim ảnh Hầu hết những hoạt động của sáng tác, sản xuất, phát hành phim có những thuận lợi nhưng cũng gặp nhiều khó khăn thử thách trước yêu cầu hội nhập và cạnh tranh gay gắt Khán giả ngày nay có nhiều khả năng chọn lựa và tiếp cận dễ dàng với nhiều luồng phim truyện khác nhau nên đòi hỏi ngày càng cao đối với chất lượng, thể hiện được phong cách độc đáo, phản ánh được bản sắc, bản lĩnh của văn hóa Việt Nam Trước nhu cầu đó, ngành điện ảnh Việt Nam đã đáp ứng đến đâu? Đóng góp của luận văn này cũng mong trước mắt cung cấp cho các nhà chuyên môn và ngành chức năng những đánh giá của một bộ phận khán giả là sinh viên, là những khán giả
có tri thức và khả năng đánh giá những ưu và nhược điểm của phim truyện Việt Nam trên các mặt kịch bản phim, đào tạo đội ngũ diễn viên, đạo diễn, kỹ thuật…
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương được phân bổ như sau:
Chương 1: Giới thiệu khái quát lịch sử điện ảnh thế giới, sơ nét về ngày khai sinh
cũng như quá trình hình thành và phát triển, nêu lên những thành tựu của một số nước tiêu biểu có nền điện ảnh được xem là mạnh, tác động trực tiếp và sâu sắc đến đất nước Việt Nam trong giai đoạn này, đó là Hàn Quốc và Hoa Kỳ
Chương 2: Trình bày sơ lược sự hình thành, phát triển của nền điện ảnh Việt Nam
nhất là phim truyện trong giai đoạn Đổi mới đến nay trước những tác động của những biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta từ 1986 đến nay, cũng như trong bối cảnh hội nhập, trong đó có ảnh hưởng của kỹ thuật, kỹ xảo điện ảnh nước ngoài
Trang 1812
Chương 3: Chương này tập trung trình bày về nhu cầu của sinh viên đối với phim
truyện điện ảnh, phim truyện truyền hình được cung cấp bởi: internet, TV, rạp chiếu phim,… Sự đánh giá của sinh viên đối với phim truyện Việt Nam và ảnh hưởng của phim truyện đối với thanh niên; một số kiến nghị nhằm thúc đẩy ngành phim ảnh cũng như phim truyện nói chung của nước nhà phát triển trong tương lai
Trang 1913
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm
- Khái niệm về “điện ảnh”
Về từ nguyên của “điện ảnh”, theo “Từ điển tiếng Việt” của Xuân Huy và Đỗ Công Hữu [67:798] thì: “điện” là danh từ chỉ: a - nơi vua ngự; b - đền thờ thần thánh; c - một dạng năng lượng truyền đi trên dây dẫn để thắp sáng, quay hay chạy máy v.v…chúng ta đang nói đến trường hợp thứ ba c, điện là một dạng năng lượng Còn “ảnh”? Ảnh là danh từ chỉ: a - hình được chụp bằng máy ảnh; b - hình được nhìn thấy qua gương Chúng ta đang nói đến trường hợp trước, a - hình được chụp bằng máy ảnh Cũng theo từ điển trên, “điện ảnh” còn có nghĩa: Ngành nghệ thuật phản ánh hiện thực bằng những hình ảnh hoạt động được thu vào phim và chiếu lên màn ảnh, ví dụ: ngành điện ảnh Việt Nam
- Khái niệm “phim điện ảnh” (phim nhựa)
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Xuân Huy và Đỗ Công Hữu, thì “phim điện ảnh” hay “phim nhựa” có nghĩa: hình ảnh được ghi trên cuộn phim bằng chất dẻo được quay bằng các phương tiện kỹ thuật điện ảnh và chiếu ở rạp Điều này rất khác với điện ảnh nói chung, chỉ những gì liên quan như: phim tài liệu; phim tài liệu khoa học; phim giáo dục; phim truyền hình; phim nhựa;… [67:798] Do ban đầu chưa có truyền hình (TV) và cũng do ảnh hưởng mạnh mẽ của thể loại phim truyện
mà ngày nay khi nói đến điện ảnh người ta thường chỉ nghĩ đến phim truyện và danh từ “phim truyện” được mặc nhiên hiểu là “phim điện ảnh” hay “phim nhựa”
- Khái niệm giải trí
Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích: “Giải trí là khi làm việc rỗi Làm cho trí não được khoan khoái… Giải trí còn đồng nghĩa với vui chơi, cho nên người ta cũng thường nói vui chơi giải trí” Nói cách khác giải trí là làm cho đầu
óc, trí não bớt căng thẳng, mệt mỏi do làm việc, suy nghĩ; Trong luận văn tốt nghiệp
của Nguyễn Thị Thanh Hương (2008, 212 tr): “ theo Richard Schichel “Quan điểm
Trang 2014
cá nhân tôi, chiếu bóng là một hình thức nghệ thuật cao mà đồng thời cũng là một loại giải trí cao, và thường thì một phim có cả hai đặc điểm này Bởi vậy tôi tin chắc rằng nghệ thuật chiếu bóng được nhờ rất nhiều nhờ rất nhiều ở truyền thống giải trí [Richard Schichel 1974:173]” [64:22]
- Khái niệm về ảnh hưởng
Theo từ điển Bách khoa – Tâm lý học Giáo dục học thì cụm từ: “ảnh hưởng
xã hội” có nghĩa:“tất cả những gì tạo ra sẽ thay đổi hành vi của chủ thể hoặc khách thể do sự chi phối từ một tác nhân khác trong một bối cảnh xã hội nhất định” [49:13] Trần Thanh Tùng định nghĩa về ảnh hưởng như sau: “Theo từ điển tiếng Việt thì “ảnh hưởng của vật nọ đối với vật kia làm cho vật thứ hai ít nhiều chịu sự chi phối của vật thứ nhất”; là một loại tương tác phổ biến trong thế giới hiện thực, tồn tại trong mọi mặt của cuộc sống và trong tư duy của con người…” [169:56,57]
- Khái niệm phim thương mại
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, phim thương mại được định nghĩa như sau: “Loại phim truyện được sản xuất nhằm mục đích chính là kiếm được nhiều lợi nhuận bằng cách huy động mọi thủ pháp câu khách, có khi bất chấp yêu cầu tư tưởng, đạo đức hay thẩm mỹ Phim thương mại thường hướng vào những thể loại phiêu lưu mạo hiểm, phim kinh dị, bi kịch cá nhân sướt mướt hoặc thêm yếu tố
“thích mắt thích tai” vào bất kỳ thể loại nào, miễn hấp dẫn được người xem Tuy vậy một số phim thương mại rất ăn khách, đồng thời cũng có giá trị nghệ thuật cao” [64:17] Ngô Phương Lan trong tác phẩm: “Đồng hành với màn ảnh”, sau khi
phê phán những bất cập của dòng phim thương mại, hiển hiện một cách thô thiển trong đời sống văn hóa ở những năm đầu xã hội hóa điện ảnh cũng đã có những
nhận xét về dòng phim này như sau: “Sự phát triển của dòng phim thương mại có nhiều mặt trái như vậy nhưng cũng có cả mặt phải Nghĩa là loại phim này đã kéo người xem trở lại với phim Việt Nam, điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh, dần dần dẫn đến “hạ thủ” các loại phim và băng hình trôi nổi lan tràn khắp nơi suốt mấy năm trời Đồng thời, sự sàng lọc của thị trường buộc các nhà làm phim có lòng
Trang 21- Khái niệm phim nghệ thuật
“Phim nghệ thuật (Art Cinema) còn được gọi dưới những tên khác là phim độc lập (independent films) hay phim tác giả Theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam thì phim tác giả xuất phát từ điện ảnh Pháp rồi lan sang các nước Tây Âu và Hoa
Kỳ trong thập niên 50 đầu 60, quan niệm bộ phim truyện phải là kết quả sáng tạo nghệ thuật của riêng một tác giả duy nhất, là nhà đạo diễn kiêm biên kịch, còn những thành phần khác là hoàn thành nhiệm vụ theo lệnh của đạo diễn” [64:17]
“Như vậy phim nghệ thuật là phim độc lập về sáng tạo, nó không nhắm đến số đông người xem và thoát khỏi sự khống chế của nhà sản xuất Vì vậy phim nghệ thuật cho phép người làm phim thể nghiệm những ý tưởng, những tìm tòi nghệ thuật, thủ pháp, cách thức thể hiện hoàn toàn mới, mang bản sắc văn hóa cá nhân” [64:18]
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới
Nghệ thuật điện ảnh đã ƣơm mầm hạt giống từ rất xa xƣa Sau đây là câu
chuyện đƣợc xem có tính điện ảnh từ thời cổ đại ở Hy Lạp: “Ông tổ triết học Socrate một hôm đã rất bất ngờ khi nghe người học trò tài hoa Platon của mình (lúc ấy chưa đến 18 tuổi) bộc lộ không những khả năng triết học tiềm tàng, mà còn cho thấy một khả năng thiên phú về văn chương của mình khi trình bày suy nghĩ về hiện tượng tâm lý của các tù nhân bị giam dưới ngục thất, với các điều kiện sống tồi
tệ Socrate không chăm chú lắm về nội dung cậu học trò muốn chuyển đến mình, nhưng ông hoàn toàn bị thuyết phục bởi cách trình bày giàu hình tượng của người học trò Platon nói về một nhóm người bị giam giữ trong hang động tối tăm và chật hẹp Họ bị buộc phải ngồi gần nhau theo hàng dọc để làm việc, và mặt quay về cùng một hướng phía trước Sau lưng họ có đống lửa được đốt lên để chiếu sáng, vô
Trang 2216
tình ánh sáng từ đống lửa đã hắt bóng các tù nhân lên vách đá nhà tù, những hình bóng đó lay động nhịp nhàng theo chuyển động của các tù nhân tạo nên sự sinh động…” [209: 441] Cái bóng của tù nhân dưới sự diễn đạt của Platon cũng chính là
tù nhân và mang tính hình tượng sâu sắc Không riêng gì ở Hy Lạp, các nhà khảo cổ cũng đã khám phá được những hiện vật ở vùng Lưỡng Hà, và Trung Quốc vào thời
xa xưa về các trò chơi liên quan đến hình ảnh Tiêu biểu nhất là chiếc đèn chiếu
hình có tên Lanterne magique (ảo đăng), nhiệt từ chiếc đèn vừa tạo ánh sáng, vừa là
năng lượng làm quay cái màn vải (hay giấy) ở bên ngoài có hình vẽ quay theo (giống đèn kéo quân ở Việt Nam ) Mãi đến thế kỷ XVI – XVII, các loại ảo đăng
mới được cải tiến dần ở châu Âu để làm trò giải trí
1.2.1 Ngày khai sinh của ngành điện ảnh thế giới và thể loại phim đầu
tiên được trình chiếu
Một thông tin khá thú vị là vào ngày 6 tháng 11 năm 1889 (sáu năm trước ngày anh em nhà Lumière cho trình diễn phát minh máy chiếu phim câm đầu tiên), tại New York, Hoa Kỳ, công ty của nhà phát minh Thomas Edison đã công chiếu một đoạn phim có tiếng nói Nội dung đoạn phim tái hiện lại quang cảnh một cộng
sự trẻ người Anh của Thomas Edison là Dickson trong bộ trang phục chỉnh tề ngã
nón chào và nói: “Kính chào Ngài Edison, tôi rất hân hạnh chào Ngài và hy vọng Ngài vừa lòng với phát minh mới về chiếc máy thu hình và tiếng” [199:16] Thomas
Edison là nhà khoa học, ông đã phát minh ra điện và máy truyền thanh (radio) Chính ông, vào năm 1888 đã đưa điện ảnh vào một giai đoạn quyết định khi sản xuất ra loại phim hiện đại 35mm, mỗi hình có 4 đôi lỗ, nên cũng không lấy làm lạ việc công ty ông sản xuất ra chiếc máy chiếu phim đầu tiên có tiếng nói Nhưng công chúng yêu điện ảnh ngày nay thắc mắc rằng, tại sao nhà sáng chế Thomas Edison với phát minh quan trọng như thế lại không ứng dụng vào đời sống xã hội lúc bấy giờ mà lại để quên lãng một cách đáng tiếc? Georges Sadoul, trong cuốn
Lịch sử điện ảnh thế giới đã đưa ra câu trả lời: “Edison từ chối không cho chiếu ra công chúng những phim của ông dành cho màn ảnh, vì ông cho như vậy sẽ giết mất
gà đẻ trứng vàng Theo ông ít hy vọng công chúng sẽ thích thú hơn phim câm”
Trang 2317
[198:42] Hơn nữa, chiếc máy chiếu của Thomas Edison còn chưa hoàn thiện về tiếng nói Với suy nghĩ và quyết định trên, Thomas Edison đã vô tình từ chối vinh
dự là người khai sinh ra điện ảnh, để anh em nhà Lumière đã chiếm lấy vị thế này
Cuối thế kỷ XIX, ngày 28 tháng 12 năm 1895, tại thủ đô Paris nước Pháp, anh em nhà Lumière đã làm cho “kinh đô ánh sáng” thêm rạng danh khi công bố một phát minh mới, đầy hứa hẹn Đó là chiếc máy “chiếu phim” đầu tiên trên thế giới Họ đã cho trình chiếu những thước phim đầu tiên mà họ đã thực hiện Tuy lúc
bấy giờ “máy chụp ảnh động” ấy không thể được gọi là máy chiếu phim đúng
nghĩa, nhưng là một phát minh gây tiếng vang lớn trên thế giới Trần Trọng Đăng
Đàn viết:“Tuy càng về sau càng có thêm nhiều phát minh, sáng chế, cải tiến về nhiều mặt trong khoa học – kỹ thuật điện ảnh, nhưng dẫu sao thì cái ngày 28 tháng
12 năm 1895, ngày mà tại một tầng hầm của Grand Café de Paris (tiệm cà phê lớn của Paris) máy chiếu phim của Lumière biểu diễn thành công vẫn được công nhận
là ngày lịch sử kỳ diệu, là thời điểm xuất hiện đầu tiên của điện ảnh” [32:17] Điện ảnh ra đời không phải tình cờ, ngẫu nhiên Phần mở đầu cuốn Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam, Phạm Ngọc Trương viết: “1895 – buổi chiếu phim đầu tiên của anh em nhà Lumière tại Paris mang lại cho nước Pháp niềm vinh dự được trở thành đất nước khai sinh ra điện ảnh thế giới” [13:17]
Anh em nhà Lumière buổi ấy đã chiếu gì cho người xem? Rất tiếc là nhiều
tác giả đã không cho biết điều đó, mặc dù luôn xem ngày ấy là một ngày trọng đại, ngày khai sinh ra loại hình nghệ thuật thứ bảy Iecgi Teplix đã viết:“Điện ảnh có được tính độc lập sáng tạo không phải là chuyện dễ, tuy ngay trong phim đầu tiên của anh em Lumière đã tiềm tàng sức mạnh của một nghệ thuật mới Những thước phim ngắn ngủi, ngộ nghĩnh ấy đã cho người ta nhìn thấy cuộc sống trong những biểu hiện phong phú và đa dạng của nó” [199:04] Tương tự, Lê Trung Hoa cũng không cho biết gì khác khi viết trong cuốn Cửa sổ tri thức:“Như vậy chưa đầy 3 năm kể từ buổi chiếu phim khai sinh điện ảnh thế giới do anh em nhà Lumière tổ chức ngày 28 tháng 12 năm 1895 tại một quán café ở Paris, ngành nghệ thuật thứ bảy được du nhập vào Việt Nam mà trước tiên là Sài Gòn” [66:2012] Cũng như ba
Trang 2418 tác giả kể trên, Trần Trọng Đăng Đàn cũng không nêu rõ anh em nhà Lumière đã
cho công chúng xem gì trong buổi chiếu lịch sử đó, ông chỉ nêu lên: “Ngày 22 tháng 3 năm 1895, Louis Lumière với sự cộng tác của người em trai là Auguste Lumière đã trình diễn thành công cái “máy chụp động ảnh” trước một hội đồng bác học, dưới sự chủ tọa của chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học” [36:16]
Tuy nhiên, Iecgi Teplix trong một đoạn nói về sự khó khăn của điện ảnh về tính độc lập, sáng tạo ở thời kỳ đầu, đã nhắc đến nhà phê bình người Anh Rotgie Phrai rằng, ngay từ năm 1909 ông ấy đã chú ý đến những đặc điểm của điện ảnh, những cảm xúc khi xem đoạn phim quay chiếc tàu hỏa vào ga Hành khách bước ra khỏi tàu, ngoái cổ nhìn khắp xung quanh để định hướng xem mình đang ở hướng nào, và tiếp tục cần phải đi ra sao Rotgie Phrai cho rằng phản xạ đó rất buồn cười, nhưng rất tự nhiên Ông nói thêm, trước đây không bao giờ nhận ra điều đó, dù đã hàng trăm lần ông đi tàu lửa Như vậy, những thước phim ngắn ngủi, ngộ nghĩnh của anh em nhà Lumière chiếu hôm 28 tháng 12 năm 1895 có phải là cảnh phim mà Rotgie Phrai kể trên thông qua Iecgi Teplix không? Có thể lắm, và nếu vậy thì bộ phim được công chiếu đầu tiên của điện ảnh thuộc thể loại phim phóng sự ngắn
Điều này được khẳng định bởi Trần Thanh Hiệp, trong lời giới thiệu cuốn
sách “Họ muốn gì…?” của Hoàng Trần Doãn: “Ngày khai sinh điện ảnh không phải
là ngày phát minh ra máy quay phim, hay những thước phim nhựa có hạt bắt ánh sáng đầu tiên được chế tạo (dù thiếu hai yếu tố này, chúng ta chưa thể biết tới môn
“Nghệ thuật thứ bảy” đầy quyến rũ này), mà đó là ngày những tác phẩm điện ảnh thô sơ đầu tiên: “Chuyến tàu đến”, “Người tưới vườn bị tưới”, “Giờ tan ca”
[23:05] Những thước phim ngắn ngủi, ngộ nghĩnh mà Rotgie Phrai nói đến là
những cảnh trong phim “Chuyến tàu đến” Nói cách khác, những thước phim đầu tiên của điện ảnh thế giới thuộc thể loại phim “phóng sự”
Trong một buổi học của khóa “Đào tạo đạo diễn và biên kịch” (2009), do Trung tâm UNESCO Điện ảnh Đa truyền thông Việt Nam tổ chức, NSƯT- Đạo diễn Lê Dân đã nhắc đến điều này Ông nói: “Ngày 28-12-1895, trong phòng khách sang trọng kiểu Ấn Độ được thiết kế dưới tầng hầm của cửa hàng Grand Café trên
Trang 2519 đại lộ Capucines ở Paris, anh em nhà Lumière đã tổ chức buổi chiếu phim công
cộng đầu tiên với máy Cinématographe Sau người ta lấy ngày này làm ngày khai sinh ngành điện ảnh thế giới Chương trình chiếu phim ở Grand Café hôm ấy gồm nhiều đoạn phim ngắn: Giờ ra chơi của công nhân nhà máy Lumière, Tàu vào sân
ga, Đường Cộng hòa ở Lyon, Những người thợ rèn, Tắm biển Về sau có thêm: Bữa
ăn sáng của em bé, Người tưới vườn bị tưới nước Trong những phim đầu tiên của
anh em nhà Lumière chưa có các yếu tố trình diễn, sắp đặt, chưa hề có kịch bản, vì vậy không có diễn viên và xây dựng cảnh trí Phim đơn giản như sự đơn giản vốn
có của nó Đoạn phim ngắn “Tàu vào sân ga”, vào buổi đầu của điện ảnh thế giới
đã ẩn chứa một khả năng nghệ thuật quan trọng của điện ảnh sau này Dù lúc ấy chưa biết gì về dàn cảnh chiều sâu, nhưng anh em nhà Lumière đã tạo ra hiện tượng khác thường một cách không chủ ý bằng việc đặt máy cố định tại một chỗ trên thềm sân ga, rồi cứ thế mà bấm máy ghi lại cảnh đoàn tàu từ xa xuất hiện và di chuyển dần đến ga để rồi dừng lại ngay trước ống kính máy quay Người xem thấy rất thú
vị khi nhìn con tàu lao xình xịch về phía họ mỗi lúc mỗi gần với các kích cỡ, cảnh trí khác nhau của đoàn tàu Điều họ thấy là khác hẳn với cảnh trí luôn cố định ở sân khấu Đó là điều độc đáo, mới mẻ của điện ảnh
Những thông tin kể trên của đạo diễn Lê Dân thật sự mới mẻ, vì nó xác nhận một vấn đề rằng, anh em nhà Lumière ngoài vị thế một nhà phát minh, họ còn là chủ nhân một hay nhiều nhà máy công nghiệp Buổi tổ chức chiếu phim ấy chỉ
nhằm mục đích giải trí cho công nhân nhà máy Lumière Đơn giản vậy thôi và nó
không nhằm công bố một phát minh gì gây chấn động cả nhưng nó khởi đầu cho một loại hình nghệ thuật mới và mở đầu cho những phát minh về kỹ nghệ điện ảnh
Ban đầu, điện ảnh sản xuất ra những phim ngắn mang tính chất tài liệu, trình bày phong cảnh, khai thác các khía cạnh như hài kịch, nhạc,… dần dần điện ảnh tiến đến việc dựng lại các tác phẩm sân khấu, các vở ca múa nhạc, cải biên và minh họa những tác phẩm văn học nổi tiếng, dựng lại những sự kiện lịch sử của thế giới Trong quá trình phát triển, điện ảnh phát hiện thêm nhiều phương pháp biểu hiện mang tính đặc thù của mình như hệ thống các cỡ cảnh từ đặc tả, cận cảnh, trung
Trang 2620 cảnh, toàn cảnh; động tác lia, đẩy, lùi máy nghệ thuật qua các góc độ quay, kỹ thuật dựng phim, biên kịch, diễn xuất, thiết kế, âm thanh, ánh sáng v.v…
Nhưng không may cho sự nghiệp của anh em nhà Lumière, đang trong lúc hưng thịnh nhưng do bất cẩn trong buổi chiếu phim tại Hội chợ Paris vào giữa năm
1897, một vụ hỏa hoạn bùng lên khiến hơn một trăm người thiệt mạng (loại phim nhựa của những năm đầu tiên ấy được sản xuất bằng vật liệu rất dễ bắt lửa) khiến phim ảnh bị chống đối kịch liệt, nhà Lumière bị phá sản từ đó
Cuối thập niên 20 của thế kỷ XX, sau 34 năm (1895 – 1929) khai sinh và phát triển, điện ảnh đã chinh phục cả thế giới và nó đã trở thành công cụ hữu hiệu không chỉ để giải trí, nó còn được dùng như một phương tiện truyền thông hàng đầu cho sự truyền bá văn hóa của các nước trên thế giới khi có âm thanh Âm thanh và điện ảnh hầu như có “duyên nợ” với nhau Cuối thế kỷ 18 cả hai loại hình giải trí này không hẹn mà gặp, chúng ra đời gần như cùng lúc, với sự chênh lệch không đáng kể Ngay sau khi điện ảnh ra đời và đi vào cuộc sống, những nhà kinh doanh điện ảnh với tố chất nhạy bén nghĩ ngay đến làm cách nào phối hợp được âm thanh
và hình ảnh động trên phim, để cho ra một sản phẩm duy nhất mang cả hai sức
mạnh khoa học kỹ thuật này vào cuộc sống
1.2.2 Điện ảnh: sự hấp dẫn của phim ảnh
Điện ảnh ra đời làm cho di sản nghệ thuật của nhân loại tăng lên con số bảy Nghệ thuật điện ảnh tổng hợp được tinh hoa của hầu hết các loại hình văn hóa và nghệ thuật khác Nhưng nó vẫn chưa là yếu tố tiên quyết để điện ảnh có sức thu hút
mạnh mẽ đối với công chúng như đã và đang xảy ra Trong tác phẩm Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ do Đỗ Nam Liên chủ biên, có đăng khảo sát như sau:“Trong 675 người có độ tuổi từ 12 đến 30, trong đó số đông là thanh thiếu niên ở thủ đô Matxcơva từ 14-22 tuổi, cho thấy phần lớn trong số họ hoàn toàn không tới những
cơ sở hoạt động văn hóa (câu lạc bộ, thư viện, cung - nhà văn hóa, bảo tàng, nhà hát) hay chỉ tới một lần trong năm Một cuộc khảo sát khác trong 721 người có độ tuổi từ 14-30 ở Matxcơva cho thấy cơ cấu sử dụng thời gian rỗi theo thứ tự từ cao xuống là: gặp gỡ bạn bè (nói chuyện), xem phim TV hoặc video, nghe nhạc, đọc
Trang 2721
sách, làm việc nhà, chơi thể thao, đến sàn nhảy disco…Số người tham gia các môn sáng tạo nghệ thuật (hội họa, sáng tác thơ ca) rất thấp, chỉ đứng trên câu trả lời
“không làm gì”, tức là xếp thứ 12 trong số 13 các loại câu trả lời” [87:46]
Trước khi điện ảnh ra đời, xã hội con người có những phương cách giải trí khá hiệu quả Ngoài những hoạt động giải trí nơi công cộng vào ban ngày dành cho những người nhàn rỗi và thanh thiếu niên, nơi những người trưởng thành khó có điều kiện tham gia, thì đêm đến, khi mọi việc đã tạm lắng, từng nhóm nhỏ tụ tập, thụ động kể chuyện cho nhau nghe Nghe người khác kể chuyện là phương cách giải trí lành mạnh, thu hút được nhiều người tham gia nhất Thứ đến là tự đọc truyện (tiểu thuyết), sau này phát triển hơn thì nghe đọc truyện qua phát thanh (nghe chuyện đêm khuya qua radio) Vì vậy không có gì là khó hiểu khi điện ảnh xuất hiện và hình thức hấp dẫn nhất chính là ngành nghệ thuật phim truyện Xét tính chất
đa chiều thì phim truyện ra đời đã đưa phương cách giải trí bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn hiện đại của sự phát triển nghệ thuật kể chuyện truyền thống
Phim truyện cũng là sản phẩm tiếp thu và phát triển đỉnh cao của tiểu thuyết Trong phim có tính ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ… của tiểu thuyết, đôi khi yếu tố đặc trưng của tiểu thuyết, có thể đưa độc giả tiếp cận hay lùi xa cảnh trí, nhân vật mà nó cần cho xem thì điện ảnh cũng làm được và còn uyển chuyển, mềm mại, cụ thể, sinh động hơn Chính vì vậy, nó đã đẩy tiểu thuyết truyền thống vào thế cạnh tranh không tương xứng với nó Tuy nhiên, một điều an ủi là những tư tưởng, tình cảm của các tác phẩm văn học đã đang và có thể sẽ được điện ảnh phổ biến thông qua
phương pháp mới, nói như Behne: “Văn học đã trở nên nhìn thấy được”
1.2.3 Sơ nét về phim ảnh của một số nước trên thế giới
Ở trong phần giới thiệu cấu trúc của luận văn, chúng tôi chỉ nêu khái quát một số nền điện ảnh trên thế giới trong đó có nền điện ảnh Hoa Kỳ và Hàn Quốc, vì đây là một trong những nền điện ảnh có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của loại hình nghệ thuật thứ bảy trên thế giới Hơn nữa, hai nền điện ảnh này cũng được công chúng Việt Nam tiếp nhận và có ảnh hưởng nhất định đến điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây Sự phát triển điện ảnh Mỹ và Hàn Quốc có thể
Trang 2822 xem là một trong những kinh nghiệm mà điện ảnh Việt Nam cần phải nghiên cứu nhằm phát triển điện ảnh nước nhà
1.2.3.1 Điện ảnh Hoa Kỳ
Khi người Mỹ biết đến điện ảnh thì Tây Âu đã đi một bước khá dài trên con đường của nghệ thuật thứ bảy này Những thể nghiệm đầu tiên của sự kết hợp này phải kể đến công đầu của các nhà phát minh Pháp, Đức và Anh Tuy nhiên những thất bại đã khiến chỉ còn Pháp là quốc gia có nhiều thử nghiệm nhất cho điều này ở cuối những năm 1890 Dù vậy việc lồng tiếng vẫn chưa đạt đến sự mong muốn vì
âm thanh và hình ảnh chưa thật sự khớp nhau Những phim đầu tiên được sản xuất
năm 1900 có âm thanh như phim: “Người nhạc sĩ câm” và “Lô-lôt-ta”, đều mang
theo sự khiếm khuyết này Tuy nhiên nó vẫn được khán giả hoan nghênh, có lẽ vì phim có âm thanh lúc bấy giờ được chiếu miễn phí, nó chỉ có mục đích thu hút người đến mua hàng tại các cửa hàng lớn, hoặc trong các gian hàng triển lãm, và đương nhiên nó chỉ được chiếu ở loại “rạp” tương ứng mà thôi Tại triển lãm quốc
tế Paris năm 1900 người ta đã chiếu một ngày có đến năm, sáu lần để giới thiệu bộ
phim Hăm-let, của diễn viên Pháp Xa-ra Bec-na Sau khi hết triển lãm, dù phim Hăm-let được khen ngợi và được đem chiếu ở Áo, Thụy Sỹ, Đức và Tây Ban Nha,
nhưng những âm thanh ngoài phim như tiếng rè rè của máy hát, và tiếng lọc cọc của máy chiếu khiến phim này phải xếp vào kho
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra năm 1914 khiến những quan tâm đến
âm thanh cho phim bị “ngưng trệ” Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1918, cuộc sống dần trở lại bình thường thì phim câm vẫn cứ là niềm đam mê số một, không chỉ ở những nhà sản xuất, mà ngay cả công chúng, với các hạn chế của thứ âm thanh như đã biết, họ thấy cũng không cần tìm kiếm âm thanh cho phim nữa
Trong khi điện ảnh Châu Âu những năm này đang khai thác hiệu quả dòng phim câm thì tại Mỹ, năm 1926 hai anh em Uốc-ne đã mua được loại máy thu âm
“Vitafon” của Công ty “Vestern electric” Anh em Uốc-ne tiến hành sản xuất một
bộ phim có tiếng nói đầu tiên trong lịch sử điện ảnh Ngày 6 tháng 8 năm 1926, gần như cả New York và nhiều nhân vật quan trọng của Hollywood cũng có mặt để xem
Trang 2923
bộ phim Đông Gioăng Công chúng thật sự phấn khích khi nghe trọn 325 lời mở
đầu của Uyn Khây- xơ (ông vua Hollywood - Chủ tịch hiệp hội các nhà sản xuất và phát hành phim Mỹ) một cách rõ ràng, từng lời một Công chúng không biết làm cách nào các nhà làm phim lại giỏi như vậy, khi mà âm thanh của cả ban nhạc gồm
cả nhạc công, ca sĩ mà âm điệu vẫn rất hay và trùng khớp Các rạp chiếu phim
Uốc-ne ở New York suốt nhiều tuần liền phải treo biển “hết vé” Uyn Khây-xơ nhân dịp này cũng đã tuyên bố là: Điện ảnh đã trở thành một công cụ truyên tuyền mạnh mẽ nhất cho âm nhạc trong quần chúng Đạo diễn lừng danh Gri-phit cũng hoan nghênh anh em nhà Uốc-ne cho xuất hiện tiếng nói trong phim, vì từ trước nay điện ảnh vẫn câm lặng, nay tiếng nói và mọi âm thanh từ thiên nhiên đã xuất hiện, con người trong điện ảnh không còn tật nguyền nữa
Không lâu sau đó, anh em nhà Uốc-ne gặp một đối thủ cạnh tranh mới;
Uy-li-am Phôc-xơ với máy “Mu-vi-tôn” Phôc-xơ xuất hiện như một ngôi sao khi ông
trình chiếu đoạn phim phỏng vấn viên phi công quả cảm, lần đầu tiên bay liền một mạch từ New York (Mỹ) đến Paris (Pháp)
Với sự phát triển của kỹ thuật đưa tiếng nói vào phim thành công như vậy, điện ảnh Mỹ đã tạo nên một khoảng cách khá lớn so với nền điện ảnh châu Âu Năm 1929 người ta thống kê trên thế giới có chừng 50 ngàn rạp chiếu phim, thì ở
Mỹ đã chiếm đến hơn 20 ngàn rạp Bình quân cứ bảy ngàn dân có một rạp chiếu phim Khi so sánh (cũng tại Mỹ) với 26 ngàn dân có một thư viện và 40 ngàn dân trên một tờ nhật báo, chúng ta mới thấy ngay từ những năm ấy, điện ảnh đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế nào với công chúng Mỹ Điều kỳ lạ là với kỷ nguyên âm thanh phát triển như vậy, nhưng trong những năm (1927 – 1928) ấy, sự cạnh tranh chỉ gói gọn trong nội bộ nước Mỹ, giữa hai Hãng Uôc-ne và Phôc-xơ Điện ảnh châu Âu đứng ngoài cuộc, họ hầu như không biết hay không quan tâm đến vấn đề tiếng nói trong điện ảnh
Theo Iecgi TepPlix, phim có hình ảnh đẹp, có các ngôi sao điện ảnh tham gia
sẽ được công chúng yêu mến, thích thú hơn các phim Gangster bạo lực Phim có hình ảnh đẹp, hấp dẫn sẽ vô nghĩa nếu không có ngôi sao điện ảnh đóng
Trang 3024 Tuy ngành công nghiệp điện ảnh duy nhất này hầu như không bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Năm 1930 số người đi xem phim không những không giảm
mà còn tăng đáng kể Từ 57 triệu lượt người/tuần trong năm 1927 lên đến 155 triệu lượt người vào năm 1930 Sở dĩ như vậy vì giá vé xem phim chỉ hơn chút ít so với cái bánh mỳ Nhưng cuộc khủng hoảng kéo dài, số khán giả của điện ảnh vì vậy mà
có phần giảm sút và đến cuối năm 1932 lợi nhuận của các công ty bắt đầu sụt giảm Tuy nhiên theo Lu-ix Gia-côp-xơ chuyên viên kinh tế, thì chỉ sau bốn ngày phát
hành phim “Kinh Kông” trong tháng ba năm 1932, người dân New York mặc dù
đây là giai đoạn khó khăn, nhưng họ đã chi tới chín trăm ngàn đô la để xem phim này
Năm 1929 và 1930 thống kê cho thấy lãi ròng của các Hãng phim Mỹ là rất lớn: Hãng “Pa-ra-ma-un” lãi 15 triệu đô la (1929) và 18 triệu (1930); Hãng “MGM” lãi 11,5 (1929) và 14,5 triệu đô la (1930); Hãng “Phôc-xơ” lãi 9,5 và 10 triệu; Hãng
“Anh em Uôc-ne” lãi 14,5 và 7 triệu đô la (giảm so với năm trước do mất độc quyền sản xuất phim có tiếng); Hãng “RCO” lãi 2 và 4 triệu; Hãng “Colombia” lãi 1 và 1,
4 triệu đô la… Bất chấp cuộc khủng hoảng, với lợi tức thu được như thế, năm 1930
Mỹ xuất khẩu điện ảnh sang châu Âu bằng cách mua lại trường quay của xưởng phim “Continental” tại Paris để xuất khẩu tại chỗ
Dù đầy gian khó và thử thách, đến đây có thể nói điện ảnh Mỹ đã thành công, và đương nhiên bên cạnh sự thành công đó còn có những hệ lụy cần phải bàn, nhưng không thể chối cải, điện ảnh Mỹ xứng đáng được xem là Kinh đô điện ảnh thế giới Quá khứ của quốc gia Hoa Kỳ là quá khứ của những “chinh phục” và
“chinh phục” Khởi nguồn từ sự lạc đường của thuyền trưởng Criptopscolombo (Kha Luân Bố) khi ông nhầm tưởng nơi ông đến là Ấn Độ (lịch trình mà ông phải đến), nhưng sự thật đó là vùng đất mới mà ngày này gọi là châu Mỹ Có lẽ sự trù phú, rộng lớn, mới mẽ đã hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp cho các di dân nên người
ta gọi vùng đất ấy là “Mỹ” (đẹp), châu Mỹ
Trong lịch sử phát triển trẻ trung của nước Mỹ trên vùng đất tập trung người
di dân từ nhiều quốc gia của lục địa châu Âu thì “sức mạnh” và “bạo lực” dường
Trang 3125 như là “cái lý” tuyệt đối để chiến thắng với ác thú, kẻ thù Cũng trong bối cảnh đó
mà phim bạo lực cũng là một trong những đặc trưng của điện ảnh và phim truyện của Mỹ Với môi trường và tố chất trên, đã hình thành nên một xã hội Mỹ “quen thuộc” dùng sức mạnh quyền lực, khát vọng mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ra ngoài lãnh thổ Điều này dẫn đến điện ảnh Mỹ tự do sản xuất những bộ phim bạo lực là điều dễ hiểu Ngay từ khi điện ảnh bắt đầu có tiếng nói, phim truyện Mỹ đã cho xuất xưởng những phim có đề tài tội phạm (crime story) Đây là loại đề tài rất
ưa thích của Hollywood Những phim đầu tiên cho thể loại này là những phim: “Vụ
án Mê-ri Đu-găng”, “Kê-nê-ri bị giết”, “Tai mắt”, đều được sản xuất năm 1928
Linda Seger – Cố vấn kịch bản Hollywood, người có nhiều kinh nghiệm
trong thời gian dài phụ trách kịch bản cho Trung tâm Điện ảnh Hoa Kỳ nói: “Bạn là biên kịch giỏi ra sao, kịch bản của bạn hay thế nào chưa bao giờ là điều quan trọng Nó cần đáp ứng một câu hỏi, một câu hỏi duy nhất của nhà sản xuất, những người điều hành rằng: nó có tính thương mại không?” [46:113]
Đáp ứng được thị hiếu người xem, thu hút được người xem và thu được lợi nhuận càng nhiều càng tốt, bởi vì điện ảnh Mỹ đáp ứng trước nhất là thương mại Phim được sản xuất là để kinh doanh Đây có thể xem là đặc trưng của điện ảnh
Hoa Kỳ
1.2.3.2 Điện ảnh Hàn Quốc
Thời kỳ điện ảnh thế giới khai sinh và phát triền giai đoạn đầu, bán đảo Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ nên tiếp cận muộn Năm 1903, một nhóm nhỏ của bán đảo này mới biết đến điện ảnh và suốt 42 năm sau, điện ảnh của dân tộc Triều Tiên vẫn chỉ là con số không Đến năm 1935 Triều Tiên mới sản xuất được bộ phim truyện
Chunhyang-jeon, đạo diễn Lee Myeong-Woo
Phim Hàn khởi đầu gian nan nhưng đầy ấn tượng
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Hàn Quốc được khai sinh ở miền Nam, Triều Tiên độc lập ở phía bắc vẫn giữ tên Triều Tiên Lập quốc chưa được mấy năm, Hàn Quốc phải lâm vào cuộc nội chiến đẫm máu (trên danh nghĩa, Hàn Quốc ngày nay vẫn chưa có hòa bình) Năm 1955, khi khói súng cuộc nội chiến vẫn
Trang 3226
còn phản phất, sức mạnh tinh thần về niềm lạc quan của Hàn Quốc bắt đầu được thế
giới chú ý khi đạo diễn Lee Kyu-hwan gây ấn tượng khi làm mới bộ phim
Chunhyang-jeon, một chuyện tình dân gian của nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn Lee
Myeong Woo Sở dĩ ấn tượng bởi trong giai đoạn cái nóng của cuộc nội chiến vẫn bỏng rát trên da thịt và trái tim thì người Hàn đã không làm phim chiến tranh như các quốc gia khác trên thế giới Trái lại họ làm phim nói về một cuộc tình đẹp, thơ
mộng mang tính dân gian hiền hòa Phim Chunhyang-jeon, ngay lập tức nhận được
sự hưởng ứng nồng nhiệt của công chúng Chỉ trong hai tuần đầu công chiếu đã có đến 200 ngàn lượt người xem, lúc bấy giờ tổng dân số Hàn Quốc chỉ có khoảng 15 triệu người, và đang trong cảnh tan tác sau cuộc nội chiến Như tất cả các quốc gia khác sau chiến tranh là nghèo, thị trường điện ảnh Hàn Quốc cũng bị chi phối bởi phim nhập từ nước ngoài, nhất là của Mỹ Phim Hàn lúc này dù được bảo trợ mạnh của chính phủ, nhưng số lượng sản xuất cũng như chất lượng vẫn không đáng kể so với nhiều nền điện ảnh lớn trên thế giới Thị trường phim ảnh nội địa của Hàn quốc trong giai đoạn này chỉ chiếm một thị phần phần nhỏ và cạnh tranh không cân sức với phim của Mỹ và châu Âu ngay trên đất nước họ
Trong ba thập niên đầu sau chiến tranh, ngoài phim Chunhyang-jeon nói ở
trên đã làm nên kỳ tích, nhờ yếu tố lịch sử sau cuộc chiến thì nói chung điện ảnh Hàn Quốc vẫn trong tình trạng khó khăn và nhỏ bé Ngay cả chính công chúng Hàn cũng khó nhớ được những phim nội mà mình đã xem, hay đơn giản chỉ được nghe nhắc đến mà thôi Bởi vì, tuy được tài trợ từ chính phủ, sản xuất khá nhiều phim truyện, nhưng đa số những phim này sau khi sản xuất, chỉ chiếu được vài hôm, rồi
bị xếp vào kho “lưu trữ” vì không có khán giả Tuy nhiên, vào những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ XX, phim truyện Hàn Quốc đã vươn lên và bắt đầu góp mặt hai trong số mười phim ăn khách nhất ở thị trường nội địa, dù chỉ đứng cuối cùng
Chính sách của Hàn Quốc đối với điện ảnh và sự phát triển của nền điện ảnh Hàn Quốc
Năm 1996, một đạo diễn trẻ là Kim Ki Duk làm bộ phim đầu tay “Cá sấu”,
được xem là thành công trên thị trường trong nước Nhưng chưa một ai nghĩ người
Trang 3327 cựu quân nhân hải quân chưa học qua bất cứ trường đào tạo điện ảnh nào, sẽ là người giới thiệu điện ảnh Hàn đến những Liên hoan phim quốc tế lớn hàng đầu châu Âu Cùng năm đó, chánh sách của Hàn Quốc tạo một bước ngoặc cho sự phát triển của điện ảnh Hàn Quốc, khi tòa án Hàn Quốc phán quyết bỏ kiểm duyệt phim
và xem kiểm duyệt phim là “vi hiến” Ba năm sau, năm 1999 đạo diễn Kang-je Gyu
gây chấn động thị trường phim nội địa Hàn bằng phim “Shiri”, một phim gián điệp
- bạo lực Lần đầu tiên khán giả Hàn Quốc thưởng thức “phim nhà” có cảnh rượt đuổi tốc độ, đấu súng chát chúa, những pha quyền cước hấp dẫn vốn chỉ thấy trên
những phim gangster - bạo lực Mỹ Phim Shiri thu hút số lượng lớn công chúng nội
địa, với 5,78 triệu lượt người xem (trước đó bình quân phim nội không thể chạm
ngưỡng 300 ngàn), lần đầu tiên phim Hàn vượt phim Mỹ (Titanic đang chiếu cùng
thời gian) và đứng đầu danh sách phim ăn khách nhất suốt bốn tuần liền Sự góp
mặt của phim Shiri đã nâng số phim nội lên năm phim, thế là chia đôi thị 5/5 trong
số mười phim ăn khách nhất trên thị trường phim đang chiếu tại Hàn Quốc lúc bấy giờ
Thành công bước đầu nhưng ngoạn mục là trái ngọt đương nhiên, sau một thời gian vun trồng, chăm sóc cho “cây” điện ảnh xanh tốt đơm hoa, kết trái, tuy có
hơi bất ngờ Điều này ngầm báo hiệu phim “Shiri” mở đầu cho những bước phát
triển của điện ảnh Hàn Quốc Năm 2001, giới điện ảnh Hàn Quốc chào đón thiên
niên kỷ mới bằng một “siêu phẩm” khác: phim “Friend” Lần này kỷ lục của phim
“Shiri” bị vượt qua, cơn sốt phim “Friend” thu hút đến 8,1 triệu lượt người đến rạp,
bỏ xa bộ phim “Harry Potter” của Mỹ, đang chiếu cùng thời gian Trong năm 2001, Friend làm tăng sĩ số phim Hàn lên 6/10 phim ăn khách nhất tại thị trường nội địa
và cùng đứng đầu bảng còn có thêm: “My Sassy Gilr”, “My wife is Gangster”, Musa Đây cũng là năm mà Hàn Quốc có số phim phát hành cao kỷ lục, 65 phim
truyện (nhựa) Điều này thúc đẩy việc xây mới những rạp chiếu phim để đáp ứng nhu cầu của công chúng, nâng tổng số rạp lên đến khoảng 900 rạp trên cả nước
Từ khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ trước, Hàn Quốc đã có sách lượt phát triển ngành điện ảnh của mình Cụ thể là họ bắt đầu từ việc nhỏ nhất, như sửa chữa,
Trang 3428 nâng cấp những rạp chiếu phim cũ kỹ, cũng như xây dựng những rạp mới đạt chuẩn
quốc tế, tuyên truyền, khuyến khích công chúng đến rạp, và đề ra chính sách hỗ trợ
ngành phim nội địa một cách thiết thực hơn Khi đề ra chính sách hỗ trợ ngành
phim nội địa, điểm mấu chốt nhất của dự án này là chọn và đề cử khoảng trên 3001
kỹ thuật viên đi du học tại Mỹ, số kỹ thuật viên này được tài trợ trọn gói và không
bị bất cứ một điều khoản nào ràng buộc sau khi ra trường về nước, họ có quyền làm
cho bất cứ ai, hay bất cứ đâu Những người này còn được gọi là thế hệ “386”.2
Sự khởi sắc của phim Hàn Quốc trên trường quốc tế
Trái ngọt không bất ngờ! Chỉ sau 10 năm thi hành chính sách kể trên, năm
1996 điện ảnh Hàn Quốc có bước tiến bộ bất ngờ Tại thị trường nội địa, phim Hàn
đã chiếm từ 60 đến 70% phim được chiếu trên các hệ thống rạp quốc gia Như đã
nói ở trên, đây cũng là khoảng thời gian điện ảnh Hàn Quốc thoát khỏi sự kiểm
duyệt, những nhà sản xuất lúc này không còn lo lắng nữa, họ toàn tâm toàn ý vào
chuyên môn của mình Đây là điểm mấu chốt nên chỉ vài năm sau, phim Hàn góp
mặt tại các Liên hoan phim quốc tế lớn hàng đầu châu Âu như Cannes, Venice,
Berlin…Cụ thể là tại Venice (Ý) năm 2004, đạo diễn Kim Ki Duk giành được giải
Sư tử bạc (giải nhì) với phim “3-Iron” và cũng trong năm đó, đạo diễn này đoạt
được giài Gấu bạc ở Liên hoan phim Berlin với phim “Samarital Girl” Bảy năm
sau (2011), tại Liên hoan phim Cannes, đạo diễn Kim Ki Duk giành giải cao nhất ở
hạng mục Uncertain Regard với phim “Arirang” Chưa hết, năm 2012 trở lại Liên
hoan phim Venice, Kim Ki Duk lại tham dự với phim “Pieta” và không bất ngờ,
ông giành giải “Sư tử vàng”, giải thưởng cao quý nhất của Liên hoan phim lâu đời
nhất thế giới này.“Sự phát triển quá nhanh và xuất sắc của điện ảnh Hàn Quốc
trong thập niên 90 đã khiến nước này lấn lướt nền điện ảnh Hong Kong vốn làm
mưa làm gió ở thời gian rất dài trong quá khứ Tuần báo Mỹ Newsweek từ năm
1 Ký sự phim Hàn – theo HTV là 350 người
2 Thế hệ “386” sinh vào thập niên 60; đi học thập niên 80; ra làm việc và thành danh ở độ tuổi 30
Trang 3529
2004 đã gọi Hàn Quốc là “Hollywood của phương Đông”, biệt danh độc chiếm của Hong Kong từ nhiều thập niên trước” [101:105]
Bước vào thiên niên kỷ mới, cùng với phim: “Friend” (năm 2001), điện ảnh
Hàn Quốc còn vô số những bộ phim thành công khác, nhưng nếu chỉ kể những phim thành công nhất, chúng ta vẫn có khá nhiều những cái tên phim như
“Marrying the Mafia” (thể loại hình sự-hài) có hơn năm triệu lượt người xem; Phim
“The Way Home” (tâm lý gia đình-xã hội); Phim Sex is Zero (thể loại giới tính học đường); Phim 2009“Lost Memories” (thể loại lịch sử hư cấu); Phim “Silmido” (thể loại trinh thám toát mồ hôi lạnh); Phim “Memories of Murder” (thể loại tâm lý lãng mạn học đường); Phim “My Tutor Friend” (thể loại tâm lý tình cảm); Phim “Untold Scandal” (thể loại kinh dị); Phim “A tale pf Two Sister”,“ Teagukgi”… Riêng phim
“Silmido” đã tạo nên một kỷ lục mới khi có 10,4 triệu lượt người xem, trong khi đó phim Mỹ “Chúa tể những chiếc nhẫn”, đoạt 11 giải Oscar (chiếu cùng thời gian tại thị trường Hàn) chỉ đạt trên dưới 5 triệu lượt Sau đó phim Teagukgi tiếp tục lập kỷ
lục mới: có đến 12 triệu lượt người xem
Tất cả những điều này dẫn đến một kết quả là vào năm 1999, phim nhập khẩu từ Hollywood vào Hàn Quốc chỉ còn 14%, một con số vừa đủ để thể hiện tính
“giao lưu văn hóa”
Những đặc điểm nổi bật của điện ảnh Hàn Quốc
Dù là một quốc gia có nền tảng văn hóa Khổng giáo, Phật giáo, nhưng không giống với bất cứ nền điện ảnh của quốc gia nào ở châu Á Phim ảnh Hàn khai thác
đủ loại đề tài, họ không tránh né bất cứ điều gì, lĩnh vực nào kể cả chính trị, bạo lực
và sex Điều này tạo môi trường thông thoáng, lành mạnh cho nền tảng phim truyện Hàn thêm phong phú, hấp dẫn Tuy tự do như vậy nhưng văn hóa làm phim của Hàn Quốc luôn luôn “chuẩn mực”, mọi sản phẩm xuất xưởng đều mang ý nghĩa nhân văn phục vụ cộng đồng, không vì cái riêng, cái tôi, phe phái mà trở nên hẹp hòi
Chunhyang-jeon (1955), một phim tình ái dân gian, chứ không phải phim đề tài
chiến tranh được sản xuất ngay sau cuộc nội chiến là một minh chứng hùng hồn nhất về tình yêu, lòng nhân ái, tính nhân văn,… của cuộc sống
Trang 3630
“Sex”, đề tài đề tài nhạy cảm, nhưng là đề tài “muôn thuở” của cuộc sống Với đề tài “nóng” này, điện ảnh Hàn Quốc đã có cách giải quyết của riêng mình, đầy bản lĩnh, đầy nhân tính để người xem chiêm ngưỡng với tinh thần thăng hoa… Bên cạnh đó, chủ đề bạo lực được xem như đứng đầu danh sách của bản năng cũng được điện ảnh Hàn Quốc không ngần ngại khai thác, thể hiện đầy tính nhân bản
Một đạo diễn Việt nói về bạo lực trong điện ảnh Hàn như sau: “Không thể triệt tiêu cái ác, nhưng cũng không vì thế sợ nó sẽ lan tràn, vì trong nó luôn sẵn có một lực
để tự hủy diệt từ khi mới sinh ra” [22:2012]
Chính trị cũng là đề tài nhạy cảm bậc nhất, điện ảnh Hàn Quốc được hóa giải với một tâm thức hài hòa, nhân bản Các tác giả thường lấy con người và đời sống của con người nói chung làm nền tảng kết cấu mọi diễn biến của phim Phim
“Silmido” kể về câu chuyện của nhóm tội phạm hình sự Hàn Quốc, được chính phủ
tuyển mộ cho một điệp vụ quan trọng: ám sát người đứng đầu chính phủ Bắc Hàn Đương nhiên, điệp vụ thất bại Chỉ riêng tại Hàn Quốc, phim đã thu hút đến 10,4
triệu lượt người xem Một phim nữa là “Teagukgi” (Cờ tung bay) kể về chuyện hai
anh em làm nghĩa vụ quân sự Ra chiến trường tiếp cận lửa đạn, họ thất lạc, không nhận được tin nhau Cuối cùng mỗi người ở một chiến tuyến khác nhau Câu chuyện cảm động này thu hút con số kỷ lục, có đến 12 triệu lượt người xem
Phim truyện Hàn Quốc thu hút không chỉ công chúng Hàn, khán giả các nước lân cận mà cả khán giả Âu, Mỹ Đặc thù của điện ảnh Hàn Quốc không có gì quá đặc biệt, thái quá Trọng tâm của vấn đề này là: “phục vụ số đông công chúng”
vì phim ảnh vốn để “giải trí”, đúng như mục đích ban đầu khi nó được khai sinh Cũng như các ngành công nghiệp cơ khí, điện tử,… ngành điện ảnh Hàn Quốc không chỉ thành công trên thị trường nội địa Tiếp cận điện ảnh Hàn Quốc tuy muộn, nhưng công chúng Việt hiểu rõ sức lôi cuốn của điện ảnh Hàn mạnh mẽ đến thế nào Không chỉ ở Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai,… mà cả hai quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản cũng không cưỡng lại hấp lực của làn sóng “văn hóa Hàn” qua điện ảnh Chưa kể thời gian gần đây Hollywood đã có cái nhìn hướng Đông về xứ
“kim chi” để cộng tác và cùng khai thác lĩnh vực giải trí
Trang 3731 Những phim của Hàn Quốc, khi chiếu ở các Liên hoan phim thường kín khán giả Đất nước Hàn coi trọng văn hóa, coi trọng điện ảnh Những quan chức ngành văn hóa nghệ thuật đa số am tường chuyên môn Đạo diễn xứ sở này rất “dũng cảm”, luôn cố gắng chọn con đường riêng cho mình để đi, bất chấp con đường đó chông gai, khó nhọc Họ cũng không phù phiếm với những tung hô, ca tụng và thường chấp nhận sự đối mặt với thử thách, thất bại Tất cả những điều đó đã đưa nền điện ảnh Hàn Quốc trở nên một tầm cao mới, mạnh mẽ nhưng độc lập, không vay mượn Tuy nhiên, từ khoảng sau năm 2005 trở về sau, phim Hàn gần như bão hòa trên thị trường phim ở nước ngoài, kể cả Việt Nam
1.3 Tính chất của phim truyện
Khác với văn học, phim truyện (như đã giới thiệu ở phần khái niệm) đã cho khán giả thấy sự run rẩy, khiếp sợ của một cô bé trước quang cảnh của buổi tối mùa đông vắng ngắt, lạnh lẽo mà không cần đọc, hay nghe thấy một từ thuyết minh nào Cái cảm xúc “thấy” và “nghe” cùng tác động vào trí não và lương tâm khán giả khi cảm nhận những hình ảnh cùng những âm thanh rất hình tượng như tiếng gió rít, tiếng lập cập do hai hàm răng đánh vào nhau của cô bé, tiếng đôi chân lê bước nặng
nề, khó nhọc… Điện ảnh là một nghệ thuật mới, rất mới trong khả năng tái tạo, thể hiện hình ảnh động một cách hình tượng nhất để truyền lên màn ảnh chất thơ, chất tiểu thuyết của văn học Trong khi điện ảnh có thể đưa lại gần hoặc lùi xa người xem cảnh trí, hay vật cần xem thì sân khấu luôn cứng ngắt với cự ly thiết kế cố định
từ điểm diễn tới khán giả Dù có dị biệt lớn như thế, nhưng khi nói đến “thấy”, nói đến hình ảnh động thì điện ảnh rất gần gũi với sân khấu “Chất truyện” trên sân khấu cũng là “chất truyện” trên màn ảnh, cả hai hoàn toàn giống nhau ở điểm này Tuần tự diễn ra trên sân khấu cũng là cái tuần tự diễn ra trên màn ảnh, không có gì khác nhau Dù có sinh động hơn nhờ yếu tố chính thu hút công chúng của điện ảnh
là chất “kể chuyện”, thì kể chuyện cũng là yếu tố sinh tồn duy nhất của sân khấu
Trang 3832
1.3.1 Phim truyện thời kỳ đầu
Trên thực tế, điện ảnh được sử dụng một cách đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội như phim tài liệu, phim khoa học, phim thời sự, phim
ca nhạc v.v… Nhưng khi nói đến phim, đa số công chúng thường nghĩ đến phim truyện Điều này minh chứng về tính phổ cập của phim truyện trong công chúng một cách rộng rãi và sâu sắc như thế nào Nhiều nhà nghiên cứu cho biết ngành nghệ thuật cốt lõi của điện ảnh - nghệ thuật phim truyện ra đời khá muộn, vào khoảng năm 1915, tức là phải đến trên dưới hai mươi năm sau buổi chiếu phim lịch
sử của anh em nhà Lumière Trên thực tế phim truyện có vẻ đã ra đời sớm hơn, dù chúng là những phim câm
Vào năm 1900 đã có phim Lô-lôt-ta, do hãng Hăng-ri Giô-li sản xuất có hàm chứa nội dung đầy đủ của một câu chuyện phim “Câu chuyện xảy ra trong một khách sạn Một người đàn bà trẻ không ngủ được, chị ta ngồi bên cửa sổ nghe chim họa mi hót, nghe tiếng hát, tiếng trò chuyện từ phố vang lên và nghe tiếng nhạc của đội nhạc binh đi qua Người chồng tức giận làm ầm lên và người chủ khách sạn buộc phải tống vị khách mất trật tự ra đường…” [199:19] Phim Người nhạc sĩ câm, cũng được sản xuất năm 1900, phim kể rằng: “Một nhạc sĩ bị tình nghi tội giết người (do nghệ sĩ Phec-đi-năng Dêch-ca đóng) đã trả lời các câu hỏi của quan tòa bằng những bản nhạc nổi tiếng mà anh biểu diễn bằng sáo Người xem đã thuộc lời của bản nhạc ấy liền hiểu ngay là bị cáo nói gì” [199:19] Ngoài ra còn có thể kể đến một phim khác: Công việc của một lính cứu hỏa Mỹ (sản xuất năm 1900, đạo
diễn Edwin Orter) Và có thể còn trước đó nữa nếu chúng ta không quá khắt khe, đòi hỏi các điều kiện cấu thành phim truyện như ngày nay
Vào tháng 5 năm 1896, nghĩa là chỉ hơn 5 tháng sau khi ngành nghệ thuật thứ bảy ra đời, đạo diễn Georges Méliès người Pháp đã quay các cuốn phim có tựa
đề: Cờ bạc, Du hành lên mặt trăng (sản xuất 1902); Nghìn dặm dưới đáy biển (sản xuất 1904); Cuộc du hành qua những vùng không đến được (sản xuất 1904, phim
này dài gần 20 phút chiếu và chi phí hết 7.500 đô la, một chi phí tốn kém nhất lúc bấy giờ) Những phim này dù ngắn nhưng nó có một chuyện phim hẳn hoi
Trang 3933
1.3.2 Tính xác thực trong phim truyện
Nghệ thuật phim truyện không gì khác hơn là sự chân thành và tính xác thực Nhưng tại sao vậy, chẳng phải phim truyện là tổng hợp của sự dàn dựng và tính kể lại những câu chuyện sao? Phải, nó là sự dàn dựng và tổng hợp của nhiều yếu tố hư cấu về một câu chuyện mà thành, nhưng sự thể hiện khi kể chuyện của nghệ thuật phim truyện có một đặc thù mà không nghệ thuật nào có được, đó là sự “xác thực”
Jia Zhang (Giả Trang Khách) một đạo diễn Trung Quốc nói: “Bạn hỏi vì sao phim của tôi thuyết phục khán giả quốc tế ư? Tôi nghĩ đó là tính xác thực và sự chân thành Chính chúng đã làm nên sự khác nhau giữa các nền văn hóa” [106:08] Nghệ sĩ Ưu tú Lê Đình Ấn là một người quay phim kỳ cựu đã từng thổ lộ: “Bản thân điện ảnh đã là giả vì được diễn lại Sự ghi hình, quay phim lại khiến điện ảnh giả thêm lần thứ hai Song, tuy làm giả nhưng cố gắng làm sao thật nhất” [96:20]
Khán giả có thể chấp nhận việc một đứa trẻ sơ sinh trên sân khấu được thể hiện bằng chiếc gối ôm nhỏ, một búp bê, hay một hình nhân, nhưng trong phim truyện không thể và cũng không ai chấp nhận như vậy, mà nó phải là một đứa trẻ sơ sinh thật Trong kịch bản, nếu nhân vật phải mang một vật nặng thì diễn viên thủ vai
ấy phải mang một vật có trọng lượng tương đương chứ không có chuyện tượng trưng, ước lệ như loại hình nghệ thuật khác, diễn viên dù diễn hay đến mức nào người xem cũng nhận ra sự không chân thực Sông, biển, gió, nước, v.v… trong phim truyện đều phải thật, thật như chính nó vốn có Tác giả Phan Thị Bích Hà
nhận xét:“Do đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh quy định nên tính chân thực trong tác phẩm điện ảnh được thể hiện không chỉ ở nội dung phản ảnh, mà ở cả cách diễn đạt nhằm chuyển tải nội dung ấy Diễn viên điện ảnh phải diễn xuất thật tự nhiên,
để những gì diễn ra trên màn ảnh đưa lại cho khán giả cảm giác hoàn toàn như cuộc đời thực” [48:27]
Tính xác thực là yếu tố đặc thù mà chỉ trong nghệ thuật phim truyện với những khả năng kỹ thuật của nó mới thể hiện được Điều này tạo nên sức lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ đối với người xem mà sáu loại hình nghệ thuật trước nó không thể
có được
Trang 4034
1.3.3 Ngôn từ được dùng trong phim truyện
Từ ngữ phong phú, giọng nói trong sáng, ngữ điệu chất phác, cảnh trí thật,
đó là giá trị miên viễn mà phim truyện đã đạt được thông qua sáng tạo của các nghệ
sĩ như kịch tác gia, đạo diễn, diễn viên, họa sĩ thiết kế, quay phim, dựng phim… mong muốn cống hiến cho công chúng Nếu như văn học đã trở nên nhìn thấy được
là một thành công vang dội của phim truyện, thì sân khấu từ lâu lại sở hữu một yếu
tố độc tôn mà phim truyện vẫn khao khát bắt chước nhưng chưa thể, đó là: ngôn từ
Với phim Don Juan ra đời năm 1926, phim truyện đã bước thêm một bước dài tiến
bộ, vì đó là phim đánh dấu cột mốc quan trọng: phim có ngôn từ
Nhưng ngôn từ lúc đó chỉ mới là sự báo trước một kỷ nguyên mới sẽ đến,
chứ với kỹ thuật “Vitafon” lúc ấy, phim của anh em nhà Warner còn lâu mới bắt kịp
được sân khấu trong ảnh hưởng ngôn từ đối với sự đòi hỏi của khán giả Bằng
chứng là mãi cho đến năm 1931, có nghĩa là năm năm sau khi phim Don Juan của Warner được công chiếu thì phim Ánh đèn đô thị (của Charlie Chaplin) vẫn làm mưa làm gió thị trường phim ảnh Bắc Mỹ, và ngay vào năm 1932 với phim Vụ án mạng (của Ph Lang-gơ), và kể cả phim Lịch sử tội lỗi (của H Sa-rô năm 1933) vẫn
còn cháy vé ở khắp các phòng chiếu Điều này đã chứng minh rằng phim có ngôn từ lúc đó vẫn chưa đáp ứng được tính nghệ thuật thượng thặng của nó Nó vẫn chưa đạt được nghệ thuật tả chân cuộc sống đương đại mà xã hội ngày một phát triển
1.3.4 Phim truyện và tính đại chúng của phim truyện
Từ khi phim truyện thể hiện được tiếng nói, điện ảnh đã chứng thực sự độc tôn của mình trên mọi lĩnh vực, từ giải trí cho đến các lĩnh vực thông tin truyền thống và cả không truyền thống Một điều đặc biệt cần lưu ý là, khi nhắc đến hai từ
điện ảnh thì trước tiên người ta nghĩ ngay đến phim truyện Phim truyện có ảnh
hưởng lớn đến độ nó đã trở thành một biểu tượng thành công về mặt văn hóa của quốc gia Thật vậy, ngôn từ trong phim truyện đã làm thay đổi mọi nhận thức về điện ảnh có trước đó Tính đại chúng của điện ảnh đã làm cho mọi quốc gia tranh thủ sở hữu và phát triển nền phim ảnh của riêng mình Đương nhiên không dễ cảm