1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu biến đổi kinh tế xã hội của người chơ ro ở đồng nai từ năm 1975 đến nay (nghiên cứu trường hợp xã túc trưng huyện định quán tỉnh đồng nai

180 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Biến Đổi Kinh Tế-Xã Hội Của Người Chơ Rô Ở Đồng Nai Từ Năm 1975 Đến Nay (Nghiên Cứu Trường Hợp Xã Túc Trưng – Huyện Định Quán Tỉnh Đồng Nai)
Tác giả Đặng Long Linh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Tiệp
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Dân Tộc Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, cùng với những tác động của yếu tố giao lưu, tiếp biến văn hóa trong điều kiện sống đan xen với các thành phần dân tộc khác, cũng như sự hội nhập vào dòng chảy chung của quá tr

Trang 1

ĐẶNG LONG LINH

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA

NGƯỜI CHƠ RO Ở ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ TÚC TRƯNG – HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG LONG LINH

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHƠ RO Ở ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ TÚC TRƯNG – HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI)

Chuyên ngành: Dân tộc học

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH DÂN TỘC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN VĂN TIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

HĐND: hội đồng nhân dân

BHYT: bảo hiểm y tế

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trang 2

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu Trang 5

6 Các lý thuyết áp dụng vào đề tài nghiên cứu Trang 7 6.1 Thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Theory) Trang 7 6.2 Thuyết Hành xử (Theory of practice)

7.2 Phương pháp thu thập và xứ lý

7.3 Phương pháp quan sát và quan sát tham dự Trang 8 7.4 Phương pháp nghiên cứu định tính

Trang 5

7.6 Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Trang 9

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Trang 9

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHƠ RO Trang 12

1.1.1 Biến đổi và biến đổi kinh tế - xã hội Trang 12

1.1.3 Gia đình và quan hệ gia đình Trang 14

1.1.4 Họ hàng và quan hệ họ hàng Trang 16

1.1.5 Lối xóm, làng xã và quan hệ lối xóm, làng xã Trang 16

1.2.1 Thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Theory) Trang 18

1.2.2 Thuyết Hành xử (Theory of practice)

1.3 Khái quát địa bàn nghiên cứu Trang 25

Trang 6

nguyên, và nhân lực của xã Túc Trưng Trang 26

1.4 Các yếu tố tác động đến sự biến đổi về kinh tế - xã hội

1.4.1 Chính sách dân tộc của Nhà nước Trang 31

1.4.1.1 Chính sách vĩ mô của Nhà nước Trang 31

1.4.1.2 Những chủ trương phát triển kinh tế - xã hội

1.4.2 Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa Trang 40

CHƯƠNG II: NHỮNG BIẾN ĐỔI KINH TẾ CỦA NGƯỜI CHƠ RO TẠI XÃ TÚC TRƯNG – HUYỆN ĐỊNH QUÁN –

2.1 Khái quát nền kinh tế truyền thống

2.1.1 Đời sống săn bắt, hái lượm,

2.2.1 Sự chuyển dịch cây trồng vật nuôi, và quá trình biến đổi, hình thành các loại hình nghề nghiệp, dịch vụ Trang 46

2.2.1.1 Vai trò quan trọng của nông nghiệp

Trang 7

thuyết khác nhau Trang 53

CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHƠ RO TẠI

XÃ TÚC TRƯNG – HUYỆN ĐỊNH QUÁN –

3.1 Khái quát xã hội truyền thống của người Chơ Ro Trang 74

3.2.1 Biến đổi mối quan hệ gia đình Trang 78

3.2.2 Biến đổi mối quan hệ họ hàng Trang 87

3.2.3 Biến đổi mối quan hệ lối xóm, làng xã Trang 92

Trang 8

DẪN LUẬN

1 Lý do nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Các cộng đồng dân tộc có nguồn gốc khác nhau Nhưng trong quá trình cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, họ sinh sống đan xen với những thành phần dân tộc khác Chính vì điều kiện sinh sống này, cùng với những tác động của những nhân tố chủ quan và khách quan đã góp phần thúc đẩy những biến đổi nhất định về các mặt kinh tế – xã hội của các thành phần dân tộc

Là một trong số các thành phần dân tộc thiểu số ở Việt Nam, từ lâu, cộng đồng dân tộc Chro được xem là lớp cư dân bản địa, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-khơmer, ngữ hễ Nam Á, có lịch sử hình thành, biến đổi và phát triển gắn liền với sự phát triển chung của dân tộc Việt Nam Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chro ở Việt Nam có dân số 26.855 người, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước Người Chro cư trú tập trung tại các tỉnh: Đồng Nai (15.174 người, chiếm 56,5 % tổng số người Chro tại Việt Nam), Bà Rịa-Vũng Tàu (7.632 người), Bình Thuận (3.375 người), thành phố Hồ Chí Minh (163 người), Bình Dương (134 người), và Bình Phước (130 người) (44)

Người Chro cư trú chủ yếu ở tỉnh Đồng Nai Họ sinh sống tập trung ở các huyện, thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình), Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ), Định Quán (xã Túc Trưng), Vĩnh Cửu (xã Phú Lý), Long Thành (xã Phước Thái) (37) Họ là thành phần dân tộc có số lượng dân cư đứng hàng thứ ba, sau người Kinh và người Hoa ở đây Trong quá trình sinh sống đan xen với các thành phần dân tộc khác, người Chro đã tạo được diện mạo kinh tế - xã hội - văn hóa riêng của mình và có những đóng góp nhất định cho sự phát triển chung của địa phương, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Ngày nay, cùng với những tác động của yếu tố giao lưu, tiếp biến văn hóa trong điều kiện sống đan xen với các thành phần dân tộc khác, cũng như sự hội nhập vào dòng chảy chung của quá trình toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước mà diện mạo kinh tế - xã hội của cộng đồng người Chro

Trang 9

có những biến đổi nhất định Có những thay đổi mạng tính tích cực, phù hợp với sự phát triển của đất nước cũng như của địa phương, nhưng cũng có những hạn chế từ những biến đổi này

Sau một thời gian điền dã tại địa bàn, cùng với quá trình tìm hiểu, nghiên cứu những công trình, tác phẩm, tạp chí liên quan đến người Chro, chúng tôi quyết định

thực hiện nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu biến đổi kinh tế - xã hội của người Chro

ở Đồng Nai từ năm 1975 đến nay vì nhận thấy: đây là một đề tài tương đối mới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến hiện nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu có cùng vấn đề liên quan Trước đây, trong một vài cuốn sách, tài liệu, các tác giả hoặc là chỉ đề cập một cách khái quát về người Chro trong mối quan hệ với các thành phần dân tộc khác ở Việt Nam (15), hoặc là chỉ nêu ra những đặc trưng mang tính truyền thống

về ngôn ngữ, về các nghi thức tang ma, lễ nghi truyền thống liên quan đến nông nghiệp, nghề dệt và trang phục cổ truyền, cách thức canh tác, cư trú… của họ (22, 4,

5, 6, 7, 8, 9, 10, 18, 28) Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành, các tác giả đã bắt đầu chú trọng đến nghiên cứu sự biến đổi của người Chro, nhưng số lượng còn tương đối ít và cũng chỉ đề cập đến một vài khía

cạnh biến đổi trong đời sống của họ (21, 11) Trong đó, với luận án tiến sĩ về Hôn nhân và gia đình của người Chro ở Đồng Nai – truyền thống và biến đổi, nhà

nghiên cứu Lâm Nhân đã phát họa rõ nét về bức tranh hôn nhân và gia đình của họ hiện nay Tác giả khẳng định: người Chro là một tộc người có bản sắc văn hoá, trong đó vấn đề hôn nhân và gia đình thể hiện những đặc trưng văn hoá riêng biệt Hình thái hôn nhân phản ánh quá trình phát triển xã hội Ngày nay, người Chro và các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang bị cuốn hút vào xu thế phát triển công nghiệp, sự giao lưu văn hoá đang diễn ra mạnh mẽ, những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc đã và đang có nguy cơ bị mai một Qua việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình truyền thống của người Chro ở tỉnh Đồng Nai, luận án tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống, phân tích những yếu tố tác động đến sự biến đổi

Trang 10

trong hôn nhân và gia đình của người Chro Đồng thời, luận án đóng góp một phần cống hiến vào việc gìn giữ bản sắc văn hoá người Chro, giúp cho các thế hệ sau có thêm những hiểu biết về nền văn hoá của dân tộc mình

Từ những nghiên cứu, luận án kết luận về hình thức hôn nhân truyền thống cũng như những biến đổi của hôn nhân ở người Chro hiện nay Trong đó, hình thức hôn nhân của cộng đồng dân tộc Chro là ngoại hôn, tự do tìm hiểu, tự do kết hôn, không ép buộc Nếu như trước đây là hình thức cư trú sau hôn nhân bên vợ, không

có tục nối dây Thì ngày nay, sự biến đổi hôn nhân là tất yếu, hình thức cưới hỏi đơn giản, không có hủ tục… Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, bên cạnh những đóng góp quan trọng của đề tài như: đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Chro và nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học thì luận án chưa đi sâu phân tích hôn nhân khác tộc, thậm chí là hôn nhân với người nước ngoài diễn ra ngày càng tăng trong một số cộng đồng người Chro ở Đồng Nai

Nghiên cứu về vấn đề biến đổi kinh tế - xã hội hiện nay cũng có nhiều công trình (30, 31, 32, 38, 39, 40) Trong đó, các tác giả khẳng định: truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống văn hóa của làng, với những sự cố kết, đồng cam cộng khổ, những tập tục truyền thống được phát huy trong thời kỳ đổi mới giống như một cơ chế bảo vệ hữu hiệu cho dân làng trước những sóng gió của bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế mới; phân tích, tổng hợp, đánh giá, khái quát bức tranh đa sắc về quá trình biến đổi của đồng bằng sông Hồng sau 10 năm đổi mới Cơ cấu kinh tế chuyển dịch, sự mở rộng dịch vụ xã hội; hệ thống giá trị chuẩn mực trong gia đình, dòng họ, làng xã, hệ thống quản lý làng xã trong nền kinh tế thị trường Sau khi phân tích những những thành tựu với việc tăng mức sống và các dịch vụ cơ bản, đa dạng hóa các quan hệ sản xuất, nâng cao dân chủ ở cơ sở của làng xã, tác giả còn nêu ra những hạn chế từ việc biến đổi này; sự thay đổi các chính sách kinh

tế vĩ mô, sự xuất hiện các khu công nghiệp, sự chuyển hóa quyền sử dụng đất đã dần dần biến những vùng quê yên ả, thanh bình thành những khu công nghiệp mang dáng dấp của những đô thị hiện đại Những biến đổi đó diễn ra trên tất cả các lĩnh

Trang 11

vực từ cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống đến nhà ở, cơ sở hạ tầng, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần; quá trình đô thị hóa đã làm tăng sự phân hóa ở một bộ phận dân cư Do chuyển đổi nghề nghiệp nên mức độ trang bị tiện nghi sinh hoạt của các hộ gia đình bắt đầu chịu ảnh hưởng của lối sống và tâm lý tiêu dùng đô thị, đặc biệt là trong những nhóm cư dân khá giả…; Các làng nghề truyền thống cũng sẽ bị biến đổi và cũng đã bị mai một; sự biến đổi với tốc độ và cường độ mạnh đã mang lại cho các làng quê sự phát triển vượt bậc nhưng cũng đưa đến nhiều vấn đề bất cập Khi các giá trị kinh tế theo hướng thị trường, các giá trị văn hóa chịu thử thách trong quá trình toàn cầu hóa, khi các giá trị mới được tiếp nhận quá nhanh chóng ở các làng quê chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những sự va chạm và nảy sinh những hậu quả không mong muốn…; Trên bình diện chung, quan

hệ làng xóm trong các làng vẫn giữ được tính chất của làng quê xưa: đoàn kết, tình nghĩa Tuy vậy, thực tế này mặc dù nổi bậc và dễ nhận thấy song cũng chỉ mới là một mặt của vấn đề; Trong các làng hiện nay, cũng không quá khó để nhận ra một

số mâu thuẫn đã nảy sinh trong quan hệ làng xóm và đã xuất hiện sự cạnh tranh mang tính chất thể diện trong cộng đồng, những điều này tuy không lớn và chưa làm thay đổi quá nhiều những quan hệ xã hội của cộng đồng, song nó giống như sóng ngầm và không thể nói là không ảnh hưởng đến cuộc sống của dân làng; nghiên cứu sự chuyển sang nền kinh tế thị trường của các làng xã ở đồng bằng sông Hồng cũng như mọi vùng nông thôn khác dường như không đối lập hay cản trở, mà trái lại còn thúc đẩy sự hồi sinh và phát triển của tinh thần cộng đồng truyền thống như là sức mạnh thúc đẩy nội tại của chúng…

Như vậy, mặc dù chưa có điều kiện nêu ra hết tất cả những công trình nghiên cứu về sự biến đổi kinh tế - xã hội của các cộng đồng cư dân hiện nay cũng như nghiên cứu về người Chro, nhưng nhìn chung các tác giả chưa thật sự quan tâm nghiên cứu về sự biến đổi về các mặt kinh tế - xã hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, trong đó có cộng đồng dân tộc Chro Có thể khẳng định, mặc dù hiện nay bước đầu đã có những nghiên cứu về sự biến đổi của người Chro ở Đồng Nai, nhưng những nghiên cứu này, cơ bản chỉ khai thác những khía

Trang 12

cạnh nhất định trong tổng thể những biến đổi của họ, và chưa thật sự nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về sự biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội của

họ, và cũng vì những lý do đó, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài này và hy vọng đề tài này sẽ có tính khả thi bởi vì:

Hiểu rõ sự biến đổi về tổng thể các mặt kinh tế – xã hội của người Chro ở Đồng Nai sẽ giúp ta thấy được tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài; góp phần cung cấp thông tin, bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu về người Chro ở Việt Nam nói chung và người Chro ở Đồng Nai nói riêng; đồng thời

đề tài cũng góp phần tư liệu cho việc nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về quá trình tộc người, vùng văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng tộc người

Những thông tin, những nhận định của đề tài có thể góp phần tham vấn cho các cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Nai trong việc hoạch định những chính sách, chủ trương, quản lý đối với cộng đồng dân tộc Chro đang cư trú tại địa phương; đồng thời nguồn tư liệu của đề tài cũng có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu khoa học, học tập, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, nhất là những nơi

có người Chro sinh sống như Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương…

Với niềm đam mê nghiên cứu khoa học, cùng với sự định hướng, trao đổi kiến thức từ thầy, cô trong quá trình giảng dạy, chúng tôi tin tưởng sẽ cố gắng thực hiện

đề tài nghiên cứu này

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những biến đổi về kinh tế – xã hội của người Chro ở Đồng Nai

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là cộng đồng người Chro ở Đồng Nai

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Trang 13

Về không gian nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi quyết định chọn địa bàn nghiên cứu là xã Túc Trưng – huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai Vì chúng tôi cho rằng cộng đồng dân tộc Chro ở đây cư trú tương đối thuận tiện cho những giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài – điều kiện quan trọng dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ trong đời sống của

họ Cư trú dọc theo quốc lộ 20 từ ngã ba Dầu Giây lên Đà Lạt, đây là một trong những địa bàn cư trú tập trung của người Chro Đến năm 2012, toàn xã có 5 thành phần dân tộc sinh sống, bao gồm: Chro, Kinh, Hoa, Khmer, Mường Trong đó, người Chro chiếm số lượng đông nhất với 688 hộ, 3667 nhân khẩu trên tổng số 798

hộ, 4357 nhân khẩu dân tộc thiểu số ở đây (25); và vì nhiều lý do khác nhau mà cộng đồng người Chro nơi đây có những biến đổi mạnh mẽ so với những cộng đồng Chro ở những nơi khác Trong đó, luận văn đánh giá sự tác động của những nhân tố như: chính sách dân tộc của Nhà nước, sự giao lưu tiếp xúc văn hóa với người Kinh,

sự phát triển của kinh tế thị trường, và những đặc điểm cá nhân khác… đến sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực của người Chro ở đây Đồng thời, luận văn cũng so sánh đối chiếu với sự biến đổi trong cộng đồng người Chro ở những địa phương khác nhau của tỉnh Đồng Nai

Về thời gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cộng đồng người Chro từ năm 1975 cho tới hiện nay Vì từ năm 1975, thì cùng với việc thống nhất đất nước, năm 1986, nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, kéo theo nhiều sự thay đổi trên tất cả các mặt của các tộc người Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng tìm hiểu cộng

đồng người Chro trong những giai đoạn trước đó để có sự so sánh, đối chiếu

4 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ sự thay đổi về kinh tế - xã hội của người Chro ở Đồng Nai

Trang 14

Nhận định, đánh giá khách quan, trung thực về thực trạng bức tranh kinh tế -

xã hội của người Chro hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị góp phần thúc đẩy sự phát triển đối với cộng đồng người Chro ở Đồng Nai

4.2 Câu hỏi nghiên cứu: Có những nhân tố cơ bản nào tác động đến sự biến

đổi về kinh tế - xã hội của người Chro hiện nay, và xu hướng của sự biến đổi đó diễn ra như thế nào?

5 Giả thuyết nghiên cứu

5.1 Giả thuyết 1: Các chủ trương, chính sách của Nhà nước tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội của người Chro

5.2 Giả thuyết 2: Những biến đổi về kinh tế - xã hội của người Chro theo hướng hiện đại, chịu tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường

5.3 Giả thuyết 3: Giao lưu, tiếp xúc với các thành phần dân tộc khác, đặc biệt

là người Kinh tại địa phương tạo điều kiện thuận lợi, dẫn đến những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của người Chro

5.4 Giả thuyết 4: Những biến đổi về kinh tế - xã hội của người Chro gắn liền với sự biến đổi các giá trị truyền thống của dân tộc Chro

6 Các lý thuyết áp dụng vào đề tài nghiên cứu

6.1 Thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Theory)

6.2 Thuyết Hành xử (Theory of practice) của Pierre Bourdieu

6.3 Thuyết Hậu cấu trúc luận

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện các mục tiêu nghiên cứu và chứng minh các giả thuyết nghiên cứu của đề tài, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Điền dã dân tộc học là việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong

quá trình nghiên cứu thực địa Với phương pháp này, đòi hỏi người nghiên cứu sẽ

Trang 15

sống, làm việc và nghiên cứu cùng cộng đồng trong một thời gian dài Do đó, trong quá trình thực hiện điền dã, phương pháp này luôn được chúng tôi thực hiện để có thể nắm bắt thông tin một cách tốt nhất và chính xác nhất nhằm phục vụ tốt cho quá trình phân tích của đề tài Chúng tôi sẽ tham gia cùng với các quá trình sinh hoạt trên tất cả các lĩnh vực đời sống của cộng đồng người Chro ở địa phương để nhận diện chung về vấn đề quan tâm đến đề tài nghiên cứu Đồng thời, kết hợp với nhiều cách thức khác nhau trong việc thu thập thông tin, phỏng vấn sâu cũng được chúng tôi tiến hành

7.2 Phương pháp thu thập và xứ lý thông tin bằng hình ảnh: đây là

phương pháp ghi nhận thông tin bằng các thiết bị kỹ thuật như máy ảnh, máy quay phim…Các thông tin này được người nghiên cứu phân tích, lý giải nhằm chứng minh cho các nhận định về sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của người Chro ở Đồng Nai hiện nay, thể hiện qua các sinh hoạt trên tất cả các lĩnh vực đời sống của họ

7.3 Phương pháp quan sát và quan sát tham dự: đây cũng là một trong

những phương pháp quan trọng được chúng tôi thực hiện trong quá trình nghiên cứu tại thực địa, nhằm tiếp cận thông tin đa chiều và đánh giá khách quan sự biến đổi kinh tế - xã hội của cộng đồng cũng như những xu hướng biến đổi của nó

7.4 Phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn bán cấu trúc): Đây là

phương pháp thu thập thông tin từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Trong quá trình điền dã, phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phỏng vấn đa dạng các thành viên của cộng đồng ở địa phương Từ đó,

chúng tôi sẽ có cách nhìn nhận vấn đề một cách đầy đủ và sâu sắc nhất

7.5 Phương pháp so sánh đối chiếu: đây là phương pháp cũng được thực

hiện trong quá trình điền dã nhằm tiến hành so sánh ở các cộng đồng khác nhau để thấy những nét tương đồng và dị biệt trong bối cảnh văn hóa – lịch sử của một vùng Trong đề tài, chúng tôi muốn so sánh đến diện mạo đời sống của người Chro

ở các địa phương khác nhau so với người Chro ở Túc Trưng; Đồng thời cũng so

Trang 16

sánh đời sống của người Chro trước đây Đây được xem là phương pháp đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình so sánh để giải thích các yếu tố tác động đến quá trình phát triển của cộng đồng

7.6 Phương pháp nghiên cứu lịch sử: đây là một trong những phương pháp

nghiên cứu, phân tích, lý giải các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu điền dã Ý nghĩa của phương pháp này là nhằm để tìm hiểu các sự kiện đã diễn ra theo thời gian lịch sử nhằm tìm hiểu rõ nguồn cội, diễn tiến thay đổi và phát triển của các yếu tố tác động đến sự thay đổi của đời sống người Chro ở Đồng Nai

Ngoài ra, trong luận văn này, chúng tôi còn sử dụng phương pháp emic, etic trong trình bày nội dung khoa học của luận văn, nhằm có sự so sánh, đối chiếu những nhận định của người nghiên cứu với ý kiến của khách thể nghiên cứu trong luận văn

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận

Thực hiện đề tài nghiên cứu: “Những biến đổi về kinh tế - xã hội của người Chro ở Đồng Nai từ năm 1975 đến nay (nghiên cứu trường hợp xã Túc Trưng – huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai)” sẽ giúp chúng tôi có điều kiện kiểm nghiệm lại một số lý thuyết tiêu biểu trong nhân học như lý thuyết Lựa chọn duy lý, thuyết Hành sử, thuyết Hậu cấu trúc luận; góp phần cung cấp thông tin, bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu về người Chro ở Việt Nam nói chung và người Chro ở Đồng Nai nói riêng; đồng thời đề tài cũng góp phần tư liệu cho việc nghiên cứu các vấn

đề lý thuyết về quá trình tộc người, vùng văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng tộc người Hơn nữa, đề tài có ý nghĩa lý luận khoa học khi nó tiếp cận vấn đề tiến hóa của một cộng đồng dân tộc dưới góc độ nhân học

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần làm rõ bức tranh kinh tế - xã hội của người Chro Đồng Nai hiện nay Những thông tin, những nhận định của đề tài có thể góp phần tham vấn

Trang 17

cho các cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Nai trong việc hoạch định những chính sách, chủ trương, quản lý đối với cộng đồng dân tộc Chro đang cư trú tại địa phương; đồng thời nguồn tư liệu của đề tài cũng có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu khoa học, học tập, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, nhất là những nơi có người Chro sinh sống như Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Phước, Bình Dương…

Trang 18

9 Khung phân tích

Sự phát triển của kinh tế thị trường

Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa với người Kinh

Chính sách dân tộc

của Nhà nước

Những biến đổi về kinh tế -

xã hội của người Chro

Xã hội

Kinh tế

Đặc điểm của cá nhân

Đáp ứng nhu cầu sinh tồn

Bối cảnh Kinh tế - Xã hội –

QH cộng đồng

Trang 19

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, VÀ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI KINH

TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHRO

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Biến đổi và biến đổi kinh tế - xã hội

Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, khái niệm biến đổi mang nhiều ý nghĩa khác nhau Trong nhân học văn hóa, nó được ra đời từ rất sớm theo cách hiểu là một quy luật tất yếu của cuộc sống Từ những quan niệm trừu tượng của thuyết Khải Hoàn (Thuyết Khải Hoàn xem mọi sự biến đổi của nhân loại đều chịu sự ảnh hưởng của Thiên Chúa, coi sự vận động của thế giới đều tất yếu đi đến cái tốt đẹp), đến những lập luận của thuyết Tiến Hóa trong bước đầu giải thích mối quan hệ giữa tiến hóa của xã hội con người với sinh vật; hay là sự mô phỏng tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng của mọi sự vật trong thuyết Chu Kỳ (Mô hình của Thuyết Chu Kỳ cho rằng trong quá trình sinh trưởng, mọi sự vật đều có tiêu vong, biến mất và sau

đó cái mới lại xuất hiện); hoặc những gợi mở về cơ sở biến đổi như mô hình biến đổi của Lewin K (1951) (Levwin K (1951) đưa ra mô hình biến đổi theo 3 chu trình: bất ổn định (unfreezing), biến đổi (changing) và tái ổn định (refreezing)); Auguste Comte (1854) (Auguste Comte (1854), nhà tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã hội, tin tưởng rằng khi đã xác định được nguồn gốc của sự biến đổi xã hội thì chắc chắn mọi quy trình biến đổi sẽ là: khả năng biến đổi cao, theo một con đường phát triển, và những tiến bộ đương nhiên hướng đến một xã hội tốt hơn); quan điểm xung đột sẽ dẫn đến sự biến đổi của Karl Marx (1848) (Karl Marx (1848) đã triển khai một lý thuyết tiến hóa về sự biến đổi xã hội Ông cho rằng dựa vào sự thay đổi liên tục trong khoa học kỹ thuật mà các xã hội sẽ đi từ mức đơn giản đến phức tạp Ở mỗi trạng thái, mức độ phát triển, xã hội sẽ tìm ẩn các điều kiện tự hủy diệt cái lỗi thời và tạo cơ hội biến đổi, đưa xã hội vào các trạng thái, mức độ phát triển tiếp sau đó); hay sự nhận định các nhân tố sẽ gây cản trở cho mọi sự biến đổi của Zaltman, G; R, Duncan (1977) (Gérald Zaltman và Robert Duncan (1977) cho rằng các nhân

Trang 20

tố sẽ gây cản trở cho sự biến đổi là văn hóa, xã hội, tổ chức, tâm lý)… Dẫu có nhiều

ý kiến và nhiều lý thuyết khác nhau lý giải về nội hàm của khái niệm này, nhưng trên cơ bản mọi thuyết đều nhấn mạnh đến tính tất yếu của sự biến đổi, xem đó như một quy luật vận động khách quan của cuộc sống (23, tr 28)

Kinh tế và xã hội là những phạm trù rộng, có mối liên hệ tương tác lẫn nhau Kinh tế biến đổi cũng làm xã hội biến đổi theo và đến lượt xã hội tác động ngược trở lại nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kiềm hãm kinh tế phát triển (27, tr 221) Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những biến đổi trong hoạt động lao động sản xuất, sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề cùng với đó là những biến đổi trong các mối quan hệ xã hội của người Chro Trên cơ sở đó, chúng tôi xem xét, đánh giá những nét đặc trưng của những sự biến đổi này, và dự báo những xu hướng biến đổi của nó cũng như những tác động nhất định của nó đối với sự phát triển chung của

cộng đồng người Chro ở địa phương

1.1.3 Xã hội và quan hệ xã hội

Xã hội là một khái niệm bao quát rất nhiều lĩnh vực Vì vậy, đã có nhiều tranh luận xung quanh khái niệm này Theo G Endruweit và Tromsdorff : xã hội là một khái niệm đa nghĩa, phân tán theo bề rộng, bề sâu Theo nghĩa tổng quát là sự gắn

bó (nói chung được xác định theo không gian và thời gian) của một tập hợp các thực thể sống cùng loài và chia sẻ cùng một quan hệ sống Hiểu hẹp hơn và chỉ nói tới con người là một tập hợp được giới hạn không gian, thời gian hoặc xã hội và đồng thời có sắp xếp của các cá nhân hay nhóm, những người gắn bó với nhau trong các quan hệ tương hổ trực tiếp và gián tiếp Theo Nguyễn Khắc Viện: xã hội

là một thuật ngữ để chỉ một tập hợp người có những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau Quan hệ xã hội là thuật ngữ chỉ các quan hệ giữa người và người trong xã hội, được thiết lập trong quá trình cùng nhau hoạt động vật chất và tinh thần Do sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội nên các quan hệ sản xuất đóng vai trò quan trọng, chi phối các quan hệ xã hội khác Những người Marxist phân biệt hai loại quan hệ xã hội chính: quan hệ xã hội về

Trang 21

mặt vật chất và quan hệ xã hội về mặt tinh thần Mỗi loại quan hệ đó lại bao gồm những quan hệ nhỏ hơn Một số nhà xã hội học Phương Tây cũng dùng những khái niệm quan hệ xã hội nhưng với cách hiểu khác nhau về nội dung và hệ thứ bậc của chúng Quan hệ xã hội được hiểu là tương tác và cấu trúc ảnh hưởng tồn tại giữa người với người hay giữa người với nhóm Về nguyên tắc, quan hệ này được phân biệt theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), nội dung (hấp dẫn, hung bạo, vị tha, phân chia quyền lực), hậu quả (tối thiểu, tối đa), cường độ (phạm vi lớn, nhỏ), mức độ cam kết (tự nguyện, không tự nguyện) và số người liên quan (hai hay nhiều hơn) (29, tr 24)

1.1.3 Gia đình và quan hệ gia đình

Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau mà có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm gia đình Theo Nguyễn Như Ý: gia đình là tế bào xã hội gồm những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống, sống trong cùng một nhà Có thể hiểu, gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp và được nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Từ khái niệm này, chúng ta tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm xã hội, nhóm tâm lý, tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa

vợ và chồng Các mối quan hệ trong gia đình được các nhà khoa học xã hội nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo nhà tâm lý học Ngô Công Hoàn, gia đình

có 6 đặc trưng cơ bản: là một nhóm xã hội phải có từ 2 người trở lên Trong gia đình phải có giới tính nam và nữ Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt huyết thống, nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý Gia đình phải có ngân sách chung Gia đình phải sống chung một nhà Theo từ điển xã hội học, Nguyễn Khắc Viện chủ biên: gia đình là tế bào xã hội cách đề cập này nêu lên được tầm quan trọng của gia đình đối với xã hội Nhưng gia đình là một khái niệm phức hợp bao

Trang 22

gồm những yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa và cả kinh tế nữa, khiến cho gia đình không thể giống với những nhóm xã hội khác Những liên hệ cơ bản của gia đình:

vợ - chồng, cha me – con cái Đó là những mối liên hệ cơ bản của gia đình Những liên hệ đó chủ yếu được thể hiện ở ba mặt: sinh hoạt tình dục (hợp pháp), sinh con

và nuôi dạy con cái (tái sinh sản giống loài), và hoạt động kinh tế (29, tr 25)

Quan hệ gia đình là mối quan hệ tâm lý, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, gồm các mối quan hệ theo chiều ngang (quan hệ vợ - chồng, quan hệ anh – em), quan hệ theo chiều dọc (quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ ông bà – cháu) Dưới góc độ lịch sử, hiện nay về cấu trúc cũng như mối quan hệ gia đình đã có nhiều biến đổi nhất định Đối với những cộng đồng người cụ thể, sự biến đổi này cũng thể hiện những đặc trưng nhất định Trong gia đình truyền thống, mối quan hệ theo chiều dọc (quan hệ cha mẹ - con cái) được đề cao, chi phối mối quan hệ theo chiều ngang (quan hệ vợ - chồng, quan hệ anh, chị - em) Trong gia đình ngày nay, mối quan hệ theo chiều ngang được nhấn mạnh hơn mối quan hệ theo chiều dọc Dưới góc độ giới, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về sự bình đẳng hay bất bình đẳng trong mối quan hệ vợ - chồng, sự san sẻ quyền lực, tính dân chủ, mối quan hệ tâm lý, sinh lý trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình Hơn nữa, các mối quan hệ trong gia đình bắt nguồn từ quan hệ huyết thống, ruột thịt, và quan hệ tình cảm, trách nhiệm Trong gia đình các thành viên gắn bó với nhau bằng những sợi dây liên hệ thường xuyên, lâu dài Trong gia đình thuận hòa, các thành viên luôn quan tâm đến nhau Việc tổ chức gia đình tốt và giáo dục trong gia đình chu đáo có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành nhân cách của con người (29, tr 27) Mối quan hệ trong gia đình của người Chro hiện nay cũng có những đặc trưng nhất định

Sự biến đổi trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình của người Chro hiện nay xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự phát triển của cộng đồng tộc người Chro hiện nay

Trang 23

1.1.4 Họ hàng và quan hệ họ hàng

Cũng theo Đại từ điển tiếng Việt thì họ hàng là những người có quan hệ huyết thống cùng tổ tiên nói chung hay dòng họ là những người có cùng huyết thống các thế hệ kế tiếp nhau nói chung trong cùng một dòng họ (29, tr 28) Quan hệ họ hàng

là mối quan hệ được xác định dựa trên huyết thống hoặc được thiết lập thông qua hôn nhân Bên cạnh đó, quan hệ họ hàng còn được hình thành thông qua việc nhận cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi… Những mối quan hệ này cũng mang đầy đủ các đặc tính như của các quan hệ dựa trên huyết thống và hôn nhân Quan hệ họ hàng tồn tại

ở mọi xã hội, tuy nhiên mỗi xã hội có những cách thức riêng để quy định mối quan

hệ đó Ví dụ: dùng họ cha hay họ mẹ, vai trò của từng thành viên trong dòng họ… Quan hệ họ hàng có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của xã hội Thứ nhất, mối quan hệ theo chiều dọc của quan hệ họ hàng tạo ra sự liên tục xã hội, kết nối các thế

hệ Thứ hai, thông qua mối quan hệ họ hàng, thế hệ trên có thể truyền thụ kiến thức, truyền thống tới các thế hệ kế tiếp Thứ ba, các mối quan hệ theo chiều ngang của

họ hàng kết nối những người cùng thế hệ thông qua hôn nhân, củng cố và mở rộng liên minh xã hội Mối quan hệ họ hàng của người Chro hiện nay cũng trở thành một vấn đề đáng lưu tâm Những biến đổi nhất định xung quanh mối quan hệ này góp phần tạo nên bức tranh tổng thể của sự biến đổi mối quan hệ xã hội Chro đương đại

1.1.5 Lối xóm, làng xã và quan hệ lối xóm, quan hệ làng xã

Lối xóm là hàng xóm, láng giềng, người cùng sinh sống trong cùng một xóm (29, tr 29) Quan hệ lối xóm là mối quan hệ của những người sống gần gũi, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống Sự quần tụ gần nhau tạo cho cộng đồng những mối liên hệ xã hội, văn hóa mạnh mẽ Quy tắc láng giềng yêu cầu mỗi gia đình phải có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn đối với hàng xóm của mình Quan hệ lối xóm là một nguyên tắc vừa đối lập, vừa bổ sung cho quan hệ họ hàng, đồng thời đề cao sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong lối xóm Trong khi đó, làng xã là một trong những tổ chức chính trị - xã hội đặc trưng của Việt Nam Trong đó, làng là một tập hợp nhiều gia đình tụ cư trong

Trang 24

một khu vực địa lý nhất định, một hệ thống cấu trúc cộng đồng đan xen chặt chẽ dựa trên quan hệ cư trú, quan hệ huyết thống (dòng họ), quan hệ nghề nghiệp, quan

hệ tương thân tương ái Như vậy, làng là một cấu trúc cộng đồng gồm nhiều cấp độ

và thể loại cộng đồng liên quan chặt chẽ các thành viên với nhau Xã là một đơn vị hành chính bao gồm một hoặc một vài làng, trong đó có phân biệt rõ ràng giữa dân chính cư và dân ngụ cư (29, tr 30) Đối với mối quan hệ làng xã, cá nhân luôn tự coi mình là thành viên của một cộng đồng làng xã nhất định Cùng với những biến đổi các mối quan hệ gia đình, dòng họ, mối quan hệ lối xóm, làng xã hiện nay của

người Chro đã có những biến đổi nhất định

1.1.6 Cộng đồng

Cộng đồng là một trong những khái niệm cơ bản có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên các tiếp cận khác nhau Theo G Endruweit: cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn… Khái niệm cộng đồng bao gồm ba ý nghĩa Thứ nhất, cộng đồng như một địa vực Ở đó, sự định cư của một nhóm người bên trong một lãnh thổ nhất định Thứ hai, cộng đồng được hiểu như một mạng lưới các tương quan Trong cách hiểu này, các quan hệ cộng đồng có cả các đặc tính xung đột đan xen hoặc thay thế đặc tính cơ bản của nó là đoàn kết và tương trợ Thứ ba, cộng đồng được xem là một kiểu, một loại riêng biệt của mối quan hệ xã hội so với những tổ chức nhất định như tinh thần cộng đồng, tình cảm cộng đồng, ý thức cộng đồng Các nhà nghiên cứu gần đây đi sâu vào phân tích bản chất và nội dung của các hành động cộng đồng và sức đề kháng của cộng đồng trước các vấn đề của xã hội… Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận khái niệm cộng đồng như một nhóm dân cư nhỏ, tương đối đơn giản và thuần nhất, dựa trên những quan hệ xã hội mang tính chất gần gũi, thân thiện, thông qua quan hệ thân tộc bên trong mỗi dòng

họ và giữa các dòng họ với nhau Mối quan hệ cộng đồng người Chro ở Túc Trưng hiện nay bao gồm cả tính cố kết, tương trợ lẫn nhau và tính mâu thuẫn Trong những điều kiện nhất định, những tính chất cụ thể của mối quan hệ cộng đồng của

Trang 25

họ được thể hiện rõ nét, đồng thời thể hiện các xu hướng biến đổi trong tổng thể các mối quan hệ của nó

1.2 Lý thuyết nghiên cứu

1.2.1 Thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Theory)

Thuyết Lựa chọn duy lý hay còn gọi là thuyết Lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory) dựa trên tiên đề cho rằng con người hành động một cách có chủ đích, suy tính để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Trong toán học, định đề cơ bản của thuyết Lựa chọn duy lý được Homans diễn đạt theo định lý như sau: khi lựa chọn trong số các hành động có thể, cá nhân sẽ chọn cách mà họ cho là tích (C) của xác xuất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất C = P x V = Maximum (17, tr 37) Còn theo Jonh Elster: “khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng là tốt nhất” (17, tr 37)

Trong nhân học, thuyết Lựa chọn duy lý nhấn mạnh đến cá thể lựa chọn hành động của mình dựa trên việc tính toán lợi ích, chi phí và xác suất thành công của hành động đang được xem xét, và những quy ước xã hội cũng như những mô thức văn hóa là kết quả của sự lựa chọn của cá thể Những quy ước xã hội và mô thức văn hóa này là những thực thể động Fredrik Barth là một trong những nhà nhân học tiêu biểu cho trường phái Lựa chọn duy lý với “mô hình sản sinh ra hình thái xã hội” là mô hình chiến lược lựa chọn hành động của cá nhân để đạt lợi ích tối đa cho mình trong quan hệ xã hội Để minh họa cho điều này, Fredrik Barth đưa ra ví dụ về cách giao dịch của thuyền trưởng, người điều khiển lưới và thuyền viên trên một chuyến tàu đánh cá trích ở Đại Tây Dương Quan hệ của thuyền trưởng và thuyền viên là quan hệ người điều khiển với người phụ thuộc Quan hệ của người điều khiển lưới và thuyền viên thì cũng như thế Quan hệ giữa thuyền trưởng và người điều khiển lưới là quan hệ chia sẻ quyền lực và trách nhiệm Thời điểm Barth nghiên cứu cũng là thời điểm có những kỹ thuật mới như thiết bị đo âm động và

Trang 26

phát hiện tàu ngầm để bổ xung những thiết bị và kinh nghiệm cổ điển (như ống nhòm) Các hình thức ứng xử có thể được tóm tắt và lý giải như sau: viên thuyền trưởng thể hiện cách ứng xử cho thấy sự tự tin, hiểu biết, trải nghiệm, và sự hợp lý trong quyết định của mình, trong khi người điều khiển lưới thì “ngẫu nhiên, hay lập luận, đùa cợt và đưa ra các bằng chứng về những sự phỏng đoán đầy cảm hứng, rất thính và có cảm giác tinh tế” (14, slide 25) Tại sao hai nhân vật này không thể hiện quyền lực theo đúng vai trò và vị thế của mình? Câu trả lời của Barth là việc này có liên quan đển chiến lược của họ nhằm quản lý ấn tượng của thuyền viên về mình trong quan hệ giao dịch với thuyền viên, và trong bối cảnh ai cũng muốn có lợi tối

đa cho mình Với ví dụ này, Fredrik Barth đã chứng minh được “mô hình sản sinh

ra hình thái xã hội” là mô hình chiến lược lựa chọn hành động của cá nhân để đạt lợi ích tối đa cho mình trong quan hệ xã hội (14, slide 25)

Trước những biến đổi của xã hội Chro đương đại, nếu đứng trên quan điểm của thuyết Lựa chọn duy lý, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: khi đứng trước những sự lựa chọn, nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của từng thành viên trong cộng đồng, ngoài những yếu tố tác động khách quan và chủ quan nhất định, thì họ thường

ra quyết định lựa chọn những vấn đề mà những vấn đề đó là kết quả của những quá trình suy nghĩ, cân nhắc, tính toán của họ, nhằm bảo đảm “lợi ích” tối đa, chi phí tối thiểu thuộc về bản thân họ và chấp nhận rủi ro trong mối quan hệ với những khả năng lựa chọn khác Trong quá trình điền dã tại địa phương, kết hợp với phương pháp quan sát tham dự chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu một số người dân và nhận thấy những biến đổi kinh tế - xã hội của người Chro như: sự biến đổi của các phương thức và kỹ thuật canh tác, trồng trọt, sự chuyển đổi mô hình cây trồng vật nuôi; sự tham gia ngày càng mạnh mẽ vào hoạt động kinh tế thị trường; sự lựa chọn ngành nghề của thế hệ trẻ; sự phai nhạt trong vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị của dân tộc như học và sử dụng tiếng mẹ đẻ, học sử dụng cồng chiêng; sự “thờ ơ” trong các sinh hoạt cộng đồng cũng như các mối quan hệ láng giềng Theo bà ĐTT

- 45/3, ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai thì “bây giờ đất ít, người đông, đa số người dân tộc Chro ở đây đi làm thuê, làm mướn, làm cho

Trang 27

các công ty, xí nghiệp, buôn bán ở chợ, một số thì làm trong các cơ quan chính quyền ở địa phương, làm giáo viên, y sĩ ” Theo ông ĐS - 45/3, ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai thì “bây giờ nhiều thanh niên ở đây không tâm huyết với việc học đánh cồng chiêng cũng như học tiếng Chro” Hiện nay, có tổng số 7 người dân tộc Chro tham gia vào các tổ chức Đảng, chính quyền, UBMTTQ, đoàn thể trên địa bàn xã Túc Trưng (25) Tất cả những biến đổi trên cũng có thể được lý giải dựa trên lăng kính lý thuyết này

1.2.2 Thuyết Hành xử (Theory of practice) của Pierre Bourdieu

Thuyết hành xử là một trong những chủ thuyết quan trọng, nhằm đi tìm câu trả lời cho những hành vi của con người trong các quá trình tương tác với xã hội Habitus là một khái niệm trung tâm của Thuyết này Theo Pierre Bourdieu, habitus

là toàn thể các tâm thế hành vi được học hoặc thẩm thấu vào cá nhân Cá nhân có xu hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy bằng cách kích hoạt các khung hành vi bằng cách thích ứng chúng với các điều kiện hay hoàn cảnh mà họ sống trong đó (24, tr 87-88) Theo định nghĩa này của Pierre Bourdieu, habitus có ba sắc thái ngữ nghĩa

Thứ nhất, habitus là một tập hợp kết quả của các quá trình học tập (chính thức hay phi chính thức, được nói ra bằng lời hay ngấm ngầm) Các quá trình học tập ấy hình thành và khắc sâu vào trí não những mô hình hành vi, các phương thức nhìn nhận và đánh giá trong quá trình xã hội hóa Ví dụ, thiết chế học đường (trường học) đã khắc sâu vào trí não của học sinh những mô hình hành vi hay những cách thức xử sự Trường học tạo ra các cá nhân được trang bị những mô thức hành động

vô thức (những mô hình hành vi) Những mô thức hành vi ấy sẽ được kích hoạt trong những điều kiện tương đồng và sẽ tạo ra văn hóa của họ hay habitus của họ, đồng thời biến habitus tập thể (cấu trúc) thành cái vô thức cá nhân Với sắc thái ngữ nghĩa thứ nhất, chúng ta có thể lý giải vấn đề cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của con – em thuộc các giai tầng khác nhau trong xã hội là khác nhau vì “habitus” của

họ khác nhau và chúng ta cũng có thể khẳng định: con những nhà ngoại giao có cơ

Trang 28

hội vào bộ ngoại giao cao hơn con nông dân vì họ có “habitus ngoại giao” khác nhau, cho dù điều kiện tổ chức thi là hoàn toàn sòng phẳng (24, tr 89)

Thứ hai, habitus là những tâm thế hành vi Có nghĩa là cá nhân thẩm thấu vào mình những kiểu hành vi chờ sẵn hay sẵn sàng cho hành động Những kiểu hành vi

ấy được học một cách có ý thức hay vô tình thẩm thấu trong quá trình xã hội hóa và

xẽ được cá nhân nhắc lại Pierre Bourdieu gọi hiện tượng này là quá trình nội hóa những đặc tính bên ngoài Từ đó, cái vô thức của cá nhân hay tập thể được hình thành và sẽ phát huy trong các tình huống tương tự Với sắc thái ngữ nghĩa thứ hai của habitus sẽ giúp chúng ta hiểu thực tế và nguyên nhân của hành vi cá nhân Tại sao trong một tình huống hay một điều kiện nào đó cá nhân lại có hành vi này hay hành vi khác? Theo Pierre Bourdieu, mọi cá nhân đưa ra hành vi của mình đều dựa vào kinh nghiệm tức thì Hay nói cách khác, các thói quen và tâm thế đã khắc sâu vào trí não như một kiểu vô thức Trong điều kiện hay tình huống tương đồng, cái

vô thức ấy sẽ trỗi dậy, sẽ được kích hoạt và sẽ đưa ra hành vi tương tự (24, tr 88)

Thứ ba, với tư cách là hệ thống tâm thế hành vi đã đạt được, habitus đồng nghĩa với khả năng sinh ra những hành động trong những điều kiện khá tương đồng Habitus được định nghĩa như là hệ thống các khuôn khổ hành vi được cá nhân thẩm thấu Những khuôn khổ hành vi ấy cho phép sinh ra mọi suy nghĩ, mọi nhận biết và mọi hành động đặc thù của một nền văn hóa (24, tr 88)

Ngoài ra, Thuyết Hành xử còn nhấn mạnh vai trò và sự tương tác giữa các loại vốn: vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn xã hội, vốn biểu tượng đến hành vi cá nhân

(habitus) “Cái habitus cụ thể có tính giai tầng xã hội này lại là một phần của vốn văn hoá-kiến thức và tri thức của cá nhân, được hấp thụ qua giáo dục trong học

đường cũng như trong gia đình và xã hội” (14, slide 43)

Vốn xã hội là “tổng thể những nguồn lực thực tế hay tiềm năng mà người ta có được từ việc người ta có một mạng lưới lâu bền những quan hệ ít nhiều được thể chế hóa… (Bourdieu 1986: 249)” (14, slide 43) Nguồn vốn về con người (học vấn, kinh nghiệm), nguồn gốc xuất thân và các mối quan hệ xã hội của cá nhân đều được

Trang 29

giả định là có tác động đến phạm vi các nguồn lực mà cá nhân có thể tích lũy được thông qua các mối giao tiếp (mạng lưới xã hội) Vốn xã hội có liên quan trước hết đến các nguồn lực có được từ trong mạng lưới xã hội (26, tr 4)

Như vậy, thông qua những quan điểm của Thuyết Hành xử, có thể cung cấp cho chúng ta cách giải thích về hành vi và khả năng thích ứng của người Chro trước sự tác động của sự thay đổi môi trường sống Cũng theo bà ĐTT thì người Chro bây giờ biết “ăn theo thể, ở theo thời, họ cũng học tập người Kinh nhiều” Những thay đổi đang diễn ra trong đời sống thực tại sẽ tác động tới đời sống của họ Câu hỏi đặt ra là phải chăng những thay đổi trong tư tưởng và trong đời sống của người Chro là một sự thích ứng hợp lý?

Hơn nữa, trên quan điểm của thuyết này, chúng tôi tìm hiểu mối tương quan giữa các loại vốn (tác động đến hành vi) với quá trình biến đổi trong tư tưởng cũng như trong sinh hoạt đời sống của người Chro tại địa phương

Vốn văn hóa: Trình độ học vấn, kiến thức, mức độ nắm bắt, hiểu biết và vận dụng kiến thức về các lĩnh vực trong đời sống của họ có ảnh hưởng như thế nào đến các quyết định hành vi của họ trong quá trình sinh hoạt xã hội cũng như sự thay đổi trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống của họ

Vốn xã hội: Chúng tôi sẽ tìm hiểu mối tương quan giữa các mạng lưới xã hội của người Chro Mạng lưới xã hội ở đây gồm mối quan hệ giữa người Chro với các

tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan chính quyền nhà nước

và những tổ chức, doanh nghiệp khác có liên quan trong việc hỗ trợ người Chro về tài chính, kiến thức, nghề nghiệp và cả những hỗ trợ về mặt tinh thần hay tư vấn về pháp luật, làm thủ tục giấy tờ… Tất cả những điều này góp phần thay đổi diện mạo đời sống kinh tế - xã hội của họ Theo bà ĐTT: “hiện nay, phụ nữ Chro rất dễ kiếm việc làm ở các công ty, xí nghiệp và nếu thanh niên Chro không có trình độ học vấn, trình độ văn hóa thì rất khó kiếm được việc làm cũng như rất khó cưới được

vợ, họ dễ xa ngã vào các tệ nạn xã hội…”

Trang 30

Vốn kinh tế: Mức sống hộ gia đình được đo lường qua chỉ báo thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình, có thể phân loại hộ giàu nghèo theo chuẩn quốc gia, quy mô hộ gia đình, tỷ số phụ thuộc, dân số đang hoạt động kinh tế, dân số hưởng trợ cấp xã hội Kết hợp với số liệu thống kê năm 2012 của UBND xã Túc Trưng (Xã Túc trưng hiện có 292 hộ nghèo (trong đó có 09 hộ nghèo vĩnh viễn, 201

hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh, 82 hộ nghèo theo chuẩn quốc gia), và qua phỏng vấn sâu, cơ bản nhiều người Chro ở địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế Nghề nghiệp của họ không ổn định, đồng lương thu nhập từ nghề còn thấp: lao động phổ thông, nội trợ, làm thuê, công ngfhân, buôn bán nhỏ… Trong bối cảnh như vậy, họ xoay xở như thế nào để thay đổi hoàn cảnh sống của bản thân và gia đình của họ?

Chúng tôi cũng lưu ý: mặc dù, Thuyết Lựa chọn duy lý cho rằng hành vi cá nhân dựa trên sự tính toán nhằm tối đa hóa lợi ích Trong khi đó “Bourdieu cho là tâm thế hành vi có tính vô thức đóng một vai trò rất lớn trong hành động con người” (14, slide 44) Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát thực địa tại địa phương, Chúng tôi cho rằng cả hai lý thuyết trên đều có thể vận dụng trong luận văn này Khi vận dụng Thuyết Hành xử và Thuyết Lựa chọn duy lý, tùy trường hợp cụ thể trong quá trình nghiên cứu, tùy vấn đề mà có thể chọn thuyết này hoặc thuyết kia để giải thích hành vi cá nhân được xác đáng

1.2.3 Thuyết Hậu cấu trúc luận

Nội dung chính của lý thuyết này nhấn mạnh đến quyền lực và vai trò của diễn ngôn Diễn ngôn là sự hình thành có tính thỏa hiệp bắt nguồn từ cuộc thương thảo giữa ước muốn biểu đạt và sự kiểm duyệt cố hữu trong những quan hệ sản sinh ngôn ngữ cụ thể và sự kiểm duyệt này được áp đặt lên một người nói được trang bị một năng ngôn nhất định, có nghĩa là được trang bị ít nhiều một quyền lực biểu trưng đối với các quan hệ sản sinh đó Nguyên tắc làm cơ sở cho sự biến thể về hình thức diễn ngôn nằm ở cơ cấu của các mối quan hệ xã hội giữa những người nói và cũng ở khả năng của người nói trong việc đánh giá tình huống và phản ứng lại mức

Trang 31

độ căng thẳng cao bằng một cách diễn đạt uyển ngữ hóa một cách phù hợp Ngôn ngữ ngoài có chức năng trao đổi thông tin, chức năng giao tiếp thì nó còn mang cả chức năng quyền lực Bourdieu xem vốn ngôn ngữ là một loại vốn biểu trưng (sympolic capital) là cái dính chặt đến vị trí của người nói trong cơ cấu xã hội (19) Đặc biệt, trong lý thuyết này còn đưa ra khái niệm “governmentality” (cách quản lý của nhà nước): tức là tổng thể các thể chế, cách thức, phân tích, và suy tư, những tính toán và chiến lược cho phép sử dụng một hợp thể quyền lực nhắm vào dân chúng, mục đích là nhằm duy trì một xã hội có quy củ và hạnh phúc Những phương tiện mà nhà nước sử dụng, có thể được gọi là những bộ máy an sinh (apparatuses of security) Đây là những kỹ thuật mà nhà nước dùng để tạo cho xã hội một cảm giác an sinh về kinh tế, xã hội, và văn hoá (economic, political, and cultural well-being) Nhà nước đạt được mục đích này qua nền kinh tế, cũng như qua việc theo dõi và kiểm soát như người chủ gia đình làm với gia đình và tài sản

của gia đình (14, slide 45)

Việc ứng dụng lý thuyết Hậu cấu trúc luận vào đề tài nhằm tìm hiểu và lý giải hai vấn đề sau:

Thứ nhất: Trước những biến động ngày càng mạnh mẽ của thế kỷ XXI, sự biến đổi trên nhiều phương diện trong đời sống hiện nay của người Chro đã mang dáng vẻ hiện đại hóa, thể hiện xu hướng vươn lên của cộng đồng dân tộc Chro nói chung và của từng thành viên trong cộng đồng nói riêng trong mối quan hệ với các thành phần dân tộc khác Trong quá trình sinh hoạt xã hội, người Chro sẽ có những hình thức diễn ngôn, biểu đạt ý tưởng như: họ quan niệm, bây giờ thanh niên cần phải phấn đấu học tập, có việc làm ổn định; người Chro phải biết siêng năng, tiết kiệm, đầu tư cho con cháu học hành… nhằm khuyến khích sự phát triển, phấn đấu hoàn thiện bản thân cũng như cộng đồng Cũng theo bà ĐTT thì: “hiện nay, trừ một vài gia đình, hầu hết người dân ở đây đều quan tâm đầu tư cho con cái ăn học, họ quan niệm thông qua học hành thì cuộc sống mới đỡ vất vả, coi trọng những người

có công ăn việc làm, thu nhập ổn định…” Dựa trên sức mạnh của những hình thức

Trang 32

diễn ngôn như vậy có thể góp phần lý giải sự phát triển của cộng đồng người Chro ở địa phương

Thứ hai: Thông qua các tổ chức và chính sách cụ thể, Nhà nước đã thể hiện vai trò của nó trong sự tác động đến sự biến đổi của đời sống người Chro Điều đó thể hiện qua hệ thống các chính sách khuyến khích, giúp đỡ, động viên, tạo nhiều

điều kiện thuận lợi để dân tộc Chro phấn đấu đi lên (Hồi xưa dân tộc Chro ở đây nghèo khổ Bây giờ Nhà nước quan tâm nhiều hơn Những người ít chữ thì được học thêm bổ túc; Nhà nước mở trường, mở lớp cho học nội trú; học xong Nhà nước tạo công ăn việc làm Dân tộc Chro ở đây cũng có nhiều người làm cô giáo, làm quản sinh (bảo vệ ở trường học); có số thì làm việc ở xã, làm công an Nói chung là Nhà nước tùy theo khả năng của mình mà quan tâm đến đời sống của người Chro;

từ năm ngoái đến năm nay, Nhà nước cũng quan tâm: Nếu học được giỏi, khá, Nhà nước cho học bỗng, cho xe đạp, làm đường sạch, nước sạch đầy đủ hết;…Nhà nước cũng cho nhà, đất, bò cho những người không có nhà cữa – ĐTT) Trong 8 tháng

đầu năm 2012, xã đã cấp tiền quà cho hộ nghèo là 146 triệu đồng, hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo hơn 70 triệu đồng, cấp tiền hỗ trợ khó khăn của chính phủ 73 triệu đồng, xây được 3 căn nhà tình thương trị giá 45 triệu đồng (2)

Như vậy, với ba lý thuyết này, chúng tôi hy vọng sẽ trả lời được các câu hỏi nghiên cứu và chứng minh các giả thuyết nghiên cứu của đề tài

1.3 Khái quát địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về tỉnh Đồng Nai và huyện Định Quán

Đồng Nai là một trong những trung tâm kinh tế lớn của phía nam Việt Nam, nằm ở cực bắc miền Đông Nam Bộ với diện tích 5907,2 km2, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương Với địa hình tương đối bằng phẳng, Đồng Nai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa; có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị

Trang 33

xã, và 9 huyện Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đồng Nai đạt gần 2.665.100 người, mật độ dân số đạt 451 người/km2; có 13 tôn giáo khác nhau, và có đủ 54 thành phần dân tộc và người nước ngoài sinh sống tại địa phương Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia

đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51, tuyến đường sắt bắc – nam, gần cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 529 trường học, 11 bệnh viện tuyến huyện cùng với bệnh viện Thánh Tâm, bệnh viện Tâm thần Trung ương II, bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, bệnh viện Nhi Đồng Nai và nhiều cơ sở y tế khác tọa lạc tại địa phương (46)

Định quán là một trong những huyện miền núi phía đông bắc của Đồng Nai, nằm dọc theo quốc lộ 20, cách xa trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 80km và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 110km, diện tích tự nhiên của huyện là 966,5 km2, chiếm 16,40% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; phía bắc giáp huyện Tân Phú, phía nam giáp huyện Thống Nhất, phía đông giáp huyện Xuân Lộc và huyện Đức Linh (Lâm Đồng), phía tây giáp huyện Vĩnh Cửu Huyện có sông La Ngà là phụ lưu của sông Đồng Nai, có hồ nước nhân tạo là hồ Trị An nằm ở phía tây địa giới huyện Tính đến năm 2003, toàn huyện có 212.300 người, gồm nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Thái, Hoa, Tày, Khơ- mer, Chro, Chăm, Ê Đê, Sán Dìu, Châu Mạ, Mường… Huyện

có quốc lộ 20 và tỉnh lộ 763 chạy qua, một thị trấn (Định Quán), và 13 xã (Thanh Sơn, Phú Tân, Phú Vinh, Ngọc Định, La Ngà, Phú Lợi, Phú Hòa, Gia Canh, Phú Ngọc, Túc Trưng, Phú Cường, Phú Túc, Suối Nho) Xã Túc Trưng là nơi cư trú tập trung đông người Chro nhất (45)

1.3.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, thực trạng kinh tế - xã hội, tài nguyên, và nhân lực của xã Túc Trưng

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chro ở Việt Nam có dân

số 26.855, cư trú tại 36 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, phần lớn, họ cư trú tại tỉnh Đồng Nai với khoảng 15.174 người, chiếm 56,5 % tổng số người Chro tại Việt Nam

Trang 34

(44) Được tách ra từ xã Phú Túc từ năm 1994, Túc Trưng là một trong những xã quan trọng của huyện Định Quán – Đồng Nai Nơi đây có vị trí địa lý cũng như những điều kiện khác thuận lợi cho sự giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Phía bắc giáp xã La Ngà, phía đông giáp xã Phú Ngọc, phía tây giáp xã Phú Cường và phía nam giáp xã Phú Túc và xã Suối Nho; xã tiếp giáp với hơn 9km quốc lộ 20 (25) Tổng diện tích tự nhiên của Xã là 5125ha Trong đó, diện tích hành chính của Xã là 1700m2 Xã được phân chia thành 9 ấp, trong đó có 3 ấp có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, 3 ấp có số đông dân cư thuộc công nhân Nông trường cao su (NTCS) Túc Trưng, có 2 ấp xa khu hành chính Xã, nằm giáp các xã

La Ngà và Phú Ngọc (25) Đây cũng là một trong những nơi cộng đồng dân tộc Chro cư trú tập trung Đến năm 2012, toàn xã có 5 thành phần dân tộc sinh sống, bao gồm: Chro, Kinh, Hoa, Khơmer, Mường Trong đó, người Chro chiếm số lượng đông nhất với 688 hộ, 3667 nhân khẩu trên tổng số 798 hộ, 4357 nhân khẩu dân tộc thiểu số ở đây (25) Phần lớn trong số họ đều theo đạo Tin Lành và Công giáo (Theo số liệu thống kê năm 2013 của UBND xã Túc Trưng, hiện nay có 1671 người Chro ở địa phương theo Công giáo, 1993 người theo đạo Tin Lành)

Xã có hơn 40% km đường được nhựa hóa hoặc bê tông hóa Hệ thống thủy lợi chưa được thực hiện mà cơ bản do nhân dân tự khai thác; nguồn nước tưới tiêu, sinh hoạt chủ yếu là nước giếng khoan, giếng đào và một phần nước lòng hồ Trị An Vì vậy, hiện nay các hộ gia đình trên địa bàn xã chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm, tầng mặt (giếng khoan, giếng đào) để phục vụ sinh hoạt và sản xuất Hệ thống điện

ở địa phương cơ bản bảo đảm yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Hiện nay, có 9/9 ấp của xã có đường điện hạ thế đi qua, tuy nhiên cũng còn một số khu dân cư chưa có điện do nằm xa điểm hạ thế; Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn đạt 95,34% tổng số hộ toàn xã Có 01 trường tiểu học, 02 trường mẫu giáo,

01 cơ sở dạy trẻ tư nhân, 01 trường THCS đạt chuẩn quốc gia, 01 trường THPT, 01 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia tọa lạc ở địa phương Trung tâm văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của bộ văn hóa – thể thao – du lịch, được xây dựng theo quy hoạch tổng thể về chuẩn chưa đảm bảo theo quy định, riêng khu thể thao thì chưa

Trang 35

được xây dựng Vì vậy, phong trào thể dục thể thao tại địa phương cũng còn nhiều hạn chế Xã chưa có chợ đạt chuẩn mà chỉ có chợ tạm do tiểu thương và nhân dân

tự nhóm, thành khu vực buôn bán tự phát, không được quy hoạch; tuy nhiên theo quy hoạch đã có có dự kiến xây dựng chợ tại khu nghĩa trang cũ (đã được giải tỏa nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai) Tuy chưa có điểm bưu điện văn hóa, nhưng xã cũng có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; xã cũng có 7 điểm truy cập internet; trên địa bàn còn khoảng 5% nhà tạm, nhà dột nát, có khoảng 80-90% nhà xây từ cấp 4 trở lên Diện tích đất nông nghiệp toàn xã là 4190,2ha Trong đó, có 473,36 ha đất trồng cây hàng năm, 1733,69 ha đất trồng cây lâu năm và 15,11ha đất nuôi trồng thủy sản Hiện toàn xã có trên 71% diện tích đất trồng cây lâu năm, số diện tích đất trồng cây hàng năm chủ yếu là trồng lúa ở các vùng đất thấp và diện tích ven suối Các hộ gia đình trên địa bàn chủ yếu phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm như: gà, vịt (khoảng 20.000 con), heo (khoảng 6000 con), trâu, bò (khoảng trên

900 con), dê (khoảng trên 173 con), chưa hình thành và phát triển khu chăn nuôi tập trung, chỉ có những trang trại nhỏ, hộ gia đình quy mô nuôi từ 100-300 con Công tác thú y được quan tâm đúng mức nên trên địa bàn chưa xảy ra dịch bệnh Toàn xã

có 15,11 ha diện tích nuôi thủy sản, chủ yếu các hộ tận dụng những nơi có địa hình thấp, thực hiện đào ao nuôi cá là chính Quy mô ao cá nhỏ từ 200m2/ao đến 5000m2/ao Xã không có rừng tự nhiên Toàn xã có 12,23ha rừng trồng với các loại cây như: xà cừ, bạch đàn Quy mô rừng trồng nhỏ và không tập trung, chưa là ngành sản xuất chính ở địa phương Thành phần kinh tế tư nhân chiếm chủ yếu; xã

đã xây dựng được 1 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và 2 câu lạc bộ năng suất cao Tuy nhiên hoạt động của hợp tác xã chưa có hiệu quả cao và chưa đóng vai trò quan trọng trong kinh tế tập thể Các câu lạc bộ năng suất cao cũng hoạt động trong phạm

vi tự học hỏi, kinh nghiệm là chính, cho nên còn nhiều lúng túng Cuối năm 2008 tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn xã là 462 hộ trong đó kinh doanh thương mại dịch vụ 446 hộ, kinh doanh xây dựng 2 hộ, kinh doanh vận tải 7 hộ, sản xuất nông nghiệp 7 hộ Hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ trên địa bàn Xã hầu hết có quy mô vừa và nhỏ, chưa phát triển mạnh trong cơ cấu của

Trang 36

địa phương Bình quân thu nhập của hộ gia đình còn thấp so với mức bình quân chung của tỉnh Toàn Xã có 54 hộ giàu, 2100 hộ có mức sống khá và trung bình,

332 hộ nghèo và cận nghèo 30% dân số toàn Xã là dân tộc ít người, chủ yếu là người Chro Địa phương có đội ngũ lao động dồi dào (5124 người trong độ tuổi lao động, chiếm 51% dân số toàn xã, trong đó, lao động nữ là 2664 người), nhưng đa số

là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, kể cả lao động nông nghiệp tại địa phương Trong những năm gần đây, do đất màu bị thu hẹp, nông dân đã chuyển sang trồng các loại cây lâu năm Trong khi đó, qua khảo sát, trên địa bàn xã Túc Trưng hiện có những ngành nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, đan gùi và đan chiếu lùn, nguyên liệu để sản xuất các mặc hàng này thường ở rừng Nhưng sau khi nhà nước xây dựng thủy điện Trị an thì nguồn nguyên liệu này không còn nữa, đồng thời do điều kiện xã hội phát triển nên không còn nhu cầu sử dụng hàng hóa truyền thống, mà chủ yếu sử dụng hàng hóa công nghiệp Chính vì vậy những ngành nghề truyền thống tại địa phương ngày càng mai một và hiện nay trên địa bàn xã Túc Trưng không còn ai làm những nghành nghề truyền thống nữa Đến năm 2007, địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục Có 9/9 ấp đạt tiêu chuẩn ấp văn hóa, trên 94% hộ được công nhận gia đình văn hóa hàng năm Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 20-25% Trạm y tế của Xã đã đạt chuẩn quốc gia Toàn

xã có 1948/2086, chiếm 93,38% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia Phần lớn, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn đạt tiêu chuẩn về môi trường, không có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trên địa bàn không có nghĩa trang Theo quy hoạch tổng thể, dự kiến nghĩa trang sẽ được xây dựng tại khu vực ấp Đồn Điền 1, cách xa khu dân cư từ 2-4 km; chất thải, nước thải tại địa phương được thu gom và xử lý nhưng phần lớn đều không đúng tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường Đây là một trong những thực trạng tại địa phương trong thời gian qua Tăng trưởng kinh tế của Xã đạt 11% /năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 17.000.000 đồng/người/năm Toàn Xã có 2486 hộ, 11048 nhân khẩu, 5124 người trong độ tuổi lao động, chiếm 51% Chất lượng lao động ở

Xã còn thấp, khoảng 20% được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ; hơn nữa, trong số

Trang 37

những lao động được đào tạo là có 50% học không qua trường lớp, họ là những người học nghề đơn giản như thợ xây, thợ mộc, thợ may… thông qua các cửa hàng, cửa hiệu, đơn vị sản xuất kinh doanh Số còn lại chủ yếu là lao động phổ thông, có trình độ văn hóa thấp nên việc đào tạo nghề của địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn Vì địa phương không thuộc cụm quy hoạch các khu công nghiệp, nên việc giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động cũng khó khăn Vì vậy, hàng năm có

từ 500 đến 600 lao động phổ thông xin việc làm tại các khu công nghiệp ở các huyện khác của tỉnh Đồng Nai, các tỉnh lân cận và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm giải quyết việc làm cho bản thân và tăng thu nhập cho gia đình Mặc dù, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã trong thời gian qua khá cao (11%/năm), tuy nhiên với điểm xuất phát thấp của một xã miền núi, thuần nông, thu nhập bình quân đầu người còn thấp (17.000.000đ/người/năm), việc nâng cao thu nhập của dân cư một cách nhanh chóng sẽ rất khó khăn nếu tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn diễn ra chậm như thời gian qua; đồng thời khả năng và điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu rất phù hợp cho việc phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh

tế cao nếu được đầu tư đúng mức Vì vậy, cần có những chính sách thích hợp để đẩy mạnh tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn,

từ đó có những bước đột phá trong việc nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm của dân cư tại địa phương (25)

Như vậy, trên đây là những khái quát về các mặt điều kiện tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội – văn hóa của địa phương được khảo sát Cùng với những điều kiện tự nhiên, những thực trạng kinh tế - xã hội góp phần phản ánh sự biến đổi nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân nơi đây, trong đó có người Chro trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi đặt trọng tâm vào những biến đổi kinh tế - xã hội đương đại, bao gồm các yếu tố tác động đến sự biến đổi, tính chất và xu hương của những biến đổi đó Đồng thời, trên cơ sở của những phân tích khoa học về xu hướng biến đổi cũng như những dự báo kết quả, chúng tôi đưa ra những kiến nghị, góp phần phát triển cộng đồng tại

địa phương một cách bền vững

Trang 38

1.4 Các yếu tố tác động đến sự biến đổi về kinh tế - xã hội của người Chro

1.4.1 Chính sách dân tộc của Nhà nước

1.4.1.1 Chính sách vĩ mô của Nhà nước

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc thiểu số Các tộc người có quy mô dân số khác nhau, sống xen kẽ nhau Hầu hết các tộc người thiểu số sống trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái Bên cạnh đó, các tộc người ở nước ta có sự phát triển không đồng đều về các mặt kinh tế - xã hội Với những đặc thù như vậy, trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển Trong đó, bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được bảo đảm bằng pháp luật Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ty dân tộc,… Quyền bình đẳng về kinh tế đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để cùng đạt trình độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước Bình đẳng về văn hoá, xã hội đảm bảo cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp, nên bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cho đồng bào các dân tộc thiểu

số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác Sự quan tâm tương trợ, giúp

đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc Các dân tộc Việt Nam đã cùng chung sống lâu đời, tạo nên truyền thống đoàn kết

Trang 39

trong quá trình dựng nước và giữ nước Truyền thống đoàn kết đó được gìn giữ và phát triển trong suốt tiến trình hàng ngàn năm lịch sử, gắn kết các dân tộc chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất Đoàn kết dân tộc được xác định là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đoàn kết dân tộc được quán triệt xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, cùng nhau xây dựng đất nước với mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ Tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều phải có trách nhiệm chăm lo vun đắp, củng cố, tăng cường khối đoàn kết dân tộc (36)

Mặt khác, hiện nay giữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn tình trạng phát triển không đều.Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế- xã hội cao hơn có trách nhiệm giúp đỡ các dân tộc có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội khó khăn hơn Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau không phải chỉ giúp đỡ một chiều, ngược lại chính sự phát triển của dân tộc này là điều kiện để cho dân tộc khác càng phát triển Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhằm thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đoàn kết dân tộc (36)

Nội dung của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện trên nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực chính trị là đảm bảo cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển Trước hết là đảm bảo quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc bao gồm quyền làm chủ qua đại diện và quyền làm chủ trực tiếp, kết hợp với tự quản ở cơ sở; tăng cường đại diện của các dân tộc thiểu số trong

hệ thống chính trị từ cơ sở đến Trung ương; bảo đảm ngày càng có nhiều người dân

Trang 40

tộc thiểu số được tham gia vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân, chính quyền và tổ chức đoàn thể ở các cấp Bên cạnh đó, Nhà nước quan tâm, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ, thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán

bộ là người dân tộc thiểu số; tăng cường dân chủ ở cơ sở, nâng cao ý thức cộng đồng nhằm củng cố khối đoàn kết giữa các dân tộc; phát huy vai trò của cán bộ người dân tộc thiểu số, của già làng, trưởng bản trong tuyên truyền, vận động trong

tổ chức thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước (36)

Về mặt kinh tế, Đảng và Nhà nước chú trọng phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng dân tộc, miền núi, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi theo hướng phát triển nhanh kinh tế hàng hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp cơ cấu kinh tế miền núi Đồng thời, Nhà nước cũng đề ra những chủ trương nhằm tập trung bảo vệ và phát triển vốn rừng, tăng độ che phủ rừng, vừa thực hiện trồng mới 5 triệu hecta rừng, vừa phải bảo vệ rừng hiện có, đồng thời có các chính sách cụ thể đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng trồng mới Cụ thể, về nông nghiệp, cần lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhằm phát triển nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả, ổn định lâu dài phù hợp với cơ chế thị trường; phát triển vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu ở các tiểu vùng; phát triển chăn nuôi đại gia súc, đưa chăn nuôi trở thành kinh tế chính ở miền núi; cần chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, chú trọng phát triển công nghiệp nhỏ và thủ công nghiệp; khôi phục

và mở rộng nghề truyền thống như sản xuất công cụ, dệt thổ cẩm, đan lát; phát triển thương mại dịch vụ nhằm đẩy mạnh kinh tế hàng hoá ở miền núi, vùng dân tộc; thực hiện chính sách trợ giá trợ cước các mặt hàng thiết yếu và tiêu thụ sản phẩm đối với miền núi; ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội miền núi vùng đồng bào dân tộc; tập trung đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, lưới điện quốc gia, bưu chính viễn thông… Trong những năm

Ngày đăng: 02/07/2023, 23:05

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm