1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ

139 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngập Nước, Nhiệt Độ Tăng Và Các Bệnh Tật Liên Quan Tại Thành Phố Hồ Chí Minh – Giai Đoạn 2001-2011
Tác giả TS. Phạm Gia Trân, ThS. Châu Thị Thu Thủy, ThS. Trần Thị Đoan Trinh, TS. Ngô Thị Thu Trang, NCS. Nguyễn Quang Việt Ngân, ThS. Nguyễn Thị Phương Dung
Người hướng dẫn Ths.Bs. Trương Trọng Hoàng
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học môi trường, Địa lý, Nghiên cứu đô thị
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đ Ô THỊ HÓA TẠI THÀNH PHỐ H Ồ C HÍ M INH (28)
  • 1.2. T ÌNH TRẠNG NGẬP NƯỚC VÀ GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ TẠI THÀNH PHỐ H Ồ C HÍ M INH (29)
  • 2.1 Đ ẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƯ TRÚ CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU (36)
  • 2.2 Đ ẶC ĐIỂM DÂN SỐ SỐNG TRONG KHU VỰC ẢNH HƯỞNG CỦA NGẬP NƯỚC (41)
  • 3.1 N HẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI TÌNH TRẠNG NGẬP NƯỚC VÀ NHIỆT ĐỘ TẠI NƠI CƯ TRÚ (46)
  • 3.2 N HẬN THỨC VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA NGẬP NƯỚC , NHIỆT ĐỘ CAO VÀ BỆNH TẬT (51)
  • 3.3 N HẬN THỨC VỀ TÍNH DỄ MẮC NHIỄM VÀ TÍNH NGHIÊM TRỌNG CỦA BỆNH TẬT (54)
  • 3.4 N HẬN THỨC VỀ ĐỐI TƯỢNG DỄ MẮC NHIỄM BỆNH TẬT (60)
  • 3.5 N HẬN THỨC VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BỆNH TẬT THEO MÙA (61)
  • 4.1 T ÌNH HÌNH BỆNH TẬT (62)
  • 4.2 Ứ NG PHÓ VỚI BỆNH TẬT CỦA HỘ GIA ĐÌNH (81)
  • 5.1 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG CHỐNG NGẬP (87)
  • 5.2 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG GIẢM SỰ GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ (89)
  • 5.3 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG PHÒNG , CHỐNG BỆNH TẬT (94)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (109)
  • PHỤ LỤC (113)

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng và định tính để phân tích nhận thức của người dân về tình trạng ngập nước và nhiệt độ tăng tại nơi cư trú, mối liên hệ giữa ngập nước và bệnh

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN

Tên đề tài:

NGẬP NƯỚC, NHIỆT ĐỘ TĂNG VÀ CÁC BỆNH TẬT LIÊN QUAN TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIAI ĐOẠN 2001-2011

Tham gia thực hiện

TT Học hàm, học vị,

Họ và tên

Chịu trách nhiệm Điện thoại Email

1 TS Phạm Gia Trân Chủ nhiệm 0903925140 phamgiatran4@gmail.com

2 ThS Châu Thị Thu Thủy Thư ký 0987869825 huongthugl2005@yahoo.com

3 ThS.Trần Thị Đoan Trinh Tham gia 0989247526 trinh.trandoan2gmail.com

4 TS Ngô Thị Thu Trang Tham gia 0947677788 ngothutrang1980@yahoo.com

5 NCS.Nguyễn Quang Việt Ngân Tham gia 0909110190 vietngan@gmail.com

6 ThS Nguyễn Thị Phương Dung Tham gia 0903174212 ntpdung@yahoo.com

7 Ths.Bs Trương Trọng Hoàng Tham gia 083202057 truongtronghoang@gmail.com

Mẫu R08Ngày nhận

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT

Tên đề tài:

NGẬP NƯỚC, NHIỆT ĐỘ TĂNG VÀ CÁC BỆNH TẬT LIÊN QUAN TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIAI ĐOẠN 2001-2011

Trang 3

đề tài này

Chúng tôi đặc biệt cám ơn Ủy Ban Nhân Dân Quận 1, Quận 3, Quận Bình Thạnh, Quận

2, Quận Bình Tân và Huyện Bình Chánh đã nhiệt tình hỗ trợ chúng tôi trong việc thu thập

số liệu, dữ liệu thông tin thứ cấp cũng như trong việc tổ chức điều tra thực tế tại các cộng đồng dân cư

Trang 4

IPCC International Panel on Climate Change

MONRE Ministry of Natural Resources and Environment

USAID U.S Agency for International Development

WWF World Wide Fund For Nature

WHO World Health Organization

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG MỘT: ĐÔ THỊ HÓA, NGẬP NƯỚC VÀ NHIỆT ĐỘ TĂNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 23

1.1 Đ Ô THỊ HÓA TẠI THÀNH PHỐ H Ồ C HÍ M INH 23

1.2 T ÌNH TRẠNG NGẬP NƯỚC VÀ GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ TẠI THÀNH PHỐ H Ồ C HÍ M INH 24

CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ CƯ TRÚ CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đ ẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƯ TRÚ CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 31

2.2 Đ ẶC ĐIỂM DÂN SỐ SỐNG TRONG KHU VỰC ẢNH HƯỞNG CỦA NGẬP NƯỚC 36

CHƯƠNG BA: NHẬN THỨC NGƯỜI DÂN VỀ NGẬP NƯỚC, NHIỆT ĐỘ TĂNG VÀ CÁC BỆNH TẬT LIÊN QUAN 41

3.1 N HẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI TÌNH TRẠNG NGẬP NƯỚC VÀ NHIỆT ĐỘ TẠI NƠI CƯ TRÚ 41

3.2 N HẬN THỨC VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA NGẬP NƯỚC , NHIỆT ĐỘ CAO VÀ BỆNH TẬT 46

3.3 N HẬN THỨC VỀ TÍNH DỄ MẮC NHIỄM VÀ TÍNH NGHIÊM TRỌNG CỦA BỆNH TẬT 49

3.4 N HẬN THỨC VỀ ĐỐI TƯỢNG DỄ MẮC NHIỄM BỆNH TẬT 55

3.5 N HẬN THỨC VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BỆNH TẬT THEO MÙA 56

CHƯƠNG BỐN: TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ ỨNG PHÓ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 57

4.1 T ÌNH HÌNH BỆNH TẬT 57

4.2 Ứ NG PHÓ VỚI BỆNH TẬT CỦA HỘ GIA ĐÌNH 76

CHƯƠNG NĂM: CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH TẬT 82

5.1 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG CHỐNG NGẬP 82

5.2 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG GIẢM SỰ GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ 84

5.3 C ÁC CHƯƠNG TRÌNH / HOẠT ĐỘNG PHÒNG , CHỐNG BỆNH TẬT 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108

Trang 6

1

TÓM TẮT

Ngập nước và nhiệt độ tăng là các vấn đề môi trường đang được quan tâm tại thành phố Hồ Chí Minh Các biến đổi môi trường tự nhiên này đang gây ra các tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội thành phố, đời sống, sinh hoạt của người dân và sức khỏe của cộng đồng Nghiên cứu này được thực hiện để nhận dạng sự liên hệ giữa tình hình bệnh tật với ngập nước và nhiệt độ tăng trong cộng đồng dân cư Các phát hiện nghiên cứu sẽ đóng góp các thông tin hữu ích và đề nghị cho ngành y tế dự phòng và chính sách thích ứng BĐKH của quốc gia Nghiên cứu được tiến hành với số mẫu là 800

hộ gia đình cư trú tại 6 quận huyện đại diện cho khu vực trung tâm, vùng ven và khu ngoại thành của thành phố Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng và định tính để phân tích nhận thức của người dân về tình trạng ngập nước và nhiệt độ tăng tại nơi cư trú, mối liên hệ giữa ngập nước và bệnh tật, tình hình bệnh tật của hộ gia đình, tổn thương sức khỏe và hành vi ứng phó Để giảm thiểu các nguy cơ sức khỏe gây ra do ngập nước tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị liên quan đến giảm thiểu ngập nước và nhiệt độ tăng, công tác y tế dự phòng và cải thiện điều kiện sống của các cộng đồng dân cư nghèo

Trang 7

2

ABSTRACT

Inundation and increase of temperature are environmental issues attracting the social concern in Ho Chi Minh City These environmental changes result in the negative impacts to the socio-economic development of city, life and activities of people and the health of community This study is carried out to identify the relationship between the diseases’ status and Inundation and increase of temperature Research findings contribute the essential information and recommendations for preventive health sector and national climate change adaptation policy This study was conducted in six districts represents the central, suburb and rural area of Ho Chi Minh City with the sample of 800 households Study utilizes both quantitative and qualitative approach to analyze perception people of the change of inundation and high temperature in the residential place, relationship between inundation, high temperature and disease, fact of diseases of households, health vulnerability and responses of households to health risks To reduce health risks caused

by inundation and high temperature in Ho Chi Minh City, the solutions had to cover aspects of mitigation of inundation and high temperature, enhancement of preventive

health activities and living-condition improvement to poor urban communities

Trang 8

cơ sở y tế Các nguy cơ này có xu hướng đặc biệt nghiêm trọng tại các quốc gia thu nhập thấp là nơi tỷ lệ bệnh tật và tử vong thường tập trung vào người nghèo và các nhóm dân

số bị cách ly khỏi phát triển xã hội (IFRC, 2003) Tại Việt Nam và TP.HCM các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐTH, BĐKH với ngập nước, nhiệt độ tăng và bệnh tật còn rất hạn chế Với các tồn tại này, nghiên cứu này được tiến hành bởi các lý do sau đây:

1- Giảm bớt khoảng cách kiến thức nghiên cứu giữa trong nước với các quốc gia trong khu vực và Thế giới;

2- Đây là nghiên cứu ban đầu nhằm tạo điều kiện cho các nghiên cứu về sau với qui

mô lớn hơn và đi sâu phân tích chi tiết hơn;

3- Đóng góp các đề xuất cho các cơ quan chức năng nhằm giảm thiểu các nguy cơ và mất mát cho xã hội

Vì vậy, đối với dân số TP.HCM, câu hỏi nghiên cứu đặt ra là (1) Người dân nhận thức thế nào về mối quan hệ giữa ngập nước và nhiệt độ cao với các nguy cơ sức khỏe và tính

dễ mắc nhiễm và tính nghiêm trọng của các nguy cơ sức khỏe và (2) Người dân đáp ứng thế nào với các nguy cơ sức khỏe này

Tính mới

Tổng quan tư liệu cho thấy nghiên cứu về nhận thức và ứng phó người dân TP.HCM với các nguy cơ sức khỏe gây ra bởi ngập nước và nhiệt độ cao hầu như chưa có

Tính thời sự

Trang 9

4

Theo đánh giá của chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, Việt Nam nằm trong 5 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của BĐKH và là nước thứ 2 chịu ảnh hưởng lớn nhất cho nước biển dâng, trong đó có TP HCM BĐKH với hiện tượng gia tăng nhiệt độ, nước dâng và ngập lụt

đã dẫn đến các nguy cơ sức khỏe cho người dân Vì vậy, nhận dạng các nguy cơ sức khỏe gây ra bởi BĐKH và đề xuất các giải pháp để giảm thiểu các nguy cơ này là việc làm cần thiết và cấp bách

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đóng góp các thông tin hữu ích và đề nghị cho ngành y tế dự phòng và chính sách thích ứng với BĐKH của Quốc gia Ngoài ra, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp tư liệu giảng dạy cho chương trình đào tạo Thạc sĩ về Chính sách công trong bảo vệ môi trường được tổ chức tai trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP.HCM Ngoài ra, còn hỗ trợ cho định hướng nghiên cứu cho các học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường” của Khoa Địa Lý

Nghiên cứu này bao gồm các mục tiêu cụ thể như sau:

1- Nhận dạng tình hình bệnh tật tại TP.HCM liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng;

Trang 10

2.3 Nội dung nghiên cứu

Mục tiêu một: Nhận dạng tình hình bệnh tật tại TP.HCM liên quan đến ngập nước và nhiệt

độ tăng

Mục tiêu một bao gồm các nội dung như sau:

1- Mô tả tình hình một số bệnh tật chủ yếu tại TP.HCM liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng; bao gồm: Tỉ lệ thịnh hành các bệnh ngoài da, tim mạch, hô hấp, sốt xuất huyết, sốt rét, tiêu chảy và tay chân miệng;

2- Phân tích mối liên hệ giữa ngập nước và nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan; 3- Nhận dạng các mất mát về kinh tế-xã hội gây ra bởi bệnh tật do ngập nước và nhiệt

độ tăng cho cuộc sống người dân như: chi phí điều trị bệnh, việc làm, đi lại, quan hệ

xã hội, gia đình, kế hoạch tương lai

Mục tiêu hai: Tổng quan và đánh giá các chính sách và chương trình y tế và môi trường nhằm giảm thiểu các bệnh tật liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng

Mục tiêu hai bao gồm các nội dung như sau:

1- Tìm hiểu nhận thức của các cán bộ y tế về ĐTH và BĐKH và các bệnh tật liên quan; 2- Tổng quan các chương trình hành động của ngành y tế và môi trường đã và đang thực hiện trong đối phó các bệnh tật liên quan đến các biến đổi tiêu cực của môi trường do ĐTH

và BĐKH;

3- Đánh giá hiệu quả và hạn chế của các chương trình hành động của các ngành

Mục tiêu ba: Nhận dạng các ứng phó của người dân thành phố và chánh quyền địa phương nhằm giảm thiểu các bệnh tật do ngập nước và nhiệt độ tăng

Trang 11

6

Mục tiêu ba bao gồm các nội dung như sau:

1- Tìm hiểu nhận thức của người dân về ngập nước và nhiệt độ tăng, các nguy cơ bệnh tật

do ngập nước và nhiệt độ tăng

Mục tiêu bốn bao gồm các nội dung như sau:

1- Xây dựng định hướng nội dung các chương trình phòng, chống bệnh tật do ngập nước

Ngập nước tại thành phố Mumbai - Ấn Độ

Theo Alex de Sherbinin và đồng nghiệp (2007), thành phố MumBai với dân số 17 triệu người là thành phố lớn nhất và là trung tâm kinh tế quan trọng nhất của Ấn Độ Thành phố Mumbai còn là thị trường chứng khoáng và trung tâm công nghệ cao lớn nhất

cả nước và đồng thời là nơi có công nghiệp sản xuất phim ảnh và hệ thống đường xe lửa metro vùng ven đô lớn nhất Thế giới và khu nhà ổ chuột lớn nhất châu Á (Khoảng ¼ dân

số thành phố sống tại khu vực này)

Khu vực trung tâm thành phố phân bố tại khu vực có nguy cơ ngập nước và bán đảo thoát nước kém do có quá nhiều bãi rác Thành phố Mumbai tổn thương cao với BĐKH, điều này thể hiện qua trận lụt lan rộng do gió mùa vào tháng 7 năm 2005 Trận

Trang 12

7

lụt này đã cướp đi sinh mạng hơn 1000 người, trong đó khoảng ½ là các cư dân sống trong các khu nhà ổ chuột tại khu vực địa hình thấp và không có đầy đủ các tiện nghi vệ sinh và nước sạch

Phần lớn khu vực quanh bãi rác (phần lớn khu vực của thành phố Mumbai cũ) có

xu hướng ngập trong thời kỳ gió mùa, nhất là khi có mưa lớn kết hợp với triều cao hay bão biển Ngay cả trong các khu vực ít ngập hay không ngập, các đường thoát nước cũng thường bị ngăn cản bởi rác thải

Ngập nước tại thành phố Bangkok – Thái Lan

Theo Tô Văn Trường (2011), thành phố Bangkok có đặc điểm tương tự như TP.HCM là nằm ở hạ lưu của sông lớn, đều là thành phố đông dân cư, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm khá cao, đóng góp phần lớn vào GDP của cả nước Cả 2 thành phố đều chịu chung nguyên nhân gây ra ngập lụt là mưa, thủy triều và lũ ở thượng nguồn Địa hình nhiều nơi trong thành phố thấp hơn mực nước biển và hàng năm đất bị lún chủ yếu

do việc khai thác nước ngầm không được kiểm soát một cách chặt chẽ

Nguyên nhân gây ngập do mưa và do thủy triều (chịu ảnh hưởng của vịnh Thái Lan) Ngoài ra, về vị trí địa lý, thành phố Bangkok hoàn toàn nằm chắn ngang đường ra biển của các con sông Hơn chục năm nay thành phố Bangkok đã giải quyết cơ bản ngập lụt nhờ hệ thống đê bao và rất nhiều trạm bơm điện

Tuy nhiên, trận lũ lịch sử của thành phố Bangkok năm 2011 lại do yếu tố lũ thượng nguồn đổ về vượt quá tần suất tính toán và mọi dự đoán ban đầu Cộng thêm yếu

tố triều cường càng làm tình hình thoát lũ trở nên khó khăn hơn Theo báo cáo của nhà khí tượng học Jeff Masters, cơn lũ năm 2011 đã làm ngập 61/77 tỉnh thành toàn nước Thái, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của 8,2 triệu người Lũ đã làm mất trắng khoảng 10% sản lượng lúa của Thái Lan

Bài học đắt giá qua kinh nghiệm của thành phố Bangkok là tập trung quá lớn vào biện pháp công trình lên đê, trạm bơm mà chưa coi trọng đúng mức đến các giải pháp thích nghi và giảm nhẹ như xác định khu chứa lũ, truyền lũ Vấn đề chính của thành phố

Trang 13

8

Bangkok là đã xây dựng đường giao thông và các khu đô thị chắn ngang đường thoát của nước lũ ra biển làm dâng mực nước phía trên Ngoài ra, các đường sông thoát nước ra biển cũng không đủ khẩu độ để tiêu thoát nước Phía thượng nguồn rừng bị khai thác nhiều, quy trình vận hành các hồ chứa có vấn đề nên không phát huy được khả năng cắt

lũ tối đa cho phần hạ lưu, trong đó có thành phố Bangkok Các hồ chứa thường lo tích nước để phát điện, gặp năm lũ lớn như năm 2011 không còn dung tích để chứa lũ Công tác dự báo lũ chưa sát với thực tế và nhiều nơi còn chủ quan, ứng phó theo kiểu “nước đến chân mới nhảy”

Nhiệt độ tăng

Theo David Satterthwaite (2007), đa số các thành phố ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La Tinh sẽ kinh nghiệm nhiều hơn với các sóng nhiệt (Heat waves) Ngay cả những thay đổi nhỏ trong nhiệt độ trung bình có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong tần suất các nhiệt độ cực đoan (Kovats and Aktar, 2008) Đối với các thành phố lớn và có mật độ dân số cao, nhiệt độ tại trung tâm “đảo nhiệt” (Heat Islands) có thể cao hơn nhiệt

độ ở các khu vực chung quanh; tại các thành phố ở vùng nhiệt đới, sự khác biệt nhiệt độ

có thể lên đến 10oC vào ban đêm Nhiều thành phố sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề hơn liên quan đến một số chất ô nhiễm không khí vì nồng độ của các chất ô nhiễm thay đổi tương ứng theo BĐKH, do một phần sự hình thành của chúng phụ thuộc một phần vào nhiệt độ và độ ẩm Điều này đặc biệt quan trọng tại Châu Á và Châu Mỹ La Tinh, đa

số các thành phố tại đây có mức độ ô nhiễm không khí thuộc loại cao Các nghiên cứu được thực hiện tại Bắc Mỹ, Châu Á và Châu Âu cho thấy các sóng nhiệt có mối liên hệ với gia tăng tử suất trong thời gian ngắn (Confalonieri et al., 2007) Sóng nhiệt tại Châu

Âu vào năm 2003 đã cướp đi sinh mạng của 20.000 người, phần lớn trong số đó là người nghèo và người già neo đơn Tại Andra Pradesh, Ấn Độ, sóng nhiệt đã làm chết hơn 1000 người – Phần lớn là các lao động làm việc ngoài trời trong điều kiện nhiệt độ cao tại các khu vực cư trú đô thị có qui mô dân số nhỏ (Revi, 2008)

Trang 14

9

Theo WWF (2010), Châu Á được cho là vùng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu nhất Thế giới BĐKH đã và sẽ tiếp tục tác động tất cả các lĩnh vực, từ an ninh quốc gia, an ninh kinh tế đến sức khỏe con người, năng suất thực phẩm, hạ tầng, sự sẵn dùng của nguồn nước và hệ sinh thái Bằng chứng của BĐKH ở Châu Á là phổ biến: nhiệt độ tăng từ 1°C to 3°C sau 100 năm, lượng mưa thay đổi, số hiện tượng thời tiết cực đoan đang tăng, và mực nước biển đang dâng lên Do nhiều thành phố lớn ở Châu Á nằm ven biển và trong những châu thổ sông chính, chúng càng dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu

Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2009), báo cáo của ADB cho biết nếu hiệu ứng nhà kính không bị hãm lại, đến cuối thế kỷ này nhiệt độ tại In-đô-nê-xia, Phi-lip-pin, Thái Lan và Việt Nam sẽ tăng trung bình 4,8oC so với năm 1990

3.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe người dân

WHO (2003) xác định 7 loại ảnh hưởng của sức khoẻ con người có liên quan đến thay đổi điều kiện thời tiết: bệnh liên quan đến nhiệt độ và tử vong; ảnh hưởng sức khoẻ do hiện tượng thời tiết đặc biệt; ảnh hưởng sức khoẻ liên quan đến ô nhiễm không khí; mầm bệnh từ thức ăn và nước uống; mầm bệnh từ các loài gặm nhấm và côn trùng; ảnh hưởng do thiếu thức ăn và nước; bệnh tâm thần; bệnh lây nhiễm, dinh dưỡng, tâm lý và các yếu tố khác

nó gây nên ảnh hưởng hoặc phân bố lại dân cư trong sự nhận thức về phân bố lại sản xuất do thay đổi khí hậu; chất lượng môi trường suy giảm, và tình trạng mâu thuẫn Năm 2002, thay đổi khí hậu được ước tính làm thiệt hại 2.4% bệnh tiêu chảy, 6% bệnh sốt rét ở một số nước

có thu nhập trung bình và 7% bệnh sốt xuất huyết tại các nước công nghiệp Tổng cộng gây nên 154 000 ca tử vong (0.3%) làm cho 55 triệu (0.4%) người tàn tật điều chỉnh theo số năm sống (DALYs) Đông Nam Á chiếm 47% thiệt hại này (WHO, 2002)

Theo báo cáo của IPPC (2001), nhiệt độ cao hơn sẽ ảnh hưởng đến các thành phố lớn nhiều hơn do tính đặc thù nhiệt độ thành phố (môi trường thành phố là môi trường nhân tạo chủ yếu bê tông và nhựa hấp thụ nhiệt nhiều hơn môi trường tự nhiên) Ảnh hưởng trực tiếp

Trang 15

10

của nhiệt độ đến sức khoẻ con người đó là sự hoành hành của say nắng và tử vong, đặc biệt

là nhóm tuổi cao (trên 65), ảnh hưởng đã được đo lường một cách cụ thể ở các thành phố như Nanjing và Tokyo Các đợt nóng mùa hè trong tương lai sẽ có thể sẽ làm tăng nguy cơ

tử vong ở nhóm người cao tuổi và dân cư nghèo ở đô thị ở khu vực ôn và nhiệt đới Châu Á

Sự giảm tỷ lệ tử vong vào mùa đông do nhiệt độ ấm lên có thể bù cho số bị trường hợp tử vong do say nắng trong những tháng mùa hè (IPCC, 2001b)

Trong báo cáo của USAID (2010), gia tăng nhiệt độ có thể dẫn đến một loạt các tác động đến sức khỏe con người như gia tăng số ca đột quỵ do nóng (Heat stroke), trong đó ngưới lớn tuổi là dân số nguy cơ cao nhất Tại các thành phố, vào các tháng mùa khô, tiếp xúc với nhiệt độ cao và không khí ô nhiễm có thể là yếu tố nguy cơ cao nhất Ngoài ra, gia tăng nhiệt độ cùng với lũ lụt và ngập nước do lượng mưa lớn và gia tăng mực nước biển được dự báo dẫn đến sự thay đổi tỉ lệ thịnh hành của các bệnh liên quan đến mước và vật trung gian truyền bệnh như sốt rét và sốt xuất huyết, cũng như cường độ lớn hơn hay sự lan rộng của các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt tại khu vực Đông Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương Chẳng hạn, tại thành phố Bangkok, sự gia tăng ước tính của nhiệt độ từ 1998 đến

2050, số ca bệnh sốt rét gia tăng đáng kể

BĐKH đồng thời ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người qua gia tăng thực phẩm bị nhiễm bẩn, giảm khả năng tiếp cận nước sạch, từ đó làm gia tăng tỉ lệ thịnh nhành của tiêu chảy và lỵ, đồng thời tác động đến nguồn thực phẩm sẳn có và từ đó làm gia tăng số

ca suy dinh dưỡng Điều này càng làm xấu đi tình trạng sức khỏe nghèo nàn hiện nay Thí

dụ, tại một số quốc gia Nam Á như Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Maldives, Myanmar và Nepal, được coi là nơi chịu tác động nặng nề của BĐKH toàn cầu và các bệnh tật được cho

là có liên quan như tiêu chảy và suy dinh dưỡng được xếp là có tỉ lệ cao nhất Thế giới vào năm 2000, và tiếp tục gia tăng đến 2030 (Alam, et al., 2007) Ngoài ra, những sự thay đổi này có xu hướng tạo áp lực cao hơn tại những nơi thiếu thốn cơ sở hạ tầng và dịch vụ y tế (USAID, 2010)

Trang 16

11

Nhiều nghiên cứu khác như Blower SM (2005), J A Patz và S H Olson (2006), Kenneth L Gage (2008), cho thấy kết quả tương tự, BĐKH với nhiệt độ trung bình, lũ lụt tăng lên dẫn đến gia tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhạy cảm với khí hậu như: sốt rét, sốt xuất huyết Khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn, nấm mốc phát triển, tăng khả năng gây ra và lan truyền dịch bệnh Các bệnh nhiệt đới và các bệnh truyền qua vật trung gian như: sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh giun sán ký sinh trùng, bệnh đường ruột, suy dinh dưỡng trẻ em, ngộ độc thức ăn… diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến Những bệnh này ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao, đặc biệt

là vùng dân tộc ít người BĐKH với mùa nắng sẽ kéo dài hơn, lưu lượng mưa tăng cao hơn cũng tác động xấu đến sức khoẻ người dân, đặc biệt là người già, người mắc bệnh tim mạch

và trẻ nhỏ Người nghèo sẽ chịu ảnh hưởng mạnh nhất của BĐKH Đặc biệt là chịu sự phân phối thiếu bình đẳng các nguồn tài sản khan hiếm như: nước, lương thực thực phẩm, năng lượng, cơ sở hạ tầng đô thị, thiếu dịch vụ vệ sinh y tế…

3.2 Trong nước

3.2.1 Các vấn đề môi trường do đô thị hóa

Theo Phạm Gia Trân (2009), công nghiệp hóa và đô thị hóa tại TP.HCM dẫn đến các tác động tích cực và tiêu cực cho sự phát triển đô thị Các biến đổi môi trường tự nhiên bao gồm: Ô nhiễm đất do rác thải sinh hoạt; Ô nhiễm đất do sản xuất công nghiệp;

Thoái hoá đất; Biến đổi chất lượng nước mặt; Biến đổi chất lượng nước dưới đất; Biến

đổi môi trường không khí Các biến đổi môi trường xã hội bao gồm: Nhà ổ chuột; Ùn tắc giao thông; Nghèo đói; Lối sống đô thị và Tệ nạn xã hội

3.2.2 Ngập nước tại thành phố Hồ Chí Minh

Theo Hồ Long Phi (2011), quá trình phát triển đô thị không được kiểm soát tốt trong suốt vài thập niên qua đã vượt xa so với tốc độ nâng cấp hệ thống thoát nước Hệ quả là tình trạng ngập ở TP HCM đã bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 90 của thế kỷ

Trang 17

Bảng 1: Các thành phố có nguy cơ ngập lụt ven biển, xếp hạng theo dân số bị ảnh hưởng vào năm 2070

STT Thành phố Ước tính dân số bị ảnh hưởng (triệu người)

3.2.3 Nhiệt độ tăng tại thành phố Hồ Chí Minh

Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2008), trong 50 năm qua (1958- 2007), nhiệt

độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến 0,7oC Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở TP.Hà Nội, TP.Đà Nẵng, TP.HCM đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm

Trang 18

3.2.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe người dân

Đa số các nghiên cứu đề cập đến các khó khăn trong cuộc sống do ngập nước mà người dân đô thị phải đối mặt như việc làm, thu nhập, đi lại, sinh hoạt hàng ngày … (Thái Thị Ngọc Dư, 2002)

Đề tài nghiên cứu “Climatic hazards, health risk and response in Vietnam: Case studies on Social dimensions of vulnerability” (Phạm Gia Trân và Roger Few, 2010) đề cập đến các loại bệnh tật liên quan đến ngập lụt tại TP.Long Xuyên (Tỉnh An Giang) và thành phố Cao Lãnh (Tỉnh Đồng Tháp), môi trường và cơ chế hình thành bệnh tật, thay đổi bệnh tật theo mùa và phương thức đáp ứng của người dân và cơ quan chức năng tại địa phương

3.2.5 Tác động của ngập nước và nhiệt độ tăng đến sức khỏe người dân

Tại Việt Nam các nghiên cứu về các nguy cơ sức khỏe của BĐKH rất giới hạn, nhất

là tác động của nhiệt độ tăng đến sức khỏe người dân hầu như chưa có Liên quan đến các nguy cơ sức khỏe do lũ lụt và ngập nước đô thị, tổng quan tư liệu cho thấy có rất ít các nghiên cứu về nhận thức người dân về ngập lũ và chiến lược/giải pháp đối phó về sức khoẻ tại các khu vực đô thị

Theo Phạm Gia Trân (2009), đô thị hóa quá tải đã tác động tiêu cực đến môi trường nước và có mối liên hệ với bệnh đường ruột và sốt xuất huyết tại TP.HCM cụ thể, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn - nguồn cung cấp nước chính cho TP.HCM - đang bị ô

Trang 19

14

nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến các tác động tiêu cực đến đời sống, sinh hoạt và sức khỏe người dân, trong đó có bệnh đường ruột Sốt xuất huyết tập trung cao nhất tại các quận ven và ngoại thành như quận 8, Bình Thạnh, Thủ Đức và Bình Chánh Đây là cũng

là nơi mà môi trường sống người dân bị biến động tiêu cực do tác động của ĐTH

4- KHUNG NGHIÊN CỨU

Hình 1: Khung nghiên cứu

Ngập nước

Nhận thức hộ gia đình Đặc điểm với ngập nước, nhiệt độ cao kinh tế-xã hội-cư trú

và bệnh tật của hộ gia đình

nhiệt độ cao và bệnh tật của người dân (Hình 1)

Trang 20

15

5- PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện dựa vào các cách tiếp cận sau đây:

- Cách tiếp cận hệ thống: Thu thập và xem xét ý kiến của tất cả các bên liên quan

- Cách tiếp cận phát triển cộng đồng: Nhận dạng các tiềm năng tham gia và các thể chế và cơ chế thích hợp nhằm tạo điều kiện cho sự tham gia cộng đồng đóng vai trò quyết định trong các chương trình hành động

- Cách tiếp cận liên ngành: bao gồm khoa học môi trường, dịch tễ học và xã hội học

vì sức khỏe là vấn đề mang tính nhân quả và tương hỗ

5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

Bao gồm: (1) Phương pháp khảo sát thực địa; (2) Phương pháp thu thập tài liệu; (3) Phương pháp điều tra xã hội học; (4) Phương pháp xử lý dữ liệu và (5) Phương pháp hội thảo Cụ thể như sau:

5.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Các nội dung quan sát tại thực địa bao gồm: Tình trạng ngập nước tại khu vực khảo sát; Điều kiện sống của người dân địa phương; Loại hình định cư và nhà ở dễ bị tổn thương bởi ngập nước và nhiệt độ tăng; Hành vi sinh hoạt và hành vi sức khỏe của người dân

5.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu

- Tập hợp số liệu các bệnh về da, tim mạch, hô hấp, sốt xuất huyết, sốt rét, tiêu chảy tại TP.HCM giai đoạn 2001-2011

- Tập hợp các thông tin liên quan đến chính sách y tế và các chương trình phòng, chống bệnh tật giai đoạn 2001-2011

- Tập hợp thông tin về ngập nước và nhiệt độ tại TP.HCM giai đoạn 2001-2011

Trang 21

Dữ liệu bệnh tật địa phương được thu thập từ các Trung tâm y tế dự phòng đại diện cho các khu vực đô thị hóa Cụ thể, khu vực nội thành bao gồm Trung tâm y tế dự phòng quận 5 (thay cho Trung tâm y tế dự phòng quận 1 và quận 3 – Do nhóm nghiên cứu không tiếp cận được) và quận Bình Thạnh, Vùng ven đại diện là Trung tâm y tế dự phòng quận 2 và quận Bình Tân và Khu vực ngoại thành đại diện là Trung tâm y tế dự phòng huyện Bình Chánh

5.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Các công cụ sử dụng bao gồm bảng hỏi cho nghiên cứu định lượng và phỏng vấn sâu cho nghiên cứu định tính

Bảng hỏi

Phương thức chọn mẫu

Đầu tiên, phương thức chọn mẫu theo cụm được sử dụng Trong đó, lựa chọn ra 6/24 quận/huyện đại diện cho 3 khu vực có mức độ tác động khác nhau của ĐTH tại TP.HCM, bao gồm: Quận 1, Quận 3, Quận Bình Thạnh- đại diện cho khu vực trung tâm- đây là khu vực ĐTH đã ổn định, Quận 2 và Quận Bình Tân- đại diện cho vùng ven là khu vực ĐTH đang diễn ra mạnh mẽ và Huyện Bình Chánh- đại diện cho khu vực ngoại thành- đây là khu vực ĐTH mới bắt đầu

Trong 6 quận/huyện lựa chọn, 3 quận/huyện đại diện cho khu vực ảnh hưởng của ngập nước bao gồm Quận Bình Thạnh, Quận Bình Tân và Huyện Bình Chánh, đây là các quận/huyện hiện đang thường xuyên chịu tác động của ngập nước Ngược lại, Quận 1,

Trang 22

17

Quận 2 và Quận 3 đại diện cho khu vực nhiệt độ tăng Hiện nay, do chỉ có số liệu nhiệt

độ chung của thành phố và không có số liệu nhiệt độ cho từng quận Vì vậy, sự lựa chọn các quận này căn cứ vào chỉ tiêu mật độ cư trú và mật độ xây dựng cao, đây là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu ứng đảo nhiệt, làm gia tăng nhiệt độ trong khu vực đô thị

Thứ hai, trong mỗi quận huyện đã lựa chọn, chọn ra các phường/xã đại diện để thu thập thông tin Các phường/xã được chọn phải là khu vực đang chịu tác động của ngập nước hay nhiệt độ cao và theo tiêu chí đối cực (điều kiện kinh tế-xã hội khá và nghèo, bệnh tật nhiều – ít, cơ sở hạ tầng đầy đủ - thiếu thốn, môi trường tốt – chưa tốt…) Dựa vào các tiêu chí này, Ủy ban nhân dân và Trung tâm y tế quận/huyện sẽ cung cấp cho nhóm nghiên cứu thông tin về các phường/xã thích hợp để tiến hành khảo sát

Trong mỗi phường/ xã được lựa chọn, nhóm nghiên cứu sẽ cùng với Ủy ban nhân dân và Trung tâm y tế phường/xã chọn ra 2 khu phố đại diện (tiêu chí lựa chọn cũng tương tự như trên) Trong mỗi khu phố, tùy theo số hộ mỗi khu phố, tối thiểu là 30 hộ được lựa chọn từ phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, với n = 3 hay n = 5 từ danh sách do các trưởng khu phố cung cấp

Cở mẫu

Cở mẫu của nghiên cứu này là 800 hộ gia đình Được chia ra như sau:

- Căn cứ vào tầm quan trọng của vấn đề, do khu vực chịu ảnh hưởng của ngập nước (toàn thành phố) lớn hơn khu vực chịu ảnh hưởng nhiệt độ cao (chủ yếu tập trung

ở nội thành) nên cở mẫu của khu vực ngập nước lớn hơn so với cở mẫu của khu vực nhiệt độ cao (458 hộ so với 342 hộ, tương ứng)

- Mỗi quận/huyện được lựa chọn có cở mẫu tối thiểu là 100 hộ gia đình

- Mỗi phường/xã được lựa chọn có cở mẫu tổi thiểu là 60 hộ gia đình

Kết quả cụ thể như sau:

Quận Bình Thạnh: 200 hộ (trong đó: Phường 22 là 107 hộ và Phường 25 là 93 hộ) Quận Bình Tân: 130 hộ (trong đó: Phường An Lạc là 65 hộ và Phường Bình Trị Đông B là 65 hộ)

Trang 23

18

Huyện Bình Chánh: 128 hộ (trong đó: Xã Bình Hưng là 68 hộ và xã Phong Phú

là 60 hộ)

Quận 1: 103 hộ (trong đó phường Nguyễn Cư Trinh là 103 hộ)

Quận 3: 100 hộ (trong đó phường 3 là 100 hộ)

Quận 2: 139 hộ (trong đó phường Bình Trưng Tây là 63 hộ và phường Bình An là

76 hộ)

Tiêu chuẩn mẫu

Các người tham gia phỏng vấn phải đạt được các yêu cầu sau đây:

- Là chủ hộ hay đại diện cho hộ gia đình

- Nhà có địa chỉ

- Nằm trong và trên độ tuổi lao động

- Có hiểu biết về đời sống và sinh hoạt của gia đình của mình

Phương thức điều tra

Được thực hiện theo các bước thứ tự sau đây:

- Pre-test bảng hỏi (30 phiếu)

- Điều chỉnh bảng hỏi sau Pre-test

- Liên hệ chính quyền địa phương nơi nghiên cứu thống nhất thời gian và địa điểm điều tra và giới thiệu các trưởng khu phố hay tổ trưởng dân phố hỗ trợ cho các điều tra viên đến các hộ gia đình để thu thập ý kiến

- Tổ chức tập huấn cho điều tra viên (Điều tra viên là sinh viên khoa Địa Lý-Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP.HCM – đã được học môn phương pháp nghiên cứu, trong đó có phần bảng hỏi) Nội dung tập huấn bao gồm: (1) Mục tiêu và kế hoạch điều tra, (2) Nội dung bảng hỏi và cách ghi câu trả lời, (3) Tiếp cận hộ gia đình, (4) Xử lý các tình huống nảy sinh trong quá trình điều tra và (5) Kiểm tra chéo và (6) Yêu cầu của một bảng hỏi hoàn tất

- Tiến hành điều tra chính thức

Trang 24

19

- Cuối mỗi buổi điều tra tiến hành kiểm tra chéo (Cross-check) để bảo đảm chất lượng thông tin bảng hỏi thu thập và có các điều chỉnh cần thiết cho buổi thu thập kế tiếp Sau kiểm tra chéo, điều tra viên nộp lại các bảng hỏi hoàn tất cho giáo viên phụ trách

* Thời gian hoàn tất cho một bảng hỏi là từ 60 phút đến 90 phút

Thời điểm điều tra: Tháng 8-9 năm 2012

Nội dung bảng hỏi

Bao gồm các chủ đề: Thông tin về cá nhân và gia đình được phỏng vấn; Thực trạng ngập nước và nhiệt độ tăng tại khu vực cư trú; Thực trạng bệnh tật hộ gia đình; Tác động của bệnh tật gây ra bởi nhiệt độ tăng và ngập nước đến đời sống hộ gia đình; Hành

vi giảm thiểu ngập nước và nhiệt độ tăng; Phòng, chống của hộ gia đình đối với bệnh tật liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng

Phỏng vấn sâu

Bao gồm đại diện của 10 trạm y tế tại các phường xã được khảo sát Bao gồm: Phường 3 – Quận 3, Phường 22- Quận Bình Thạnh, Phường 25- Quận Bình Thạnh, Phường Bình An – Quận 2, Phường Bình Trưng Tây – Quận 2, Phường Nguyễn Cư Trinh- Quận 1, Phường An Lạc- Quận Bình Tân, Phường Bình Trị Đông- Quận Bình Tân, Xã Bình Hưng – Huyện Bình Chánh Xã và Phong Phú – Huyện Bình Chánh

Nội dung thu thập bao gồm: Ý kiến về tình hình bệnh tật tại địa phương liên quan đến ngập nước và nhiệt độ tăng; các chương trình phòng, chống bệnh tật hiện hữu và đề xuất

5.2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu

Đối với dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được hệ thống hoá, tổng hợp và phân tích theo các chủ đề được định trước

Trang 25

20

Đối với dữ liệu sơ cấp (dữ liệu bảng hỏi)

Dữ liệu bảng hỏi được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS version 15.0 Phương pháp phân tích sử dụng thống kê mô tả bao gồm tần số, tần suất và giá trị trung bình và phương pháp kiểm định Chi-Square

5.2.5 Phương pháp phân tích tổn thương

Các tác động sức khỏe có đặc trưng nguy cơ (risk specific) được xác định bởi đặc

tính của các nguy hại và tính tổn thương của dân số nguy cơ (Debarati et al., 2010)

Tính tổn thương được xem là hàm số của sự phơi nhiễm, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống, đây là khái niệm có thể áp dụng cho đánh giá ở góc độ cá nhân, xã hội và thể chế (Fischhendler and Karasin, 2012) Phơi nhiễm thường xuyên với các nguy cơ sẽ làm tăng tính tổn thương của con người vì nó làm suy kém năng lực kinh tế-xã hội của họ, từ đó ngăn cản nhiều hơn nữa đến năng lực thích ứng và sự phục hồi của

cá nhân (Holzmann, 2000)

Theo Sachs và Malaney (2002), các chỉ tiêu kinh tế-xã hội có thể được sử dụng đo lường và giải thích tính dễ mắc nhiễm với bệnh tật và tính tổn thương với ngập nước khi chúng liên quan đến nghèo đói, tuổi, kiến thức, nhận thức và năng lực thể chế

Đánh giá tính tổn thương ở góc độ cộng đồng sẽ giúp chúng ta hiểu về bối cảnh địa phương của các nguy cơ và xem xét các kiến thức, nhận thức và sự tham gia của người dân địa phương để tử đó đảm bảo các hoạt động quản lý nguy cơ mang tính bền vững (Kuhlicke et al., 2009)

Chỉ số tổn thương tổng hợp (Composite vulnerability index – CVI)

Thập niên 1990 cho thấy xu hướng gia tăng của việc phát triển và sử dụng các chỉ

số tổng hợp (Composite Indices – CIs) để đánh giá các chỉ tiêu phát triển tổng hợp và các chỉ tiêu khoa học xã hội Điều này là do khả năng của chúng trong việc đơn giản hóa và tóm tắt các vấn đề phức tạp, cho phép so sánh, giảm nhẹ việc diễn giải hay thuyết minh, khả năng lượng hóa các khái niệm không thể nhìn thấy được và có tiềm năng được cập nhật thường xuyên (Foa và Tanner, 2012)

Trang 26

21

Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu tổn thương được lựa chọn căn cứ vào tổng quan tư liệu và tham vấn của các chuyên gia 8 chỉ tiêu đo lường tính tổn thương với ngập nước và nhiệt độ cao, 9 chỉ tiêu đo lường tính tổn thương với sức khỏe do ngập nước và 8 chỉ tiêu đo lường tính tổn thương với sức khỏe do nhiệt độ cao được lựa chọn để tính toán các chỉ số tổng hợp của tính tổn thương về ngập nước/nhiệt độ cao và sức khỏe, cụ thể như sau:

- Chỉ tiêu tổn thương với ngập nước và nhiệt độ cao: bao gồm các biến số

như giới, tuổi, học vấn, qui mô gia đình, nghề nghiệp, thu nhập tháng bình quân đầu người, sở hữu nhà, loại nhà

- Chỉ tiêu tổn thương sức khỏe do ngập nước: bao gồm các biến số như chuẩn

bị đối phó ngập nước, chuẩn bị đối phó bệnh tật do ngập nước, tiếp xúc với nước bẩn, che đậy dụng cụ chứa nước, nhà vệ sinh, nước sinh hoạt, thoát nước thải, thu gom rác, tiếp cận thông tin phòng, chống sốt xuất huyết, bệnh tay chân miệng và bệnh tiêu chảy

- Chỉ tiêu tổn thương sức khỏe do nhiệt độ cao: bao gồm các biến số như

chuẩn bị đối phó nhiệt độ tăng, chuẩn bị đối phó bệnh tật do nhiệt độ tăng, hạn chế ra đường giờ nắng nóng, ăn trái cây thanh nhiệt, ăn thực phẩm đường phố, nhiệt độ trong nhà, thoáng mát trong nhà, tiếp cận thông tin phòng, chống sốt xuất huyết, bệnh tim mạch, bệnh hô hấp và bệnh tiêu chảy

Chỉ số tổn thương tổng hợp (CVI) cho cả ngập nước, nhiệt độ cao và sức khỏe được tính toán như sau (Emerald, 2013):

Trang 27

22

Các chỉ tiêu được phân loại từ 2 đến 5 nhóm phụ thuộc vào bản chất của chúng Thí dụ, giới tính được phân thành 2 nhóm (bao gồm nam và nữ), trong khi đó việc làm được phân thành 3 nhóm (bao gồm thất nghiệp, lương hưu và có việc làm) Mỗi chỉ tiêu

có giá trị trọng số lớn nhất là 1 với các trọng số có giá trị biến đổi theo các nhóm khác nhau của chỉ tiêu với mục đích nhấn mạnh mức độ tổn thương Vì vậy, các trọng số có giá trị thay đổi từ 0 đến 1, trong đó giá trị 0 biểu thị mức độ tổn thương thấp nhất và giá trị 1 biểu thị mức độ tổn thương cao nhất

Sau khi tính toán các CVI cho ngập nước, nhiệt độ cao và sức khỏe, các CVI được chuyển đổi thành thang đo tỷ lệ từ 0 đến 1(trong đó giá trị 0 thể hiện mức độ thấp nhất và giá trị 1 thể hiện mức độ cao nhất của tính tổn thương) Đây là điều cần thiết vì các chỉ tiêu không có số nhóm giống nhau trong việc ấn định các trọng số Mục đích của việc chuẩn hóa này nhằm nâng cao chất lượng của các kết quả phân tích thống kê cũng như cải thiện tính so sánh giữa các CVI của các hộ gia đình

Sử dụng thang đo thứ tự cho số nhóm bằng nhau (equal class interval) để chuyển đổi các giá trị của CVI, các hộ gia đình được phân thành 4 nhóm tổn thương sau đây:

1- Mức độ tổn thương thấp (CVI: 0.00-0.24)

2- Mức độ tổn thương trung bình (CVI: 0.25-0.49)

3- Mức độ tổn thương cao (CVI: 0.50-0.74)

4- Mức độ tổn thương rất cao (CVI: 0.75-1.00)

5.2.6 Phương pháp hội thảo

Một cuộc hội thảo được tổ chức để lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và đại diện của cơ quan y tế về kết quả của nhóm nghiên cứu

6- Giới hạn nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu không phân tích các khía cạnh y học của bệnh tật;

- Đề tài nghiên cứu không phân tích các khía cạnh môi trường của ngập nước và nhiệt độ tăng

Trang 28

23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG MỘT: ĐÔ THỊ HÓA, NGẬP NƯỚC VÀ NHIỆT ĐỘ TĂNG

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 ĐÔ THỊ HÓA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Theo Cục thống kê TP.HCM, trong thời kỳ 2000-2011, dân số thành phố tăng từ 5.168.856 người vào năm 2000 lên 7.521.138 người vào năm 2011 Tương tự, dân số đô thị TP.HCM có xu hướng gia tăng theo thời gian Dân số khu vực đô thị của thành phố là 4.246.534 người vào năm 2000 đã tăng lên 6.250.963 người vào năm 2011 Gia tăng dân

số thành phố chủ yếu là do các dòng nhập cư từ các tỉnh khác đến thành phố Tốc độ tăng dân số cơ học bình quân hàng năm là 2,5% Dự báo TP.HCM sẽ trở thành siêu đô thị đầu tiên của Việt Nam trong vài năm tới với quy mô dân số trên 10 triệu người

Hình 2: Tổng dân số, dân số đô thị và dân số nông thôn TP.HCM thời kỳ 2001-2011

Trang 29

24

- TP.HCM nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là cực phát triển có ảnh hưởng kinh tế rất lớn không chỉ cho các khu vực nông thôn bao quanh mà còn cho các phần lãnh thổ còn lại của quốc gia TP.HCM còn là trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ của cả nước, có mức sống cao từ đó đã tạo lực hút đối với dân cư các địa phương khác, là những người thất nghiệp, đang bị tác động của thiên tai, lũ lụt Cụ thể như trong giai đoạn 2000-2011, GDP bình quân đầu người của thành phố đã tăng từ 1.350 USD lên 3.100 USD, trong khi ở khu vực nông thôn, GDP bình quân đầu người hiện nay không vượt quá 800 USD Chênh lệch GDP bình quân đầu người giữa TP.HCM

và các địa phương khác được xem là nguyên nhân quan trọng dẫn đến các dòng di dân từ các nơi khác về TP.HCM;

- TP.HCM là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, cơ sở dạy nghề… do

đó đã thu hút một số lượng học sinh từ các nơi khác đến đây

- TP.HCM thiếu vắng các biện pháp kiểm soát di dân và ĐTH

Chênh lệch GDP bình quân đầu người cùng với tỷ lệ dân cư nông thôn trên cả nước còn rất cao (73%) bao hàm tiềm năng di dân nông thôn-đô thị vẫn còn rất lớn, trong

đó TP.HCM vẫn sẽ là một trong các điểm đến mong đợi của người nhập cư trong thời gian tới

1.2 TÌNH TRẠNG NGẬP NƯỚC VÀ GIA TĂNG NHIỆT ĐỘ TẠI THÀNH

Trang 30

25

thường xuyên (Hình 3) Theo Hồ Long Phi (2010), số lượng các điểm ngập giảm chủ yếu tại các quận nội thành cũ như quận 1, 3, 5, 10, Phú Nhuận… trong khi đó tại khu vực ngoại vi thành phố như quận 7, 12, Gò Vấp, huyện Nhà Bè, Bình Chánh… trước đây chưa hề ngập nay đã bắt đầu ngập và đây là nơi có số điểm ngập mới phát sinh nhiều nhất trong thời gian gần đây

Hình 3: Thống kê số vị trí ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các quận vùng ngoại

vi thuộc khu vực TP.HCM từ năm 2003 đến năm 2011

Nguồn: Trung tâm điều hành Chương trình chống ngập nước TP Hồ Chí Minh, 2011

Nguyên nhân ngập nước tại TP.HCM được tổng hợp thành các nhóm nguyên nhân chính như sau:

- Mưa và triều, lũ được xem là nguyên nhân chính của ngập nước TP.HCM nằm cách cửa biển 65 km, nằm ở hạ lưu các con sông lớn như: Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Bé,

có địa hình tương đối thấp (60% diện tích có cao trình thấp hơn +1,50m) nên các khu vực trũng thấp này sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp của triều cường Hàng năm, cứ vào các tháng 9,

10, 11, 12 và tháng Giêng, khi mùa mưa mưa đến, lũ trên thượng nguồn đổ về cùng với mưc nước tại cửa biển dâng cao là thành phố lâm vào tình trạng ngập nước kéo dài

Trang 31

26

- Diễn biến bất thường của thời tiết Năm 2008 có 152 trận mưa tập trung từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 11/2008, vũ lượng mưa cao nhất 140mm (có 1 trận) và chỉ có 2 trận mưa trên 80mm Triều cường kéo dài nhiều ngày và đỉnh triều đạt mức + 1,55m cao nhất trong 49 năm qua (kể từ năm 1960)

- Quy hoạch phát triển thành phố đã chấp nhận việc lấp các kênh rạch, mất diện tích vùng đệm, vùng trũng điều tiết nước cùng với tình trạng lấn chiếm kênh rạch như xây cất nhà ở, xưởng sản xuất, nuôi cá … Từ đó, dung lượng lưu trữ trong hệ thống kênh rạch của thành phố bị giảm đáng kể, dẫn đến mực nước của các kênh rạch tăng cao, và hiện tượng ngập nước gia tăng, xảy ra thường xuyên nhất ở các khu dân cư dọc theo hệ thống kênh rạch

- Hạ tầng thoát nước phát triển không đồng bộ với quá trình ĐTH Cho đến nay TP.HCM mới chỉ có khoảng 3.200 km cống thoát nước và còn thiếu hơn 2.500 km cống, phần lớn tiết diện nhỏ và đầu tư từ hàng chục năm qua, chỉ có thể đáp ứng cho đô thị 2,5 triệu dân Ngoài ra, cốt nền của thành phố còn thấp hơn đỉnh triều cường (hiện nay đã vượt mức 1,60m) (Nguyễn Hữu Tín, 2014)

- Các công trình thi công hạ tầng gây ảnh hưởng đến thoát nước như việc thi công của các nhà thầu thiếu biện pháp dẫn dòng, gây bít dòng chảy, cửa xả…gây ngập trên nhiều tuyến đường

- Trong quá trình ĐTH, cùng với gia tăng dân số là chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển đô thị, hệ quả là tỷ lệ sử dụng đất xây dựng và diện tích bê tông bề mặt (hay diện tích bề mặt không thấm) ngày càng gia tăng Cụ thể, trong vòng 17 năm, từ

1989 tới 2006, diện tích đất xây dựng gia tăng 305,5% từ hơn 6.000 hecta vào năm 1990 lên tới 24.500 hecta vào năm 2006 (Trần Thị Vân và Hà Dương Xuân Bảo, 2007) Vào năm 2010, diện tích đất xây dựng tại TP.HCM chiếm khoảng 16% diện tích Đồng thời các bề mặt đất tự nhiên như rừng, các đất nông nghiệp, đất cây xanh và các vùng đất ngập nước ở cả hai phía các khu vực thượng lưu và hạ lưu TP.HCM, bị giảm nhanh chóng và thay thế bằng nhà cửa và các cơ sở hạ tầng Quá trình bê-tông hoá mặt đất một cách

Trang 32

- Việc lạm dụng nguồn nước ngầm trong thành phố cũng góp phần làm cho nguy

cơ ngập lụt ngày càng trầm trọng hơn Nhiều hộ gia đình trong TP HCM sử dụng nước ngầm như một sự thay thế hoặc là một nguồn cung cấp nước bổ sung cho nước máy Hệ thống nước ngầm trong thành phố, do đó đã bị thay đổi mạnh và dẫn đến sụt lún đất Khu vực trung tâm TP.HCM hiện nay đã ghi nhận hiện tượng lún đất trung bình ở mức từ 4mm/năm (Lê và Hồ, 2009) Những khu vực có hiện tượng sụt lún này sẽ càng nhạy cảm với ngập nước

- Ý thức bảo vệ môi trường của một số người dân chưa cao Rác thải được nhìn thấy rất thường xuyên ở cửa hố ga, cống thoát nước và trong các kênh rạch Rác thải góp phần trong việc hạn chế khả năng thoát nước của thành phố, và cũng là nguyên nhân dẫn đến ngập nước

Theo Hồ Long Phi (2014), do BĐKH khiến ngày càng có nhiều trận mưa vượt tần suất thiết kế hệ thống thoát nước của thành phố, đỉnh triều cường cũng tăng theo từng năm Cụ thể, tần suất thiết kế hiện nay theo quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước của TP.HCM đến năm 2020, đối với tuyến cống cấp 3 là mưa 75,88 mmm trong 3 giờ, tuyến cống cấp 2 là mưa 85,36 mmm, kênh, rạch chính cấp 1 là mưa 95,91 mm, đỉnh triều thiết

kế là +1,32m Trong khi thực tế, theo Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP.HCM, trong tháng 9/2014 có trận mưa lớn cực lớn kéo dài 3 giờ, trong thời gian đầu của trận mưa, cường độ mưa đã đạt đến lưu lượng 100 mm/giờ (trạm Cầu Bông), 90 mmm/giờ (trạm Quang trung), lưu lượng mưa lớn nhất sau trận mưa là 122,3 mm (trạm Cầu Bông) Trước kia, tại thành phố mưa 30-40 mm là có thể ngập, nay có thể chịu đựng những trận mưa đến 80 mm Trong thời gian vừa rồi, đã có trận mưa hơn 120 mm và trong lịch sử đã có trận mưa lịch sử đến 145 mm Theo dự báo, sẽ có những trận mưa 150

Trang 33

28

mm và đến lúc có thể lên đến 200 mm Với những trận mưa cực lớn như vậy, không có

hệ thống thoát nước nào của thành phố có thể chịu đựng nổi

Theo nghiên cứu của ADB (2010) về BĐKH tại TP.HCM, đến năm 2050 hầu hết các quận - huyện, phường - xã của TP.HCM sẽ chịu nguy cơ ngập nước, kể cả những nơi trước đó chưa bao giờ bị ngập Cụ thể, có đến 177/322 phường xã với 123.152ha (chiếm 61% diện tích của TP.HCM) sẽ chịu ngập nước thường xuyên; nếu xảy ra bão, diện tích ngập có thể lên đến 141.885ha (71% diện tích tự nhiên TP.HCM) Đáng kể hơn là độ sâu ngập sẽ tăng từ 21% - 40% và thời gian ngập kéo dài thêm 12% - 22% so với hiện nay Nếu kịch bản này xảy ra thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế TPHCM và sức khỏe của người dân

1.2.2 Gia tăng nhiệt độ

Theo số liệu đo đạc của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ (2012), trong gần 30 năm, nền nhiệt độ trung bình nhiều năm tại TP.HCM đã tăng gần 1 độ C (từ 27,10C vào năm 1984 lên 280C vào năm 2012) cho thấy càng ngày TP.HCM càng nắng nóng hơn và số ngày có nhiệt độ trên 35°C đang tăng mạnh

Theo Lưu Đình Hiệp và Nguyễn Thị Như Khanh (2012), trong giai đoạn 1995 -

2002, khoảng nhiệt độ 20 - 250C mát mẻ chỉ giảm nhẹ, khoảng nhiệt độ 25 - 300C tăng nhẹ, còn khoảng nhiệt độ 30-350C không thay đổi, giá trị cả hai năm 1995, 2002 đều bằng

0 do khoảng nhiệt độ này chưa xuất hiện ở năm 1995, 2002 Tuy nhiên, trong giai đoạn 2002- 2010, khoảng nhiệt độ 20- 250C mát mẻ giảm mạnh, trong khi đó khoảng nhiệt độ 25-300C và 30-350C lại tăng cao Điều đó chứng tỏ nhiệt độ thành phố tăng mạnh trong giai đoạn 2002 - 2010 so với 1995 - 2002

Tương tự, theo Phân viện Khí tượng thủy văn và môi trường phía Nam (2012), các

tháng có nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện từ năm 1998 trở lại đây, trong khi đó các tháng có nhiệt độ thấp nhất lại xuất hiện vào thời gian trước đó, kết quả này cho thấy sự gia tăng nhiệt độ tại TP.HCM trong những năm gần đây

Trang 34

29

Theo Ngai Weng Chan (2014), có 5 yếu tố ảnh hưởng tới gia tăng nhiệt độ tại các thành phố ở Malaysia là qui mô dân số, sử dụng đất, số lượng xe cộ, các cơ sở công nghiệp và dạng nhà ở

Trong quá trình ĐTH, dân số TP.HCM gia tăng nhanh, từ đó các hoạt động xây dựng, đi lại, tiêu thụ năng lượng qua sinh hoạt và sản xuất tăng lên và hệ quả là thành phố ngày càng nóng lên

Trong quá trình ĐTH, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển đô thị

đã làm giảm đáng kể tỷ lệ cây xanh và mặt nước, bề mặt cũ được thay thế bằng các loại vật liệu xây dựng, làm tăng khả năng hấp thụ nhiệt và giảm độ ẩm tiềm năng trong đất Trong vòng 14 năm trở lại đây, ĐTH tại TP.HCM đã dẫn tới sự biến mất của 47 con kênh với tổng diện tích 16,4 ha; san lấp 7,4 ha hồ Bình Tiên - một trong số những hồ chứa nước quan trọng nhất của khu vực (Nguyễn Đỗ Dũng, 2011) Theo thống kê của Phòng Quản lý công viên – cây xanh, Sở Giao thông vận tải TPHCM, năm 2010 toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535 héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998 là 1000 ha Tỷ lệ cây xanh đô thị bình quân trên đầu người tại TPHCM quá thấp so với các thành phố trên thế giới, khoảng xấp

xỉ 2m2/người và chỉ mới bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố hiện đại trên thế giới (khoảng 20m2 - 25m2 cây xanh/người) Hiện nay, các mảng xanh tại thành phố chỉ tập trung ở các quận huyện ngoại thành, ven đô, còn các quận nội thành trung tâm thì gần như không có hay có ít mảng xanh (Lưu Đình Hiệp và Nguyễn Thị Như Khanh, 2012)

Gia tăng dân số thành phố do ĐTH đã kéo theo sự gia tăng số lượng xe cơ giới Trong thời kỳ 2000-2011, trên địa bàn thành phố số lượng phương tiện giao thông tăng gấp 3 lần, cụ thể xe ô tô tăng từ 131.000 lên 493.300 xe và số lượng xe gắn máy tăng từ 1.571.000 đến 5.519.000 xe (Cục thống kê TP.HCM, 2012)

Tại TP.HCM, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (UHI – Urban Heat Island) dẫn đến độ chênh lệch nhiệt độ bề mặt giữa khu vực nội thành và khu vực nông thôn của thành phố khoảng 2,210C (Phạm Bách Việt, 2013) (Phụ lục 3-Bảng B1) Một nghiên cứu khác cho thấy khu vực trung tâm thành phố thường ấm hơn so với vùng ngoại ô, trong trường hợp

Trang 35

30

của TP HCM, sự khác biệt của nhiệt độ bề mặt lên đến 10°C (Trần Thị Vân và cộng sự, 2008) Hiệu ứng UHI lớn nhất tập trung ở các quận nội thành với diện tích gần 29.000 ha, bao gồm Q.1, Q.3, Q.4, Q.5, Q.10, Q.11 và Q.Bình Thạnh Nguyên nhân của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị bề mặt là do các quận nội thành có sự tập trung dày đặc hạ tầng, công trình, nhà cửa đô thị, đối lưu không khí kém, tiêu thụ năng lượng cao cho giao thông, công nghiệp và sinh hoạt và thiếu vắng các mảng xanh, bề mặt nước (Trần Thị Vân và cộng sự, 2008)

Theo quy hoạch tổng thể về phát triển đô thị, đến năm 2025 đất nông nghiệp tại TP.HCM sẽ giảm từ 121.000 ha xuống còn 83.000 ha Trong đó, 38.000 ha được phân vùng lại thành đất xây dựng và đất cho việc phát triển các dự án mới Đồng thời, khi ĐTH mở rộng thì mảng xanh thành phố cũng sẽ bị giảm đi Như vậy, nhiệt độ thành phố

sẽ còn tiếp tục gia tăng (vnexpress, 2012)

Ngoài ra, trong thời gian tới, do tác động BĐKH, cư dân TP.HCM phải đối phó với thời tiết khắc nghiệt hơn, trong đó có nhiệt độ cao Theo dự báo, nhiệt độ trung bình năm của thành phố tăng lên khoảng 0,50C vào năm 2020; 1,40C vào năm 2050 và 2,70C vào năm 2100 so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) (MONRE, 2012) Nhiệt độ tăng sẽ làm tăng số ngày cực nóng trên 35oC

Theo USAID (2010), ngập nước và nhiệt độ cao làm gia tăng các rủi ro về sức khỏe người dân thành phố và được dự báo dẫn đến sự thay đổi tỉ lệ thịnh hành của các bệnh liên quan đến nước và vật trung gian truyền bệnh như sốt rét và bệnh sốt xuất huyết, cũng như cường độ lớn hơn hay sự lan rộng của các bệnh truyền nhiễm

Trang 36

31

CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ CƯ TRÚ CỦA

DÂN SỐ NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ CƯ TRÚ CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU

Tổng quát, các hộ gia đình sống trong khu vực nghiên cứu là các hộ cư dân tại chỗ với số năm sống tại khu vực từ 10-20 năm (31,5%) Đây là các hộ gia đình có quy mô 1-4 người (56,5%) Đa số người tham gia phỏng vấn có trình độ học vấn trung bình là cấp 3 (35,1%) Tính theo chuẩn nghèo của TP.HCM (dưới 1 triệu đồng/người/tháng), tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực nghiên cứu là tương đối cao, chiếm 23,4% (Bảng 2)

Bảng 2: Đặc điểm kinh tế-xã hội của dân số nghiên cứu

Ngoại thành Vùng ven Nội thành

Trang 37

triệu 91 77,1 205 77,1 305 76,1 601 76,6

Trung bình thu nhập

Nguồn: nhóm nghiên cứu, 2012

Nhà ở là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe vì đây là nơi diễn ra các quá trình sinh học và lý học ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và là nơi phục hồi sức khỏe cho người lao động sau quá trình tham gia sản xuất Tại khu vực nghiên cứu, 79,5% hộ gia đình là chủ nhà, dạng nhà bán kiên cố và tạm bợ chiếm tỷ lệ khá cao (40,4%) Có đến 25,1% số nhà trong khu vực khảo sát thiếu ánh sáng mặt trời trong nhà, 31,1% số nhà không thoáng mát và 31,4% số nhà có nhiệt độ trong nhà là nóng

Bảng 3: Đặc điểm nhà ở và tiện nghi vệ sinh của dân số nghiên cứu

Trang 38

42 32.8 83 30.9 24 6.0 149 18.6

Nguồn: nhóm nghiên cứu, 2012

Ghi chú:

- Nhà vệ sinh tự hoại là nhà vệ sinh giội nước được áp dụng cho các khu nhà ở riêng

lẻ, nhà ở cao tầng có nước giội và ống thoát nước ở những đô thị, thành phố Loại công trình vệ sinh này vừa tập trung phân vừa bước đầu xử lý trong môi nước nên phải thật kín (Đào Ngọc Phong, 1997)

- Đánh giá về ánh sáng trong nhà, nhiệt độ trong nhà, thoáng mát trong nhà và tình trạng vệ sinh quanh nhà là ý kiến của điều tra viên qua quan sát và cảm nhận từ thực tế

Liên quan đến tiện nghi vệ sinh, 67% số nhà có hệ thống cống thoát hợp vệ sinh và 33% các hộ còn lại đào mương để nước thải sinh hoạt chạy thẳng ra sông, rạch, ao, vườn

và các mương này hầu như không được che đậy Tỷ lệ số hộ sử dụng dịch vụ thu gom rác

là 94,1%, các hộ còn lại xử lý rác bằng cách chôn, đốt Đối với môi trường chung quanh nhà ở, có đến 18,6% số nhà trong tình trạng mất vệ sinh và ngập nước thường xuyên

Trang 39

34

So sánh giữa các khu vực ĐTH, các hộ gia đình tại khu vực ngoại thành và vùng ven có điều kiện cư trú và tiện nghi vệ sinh kém hơn các hộ gia đình sống ở khu vực nội thành Cụ thể như các hộ gia đình ở khu vực ngoại thành có tỷ lệ cao nhất về dạng nhà bán kiên cố và tạm bợ (54%), nhiệt độ trong nhà là nóng (33,6%) và đồng thời là khu vực chiếm tỷ lệ thấp nhất về số nhà có hệ thống thoát nước hợp vệ sinh (39,1%), số nhà có nhà vệ sinh tự hoại (69,5%) và tình trạng vệ sinh quanh nhà là sạch sẽ (67,2%) (Bảng 3)

Khu vực ngoại thành và vùng ven là khu vực có nguồn nước và chất lượng nước sinh hoạt kém hơn khu vực nội thành cả về mùa khô và mùa mưa (Bảng 4)

Bảng 4: Nguồn nước sử dụng cho ăn uống và vệ sinh của đa số hộ gia đình và ý kiến về chất lượng nước

Khu vực đô thị hóa Tổng số Ngoại thành Vùng ven Nội thành

Nguồn nước cho ăn uống Nước giếng

khoan

Nước máy Nước máy Nước

máy

Ý kiến “Chất lượng nước ăn uống

vào mùa khô là tạm được và xấu”

Ý kiến “Chất lượng nước ăn uống

vào mùa mưa là tạm được và xấu” -

Ý kiến “Chất lượng nước tắm rửa

vào mùa khô là tạm được và xấu”

(%)

Ý kiến “Chất lượng nước tắm rửa

vào mùa mưa là tạm được và xấu”

(%)

Nguồn: nhóm nghiên cứu, 2012

Trang 40

35

Ghi chú: Đánh giá về chất lượng nước là ý kiến của người được phỏng vấn

Tổn thương với ngập nước/nhiệt độ cao

Mức độ tổn thương của hộ gia đình với ngập nước/nhiệt độ cao được trình bày ở Bảng 5 Khoảng 71.8% các hộ gia đình nằm trong vùng tổn thương cao So sánh giữa các khu vực ĐTH, khu vực ngoại thành chiếm tỷ lệ cao nhất số hộ gia đình có mức độ tổn thương cao (75%), trong khi đó khu vực nội thành chiếm tỷ lệ cao nhất số hộ gia đình có mức độ tổn thương trung bình (30%) Đối với tỷ lệ số hộ có mức độ tổn thương rất cao, tỷ lệ này thấp nhất ở khu vực nội thành (0,2%) và cao nhất ở vùng ven (1,5%)

Như vậy, khu vực ngoại thành và vùng ven tổn thương với ngập nước/nhiệt độ cao cao hơn hơn khu vực nội thành Sự khác biệt này là do các hộ gia đình tại 2 khu vực này có

sự không thuận lợi về các biến số cơ bản như: học vấn, thu nhập bình quân đầu người, sở hữu nhà, loại nhà (Bảng 2 và 3)

Do tính không ổn định về kinh tế-xã hội, các hộ nghèo có thể chuyển sang mức độ tổn thương cao hơn trong thời gian tới

Bảng 5: Mức độ tổn thương của hộ gia đình với ngập nước/nhiệt độ cao

Vùng ven

Nội thành Mức độ tổn

Cao (0.50 - 0.74)

Rất cao (0.75 - 1.00)

Ngày đăng: 02/07/2023, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- ADB (2010), Thành phố Hồ Chí Minh thích nghi với biến đổi khí hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Hồ Chí Minh thích nghi với biến đổi khí hậu
Tác giả: ADB
Năm: 2010
2- Alam, Mozaharul, et al (2007), Impacts, vulnerability and adaptation to climate change in Asia, Background Paper for the UNFCCC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impacts, vulnerability and adaptation to climate change in Asia
Tác giả: Mozaharul Alam, et al
Nhà XB: Background Paper for the UNFCCC
Năm: 2007
3- Alex de Sherbinin, Andrew Schiller and Alex Pulsipher (2007), The vulnerability of global cities to climate hazards, , Environment & Urbanization, Vol. 19, No. 1, SAGE Publications Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: The vulnerability of global cities to climate hazards
Tác giả: Alex de Sherbinin, Andrew Schiller, Alex Pulsipher
Nhà XB: Environment & Urbanization
Năm: 2007
6- Báo Vnexpress (2012), 20% diện tích TP HCM sẽ ngập nếu nước biển dâng một mét, http:// Vnexpress.net./, ngày13/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20% diện tích TP HCM sẽ ngập nếu nước biển dâng một mét
Tác giả: Báo Vnexpress
Nhà XB: Vnexpress
Năm: 2012
11- Confalonieri , et al. (2007). Human health. In Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Inter-governmental Panel on Climate Change, Cambridge, UK: Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability
Tác giả: Confalonieri, et al
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2007
12- Công viên cây xanh (2010), Chỉ tiêu cây xanh/đầu người thực tế ở Tp.HCM, http://congviencayxanh.com.vn/, 25/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ tiêu cây xanh/đầu người thực tế ở Tp.HCM
Tác giả: Công viên cây xanh
Năm: 2010
14- Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ (2012), TP.HCM ngày càng nóng lên!, http://www.kttv-nb.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP.HCM ngày càng nóng lên
Tác giả: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ
Năm: 2012
15- Đào Ngọc Phong (1997) (chủ biên), Vệ sinh môi trường dịch tễ - Tập 1, Bộ môn vệ sinh-môi trường-dịch tễ, Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường dịch tễ - Tập 1
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
16- David Satterthwaite (2008), Climate change and urbanization: Effect and implications for urban governance, UN/POP/EGM-URB/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change and urbanization: Effect and implications for urban governance
Tác giả: David Satterthwaite
Nhà XB: UN
Năm: 2008
17- Debarati Guha-Sapir, T.J., Vos, F., Phalkey, R. and Marx, M. (2010), Health impacts of floods in Europe. Retrieved fromhttp://www.preventionweb.net/files/19820_healthimpactsoffloodsineurope1.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health impacts of floods in Europe
Tác giả: Debarati Guha-Sapir, T.J. Vos, F. Phalkey, M. Marx
Năm: 2010
18- Emerald (2013), Vulnerability to flood-induced public health risks in Sudan, Journal “ Disaster Prevention and Management” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disaster Prevention and Management
Tác giả: Emerald
Năm: 2013
19- Foa, R. and Tanner, J.C. (2012), “Methodology of the Indices of Social Development”, The Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methodology of the Indices of Social Development
Tác giả: Foa, R., Tanner, J.C
Nhà XB: The Netherlands
Năm: 2012
20- Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (2014), Hội thảo: "Tiết kiệm năng lượng - Những vấn đề cấp bách", http://www.kinhtetrunguong.vn/, 21/8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo: "Tiết kiệm năng lượng - Những vấn đề cấp bách
Tác giả: Hiệp hội Năng lượng Việt Nam
Năm: 2014
21- Hồ Long Phi (2010), “6 chương trình đột phá” Đảng bộ TPHCM đề ra: Làm quyết liệt, đồng bộ sẽ tạo sự bứt phá, http://www.sggp.org.vn/, 6/10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 6 chương trình đột phá” Đảng bộ TPHCM đề ra: Làm quyết liệt, đồng bộ sẽ tạo sự bứt phá
Tác giả: Hồ Long Phi
Nhà XB: sggp.org.vn
Năm: 2010
22- Hồ Long Phi (2011), "TP.HCM sẽ lụt như Bangkok nếu phát triển như hiện nay", Báo điện tử VN.Express, ngày 31/10/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP.HCM sẽ lụt như Bangkok nếu phát triển như hiện nay
Tác giả: Hồ Long Phi
Nhà XB: Báo điện tử VN.Express
Năm: 2011
23- Hồ Long Phi (2014), trích từ thông tin bài viết “Tỷ đô vẫn khó thoát ngập”, báo Tuổi Trẻ ngày 23/9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ đô vẫn khó thoát ngập
Tác giả: Hồ Long Phi
Nhà XB: báo Tuổi Trẻ
Năm: 2014
25- IFRC (2003). World Disasters Report 2003: focus on ethics in aid. International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Disasters Report 2003: focus on ethics in aid
Tác giả: IFRC
Nhà XB: International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies
Năm: 2003
26- IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) (2001): Climate Change 2001: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Cambridge University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change 2001: Impacts, Adaptation, and Vulnerability
Tác giả: IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change)
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2001
27- Itay Fischhendler, Orr Karasin, Z.R. (2012), “Social and Institutional Vulnerability to Natural Disasters”, in Crupi, G. (Ed.),Handbook for Institutional Responses toCoastal Hazards, Casa Editrice Università La Sapienza, online edi., pp. 13–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook for Institutional Responses to Coastal Hazards
Tác giả: Itay Fischhendler, Orr Karasin, Z.R
Nhà XB: Casa Editrice Università La Sapienza
Năm: 2012
28- J. A. Patz and S. H. Olson (2006), Climate change and Health: Global to local influences on disease risk, the Nelson Institute and Department of Population Health Sciences, University of Wisconsin,USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change and Health: Global to local influences on disease risk
Tác giả: J. A. Patz, S. H. Olson
Nhà XB: the Nelson Institute
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khung nghiên cứu - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Hình 1 Khung nghiên cứu (Trang 19)
Hình 2: Tổng dân số, dân số đô thị và dân số nông thôn TP.HCM thời kỳ 2001-2011 - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Hình 2 Tổng dân số, dân số đô thị và dân số nông thôn TP.HCM thời kỳ 2001-2011 (Trang 28)
Hình 3: Thống kê số vị trí ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các quận vùng ngoại - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Hình 3 Thống kê số vị trí ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các quận vùng ngoại (Trang 30)
Bảng 3: Đặc điểm nhà ở và tiện nghi vệ sinh của dân số nghiên cứu - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 3 Đặc điểm nhà ở và tiện nghi vệ sinh của dân số nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 8: Tiện nghi vệ sinh của hộ gia đình phân theo khu vực ngập nước - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 8 Tiện nghi vệ sinh của hộ gia đình phân theo khu vực ngập nước (Trang 44)
Bảng 9: Mức độ tổn thương của hộ gia đình với ngập nước phân theo các khu vực ngập    nước - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 9 Mức độ tổn thương của hộ gia đình với ngập nước phân theo các khu vực ngập nước (Trang 45)
Hình 10: Số case bệnh sốt xuất huyết năm 2010 và 2011 phân theo tháng - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Hình 10 Số case bệnh sốt xuất huyết năm 2010 và 2011 phân theo tháng (Trang 66)
Bảng 29: Ý kiến hộ gia đình khai báo có bệnh tật trong mùa mưa phân theo khu vực ngập    nước - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 29 Ý kiến hộ gia đình khai báo có bệnh tật trong mùa mưa phân theo khu vực ngập nước (Trang 73)
Bảng 32: Mức độ tổn thương sức khỏe do nhiệt độ cao - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 32 Mức độ tổn thương sức khỏe do nhiệt độ cao (Trang 75)
Bảng 37: Ý kiến về tác động của bệnh tật đến việc làm, học hành và vấn đề gia đình - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Bảng 37 Ý kiến về tác động của bệnh tật đến việc làm, học hành và vấn đề gia đình (Trang 80)
Hình 12: Các biện pháp người dân sử dụng để ứng phó với tình trạng nóng bức - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
Hình 12 Các biện pháp người dân sử dụng để ứng phó với tình trạng nóng bức (Trang 81)
Bảng A2: Các chỉ tiêu lựa chọn để đo lường tính tổn thương của hộ gia đình về sức khỏe - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
ng A2: Các chỉ tiêu lựa chọn để đo lường tính tổn thương của hộ gia đình về sức khỏe (Trang 128)
PHỤ LỤC 3: BẢNG THỐNG KÊ - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
3 BẢNG THỐNG KÊ (Trang 132)
Bảng B5: Ý kiến của hộ gia đình về mùa trong năm có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
ng B5: Ý kiến của hộ gia đình về mùa trong năm có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (Trang 138)
Bảng B6: Tỷ lệ gợi ý các hành vi phòng ngừa bệnh tật - Ngập nước, nhiệt độ tăng và các bệnh tật liên quan tại thành phố hồ chí minh   giai đoạn 2001 2011 báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
ng B6: Tỷ lệ gợi ý các hành vi phòng ngừa bệnh tật (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w