Đồng thời, nhu cầu tìm hiểu, khám phá những vùng đất mới lạ, những nền văn hóa độc đáo ngày càng tăng cao.Trong đó, mô hình du lịch cộng đồng là mô hình du lịch mới và ngày càng được chú
Trang 1Tên đề tài: KHAI THÁC TÀI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU
LỊCH CỘNG ĐỒNG ẤP CỒN CHIM XÃ HÒA MINH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
ĐHQG-HCM Trường ĐHKHXH&NV
Ngày nhận hồ sơ
Do P ĐN&QLKH ghi Mẫu: SV02
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2019 – 2020
Thành phần tham gia thực hiện đề tài
TT Họ và tên Chịu trách nhiệm Điện thoại Email
1 Lê Ngọc Kim Tiền Chủ nhiệm 0869282433 lengockimtien11@gmail.com
TP HCM, tháng 8 năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC
KHAI THÁC TÀI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG ẤP CỒN CHIM XÃ HÒA MINH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
Trang 3Mục lục
1.1.2.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 19
1.1.2.4 Xu hướng phát triển du lịch cộng đồng hiện nay 20
Trang 41.1.3 Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nội lực – ABCD 23
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI ẤP CỒN
2.1 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh 29 2.2 Sự hình thành hoạt động du lịch tại ấp Cồn Chim 30
Chương 3 KHAI THÁC CÁC LOẠI TÀI SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT
Chương 4 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO NỘI LỰC
4.1 Phân tích SWOT về nội lực và tiềm năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Trang 54.2 Đề xuất mô hình phát triển du lịch dựa vào nội lực của cộng đồng tại ấp Cồn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Bản đồ 3.1 Bản đồ tài sản văn hóa cộng đồng tại ấp Cồn Chim 35
Sơ đồ 3.1 Liệt kê tài sản cá nhân trong cộng đồng Cồn Chim 41
Sơ đồ 3.2 Tài sản tổ chức tại ấp Cồn Chim 45
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch Việt Nam đã và đang phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, dần vươn tới mục tiêu trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn ở nước ta Việt Nam đã và đang trải qua giai đoạn bùng phát về du lịch trong suốt
thập kỷ qua, trở thành một trong những điểm đến mới nổi hàng đầu ở Đông Nam Á Quốc gia đã thành công trong việc tận dụng giao lưu du lịch trong khu vực và trên toàn cầu để chiếm lĩnh thị phần từ các đối thủ cạnh tranh ở Đông Nam Á, đạt tăng trưởng kỷ lục cả về lượt khách quốc tế và trong nước trong ba năm qua Số lượt khách nước ngoài đến với Việt Nam mỗi năm đạt trên 15 triệu, so với chỉ 4 triệu ở thập kỷ trước Bên cạnh đó là khoảng
80 triệu lượt khách du lịch trong nước, con số tăng gấp bốn lần trong 10 năm qua.1
Thực tế, chúng ta có thể thấy rõ được rằng, đời sống của người dân mỗi ngày đều được nâng cao, cơ sở hạ tầng và giao thông lại được cải thiện và hiện đại hơn, nhưng kéo theo
đó chính là sự ô nhiễm môi trường ngày một nặng nề, vì thế, con người thường có xu hướng muốn tìm đến những nơi gần gũi với thiên nhiên để nghỉ dưỡng và thư giãn thoải mái hơn,
bỏ lại tất cả những khói bụi, ồn ào nơi thành phố Đồng thời, nhu cầu tìm hiểu, khám phá những vùng đất mới lạ, những nền văn hóa độc đáo ngày càng tăng cao.Trong đó, mô hình
du lịch cộng đồng là mô hình du lịch mới và ngày càng được chú trọng phát triển ở Việt Nam với mục tiêu lấy cộng đồng làm trung tâm, khai thác được những tiềm năng có sẵn trong cộng đồng vừa bảo tồn môi trường tự nhiên nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, góp phần nâng cao mọi lĩnh vực trong đời sống địa phương đồng thời đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch vì thế mô hình này đã và sẽ hứa hẹn trong tương lai trở thành loại hình
du lịch nổi bật
1 The World Bank, 2019 Taking Stock: Recent Economic Developments of Vietnam – Special Focus: Vietnam's Tourism Developments - Stepping Back from the Tipping Point - Vietnam's Tourism Trends, Challenges and Policy Priorities
Trang 8Cồn Chim là một ấp cù lao với nét đẹp hoang sơ trên dòng sông Cổ Chiên, thuộc xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, với diện tích tự nhiên là 60 ha Nơi đây cách trung tâm thành phố Trà Vinh 10km về hướng Đông Bắc theo tuyến đường sông và khoảng 15km theo tuyến quốc lộ 53 Nhận thấy được nhiều tiềm năng của cộng đồng và điều kiện thiên nhiên ưu đãi, đầu năm 2019 mô hình du lịch cộng đồng tại Cồn Chim bắt đầu được hình thành Trong thời gian học tập môn “Phát triển du lịch bền vững” do TS Trương Thị Thu Hằng giảng dạy, tôi đã có cơ hội được đi thực tập thực tế trong thời gian từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7 năm 2019 tại Cồn Chim với tư cách vừa là nhà nghiên cứu vừa là du khách Tôi đã cùng ăn, cùng ở với người dân đồng thời trải nghiệm các hoạt động phục vụ du lịch của cộng đồng, nắm bắt được tình hình phát triển du lịch cộng đồng nơi đây cũng như cách thức mà địa phương sử dụng để tiến hành và thu hút khách du lịch Cũng chính vì hoạt động du lịch mới được đưa vào Cồn trong những tháng gần đây nên chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Đồng thời ghi nhận bước đầu cho thấy thực tế du lịch Cồn Chim vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng trong cộng đồng địa phương vì vậy tôi lựa chọn đề tài “KHAI THÁC TÀI SẢN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG (TRƯỜNG HỢP ẤP CỒN CHIM XÃ HÒA MINH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH)” để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường với mục tiêu tìm hiểu những nguồn lực có trong cộng đồng từ đó đưa ra các đề xuất hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững cho địa phương
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để phục vụ cho đề tài tìm hiểu về việc khai thác tài sản địa phương trong phát triển cộng đồng tại địa bàn Ấp Cồn Chim (Trà Vinh), tôi đã thực hiện việc thu thập tài liệu thứ cấp theo hai nội dung sau đây: các công trình nghiên cứu về du lịch ở tỉnh Trà Vinh nói chung,
và các tiếp cận trong nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng
2.1 Nghiên cứu du lịch ở Trà Vinh
Nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có 65 km bờ biển, nhiều cù lao, cồn nổi, Tỉnh Trà Vinh
có vị trí địa lí, điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc đầu tư sản xuất, kinh doanh, du lịch và
là nơi tập trung của 03 dân tộc chính là Kinh, Khơ-me, và Hoa Về mặt du lịch, Tỉnh Trà
Trang 9Vinh có nhiều tiềm năng phong phú về du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch biển, sông nước miệt vườn, các cồn nổi ven biển chuyên canh vườn cây ăn trái đặc sản đặc biệt là du lịch khám phá bản sắc văn hóa của vùng đất gắn bó lâu đời của ba dân tộc sinh sống.Không chỉ thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan mà Trà Vinh cũng đã được nhiều học giả quan tâm tìm hiểu các đề tài liên quan đến du lịch tâm linh, du lịch văn hóa, có thể kể đến những công trình sau đây
Nghiên cứu “Khai thác văn hóa Phật giáo Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh” của tác giả Hà Thế Linh năm 2013 Tác giả trình bày thực trạng phát triển du lịch văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer ở Trà Vinh từ đó đưa ra những giải pháp góp phần phát triển
du lịch văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer tại tỉnh Kết quả, đề tài đã nêu lên được nét độc đáo của văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer trong đời sống của người Khmer đồng thời cũng nhận rõ được thực trạng khai thác du lịch văn hóa của tỉnh hiện nay còn yếu Bên cạnh đó, tác giả thấy rõ được tầm quan trọng của việc khai thác sản phẩm du lịch văn hóa
cụ thể là sản phẩm du lịch văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer tỉnh Trà Vinh Qua đó có cách thức phù hợp trong việc khai thác, phát triển loại hình du lịch này môt cách có hiệu quả hơn
Đề tài “Du lịch văn hóa Khmer Trà Vinh (Nghiên cứu trường hợp làng nghề truyền thống của người Khmer Trà Vinh) của tác giả Sơn Ngọc Khánh và Nguyễn Đình Chiểu năm 2016, trình bày những tiềm năng và lợi thế của làng nghề truyền thống người Khmer ở Trà Vinh; đánh giá thực trạng khai thác làng nghề trong hoạt động du lịch Đồng thời, thông qua hình thức du lịch văn hóa cùng với sự tham gia của cộng đồng, gắn với lợi ích và trách nhiệm của người dân, đưa ra những giải pháp nhằm gắn kết giữa làng nghề và du lịch
Nghiên cứu “Định hướng phát triển điểm đến du lịch tâm linh tỉnh Trà Vinh” của tác giả Trần Thị Yến Nhi năm 2018, đã phân tích các điểm đến du lịch tâm linh tại tỉnh Trà Vinh với các điều kiện tài nguyên, nhân lực, chính sách và kể cả nhu cầu du lịch tại tỉnh Trà Vinh, từ đó đưa ra các đề xuất thu hút du khách đến các điểm đến du lịch tâm linh tại Trà Vinh
Trang 10Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” của Huỳnh Văn Kiên năm 2017 trong đó tác giả hệ thống hóa các
cơ sở lý luận về du lịch như: hoạt động du lịch, quản lý nhà nước về hoạt động du lịch; đặc điểm, vai trò và nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch Đồng thời, đề tài phân tích thực trạng phát triển du lịch và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Từ đó, đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu du lịch ở Trà Vinh chủ yếu tập trung vào các loại hình
du lịch văn hóa, du lịch tâm linh Các đề tài chủ yếu khai thác các giá trị văn hóa là chính yếu mà bỏ qua các thế mạnh khác trong cộng đồng như tri thức địa phương, quan hệ xã hội, môi trường sống, trong quá trình phát triển du lịch Nhìn chung vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về loại hình du lịch cộng đồng trong khi đó việc phát triển loại hình này mang đến nhiều lợi ích kinh tế, cải thiện nâng cao đời sống đặc biệt là nhấn mạnh đến yếu
tố con người, khai thác những tiềm năng có sẵn trong cộng đồng
2.2 Nghiên cứu về phát triển du lịch cộng đồng
Theo Potjana Suansri (2003) trong Community based tourism Handbook, du lịch cộng đồng
(community based tourism) là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng cường quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và từ các hoạt động hỗ trợ quốc tế, nhằm mục đích khai thác bền vững các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa phương để giới thiệu tới khách du lịch
Việc nghiên cứu các vấn đề gắn với du lịch cộng đồng như: tài nguyên, tổ chức các đơn vị hành chính, dân cư, dân tộc, nguồn lao động được tiến hành khá sớm, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Nhưng việc nghiên cứu cộng đồng dân cư gắn với việc quy hoạch phát triển du lịch bắt đầu được quan tâm từ nửa cuối thế kỉ XX, gắn liền với sự phát triển của du lịch hiện đại đặc biệt là từ đầu những năm 1970 đến nay
Trang 112.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Loại hình du lịch cộng đồng đã sớm xuất hiện ở các nước phương Tây, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân tại nhiều địa phương, đồng thời góp phần phát huy thế mạnh văn hóa bản địa vì vậy đây là một trong những đề tài thu hút sự quan tâm của các học giả nước ngoài
Đề tài “Community-based tourism ventures, benefits and challenges: Khama Rhino Sanctuary Trust, Central District, Botswana” của tác giả Lesego S Sebele (2010), cho rằng việc phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế đồng thời là một công cụ hữu ích để giáo dục người dân địa phương về quyền, luật pháp và ý thức chính trị tốt của người dân Bên cạnh việc xác định lợi ích của du lịch dựa vào cộng đồng, tác giả còn nêu một số thách thức của loại hình này như đảm bảo sinh
kế cho người dân địa phương, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, các kỹ năng cần thiết trong
du lịch và sự phụ thuộc của cộng đồng vào các bên liên quan/ nhà tài trợ
Đề tài đáng chú ý tiếp theo là “Community-based tourism enterprises: challenges and prospects for community participation; Khama Rhino Sanctuary Trust, Botswana” của tác giả Lesego Senyana Stone & Tibabo Moren Stone (2011) Nghiên cứu này đánh giá sự tham gia của cộng Sanctuary Trust, được thành lập vào năm 1992 Các tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cộng đồng khi tham gia vào du lịch và cho rằng đây là yếu tố quan trọng để phát triển du lịch bền vững trong việc duy trì mức ổn định về sản lượng và quản
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Tác giả cũng đưa ra các hạn chế khiến cho các dự án về
du lịch dựa vào cộng đồng thất bại, chẳng hạn như: tạo cơ hội việc làm không đủ, chủ yếu phụ thuộc vào vốn đầu tư bên ngoài; thiếu sự tham gia của cộng đồng bởi thiếu thông tin tuyên truyền giữa ban quản lý người dân, dẫn đến việc không thể tăng cao mức sinh kế cũng như khai thác toàn bộ tiềm năng phát triển du lịch cho địa bàn nghiên cứu
Đáng chú ý, bài viết “Asset-based community development as applied to tourism in Tibet” của tác giả Mao-Ying Wu & Philip L Pearce xuất bản năm 2013 là một trong những nghiên cứu đầu tiên về phát triển cộng đồng dựa trên tài sản (ABCD) khám phá tiềm năng của tiếp cận ABCD trong phát triển du lịch như là một chiến lược xóa đói giảm nghèo và xác định
Trang 12các loại tài sản địa phương ở Tây Tạng có tiềm năng nhất sẽ được phát triển thành điểm thu hút du lịch trong tương lai gần Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ áp dụng được cho các địa bàn nghiên cứu có đặc điểm khí hậu tương tự như ở Tây Tạng, không thể áp dụng cho những địa bàn như ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trên đều nêu lên sự nổi bật của các tiềm năng trong cộng đồng
để thấy được sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch là quan trọng đồng thời tác giả đã chỉ ra được các hạn chế của các dự án phát triển du lịch cộng đồng Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra các biện pháp để giải quyết các hạn chế đó và chỉ nói đến sự tham gia của cộng đồng, các tiềm năng một cách tổng quát không đi vào phân tích cụ thể Vì vậy, đề tài của tôi tiếp nối sử dụng tiếp cận ABCD để đi vào phân tích từng thế mạnh có sẵn trong cộng đồng thông qua đó đưa ra các hạn chế và cả biện pháp khắc phục giúp địa bàn một phần nào phát triển du lịch cộng đồng của mình hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhận thấy được thành công từ mô hình du lịch cộng đồng được phát triển ở các nước phương Tây, Việt Nam dần đã tiếp thu và áp dụng vào phát triển du lịch nước ta Nếu như trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu về du lịch văn hóa, tâm linh thì hiện nay đang dần bổ sung và chuyển hướng tìm hiểu nghiên cứu loại hình du lịch cộng đồng, có thể kể đến các công trình sau đây
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Kiều (2016) phân tích các điều kiện thực tế để phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) tại Đơn Dương bao gồm điều kiện hấp dẫn của tài nguyên
du lịch, điều kiện tiếp cận điểm đến, điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư, điều kiện thị trường khách và các điều kiện hỗ trợ Mặt khác, phân tích thực trạng và nhu cầu phát triển DLCĐ tại Đơn Dương, trong đó nhấn mạnh thực trạng tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch, những mong muốn và nhu cầu của họ đối với việc phát triển DLCĐ tại địa phương Từ đó, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của huyện Đơn Dương trong việc phát triển DLCĐ thông qua phương pháp SWOT, dựa trên cơ sở các phối
Trang 13thức kết hợp của ma trận SWOT để đề xuất giải pháp thiết thực nhằm phát triển DLCĐ tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
Luận văn thạc sĩ “Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại Cù Lao Bình Hòa Phước, tỉnh Vĩnh Long” của tác giả Phạm Thị Hồng Cúc thực hiện năm 2009 với nội dung
đề tài là phân tích vai trò của cộng đồng đối với sự phát triển du lịch cộng đồng đối với Cù Lao nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung từ đó đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp đối với ngành du lịch ở địa phương
Đề tài “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực phía tây tỉnh Thanh Hóa” do ThS Nguyễn Thị Lan (2014) với mục tiêu đưa ra các điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực phía Tây tỉnh Thanh Hóa sau đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại đây
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu xem tài nguyên, dịch vụ, cơ sở hạ tầng trong cộng đồng là trọng tâm, không sử dụng các thế mạnh trong cộng đồng như các tri thức địa phương, quan hệ xã hội, môi trường sống… như một phương tiện để phát triển du lịch bền vững, và cũng không tìm hiểu, phân tích vai trò của cá nhân hay từng hộ gia đình đơn lẻ và các tài sản khác trong cộng đồng Đề tài của tôi với góc nhìn của Nhân học du lịch sẽ đặc biệt quan tâm nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng là trọng yếu, áp dụng khung lý thuyết phát triển cộng đồng dựa trên tài sản (ABCD) của Mao-Ying Wu & Philip L Pearce (2013) tập trung nhận diện 5 loại tài sản của cộng đồng bao gồm: 1) cá nhân/hộ gia đình, 2) tổ chức cơ quan đoàn thể, 3) câu lạc bộ/ hội nhóm, 4) tài sản vật chất, và 5) mạng lưới kết nối Từ các dữ liệu trên, đề tài sẽ tiếp tục sử dụng công cụ phân tích SWOT và một số công cụ khác để đưa ra các thế mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của địa phương trong phát triển du lịch cộng đồng và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm mục tiêu phát huy thế mạnh cộng đồng và phát triển du lịch bền vững
3 Mục tiêu nghiên cứu
● Tìm hiểu hiện trạng tham gia và thực hiện của cộng đồng vào trong các lĩnh vực dịch vụ du lịch tại ấp Cồn Chim tỉnh Trà Vinh
Trang 14● Kiểm kê và phân tích các loại tài sản của cộng đồng đã và có thể được sử dụng trong hoạt động du lịch
● Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn
● Đề xuất cách tiếp cận và các phương pháp mới được áp dụng trong bài có thể được
sử dụng vào các bối cảnh phát triển du lịch khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
● Cộng đồng địa phương tham gia vào các loại hình dịch vụ du lịch là các thành viên của những hộ phục vụ bữa ăn, làm bánh, nước dừa, dịch vụ giải trí, câu cua, và các hộ liên kết khác
● Chính quyền địa phương, các bên liên quan quản lý phát triển du lịch tại cộng đồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Ấp Cồn Chim xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
5 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp điền dã dân tộc học, cụ thể sẽ sử dụng các kĩ thuật để thu thập dữ liệu như: quan sát tham dự và phỏng vấn
Chúng tôi sử dụng kĩ thuật quan sát tham dự tại các điểm du lịch như câu cua, chèo bè,
chài tôm, làm bánh tại Ấp Cồn Chim tỉnh Trà Vinh để quan sát quá trình trao đổi, tiếp xúc giữa những người chủ nhà và khách du lịch, cách thức người chủ nhà chuẩn bị, chào đón, tiếp đãi khách đồng thời quan sát cảm nhận của khách du lịch thông qua cử chỉ, biểu cảm sau khi trải nghiệm các dịch vụ du lịch tại địa phương Bằng phương pháp này chúng tôi
Trang 15thu thập được các thông tin như: hoạt động diễn ra tại các điểm du lịch, những trải nghiệm thực tế của khách du lịch và một số bất cập trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng Cồn Chim
Đề tài thực hiện phỏng vấn chiến lược các cán bộ chính quyền địa phương, phỏng vấn sâu
các bên liên quan và các cá nhân, chủ hộ tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng tại Cồn Chim để tìm hiểu sâu và thu thập ở mức tối đa thông tin ban đầu về chủ đề nghiên cứu Với phương pháp này đem lại kết quả cho đề tài là những dữ liệu về quá trình hình thành du lịch cộng đồng tại Cồn Chim, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển du lịch cũng như cách thức xây dựng mô hình du lịch cộng đồng người dân đang hướng tới
Phương pháp lập bản đồ văn hóa (cultural mapping) (Young và đồng nghiệp (1995)): đề
tài sử dụng phương pháp lập bản đồ văn hoá để mô tả và kiểm kê tài sản cộng đồng theo tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nội lực.“Bản đồ văn hóa liên quan đến một cộng đồng xác định và ghi lại các tài nguyên văn hóa địa phương Thông qua nghiên cứu các yếu
tố văn hóa này được ghi lại - những thứ hữu hình như phòng trưng bày, ngành thủ công, địa danh đặc biệt, sự kiện và ngành công nghiệp địa phương, cũng như các yếu tố vô hình như ký ức, lịch sử cá nhân, thái độ và giá trị Sau khi nghiên cứu các yếu tố làm nổi bật tính độc đáo của cộng đồng, lập bản đồ văn hóa liên quan đến việc bắt đầu một loạt các hoạt động hoặc dự án cộng đồng, để ghi lại, bảo tồn và sử dụng các yếu tố này Mục tiêu cơ bản nhất của lập bản đồ văn hóa là giúp cộng đồng nhận ra, tôn vinh và hỗ trợ đa dạng văn hóa cho sự phát triển kinh tế, xã hội và khu vực”.2
Phương pháp lập bản đồ văn hoá là cách thức để tiến hành tiếp cận Assets – Based Community Development (ABCD) trong phát triển cộng đồng bắt đầu từ việc khơi dậy và phát huy những điểm mạnh, năng lực vốn có của cộng đồng từ đó xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho cộng đồng với các kế hoạch phát triển cộng đồng cụ thể, phù hợp với các nguồn lực sẵn có Vận dụng phương pháp này, đề tài sẽ dùng các bảng danh mục kiểm kê năm loại tài sản của cá nhân/hộ gia đình, tổ chức cơ quan đoàn thể, câu lạc bộ/ hội nhóm, tài sản
2 Young, G., Clark, I., & Sutherland, J (1995) Mapping Culture; A guide for cultural and economic development in communities
Trang 16vật chất, mạng lưới kết nối; kết hợp sử dụng công cụ GIS & Google Earth Pro để hệ thống hoá tất cả những tài sản này thành ra một bản đồ văn hoá tài sản của cộng đồng
• Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp
Để có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, đề tài đã thu thập những thông tin, dữ liệu
từ các nguồn nghiên cứu về tài sản trong du lịch cộng đồng, phát triển bền vững và các tài liệu từ các cơ quan ban ngành có liên quan Sau đó tiến hành phân tích dữ liệu, đánh giá tổng hợp rồi đưa ra kết luận
• Phương pháp phân tích SWOT để đánh giá thế mạnh – hạn chế- cơ hội- thách thức (Strength-Weakness-Opportunity-Threat) trong mô hình du lịch cộng đồng tại địa bàn Từ việc phân tích các tài sản trong cộng đồng, đề tài sử dụng phương pháp này để xác định những điểm mạnh mà cộng đồng có, những điểm đang còn thiếu sót từ đó đưa ra những cơ hội mà cộng đồng có thể tiếp cận đến và thách thức cộng đồng sẽ phải đối mặt trong tương lai từ những điểm yếu nếu không khắc phục
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài nghiên cứu này sẽ trở thành tư liệu tham khảo cho sinh viên và những người có quan tâm đến việc phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam nói chung và Cồn Chim – Trà Vinh nói riêng Đồng thời, đề tài cung cấp hướng tiếp cận mới cho các nghiên cứu liên quan về sau và dựa vào kết quả nghiên cứu, cộng đồng địa phương có thêm một số gợi ý để nâng cao hiệu quả trong phát triển du lịch của mình để hướng đến mục tiêu phát triển du lịch bền vững Về mặt thực tiễn, đề tài cũng sẽ đóng góp một phần vào việc quảng bá du lịch Cồn Chim
Trang 17
Về khái niệm “du lịch” có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau Theo quan điểm của
hai nhà nghiên cứu du lịch tiên phong - Hunziker và Kraft (1941): “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” [tr.392] Với cách tiếp cận định nghĩa này, tác giả cho rằng du lịch là sự di chuyển của cá
nhân từ nơi ở của mình đến một nơi khác, không đề cập đến mục đích của việc di chuyển này tức có thể bao gồm các hoạt động như công tác, giải trí, khám chữa bệnh
Nhà kinh tế học Picara– Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và
chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chi ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí” Tác giả xem xét du lịch theo góc độ kinh tế với bản chất về lợi nhuận, quá trình trao
đổi buôn bán, thương mại, thu lại được nhờ hai nhu cầu của khách du lịch là hiểu biết và giải trí
Còn theo Luật Du lịch của Việt Nam (2005) tại khoản 01, Điều 4 chương I giải thích từ
ngữ thì: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Trang 18Ngày nay, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), khái niệm du lịch được mở rộng thêm rất
nhiều: "Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm"
Dù có nhiều khái niệm với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung có thể hiểu rằng du lịch là hoạt động di chuyển đến một địa điểm khác với nơi ở hàng ngày nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của con người như giải trí, nghỉ ngơi, hiểu biết, của con người Đề tài của tôi vận dụng cách tiếp cận du lịch trong đó con người thực hiện các hoạt động di chuyển của mình đến một địa điểm mà tại đó chứa đựng các nguồn lực có thể đáp ứng các nhu cầu của con người như giải trí, tham quan, nghỉ ngơi, sức khỏe, công tác hoặc đó là địa điểm
mà kích thích nhu cầu tìm hiểu, khám phá, quan tâm của khách du lịch đối với vùng đất này
Theo Nguyễn Hữu Nhân (2005), cộng đồng có hai nghĩa:
- Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong một địa phương nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản
- Là một nhóm dân cư có cùng mối quan tâm [tr.7-10]
Nhìn chung “cộng đồng” là một nhóm người cùng sinh sống gắn bó với nhau trong một môi trường và họ cùng nhau hướng đến mục tiêu chung Đề tài tập trung nghiên cứu cộng
Trang 19đồng dân cư sinh sống tại Cồn Chim trong đó chủ yếu là cộng đồng có tham gia vào hoạt động du lịch chính thức, họ cùng có mục tiêu chung là hướng tới sự phát triển du lịch và nâng cao đời sống của cá nhân nói riêng và địa phương nói chung
Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: (1) tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể3
Các đặc điểm trên của một cộng đồng là yếu tố cần để thúc đẩy quá trình phát triển cộng đồng đó Để khai thác và sử dụng có hiệu quả các đặc điểm của cộng đồng hơn nữa những nhà nghiên cứu đã đặt chúng vào bối cảnh của phát triển du lịch nói riêng đặc biệt là đặt vào mục tiêu chung cần hướng tới
Du lịch cộng đồng
Từ những năm 1970,thuật ngữ “du lịch cộng đồng” (Community based tourism) xuất hiện
và bắt nguồn từ loại hình du lịch làng bản Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch là muốn tham quan làng bản, trải nghiệm các hoạt động, nét văn hóa của người dân đồng thời tận hưởng nét thiên nhiên hoang dã nơi đây 45
Nicole Hausle và Wolffgang Strasdas (2009) cho rằng: “Du lịch cộng đồng là mô hình phát triển du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” Quan niệm trên nhấn
3 Cao Anh Đô (2014) Hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Công Thảo & Nguyễn Thị Thanh Bình (2019) Du lịch cộng đồng trên thế giới: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam Truy xuất từ:
https://vass.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongN ghe&ListId=54cce737-f91c-4ee7-a6b7-a640c041b93b&SiteId=37596567-bc8d-47de-
878da9d5b872324b&ItemID=66&SiteRootID=4c750500-35ba-4ff2-bcd4-8e21529aba05 ( Ngày truy
cập:
5 /06/2020)
Trang 20
mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn cư trú của họ
Tương tự, theo Potjana Suansri (2003) Du lịch cộng đồng là du lịch lấy sự bền vững về môi trường, xã hội và văn hóa làm mục tiêu chính Nó được quản lý và sở hữu bởi cộng đồng, cho cộng đồng, với mục đích cho phép khách nâng cao nhận thức của họ và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống địa phương
Còn Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên” [52, tr.9]
Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng được định nghĩa tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) theo đó du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”
Tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương, với cách nhìn về du lịch cộng đồng: “Du lịch cộng đồng có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu
du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.”[tr.32-33]
Tóm lại, “du lịch cộng đồng” hay “du lịch dựa vào cộng đồng” theo nghĩa đen của nó chính
là sự phát triển du lịch phụ thuộc vào cộng đồng, là mô hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương vào các hoạt động phát triển trong đó cộng đồng dân cư là
Trang 21người cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch Cộng đồng dân cư cũng chính là người có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch và họ được chia sẻ các nguồn lợi kinh tế do phát triển du lịch tạo ra Phát triển du lịch cộng đồng sẽ tạo ra thêm công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho cộng đồng dân cư bản địa, góp phần cho việc xóa đói giảm nghèo
của địa phương
1.1.2 Phát triển du lịch cộng đồng
1.1.2.1 Cơ sở hình thành và phát triển của du lịch cộng đồng
Trước hết, có thể thấy rằng “ Phát triển du lịch cộng đồng” là một nhánh của “ Phát triển cộng đồng” trong đó “phát triển cộng đồng” được hiểu là “Những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia.”6 tức đều hướng đến sự tập trung nâng cao đời sống của người dân trong cộng đồng Sự phát triển này trên tập trung vào sự tham gia của người dân, nhìn nhận khả năng của cộng đồng như là nguồn lực đặc biệt trong quá trình phát triển nói chung và phát triển du lịch cộng đồng nói riêng Bên cạnh đó còn tìm kiếm, huy động tài sản và thúc đẩy tiềm năng trong cộng đồng Việc áp dụng cách tiếp cận ABCD vào phát triển du lịch cộng đồng đem lại lợi ích đáng kể cho người dân Người dân vừa là nhà tổ chức, người hưởng thụ, vừa chủ động cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch – những điều mà trước đây người dân chưa từng làm vì vậy du lịch cộng đồng đã được cộng đồng đón nhận và ngày càng lan rộng
Từ những năm 1990 của thế kỷ XX, Liên Hợp Quốc đã khẳng định vai trò quan trọng của
du lịch đối với các quốc gia nghèo đói trên thế giới, phát triển du lịch đang được xem như một công cụ hữu hiệu góp phần giảm nghèo trong đó du lịch cộng đồng được nhấn mạnh
là mô hình phát triển theo triết lí của du lịch bền vững, phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo về nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, đảm bảo đời sống xã hội và sự tiến bộ của nền kinh tế địa phương Ở Việt Nam, du lịch cộng đồng góp phần giảm nghèo phát triển
6 United Nations (1972) Popular Participation Emerging Trends in Community Development (Sự tham gia của dân
chúng, những xu hướng mới trong phát triển cộng đồng), New York.tr.2
Trang 22vào cuối năm 1980 với nguồn khách đầu tiên từ khối Đông Âu cũ Vào đầu năm 1990, thị trường du lịch bắt đầu mở cửa và nguồn khách từ Tây Âu tăng trưởng mạnh cùng với khách nội địa Ở Bắc Bộ, Hòa Bình (Bản Lác ở Lai Châu) là nơi phát triển đầu tiên, còn ở Nam
Bộ cù lao Thới Sơn và Vĩnh Long đón tiếp khách vào năm 1985 Ngày nay vì những lợi ích từ du lịch cộng đồng nên địa bàn phát triển càng ngày mở rộng như Sa Pa, Hội An, cù lao Chàm và xuống các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như An Giang, Bến Tre, Cần Thơ….7
Sự phát triển của du lịch gắn liền với công cuộc phát triển của nền văn minh, văn minh càng tiến bộ nhu cầu con người càng được nâng cao Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, du lịch xuất hiện và chỉ dành cho giới thượng lưu sau đó nhu cầu du lịch được lan rộng và trở thành nhu cầu chung của con người, không phân biệt giai cấp, văn hóa, tôn giáo… Đa dạng
mô hình du lịch hình thành để đáp ứng nhu cầu giải trí khác nhau của con người Trong đó, nhu cầu tìm hiểu những nền văn hóa xa lạ, được trải nghiệm, kết nối và nhận thức về các nền văn hóa ấy và đồng thời cũng là mục tiêu giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa bản địa, thúc đẩy quảng bá hình ảnh đến khách du lịch trong chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung tạo cơ sở hình thành mô hình du lịch cộng đồng đã phát triển cho đến hiện nay
Để một điểm đến phát triển được, mô hình du lịch cộng đồng cần có những điều kiện nhất định như sau:
● Yếu tố cộng đồng dân cư
Cộng đồng chính là chủ thể quyết định cho sự phát triển của chính bản thân cộng đồng Theo tác giả Bùi Hải Yến, phát triển du lịch gắn với cộng đồng sẽ giúp cho kinh tế - xã hội của cộng đồng phát triển, tạo ra sự đa dạng phong phú cho sản phẩm du lịch Khi cộng
7 Phạm Thị Hồng Cúc, Ngô Thanh Loan (2016), Du lịch cộng đồng góp phần xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.Tạp chí phát triển Khoa học&Công nghệ,19(5), 5-12
Trang 23đồng địa phương ủng hộ cho sự phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều xung lực, nguồn tài nguyên
du lịch, đất đai, nguồn vốn, lao động, tài chính, môi trường tốt cho sự phát triển du lịch Tại Hội thảo “Chia sẻ Bài học Kinh nghiệm Phát triển du lịch cộng đồng” được Tổng cục
Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 đã xác định: “Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững Nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch Nhận được
sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế”
● Thị trường khách trong nước và quốc tế: Địa điểm du lịch cần có sự đón nhận của khách du lịch trong và ngoài nước, phản ảnh được tình trạng phát triển, sự thu hút của điểm đến đối với thị trường với khách du lịch
● Cơ chế chính sách hợp lý: tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
● Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước: điều kiện không thể thiếu đóng góp phần lớn vào quá trình tuyên truyền quảng bá hình ảnh đến với khách du lịch 8
Đề tài của tôi với mục tiêu tìm hiểu việc khai thác những nguồn lực có sẵn trong cộng đồng trong công cuộc phát triển du lịch sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu về điều kiện yếu tố cộng đồng dân cư là trọng tâm và bên cạnh đó sẽ trình bày sơ lược một số điều kiện khác cần có
để phát triển mô hình du lịch cộng đồng nói chung và ở tại Cồn Chim nói riêng
1.1.2.2 Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng được đề xuất như là công cụ để phát triển bền vững đòi hỏi cần đảm bảo hài hòa giữa ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường với mục tiêu cụ thể như sau :
8 Potjana Suansri (2003) Community Based Tourism Handbook Thailand, Responsible Ecological Social Tour
Trang 24● Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa
● Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương
● Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
● Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
1.1.2.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Theo tác giả Võ Quế (2008) các nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
● Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện
và quản lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng: Không ai khác cộng động đóng vai trò là chủ thể trong mọi hoạt động ở địa phương Họ hiểu rõ những tiềm năng, thách thức, mong muốn của các thành viên trong cộng đồng vì vậy họ chính là những người quyết định các diễn biến trong địa phương của mình
● Phù hợp với khả năng của cộng đồng: Sự tham gia của người dân góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của người dân dựa trên cơ sở nắm rõ nằm trong phạm vi hiểu biết của người dân về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa,sự phát triển của địa phương Các cá nhân, tổ chức bên ngoài có vai trò thúc đẩy, triển khai các hoạt động đến với cộng đồng đồng thời phải tôn trọng bản sắc văn hóa, quyền quyết định của cộng đồng tham gia
● Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Cộng đồng đóng vai trò rất lớn trong công cuộc phát triển du lịch nói riêng và phát triển cộng đồng nói chung vì vậy các thành viên tham gia vào quá trình xây dựng phát triển đều phải được hưởng lợi như nhau
● Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá
Trang 251.1.2.4 Xu hướng phát triển du lịch cộng đồng hiện nay
Xu hướng đi du lịch của khách du lịch nói chung theo kết quả khảo sát của tổ chức AC Nielson do Tổ chức phát triển Hà Lan ủy thác cho thấy: 65% du khách muốn trải nghiệm văn hóa và di sản địa phương; 54% du khách muốn trải nghiệm thiên nhiên, nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe; 84% du khách muốn tham quan danh lam thắng cảnh địa phương; 97%
du khách sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho kỳ nghỉ thân thiện với môi trường và mang lại nhiều lợi ích thực sự cho người nghèo; 70% du khách sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho việc bảo vệ môi trường địa phương; 48% du khách sẵn sàng chi trả nhiều hơn để trải nghiệm văn hóa và di sản địa phương; 45% du khách sẵn sàng chi trả nhiều hơn để hỗ trợ hội từ thiện địa phương9
Như vậy có thể thấy được rằng, mô hình du lịch cộng đồng là xu thế tất yếu vừa đảm bảo được sự phát triển kinh tế địa phương, quảng bá hình ảnh văn hóa cộng đồng và đáp ứng được nhu cầu trải nghiệm của khách du lịch Một số địa điểm áp dụng mô hình du lịch cộng đồng đã và đang được phát triển ở Việt Nam có thể kể đến như sau
Đầu tiên là mô hình du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu tại huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam xuất phát từ mong muốn nâng cao đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng rừng núi Miền Trung, từ năm 2001 đến 2007 Tổ chức FIDR (Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Nhật Bản) đã triển khai dự án phát triển cộng đồng đa hợp phần tại huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam thông qua các hoạt động như tập huấn kỹ thuật nông nghiệp, cải thiện dinh dưỡng, chăn nuôi và xóa mù chữ nhằm tăng thu nhập cho cộng đồng Từ năm
2008 đến năm 2012, “Dự án Hỗ trợ Phát triển Dệt Thổ cẩm Cơ Tu” được hình thành dựa trên mong muốn của chị em phụ nữ Cơ Tu là phát triển đời sống sinh kế thông qua việc sản xuất các sản phẩm dệt thổ cẩm truyền thống của mình Qua dự án này, người dân nơi đây đặc biệt là chị em phụ nữ Cơ Tu dần có thêm kinh nghiệm về sản xuất cũng như năng lực quản lý kết quả nhóm được công nhận là Hợp tác xã dân tộc thiểu số đầu tiên của Quảng
9 Hà Thái (2016) Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở một số địa phương tại Việt Nam Đăng trên website của Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch ngày 11.8.2016 link http://itdr.org.vn/xay-dung-mo-hinh-dulich-cong- dong-trong-phat-trien-cua-dia-phuong-va-kinh-nghiem-phat-trien-du-lich-cong-dong-o-mot-so-diaphuong/ , truy cập ngày 21.3.2020
Trang 26Nam và được chứng nhận là “Làng nghề truyền thống” Giá trị văn hóa Cơ Tu ngày càng được khẳng định, chính quyền địa phương đã sớm đề ra chính sách phát triển kinh tế địa phương thông qua du lịch, có sự hỗ trợ từ tổ chức FIDR và được triển khai cũng trong năm
2012
Từ những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch cộng đồng nói chung, du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu cũng đưa ra những nguyên tắc sau:
● Bà con Cơ Tu đóng vai trò chủ động trong việc tiếp đón du khách
● Bà con Cơ Tu là đối tượng hưởng lợi chính
● Bà con Cơ Tu từ các thành phần khác nhau trong cộng đồng tích cực tham gia tổ chức tour dưới nhiều vai trò, nhóm sở thích khác nhau để cùng nhau phát triển cộng đồng mình
Người Cơ Tu là một trong 54 dân tộc anh em của Việt Nam, có những nét văn hóa đặc thù,
lễ nghi, ngôn ngữ riêng mà cho đến nay vẫn được lưu giữ Cùng với những kinh nghiệm sống của mình, người dân Cơ Tu còn có những kỹ năng độc đáo thể hiện qua các tác phẩm chạm khắc và hoa văn trang trí trên trang phục Một trong những lý do đưa đến sự thành công của sự phát triển du lịch tại đây là vì “tính cộng đồng” được gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên với nhau Họ vẫn duy trì các hoạt động thường nhật của mình bên cạnh đó vẫn
sẽ giúp đỡ, hỗ trợ nhau tổ chức chuẩn bị các hoạt động văn hóa của mình Du khách đến đây vừa chiêm nghiệm tính cộng đồng của dân làng Cơ Tu vừa tham quan cảnh sắc và trải nghiệm các hoạt động đời sống của dân làng Tuy nhiên, một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là việc duy trì cơ chế hoạt động và giám sát công đồng khi dự án chấm dứt Việc kết nối với các đối tác phải thực sự dựa trên năng lực của cộng đồng và việc điều phối hoạt động cùng cơ chế phân chia lợi nhuận
Mô hình tiếp theo là sự phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk Buôn Đôn là huyện biên giới của tỉnh Đắk Lắk, vùng đất mang sắc thái đặc trưng của Tây Nguyên với hệ thống cảnh quan núi rừng, tập hợp các cộng đồng dân tộc cùng sinh sống và mỗi dân
Trang 27tộc có những nét văn hóa lễ nghi khác nhau tạo nên sự đa dạng bản sắc tộc người vì thế mà nơi đây tập trung nhiều dạng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng khác nhau như: du lịch văn hóa, du lịch homestay, du lịch nông nghiệp, du lịch làng nghề Sự phát triển du lịch đã đem đến cho cộng đồng nhiều cơ hội đổi mới, nâng cao đời sống từ việc tăng thu nhập, không những thế mà còn thu hút dự đầu tư của chính quyền, các tổ chức trong và ngoài nước góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng, đưa hình ảnh của địa phương đến nhiều người biết đến hơn Bên cạnh đó, còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển du lịch Người dân có khả năng quản lý chưa cao, cần phải luôn đổi mới sáng tạo trong các sản phẩm du lịch và chú trọng vào việc bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc
Ở Quảng Ninh, mô hình du lịch cộng đồng xuất hiện muộn hơn, nhưng cũng đem lại không
ít thành công Trong đó, đầu tiên phải kể đến mô hình hợp tác xã dịch vụ du lịch chèo thuyền đưa du khách đi tham quan làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng do Công ty CP Du thuyền Đông Dương triển khai Bước đầu mô hình này đã mang lại những thành công nhất định, tạo công ăn việc làm cho bà con ngư dân Những người ngư dân quanh năm gắn bó với sông nước, chỉ biết làm công việc đánh bắt cá này đã được biết thêm một nghề mới, đó
là nghề chèo thuyền nan đưa đón khách du lịch đi tham quan, khám phá Vịnh Hạ Long Từ khi có dịch vụ du lịch này, một bộ phận người dân nơi đây đã được chuyển đổi ngành nghề, giảm bớt công việc đánh bắt, khai thác cạn kiệt tài nguyên, nguồn lợi thuỷ sản trên Vịnh, người dân biết thêm một nghề mới đó là nghề làm dịch vụ du lịch Bước đầu dịch vụ chèo
đò đưa đón khách tham quan Vịnh đã góp phần nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân nơi đây…Tiếp theo thành công của mô hình chèo thuyền đưa khách đi tham quan Vịnh, trải nghiệm cuộc sống của người dân bản xứ, mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở làng quê Yên Đức, Đông Triều của Công ty CP Du thuyền Đông Dương cũng được đánh giá cao Đây là mô hình phát triển du lịch cộng đồng điểm ở Quảng Ninh, được nhiều địa phương tham quan học hỏi kinh nghiệm
Qua tìm hiểu một số điển hình về mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở nước ta chúng ta thấy điểm chung là đều có sự tham gia của cộng đồng và cộng đồng thích ứng nhanh với loại hình mới này Hơn hết, sự tham gia của cộng đồng chính là bước đệm lớn nhất trong bất kỳ dự án phát triển nào Các nguồn lực trong cộng đồng đều được sử dụng có hiệu quả
Trang 28Các mô hình này vẫn còn tồn tại những điểm yếu, thách thức chưa được giải quyết dù vậy
những điểm này sẽ đem lại bài học cho những mô hình du lịch cộng đồng mới về sau
1.1.3 Tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nội lực – ABCD
Nếu như trước đây sự phát triển của cộng đồng chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước, các tổ chức quốc tế, và người dân không có nhiều tiếng nói trong việc quyết định đến các vấn đề phát triển ở địa phương mình thì trong những năm gần đây với mục tiêu người dân trong cộng đồng cần có trách nhiệm có thêm quyền lợi, trở thành những người “chủ nhà” thực thụ nên các chính sách phát triển đã và đang dần hướng đến mô hình phát triển cộng đồng dựa vào chính thế mạnh, năng lực và tài sản vốn có của địa phương
Mô hình ABCD được đề xuất bởi Tổ chức Phát triển Cộng đồng Dựa Trên Tài Sản tại Đại học Tây Bắc, Chicago, dựa trên sự cải tiến rộng rãi của phương pháp tiếp cận dựa trên nhu cầu chi phối cho phát triển đô thị và nông thôn ở Bắc Mỹ (Kretzmann & McKnight.1993)
ABCD được đề xuất bởi Kretzmann và McKnight là một cách tiếp cận sáng tạo để cải thiện
sự tham gia của cộng đồng bắt nguồn từ trong tài sản địa phương và xây dựng năng lực cho cộng đồng (Webber, 2018) Nguyên lý cơ bản của ABCD là trong mọi cộng đồng đều tồn tại các tài sản như: cá nhân, hiệp hội, tổ chức, không gian vật lý, giao lưu, và văn hóa Cách tiếp cận dựa vào việc kết nối các tài sản này để hỗ trợ tạo cơ hội từ bên trong Do đó ABCD có thể được sử dụng trong hợp tác với các cộng đồng để giúp hỗ trợ năng lực địa phương làm việc dựa trên các ưu tiên được xác định bởi cộng đồng thông qua tài sản riêng của họ
Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu Cách tiếp cận dựa trên tài sản
Tập trung vào những thứ còn thiếu: cộng
đồng còn chưa có gì
Tập trung vào tính hiệu quả: cộng đồng
và người dân trong cộng đồng có năng lực và tài sản gì
Trang 29Đúc kết được những nhu cầu rời rạc của
địa phương
Xác định những cách thức mà cộng đồng
có thể sử dụng tiềm năng
Biến cộng đồng thành đối tượng cần sử
dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu; xây
dựng sự phụ thuộc của cộng đồng
Xây dựng tính độc lập cho cộng đồng dựa vào nội lực
Cư dân có ít tiếng nói trong việc quyết
định làm thế nào để giải quyết các mối
quan tâm địa phương
Tìm cách trao quyền cho cộng đồng
Bảng 1 Sự tương phản giữa cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và dựa trên tài sản
(Nguồn: Wu và Pearce, 2014, trang 440) 10
Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực là việc phát triển được xây dựng trên chính những
nguồn lực của họ, huy động các cá nhân, hiệp hội, tổ chức để cùng nhau khám phá và phát triển những tiềm năng đó Mỗi cộng đồng đều có những tài sản và tiềm năng riêng để phát triển trong đó năm loại nội lực được kể đến là:
1) Cá nhân: Đó là kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng mà trước
đây chưa được chú trọng hay chỉ xem đó là những điều bình thường nên chưa thể phát huy ‘tài sản’ vốn có của mình Sau khi phát triển du lịch đưa vào cộng đồng, những nguồn lực này dần được khai thác và sử dụng hiệu quả trong phát triển du lịch
2) Hiệp hội: Những nhóm không chính thức, câu lạc bộ, những cá nhân có cùng chung
sở thích, mục đích đến với nhau vì mục tiêu hướng đến cái chung không chỉ vì lợi ích, nhu cầu cá nhân
10 Wu, M.-Y., & Pearce, P L (2013) “Asset-based community development as applied to tourism in Tibet” Tourism
Geographies, 16(3), 438–456 doi:10.1080/14616688.2013.824502
Trang 303) Tổ chức: nhóm này có sự quản lý của chính quyền, nhà nước hoạt động giúp cộng
đồng nắm bắt các nguồn lực có giá trị và thiết lập ý thức trách nhiệm công dân
4) Tài sản vật chất: bao gồm tài nguyên thiên nhiên, không gian, các công trình kiến
trúc như nhà ở, di sản Tùy đặc điểm của mỗi địa điểm mà sẽ được tận dụng phát triển khác nhau
5) Kết nối: Điều kiện cần của phát triển dựa trên cộng đồng là sự trao đổi, giao lưu các
mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng Bằng cách coi các mối quan hệ
là tài sản đã tạo thành mạng lưới kết nối giúp gia tăng vốn xã hội và huy động tài sản khác của cộng đồng
Với cách tiếp cận này chúng ta chủ yếu tập trung vào những người chủ nhà còn các tổ chức bên ngoài khác như tổ chức phi chính phủ chỉ đóng vai trò hỗ trợ, liên kết với cộng đồng nhằm giúp cộng đồng khai thác những tiềm năng mà trước đây bị lãng phí, không ai chú trọng tới và cùng với họ vận dụng những tài sản vốn có của mình để có thể đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển trong chính cộng đồng của mình Cộng đồng có thể gắn kết các sức mạnh theo một khối tổng hòa mới, các cơ hội mới, các nguồn thu nhập và các khả năng mới khác cho phát triển sản xuất và phát triển cộng đồng
Bên cạnh đó, phương pháp này còn nhấn mạnh tầm quan trọng đối với sự tham gia của cộng đồng, không chỉ đem lại lợi ích cho toàn thể cộng đồng nói chung mà đặc biệt khai thác cả tiềm năng từ những thành phần được xem là yếu thế trong xã hội - phụ nữ, người nghèo, trẻ em… Đây được xem là một chiến lược cho sự phát triển bền vững - phát triển vận động từ bên trong ra, dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài, liên kết nguồn lực bên trong với môi trường bên ngoài Tại Việt Nam, cách tiếp cận này hiện nay đã được áp dụng phổ biến trên nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, du lịch, và ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, sự tham gia ủng hộ đông đảo của người dân
“Ngân hàng Thế giới xem sự tham gia của người dân như là một ‘quá trình’ nhờ đó người dân và đặc biệt là phụ nữ, người nghèo và trẻ em được tham gia vào mục đích: (1) Trao quyền – một sự chia sẻ quyền lực hợp lý với những người tham gia nhằm nâng cao nhận thức về khả năng tham gia của họ vào quá trình thực hiện dự án; (2) Xây dựng và nâng cao
Trang 31năng lực của người dân trong việc phát triển cho chính họ và cộng đồng của họ; (3) Tăng cường hiệu lực của dự án, thúc đẩy sự đồng thuận, sự hợp tác cũng như tương tác giữa những người hưởng lợi của dự án và giữa họ với các cơ quan thực hiện dự án; (4) Chia sẻ chi phí của dự án với người hưởng lợi, do đó giảm được chi phí cũng như thời gian thực hiện dự án.”(Nguyễn Huy Thắng, 2002: trang 75)11
1.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
Bản đồ 1.2 Bản đồ hành chính Trà Vinh 12 1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.295,1km², giữa 2 con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hậu Vị trí địa lý giới hạn từ: 9°31’46’’ đến 10°04’5” vĩ độ Bắc và 105°57’16” đến 106°36’04” kinh độ Đông
11 Nguyễn Huy Thắng (2002) Một số khía cạnh lý thuyết của cách tiếp cận " Nghiên cứu hành động tham gia " (PRA) trong phát triển cộng đồng Tạp chí Xã hội học (1), 75-82
12 Đảng bộ tỉnh Trà Vinh https://travinh.dcs.vn/portal/page?q=Dph5KONlc3ZJ6q7JwIceSg== ( Ngày truy cập: 21/03/2020)
Trang 32
Phía Bắc, Tây - Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; phía Đông giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên; phía Tây giáp tỉnh Sóc Trăng với Sông Hậu; phía Nam, Đông - Nam giáp biển Đông với hơn 65km bờ biển Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên Quốc lộ 53, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200km và cách thành phố Cần Thơ 100km Trà Vinh nối với thị xã Vĩnh Long bằng quốc lộ 53, tuyến thông thương đường bộ duy nhất nối Trà Vinh với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Tỉnh có 01 thành phố và 07 huyện trực thuộc là thành phố Trà Vinh, các huyện Càng Long, Tiểu Cần, Cầu Kè, Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang và Duyên Hải Thời tiết, khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 26 – 270C, độ
ẩm trung bình 83 - 85%/năm, lượng mưa trung bình 1.500 mm, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ
và rất thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh
Cồn Chim là một ấp cù lao thuộc xã Hòa Minh, huyện Châu Thành có diện tích tự nhiên 60ha nằm giữa sông Cổ Chiên Cồn Chim cách trung tâm thành phố Trà Vinh 10km về hướng Đông Bắc theo tuyến đường sông và khoảng 15km theo tuyến quốc lộ 53 Vốn dĩ nơi đây được gọi là “Cồn Chim” là do địa hình giống với hình còn chim hạc và là nơi chim chóc bay về trú ngụ Từ những năm 1940 - 1950 được người dân khai hoang và truyền nối cho các thế hệ sau phát triển đến hiện nay:
“Lý do vì sao người ta kêu là Cồn Chim vì cái địa bàn hình nó nhìn như con Chim bay, chim chóc về đây trú ngụ nhiều Cái vùng đất này mình cũng không biết nó có từ bao giờ, đến những năm 1945 1950 có các cụ như ba ruột của chú Út nè ổng [ông ấy] khai thác là ông Nguyễn Văn Sùng, thêm nữa ông cố Ngoại của chị Hằng là ông Nguyễn Văn Đóng, ông nội của chú Năm Lương là ông Nguyễn Văn Nga, còn ông Nguyễn Văn Nghị tại vì con ổng không làm du lịch nên là tụi con không biết Ông Nghị là đất ổng ở ngay chỗ trụ
sở, con ổng là Nguyễn Văn Nhân Sau này, mấy ông này đi về quê chết hết còn chừa lại đất cho con cháu ở đây kế thừa, con ông Sung là ông lão nhà này thì ổng ở đây cho đến khi chết luôn thọ 84 tuổi.” (Cô Bích Vân, trao đổi cá nhân ngày 26.02.2020)
Trang 331.2.2 Đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội
Trà Vinh với dân số trung bình năm 2008 là 1.062 ngàn người, mật độ dân số 463 người/km2 Trên địa bàn Trà Vinh có 29 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh (69%) và người Khmer (29%) Trà Vinh là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer
có nền văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù
Về phát triển kinh tế, tỉnh tập trung phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại - dịch
vụ và văn hóa - du lịch Trong đó, Trà Vinh là một trong những tỉnh có tiềm năng phong phú về du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch biển, sông nước miệt vườn, các cồn nổi ven biển chuyên canh vườn cây ăn trái đặc sản đặc biệt là du lịch khám phá bản sắc văn hóa của vùng đất gắn bó lâu đời của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa với 142 ngôi chùa Khmer có kiến trúc độc đáo trải khắp các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và các lễ hội mang đậm nét văn hóa dân tộc diễn ra quanh năm.13
Hòa Minh cách trung tâm huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh 15km, là một trong 6 xã đảo thuộc tỉnh ta theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 13/5/2016 Với điều kiện cách sông, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành có những khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Cồn Chim là ấp nằm trong xã Hòa Minh, được thành lập vào năm 2010 với số hộ đăng ký thường trú là 28 hộ cho đến hiện nay là 52 hộ Về văn hóa, nằm trong khu vực có môi trường tự nhiên đa dạng với đặc trưng sinh thái là cảnh quan sông nước, hệ thống sông, rạch, lạch mang đặc điểm của vùng văn hóa sông nước đồng thời chịu ảnh hưởng từ văn hóa Nam Bộ xưa Do cấu trúc cảnh quan môi trường của vùng đã quyết định các loại hình khai thác kinh tế cũng như quy định phương pháp khai thác tác động vào thiên nhiên của người dân Đời sống kinh tế của người dân trước đây khi chưa có du lịch chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa, nuôi trồng thủy sản như tôm cua là chủ yếu Đến năm 2018, ấp được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh phối hợp với tổ chức Oxfam triển khai mô hình đồng quản lý sông Cồn Chim - dự án tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu hướng dẫn người dân bảo vệ rừng, khai thác thủy sản hợp
13 Đảng bộ tỉnh Trà Vinh https://travinh.dcs.vn/portal/page?q=Dph5KONlc3ZJ6q7JwIceSg== ( Ngày truy cập: 21/03/2020)
Trang 34lý Từ đó thuận theo thời tiết, người dân sản xuất theo mô hình: 6 tháng nước mặn nuôi trồng thủy sản, 6 tháng nước ngọt trồng lúa Còn dưới sông thì đánh bắt theo mùa ví dụ từ
tháng 2 đến tháng 6 là cấm khai thác, từ tháng 7 đến tháng 1 thì được khai thác đánh bắt TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận được dùng trong bài nghiên cứu là các khái niệm du lịch, cộng đồng, du lịch cộng đồng, lý thuyết về phát triển du lịch cộng đồng gồm khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc dựa trên việc tổng hợp các hướng tiếp cận khác nhau của các tác giả nghiên cứu trong và ngoài nước Bên cạnh đó, đề tài còn tóm tắt lại các mô hình du lịch có xu hướng tương tự với đề tài để từ đó xem xét sự giống và khác trong cách thức phát triển và tận dụng nguồn lực giữa các mô hình đi trước và địa bàn nghiên cứu của bài viết Tiếp cận lý thuyết chính của bài là ABCD (Asset based community development) được trình bày chi tiết từ đó làm cơ sở cho các phân tích các chương tiếp theo
Nội dung thứ hai được nêu trong phần này là các đặc điểm về vị trí địa lý tự nhiên, kinh tế văn hoá xã hội của địa bàn Cồn Chim trong tổng thể chung của vùng Những đặc điểm này được xem là nguồn lực quan trọng để hình thành phát triển du lịch nơi đây và đề tài sẽ tiếp tục phân tích rõ hơn ở các chương tiếp theo
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI ẤP CỒN CHIM XÃ HÒA MINH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
2.1 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh đã đưa ra chiến lược phát triển đồng thời đề cập mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể nhằm phát triển du lịch nâng cao đời sống nhân dân và ngày càng đưa hình ảnh Trà Vinh phổ biến trên khắp cả nước và thế giới:
1 Đổi mới nhận thức về phát triển du lịch
2 Tập trung xây dựng quy hoạch, cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển du lịch
Trang 353 Đầu tư phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch
4 Tăng cường liên kết, xúc tiến quảng bá du lịch
5 Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng phát triển du lịch
6 Phát triển nguồn nhân lực du lịch
7 Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch
Mục tiêu tổng quát của chiến lược này là đến năm 2025 ngành du lịch trở thành ngành kinh
tế quan trọng của tỉnh; tập trung xây dựng điểm đến, kêu gọi đầu tư vào các loại hình du lịch: du lịch văn hóa - lễ hội; du lịch biển; tâm linh; du lịch sinh thái miệt vườn, trong đó xây dựng loại hình du lịch văn hóa Khmer Trà Vinh là sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh Đầu tư hình thành hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển du lịch, bảo đảm đủ khả năng tổ chức các sự kiện văn hóa, du lịch, thể thao quy mô vùng và cấp quốc gia Đến năm 2030,
du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.14
2.2 Sự hình thành hoạt động du lịch tại ấp Cồn Chim
Ấp Cồn Chim được thành lập vào năm 2010, đến năm 2012 có điện, năm 2013 có đường
và năm 2014 có trường trạm Dù nơi đây thiếu thốn về cơ sở vật chất hạ tầng nhưng trái lại cồn là nơi có thiên nhiên phong phú, không gian yên bình đặc biệt là vẫn còn giữ được nét văn hóa hoang sơ của vùng đất Nam Bộ Vì vậy viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du
14 Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh (2018) Về việc ban hành Kế hoạch phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030
Trang 36lịch và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh đã đề xuất mô hình du lịch cộng đồng tại đây
Du lịch tại Cồn Chim – Trà Vinh thuộc loại hình du lịch nông nghiệp, mang đậm nét làng quê Nam bộ và hướng tới phát triển du lịch cộng đồng Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của tỉnh Trà Vinh là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Ban Xúc tiến Du lịch tỉnh Trà Vinh phối hợp với Viện phát triển kinh tế và du lịch (TPHCM) tổ chức các buổi tập huấn cho người dân để hoạt động du lịch Được biết, bước đầu diễn ra khá thành công khi các hộ ai nấy đều hào hứng tham gia ba đợt tập huấn do TS Tạ Duy Linh (Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế và du lịch), Nguyễn Đức Minh (Giảng viên khoa Du lịch - Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG TPHCM) cùng Sở Văn hóa Thể thao Du lịch thực hiện với nội dung về các kiến thức cơ bản, quy tắc ứng xử trong du lịch khai giảng đợt đầu tiên vào ngày 02/03/2019 Đợt tập huấn kết thúc đã có 18 hộ nhận được giấy chứng nhận hoàn thành và có thể thực hiện du lịch
Song song đó, quá trình vận động các hộ triển khai các mô hình du lịch vẫn còn gặp khó khăn Dù tò mò, thích thú khi được nghe tin về việc phát triển du lịch nhưng nỗi lo sợ, sự
tự ti vẫn lấn át ham muốn của người dân nơi đây Họ cho rằng trước giờ không biết du lịch
là như thế nào, không có kinh nghiệm, ngại tiếp xúc với người lạ hay nỗi lo về nhà cửa vẫn còn sơ sài không thể đón khách được Hiểu được sự lo lắng của người dân, lãnh đạo Ấp Cồn Chim vẫn không ngừng thuyết phục và vận động từng hộ gia đình, kết quả đã có 10
hộ hoạt động du lịch chính thức Du lịch tại Cồn Chim – Trà Vinh với chủ trương là người dân tự đầu tư để làm du lịch đã bắt đầu được đưa vào thử nghiệm từ tháng 03/2019 đến tháng 02/2020 đã có đón tiếp hơn 100 đoàn khách bao gồm cả khách lẻ và khách tour Ngày 09/09/2019, điểm du lịch cộng đồng Cồn Chim được chính thức ra mắt và đón khách Trong
đó, công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Du Lịch Đại Hưng đóng vai trò là cầu nối giới thiệu và dẫn tour đến với điểm du lịch Cồn Chim
Trang 372.3 Các dịch vụ du lịch tại ấp Cồn Chim
Các sản phẩm du lịch tại Cồn Chim mang tính đặc trưng riêng không trùng lặp với địa
phương khác được xây dựng theo quy luật thuận thiên Người dân làm du lịch gắn với bảo
vệ môi trường, nuôi trồng và sản xuất sạch theo mô hình “con tôm ôm cây lúa” Du lịch Cồn Chim dựa trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng do người dân Cồn Chim tổ chức quản lý với mục tiêu bảo vệ môi trường phát huy các giá trị văn hóa, mối quan hệ tình làng nghĩa xóm giúp cho khách du lịch đến nơi đây cảm nhận được sự gần gũi thân thiện
và có những trải nghiệm khám phá cuộc sống hàng ngày của người dân vùng sông nước
Nam Bộ Bên cạnh đó, nơi đây còn được xây dựng theo hướng “du lịch chậm” phù hợp
với mọi người mọi lứa tuổi nâng cao chất lượng cuộc sống và hưởng thụ của du khách
Du lịch tại Cồn Chim được xây dựng theo định hướng trở về với những nét văn hóa Nam
Bộ đặc trưng, được trải nghiệm từng hoạt động thường ngày của người dân Dịch vụ du lịch tại cồn được phát triển theo mô hình “từng hộ gia đình hoạt động du lịch” tức mỗi hộ
sẽ được nắm giữ hoạt động riêng phù hợp với thế mạnh của gia đình tạo nên sự tổng hòa
và liên kết giữa các hộ với nhau Hiện tại dịch vụ du lịch tại cồn bao gồm các mảng tham quan, trải nghiệm, ẩm thực, và mua hàng lưu niệm, đặc sản của địa phương
Tham quan, trải nghiệm
Với đặc điểm khai thác tự nhiên theo mùa, mùa nước ngọt thì trồng lúa và khai thác tôm tự nhiên và mùa nước mặn thì nuôi tôm cua nên khách du lịch đến đây tùy vào mùa mà có thể trải nghiệm các hoạt động cùng người dân như câu cua, tôm, cá, trồng lúa, gặt lúa,
Câu cua - nhà cô Tư Pha: Thay vì thưởng thức món cua được làm sẵn hay mua từ chợ về thì khi đến với Cồn Chim ta được tự trải nghiệm câu cua và có thể chế biến ăn liền tùy thích Nhà cô chú được nhận xét là khá giả trong cộng đồng, có rất nhiều điểm mạnh như
vị trí nhà ở được đặt tại một vị trí rất thuận lợi, đường vào nhà được đổ đan sạch sẽ, đất rộng, không gian thoáng mát, có nhiều phương tiện di chuyển (2 xe máy, một phà chở khách, xe đạp) Chi phí cho mỗi khách du lịch có nhu cầu câu cua là 10.000 đồng/ cần câu
và không giới hạn thời gian
Trang 38Trò chơi dân gian - nhà anh Thành: Tại địa điểm này, du khách có thể chơi các trò chơi dân gian: chọi lon, nhảy dây, bắn bi, ném phi tiêu… trong khoảng sân rộng, nhiều cây cối mát mẻ của gia đình Mỗi trò chơi cho mỗi khách với giá 10.000 đồng
Đặt lợp - nhà cô Mèo: Du khách tham quan có thể chiêm nghiệm kỹ năng đan lát của cô Mèo cũng như được học hỏi, thực hành hoạt động đan lát Mỗi khách trải nghiệm hoạt động với giá 10.000 đồng
Ẩm thực
Du lịch cộng đồng tại Cồn Chim hiện tại cung cấp cho khách tham quan dịch vụ ẩm thực với nguyên liệu được chế biến tại chỗ cùng với dịch vụ trải nghiệm làm bánh lá, bánh xèo,
vò lá sương sâm theo phong cách của người dân địa phương Cụ thể, các điểm tham quan
và trải nghiệm ẩm thực tại cồn hiện nay gồm có:
Bếp xưa Nam Bộ - nhà cô Vân: Khách du lịch sẽ được thưởng thức những món ăn dân dã như nước lá sâm, mứt dừa Điều kiện vật chất tốt (sân rộng rãi, được lót gạch, tráng xi măng; nơi tiếp khách thoáng mát, được trang trí đẹp) Đồng thời có cảnh quan để trải nghiệm bè, cầu khỉ, nhà sàn trên mặt nước Đặc biệt, cô Vân có khả năng nấu ăn chuyên nghiệp, khéo léo trong kết hợp các món ăn Mỗi khách chi trả 20.000 đồng
Bánh lá - nhà cô Ba Sữa: Du khách vừa được trải nghiệm quá trình tạo nên món bánh đặc sắc vừa được thưởng thức món bánh lá mơ chấm nước cốt dừa béo ngậy Không gian rộng rãi, thoáng mát với sức chứa khoảng 100 khách Chi phí là 20.000 mỗi khách
Bánh xèo - nhà cô Sáu Giàu: Thưởng thức món bánh xèo với mùi vị hoàn toàn khác biệt được tạo nên từ những nguyên liệu sạch cùng với tài nghệ làm bánh của cô Giàu Không gian sân vườn, nhà cửa được nâng cấp cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ Bánh xèo có giá 30.000/cái
Trang 39Vườn dừa- bé Thảo: Những trái dừa với vị ngọt tự nhiên, nước thanh mát cùng với không gian yên bình làm du khách thư giãn hòa quyện vào thiên nhiên Mỗi khách tham quan và thưởng thức với giá 15.000 đồng
Tiệm cơm - Nhà chú năm Lương, cô Huyền Không gian nhà cửa rộng rãi, thoáng mát Nguồn nhân lực chính bao gồm 3 người trong gia đình và có sự hỗ trợ của các thành viên khác trong cộng đồng Gia đình có tham gia tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm Thêm vào đó, nguồn nguyên liệu để chế biến được lấy hoàn toàn tại cồn Chim Cá được đánh bắt trên sông, tôm, cua được bắt tại vuông tôm trước nhà, rau vườn được trồng, gà thả vườn cũng tự tay nhà chú Năm nuôi hoặc là mua từ những hộ dân khác trên cồn để chế biến món
ăn Chi phí là 110.000/ khách
Hàng lưu niệm, đặc sản của địa phương
Đặc sản quê - nhà cô Hai Ửng Gia đình có cơ sở buôn bán tạp hóa từ lâu, nên khi tham gia hoạt động du lịch đã kết hợp buôn bán thêm các đặc sản địa phương, món hàng lưu niệm như bánh tét Trà Cuôn, tôm khô, áo thun, nón có in hình địa phương hay những chiếc giỏ đựng được tự tay đan bằng lá dừa…
Hướng dẫn viên địa phương
Du lịch cộng đồng tại Cồn chim có dịch vụ hướng dẫn viên địa phương với số lượng nhân
sự là 1 người là Quốc Vinh Quốc Vinh là thành viên trong cộng đồng, công việc bao gồm việc dẫn đoàn và giới thiệu các địa điểm đến với du khách Khi kết thúc tour Quốc Vinh sẽ được trả lương 100.000 đồng
2.4 Đặc điểm vận hành du lịch ở Cồn Chim
Ở mỗi tour tùy theo số lượng du khách mà công ty TNHH Thương mại Du lịch Đại Hưng
sẽ phân chia nhiệm vụ đến mỗi hộ Sự phân chia diễn ra luân phiên để đảm bảo công bằng giữa các hộ, mỗi hộ đều sẽ được đón khách và có thêm thu nhập Các dịch vụ du lịch đa dạng, khác biệt, gắn với sinh hoạt văn hóa Nam bộ của cồn Đặc biệt, cách làm du lịch ở đây mộc mạc, chân thành mang tính chất tự nhiên không quá chuyên nghiệp nói cách khác
Trang 40chính là làm du lịch bằng cách đưa hơi thở cuộc sống của mình đến với du khách đem lại một cảm xúc đặc biệt thể hiện rõ qua các sản phẩm du lịch Bằng tri thức địa phương cùng với những kiến thức được tiếp thu thông qua các lớp tập huấn mà các đoàn khách khi đến đây được người dân tiếp đón chu đáo, tận tình từ những câu chuyện giao lưu của hướng dẫn viên du lịch là chính người dân sinh sống tại đây đến những món ăn thức uống được chăm chút từng chút một và khéo léo lồng ghép từ các sản vật địa phương Hơn thế nữa, nhiều du khách đã đến và quay lại nhiều lần, họ tiếp tục giới thiệu đến người thân hay trên các trang mạng xã hội Đây được xem là sự thành công lớn cho cộng đồng nói chung, tạo thêm hiệu ứng thu hút nhiều khách du lịch khác biết đến Cồn Chim Ngoài những đoàn khách được kết nối thông qua Công ty TNHH Thương mại Du lịch Đại Hưng, hiện nay nơi đây còn thu hút thêm nhiều những đoàn khách lẻ Qua khảo sát, họ biết đền Cồn Chim qua các trang mạng xã hội, thấy được những đánh giá tích cực và bắt đầu tò mò về một không gian văn hóa lạ lẫm này
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương này đề tài tập trung phân tích về thực tiễn quá trình hình thành và vận hành du lịch cộng đồng tại ấp Cồn Chim trong đó đề tài điểm qua một số trọng điểm chính như: Về chiến lược phát triển du lịch tại tỉnh Trà Vinh, hiện nay Trà Vinh đang dần chuyển hướng
từ công cuộc phát triển nông nghiệp sang phát triển du lịch vì vậy tỉnh đã và đang tập trung khai thác các điểm mạnh trong địa bàn, khuyến khích cộng đồng làm du lịch, đa dạng hóa các mô hình du lịch từ du lịch văn hóa - lễ hội; du lịch biển; tâm linh; du lịch sinh thái miệt vườn… Đây cũng là cơ hội ra đời mô hình du lịch tại Cồn Chim Nhận thấy sự đa dạng trong con người đến thiên nhiên nơi đây, các bên liên quan đã tích cực vận động và thúc đẩy người dân tham gia Dù bước đầu gặp nhiều khó khăn nhưng hiện nay đã có nhiều chuyển biến tích cực Nhờ vào sự tham gia của cộng đồng mà mô hình ngày càng có thêm nhiều loại hình dịch vụ và hứa hẹn trong tương lai sẽ tiếp tục được bổ sung và phát triển