1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số nét đặc sắc của di tích quốc gia lăng ông tiền quân thống chế điều bát nguyễn văn tồn công trình dự thi giải thưởng khoa học sinh viên euréka lần 8 năm 2006

46 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số nét đặc sắc của di tích quốc gia Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
Trường học Trường Đại học Vĩnh Long
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Báo cáo thực hiện đề tài
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 11,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không ngững có giá trị văn hóa lịch sử, Lăng Ông Thống Chế Điều Bát còn là một minh chứng cho sự gắng kết, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc sống trong vùng đặc biệt là các dân tộc Kinh,

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”

LẦN 8 NĂM 2006

TÊN CÔNG TRÌNH : MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC CỦA DI TÍCH QUỐC GIA LĂNG ÔNG TIỀN

QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN

THUỘC NHÓM NGÀNH : KHOA HỌC XÃ HỘI

Mã số công trình :………

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 5

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN 5

1.1 Sơ lược tiểu sử 5

1.2 Sự nghiệp của Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 5

Chương 2 10

NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CỦA LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN 10

2.1 Quá trình xây dựng Lăng 10

2.2 Những nét đặc sắc của Lăng: 11

Chương 3 16

LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ XUNG QUANH VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỊCH SỬ CỦA LĂNG 16

3.1 Lễ Túc Yết 16

3.2 Lễ chánh tế 17

3.3 Nghi thức phơi sắc Ông lớn 18

3.4 Những nét đặc sắc tiêu biểu trong lễ hội văn hóa của Lăng Ông 19

3.5 Những vấn đề xung quanh việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử 20

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

PHỤ LỤC 24

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Di tích Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn là một di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia tọa lạc tại Giồng Thanh Bạch Ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn

hóa tinh thần của nhân dân quanh vùng cũng như các vùng lân cận

Hằng năm cứ vào dịp Giỗ Ông (Mồng Ba, Mồng Bốn tết Nguyên Đán), người dân lại nô nức đến để dâng hương cầu mọi điều tốt lành, những ngày ấy từ lâu đã trở thành những ngày lễ hội đầu xuân, một nét sinh hoạt văn hóa hết sức độc đáo của nhân dân quanh vùng

Không ngững có giá trị văn hóa lịch sử, Lăng Ông Thống Chế Điều Bát còn là một minh chứng cho sự gắng kết, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc sống trong vùng đặc biệt là các dân tộc Kinh, Hoa, Kh’mer…Ông được xem như là thần đem lại sự may mắn, an lành, hạnh phúc cho nhân dân, dù đó là người Kinh, Hoa hay Kh’mer…

Cũng chính vì lí do đó, đã thôi thúc người thực hiện đề tài hướng toàn tâm vào việc tìm hiểu và nghiên cứư những nét văn hóa đặc sắc của lăng Đó cũng là đưa ra một minh chứng nữa cho kho tàng văn hóa truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta được đúc kết từ bao thế hệ đó là truyền thống đoàn kết, yêu thương nhau, hòa quyện lại tạo nên những nét văn hóa rất đặc sắc và rất riêng của con người Việt Nam Từ

đó góp một phần chứng minh cho truyền thống đoàn kết dân tộc, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Người nghiên cứu rất mong nhận được những đóng góp quý báu của các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu cũng như quý độc giả để đề tài ngày một hoàn thiện hơn

Trân trọng!

Người thực hiện đề tài

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Di tích Lăng Ông Thống Chế Điều Bát là một di tích cấp Quốc gia Ngoài

sự quan tâm giữ gìn bảo vệ của các cơ quan chức năng thì cũng nên có sự quan tâm nghiên cứu hơn nữa, đóng góp thêm vào việc gìn giữ và phát triển những nét văn hóa truyền thống của Lăng Nhu cầu đó cũng là nhu cầu khách quan phù hợp với thực tế

- Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề gìn giữ và phát triển những nét văn hóa truyền thống dân tộc Do đó đề tài sẽ là một đóng góp kịp thời bổ sung thêm vào kho tư liệu, giúp các cơ quan chức năng có thêm nguồn tư liệu cho hoạt động của mình ngày một tốt hơn trong việc xây dựng các kế hoạch bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của Lăng nói riêng, các giá trị văn hóa dân tộc nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Ngoài nước: Trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực tương tự từ nghiên cứu những kiến trúc và văn hóa của những công trình địa phương đến các công trình nổi tiếng thế giới

Đây chỉ là một số tác phẩm tiêu biểu ngoài ra còn có các công trình khảo cổ nghiên cứu các di sản văn hóa của các quốc gia Tất cả các công trình nghiên cứu đã đóng góp rất nhiều cho những hiểu biết của nhân loại những hiểu biết quan trọng các công trình kiến trúc cũng như những nét văn hóa độc đáo của con người Tuy nhiên chưa thấy công trình khoa học nào đề cập đến di tích Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn

2.2 Trong nước: Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu tương tự, đây là nguồn tư liệu rất có ích cho tác giả khi thực hiện đề tài

 “Cần Thơ xưa”, tác giả Huỳnh Minh, nhà xuất bản Thanh niên 2001 Đây là tác phẩm cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho đề tài bởi Trà Ôn khi xưa thuộc Cần Thơ

Trang 5

 Di tích Lăng Ông Tiền Quân cũng đã được Ban Tuyên Giáo tỉnh Vĩnh Long nghiên cứu và giới thiệu trong “Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long 1732-2000”

 Lăng Ông cũng được giới thiệu trong “Di tích lịch sử văn hóa Vĩnh Long” của Bảo Tàng Vĩnh Long tháng 12-2004

 Ban bảo vệ di tích cũng có thực hiện, nghiên cứu để làm tư liệu và được giới thiệu trong “Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Lăng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn”, Từ Hoàng Đương,1996

Hầu như các công trình nghiên cứu mang tính khoa học cao nhưng đề cập đến

di tích Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyên Văn Tồn tương đối ít do phải nghiên cứu các di tích khác nữa và số lượng các công trình cũng không nhiều Duy chỉ có thực hiện nghiên cứu của Ban bảo vệ di tích là đề cập tương đối sâu, nhưng cũng có một số vấn đề cần phải nghiên cứu thêm Điều này cho thấy công trình nghiên cứu của tác giả cũng ít được đề cập nhiều trong giới khoa học, khi hoàn thành công trình sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên cứu các di tích ở quê hương của tác giả

3 Mục đích và nhiệm vụ đề tài

3.1 Mục đích:

Nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát và giới thiệu những nét đặc sắc của Lăng về kiến trúc và các lễ hội văn hóa, tín ngưỡng của người dân trong vùng đối với Lăng Ông Qua đó thấy được vai trò quan trọng của Lăng Ông trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân, thấy được truyền thống đoàn kết, những nét chung trong đời sống của nhân dân

Đề ra những giải pháp nhằm duy trì và bảo vệ hiệu quả những nét kiến trúc và những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tốt đẹp của người dân đối với Lăng

3.2 Nhiệm vụ:

Thực hiện tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn những nét tiêu biểu và đặc sắc trong kiến trúc của Lăng

Trang 6

Thực hiện tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn các lễ hội văn hóa, tín ngưỡng của người dân quanh vùng đối với Lăng Ông

Thực hiện tìm hiểu và nghiên cứu vai trò của các lễ hội văn hóa Lăng Ông đối với việc đoàn kết các dân tộc quanh vùng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận:

Đề tài nghiên cứu dựa trên phép biện chứng duy vật lịch sử, dựa trên quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng các phương pháp chuyên ngành khảo cổ học, lịch sử, logic, thống kê, miêu tả…

6 Đóng góp mới của đề tài

Góp phần hệ thống và đi sâu nghiên cứu di tích Lăng Ông Từ đó sẽ củng cố hơn nữa những hiểu biết về Lăng và đề ra những biện pháp để có thể phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa của Lăng

Trang 7

7 Ý nghĩa lý kuận và ý nghĩa thực tiễn

7.1 Ý nghĩa lý luận:

Đề tài sẽ đóng góp một phần vào kho tư liệu về di tích văn hóa lịch sử có tại địa phương, đi sâu nghiên cứu một di tích cụ thể, làm nổi bật những nét đặc sắc của Lăng nói riêng, của các di tích văn hóa lịch sử nói chung

Trang 8

Chương 1

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT

NGUYỄN VĂN TỒN

1.1 Sơ lược tiểu sử

Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn sinh năm 1763 mất năm 1820 là người làng Nguyệt Lãng, huyện Vĩnh Bình, nay là xã Bình Phú huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh

Ông là người Kh’mer, tên thật là Thạch Duồng, quý danh là Duyên, người trong vùng gọi ông là Tà Duồng với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc

Ông sinh ra trong giai Đoạn đất nước xảy ra cuộc chiến giữa các Chúa Nguyễn

và Tây Sơn và trong giai đoạn nhà Nguyễn thống nhất đất nước mở cõi ở phía Nam Ông rất mực trung thành với nhà Nguyễn “khi chúa Nguyễn bôn tẩu trong Nam, Ông theo giúp, chúa Nguyễn cảm khích phong Ông làm chức Điều Bát”[3:102] và được mang “Quốc thích” là Nguyễn Văn Tồn, khi ông mất được truy tặng là “Tiền Quân Thống Chế Điều Bát” “Thống Chế là một chức quan thời Nguyễn thống quản một đội Quân ” Chữ “Bát” ở đây có nghĩa là “Qua lại-lúc bên này lúc bên kia hay sang qua sang lại” chứ không phải là “Đạo quân thứ Tám” Như vậy “Tiền Quân Thống Chế Điều Bát” đó chính là “quan thống quản các đội quân tiên phong đó có thể là bộ binh cũng có thể là thủy binh,…”

1.2 Sự nghiệp của Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn

Ở vùng Trà Vinh-Vĩnh Long xưa vào những năm 80 của thế kỉ thứ 18, thường xảy ra nạn cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng do loạn Óc-nha gây ra (loạn của Người Kh’mer) Để ổn định tình hình ở khu vực này năm 1780 được lệnh của Nguyễn Ánh, Ông đã phối hợp cùng Đỗ Thành Nhơn và Khâm sai đại thần Dương Công Trừng đi đánh dẹp để giúp nhân dân trong vùng ổn định cuộc sống, có điều kiện khai hoang đất đai

Nguyễn Ánh cho ngài xây dựng một đồn binh ở Cầu Kè, Trà Ôn vào năm

Trang 9

thành các xóm làng mới, các dân tộc Kinh, Kh’mer, Hoa… cùng chung sống hòa thuận với nhau họ cũng chính là những dân binh gìn giữ trật tự an ninh của xóm làng

và được hưởng quy chế khá rộng rãi, từ đó thì xóm làng càng trở nên đông đúc, trù phú

Việc dựng đồn binh không những có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự mà còn có ý nghĩa to lớn cho việc hình thành xóm làng, tạo điều kiện để nhân dân có thể khai hoang thêm đất đai, cũng như là việc đoàn kết các dân tộc anh em, góp phần ổn định và thống nhất một vùng rộng lớn còn hoang sơ rất nhiều

Do có nhiều công lao trong việc phò tá Nguyễn Ánh và cũng là người rất có tài, nên năm 1802 Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi vua (lấy hiệu là Gia Long), Ông Nguyễn Văn Tồn được thăng chức, được lệnh thống suất đạo binh bộ hạ của mình trấn thủ nơi quê nhà, lập đồn bảo tại Trà Ôn, đạo Trấn Giang tại Cần Thơ kiêm quản

lí hai phủ Trà Vinh và Mân Thít đặt dưới quyền dinh Vĩnh Trấn(Long Hồ)

Nhà Nguyễn thống nhất đất nước rất chú tâm đến việc mở mang bờ cõi phía Nam, đây là vùng đất mới trù phú đầy hứa hẹn Tuy nhiên công cuộc khai khẩn cũng gặp rất nhiều khó khăn Do người Xiêm luôn có dã tâm xâm chiếm các vùng đất mới khai khẩn của nhà Nguyễn, chúng liên tục mở những cuộc chiến xâm lược xứ Cao Miên thôn tính nước này, làm bàn đạp tấn công ta Nắm được điều đó vua Gia Long

đã điều động tướng sĩ lên xứ Cao Miên đóng quân để bảo vệ an toàn biên giới

Năm Gia Long thứ chín (1810), ngài Điều Bát đem các bộ hạ theo Gia Định Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn, cùng Tả Định Đô Thống Chế Lê Văn Phong, Định Tường trấn thủ Thoại Ngọc Hầu, Vĩnh Thanh trấn thủ Lưu Phước Tường lên Nam Vang bảo hộ xứ Cao Miên trấn dẹp quân Xiêm

Tháng chạp cuối năm 1810, đại sự bình định xong xuôi cả, ngài được lệnh vua tổng suất 1.000 quân Oai Viễn đồn (đồn Trà Ôn) để trấn thủ đồn Nam Vang tại đây Ngài đã khôn khéo tạo được sự gắn bó với quân sĩ với các bạn đồng liêu tạo được sự đoàn kết giữa các dân tộc anh em Việt, Kh’mer, Hoa Cùng sống với nhau như người một nhà Ngài đã hợp tác với ông Diệp Mậu người Kh’mer, ông Diệp Hội

Trang 10

người Hoa che chở cho vua rất đắc lực Chính việc làm đó đã thể hiện bản lĩnh của Ông trong việc thắt chặt tình đoàn kết các dân tộc anh em

Năm 1811 sau khi việc trị an ở Cao Miên xong, ông trở về trấn thủ ở đồn Uy Viễn (đồn Trà Ôn) Triều đình ban thưởng cho ông 10 nén vàng, 30 nén bạc, hai trăm quan tiền và nhiều vật phẩm quý Ông và phu nhân rất quan tâm đến đời sống nhân dân trong vùng, nhiều lần giúp vàng bạc tiền của cho việc xây dựng chùa chiền trong vùng, lập lò rèn để làm công cụ phát cho dân khai hoang, đào kênh, làm ruộng…chu cấp cho dân binh tiền để khai hoang mở đất Trong “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của Sơn Nam có ghi: “…vùng Trà Ôn yên ổn là nhờ có Nguyễn Văn Tồn, người hữu công, trong thời gian phục quốc được mang họ Việt Nam, nắm được nhân tâm…”

Năm Gia Long thứ 10 (1811), vua Gia Long triệu ngài Điều Bát về kinh để hỏi tình hình bảo hộ xứ Cao Miên, thăng cho ngài chức Thống Chế vẫn điều khiển đồn Oai Viễn, trấn thủ thành Nam Vang và phong tước cho ngài là Dung Ngọc Hầu

Năm Gia Long thứ 11(1812) có cuộc nội chiến ở xứ Cao Miên giữa vua Nặc Ông Chân và em của mình là Nặc Nguyên Nặc Nặc Nguyên Nặc cầu viện 10.000 quân Xiêm đưa về nước gây chiến với anh của mình theo đường Bat-tam-bang tiến gần đến Oudong Được lệnh của vua Gia Long, ông dẫn quân lên chống trả Khi ấy Thoại Ngọc Hầu cũng đem quân tiếp viện Hợp khoảng 31.000 quân chặng đứng quân Xiêm ở La Vách Còn Nặc Ông Chân cùng bộ hạ khoảng 15.000 người lánh nạn ở thành Gia Định Một thời gian thì Xiêm gây chiến với Miến Điện phải rút binh nên cầu hoà với Gia Long Về công cuộc bảo hộ xứ Cao Miên, trong “Gia Định Thành thông chí” có viết: “…Ngày 28 Nặc Ông Chân đem gia quyến xuống thuyền

và đem bọn bề tôi chạy xuống đạo Tân Châu, còn em của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Yêm trước đêm 29 đã chạy vào đồn binh nước Xiêm, vừa lúc gặp binh Gia Định đến

hộ tống Nặc Ông Chân về thành[5;41]

Trang 11

Thoại Ngọc Hầu thống quân đồn Oai Viễn, Dung Ngọc Hầu đóng ở Lò Xứ trấn thủ Vĩnh Thanh, Tường Quan Hầu Lưu Phước Tường đóng ở địa đạo Châu Đốc bảo

hộ, chống địa đầu binh nước Xiêm đóng lại ở Vĩnh Long…”

Việc ổn định sứ Cao Miên có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc mở mang bờ cõi, nó cũng đã góp phần ổn định vùng đất phía Nam của nhà Nguyễn, Nguyễn Văn Tồn cũng đã có công rất lớn trong việc giúp triều đình thực hiện công việc trên

Năm Gia Long thứ 18(1819), khi đào kênh Vĩnh Tế ngài đã cùng với bộ hạ ở đồn Oai Viễn họp với lực lượng người Việt ở Vĩnh Thanh, Định Tường cùng với Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế Kênh Vĩnh Tế phải đào trong 5 năm mới xong

và gặp rất nhiều khó khăn, phải huy động sức người sức của rất lớn, có đoạn phải qua vùng sình lầy, có đoạn đi sát chân núi khó đào, vào mùa nắng có đoạn phải ngưng lại vì thiếu nước cung cấp cho dân phu Mặc dù vậy vua Minh Mạng vẫn tiếp tục công trình của vua Gia Long đề xướng vì đây là công trình có giá trị đặc biệt quan trọng đối với an ninh biên giới cũng như việc phát triển kinh tế đất nước Con kênh Vĩnh Tế hoàn thành có công lao rất lớn của Thoại Ngọc Hầu, nhưng trong đó cũng có phần đóng góp rất lớn của các vị công thần khác trong đó có Nguyễn Văn Tồn

Mùng 4 tháng giêng âm lịch, năm Minh Mạng Nguyên Niên 1820 Thống Chế Điều Bát thọ chung nơi trấn thủ, được vua Minh Mạng sắc phong là “Dung Ngọc Hầu”, truy tặng “Thống Chế Tướng Quân” “ Vua dụ bộ Lễ rằng: “Nguyễn Văn Tồn tuy là người ngoài giáo hóa, nhưng làm tôi thờ Tiên đế, đã nhiều năm vất vả, một lòng trung thành, rất đáng thưởng” Bèn sai quan dụ tế, cho hai cây gấm Tống,

20 tấm vải, 200 quan tiền…”[4:41]

Còn về bà phu nhân sau khi bà mất ngày 17 tháng 2 âm lịch thì cũng được chôn cất bên cạnh ngôi mộ của ông( song phần) bà được vua Minh Mạng ban khen

mỹ tự: “Hiền thục phu nhân Thống Chế đại quan”

Trang 12

Tóm lại sự nghiệp của Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn đó chính là sự nghiệp đoàn kết các dân tộc anh em cùng nhau chung sức khai hoang ở vùng Trà Vinh, Vĩnh Long…, Ông cũng là người có công trong việc đào kênh Vĩnh Tế, nhưng quan trọng nhất đó chính là công cuộc đoàn kết các dân tộc anh em trong vùng, đó cũng chính là một minh chứng cụ thể cho tinh thần đoàn kết của cha ông ta một truyền thống cao quý tốt đẹp được vun đắp từ bao đời nay Cũng chính vì thế mà những lễ hội của Lăng ngày nay luôn mang đậm tinh thần ấy dù đó là người Kinh, Kh’mer hay Hoa… cũng đều biết ơn ông một vị công thần của đất nước là người có công rất lớn cho sự hình thành xóm làng, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân

Trang 13

Chương 2 NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CỦA LĂNG ÔNG

TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN

2.1 Quá trình xây dựng Lăng

Mộ ông và phu nhân được xây dựng năm 1820, triều đình còn cử người trông coi nhang khói cho ông bà

Năm 1820 Nguyễn Văn Tồn mất, ngày 17 tháng 2 âm lịch năm ấy bà cũng mất Triều đình cho xây khu lăng mộ có kết cấu bằng vôi ô dước, mật ong và đường trên

gò đất cao Đây là song phần gồm mộ Ông bên phải và mộ bà bên trái, mộ Ông cao hơn mộ Bà Trước mộ có ghi tên, tuổi, nơi sinh, ngày mất của Ông Bà và chức vụ cao nhất của Ông Hiện nay sau khi trùng tu lại thì “… Phần mộ Thống Chế Điều Bát Nguyễn văn Tồn và phu nhân làm theo kiểu song hồn, nằm phía sau miếu thờ Xung quanh mộ có tường hoa, có bình phong, trụ liễu,…trang trí hình lá, giao long

và có cặp kì lân đứng hầu Trên trụ liễu có câu đối ngắn đã thể hiện đức độ người mất:

“ Hoa di cộng ngưỡng

Mân Quảng đồng tri”

(Người Hoa, người Khơme đồng ngưỡng mộ

Người Phúc Kiến, người Quảng Đông đều nhớ ơn.)…”[1:254]

Năm 1828 Minh Mạng cửu niên sắc phong Ông “Thành hoàn bổn cảnh trung dũng thiên trực”

Nhưng một thời gian sau thì việc hương lửa cho Ông, Bà không có người trong dòng họ trông nom “…Theo Đại Nam liệt truyện, Thống chế Nguyễn Văn Tồn có một người con tên Yên Vy, làm Vệ uý ở đồn Tịnh Biên(Châu Đốc) Có người tố cáo

Vy đã theo Lê Văn Khôi Nhưng rồi Vy mất, Minh Mạng nghĩ tình cha nên bỏ qua, không truy cứu Có lẽ do nguyên cớ ấy hậu duệ của ông bị suy sụp,việc hương lửa phó mặc cho dân địa phương Mãi đến đầu thế kỉ XX, dân địa phương nghĩ công

Trang 14

đức, trùng tu miếu mộ và thành lập hội “Mỹ Thanh” để lo việc hương hỏa cho vị cơng thần này…”[1:253]

Năm 1937 xây dựng Nhà khĩi(Tây Lang) và hàng rào

Năm 1963 xây dựng cổng Tam Quan

tổ chức chu đáo hơn

Nhưng từ 1976 đến 1992 thì di tích bị xuống cấp trầm trọng, nhiều vật dụng thờ cúng bị mất mát, hư hao, thất lạc, di tích Lăng Ơng bị quên lãng

Tháng 2 năm 1992 Lăng Ơng Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn được khơi phục, một Ban tế tự được thành lập, đứng ra trơng nom di tích, được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, ngành Văn hĩa thơng tin, sự đĩng gĩp cơng đức của hiện kim, hiện vật của nhân dân địa phương và các nơi để trùng tu lại di tích Đây là việc làm hết sức cĩ ý nghĩa nhằm khơi phục lại những giá trị văn hố lịch sử của khu di tích

Năm 1992 tiến hành phục chế lại hương án, trồng cây, hoa kiểng…

Năm 1993-1994 xây dựng hàng rào, cổng chính, hồ sen, cầu…

Năm 1997 xây dựng nhà thủy tạ, cổng phụ(phía Đơng) Trùng tu ngơi chính điện

Cơng việc trùng tu bảo tồn di tích vẫn thực tiếp tục cho đến bây giờ

2.2 Những nét đặc sắc của Lăng:

2.2.1 Phần mộ của Ơng Bà

Lăng mộ dược xây năm 1820, diện tích 14m x 16,5m, diện tích phần mộ là 3,7m x 3,8m, phần mộ Ơng bên phải cao hơn phần mộ Bà bên trái Mặt chính diện lệch hướng Đơng nam Khi vào Lăng mộ là tấm bình phong cao1,9m chiều ngang

Trang 15

2,1m trên bình phong đắp nổi cảnh rừng núi, muôn thú cả hai mặt, mang những nét đặc trưng của vùng Nam Bộ khi xưa, phía trước tấm bình phong có câu đối

“Huê lại đồng ngưỡng

Mân Việt lộ ân”[5;33]

Trước phần mộ của Ông là bia mộ ghi dòng chữ Hán

“DUNG NGỌC HẦU TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT TƯỚNG QUÂN NGUYỄN VĂN TỒN TƯỚNG QUÂN CHI MỘ HẠNH NHƯ NHẤT LỤC TAM NIÊN TẠI TRÀ VINH CHUNG NHƯ CANH THÌN NIÊN CHÁNH NGUYỆT SO TỨ NHẬT”

Hai bên là câu đối đỏ:

“Hách biên linh uy

Hương phi vô thần”[5;33]

Hàng rào xung quanh xây dựng năm 1960 bằng xi-măng cốt sắt, gạch Trên mỗi trụ là một búp sen 5 cánh bằng sành hình cá hóa rồng, hình lân, hình qui với hoa văn độc đáo, bên tả và hữu của khu mộ có tượng của hai con kì lân, có ý nghĩ là hai con vật thiêng canh giữ cho phần mộ Ông Bà, càng tôn thêm vẻ uy nghiêm cho khu mộ, đúng phong cách các lăng mộ lớn ở Nam Bộ

Đối với thuật phong thủy thì mộ Ông Bà có vị thế ngay gò đất “Qui bối”(lưng rùa) đúng vào vị thế đất tốt lâu dài “Mộ Ông Bà được song táng theo “Càn khôn hiệp đức”, nằm song song nhau, giống nhau về chất liệu lẫn hình thức Đầu phần mộ nhìn về hướng Nam theo quan niệm: “Dĩ hòa đức vượng” nghĩa là đời sau này con cháu sẽ được thịnh vượng Đặc biệt phần mộ của Ông Bà hầu như đây là phần được giữ nguyên bản không bị phục chế lại cho nên phần mộ có giá trị hết sức to lớn về mặt lịch sử và khảo cổ học”.[5;22]

2.2.2 Cổng Tam Quan:

Được xây dựng năm 1963, giáp với tỉnh lộ 37 đi Cầu Kè (Trà Vinh), nhìn chung vật liệu xây dựng là sắt, thép, xi-măng, gạch với mái ngói âm dương Cổng Tam Quan rộng 6,2m trên nóc có đôi rồng châu ngọc và đôi cá hóa rồng Hai đầu mái ngói có hoa văn hình cánh dơi, đồng tiền, phía trên là hang chữ màu đỏ ghi:

Trang 16

“Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát”

Có ba cửa vào Lăng, cửa lớn ở giữa, trên cửa có dòng chữ màu vàng ở giữa:

“Thần linh hiển chiêu bắc vạn cổ linh hương

Miếu mạo ngưỡng nguy nga thiên tự điền”[5;27]

Hai cổng nhỏ ở hai bên, cũng có câu đối:

“Nhất giới cô tiên thời gian kỳ báo quốc

Thiên thu chánh khí thế vụ tại an dân”[5;27]

2.2.3 Cổng chính và hàng rào

Được xây dựng năm 1953, chủ yếu bằng xi-măng, cốt sắt, gạch,… dài 62m, cao 2m, trên thành hàng rào là tấm bình phong vẽ cảnh non nước, mặt trước là hình tượng long hổ tranh châu Cổng chính ngói lợp bằng tôn xi măng để tấm cờ ngũ sắc vào dịp lễ hội, hai bên cổng là hai câu đối

“Huân danh chiếu nhật tự cập thiên thu

Đức nghiệp sơn hà tình thương tứ hải”[5;28]

2.2.4 Chính điện

Lúc đầu làm bằng gỗ, vách ván, lợp ngói Đầu thế kỷ 20 xây dựng lại với diện tích khoảng 200m2 bằng gỗ quý, vôi ô dước, đường…có 4 mái tạo thành hình bánh ích, xiên câu vào nhau, mái lợp ngói âm dương thường gọi là “nhà trinh”, đầu mái ngói trang trí hoa văn sành màu xanh hình đồng tiền và cánh dơi Trong gian chính điện có 4 cột gỗ đen gọi là “Tứ Trụ”, mỗi cột có một câu liễn ca ngợi công đức của Tiền Quân Đặc biệt phía trên nóc có đôi rồng châu nhật nguyệt

Chính điện có 3 cửa sơn màu đỏ, bằng gỗ, cửa lớn ở giữa có kích thước 1,6m x 2,4m, trên cửa ghi: “Mỹ Thanh Hội Quán” màu đỏ, hai bên cửa lớn là hai câu đối bằng gỗ màu đen chữ vàng:

“Mỹ đức tất hữu lâm châu liên bích hạp

Thanh lý an nghiệp ngọc túy kim hòa năng”[5;30]

Hai cửa nhỏ cũng có hai câu đối bằng xi măng màu đỏ chữ vàng:

“Quý tỵ niên quan chức hội viên tái tu miếu vũ

Trang 17

“Hách tạo nhất thiên cử tư dân hàm quy lợi tô

Uy hùng bán cổ chiên bách tánh cộng hưởng hồng ân”[5;30]

Ngay cửa chính điện là bàn thờ hội đồng có: Di ảnh bác, ảnh Lê Văn Duyệt, Trương Công Định và thần vị của ông Thống Chế Điều Bát Tả và hữu là hai dàn binh khí làm bằng gỗ và kim loại, đặc biệt phía trên nóc là Bình phong long cửu vân màu xanh có từ thế kỷ thứ 19

Sau bàn thờ hội đồng là bàn thờ trung tâm chính điện thờ ông Tiền Quân Nguyễn Văn Tồn Đó là một khánh thờ sơn son thiếp vàng bên trong có hộp đựng sắc của Ông Chân dung của Ông đặt giữa khánh thờ với dòng chữ “Cung Thánh Chúc”, ở hai bên có hai câu đối:

“Vạn cố uy danh lưu vương khí

Thiên thu linh tích kiều anh phong”[5;31]

Phía trước là cây gươm dài đã được phục chế đặt trên giá gỗ Các vật dụng để thờ như: lư, chân bàn, lư hương…được sắp xếp trật tự Khánh thờ được làm bằng gỗ chạm lộng, hình cúc điếu rất tinh xảo, khéo léo Tả và hữu là hai giàn cờ trận lộng bằng vải, đủ màu, được kê trên khung gỗ màu vàng Long đình bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trên nóc có hình tượng đôi rồng tranh ngọc châu, phía trên Long đình là

lá cờ đỏ có treo phẩm phục triều đình ban thưởng cho Ông, được may bằng vải gấm Bên phải là bàn thờ “hữu ban”, có câu đối:

“Mừng gia lập nghiệp tài nguyên chủ

Nắng đài chiêu cảm chúc sinh hoa”[5;31]

Kế đến là giá võng của Ông khung sườn là gỗ màu đỏ

Tiếp tiếp là bàn thờ phó soái Nguyễn An, là một nghĩa quân kháng Pháp người Trà Ôn, có di ảnh của Phó soái, hai bên là hai câu đối:

“Nhật chiếu kim chuyên trình thoại sắc

Yên phú ngọc đỉnh hữu dư hương”[5;31]

Bên trái đầu tiên là rương đựng phẩm phục của Ông Tiền Quân, được làm vào năm 1923 Kế đến là trống chầu và Đại Hồng Chung đặt trên sường bằng gỗ sơn đỏ Bàn thờ tả ban đối diện bàn thờ hữu ban, cũng có câu đối

Trang 18

“Bảo đỉnh thông nghinh hương kết thái

“Anh phong giao khuất giang thiêng ngoại

Khôn đúc trường thùy đâm quốc trung”[5;32]

Gian chính điện với sự bày trí mang tính đặc trưng của đình miếu Nam Bộ, , không gian hư ảo, linh thiêng đảm bảo vẻ uy nghiêm nơi thờ tự Với lối kiến trúc phù hợp với tâm linh của người dân Nam Bộ Khu Lăng mộ nói chung, gian chính điện nói riêng là nơi rất linh thiêng, có vị trí quan trọng tâm linh của mọi người Ngoài ra Lăng còn có Nhà khói(Đông lang) được xây dựng 1937, sân khấu xây

1953, Võ ca xây 1953, hồ sen xây 1967 và phần ngoại vi khá rộng với nhiều cây cổ thụ, hoa kiểng quí

Nhìn chung dù được trùng tu lại nhiều lần và làm nhiều công trình mới, nhưng Lăng Ông Tiền Quân vẫn giữ được những nét kiến trúc đặc trưng và truyền thống của đình chùa Nam bộ Những công trình kiến trúc này vẫn giữ được những nét uy nghiêm, linh thiêng ở nơi thờ tự Đây cũng chính là những nét văn hóa truyền thống của cha ông ta từ bao đời nay cần phải được giữ gìn và nghiên cứu thêm duy trì những nét văn hóa tốt ấy chính là trách nhiệm của mỗi chúng ta

Trang 19

Phẩm vật cúng là các sản vật được thu hoạch từ ruộng vườn, gồm có: một con lợn trắng làm sạch sẽ nhưng chưa nấu chín đặt nằm sấp trên mâm, một dĩa đựng huyết có nhúng lông lợn, các mâm sôi rặc (không có đậu), mâm trái cây, mâm bánh của các kì lão và ban hội hương Bên cạnh các phẩm vật này còn có mâm trầu cau, dĩa gạo muối,… tất cả đều được đặt trên bàn hội đồng

Vào lễ, ông chánh bái, các bồi bái niệm hương trước hương án, tiếp đó là “khởi cổ” Một kì lão đánh ba hồi trống, một ông đánh liền ba hồi chuông thì ngay lúc đó nhạc lễ nổi lên, các học trò lễ dâng hương, chúc rượu hiến trà cùng với lời ông chánh bái đọc “nghinh thần cúc cung bái”

Ông cháng bái đi là người đi đầu kế tiếp là hai bồi bái, đi sau nữa là các học trò

lễ Ông chánh bái rót rượu để học trò lễ dâng lên cúng hương án Ông Lần lượt dâng lên ba lần rượu, người ta gọi là chúc tửu, ba tuần trà Tiếp đến là bản văn tế được đưa đến, bản văn tế được đọc một cách dõng dạc, nghiêm trang, trong tư thế quì gối của ông chánh bái Trong buổi cúng có hai người xướng lễ, một xướng nội, một xướng ngoại phụ trách phần xướng cho các động tác

Sau khi đọc văn tế xong, ông chánh bái bồi bái và các học trò lễ trở ra trước hương án hội đồng cầm một nhánh bông nhúng vào cái ly rồi vẩy nước ra xung quanh và khẩn nguyện bốn câu:

“Nhất xái Thiên Thanh”(cầu cho mưa thuận gió hòa)

“Nhị xái địa linh”(cầu cho đất đai mầu mỡ)

Trang 20

“Tam xái nhơn trường” (cầu cho người dân sống lâu)

“Tứ xái quỷ diệt”(cầu cho kẻ ác không còn)

Ông chánh bái đọc xong trở ra phía đặt trống đánh liền ba hồi Lúc này nhạc lễ

và nhạc của đoàn hát bội sẽ chiêng trống nổi lên Tuồng hát đầu tiên trong “Tam xuất”(ba tuồng) sẽ được bắt đầu trình diễn Các tuồng hát đều mang tính lịch sử như:

Lí Thường Kiệt bình Tống, Mộc Quế Anh, Lưu Kim Đính, Hoa Mộc Lan…các vở tuồng kéo dài đến tối và kết thúc thì mọi người ra về cũng là lúc kết thúc Túc Yết trong ngày mùng Ba

3.2 Lễ chánh tế

Lễ này tổ chức vào ngày mùng Bốn tháng Giêng âm lịch hằng năm Lễ này cũng giống như lễ Túc Yết được tổ chức bởi các kì lão trong làng, ban hội hương và nhân dân nhiều nơi về dự, có ý nghĩa rất lớn và chiếm vị trí hết sức quan trọng không thể thiếu trong ngày giỗ của Ông Tiền Quân Có một điểm khác là trong lúc dâng hương, chúc rượu, hiến trà, ông chánh bái không đọc “Nghinh thần cúc cung bái” mà đọc “Tạ thần cúc cung bái”

Như vậy lễ cúng Ông Dung Ngọc Hầu Tiền Quân Thống Chế Điều Bát diễn ra hằng năm được tổ chức bởi hai lễ, đó là lễ Túc Yết và lễ Chánh tế và kết thúc khi tuồng hát bội thứ ba kết thúc

Lễ Túc Yết và lễ Chánh tế, thể hiện sự tôn kính, biết ơn của người dân đối với bậc tiền nhân đó là Ông Nguyễn Văn Tồn Người dân dâng lên Ông những phẩm vật những hoa lợi từ ruộng vườn trù phú, nơi mà Ông xưa kia đã dày công khai khẩn Ngoài ra các lễ còn mang ý nghĩa là cầu xin Ông lớn ban phước lành, cầu cho mùa màng tốt tươi quốc thái dân an

Các lễ hội diễn ra ở Lăng mang đậm những nét đặc sắc của các lễ hội đình chùa Nam Bộ Tuy nhiên ở Lăng Ông các lễ hội lại diễn ra và dịp tết Nguyên Đán của dân tộc nên càng có ý nghĩa đặc biệt hơn Ngoài ý nghĩa là thờ cúng tưởng nhớ công ơn Ông Tiền Quân đây còn là dịp để nhân dân trong vùng đến vui chơi trong những ngày tết và cũng chính vì thế mà Lăng Ông còn là nơi để nhân dân đến để nguyện

Trang 21

cầu những điều tố lành cho năm mới cho bản thân, gia đình, quê hương…Do đó ý nghĩa tâm linh ở Lăng càng được tôn cao

3.3 Nghi thức phơi sắc Ông lớn

Theo tục lệ các bậc tiền hiền, cứ ba năm một lần hội hương làng Thiện Mỹ, có nghi thức phơi sắc Ông lớn với ý nghĩa bảo quản sắc của Ông được tốt đẹp

Nghi thức phơi sắc phong của đức Ông lớn bắt đầu từ 12 giờ trưa ngày 17 tháng 2 âm lịch Khi bắt đầu vào lễ, ông chánh bái, bồi bái và ban hội hương có mặt trong chính điện Đúng 12 giờ lễ phơi sắc tiến hành Ông kì lão sẽ thắp hai cây nến trên hương án Ông lớn Ông chánh bái và ban hội hương sẽ niệm dâng rượu, dâng trà cầu nguyện ông chánh bái sẽ thỉnh mảo Ông, sắc tất cả ban hội hương mỗi người cầm một cây nhang thơm Ông chánh bái nâng mão Ông lớn trên hai tay đi đầu ra cửa chính điện Đi theo hướng Đông ra mộ Ông và mộ Bà, theo sau là các quí

kì lão, các hội viên trong ban hội hương đến trước mộ của Ông Bà

Tất cả mão, khám đựng sắc đều được để trên bàn có phủ vải đỏ Hai hội viên trong ban hội hương sẽ mở khám, ông chánh bái đứng giữa thắp hương Sắc phong của Ông lớn được ông chánh bái thỉnh ra Hai kì lão sẽ trải lên bàn để phơi sắc và kiểm soát bản sắc trong khi đó hai hội viên dùng khăn sạch có tẩm nước hoa để lau mão và khám đựng mão của Ông Tiền Quân Công việc được các hội viên trong ban hội hương thực hiện một cách hết sức tỉ mỉ và cẩn trọng không một sai sót

Thủ tục phơi sắc kéo dài trong 30 phút Mão Ông được đặt lại trong khám và thỉnh trở vào hương án trong chính điện

Nghi thức phơi sắc Ông lớn được tổ chức rất nghiêm trang Mọi việc được tiến hành rất kín đáo không được cho trẻ con và phụ nữ vào Đây là hình thức truyền thống lâu đời của bà con vùng đất này mà sự tín ngưỡng dân gian được thể hiện qua nghi thức đình miếu Tuy nhiên đây là nét đặc sắc riêng, hết sức độc đáo ở Lăng chưa thấy có ở các đình miếu Nam bộ khác, nghi thức phơi sắc cũng đã tạo nên một nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng của Lăng Ông bên cạnh những nét văn hóa chung của các đình, miếu Nam Bộ điều này cũng góp phần làm phong phú thêm

Trang 22

những nếp sinh hoạt văn hóa tốt đẹp của người dân quanh vùng nói riêng và của nhân dân Nam Bộ nói chung

Ngoài ra ngày 16 và 17 tháng 2 âm lịch có tổ chức lễ giỗ bà Hiền Thục Phu Nhân Lễ này cũng giống như lễ Ông Tiền Quân nhưng không lớn lắm

Ngày 20 tháng Chạp hằng năm lễ giỗ Ông Phó soái Nguyễn An

Ngày rằm tháng Giêng, Tháng Bảy, tháng Mười đều tổ chức cúng chay ở Lăng Ông

Các lễ hội có sự tham gia đông đảo của bà con các dân tộc Kinh, Kh’mer, Hoa Cùng với những lễ hội diễn ra ở Lăng với sự tham gia của hàng ngàn người dân một

số hoạt động khác như: bán các mặt hàng kỉ niệm, các trò chơi có thưởng, các gian hàng phục vụ ăn uống… được ban Quản lí Lăng bố trí ở phần ngoại vi(cho thuê) Tuy nhiên đảm bảo sự uy nghiêm nơi thờ tự thiết nghĩ cũng phải đảm bảo các hoạt động trên không mang tín cờ bạc và đặt biệt phải kiểm tra chặt chẽ tránh kẻ gian lợi dụng sùng bái, tín ngưỡng đối với Lăng Ông mà thực hiện các hoạt đông mê tín dị đoan, truyền bá các tư tưởng không lành mạnh, đòi hỏi Ban quản lí và cac ngành phải có sự kiểm tra chặt chẽ, phải có biện pháp sắp xếp hợp lí đảm bảo cảnh quan nơi thờ tự

3.4 Những nét đặc sắc tiêu biểu trong lễ hội văn hóa của Lăng Ông

Những lễ hội văn hóa diễn ra ở Lăng một phần cũng do niềm tin tưởng của người dân quanh vùng đối với Ông “Huyền thoại, sự linh hiển của Ông khi đã về thần, đồng bào Trà Ôn đều truyền tụng”[3:102] Nhưng sự biết ơn, tôn kính đối với

vị “khai quốc công thần” mới là nguyên nhân chính

Nét đặc sắc nổi bậc nhất ở đây, đó là Ông Nguyễn Văn Tồn không chỉ là “thần” của người Kh’mer hay chỉ người Kinh, Hoa mà ở đây Ông được tất cả các dân tộc trong vùng tôn thờ, chính điều đó cũng đã tạo nên một nét văn hóa hết sức độc đáo của Lăng Ông Các dân tộc anh em mang đến Lăng các lễ hội văn hóa riêng của mình, nhưng tuyệt nhiên không có sự phân biệt nào về tín ngưỡng của các dân tộc đối với Ông Tiền Quân, có nghĩa là vị trí của Ông trong tâm linh của các dân tộc đều

Trang 23

của người dân Việt Nam Đây là một minh chứng cho truyền thống đoàn kết của cha ông ta có từ bao đời nay Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam

Các lễ hội diễn ra đều có sự tham gia đông đảo của người Kinh,Kh’mer, Hoa…các hoạt động văn hóa đặc trưng của các dân tộc anh em như: biểu diễn nhạc ngũ âm,Dù-kê…( của người Kh’mer), chèo và tuồng cổ (của người Kinh), các tiết mục của người Hoa… được biểu diễn trong dịp lễ mang đậm những nét đặc sắc của các dân tộc, nhưng bên cạnh đó cũng cho ta thấy sự hòa hợp những nét văn hóa của các dân tộc anh em, chính những nét văn hóa ấy đã hòa quyện vào nhau tạo nên những sắc thái văn hóa hết sức độc đáo, mang tính đặc trưng của con người Việt Nam, tạo nên những sức sống mới mạnh mẽ cho văn hóa Việt Nam, chính vì thế mà những nét sinh hoạt văn hóa ở Lăng không chỉ mang đậm những nét văn hóa đình chùa Nam bộ mà còn có những sắc thái riêng biệt chỉ có ở đây đó chính là kết quả được tạo thành bởi những nét văn hóa đặc trưng riêng của các dân tộc anh em hòa hợp lại với nhau

3.5 Những vấn đề xung quanh việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch

sử

Các lễ hội của Lăng, đó cũng chính là các sinh hoạt văn hóa truyền thông tốt đẹp của cha ông ta có từ rất lâu thể hiện truyền thống biết ơn những người đi trước, những bậc tiền hiền có công khai khẩn, lập nên xóm làng, thể hiện đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, kính trọng những bậc tiền bối đi trước Lăng Ông cùng với những

lễ hội ở đây là một minh chứng cụ thể cho các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp

ấy

Ngày nay dù cuộc sống có trở nên vội vã tấp nập hơn nhưng người dân vẫn giữ được những sinh hoạt truyền thống tốt đẹp như thế Điều đó chứng minh cho sức sống mãnh liệt của các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp Những họat động này không chỉ có những người lớn tuổi tham gia mà cũng có rất nhiều các bạn trẻ đến để cầu nguyện và tìm hiểu những nét đẹp truyền thống của cha ông

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w