1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát câu thơ trong phong trào thơ mới công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 11 năm 2009

64 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát câu thơ trong phong trào thơ mới
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 11 năm 2009
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuộc loại này có Ngôn ngữ thơ Nguyễn Phan Cảnh, Vọng từ con chữ Nguyễn Đăng Điệp, Thơ, hình thành và tiếp nhận Mã Giang Lân, Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại Bùi Văn Nguyên, Hà M

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Công trình dự thi giải thưởng

“Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka”

lần thứ 11 năm 2009

Tên công trình

KHẢO SÁT CÂU THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội Chuyên ngành: Văn học

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

NỘI DUNG CÔNG TRÌNH 4

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 : THƠ MỚI TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA THƠ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 8

1.1 Tiền đề văn hóa của sự ra đời phong trào Thơ Mới: 8

1.2 Cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ: 10

1.3 Quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới: 16

CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM CÂU THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 28

2.1 Các thể thơ trong phong trào Thơ Mới: 28

2.2 Cấu trúc câu thơ trong phong trào Thơ Mới: 35

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 61

Trang 3

1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Chương I: Thơ Mới trong tiến trình vận động của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX:

1.1 Tiền đề văn hóa của sự ra đời phong trào Thơ Mới:

Đầu thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam có nhiều thay đổi Thơ Mới ra đời phản ánh sự vận động hợp lý của văn học

1.2 Cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ:

Cuộc tranh luận trải qua hai giai đoạn: giai đoạn giằng co (1932-1935), cả hai phái công kích lẫn nhau; giai đoạn Thơ Mới đã thắng thế và khẳng định vị thế trên thi đàn (1936-1941)

và kết thúc trong sự toàn thắng của Thơ Mới

1.3 Quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới:

Quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới chịu nhiều ảnh hưởng từ quan điểm thẩm mỹ của các thi sĩ phương Tây và có nhiều điểm khác biệt so với quan điểm truyền thống

1.3.1 Quan niệm về thơ:

Các nhà Thơ Mới chủ trương sáng tạo một nền thơ ca thuần túy, họ nhấn mạnh tác dụng giãi bày cảm xúc của thơ ca và đề cao thơ với thái độ trân trọng hết mực

1.3.2 Quan niệm về thi sĩ:

Các nhà Thơ Mới tự coi mình là kẻ lạc loài giữa trần thế, luôn luôn trong thế đứng lẻ loi đến tội nghiệp nhưng lại lấy đó làm nềm kiêu hãnh Họ cho rằng thi sĩ là cái gì cao cả linh diệu vượt lên trên nhân loại

1.3.3 Quan niệm về cái Đẹp:

Các nhà Thơ Mới yêu thích vẻ đẹp nhuốm buồn Ở giai đoạn cuối, họ chìm vào niềm say

mê cái Đẹp không luân lý

Trang 4

Chương II: Cấu trúc câu thơ trong phong trào Thơ Mới:

2.1 Các thể thơ trong phong trào Thơ Mới:

Có thể nói, những cái mới đầu tiên của Thơ Mới là ở thể thơ Thoạt nhìn, thể thơ có vẻ chỉ là một yếu tố của hình thức, nhưng thực tế, thể thơ phần nào phản ánh tư tưởng, cảm xúc thẩm mỹ của nhà thơ Từ đầu thế kỷ XX, quá trình đổi mới thể thơ đã bắt đầu, nhưng những thay đổi mạnh mẽ nhất diễn ra trong khuôn khổ phong trào Thơ Mới

Thơ Mới có sự đa dạng về thể thơ, hai thể thơ được sử dụng nhiều nhất là thể 7 tiếng và 8 tiếng Các thể thơ trong phong trào Thơ Mới vừa là sự tiếp thu các giá trị sẵn có của thơ ca dân tộc, vừa là sự học tập những thể loại phù hợp từ thơ ca nước ngoài

2.2 Cấu trúc câu thơ trong phong trào Thơ Mới:

2.2.2 Thanh điệu:

Các nhà Thơ Mới giải phóng thanh điệu và thay vào đó bằng âm điệu của tình cảm Thơ Mới sử dụng thanh bằng nhiều hơn thanh trắc do khả năng gợi cảm của thanh bằng phù hợp với điệu hồn thi sĩ, mặt khác, nó phù hợp với tính tượng trưng mà các thi sĩ chịu ảnh hưởng

từ thơ Pháp

2.2.3 Nhịp điệu:

Thơ Mới không có nhiều cách tân về nhịp điệu, chủ yếu là tiếp thu trung thành nhịp điệu truyền thống Nhịp điệu Thơ Mới nghiêng về nhịp điệu ổn định, đều đặn

Trang 5

3

2.2.4 Vần điệu:

Các nhà Thơ Mới chú trọng nhiều đến vần điệu, sử dụng vần chân nhiều hơn vần lưng ở tất cả các thể thơ (trừ thể lục bát) Họ giảm bớt vai trò của vần điệu bằng cách nhấn mạnh hơn đến các yếu tố khác trong cấu trúc câu thơ, nhiều lúc thi sĩ tỏ ra lúng túng trong cách gieo vần

Trang 6

NỘI DUNG CÔNG TRÌNH

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Gần 80 năm đã đi qua từ khi Thơ Mới xuất hiện và gây tiếng vang lớn trên thi đàn Lớp bụi lưu cữu của thời gian không thể phủ mờ những thành quả của Thơ Mới, trái lại, nó ngày càng khẳng định được tầm quan trọng của mình với quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Trải qua những bước thăng trầm để được nhìn nhận chân giá trị, Thơ Mới đã trở thành một hiện tượng văn học được mổ xẻ, phân tích, nghiên cứu khá nhiều Tuy nhiên, bình giá một cuộc cách mạng thì nhiều bao nhiêu cũng là không đủ

Xét về mặt cấu trúc của một bài thơ, câu thơ là đơn vị cơ bản Dù ngắn hay dài, câu thơ phải có tính duy nhất, cả về cú pháp, về nghĩa, về cảm xúc để xây dựng các đơn vị bậc cao hơn: đoạn thơ, khổ thơ hay bài thơ Vì thế, nghiên cứu một bài thơ phải khởi nguồn từ các câu thơ của nó, lấy đó làm nền tảng triển khai việc nghiên cứu các bộ phận khác của bài thơ Xuất phát điểm đó làm cho quá trình nghiên cứu trở nên có hệ thống và khoa học hơn Khi tìm hiểu một phong trào thơ ca, việc khảo sát các đặc điểm của câu thơ sẽ cho thấy những căn cứ để khái quát đặc điểm chung của cả phong trào Tất nhiên với phong trào Thơ Mới cũng vậy

Dụng ý của người viết khi chọn đề tài này là muốn được nhìn Thơ Mới từ đơn vị cơ bản nhất của nó về mặt cấu trúc, qua đó chỉ ra đóng góp của phong trào vào sự phát triển nền thơ Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Từ năm 1942, sự kiện cuốn Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh, Hoài Chân) được xuất bản

đã mở đầu cho việc nghiên cứu về phong trào Thơ Mới (chủ yếu là ở trong nước) Cùng năm

đó, Vũ Ngọc Phan viết Nhà văn hiện đại, trong đó có nói đến một số nhà thơ trong phong trào Việc nghiên cứu chuyên biệt về một tác giả bắt đầu vào năm 1941 với công trình Hàn

Mặc Tử của Trần Thanh Mại Sau Cách mạng Tháng Tám, do những tác động của hoàn cảnh

Trang 7

5

chính trị, Thơ Mới bị đưa ra phê bình, phủ nhận một chiều, công việc nghiên cứu vì vậy không thu được những kết quả xác đáng Từ 1986 trở đi, phong trào thơ ca này mới được

đưa ra nhìn nhận khách quan, khoa học hơn Công trình đóng vai trò tiên phong là Thơ Mới –

những bước thăng trầm (Lê Đình Kỵ) Nối tiếp đó là một loạt các chuyên luận, các bài tiểu

luận, phê bình có giá trị Đến nay, về Thơ Mới chúng ta có một số lượng công trình khoa học không thể kể hết, nhiều vấn đề của phong trào đã được đưa ra phân tích, mổ xẻ khá kỹ

Về vấn đề câu thơ, hầu như nhà nghiên cứu nào cũng có đề cập đến trong khi nghiên cứu

về Thơ Mới Tuy nhiên, đa số đều chỉ đề cập lướt qua mà chú trọng hơn về phần nội dung tư

tưởng của Thơ Mới, như các công trình: Thơ Mới, những bước thăng trầm (Lê Đình Kỵ), Về

một cuộc cách mạng trong thơ ca – phong trào Thơ Mới (Phan Cự Đệ)… Hoặc khảo sát các

yếu tố của cấu trúc câu thơ trong Thơ Mới một cách riêng rẽ trong các chuyên luận chung về

thơ Thuộc loại này có Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Vọng từ con chữ (Nguyễn Đăng Điệp), Thơ, hình thành và tiếp nhận (Mã Giang Lân), Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại

(Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức)… Khi nghiên cứu các tác giả tiêu biểu của phong trào, các nhà nghiên cứu cũng nói đến đặc điểm câu thơ trong cái nhìn chung về nghệ thuật thơ Các công trình này nhìn chung đều đặt thành tựu cách tân về câu thơ nói riêng và hình thức nói chung đứng sau những thành tựu về đổi mới tư tưởng thẩm mỹ

Đáng chú ý nhất là quan điểm của Trần Đình Sử Ông đã nghiên cứu câu thơ trong Thơ Mới gắn chặt với vấn đề thi pháp thơ và đưa ra nhiều nhận định mới mẻ Chính ông là người

đã đưa ra khái niệm “câu thơ điệu ngâm” và “câu thơ điệu nói” Nhà nghiên cứu này rất đề cao sự cách tân câu thơ trong Thơ Mới và nhiều lần nhắc lại quan điểm này trong các chuyên

luận: Thơ Mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam, Hành trình thơ Việt Nam hiện

đại, Thơ lãng mạn Đây là quan điểm rất khác so với các nhà nghiên cứu trước đó

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều áp dụng cái nhìn lịch đại vào việc xem xét câu thơ trong Thơ Mới, chúng tôi hoàn toàn đồng ý Những nhận định, phân tích của các công trình

kể trên đã khơi nguồn ý tưởng cho chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Trang 8

3.1 Mục đích của đề tài:

Cung cấp cái nhìn khái quát về các đặc điểm của câu thơ trong phong trào Thơ Mới Chỉ ra những sự tiếp thu, sáng tạo so với câu thơ truyền thống Việt Nam và các ảnh hưởng từ câu thơ của các nền thơ nước ngoài mà Thơ Mới có điều kiện giao lưu, tiếp xúc

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

Để phục vụ các mục đích trên, chúng tôi tiến hành khảo sát câu thơ trong phong trào Thơ Mới qua các phương diện: thể thơ, ngôn ngữ, thanh điệu, nhịp điệu, vần điệu

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình tìm hiểu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, ngoài ra vận dụng thêm thi pháp học vào việc nghiên cứu

5 Giới hạn của đề tài:

Đề tài tập trung khảo sát câu thơ trong 18 tập thơ được in lại trong Thơ Mới 1932 – 1945,

tác giả và tác phẩm (Lại Nguyên Ân tập hợp và biên soạn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội,

2001), gồm các tập: Mấy vần thơ, tập mới (Thế Lữ), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Gái quê và

Thơ điên (Hàn Mặc Tử), Lỡ bước sang ngang và Mười hai bến nước (Nguyễn Bính), Tinh huyết (Bích Khê), Thơ say và Mây (Vũ Hoàng Chương), Thơ thơ và Gửi hương cho gió

(Xuân Diệu), Lửa thiêng (Huy Cận), Điêu tàn (Chế Lan Viên), Bức tranh quê (Anh Thơ),

Ngày xưa (Nguyễn Nhược Pháp), Tiếng sóng Yêu đương (Huy Thông), Hoa niên (Tế Hanh), Quê ngoại (Hồ Dzếnh) (từ đây sẽ gọi là 18 tập thơ) Ngoài các tập thơ đã nêu, chúng tôi còn

tham khảo một số bài thơ khác thuộc phong trào này cùng in trong tuyển tập trên, cùng các văn bản tác phẩm khác có liên quan

6 Đóng góp mới của đề tài:

Khảo sát câu thơ trong phong trào Thơ Mới một cách hệ thống và tập trung

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:

Trang 9

8 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được triển khai gồm 2 chương:

- Chương I: Thơ Mới trong tiến trình vận động của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX

- Chương II: Đặc điểm câu thơ trong phong trào Thơ Mới

Trang 10

CHƯƠNG 1 : THƠ MỚI TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA THƠ VIỆT

NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Tiền đề văn hóa của sự ra đời phong trào Thơ Mới:

Đến thập niên 30 của thế kỷ XX, thực dân Pháp đã duy trì nền thống trị thuộc địa ở Việt Nam được hơn 70 năm Chế độ phong kiến nửa thực dân đã gây ra nhiều đổi thay trong xã hội, trong đó có văn hóa

Chế độ khoa cử lần lượt bị bãi bỏ ở cả ba kỳ, nền Hán học đổ vỡ theo, thơ Đường cũng mất luôn địa vị độc tôn trên thi đàn Hệ thống giáo dục trong các trường phổ thông và cao đẳng đã đưa đến cho trí thức Việt Nam cơ hội được tiếp xúc trực tiếp với văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp Nhiều nhà Thơ Mới đã chịu ảnh hưởng từ những nền văn học nước ngoài, trong đó mạnh mẽ nhất là các trường phái văn học phương Tây Không chỉ vậy, trí thức tân học còn được trang bị những kiến thức về mỹ học, lý luận nghệ thuật, tu từ học…, những thứ họ không thể có nếu học theo nề nếp cũ của nền Hán học, để từ đó có một

ý thức cá nhân độc lập, một nhu cầu thẩm mỹ mới, và sự nhạy cảm với cái đẹp một cách bài bản Thực tế cho thấy, đa số các nhà Thơ Mới xuất thân từ lớp trí thức mới này, một số người còn từng du học nước ngoài, là tiến sĩ khoa học (trường hợp Phạm Huy Thông)

Giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ngày càng tăng về số lượng, và nhanh chóng định hình lối sống “văn minh” với những nếp sinh hoạt rất “Tây” Họ không còn nhất nhất suy nghĩ theo những khuôn khổ có sẵn nữa, ngay cả cách vui, buồn, hờn, giận, ghen tuông hay trìu mến… cũng đã khác hẳn cha anh họ Một lớp độc giả mới đã ra đời Họ sẽ là người chào đón, thưởng thức, ca tụng Thơ Mới một cách nồng nhiệt Lớp tác giả mới cũng hình thành từ hai giai tầng xã hội này, phần lớn là từ tầng lớp tiểu tư sản Họ không có được một bản lĩnh chính trị vững vàng để đi theo con đường cách mạng, mà từ những năm 1930 đã có một đảng chính trị lãnh đạo Không ít các nhà Thơ Mới từng tiếp xúc với các phong trào cách mạng sôi nổi đương thời Nhưng tất cả

họ đều không có đủ lòng tin để dấn thân vào con đường chính trị Tuy vậy, họ vẫn còn một lòng ái quốc sâu đậm để không thể quay lưng lại với dân tộc làm tay sai cho Pháp Đối với những người trai trẻ ấy, con đường văn chương bấy giờ là lối thoát duy nhất để không đổ

Trang 11

9

máu, nhưng cũng không phản bội Tổ quốc, một con đường trong sạch để dốc bầu tâm sự Họ rút vào bản thể để cố thủ trước những sóng gió dồn dập của xã hội Cần phải thấy rằng lối “ở ẩn” này của các nhà Thơ Mới không có được cái an nhiên tự tại đã từng có ở các nhà Nho xưa mà đầy bế tắc và nhiều day dứt

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, công nghệ in ấn phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Công nghệ in ấn đã tạo điều kiện cho ngành xuất bản, nhiều nhà xuất bản ra đời

và chuyên về văn học: Đời nay, Quảng Thịnh… chủ yếu là in các tác phẩm truyện Nôm, thơ, chèo… trong kho tàng văn học dân tộc, bán với giá rất rẻ Nhờ đó mà vẻ đẹp tiếng Việt có cơ hội được nâng niu, gìn giữ trong những tủ sách của tầng lớp trí thức, trong đó có một số lớn các trí thức tân học nặng lòng với văn hóa nước nhà Không thể phủ nhận tác dụng tích cực của những tập sách mỏng này vào nỗ lực gìn giữ và phát triển sự trong sáng, giản dị của ngôn ngữ dân tộc lên mức thuần thục một cách nghệ thuật Và như vậy cũng không thể bỏ qua tác dụng gián tiếp của in ấn lên quá trình tiếp nhận di sản văn học truyền thống ở các nhà Thơ Mới Công nghệ in ấn còn tạo điều kiện cho sự phát triển ngành báo chí - một tác nhân quan trọng nâng đỡ và theo sát từng bước phát triển của Thơ Mới

Báo chí đã theo chân người Pháp vào Việt Nam Bước đầu chỉ có vài tờ báo do Pháp đứng ra chủ trương nhằm công bố các sắc lệnh của chính phủ thực dân và đăng tin tức Sau này có thêm các tờ báo do người Việt sáng lập và trực tiếp đứng ra làm chủ bút Các đầu báo mới xuất hiện ngày càng nhiều, điều đặc biệt là hầu như tờ báo nào cũng có riêng một mục

về văn chương, hoặc là đăng sáng tác của các văn sĩ trong nước, hoặc là dịch Hán văn cũng như Pháp văn, có báo ra hẳn một phụ trương về văn chương Báo chí phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ, tạo nên không khí văn chương trong xã hội Từ năm 1932, nhất là sau khi Pháp dỡ

bỏ lệnh kiểm duyệt báo chí quốc ngữ, báo chí phát triển mạnh mẽ, rầm rộ (khoảng gần 200

tờ báo cùng phát hành), trở thành con đường chính đưa các văn sĩ mới khởi nghiệp đến với độc giả Nhiều nhà Thơ Mới đồng thời là nhà báo hoặc có một thời gian hoạt động trong ngành báo (Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ, Hàn Mặc Tử, Trần Huyền Trân, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh…) Quãng thời gian làm báo đã hỗ trợ không ít cho sự nghiệp văn chương của họ Không chỉ đăng thơ văn, báo chí còn góp phần lớn vào công việc phê bình văn học Các cuộc tranh luận văn học lấy báo chí làm nơi luận chiến, các bên đều dùng báo chí để đáp trả lẫn nhau Các cuộc diễn thuyết về văn chương đều được tường thuật

Trang 12

chi tiết trên các báo Báo chí đã thúc đẩy sự phát triển của văn học cả về lĩnh vực sáng tác và

phê bình

Văn học Việt Nam đến đầu thế kỷ XX đã không hoàn toàn là cổ điển nữa, nhưng vẫn chưa thoát khỏi sức dư ba to lớn của hai từ ấy Có một sự mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa nhu cầu thẩm mỹ mới với thi pháp cũ đang tồn tại Thơ ca Việt như chìm vào một giấc ngủ

Ở phía văn xuôi, tình hình cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa Văn học Việt Nam vấp phải một cái ngưỡng nhiều duyên nợ nhưng nhất thiết phải vượt qua vì nó đã quá lỗi thời Ở lại với chủ nghĩa cổ điển là tự giết chết mình Chưa bao giờ văn học dân tộc lại có nhu cầu đổi mới một cách bức thiết đến như vậy Giữa lúc ấy thì những đợt gió đầu tiên của cơn lốc cách tân bắt đầu thổi Người ta thấy xuất hiện các sáng tác mang những nét rất mới về cả văn phong, văn thể và cảm xúc Chủ nghĩa lãng mạn được định hình chính thức bắt đầu từ 1925 với văn

xuôi bằng tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), 1932 với thơ ca bằng Tình già (Phan

Khôi), sau đó là cả một cuộc cải cách lớn Cổ điển rồi tới lãng mạn, tượng trưng, và những gì sau đó nữa, là con đường tất yếu phải đi qua trên quá trình hiện đại hóa thơ ca Sự xuất hiện của Thơ Mới là hoàn toàn hợp lý Nói cách khác, phong trào thi ca này ra đời đã phản ánh sự vận động hợp lý của văn học, đáp ứng cho những đòi hỏi văn hóa của một xã hội đã có nhiều thay đổi, phản ánh đúng tâm sự, nhu cầu thẩm mỹ của một lớp người trong một thời đoạn lịch sử đặc biệt

1.2 Cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ:

Ra đời với sự hỗ trợ của nhiều tiền đề như vậy, nhưng Thơ Mới đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của phái làm thơ cũ Theo quan niệm của các nhà Thơ Mới, thơ cũ mà họ đòi hỏi phải cải cách không bao gồm tất cả các sáng tác từ trước 1932, nghĩa là có cả những kiệt tác

như Truyện Kiều của Nguyễn Du Lực lượng đối kháng chủ yếu của Thơ Mới là những bài thơ Đường luật nội dung cũ kỹ, câu chữ mòn sáo Bắt đầu từ bài viết Một lối thơ mới trình

chánh giữa làng thơ của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn, hai phái đã liên tục có những bài

viết công kích lẫn nhau trên các báo và kết thúc bằng bài tổng kết Một thời đại trong thi ca –

Hoài Thanh Có thể chia cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ làm hai giai đoạn: giai đoạn giằng co (1932 – 1935), giai đoạn Thơ Mới đã thắng thế và khẳng định vị trí của mình trên thi đàn (1936 – 1941)

Trang 13

11

Ở giai đoạn đầu (1932 – 1935), cả hai phái công kích lẫn nhau Trong hai năm 1932 –

1933, Thơ Mới đấu tranh một cách chật vật: vừa chính thức chào đời, chưa khỏi những lúng túng bỡ ngỡ, thành tựu chưa có, lại phải đương đầu với một lực lượng được hậu thuẫn bởi cả ngàn năm lịch sử Cả hai bên đều đưa ra những luận điểm chống lại đối phương Thơ Mới chê thơ cũ mòn sáo, quá gò bó, cảm xúc không chân thật Phái thơ cũ phản bác: “thử hỏi có lối thơ nào là chẳng phải bó buộc bởi những luật lệ nhất định… vì nếu không thế thì không

phải là thơ nữa” [21,tr.88], rồi quay lại mỉa mai Thơ Mới bỏ khó tìm dễ Về điểm này, Phụ

nữ tân văn đã trả lời “Thơ 8 câu cũng không phải khó gì Nhiều người chỉ học trong nửa

tiếng đồng hồ là thuộc và có thể làm đúng niêm luật” [36,tr.33] Thơ cũ lại chê Thơ Mới lủng củng không biết chọn chữ Ngay lập tức, Nhất Linh đáp: “Nhà làm thơ cũ cân nhắc từng chữ, cốt ý để câu văn được chỉnh, đọc lên nghe cho kêu có từng chữ đối chọi một cách thần tình, khéo léo Nhà làm thơ mới cân nhắc từng chữ để đo đắn xem chữ nào diễn được cái cảm của mình, tả được cái ý của mình đúng hơn hết… Một bên chỉ cốt cân nhắc để tìm chữ nào đối chọi nhau cho ý là phụ, một bên cố cân nhắc để tìm những chữ nào hợp điệu thơ, diễn đúng ý” [21,tr.132-134] Thơ cũ lập luận rằng Thơ Mới thật ra chẳng có gì mới, văn của ta từ trước đó đã có những thể thơ như thế: lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ khúc, mà quên

là các đại biểu đối phương đã viết rất nhiều về sự cần thiết phải đổi mới văn thể cho phù hợp

với cảm xúc mới (các bài của Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Nhị Linh … trên Phong hóa, Phụ

nữ tân văn…) Các nhà thơ cũ chỉ phê được một số bài Thơ Mới có cái vụng về của buổi đầu

tạo lập chỗ đứng trên thi đàn, còn các tác phẩm có giá trị thì họ không đụng đến Thực ra phái Thơ Mới đã chủ động tự phê rồi, và thậm chí còn quyết liệt hơn hẳn Các đại biểu cho phái thơ cũ còn sa vào quan điểm cực đoan rằng thơ Đường là đỉnh cao của thi ca nhân loại,

từ bao lâu nay đã có biết bao người làm thơ theo luật Đường thì nay cũng vậy, không cần phải đổi mới Quan điểm này đi ngược lại với qui luật phát triển của thi ca nói chung và nhanh chóng đuối lý Hoặc họ đề xuất ý kiến: chỉ nên đổi mới về nội dung, về hình thức nên

kế thừa hình thức cũ, thì lại trùng quan điểm với nhiều nhà Thơ Mới

Ngoài việc viết bài đăng báo, phái thơ cũ còn đăng đàn diễn thuyết, đại biểu tích cực nhất

là ông Nguyễn Văn Hanh Các cuộc diễn thuyết của ông Hanh được đặt trong thế đối chọi với các cuộc diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm, trên thực tế thì hai đại diện không cùng phái này cũng hướng vào nhau rõ rệt trong các lập luận Điều thiệt thòi cho phái thơ cũ là

Trang 14

nếu cô Kiêm trình bày luận điểm một cách rõ ràng, dẫn chứng chắc chắn, được ủng hộ nhiệt

liệt thì ông Hanh chỉ làm lộ ra cái điểm yếu lỗi thời của thơ cũ Báo Phụ nữ tân văn đã có

một loạt bài tường thuật các lần đăng đàn của cả hai phía với lập trường nghiêng hẳn về phía Thơ Mới và một giọng điệu khá dí dỏm Nhìn chung, phái thơ cũ tuy chống trả sức công phá của Thơ Mới cũng mạnh mẽ, nhưng bế tắc cả về lý thuyết và thực tiễn sáng tác Trong khi

Thơ Mới liên tục cho ra các sáng tác có giá trị (các tập Yêu đương – Phạm Huy Thông, Anh

với em – Lan Sơn – năm 1937, Mấy vần thơ - Thế Lữ, Ngày xưa – Nguyễn Nhược Pháp, Bâng khuâng- Phan Văn Dật, Cô gái xuân - Đông Hồ - năm 1935) thì thơ cũ hầu như chẳng

có gì Tập Những bông hoa trái mùa của Tường Vân và Phi Vân xuất bản năm 1935 – một

bông hoa hiếm hoi của vườn thơ cũ lại quá kém hương nhạt sắc đến nỗi bị Thơ Mới vùi dập

tơi tả trên Phong hóa (số 148, ngày 10/05/1935)

Thơ Mới, trái lại, bước vào cuộc tranh luận với một điểm khởi đầu ít chắc chắn hơn lại thể hiện sức sống mạnh mẽ hơn Các đại diện của phái Thơ Mới công kích thơ cũ nhiều nhất

là về niêm luật Từ niêm luật, Thơ Mới lấy đó làm cơ sở để chê thơ cũ gò bó khuôn sáo, là không chân thật Phái Thơ Mới tiến công bằng các quan niệm thơ ca và lấy những tác phẩm

cụ thể để phê bình Chế giễu các bài thơ thơ rỗng tuếch, rập khuôn đã đành, Thơ Mới thậm chí còn đem thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan ra chê Như vậy cũng có phần thái

quá, nhưng phái Thơ Mới đã chỉ ra đúng cái điểm yếu của thơ cũ

Phê bình thơ cũ, phái Thơ Mới đưa ra những lý do để Thơ Mới ra đời và tồn tại Lưu

Trọng Lư lập luận trên Phụ nữ tân văn, Nguyễn Thị Kiêm diễn thuyết tại Hội khuyến học, cả

hai đều chỉ ra sự thay đổi trong tâm hồn thế hệ: “Thơ Đường luật không dùng được nữa…lời văn không thích hợp với sự đời bây giờ mà ý tưởng không tả ra hết được” [21,tr.100] Như vậy là phái Thơ Mới đã đưa ra được đầy đủ những lý do cần thiết cả về mặt văn học và xã hội cho lẽ sống của mình Về mặt này, họ làm tốt hơn nhiều so với phái thủ cựu Cùng quan

điểm như vậy nhưng ý kiến của Hoài Thanh trên Tiểu thuyết thứ bảy và T.L trên Phụ nữ tân

văn là đáng chú ý hơn cả Họ ủng hộ Thơ Mới bằng các luận chứng khoa học T.L viết

“Những biến đổi kịch liệt trong xã hội An Nam về kinh tế và chánh trị đã vang bóng trong văn chương An Nam” [21,tr.97]

Trang 15

13

Bên cạnh việc phân tích ưu điểm của mình, phái này cũng phê phán các bài Thơ Mới không có giá trị và những kẻ cơ hội muốn nhân sự kiện Thơ Mới mà nhảy vào làng thơ Tiêu

biểu là loạt bài của Thế Lữ trong mục Điểm sách của báo Phong hóa, bài viết của Thạch

Lam cùng đăng trên tờ báo ấy Các bài viết của Thế Lữ còn nghiêng về phê phán chung chung, đôi bài còn có tính chất giễu cợt tác giả, thiếu sự khảo sát tác phẩm một cách thuyết phục Bài viết của Thạch Lam tuy ngắn hơn nhưng rõ ràng hơn khi chỉ ra năm nhược điểm thường thấy trong một số bài Thơ Mới: không phải thơ, không vần, không âm điệu, không ý

nghĩa, người làm thơ thì…xuẩn [21,tr.234]

Phái ủng hộ Thơ Mới cũng tỏ ra mềm dẻo trong khi bài xích thơ cũ Thơ cũ mà họ lấy làm đối tượng công kích ngay từ đầu đã được xác định là những bài thơ không còn phù hợp với thời đại chứ không phải toàn bộ di sản thơ trước cái mốc khởi đầu của Thơ Mới Thái độ của họ đối với các đại diện của thơ cũ cũng khá khéo léo Sau những bồng bột ban đầu mà biểu hiện là sự phê phán tràn lan trong năm 1932 - phái Thơ Mới đả kích Tản Đà, đôi khi sa vào chế giễu cá nhân – thì đến năm 1934 họ đã đối thoại bình đẳng với thi sĩ này bằng những

lời lẽ chừng mực và tôn trọng (câu chuyện về thơ giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư trên Tiểu

thuyết thứ bảy) Tinh thần cầu thị đó chỉ càng củng cố thêm địa vị của Thơ Mới trên thi đàn

Đối với Đông Hồ cũng vậy, ban đầu phái Thơ Mới đả kích kịch liệt nhưng khi thi sĩ sáng tác

ra những bài Thơ Mới có giá trị thì lập tức được đón nhận, hoan nghênh

Bước sang năm 1936, Thơ Mới đã xác lập được chỗ đứng của mình, cuộc tranh luận cũng

đi vào giai đoạn mới Thỉnh thoảng người ta vẫn còn thấy những bài viết của phái thơ cũ, song đó chỉ còn là những tiếng nói yếu ớt không gây được tiếng vang nào Thơ Mới đã qua giai đoạn khẳng định quyền sống giờ đây được thảnh thơi để chuyên tâm vào việc trau dồi nghệ thuật Lê Tràng Kiều đề nghị bỏ tính từ “mới” trong cụm định danh đối chọi với thơ cũ bởi “từ bây giờ lịch sử chỉ còn ghi lại những bài thơ hay mà thôi, không còn chia ra mới, cũ

nữa” [21,tr.278] Nếu như ở giai đoạn đầu của cuộc tranh luận, báo Phong hóa và Lưu Trọng

Lư đóng vai trò tương đối quan trọng trong việc nâng đỡ Thơ Mới, cùng với nhiều cây bút trợ lực xung quanh thì từ 1936, Lê Tràng Kiều góp công lớn bằng một loạt bài giới thiệu phong cách một số nhà Thơ Mới Ông đã đưa ra những nhận xét sắc sảo, bắt đúng cái “thần” trong cá tính văn chương của các thi sĩ: “Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn – Hùng tráng như Huy Thông – Dồi dào như Thế Lữ - Huyền diệu như Thái

Trang 16

Can – Âm thầm như Đông Hồ - Trong sáng như Nhược Pháp – Mơ màng như Leiba – Buồn não như Nguyễn Vỹ và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư”

[21,tr.286] Ý kiến nổi tiếng này của ông đã được Hoài Thanh tiếp thu và phát triển trong Thi

nhân Việt Nam Lê Tràng Kiều đã đưa đến một thái độ phê bình rộng lượng, chừng mực

Loạt bài tham gia tranh luận này của ông đăng trên Hà Nội báo (từ số 14 đến số 30, 1936) có

thể coi là những trang hay nhất trong cuộc tranh luận

Thơ Mới đã chiến thắng trước những chiến binh không chính quy của phái thơ cũ Nối tiếp các tập thơ đã xuất bản, liên tục trong các năm từ 1936 đến 1941, Thơ Mới cho ra đời

các tập thơ có giá trị : Gái quê – Hàn Mặc Tử, Điêu tàn – Chế Lan Viên, Thơ thơ - Xuân Diệu , Lửa thiêng – Huy Cận, Lỡ bước sang ngang – Nguyễn Bính, Bức tranh quê - Anh

Thơ Thơ cũ lui về ẩn cư trong các thi xã, thi tập, rút dần bước tiến công trên sách báo Người ta hờ hững hẳn với thơ cũ: báo nào đăng thơ cũ thì báo ấy chết, các báo nói chuyện thơ cũ hay các tập thơ cũ, dù có giá trị cũng chẳng được nhiều người chú ý (trường hợp

quyển Chương dân thi thoại của Phan Khôi và tập Mùa cổ điển của Quách Tấn) Trước tình hình đó, Hoài Thanh viết Một thời đại trong thi ca, chính thức kết thúc cuộc tranh luận

Cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ đã tạo nên một không khí sôi động trên văn đàn Lực lượng tham gia về cả hai phía tương đối đông đảo Song nếu Thơ Mới quy tụ được một tập hợp văn sĩ về đa số “có tài và có gan”, vừa có các tên tuổi thuộc “chiếu trên” thi đàn, với tiếng nói rất có trọng lượng như Phan Khôi, Phan Bội Châu; vừa có các nhà thẩm thơ trẻ tuổi

mà tinh tế như Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh; vừa có các thi sĩ của phong trào Thơ Mới lấy sự sống còn của tác phẩm làm lẽ sống; thì thơ cũ chỉ có những nhà cựu học lớn tuổi không có khả năng duy trì sự tồn tại cho thơ cũ Đại diện đáng kể nhất của họ là Tản Đà thì lại thể hiện

lập trường không vững vàng, sau này cũng âm thầm hợp tác với báo Ngày nay – một cơ quan

ngôn luận của những người bênh vực Thơ Mới Đến khi Huỳnh Thúc Kháng lên tiếng vào năm 1941 thì lời nói ấy đã quá lạc lõng, nhanh chóng chìm đi giữa những thành công liên tiếp của Thơ Mới Nhìn từ lực lượng tham gia, chiến thắng giành cho phái Thơ Mới cũng khá

rõ ràng Thực tế cuộc tranh luận đã chứng minh điều ấy

Về mặt phương pháp, các bài tranh luận ở cả hai phái đều dựa trên lý thuyết là chính, nói

về cái hay của mình, cái dở của người Phái Thơ Mới đi xa hơn khi chỉ ra được tiền đề xã hội

Trang 17

15

và văn hóa của phong trào Cả hai đều sử dụng phép đối sánh để làm bật nên sự đối lập hay –

dở ( Tùng Lâm Lê Cương Phụng, Về cái lối thơ Mới hiện thời, Văn học tuần san, số 6, 1935; Nguyễn Tường Bách, Thơ Mới, Phong hóa, số 97, 1934; Nhất Linh, Sự cân nhắc trong thơ

cũ và thơ Mới, Phong hóa, số 69, 1933…) Tuy vậy nhìn chung các bài tranh luận còn mang

nặng tính lý thuyết, phê phán chung chung mà không gắn với tác phẩm cụ thể Chỉ từ khi Thơ Mới chính thức chiếm riêng một cõi lớn trên thi đàn ( nếu không muốn nói là hầu hết ),

Lê Tràng Kiều mới có các bài phân tích khá sắc sảo tác phẩm của các nhà tân thi sĩ, còn ở giai đoạn đầu chỉ có bài diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm là lập luận tương đối chắc chắn, các bài tranh luận còn lại không có giá trị cao về mặt lý luận

Cuộc tranh luận Thơ Mới- thơ cũ cũng là một biểu hiện của sự phát triển thể loại phê bình trước 1945, mà rõ nhất là phê bình báo chí Càng đi về cuối cuộc tranh luận, phong cách phê bình càng đi gần đến tính khoa học Ở giai đoạn đầu, các bài phê bình còn nặng tính phê phán, châm biếm theo hướng thiên vị hẳn cho một phái Song vẫn có hai đại diện để lại dấu

ấn trong lĩnh vực này: Phan Khôi và Tản Đà Phan Khôi phê bình thơ khá duy lý nhưng có duyên Tản Đà thì phán đoán gãy gọn, chính xác Giai đoạn hai có sự đăng đàn của Lê Tràng Kiều và Hoài Thanh, với lối phê bình rành mạch, khách quan đã giúp cuộc tranh luận trở nên khoa học hơn là chỉ đả kích lẫn nhau Các bài phê bình trong cuộc tranh luận không phải ít, các tác giả tham gia cũng không giới hạn ở những tên tuổi nói trên Tuy vậy, giá trị phê bình

mà cuộc tranh luận này đóng góp tập trung nhiều hơn cả là ở các bài viết của một số lượng văn sĩ ít ỏi đó Cũng cần phải thấy rằng ngoài việc phê bình lẫn nhau, cuộc tranh luận cũng

đã đề cập đến bản chất của thơ ca Tiêu biểu là những ý kiến của Tản Đà trong giai đoạn đầu Báo chí đóng vai trò lớn trong cuộc tranh luận này Trong cả hai giai đoạn, các tờ báo đều

là nơi đăng tải các ý kiến của cả hai phái, cũng thể hiện lập trường của mình, đứng hẳn về

một phía Phái ủng hộ Thơ Mới gồm Phụ nữ tân văn, Phong hóa, Tiểu thuyết thứ bảy, Hà

Nội báo, Ngày nay, Tràng An… Phái bảo vệ thơ cũ có Văn học tạp chí, Văn học tuần san,

Tin văn… Trong số 92 bài tranh luận được tuyển chọn in trong Tranh luận văn nghệ thế kỉ

XX, tập hai có đến 87 bài ra mắt độc giả lần đầu thông qua báo chí Trong đó Phụ nữ tân văn:

14 bài, An Nam tạp chí : 2 bài, Phong hóa: 2 bài, Văn học tạp chí : 5 bài, Văn học tuần san: 6 bài, Nam phong : 1 bài, Tiểu thuyết thứ bảy: 8 bài, Loa: 1 bài, Tràng An: 5 bài, Hà Nội báo :

11 bài, Ngày nay: 9 bài, Tiến bộ: 2 bài, Trong khuê phòng: 1 bài Sức lan tỏa mạnh mẽ của

Trang 18

báo chí đã giúp cho cuộc tranh luận diễn ra với nhịp độ nhanh, các bên có điều kiện theo dõi, đáp trả nhau kịp thời, không khí tranh luận vì vậy càng thêm sôi động

Tóm lại, cuộc tranh luận Thơ Mới – thơ cũ đã diễn ra trên một không gian lớn, trải khắp

từ Nam ra Bắc, trong thời gian tương đối dài: từ năm 1932 – 1941, chủ yếu tập trung ở bảy năm đầu Cuộc tranh luận đã lôi cuốn đông đảo các văn sĩ và gây được sự chú ý lớn trên thi đàn Dù khá vất vả ở hai năm đầu nhưng Thơ Mới cuối cùng cũng giành được phần thắng cả

về lý luận lẫn thực tiễn sáng tác Diễn tiến cuộc tranh luận diễn ra sôi nổi, càng chứng minh cho lẽ sống của thơ Mới

1.3 Quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới:

Thơ Mới đã thực hiện một cuộc cải cách thi ca trên nhiều phương diện Song, đóng góp lớn nhất của phong trào đối với con đường hiện đại hóa nền văn học dân tộc là đã đưa đến những suy nghĩ, quan niệm mới trong thi ca, phản ánh sâu sắc tâm hồn của cả một lớp người thời đại Các nhà Thơ Mới không lập thành trường phái rõ rệt và ít khi tuyên ngôn một cách chính thức Tuy nhiên, qua các tác phẩm của họ, quan niệm thẩm mỹ mới cũng đã bộc lộ ít nhiều Ngoài các sáng tác thơ còn có lời bạt, các bài phát biểu… chúng ta có thể dựa vào các

tư liệu này để thấy được quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới

Thơ Mới ngay từ đầu đã xuất hiện trên thi đàn với tư cách một phong trào thơ ca theo khuynh hướng lãng mạn, và hầu hết Thơ Mới là lãng mạn, tuy rằng sự vận động của nó tương đối phức tạp, có pha lẫn dấu ấn tượng trưng và siêu thực, nhất là ở giai đoạn cuối Các nhà thơ lãng mạn của ta chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các nhà thơ lãng mạn phương Tây thế kỉ XIX Vì thế quan điểm thẩm mỹ thể hiện trong các sáng tác thuộc phong trào Thơ Mới có nhiều điểm gặp gỡ với các thi sĩ lãng mạn Tây phương Quan điểm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới có thể quy về ba ý chính: quan niệm về thơ, về thi sĩ và về cái Đẹp

1.3.1 Quan niệm về thơ:

Thơ lãng mạn có đặc điểm nổi bật là ưu tiên cho những giấc mơ mộng tưởng hơn là thực

tế đời sống Tính chất này bắt nguồn từ tâm lý không thể hòa hợp được với xã hội của các thi

sĩ lãng mạn Novalis – nhà lãng mạn tiêu biểu của văn học Đức thế kỉ XIX từng viết: “Tôi chẳng thú vị tí nào nếu thơ gắn liền với thế giới hiện thực Muốn trốn thoát những điều kiện ngột ngạt của hiện thực thì phải tim chốn trú ẩn nơi vương quốc của tưởng tượng” [20,tr.63]

Trang 19

17

Các nhà Thơ Mới cũng có cùng tâm lý đó Họ mệt mỏi trước môi trường chính trị - xã hội đương thời Cảm thấy buồn chán và bế tắc, họ phủ nhận thực tại, chối bỏ tương lai Cái tôi lần đầu tiên được cởi trói, thoải mái vùng vẫy đã nhanh chóng cảm thấy ngơ ngác và chán nản cõi trần gian cao rộng Lý tưởng nghệ thuật đẹp đẽ bị những cảnh xô bồ của trần thế che lấp, ngăn trở Các thi sĩ sa vào một thái độ cực đoan: trốn vào mộng, lấy mộng làm thực Thơ lãng mạn vì thế theo đuổi những gì vượt lên bên trên cái bình thường, không chịu chìm lấp giữa vô số những cái giống nhau, thơ lãng mạn lúc nào cũng gắn với vẻ khác đời, khác người Trong con mắt của các nhà Thơ Mới, hai phạm trù “bình thường” và “tầm thường” dường như rất gần nhau Chế Lan Viên từng cất tiếng kêu than:

Trời hỡi trời, hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của trần gian Tiếng kêu đó là tiếng lòng Chế Lan Viên, nhưng ông đã nói lên tâm trạng chung của hầu hết các nhà Thơ Mới Không tìm thấy được thế giới ao ước ở thực tại, họ chìm vào những giấc mơ dài Hầu như thi sĩ Thơ Mới nào cũng có một vài bài thơ viết về mộng hay viết trong

mộng Thế Lữ có Mộng ảnh, Ác mộng; Lưu Trọng Lư có Mộng chiều hè, Thuyền mộng,

Cảnh thiên đường; Xuân Diệu Mơ xưa, Hồ Dzếnh Tưởng chuyện ngàn sau, Tế Hanh Chiêm bao, Quách Tấn Mộng thấy Hàn Mặc Tử… Giấc mơ của mỗi thi sĩ lại có sắc thái khác nhau

Thế Lữ chìm đắm giữa tiên đồng ngọc nữ Hàn Mặc Tử mơ về cõi thanh khí sáng láng thơm tho, Chế Lan Viên tưởng nhớ một dân tộc đã diệt vong… Giữa cõi ảo của riêng mình họ vẽ

ra tất cả những gì họ mong ước

Các nhà Thơ Mới chủ trương sáng tác một nền thi ca thuần túy Phạm Hầu viết: “nghệ thuật cao cấp phải đài các Phải đem ta xa đời sống thường về vật chất… Nghệ thuật nâng cao tâm hồn ta đã nặng những muộn phiền của thực tế” [10,tr.56] Chế Lan Viên kêu gọi:

“Hãy thoát lên trên tất cả nhu cầu Thoát tục, ở trên cõi tục”, hãy lánh xa những “phiền hà, sâu bọ của cuộc đời: bữa cơm không ngon, đôi giày sắp thủng, bức thư nhạt nhẽo của cô nhân tình, tính cách ngỗ nghịch của mấy ông học trò khó dạy” [10,tr.57] Hàn Mặc Tử phát biểu gãy gọn nhưng cũng cực đoan hơn: “văn chương là văn chương” [10,tr.57] Họ chủ trương không gắn thơ ca với chính trị Quan điểm này gần giống với những nhà lãng mạn Đức thuộc trường phái Iena, thế kỷ XIX Thế Lữ, trong “Cây đàn muôn điệu” đã khẳng định:

Trang 20

Anh dù bảo tính tình tôi thay đổi

Không chuyên tâm, không chủ nghĩa: Nhưng cần chi Tôi chỉ là một khách tình si

Hàn Mặc Tử cũng cùng chung một giọng điệu ấy: khi phê bình văn học “nên đặt lòng tự

ái và đảng phái ra ngoài Ta chỉ nên dò xét văn tài của cuốn truyện, dù nó không hợp với thời đại mình đang sống, dù nó không hợp với lý tưởng mình, cũng chả cần” [21,tr.57] Như vậy cũng hơi thái quá, nhưng xét đến tận ngọn nguồn, tìm tới cái động cơ thì ta có thể thấy phản ứng này là cách đáp trả tiêu cực của những tâm hồn yếu đuối trước thực tại tù túng bế tắc Không thể nói họ suy đồi phản động, vì dù bay bổng đến đâu thì cánh diều Thơ Mới vẫn còn sợi dây liên hệ với cuộc sống, với những vui buồn có thật của con người

Quan điểm về thơ của các nhà Thơ Mới trong khi có những điểm giống với các thi sĩ lãng mạn phương Tây thì lại có những nét khác biệt với quan điểm truyền thống Nếu các nhà thơ xưa cho rằng “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” thì các nhà Thơ Mới nhấn mạnh đến tác dụng giãi bày cảm xúc của thơ ca Trong khuôn khổ cuộc tranh luận Thơ Mới - thơ cũ, phái thơ cũ

nói rõ: thơ là “để không cứ hạng người nào đều có thể ngâm tụng trong khi nhàn để di dưỡng

tính tình” [21,tr.194] Còn các đại biểu Thơ Mới thì gắn thơ với tâm hồn người viết: “Thơ

Mới chỉ là một hình thức của thơ để diễn tả những tính tình và cảm giác của tâm hồn người

ta ở thời đại mới” [21,tr.281] Sau này trong các lời tựa, trong các lời bạt các tập thơ, nhiều nhà Thơ Mới cũng đề cao vai trò của thơ đối với việc kí thác những nỗi niềm sâu kín của họ hơn là công dụng chuyên chở đạo đức Đây chính là đặc điểm làm cho Thơ Mới nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả đương thời Đến với Thơ Mới, người đọc không phải nghe giảng đạo lý khô khan giáo điều Trước đó, thơ Hồ Xuân Hương, Phạm Thái…đã chứa sự bung phá cảm xúc, nhưng phải đến Thơ Mới, tình cảm con người mới được bộc lộ thoải mái, đa giọng điệu đến thế Riêng chuyện tình yêu, Thơ Mới cũng mang đến sự giàu có

về sắc thái tình cảm: “cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” [21,tr.165]

Thái độ của các nhà thơ Nho học chính thống xưa và các nhà Thơ Mới đối với thơ cũng khác xa một trời một vực Quan niệm truyền thống cho rằng thơ ca chỉ là một thứ nghề chơi nhàn hạ, không phải là sự nghiệp cả đời Giai đoạn hậu kỳ trung đại xuất hiện kiểu nhà Nho

Trang 21

19

tài tử, coi trọng văn chương Thế nhưng quan điểm xưa cũ kia vẫn tồn tại đến đầu thế kỉ XX,

khi Tùng Lâm Lê Cương Phụng viết: “Văn vần là một thứ văn thưởng thức mà chơi… lúc

nhàn du ngâm vịnh”, đâu cần phải “tốn công tỉ mỉ, phí uổng thì giờ” [21,tr.237] Tản Đà, gạch nối giữa hai giai đoạn thơ ca cổ điển và hiện đại, tiến bộ hơn, đã coi thơ là một “nghề” Đến các nhà Thơ Mới, quan niệm về thơ có sự thay đổi lớn, với những biểu hiện rõ ràng thể hiện trong các tác phẩm của thi sĩ Kế thừa tinh thần của lớp nhà Nho tài tử, họ coi thơ là một cái nghiệp của đời mình:

Đã trót dính vào duyên bút mực

Suốt đời mang lấy số long đong

(Nguyễn Bính) Không chỉ có thế, họ còn đề cao thơ với thái độ trân trọng hết mực Lê Tràng Kiều đã nói

hộ quan điểm của các nhà Thơ Mới khi viết: “Thơ là một “giống thiêng liêng”, người ta chỉ

đọc trong giờ thiêng liêng, khi không khí trong trẻo và bằng phẳng như một tấm gương”

[21,tr.299] Thế Lữ khẳng định: “Quốc văn không phải là thứ trò chơi dí dỏm, ở trong ấy có những luật lệ bày ra do một ít người thợ khéo chắp nhặt cái tiêm xảo nọ để ghép vào bên cạnh cái tiêm xảo kia” [21,tr.245] Cái khác biệt lớn nhất là những người thi sĩ của thời đại mới đã đặt thơ lên một vị trí chưa từng thấy trong lịch sử quan niệm thơ ca Theo họ, thơ là thứ nghệ thuật cao quý, thanh tao, chiếm riêng một cõi, vượt thoát khỏi tất cả những gì trần tục Họ tôn sùng thơ như một tôn giáo: “Thơ chàng cũng như hồn chàng sẽ qua hết những không khí nhiệm màu, bay cao đến tột cùng của Nước Trời” [21,tr.446] Đến đây thì quan niệm về thơ của các nhà Thơ Mới sa vào cực đoan, nhưng tình cảm trân trọng đối với thơ ca của họ thì không thể phủ nhận

Như vậy, quan niệm thẩm mĩ về thơ của các nhà Thơ Mới vừa là sự nối dài một quan điểm tiến bộ đã có trong văn học dân tộc, vừa bị ảnh hưởng bởi quan điểm của các nhà lãng mạn phương Tây Quan niệm về thơ đã tác động sâu sắc đến hoạt động sáng tạo của các thi

sĩ này

1.3.2 Quan niệm về thi sĩ:

Trang 22

Quan niệm về thi sĩ của phong trào Thơ Mới cũng có nhiều điểm gặp gỡ các nhà thơ lãng mạn phương Tây Chủ nghĩa lãng mạn nói chung coi thi sĩ là những kẻ lạc loài của nhân thế, sống cô lẻ và không thể hòa nhập được với đời Thì đây, các nhà Thơ Mới đã nhiều lần tuyên ngôn với một loạt định nghĩa cùng chung một tinh thần:

- Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta

- Ta là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối (Xuân Diệu) Như một kẻ bộ hành ngơ ngác

Lạc vào nơi đồng đất hoang vu Tôi mang theo một mối hoài u Tìm chẳng thấy nhẽ uyên thâm trong tạo vật (Thế Lữ)

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh (Vũ Hoàng Chương)

Ở đây, các nhà Thơ Mới đã gặp Baudelaire Trong Người khách lạ, Baudelaire đã tả

người thi sĩ như một khách lạ ngơ ngác đi giữa cuộc đời, không bạn bè thân thích, sống cô đơn sầu tủi Tâm trạng của Baudelaire cũng là tâm trạng thường thấy ở các nhà Thơ Mới

Các tính từ cô đơn, sầu, bơ vơ, mồ côi, ảo não… xuất hiện nhiều lần trong sáng tác của họ

Hình tượng thiên nhiên hiện lên trơ trọi, đối lập với tất cả là biểu trưng cho thi sĩ :

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề (Xuân Diệu) Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển, Suốt một đời như núi đứng riêng tây (Huy Cận)

Trang 23

21

Sợi dây liên hệ giữa cuộc đời và thi sĩ hầu như đã đứt Thế Lữ viết: “Đời giản dị không dung hồn kiêu bạc”, Vũ Hoàng Chương đảo câu chữ nhưng giữ nguyên ý nghĩa : “Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị” Xuân Diệu khách quan hơn mà cũng bi quan hơn: “ Ta bỏ đời

mà đời cũng bỏ ta” Xuất hiện trong thơ thế đứng của người thi sĩ lẻ loi đến tội nghiệp:

Đời đã hết chỉ riêng ta đứng mãi

Ở nơi đây không dấu vết loài người (Xuân Diệu) Các nhà Thơ Mới cảm thấy u uất, buồn chán, nhưng lại chấp nhận cái tư thế ấy, sống cùng nó, thậm chí lấy nó làm niềm vui: “thấy mình quạnh quẽ, lạc loài, không hiểu mình và

không biết người, ngơ ngác lạ lùng giữa một đám người quen biết, nhưng riêng tôi vẫn lấy

điều ấy làm thích thú” [21,tr.185]

Quan điểm này là quan điểm chung của các thi sĩ lãng mạn “Trong thơ lãng mạn chủ nghĩa điểm nhìn nghệ thuật cũng hội tụ vào một trung tâm, còn bản thân các quan hệ thì đơn nghĩa và được biết trước một cách dễ dàng… Trung tâm này - tức chủ thể của văn bản thơ - trùng với cá nhân tác giả, trở thành bản sao trữ tình của nó” [29,tr.452] Người thi sĩ chỉ nhìn thấy mình trong vô số bản thể tồn tại giữa cuộc đời, nhưng trong mắt họ, hình ảnh của chính mình mới nhỏ bé làm sao!

Không hòa hợp với thực tại, các nhà lãng mạn coi mình là một thứ trích tiên giữa trần gian Các thi sĩ lãng mạn phương Tây như Chateaubriand, Novalis, Baudelaire coi thi sĩ là

một cái gì cao cả linh diệu, đứng hẳn lên trên quần chúng Baudelaire viết trong tập Hoa ác (Les Fleurs du Mal) : “Tôi biết Ngài (tức Thượng đế) đã dành cho thi sĩ một chỗ ngồi giữa

hàng các bậc thánh thiện đầy ơn phước trên thiên cung” Ta thấy Hàn Mặc Tử giống

Baudelaire đến kỳ lạ ở những câu: “Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa và nhân đây chiêm nghiệm lẽ màu nhiệm và phép tắc của đấng chí tôn Vì thế trừ hai loại Người trọng vọng là thiên thần và loài người, Đức Chúa trời phải cho ra đời loài thứ ba: loài thi sĩ

Loài này là những bông hoa rất quý và rất hiếm, sinh ra ở đời với một sứ mạng rất thiêng

liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa trời…và trút vào linh

hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho trong sạch” [10,tr.62] Độc

Trang 24

giả sau niềm vui sướng ban đầu, được đến với người thơ trong tư thế những người bạn cùng đồng cảm, cùng rung động theo tâm hồn của thời đại mới chứ không phải trông lên ngưỡng vọng thi sĩ để nghe giảng đạo như với thơ cổ điển, đã lại nhanh chóng ngơ ngác nhìn theo họ bay lên cõi thượng tầng nào, ở đó người thơ có nhìn trở xuống cũng chỉ thấy “Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm” (Hàn Mặc Tử) chứ cũng chẳng nhìn thấy nhân gian!

Quan niệm rằng thi sĩ là một loài cao quí, các nhà Thơ Mới cho rằng: thi sĩ cũng có những năng lực đặc biệt Công việc làm thơ được nâng lên thành một quá trình thần bí cao siêu, đầy phép nhiệm màu Mới vừa qua tuổi thiếu niên, Chế Lan Viên viết trong lời tựa của

tập Điêu tàn: “Hàn Mặc Tử nói: làm thơ tức là điên Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường”

Hàn Mặc Tử diễn đạt hình ảnh hơn: “Tôi làm thơ ? - Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng” [21,tr.452] Sở dĩ thơ là lẽ sống suốt đời của thi sĩ

là vì làm thơ chính là đang cứu rỗi chính mình và cả nhân loại: “Tôi làm thơ là để nguyện cầu Tôi cho mình vốn ở một vùng thanh khiết xa xôi, bị lạc nẻo xuống trần gian đầy bụi, đầy

ma này, cần cầu nguyện để sớm được trở về” [10,tr.62] “Đọc tập Điêu tàn này xong… mà

cái buồn, cái chán, cái hãi hùng cũng ùa nhau đến bọc lấy hồn anh, làm cho anh phải cười, phải gào phải khóc, thì xin anh chớ hẹp hòi gì, mà cười cho mênh mang, gào cho vỡ cổ, khóc cho hả hê, rồi gửi cái cười, cái gào, cái khóc ấy cho không trung Tôi nằm ngủ trong sao nghe được, tung mây ngồi dậy, vồ lấy cái ngà quí báu ấy rồi say sưa rồi ngất ngây, rồi điên cuồng vỗ lên đầu sao khuê và sao bắc đẩu, lên cả nguyệt cầu mà bảo chúng nó rằng: - Ha ha! Bay ôi! Loài người thành thi sĩ như ta cả rồi” [10,tr.61] Đây là quan điểm không của riêng các thi sĩ đã bước gần đến bờ tượng trưng, ngay Thế Lữ - thi sĩ tiêu biểu cho giai đoạn đầu Thơ Mới - cũng từng giới thiệu Xuân Diệu với những lời lẽ đầy vẻ ngưỡng vọng nói hộ

người đọc: “Thơ thơ là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian Và từ đây chúng ta đã có

Xuân Diệu Loài người hãy hiểu con người ấy!” [21,tr.142] Khi cho thi sĩ vị trí sánh ngang với “các bậc thánh thiện đầy ơn phước trên thiên cung”, cũng như khi tự nhận cái vị trí bé nhỏ lạc lõng giữa đời, các nhà thơ lãng mạn đều không trốn được cảm giác bơ vơ cô độc hình như đã thành định mệnh, “đã thầm ghi trên trán”, “ngay từ thuở sơ sinh” (Huy Cận) Quan điểm thẩm mĩ của các nhà Thơ Mới về thi sĩ chịu ảnh hưởng nặng nề từ các nhà thơ lãng mạn phương Tây Đã có lúc nó sa vào cực đoan, phủ nhận mối liên hệ giữa người nghệ

Trang 25

23

sĩ và đời sống, nhưng cần phải thấy rằng, ở đó có phong cách khoa trương, phóng đại của chủ nghĩa lãng mạn; mặt khác, nó còn gắn liền với cái tôi cá nhân lần đầu tiên được cởi trói

1.3.3 Quan niệm về cái Đẹp:

Trong bài Kinh cầu tự, Huy Cận đã lập một tuyên ngôn về cái Đẹp trong ý thức của các

nhà Thơ Mới: “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn” Với nỗi chán chường thế hệ, các nhà Thơ Mới rung cảm đặc biệt với những gì nhuốm buồn Thi sĩ tìm thấy trong nỗi buồn vẻ đẹp tinh

tế mong manh Chế Lan Viên từng ca tụng cái đẹp của hạt lệ: “Hạt lệ! Những cánh hoa cho

vô tận hái Hạt lệ! Những ngọc trai mà bể tim đau Hạt lệ! Những ngôi tinh lạc rơi từ một vòm trời luôn luôn khuya khoắt, là bầu mắt thẳm xuống một trần gian mãi mãi gió sương, là lòng đau bát ngát của con người” [21,tr.20]

Cái đẹp buồn bã ấy là lý tưởng thẩm mỹ chung của thơ ca lãng mạn, mà các nhà Thơ Mới

đã tiếp thu từ văn học phương Tây, nhất là văn học Pháp Baudelaire từng viết: “Lạy Chúa, xin cảm tạ Ngài vì Ngài đã ban sự khổ đau cho chúng tôi để dùng làm liều thuốc thần diệu chữa lành mọi sự xấu xa nhơ nhuốc Đó là chất tinh túy tốt đẹp, trong sạch nhất sửa soạn cho chúng tôi đủ mạnh mẽ mà hưởng sự khoái lạc lành thánh” [11,tr.124] Buồn đau nằm trong

lý tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn Đối với các nhà Thơ Mới cũng vậy, họ cho rằng bản chất của thơ ca vốn là cái buồn: “Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý” (Hàn Mặc Tử), những cảnh vui không đem lại lẽ tồn tại cho thơ :

Ôi, đời hôm nay vui Chim gió đừng mách nhé,

Ta xé thơ đi rồi !

(Hồ Dzếnh)

Vì thế nên họ đi tìm cái Đẹp ở những gì vô định, mong manh, bấp bênh, dang dở Thơ Phạm Huy Thông chỉ nói về cái Đẹp ở những anh hùng chiến bại: Hạng Vũ, Kinh Kha, Phan Bội Châu…, Chế Lan Viên tìm đến những tháp Chàm đổ nát – di tích còn lại của một dân tộc đã diệt vong để rồi nhìn thấy cái đẹp xưa vọng lại từ vẻ tiêu điều hoang vắng:

Vẻ rực rỡ đã tàn bao năm trước Bao năm sau còn dội tiếng kêu thương

Trang 26

Tình yêu là đề tài lớn nhất của Thơ Mới Ái tình trong Thơ Mới tuy có đa giọng điệu, đa sắc thái, nhưng người đọc không mấy khi được nghe những bản tình ca trọn vẹn, mô típ trở

đi trở lại là tiễn biệt, dang dở, chia ly Có đau khổ tình yêu mới đẹp, mới đáng nói:

Đời hết vui khi đã vẹn câu thề Tình chỉ đẹp khi hãy còn dang dở (Hồ Dzếnh)

Thuyền yêu không ghé bến sầu Như đêm thiếu phụ lên lầu không trăng (Lưu Trọng Lư)

Nhà thơ đem thời gian ra đong đếm, và kết quả là cái buồn lúc nào cũng chiếm ưu thế:

Ôi ngắn ngủi là những giờ gặp mặt

Ôi vội vàng là những phút trao yêu (Xuân Diệu)

Cảm nhận ấy đã đưa các nhà Thơ Mới đến một cách phản ứng thái quá Họ quay lại coi buồn đau là một cái thú: “Hãy lịm người trong thú đau thương” (Hàn Mặc Tử),

Vì u buồn là những đóa hoa tươi

Và đau khổ là chiến công rực rỡ (Chế Lan Viên)

Quan điểm thẩm mỹ về cái Đẹp của các nhà Thơ Mới tuy có mang màu sắc bi quan,

nhưng nó bắt nguồn từ lòng yêu đời của thi sĩ Khi Xuân Diệu viết lời tựa cho tập Lửa thiêng

của Huy Cận, ông cũng đã giải thích dùm tất thảy các nhà Thơ Mới: “Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoáng mùi ôi; trong khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang còn ở giữa độ măng tre của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương người ấy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của lòng yêu sự sống” Khi nói

về Verlaine, M.Gorki cũng có những nhận định tương tự: “Những bài thơ luôn luôn buồn bã

và thấm thía một nỗi phiền muộn sâu xa của thi sĩ, ta nghe rất rõ tiếng kêu gào của sự thất

Trang 27

25

vọng, nỗi đau đớn của một tâm hồn tinh tế và dịu dàng, tâm hồn đó luôn luôn khao khát ánh sáng, khao khát trong sạch, đi tìm Thượng đế nhưng không thấy, muốn yêu thương con người nhưng không thể được” Ta không trách được khi nỗi buồn của Thơ Mới là nỗi buồn của thế hệ, quan trọng hơn, nó được cảm nhận dưới con mắt của những kẻ đa tài mà đa cảm

để toát lên vẻ đẹp riêng

Ở giai đoạn cuối, quan niệm thẩm mỹ về cái Đẹp của các nhà Thơ Mới có phần sai lạc Chịu ảnh hưởng của Theophile Gautier, Baudelaire, các thi sĩ trong giai đoạn cuối của Thơ Mới đã đắm chìm trong cái Đẹp không luân lý, cái Đẹp lúc này không còn ranh giới phân biệt với cái ghê tởm, không còn gắn với đạo đức Bích Khê, Đinh Hùng, Hoàng Diệp, Chế Lan Viên đã ca ngợi những mồ hoang xác chết, ca ngợi xác thịt bằng những câu thơ nặng

nhục cảm Có sự gần gũi giữa tuyên ngôn cái Đẹp của Baudelaire trong bài Ca tụng sắc đẹp:

“Hỡi sắc đẹp! Hỡi con quái vật kếch xù, khủng khiếp ngây thơ! Dẫu em đến từ Thiên đường hay Địa ngục, điều đó có hề chi, miễn sao con mắt, nụ cười và bàn chân em mở ra cho ta cánh cửa của một cõi vô tận mà ta hằng yêu và chưa hề biết tới… Dầu em là Thiên thần hay

là Nữ quái, điều đó có hề chi, miễn sao em khiến cho vũ trụ bớt xấu xa và những khoảnh

khắc bớt nặng nề hơn” [10,tr.59] với lời tựa tập Tinh huyết của Bích Khê, Hàn Mặc Tử chấp

bút: “Thi sĩ khát khao hoài vọng cái mới cái đẹp, cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt dại khờ, dù cái đẹp ấy cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây

nên đê mê khoái lạc” Bích Khê dành cả một phần trong tập Tinh huyết viết về “Đẹp và Dâm” Trong bài Sắc đẹp, nhà thơ vẽ nên một nhan sắc làm cho người ta vừa mê đắm vừa

khiếp sợ :

Những mặt trời nhan sắc đẹp như trăng

Và sắc đẹp như thanh gươm vấy máu

Ôi rất thanh! rất thanh và rất thanh

Ngát thinh khí vì thơm tho như xạ

Và rùng rợn như một điềm quái lạ

Đinh Hùng đi vào mồ sâu để lạc vào một “xứ thần tiên” đầy xương khô và đất lạnh, trao

lòng yêu cho người đã chết (Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần) Nói theo ngôn ngữ của

Trang 28

Hoài Thanh, thì các nhà thơ này đã đi tìm cái Đẹp ở những bến bờ xa lạ, nhưng càng đi xa càng ớn lạnh, càng tách rời bản chất của cái Đẹp đích thực

Trong Thơ Mới, không phải không có những bài thơ hay viết về cái Đẹp khỏe khoắn, tươi vui, trong sáng Chúng ta có thể thấy những cảnh sắc trần thế đẹp một cách bình dị mà ám ảnh Có vẻ đẹp của thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính:

Mùa xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành trong thơ Hàn Mặc Tử:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng trong thơ Anh Thơ:

Đồng lặng lẽ sương mù buông bát ngát

Ao âm thầm mây tới ngập mênh mang…

Gió im vắng tự từng không man mác Mưa bay trăng nhè nhẹ dệt tơ vàng

Có cả vẻ đẹp của con người trong thơ Xuân Diệu:

Những chàng trai đương sức lực tươi xanh Bước vạm vỡ như là đi chinh phục

Em đẹp khi em phồng nét ngực Hít không gian và ngó thẳng trời xa trong thơ Huy Cận:

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong Hôm xưa em đến mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng Em đi đến Gót ngọc, dồn hương bước tỏa hồng

Tuy nhiên, do cảm xúc phổ biến ở các nhà Thơ Mới là nỗi “buồn thế hệ ta cũng đang u uất” (Xuân Diệu), nên quan điểm thẩm mỹ của họ về cái Đẹp nghiêng nhiều về cái buồn đau

Trang 29

27

và có những yếu tố đi vào bế tắc Đó là biểu hiện của một lòng yêu đời, ham sống bị thực tại phũ phàng tù túng, giam hãm Ta có thể nói cách phản ứng của các nhà Thơ Mới là tiêu cực chứ không thể kết luận quan niệm ấy là sản phẩm của những tâm hồn suy đồi, bệnh hoạn, như ý kiến của một số học giả trước đây

Tóm lại, quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ Mới chịu ảnh hưởng sâu đậm từ quan niệm thẩm mỹ của các nhà lãng mạn phương Tây thế kỷ XIX, nhất là các nhà thơ lãng mạn Pháp,

có nhiều điểm mới mẻ so với quan điểm truyền thống nhưng mang màu sắc bi quan Cần phải thấy rằng trong các quan điểm thẩm mỹ ấy có dấu ấn của thời đại nó ra đời, không phải

sự lai căng, sao chép đơn thuần một tư tưởng xa lạ Trong quá trình tiếp nhận văn hóa ngoại quốc, các trí thức tân học đã có ý thức chọn lọc để không sa vào các yếu tố phản động, đồi trụy mà chính quyền thực dân ra sức nhồi nhét cho họ Những đặc điểm nội tại trong thế giới tâm hồn đã dẫn dắt các nhà Thơ Mới đến chỗ gặp gỡ các nhà lãng mạn phương Tây ở tính chất cô lẻ, sầu muộn, bế tắc khi nhìn nhận các đối tượng thẩm mỹ Đó là điều có thể thông cảm được

Trang 30

CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM CÂU THƠ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

2.1 Các thể thơ trong phong trào Thơ Mới:

Thơ Mới đã cách tân thơ Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó có thể thơ Những động thái đầu tiên của cuộc cách mạng thơ ca này đã sớm xảy ra trước cái mốc 1932 tới một

phần tư thế kỷ Năm 1907, báo Lục tỉnh tân văn đăng các bài “thơ đổi mới” “áp dụng một cách phóng túng các thể điệu cũ” Năm 1918, báo Nam phong đăng bài Công nợ của Nguyễn

Văn Hiến mà cái khuôn thước, chặt chẽ đã bị giảm bớt bởi biện pháp lặp từ Năm 1914, báo

Đông Dương tạp chí đăng bài thơ dịch Con ve và con kiến của Nguyễn Văn Vĩnh, câu thơ tự

do linh hoạt không theo thể cách truyền thống Song song với đó là thơ của Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh với những câu thơ vẫn theo thể thức cũ nhưng

tự do hơn, từ ngữ bớt phần uyên bác, gần với tiếng nói hàng ngày Như vậy, có thể nói, những cái “mới” đầu tiên của Thơ Mới chính là các đặc điểm của thể thơ

Thực ra, thể thơ không phải là yếu tố duy nhất dùng làm căn cứ để đánh giá một nền văn học Tuy vậy, nhìn một cách sâu sắc, thể thơ là sự phản ánh tư tưởng, cảm xúc thẩm mỹ của nhà thơ Mỗi thời đại, mỗi hệ tư tưởng sử dụng những thể loại phù hợp, thể loại đó cho thấy

sự vận động trong tư duy sáng tạo của nhà thơ, cũng như trình độ, thị hiếu thẩm mỹ của người đọc Sự phát triển của hình thức thơ ca đầu thế kỷ XX không nằm ngoài quy luật đó Những năm đầu thế kỷ XX, các nhà thơ hoạt động cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã lấy thơ làm phương tiện phổ biến lý tưởng cách mạng, thức tỉnh tinh thần yêu

nước của quần chúng nhân dân Các nhà thơ của nhóm Đông Kinh nghĩa thục, Phan Bội

Châu, Phan Châu Trinh hoặc trở về với các thể thơ truyền thống dân tộc như lục bát, song thất lục bát, hát nói, hát dặm, vè… hoặc sử dụng các thể loại thơ có tính quy phạm như Đường luật, phú, văn tế, câu đối… một cách linh hoạt Họ cũng cố gắng dùng lối diễn đạt giản dị, gần gũi với quần chúng Chính vì vậy, lòng yêu nước sâu sắc, tư tưởng cách mạng mới mẻ, ý chí đấu tranh kiên cường của các nhà thơ này đã đến gần được với quần chúng, được yêu thích khá nhiều Tuy nhiên, các sáng tác thuộc dòng thơ này do yêu cầu tiếp cận với số đông quần chúng nhân dân nên chưa được trau chuốt về nghệ thuật, đôi khi do tìm cách diễn đạt dễ hiểu, dễ nhớ, các bài thơ của họ nghiêng về văn vần tuyên truyền cổ động

Trang 31

29

hơn là thơ ca nghệ thuật Nói như vậy không phải là phủ nhận sạch trơn Các sáng tác của các tác giả trên cũng có giá trị riêng của nó, nhưng chủ yếu là về mặt nội dung, còn về hình thức thể loại thì chỉ có thể coi các tác phẩm này là dấu hiệu manh nha của sự đổi mới hình thức thơ ca

Đó là dòng văn học bí mật và nửa công khai, còn trên sách báo, dòng sáng tác công khai nhìn chung còn ở tình trạng bế tắc về tư tưởng Các nhà thơ thuộc dòng này chìm đắm trong nỗi buồn da diết đã ám ảnh bao nhiêu thế hệ với một vẻ yếu đuối và cam chịu Xúc cảm lỗi thời ấy đã đi cùng với các lối diễn tả sáo rỗng, ước lệ để làm ra một số lượng không sao kể

hết các bài thơ cũ kỹ tràn ngập trên các báo Nam Phong, Phụ nữ tân văn, Văn học… Sự đổi

mới ít nhiều về hình thức biểu hiện chỉ xuất hiện ít ỏi với hai đại diện: Trần Tuấn Khải và Tản Đà, nhất là Tản Đà

Chủ trương bảo vệ tư tưởng Nho học nhưng đã nhuốm cái sầu buồn chán sau này sẽ đông đặc trong Thơ Mới, đã nảy nở cái khát vọng thoát ly khỏi cái tù túng, giả dối của khuôn phép, Tản Đà phóng khoáng trong các thể thơ cổ điển như Đường luật và truyền thống dân tộc như lục bát, hát nói… Với Tản Đà, Đường luật giãn ra, và nhà thơ ưa chuộng lối lục bát linh hoạt mềm mại, hoặc thơ tự do không theo quy luật nào Tuy nhiên, sự mâu thuẫn trong

tư tưởng cùng với quan điểm không rõ ràng về thể loại đã khiến Tản Đà không thể bứt lên được để trở thành nhà thơ hoàn toàn mới cả về nội dung và hình thức nghệ thuật

Đến Thế Lữ thì người ta không còn nghi ngờ gì về tính từ “mới” trong cụm định danh

“Thơ Mới” nữa Thơ Thế Lữ làm theo thể cách mới không chút rụt rè mà đường hoàng dõng dạc và rất có “nghề” Mới từ số câu, số chữ cho đến vần, thanh, điệu… Nhưng Thế Lữ còn say giấc mộng Thiên Thai với những Tiên Nga, ngọc nữ nên thơ mới Thế Lữ vẫn còn phảng phất hơi Lưu Nguyễn của thơ xưa

Thế rồi Xuân Diệu xuất hiện với một niềm kinh ngạc rung động cả thi đàn với lối thơ táo bạo đầy kiểu cách Tây phương Kể từ đây, Thơ Mới gặt hái liên tục những trái ngọt của mùa cách tân thể loại thơ Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… đã tiếp tục hoàn thiện diện mạo mới của câu thơ Việt Lối thơ tám chữ ban đầu còn ngọng nghịu trở thành thể loại đặc trưng của phong trào này Lục bát đạt đến độ thuần thục, tìm thấy một vẻ đẹp mới trên cơ sở lục bát truyền thống…

Trang 32

Qua giai đoạn đỉnh cao, sức sống của Thơ Mới đuối dần Cuộc cách mạng thơ ca này đi vào những bước thoái trào Trong những cố gắng cuối cùng có sự tìm tòi, thể nghiệm những hình thức thơ rất lạ

Trên đây là sơ lược quá trình đổi mới về thể thơ trong phong trào Thơ Mới Để thấy rõ hơn việc sử dụng các thể thơ của các nhà Thơ Mới, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thể thơ trong 18 tập thơ đã nêu, trong Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh, Hoài Chân) - được xem là tuyển tập những bài thơ tiêu biểu của phong trào Kết quả khảo sát 1 cho thấy:

Hai thể loại được sử dụng nhiều nhất là 7 tiếng và 8 tiếng, chiếm khoảng 70% số lượng các bài thơ của phong trào Hai thể thơ này được hầu hết các nhà thơ sử dụng và trở thành một trong các thể thơ sở trường của một số nhà thơ như Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương (thể 7 tiếng); Chế Lan Viên, Anh Thơ (thể 8 tiếng) Đối với các nhà thơ sáng tác ở nhiều thể loại, hai thể thơ này cũng chiếm số lượng đông đảo nhất các bài thơ của họ

Thể thơ 7 tiếng và 8 tiếng được sử dụng nhiều một phần vì tính cân đối của nó Câu thơ 7 tiếng hoặc 8 tiếng có độ dài vừa phải, tạo điều kiện cho việc ngắt nhịp, tạo lập các cụm hình ảnh, ngôn từ biểu cảm trong câu Câu thơ quá ngắn (2 tiếng chẳng hạn) hoặc quá dài (10 tiếng trở lên) đều gây ra những khó khăn trong quá trình xây dựng cũng như tiếp nhận lời thơ nghệ thuật, giá trị của bài thơ do đó cũng bị giảm trừ ít nhiều Thực tế cũng đã cho thấy các thể thơ này nhanh chóng bị thất sủng, và thành tựu thu được là rất hiếm hoi Giữa vô số các bài thơ 10 chân, 12 chân nở rộ như nấm hồi đầu Thơ Mới, đến nay chẳng còn bài thơ nào đọng lại trong tâm trí ta Nguyễn Vỹ - nhà thơ chuyên làm thơ 2 tiếng và 12 tiếng, giờ chỉ

còn bài Sương rơi theo lối 2 tiếng là đáng kể, mà theo Hoài Thanh thì kiệt tác thực sự của nhà thơ lại là một bài 7 tiếng: bài Gửi Trương Tửu!

Thể 4 tiếng vốn thường xuất hiện trong vè với mạch tự sự, trần thuật thì nay được các nhà Thơ Mới sử dụng để biểu hiện nội tâm, đồng thời tả cảnh thiên nhiên và đa số mang sắc thái

vui tươi nhẹ nhàng (Tiếng không lời – Xuân Diệu, Xuân ở quê em - Hồ Dzếnh, Chiều xuân – Huy Cận, Cánh đồng bao la - Tế Hanh), nếu có diễn tả tâm trạng buồn cũng không rơi vào cái ảo não bơ vơ thường thấy của Thơ Mới mà là nỗi buồn trong sáng, ngây thơ (Chị em –

1

Xin xem bảng 1 và bảng 2, phần phụ lục, trang 1

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (tổng thuật) (1997), “Cuộc gặp mặt và trao đổi ý kiến của những nhà Thơ Mới (Nhân kỷ niệm 65 năm phong trào Thơ Mới 1932 – 1997)”, Tạp chí văn học (2), tr. 18-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc gặp mặt và trao đổi ý kiến của những nhà Thơ Mới (Nhân kỷ niệm 65 năm phong trào Thơ Mới 1932 – 1997)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1997
2. Phạm Đình Ân (2003), “Thế Lữ trong Tự lực văn đoàn”, Tạp chí văn học (8), tr. 64-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế Lữ trong Tự lực văn đoàn
Tác giả: Phạm Đình Ân
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2003
3. Lại Nguyên Ân (tập hợp và biên soạn) (2001), Thơ Mới – tác giả và tác phẩm, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới – tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
4. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006
5. Huy Cận (2002), “Đường đời – đường thơ”, Tạp chí văn học (10), tr. 67-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường đời – đường thơ
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2002
6. Lê Tiến Dũng (2005), Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945, NXB ĐHQG Tp.HCM, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: NXB ĐHQG Tp.HCM
Năm: 2005
7. Đặng Anh Đào (2001), “Gió Đông gió Tây: ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí văn học (1), tr. 23-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gió Đông gió Tây: ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2001
8. Nguyễn Đăng Điệp (2002), “Giọng điệu thơ Huy Cận thời Lửa thiêng”, Tạp chí văn học (2), tr. 57-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ Huy Cận thời Lửa thiêng
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2002
9. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
10. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
11. Phan Cự Đệ (2007), Về một cuộc cách mạng trong thi ca, phong trào Thơ Mới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cuộc cách mạng trong thi ca, phong trào Thơ Mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Hà Minh Đức (2003), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
13. Hồ Thế Hà (1998), “Điêu tàn – Niềm bi hận của Chế Lan Viên”, Tạp chí Văn học (11), tr. 70 -74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điêu tàn – Niềm bi hận của Chế Lan Viên
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
15. Lê Thị Đức Hạnh (1993), “Tự lực văn đoàn với phong trào Thơ Mới”, Tạp chí văn học (2), tr. 24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn với phong trào Thơ Mới
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1993
16. Lê Thị Đức Hạnh (2001), “Báo chí với văn học giai đoạn 1932 – 1945”, Tạp chí văn học (6), tr. 16-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với văn học giai đoạn 1932 – 1945
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2001
17. Bùi Công Hùng (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
18. Hoàng Hưng (1993), “Thơ Mới và thơ hôm nay”, Tạp chí văn học (2), tr. 21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới và thơ hôm nay
Tác giả: Hoàng Hưng
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1993
19. Đoàn Thị Đặng Hương (2000), “Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử”, Tạp chí văn học (11), tr. 31-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử
Tác giả: Đoàn Thị Đặng Hương
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2000
20. Lê Đình Kỵ (1989), Thơ Mới, những bước thăng trầm, NXB Tp.HCM, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới, những bước thăng trầm
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: NXB Tp.HCM
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w