1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học nam bộ 1930 1945 báo cáo tổng kết kết quả đề tài khcn cấp đại học quốc gia trọng điểm q 2, tuyển tập văn học nam bộ 1930 1945

343 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học Nam Bộ 1930 - 1945
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Giang
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 343
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cậu đi mút khúc đường ngay đó, rồi mới quẹo qua khúc đường khác, thì có một người đờn bà, trạc[1] chừng 35 tuổi, cao lớn mà không dông dãy[2], mình mặc một bộ đồ lụa trắng, tay cầm một c

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI KHCN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRỌNG ĐIỂM

KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ, BẢO TỒN

DI SẢN VĂN HỌC NAM BỘ 1930-1945

Mã số đề tài: B2008-08b-01TĐ

QĐ số: 284 /QĐ-ĐHQG-HCM/KHCN Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS LÊ GIANG

QUYỂN II

TUYỂN TẬP VĂN HỌC NAM BỘ 1930 - 1945

TP HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

QUYỂN II: TUYỂN TẬP VĂN HỌC NAM BỘ 1930 – 1945

1 Hồ Biểu Chánh 6

2 Phan Khôi 22

3 Đông Hồ 31

4 Mộng Tuyết 43

5 Nguyễn Thị Manh Manh 48

6 Lư Khê 74

7 Hồ Văn Hảo 78

8 Một số nhà thơ mới Nam Bộ khác 91

9 Nguyễn Thới Xuyên 107

10 Phạm Minh Kiên 121

11 Việt Đông 135

12 Nguyễn Bửu Mọc 149

13 Cẩm Tâm 174

14 Đào Thanh Phước 182

15 Huỳnh Quang Huê 185

16 Nguyễn Bá Thời 190

17 Ngọc Sơn 195

18 Phan Huấn Chương 202

19 Phi Vân 214

20 Trúc Hà 239

21 Thiếu Sơn 254

22 Kiều Thanh Quế 279

23 Phan Văn Hùm 310

24 Ca Văn Thỉnh 328

QUYỂN I: TỔNG LUẬN VỀ VĂN HỌC NAM BỘ 1930 – 1945 Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC NAM BỘ 1930 – 1945

Trang 3

3 Sự xuất hiện các nhóm văn thi sĩ ở Nam Bộ 1930-1945

Đoàn Lê Giang

Chương 2:

THƠ MỚI NAM BỘ 1930 -1945

Đoàn Lê Giang

KỊCH BẢN CẢI LƯƠNG NAM BỘ

Võ Văn Nhơn, Đào Lê Na

Chương 6:

LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC NAM BỘ 1930-1945 Nguyễn Thị Thanh Xuân, Hồ Khánh Vân, Lê Ngọc Phương Phần 2: NHỮNG TÁC GIẢ TIÊU BIỂU

5 Nguyễn Thị Manh Manh

Đoàn Lê Giang

6 Lư Khê

Trang 4

Nguyễn Đăng Điệp

7 Hồ Văn Hảo

Lê Thị Thanh Tâm

8 Nguyễn Thới Xuyên

Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Thị Ngọc Bích

13 Đào Thanh Phước

Nguyễn Thị Thanh Xuân

21 Kiều Thanh Quế

Nguyễn Hữu Sơn, Phan Mạnh Hùng

Trang 5

KẾT LUẬN

THƯ MỤC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRÊN BÁO CHÍ NAM BỘ 1930-1945 Đoàn Lê Giang, Lưu Hồng Sơn, Nguyễn Trọng Nhân

THƯ MỤC VĂN HỌC NAM BỘ 1930-1945

Đoàn Lê Giang Phan Mạnh Hùng

Trang 6

HỒ BIỂU CHÁNH

(1885-1958)

 TIỂU SỬ

Tên thật: Hồ Văn Trung Bút danh: Thứ Tiên

Quê: làng Bình Thạnh, Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang)

Thuở nhỏ học chữ Hán, 13 tuổi học chữ quốc ngữ, rồi thi vào trường Trung học Mỹ Tho, lên SG học Trung học Chasseloup Laubat, 1905 đậu thành chung Làm ký lục hành chính nhiều tỉnh Nam Bộ, 1921 làm thư ký văn phòng Thống đốc Nam Kỳ, rồi làm tri huyện 1941 Phó đốc lý (Phó đô trưởng) Sài Gòn Sau 1945 Đổng lý văn phòng chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Thinh Sau 1954 viết văn viết báo ở Sài Gòn 1958 mất tại Ph Nhuận, mộ an tang ở An Tất Vin (p.11, Gị Vấp, TP.HCM), ở đây hiện có nhà lưu niệm về ông do con gái ông trông coi

Tuồng hát: về hài kịch có Tình anh em (Sài Gòn, 1922), Toại chí bình sinh (Sài Gòn, 1922) Hát bội có

Thanh Lệ kỳ duyên (Sài Gòn, 1926 – 1941), Công chúa kén chồng (Sài Gòn, 1945), Xả sanh thủ nghĩa

(Sài Gòn, 1945), Trương Công Định quy thần (Sài Gòn, 1945) Cải lương có Hai khối tình (Sài Gòn, 1943), Nguyệt Nga cống Hồ (Sài Gòn, 1943), Vì nước vì dân (Gò Công, 1947)

Đoản thiên tiểu thuyết: Chị Hai tôi (Sài Gòn, 1944), Thầy chùa trúng số (Sài Gòn, 1944), Ngập ngừng (Sài Gòn, 1944), Một đóa hoa rừng (Sài Gòn, 1944), Hai Thà cưới vợ (Sài Gòn,1944), Hai chồng (Sài Gòn, 1955), Hai vợ (Sài Gòn, 1955), Lòng dạ đàn bà (Sài Gòn, 1955) Các tập: Chuyện trào phúng (2 tập, Sài Gòn, 1935), Chuyện lạ trên rừng (Sài Gòn, 1945), Truyền kỳ lục (Gò Công – 1948)

Tiểu thuyết (1930-1945): Nặng gánh cang thường (1930), Con nhà nghèo (1930), Con nhà giàu (1931), Cười gượng (1935), Một đời tài sắc (1935), Nợ đời (1936), Đoá hoa tàn (1936), Từ hôn (1937),

Lạc đường (1938), Tân Phong nữ sĩ (1937), Bỏ chồng (1939), Bỏ vợ (1938), Tại tôi (1938), Ở theo thời

(1938), Ý và tình (1938), Hai khối tình (1939), Cư Kỉnh (1941), Ai tình miếu (1941), Mẹ ghẻ con ghẻ

Trang 7

1948), Việt ngữ bổn nguyên (Gò Công, 1948), Thành ngữ tạp lục (Gò Công, 1948), Phật tử tu tri (Gò Công, 1948), Nho học danh thơ (Gò Công, 1948), Thiền môn chư Phật (Gò Công, 1949), Địa dư đại

cương (Gò Công, 1949), Hoàn cầu thông chí (5 tập, Gò Công, 1949), Phật giáo cảm hóa Trung Hoa

(1950), Phật giáo Việt Nam (1950), Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xử sĩ (1951), Nho giáo tinh thần (1951)

Tại cái cửa lớn, người ta tụ lại chật nứt, trai chải đầu láng nhuốc, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà, khói bay tưng bừng, mẹ dắt bầy con, đứa chạy trước nghênh ngang, đứa theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi Tốp chen lấn mua giấy, tốp ùn ùn vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng chung lộn với kẻ bình dân lao động không ái ngại chi hết,

mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẽ hân hoan hớn hở, vì ai cũng biết chắc trong giây phút nữa đây sẽ được xem xét thấy nhiều cuộc vui để thỏa chí háo kỳ, hoặc để tạm quên các sự khổ cực của loài người trên trần thế

Ở trong chợ đèn điện đốt sáng trưng, lại thêm máy nói cất giọng ồ ề rao hàng om sòm, làm cho thiên hạ càng rộn rực chen nhau mà vô riết, dường như sợ vô trễ một chút rồi giảm bớt sự vui nhiều lắm vậy Cậu Châu Tất Ðắc mình mặc đồ âu phục bằng nỉ màu xám có sọc đen, may thật khéo, đầu không đội nón, tóc uốn quăn, chưn mang giày bố trắng mũi da vàng, cậu mua một miếng giấy rồi cậu thấy thiên hạ náo nức giành nhau mà

vô cửa, thì chúm chiếm cười Cậu để tự nhiên cho dòng nước người đưa đẩy cậu vô cửa, rồi cậu chấp tay sau đít, thủng thẳng đi ngay tới hoài, mắt ngó mấy gian hàng hai bên, đi

mà không định đi đâu, ngó mà không để ý đến chỗ nào

Nam thanh nữ tú dập dều, hàng hoá dọn gian nào cũng đẹp, nhưng mà cậu Tất Ðắc ngơ ngáo như đi trong đống cát, gặp gái đẹp không vui, mà thấy đồ tốt cũng không khoái Cậu đi mút khúc đường ngay đó, rồi mới quẹo qua khúc đường khác, thì có một người đờn bà, trạc[1] chừng 35 tuổi, cao lớn mà không dông dãy[2], mình mặc một bộ đồ lụa trắng, tay cầm một cái bốp da vàng, dừng ngay trước mặt cậu và cười mà hỏi rằng: “Cậu

đi đâu vậy hử?”

Tất Ðắc thấy cô Cẩm Hương là người gốc ở một tỉnh với cậu, hồi trước cô làm nữ giáo sư, vì cớ gì đó không rõ mà xin từ chức rồi bây giờ đương cai quản một trường tư kêu là “NỮ HỌC HIỆU” tại chợ Cầu kho, thì cậu cũng cười và đáp rằng:

Trang 8

- Vậy chớ chị đi đâu đó mà chị hỏi tôi?

- Tôi có dọn một gian hàng để bán đồ nữ công trong hội chợ, nên tôi phải vô mà coi sóc chớ phải tôi thả rều[3] cả ngày, rồi thả thâm[4] tới ban đêm như cậu vậy sao?

- Chị mới bị kỳ đà níu chưn nên chị không thả rều nữa được, chớ hồi trước chị giỏi gì hơn tôi

- Cậu là quỷ Kỳ đà ở đâu?

- Kỳ đà dưới Trà Vinh đó

- Ối, khéo nói xàm[5] hoài! Chồng của người ta mà sao lại kêu là kỳ đà[6]?

- Hử? Chồng … Chồng … Chị có biết “chồng” là nghĩa gì hay không mà chị dám dùng tiếng ấy

- Ê! Ðừng có nói điên nào! Chồng là chồng chớ chồng nghĩa là gì

- Không Tôi hỏi thiệt chớ Chị làm bà Ðốc học mà chị cắt nghĩa chữ “chồng” không được, thì tôi kêu là kỳ đà chị không được phép rầy tôi

- Thôi, để tôi cắt nghĩa chữ “chồng” cho cậu nghe Chồng là một người đờn ông, hoặc trẻ, hoặc già, vì thương yêu một người đờn bà nên kết tóc trăm năm với người đờn

bà ấy, lại lo nuôi dưỡng người đờn bà ấy trọn đời Tôi cắt nghĩa vậy đó cậu chịu hay chưa?

mà cưới, có rước chánh lục bộ lập tờ hôn thú theo luật, rồi trọn đời phải nuôi dưỡng bảo bọc người vợ luôn luôn Chị bỏ sót đám cưới và hôn thú

- Ối! Cậu đi Tây học sáu bảy năm mà cậu chưa mở trí, cậu còn thủ cựu quá! Ðời nầy người ta tấn hoá nhiều lắm rồi, hễ đờn ông với đờn bà thương nhau nếu không có điều chi trở ngại, thì người ta kết làm vợ chồng, cần gì phải làm đám cưới, cần gì phải lập hôn thú Cậu còn quê quá

- Chị muốn nói theo cái thuyết “tự do kết hôn” thì tự ý chị, tôi không cản Nhưng

mà tự do kết hôn là đờn ông thong thả mà chọn lựa người vợ theo ý muốn, song bề nào cũng phải lập hôn thú thì mới kêu là chồng, là vợ được, chớ nếu không có hôn thú thì người ta kêu đờn ông là “kỳ đà”, đờn bà là “mèo” chị hiểu chưa?

- Ðừng nói xàm! Cái gì mà “kỳ đà”

Trang 9

- Vậy chớ chị nói người ở Trà Vinh đó là chồng chị hay sao?

- Ừ, chồng của tôi đó đa

- Nếu chị nói người đó là chồng thì tôi xin giải nghĩa chữ “chồng” của chị như vầy: “Chồng là một người đàn ông có vợ có con rồi, có điền đất lớn, vì thương yêu một người đàn bà xinh đẹp và lanh lợi, nên giúp vốn cho người ấy đôi ba ngàn làm ăn, mỗi tháng tới thăm một hai lần, mỗi lần ở năm ba bữa, chừng về cho một hai tấm giấy xăn[8]

Ðó, chữ “chồng” của chị nghĩa như vậy đó phải không?

- Cậu quỉ nầy cứ kiếm chuyện hoài! Thôi, bỏ chuyện đó đi Tôi hỏi vậy chớ cậu

đi đâu, sao cậu không trả lời?

- Tôi thả rều cũng như chị bây giờ đó, chớ biết đi đâu mà nói

- Tôi nói tôi vô chợ đặng coi sóc gian hàng của tôi, chớ có phải tôi thả rều như cậu vậy đâu

- Gian hàng của chị ở đâu?

- Kia kìa Ði hết khúc đường nầy, quẹo qua tay trái, tới ngả ba quẹo qua tay mặt nữa là gặp gian hàng của tôi

- Dữ hôn! Gian hàng của chị đằng kia, còn chị đi lêu khêu đằng nầy, cách mấy trăm thước, mà chị dám nói chị vô đây đặng coi sóc gian hàng chớ Thế khi con mắt của chị có điện vô tuyến hay sao mà chị coi xa dữ vậy?

- Thiệt cậu là quỉ, nên hễ cậu gặp tôi thì kiếm chuyện kích bác tôi hoài

- Tại chị rầy tôi thả rều, nên tôi phải vạch cho chị thấy rõ chị cũng như tôi chớ

Cô Cẩm Hương cười ngất Cô ngó y phục của cậu Tất Ðắc rồi cô lại nói rằng:

- Cha chả! Bữa nay đi coi chợ đêm, diện bộ đồ tốt dữ!

- Ê! Chị đừng có khen vội, phải hỏi đi hỏi lại rồi sẽ khen

- Hỏi cái gì?

- Phải hỏi coi đồ của ai đã

- Tôi thấy cậu bận đồ tốt thì tôi khen cậu chớ hỏi ai bây giờ

- Tuy đồ tốt, nhưng mà không phải đồ của tôi Bộ đồ nầy là của anh em bạn tôi, ảnh đi coi hôm qua, bữa nay ảnh ở nhà, nên ảnh cho mượn bận, tôi đi đây

- Ê! Chuyện như vậy mà nói om sòm không sợ người ta nghe người ta cười hay sao?

- Ủa! Cười cái gì, tôi không có đồ, tôi mượn đồ của anh em tôi bận, có chi đâu

mà cười Tôi mượn, chớ tôi ăn cắp ăn trộm gì hay sao mà xấu hổ

- Cậu cứ vậy hoài không biết tới chừng nào cậu mới chịu đổi tánh nết!

- Ðổi chi vậy?

Trang 10

- Phải sửa tánh nết theo thiên hạ, đặng ở đời cho hợp với người ta chớ

- Tánh nết của thiên hạ khác hơn tánh nết của tôi hay sao?

- Ai mà tánh nết dị kỳ như cậu vậy!

À, nếu tánh nết của thiên hạ khác hơn tánh nết của tôi, thì chị phải biểu thiên hạ sửa lại mà ăn ở giống theo tôi, chớ sao chị biểu tôi sửa Chị lấy bằng cớ nào mà chị dám quả quyết tánh nết của thiên hạ tốt, còn tánh nết của tôi xấu Tôi mượn áo quần tôi bận, tôi nói tôi mượn, tôi không sợ ai mà giấu giếm Còn họ cũng mượn mà bận như tôi, song họ lại làm phách, đi ra đường họ vinh mặt vinh mày, khoe khoang đồ của họ tốt, chị nghĩ thử coi cử chỉ của tôi phải, hay của thiên hạ phải? Nè, xin chị hiểu dùm, những đồ gì, vật gì mình dùng, mà không phải sức mình làm cho có tiền – và làm có tiền một cách chánh trực – mà mua, thì đều là đồ mình mượn hết thẩy, lại có khi là đồ của mình ăn trộm hoặc

ăn cướp nữa, chị biết hôn?

- Nói như vậy, hèn chi chúng ghét phải lắm

- Ai ghét tôi đâu?

- Tôi ghét cậu

- Sao mà ghét?

- Hễ mở miệng thì nói giọng khinh thế ngạo vật, nên tôi ghét chớ sao?

- Vậy chớ phải nói thế nào chị mới thương? Thôi để tôi nói như vầy: Em kính chào bà đốc trường Nữ Lưu học hiệu Ðương giữa lúc công chúng ồn ào ca tụng tài đức của bà, mà em được gặp bà, bà lại không quên em là một đứa đồng hương hèn hạ, thì em vinh diệu không biết chừng nào Công chúng ngợi khen bà là vì họ thấy bà tuổi đã trên ba mươi lăm mà nhan sắc vẫn còn đẹp như gái xuân xanh, họ thấy bà là một đứng liễu bồ

mà bà đủ tài đủ trí tự xướng ra tạo thành một sự nghiệp kinh dinh ở chốn Sài Gòn Họ khen như vậy bất quá họ thấy bề ngoài mà khen đó thôi, bởi vậy em cho những lời khen

ấy chưa đúng Theo con mắt của em, thì em thấy bà còn nhiều cái tài, nhiều cái đức khác nữa, thiên hạ không thấy nổi Bà xuất thân trong đám bình dân, mà bà thoát khỏi cái địa

vị hèn hạ rồi leo lên ngồi cái địa vị cao sang, cũng đi xe hơi, cũng đeo hột xoàn, cũng được thiên hạ kêu “bà”, sự thăng cao ấy nếu không có cái tài đặc biệt như bà thì không thế gì mà làm được Mà được lên cái địa vị cao rồi, bà không vong bổn như thiên hạ, bà ngó xuống mà thương xót đoàn phụ nữ, bà muốn dìu dắt em cháu cho chúng nó bước vào đường phải, nên bà không nệ tốn công hao của, bà lập trường dạy em cháu cho chúng nó thông chữ nghĩa, biết nữ công đặng chừng lớn khôn chúng nó có gia thất, thì chúng nó biết chữ, có nghề đặng tiện bề sinh hoạt! …Ðó, tôi nói như vậy đó, chị thương tôi hay không?

Cô Cẩm Hương với tay vả mặt Tất Ðắc nghe một cái chách mà nói rằng:

- Ðồ quỉ kiêu ngạo hoài

- Chị biểu tôi sửa tánh nết cho hạp với thiên hạ, chớ có kiêu ngạo đâu

- Thôi, đừng có giễu nữa Cậu có kiếm sở nào mà làm hay chưa?

Trang 11

- Làm chi vậy?

- Khéo hỏi trẹo hôn! Làm đặng kiếm cơm mà ăn, chớ làm mà chi

- Sống đặng mà ăn hay sao, nên phải làm cho có tiền mà ăn cơm?

- Ở đời ai cũng vậy, phải lo làm việc cho có tiền đặng nuôi thân Nếu không làm thì tiền đâu mà ăn, mà hễ không ăn thì chết còn gì

- Tôi không làm mà tôi còn sống đây, tôi có chết hồi nào đâu?

- Cậu cải nghịch lý quá thì còn ai nói chuyện gì nữa được Cậu là con quan, ông

bà hồi trước giàu có sang trọng Cậu có đi học bên Tây sáu bảy năm, cậu đã 25, 26 tuổi rồi, cậu phải lo lập thân đặng giữ danh giá cho cha mẹ, chớ cậu không lo làm ăn chi hết,

cứ thả lêu khêu hoài, rồi làm sao Chị em quen biết nhau từ hồi nhỏ, tôi thương cậu lắm, tôi phải chỉ chỗ quấy cho cậu nghe

- Tôi rất cám ơn chị Những lời chị khuyên tôi đó, theo thiên hạ thì trúng nghĩa lắm, mà đối với tôi thì trái hẵn cách quan niệm ở đời của tôi

- Cậu quan niệm ở đời như thế nào, mà cậu cho tôi nói trái?

- Theo thói thường, con người hồi còn nhỏ thì phải đi học, chừng lớn khôn, con trai thì cưới vợ, con gái thì lấy chồng, rồi như giàu thì ở không mà đi chơi, còn như nghèo thì vợ chồng phải làm cực khổ đặng kiếm tiền mà nuôi nhau Trong ít năm sinh con đẻ cháu cả bầy, gánh gia đình mỗi ngày một thêm nặng Giàu hay nghèo cũng vậy, hạng nào cũng phải lo lắng hết sức, duy cách lo lắng khác nhau mà thôi Giàu thì lo làm giàu thêm,

lo cho con học cho cao, lo làm sao thiên hạ khen ngợi Còn nghèo thì lo làm sao có quần

áo cho vợ con bận[9], lo làm có gạo đặng vợ con ăn mỗi ngày đủ hai bữa Phải lòn cúi, phải lặn lội cho đáo để trong ít năm rồi ai cũng phải chết Những sự nghiệp mình đổ mồ hôi, xót con mắt, chai đầu gối, nát trí khôn, mà gây dựng ra đó, nó phưởng phất như khói bay rồi tan mất hết Cái đường đời của con người từ xưa đến nay thì như vậy đó, có chỗ nào hay đâu mà mình cứ đuổi theo hoài Mình phải tìm cái đường khác mà đi, cho thân mình khỏi cực khổ, cho chí mình được thơi thới, tính như vậy có phải là dở hơn thiên hạ đâu chị

Cẩm Hương lắc đầu, nắm tay kéo Tất Ðắc đi và nói rằng:

- Cậu nói chuyện dọng đầu dưới đất trở cẳng lên trời, nghe phát ghét, không hơi nào

mà cãi Thôi, cậu đi lại gian hàng của tôi ngồi nói chuyện chơi, đứng nãy giờ mõi cẳng rồi Lại đẳng ngồi tôi biểu học trò của tôi nó dọn bánh khéo, chế trà ngon, tôi đãi cậu một bữa cho cậu biết cách quan niệm ở đời của tôi hay, hay là của cậu hay

Hai người thủng thẳng tránh thiên hạ mà đi, cô Cẩm Hương mặt hân hoan, còn cậu Tất Ðắc thì bộ lơ lửng

Ði tới ngả ba đường vô gian hàng của cô Cẩm Hương, thình lình có một cô, trạc chừng 20 hoặc 22 tuổi, y phục thật đẹp, đeo hột xoàn thật nhiều, đi với một bà xồn xồn[10], tuy mặc đồ đen nhưng mà sắc sảo lắm, cô thấy Cẩm Hương thì kêu mà hỏi “Cô

Trang 12

Ðốc, cô Ðốc, gian hàng của cô ở chỗ nào đâu, nãy giờ em dắt má em đi kiếm mỏi chưn quá, mà kiếm không được”

Cô Cẩm Hương cúi đầu chào bà xồn xồn và nói rằng: “Tôi kính chào bà Huyện Gian hàng nữ công của tôi dọn trước kia” Cô lại ôm mặt cô nhỏ gặp đó mà hôn và nói rằng:

“Té ra em kiếm gian hàng của cô hay sao? Cô cũng tính đi một vòng coi chơi, mắc gặp người quen đứng nói chuyện từ nãy giờ, chớ không thì cũng gặp em và bà Huyện”

Cô nói tới đó, cô sực nhớ Tất Ðắc, cô day lại thì thấy cậu đứng dang ra mà chờ Cô đưa tay ngoắt cậu lại, rồi chỉ hai mẹ con mới lợi đó mà nói rằng: “Bà đây là bà Huyện Hớn ở trên Tân Ðịnh, còn cô em đây là Bạch Yến, con gái của bà Huyện, mà cũng là học trò cũ của chị”

Cô lại nói với bà Huyện rằng: ”Cậu nầy là Bác Vật[11] Ðắc, em bà con với tôi, cậu là con quan phủ hồi trước ở Long Xuyên”

Tất Ðắc cúi đầu chào hai mẹ con bà Huyện Hai mẹ con bà Huyện cũng cúi đầu đáp

lễ

Cẩm Hương vui vẻ lắm, cô mời hết ba người khách đi lại gian hàng của cô mà ăn bánh uống nước và ngồi nghỉ chưn một chút Cô dắt mẹ con bà Huyện đi trước, Tất Ðắc thủng thẳng theo sau, cậu đi mà bộ lững đững lờ đờ, chỗ thiên hạ đều vui mà cậu không biết vui chút nào hết

Lại tới gian hàng nữ công, thấy ba cô tuổi còn xuân xanh ở trong coi bán đồ, cô nào

ăn mặc cũng đẹp, đương mỉm cười hữu duyên mà chiều khách Cẩm Hương dắt khách mà chỉ đặng khoe những đồ thêu, những bánh, những mứt của học trò cô làm ra Cô nói với

bà Huyện, cô cười với Bạch Yến, cô giễu cợt với Tất Ðắc, coi ra thiệt cô rành rẽ trong nghề giao thiệp Cô khoe hàng đủ hết rồi, cô mới mời khách ngồi chung quanh một cái bàn vuông nhỏ để giữa gian hàng và cô biểu mấy cô học trò chế một bình trà ngon và dọn bánh mứt cho cô đãi khách

Tất Ðắc ngồi cái ghế phía ngoài cửa, chừng cô Cẩm Hương mời ăn bánh uống nước, thì cậu ăn liền không bợ ngợ, mà cũng không thèm ngó cô Bạch Yến hay mấy cô bán trong gian hàng

Cô Cẩm Hương nói chuyện với bà Huyện một hồi rồi kêu Tất Ðắc mà hỏi rằng: “Cậu Bác Vật, sao cậu ăn uống mà cậu không nói chuyện gì hết vậy”?

Tất Ðắc mỉm cười mà đáp rằng:

- Chị muốn tôi nói chuyện gì?

- Cậu hãy nói coi đồ của học trò tôi thêu đó khéo hay vụng, bánh mứt của học trò tôi làm đó ngon hay dở, nói bao nhiêu đó thử coi rồi nói chuyện khác

- Ðồ thêu thì khéo thiệt, bánh mứt thì ngon lắm

- Cậu khen hả?

- Nhưng mà tôi chê, chớ tôi không khen

Trang 13

- Biết khéo, biết ngon mà sao lại chê?

- Tôi chê là vì những đồ ấy coi thì đẹp mắt, ăn thì ngon miệng, nhưng mà nó báo hại đờn bà con gái chớ không ích gì

Cô Bạch Yến nãy giờ thấy Tất Ðắc không thèm để ý đến mình thì lấy làm kỳ, bây giờ nghe những lời cậu nói trặc trẹo như vầy nữa thì cô không thể nín được, nên cô cười và hỏi cậu rằng:

- Xin ông cho phép em hỏi ông …

- Cô muốn nói chuyện thì cứ nói khỏi xin phép ai hết Tôi có quyền gì cấm cô hay sao mà cô phải xin phép

- Vì em chưa quen biết với ông, nên theo lễ, em muốn nói với ông nên tự nhiên

em phải xin phép trước

- Người nào bày lễ nghi đó lại báo hại thiên hạ còn nặng hơn là người thêu thùa, bày làm bánh mứt đó nữa

Bây giờ bà Huyện tức cười, mà ba cô học trò cũng không nín cười được, nên đồng ngó Tất Ðắc mà chúm chím hết thảy

Cô Bạch Yến dòm thấy ai nghe Tất Ðắc nói cũng lấy làm kỳ, nên cô phấn chí mà hỏi cậu rằng:

- Tại sao ông nói lễ nghi là báo hại thiên hạ?

- Bày lễ nghi có hai điều hại: thứ nhứt làm cho loài người phải giả dối, thứ nhì làm cho loài người mất hết thì giờ Cô nghĩ lại mà coi, theo lễ nghi hai người gặp nhau liền hỏi thăm nhau coi mạnh giỏi hay không Ví như có người trả lời “Tôi không mạnh” Người kia vì lễ nghĩa, nên phải hỏi tiếp: “Anh đau bịnh gì?” Người nọ phải đáp Ví như nói: “Tôi cảm gió nên nóng lạnh mấy bữa rày” Người kia phải khuyên: “Anh phải kiếm thuốc mà uống, không nên để lây lất” Vấn đáp như vậy rồi hoặc nói chuyện khác, hoặc không có chuyện gì để nói, thì từ giã nhau mà đi Lễ nghi buộc hễ gặp nhau thì hỏi thăm mạnh giỏi, hỏi chi vậy? Hỏi rồi người ta nói người ta đau, mình không có thể làm cho người ta hết đau được thì lời hỏi giả dối quá, làm cho hai người mất mấy phút đồng hồ vô ích Còn cô muốn nói chuyện với tôi, vì lễ nghi cô buộc lòng phải xin phép tôi Tôi biết tôi không có quyền cấm cô nói, mà cô xin phép, thì lời xin phép ấy không thiệt mà lại mất thì giờ

Bà Huyện gật đầu rồi ngó Cẩm Hương mà nói rằng:

- Ông Bác Vật nói phải lắm chớ

- Ý! Thôi đi bà! Cậu nói lộn ruột, chớ phải giống gì

- Sao mà lộn ruột?

Cô Bạch Yến không chịu thua nên nói với Tất Ðắc rằng:

Trang 14

- Ông nói lễ nghi làm cho người ta giả dối lại mất thì giờ, nhưng theo ý em thì con người nhờ có lễ nghi nên trong đường giao thiệp mới có vẻ thanh cao tao nhã chớ

- Thanh cao, tao nhã bề ngoài, còn bề trong thì không có một chút thành thiệt, thế thì thanh cao, tao nhã làm chi Như trái cam, ngoài vỏ khoe màu vàng tươi, coi ngon lắm, mà trong ruột chua lè, thì có ai màng Cô muốn nghị luận mà chơi, chớ trong trí cô cho lời tôi nói đó là phải

- Còn tại sao ông nói đồ thêu tốt, bánh làm ngon là vật báo hại đờn bà con gái?

- Thêu một cặp mặt gối cho thiệt đẹp, phải tốn công hết mấy ngày Làm được một cái bánh cho thiệt khéo phải mệt trí hết mấy giờ đồng hồ Mặt gối khéo bất quá để cho người coi khoái mắt Bánh ngon bất quá để cho người ăn ngon miệng Khoái mắt, ngon miệng một chút mà phải bắt phụ nữ mệt trí lung quá, không phải là báo hại người ta hay sao? Kiếp con người có mấy mươi năm, sao đành lòng bắt phụ nữ mệt nhọc hết sức

để cho mình khoái mắt, ngon miệng?

- Theo lời ông nói đó, thì em đoán chắc ông yêu phụ nữ lắm nên ông mới bào chữa như vậy

- Không phải vậy Bình sanh tôi chưa biết thương ai, mà cũng chưa hề ghét ai Nói chuyện thì tôi cứ do lý mà nói, chớ chẳng vị ai hết Tại sao mà tôi yêu phụ nữ?

- Nếu ông không yêu mà sao ông bênh vực dữ vậy, ông không muốn cho phụ nữ cực lòng nhọc xác?

- Tôi muốn chung cho loài người hết thảy đều khỏi nhọc trí cực xác, chớ nào phải tôi muốn riêng cho hạng phụ nữ mà thôi đâu Nếu tôi muốn cho đờn bà con gái sung sướng, ở không rồi thoa son giồi phấn mà đi chơi, còn đờn ông con trai phải làm cháy da phỏng trán, mặt nám tay chai, muốn như vậy thì bất công bất chánh lắm

- Ðờn ông tự nhiên phải làm mà nuôi đờn bà chớ sao, tục lệ lưu truyền từ xưa đến nay, từ Âu tới Á, dầu ở đời nào, dầu ở nước nào cũng vậy

- Theo tục lệ thì đờn ông phải nuôi đờn bà còn đờn bà đối với đờn ông phải thế nào?

- Ðờn bà thì họ lo bề nội trợ, nghĩa là lo việc trong nhà như tắm rửa cho con, may áo vá quần cho chồng, lo cơm nước cho chồng con ăn

- Những phận sự của đờn bà mà cô vừa mới kể đó, tôi mày mạy dường như trong sách dạy như vậy Mà trong thế gian tôi ít thấy như vậy

- Chính ông thấy thế nào?

- Tôi thấy có nhiều đờn bà, hễ chồng đi làm công việc thì họ ở nhà khi thì dạo xóm mà nói hành thiên hạ, khi thì đánh quần đánh áo rồi thả đi chơi, khi dụm năm dụm

ba hoặc luận thứ phấn nào tốt, thứ nào xấu, hoặc đánh bài đánh bạc, còn con thì họ bỏ tèm lem tèm luốc, chồng đi làm về mệt đừ, song không có cơm sẵn mà ăn

- Ông nói như vậy là ông chê bọn nữ lưu chúng tôi hư quá!

Trang 15

- Thưa! Tôi đâu dám Tôi thấy sao tôi nói vậy chớ

Bà Huyện cười ngất và nói rằng: “Ông Bác Vật nói phải lắm chớ Ðờn bà con gái bây

giờ nhiều người không hiểu tam tùng tứ đức gì Có người còn ăn hiếp chồng nữa”

Cô Bạch Yến chau mày nói rằng: “Ðờn bà đời nào cũng vậy, có người nên mà cũng

có người hư, chớ nếu mọi người đều nên hết thì thế gian thành thiên đàng còn gì Nhưng

mà tôi phiền ông Bác Vật sao chê mấy người hư mà ông không khen mấy người nên Tôi chắc ông Bác Vật không hưởng được hạnh phúc trong gia đình, ông uất ức trong lòng, ông oán đờn bà con gái, nên ông mới chê hết như vậy đó”

Cẩm Hương rước mà đáp rằng: “Không phải vậy đâu Cậu Bác Vật chưa có vợ mà”

- Té ra ông Bác Vật chưa có vợ hay sao?

- Thưa, có con gái nào mà thèm cậu

- Sao vậy?

- Cậu nói lộn ruột chịu sao nổi Vậy từ nãy giờ bà không nghe cậu nói chuyện đó sao?

- Ông Bác Vật luận việc đời nghe nhằm lý quá chớ có nói quấy chỗ nào đâu

- Bởi nhằm lý, nên không nhằm bụng người ta mới chịu không nổi

- Cô Ðốc gắt gao quá! Theo tôi, thì tôi cho ông Bác Vật nói phải hết

Chủ khách nói chuyện tới đó, kế có hai cô mặc y phục thiệt đẹp, giồi phấn thoa son thiệt khéo, đi ngang qua gian hàng, thấy Tất Ðắc ngồi phía ngoài, bèn hốt bông giấy mà vãi trong mình cậu rồi cười ngả ngớn Tất Ðắc vừa phủi áo vừa nói rằng: “Hồi nãy tôi nói sót Bổn phận của đàn bà con gái còn phải vô chợ đêm đặng vãi bông nữa”

Bà Huyện và mấy cô tức cười Kế có một đám trai, chừng năm, sáu người, đầu láng nhuốt mặc đồ tây sắc lẻm, đi ngang qua rồi áp vô vãi bông trên đầu cô Bạch Yến và mấy

cô đứng bán

Bà Huyện lộ sắc không vui, bà đứng dậy và nói rằng: “Hôm qua bà Phán đi coi hội chợ, bà về bà nói có một con thú thành người ngộ lắm, lại có một con rắn biết nói Hồi nãy tôi biểu con Bạch Yến dắt tôi đi lại chỗ đó cho tôi coi một chút mà nó không chịu, cứ

đi coi đồ thêu với những đồ làm bằng đồi mồi hoài Không biết con thú thành người đó ở chỗ nào đâu”

Cô Cẩm Hương cũng đứng dậy đáp rằng: “Ở bên kia Bà Huyện muốn coi thì tôi dắt

đi coi Cậu Bác Vật đi hay không?”

Tất Ðắc lắc đầu đáp rằng: “Xin chị đi với bà Huyện, để tôi ngồi đây tôi làm bia cho mấy cô vãi bông đặng tốn tiền của mấy cô chơi”

Cô Bạch Yến cũng nói rằng: “Em cũng không muốn đi Em mỏi chưn quá Thôi cô Ðốc dắt giùm má em đi chơi một vòng, để em ở đây em thế cho cô mà tiếp khách với mấy cô”

Trang 16

Cô Cẩm Hương nói: “Thôi, như em không muốn đi thì ngồi đó Nè, cậu Bác Vật đừng có bày chuyện mà nói rồi làm lộn ruột mấy em tôi đa” Cô nói dứt lời rồi dắt bà Huyện đi

Cô Bạch Yến liếc thấy thầy Tất Ðắc cứ ngồi ngó thiên hạ đi ngoài đường, chớ không ngó cô, thì cô kêu mà ghẹo rằng:

- Ông Bác Vật chờ ai hay sao?

- Thưa phải, tôi chờ mấy cô vãi bông Sao nãy giờ có nhiều cô đi ngang qua mà

họ không thèm vãi nữa không biết

- Ông ưa họ vãi bông lên mình ông lắm sao?

- Thưa, bình sanh tôi chẳng biết ưa chuyện gì hết Nhưng mà việc của thiên hạ ưa thì chẳng bao giờ tôi muốn làm trở ngại

- Ông nói như vậy, mà sao chị em tôi đời nầy ưa thêu thùa, ưa làm bánh làm mứt, hồi nãy ông lại kích bác?

- Tôi có kích bác đâu? Hồi nãy tôi nói những đồ ấy vô ích mà nó làm phụ nữ phải cực trí nhọc xác chớ

- Người sanh ở đời thì phải làm công việc, đờn ông làm việc nặng nề, đờn bà làm việc nhẹ nhàng sao ông lại sợ cực trí nhọc xác? Ðờn bà làm việc nặng nề không nổi, thì tập thêu thùa, may vá, làm bánh làm mứt, cho có công việc làm, chớ ở không chơi rồi sanh chứng lại còn hại hơn nữa

- Mấy người ở không đi chơi đều sanh chứng hết sao?

- Không phải em nói hết mọi người, em nói là nói phần đông

- Có người không đi chơi, may thêu khéo, làm bánh mứt giỏi mà họ cũng sanh chứng vậy, chớ nào phải ở không thả đi chơi mới sanh chứng được

- Mấy người đó sanh chứng gì?

- Mấy người nào?

- Mấy người ở không đi chơi đó Ông nói chuyện với em mà sao ông lo ra quá vậy?

- Xin lỗi cô Tôi mắc trông mấy cô vãi bông

- Nếu vậy thì em nói chuyện với ông, em làm buồn cho ông lắm?

- Không Có buồn chi đâu?

- Ông thích vãi bông, mà em không làm như vậy, em lại bày chuyện mà nói cho rộn trí ông, thì ông phải buồn chớ sao?

- Không phải vãi bông tôi mới vui, còn nói chuyện mà tôi buồn Tôi vui là khi nào tôi được thấy mấy người ở không đi chơi, không lo, không làm việc gì hết, dầu đờn

Trang 17

bà hay đờn ông cũng vậy Mấy cô vãi bông hồi nãy chắc không có việc gì hết, nên tôi thấy tôi vui, tôi trông coi có nhiều người khác được như vậy hay không?

- Ông nói ông thấy người ta ở không đi vãi bông chơi ông vui, vậy sao mấy người đờn ông vãi bông hồi nãy đó, thấy ông lại không vui?

- Tôi cũng vui lắm chớ, nhưng mà đờn ông có nhiều, nên không lạ gì, lại họ vô hội chợ mua bông mà vãi đó, chớ họ không phải là người ở không đi chơi, ban ngày họ phải làm việc mới có tiền mà mua bông đó Còn đờn bà vãi bông thì mới có, lại chắc họ không có làm việc gì hết, nên tôi thấy tôi vui hơn

- Ông ngồi nói chuyện với em, mà họ vãi bông lên mình em hồi nãy đó, ông thấy ông không buồn hay sao?

- Tại sao mà tôi buồn?

- Cô Bạch Yến ngó ba cô học trò bán hàng mà cười rồi lắc đầu mà nói rằng:

“Hèn chi không có vợ là phải lắm”

Tất Ðắc day qua hỏi rằng:

- Cô nói tôi hay nói ai?

- Em nói ông

- Cô nói sao, xin lập lại nghe coi

- Em nói tánh ông như vậy, nên không có vợ thì phải lắm

- Sao cô biết được tánh tôi?

- Nãy giờ em thấy bộ ông nói chuyện, thì em biết rõ tánh ông rồi

- Cô có học sách coi tướng hay sao nên thấy bộ tịch, nghe nói chuyện mà cô biết tánh nết được?

- Cần gì phải học sách coi tướng Ông là trai chưa vợ, ông ngồi trong gian hàng đây hơn một giờ đồng hồ rồi ông thấy em với ba cô gái chưa có chồng mà ông không tỏ một lời ghẹo chọc, lại coi bộ không thèm để ý đến, thậm chí đến người ta áp vô rãi bông cùng mình chúng tôi mà ông cũng không phiền Thấy bao nhiêu đó cũng đủ biết ông giỏi tài học thức, mà ông dốt về ái tình, nên ông không có vợ

- Cô nói như vậy là cô trách tôi hay là cô chê tôi?

- Em chê

- Tôi rất cám ơn cô

- Em chê, mà sao ông không giận, ông lại cám ơn?

- Tôi mừng lắm chớ giận làm sao

- Em xin ông hãy cắt nghĩa tại sao em chê mà ông mừng, chớ không giận

- Cô không hiểu hay sao mà cô nài[12] tôi cắt nghĩa?

Trang 18

- Thì em không hiểu

- Vậy để tôi cắt nghĩa cho cô hiểu, song tôi xin cô nghe rồi thì để bụng, chớ đừng

có nói cho ai biết Thuở nay tôi thờ cái chủ nghĩa “Bất cần lao”, nghĩa là rèn tập tánh ý đừng muốn làm việc chi nhọc trí cực xác Cái chủ nghĩa của tôi cao xa thâm thúy lắm, phải lên diễn đàn mà giải năm mười đêm mới hết ý nghĩa được Bà Huyện đi chơi nãy giờ

đã lâu rồi, có lẽ trong năm mười phút nữa bà sẽ trở lại, nên tôi sợ không đủ thì giờ mà giải thích chủ nghĩa của tôi cho cô hiểu rõ được

- Thôi, ông đừng có giải chủ nghĩa Ông nói phứt cho em nghe coi tại sao em chê ông dốt về ái tình mà ông không giận?

- Ðể tôi nói vắn tắt ít lời cho cô nghe: Ái tình thường phải gây ra cuộc vợ chồng,

mà vợ chồng thì phải sanh con đẻ cháu, hễ sanh con đẻ cháu thì tự nhiên phải nhọc trí cực xác Chủ nghĩa của tôi nghịch hẵn lại sự cực trí nhọc xác, thì tự nhiên nghịch với cuộc vợ chồng, rồi nghịch luôn với ái tình nữa Tại như vậy đó nên tôi phải dốt về ái tình, đặng tránh cuộc vợ chồng, tránh bề con cháu cho tròn với chủ nghĩa Thuở nay cũng có nhiều người chê tôi dốt về ái tình mà tôi không tin Nay tôi gặp cô là gái xuân xanh, lời nói thiệt khôn ngoan, nhan sắc thiệt xinh đẹp Ðã vậy mà cô có mặc áo tốt, có đeo xoàn nhiều, nên tôi chắc cô là người giàu có sang trọng Cô thấy cử chỉ của tôi rồi cô chê tôi là đứa dốt về

ái tình Cô như vậy, mà cô nói như vậy, thì tôi mới chắc ý, vững bụng, tôi không hổ với chủ nghĩa tôi thờ thuở nay, nên tôi mừng và cám ơn cô lắm

- Ông nói chuyện nghe lộn ruột thiệt, hèn chi hồi nãy cô Ðốc cô dặn cũng phải lắm

- Tôi nói như vậy mích lòng cô hay sao? Nếu có mích lòng thì tôi chịu lỗi với cô Tại cô hỏi hoài, chớ thiệt tôi có muốn nói đâu

- Không, có mích lòng chi đâu Song ông nói chuyện nghe dị kỳ quá Không giống ai hết

- Tôi nói chuyện nghe khác người ta hay sao? Khác chỗ nào xin cô cho tôi biết

- Em nói thiệt với ông, thuở nay em ra đường hễ em gặp mấy ông hay mấy thầy, thì ai cũng liếc ngó em, có người lại theo chọc ghẹo em nữa Nay em gặp ông, lại gặp như vầy, ông có đủ cách để mà trêu hoa ghẹo nguyệt[13] song ông không thèm để ý đến

em, không thèm tỏ một lời về ái tình, ông khác thiên hạ là khác chỗ đó

- Tôi khác với thiên hạ như vậy, mà cô cho tôi phải hay tôi quấy?

- Việc ấy em chưa suy nghĩ kịp, nên em không dám phán đoán

- Xin cô suy nghĩ lại Tôi chắc hễ cô suy nghĩ rồi thì cô sẽ cho tôi phải, mà cô cũng khen cái chủ nghĩa của tôi là cao hơn nữa

- Em muốn nghe ông giải cái chủ nghĩa của ông lắm

- Không đủ thì giờ thì không thể giải thích cho cô thấu đáo được

Trang 19

- Ðể khi nào em gặp ông mà có nhiều thì giờ em sẽ xin ông giải chủ nghĩa cho

em nghe được hôn?

- Tôi sẵn sàng

- Ông quen với cô Ðốc Cẩm Hương nhiều hôn?

- Chị em đồng hương

- Hiện bây giờ ông ở đâu?

- Tôi ở Sài Gòn đây

- Ông hay lại nhà cô Ðốc không?

- Tuy quen nhiều, song tôi ít tới lui

- Tại sao vậy?

- Tại chị Cẩm Hương không phục cái chủ nghĩa của tôi

Bà Huyện với Cẩm Hương trở lại Cô Bạch Yến bước ra cửa tiếp rước và nói với cô Cẩm Hương rằng: “Phải nãy giờ có cô ở đây, cô nghe ông Bác Vật nói chuyện! Ông nói nghe tức cười muốn chết”

Cô Cẩm Hương ngó Tất Ðắc và nói rằng: “Cậu đó cứ vậy hoài, tôi biết trước nên tôi

có dặn, mà cậu cũng còn chọc ghẹo sắp nhỏ”

Cô Bạch Yến rước[14] mà đáp: “Không mà, ông Bác Vật có chọc ghẹo ai đâu Ông nói chuyện chơi vậy chớ Ông nói nghe ngộ lắm Ông còn thiếu chịu em, chưa giải cái

chủ nghĩa “bất cần lao” của ông cho em nghe Bữa nào cô Ðốc có rảnh, em xin mời cô

lên nhà em chơi và cô đi thì cô mời dùm ông Bác Vật đi với, đặng ổng diễn giải cái chủ nghĩa của ổng cho em hiểu”

Bà Huyện và cô Cẩm Hương cười, còn Tất Ðắc thì đứng ngó thiên hạ qua lại, bộ bơ

lơ, dường như không kể đến ai hết

Bà Huyện nói đã khuya rồi, mà bà cũng đã coi đủ hết, nên bà cũng xin từ giã cô Cẩm Hương mà về Bà mời Tất Ðắc khi nào có dịp lên Tân Ðịnh thì ghé nhà bà mà chơi

Lúc từ giã thì cô Bạch Yến nói với Tất Ðắc rằng: “Ông Bác Vật phải nhớ, ông còn thiếu chịu em sự diễn giải chủ nghĩa “bất cần lao” đa, nghe hôn Em xin mời ông bữa nào

đi với cô Ðốc lên nhà em chơi, đặng giải nghĩa cho rồi, chớ để thiếu lâu không được” Tất Ðắc cúi đầu thi lễ và đáp rằng: “Tôi sẵn lòng”

Mẹ con bà Huyện đi rồi, cô Cẩm Hương hỏi Tất Ðắc rằng:

- Cậu coi con Bạch Yến được hay không?

- Ðược cái gì?

- Tôi hỏi cậu coi nó vừa ý cậu hay không Như cậu muốn nó thì tôi làm mai giùm cho đặng cậu cưới nó Nè, nếu cậu cưới được nó, cậu no lắm, bà Huyện góa chồng, bà có

Trang 20

một đứa con gái đó mà thôi, mà tiền bạc bà nhiều lắm Bà có nhà cửa tử tế, có phố cho mướn trên Tân Ðịnh, lại có ruộng ở phía dưới Mỹ Tho nữa

Tất Ðắc ngó Cẩm Hương, cười bộ kiêu căng mà đáp rằng:

- Bộ chị nầy điên rồi hay sao mà bày chuyện làm mai làm mối! Tôi cưới vợ nỗi

- Sao vậy? Cậu sợ bà Huyện không gả hay sao Phải, ý bà Huyện khó lắm Tuy

bà nói nói cười cười, song bà kén rể thất kinh Nhưng mà bà tin cậy tôi lắm Tôi nói lén cho cậu biết, mới hồi nãy đây, tôi dắt bà đi chơi, bà còn nói với tôi coi chỗ nào xứng đáng, nếu tôi dám bảo kết người ấy tử tế, thì bà sẽ gả con Bạch Yến

- Tôi nói tôi không chịu cưới vợ

- Sao vậy?

- Trái với chủ nghĩa của tôi chớ sao

- Mốc xì! Chủ nghĩa gì khéo bày đặt!

- Chị là người không có chủ nghĩa … Ủa! Xin lỗi … Tôi nói sai Chị là người thờ cái chủ nghĩa “yêu sự sống, khinh nghĩa, trọng tài” rồi chị tưởng ai cũng như chị hết hay sao?

- Cậu khéo làm bộ! Ðời nầy là đời kim tiền, sanh nhằm cái đời như vậy, thì mình

cứ mưu làm cho có tiền, làm thế nào cũng được, miễn có tiền nhiều là khôn là giỏi Thân cậu bây giờ cha mẹ khuất hết, sự nghiệp điêu tàn, cậu lại không có nghề làm ăn Vậy thì cậu nên kiếm vợ giàu đặng đỡ tấm thân Cưới vợ giàu cũng là một cách sanh nhai, thiên

hạ dùng cách ấy thiếu gì, có ai chê cười đâu mà cậu ngại

- Chị đừng có cám dỗ việc bậy bạ

- Tôi thương cậu lắm, nên tôi mới khuyên như vậy, chớ đâu phải cám dỗ đâu

- Tôi cám ơn chị, thôi để tôi đi chơi

Tất Ðắc cúi đầu từ giã rồi bước ra đi Cô Cẩm Hương kêu mà nói với rằng: “Cậu suy nghĩ lại cho kỹ Nếu cậu chịu thì bữa nào cậu ghé trường học mà nói cho tôi hay, rồi tôi tính cho nghe hôn”

Tất Ðắc phát tay rồi đi tuốt

[1] độ

[2] tướng thô kịch

[3] đi dạo không chủ đích

[4] đi dạo quá trớn

[5] nói điều vô nghĩa

Trang 21

[12] kèo nài, đòi

[13] tán tỉnh một người con gái

[14] cướp lời

Trang 22

Năm 1907, ông ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí

Đăng Cổ Tùng Báo Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, tức vụ Trung Kỳ dân biến, ông bị bắt và

giam tại nhà tù Quảng Nam đến năm 1914 thì được ân xá

Năm 1914, ra khỏi tù, ông lại về Hà Nội viết cho báo Nam Phong Vì bất bình với Phạm Quỳnh, ông bỏ Hà Nội vào Sài Gòn Vào Nam viết cho báo Lục Tỉnh Tân Văn

Năm 1920, ông lại trở ra Hà Nội viết cho báo Thực Nghiệp Dân Báo và báo Hữu Thanh đến 1928

thì báo bị đóng cửa

Năm 1928 ông lại trở vào Nam viết cho báo Thần Chung và Phụ nữ tân văn

Năm 1931, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ nữ thời đàm

Năm 1936, ông vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương Năm 1939, Sông Hương đóng cửa, Phan Khôi lại trở vào Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu

thuyết

Sau năm 1945, tức sau Cách mạng tháng Tám, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh mời từ Quảng Nam ra Hà Nội tham gia kháng chiến

Cuối năm 1954 hòa bình lập lại, Phan Khôi về Hà Nội Trong thời gian 1956-1957, là một trong

những người thành lập tờ Nhân Văn và có các bài phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ, ông bị

cấm sáng tác cho đến khi qua đời năm 1959 tại Hà Nội

Năm 2007, kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông, Một tọa đàm về ông đã được Tạp chí Xưa và Nay, Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức

 TÁC PHẨM

Sáng tác

1 Trở vỏ lửa ra (1939)

2 Ngẫu cảm (thơ chữ Hán)

3 Viếng mộ ông Lê Chất (thơ chữ Hán)

4 Ông Năm chuột (truyện ngắn)

Nghiên cứu, dịch thuật

5 Bàn về tế giao (1918)

Trang 23

6 Chương Dân thi thoại (1936)

7 Tìm tòi trong tiếng Việt (1950)

8 Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ (dịch của Stalin, 1951)

9 Việt ngữ nghiên cứu (1955)

10 Dịch Lỗ Tấn (từ 1955 đến 1957)

11 Kinh Thánh (dịch)

12 Và nhiều bài báo có giá trị

*

MỘT LỐI THƠ MỚI TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG THƠ

Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn Trong khi nói chuyện, ông nhắc

đến mấy bài Trúc chi từ của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông

Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình

đã dịch nó ra tiếng Pháp Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn

Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói giỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là

có ý nghĩa Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sanh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp

Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ Thật, cái động cơ viết bài này

là chính ở mấy lời của ông vậy

Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ

Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không

Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm Mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, thì kể cũng như là không có

Xin thú thật với mấy ông thợ thơ Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!

Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi

Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông

Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện

Trang 24

Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được

Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!

Duy tân đi! Cải lương đi!

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt

tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là đem ý thật có

trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết Ấy là như:

TÌNH GIÀ

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

"Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!"

"Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?"

………

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi

Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó Chẳng phải

là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên tôi mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ

Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng

đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại

Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một chỗ đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi

Trang 25

khác mà đóng đô Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau nầy có người làm như tôi mà thành công

Phan Khôi

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 122 (10.3.1932)

CẢNH CÁO CÁC NHÀ “HỌC PHIỆT”

Sau khi tôi đọc bài của Trần Trọng Kim tiên sanh bàn với tôi về sự phê bình cuốn sách

« Nho giáo », đăng ở Phụ nữ tân văn số 60, tôi rất lấy làm phục cái nhã độ của tiên sanh

Tôi lấy làm phục tiên sanh bao nhiêu, thì tôi càng mừng cho học giới nước ta có cơ khai phóng bấy nhiêu!

Số là, chẳng những như Trần quân đã nói, người mình xưa nay chưa quen chịu kẻ khác phê bình, mà lại trong xã hội nầy, có một hạng người, tôi muốn dâng cho họ một cái huy hiệu mới, là “học phiệt” Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích

họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu

Tôi chẳng nói gần nói xa chi hết; tôi nói ngay rằng hạng “học phiệt” ấy ở nước ta chẳng bao lăm người, mà Phạm Quỳnh tiên sinh là một Thử xách ra lấy một việc Chắc hẳn nhiều độc giả còn nhớ chuyện Ngô Đức Kế tiên sanh công kích sự đề xướng Truyện Kiều hồi mấy năm trước nên đã viết một bài trong tạp chí Hữu thanh Nói có vong linh Ngô tiên sanh! Không biết làm sao mà ông nầy có ác cảm với Phạm quân quá Hồi đó tôi đương ở Hà Nội, tôi đi lại với cả hai đằng, đầu đuôi làm sao tôi rõ hết Vì sự tư ý đó nên trong bài Chánh học với tà thuyết của họ Ngô có chỗ không được công bằng; tuy vậy, lấy đại thế cái bài mà nói, thì cách công kích như vậy là chánh đáng Vả lại nó là một vấn đề lớn, có quan hệ với học phong sĩ tập, dầu phải dầu chăng, cũng không có thế nào bỏ qua đặng Vậy mà bên Phạm Quỳnh tiên sanh nín lặng, chẳng thèm nói đi nói lại lấy nửa lời

Có một lẽ có thể vin lấy mà cãi cho Phạm quân về sự làm thinh đó, là trong bài của họ Ngô chưa hề có một lần nào nói đến tên tuổi Phạm quân Theo phép, khi người ta nói đến mình một cách không chánh thức, thì mình có quyền làm thinh được

Song le, có lẽ khác mạnh hơn để đánh đổ lẽ ấy đi Trong bài của họ Ngô tuy không nói đến tên Phạm quân, song toàn nói những công việc của Phạm quân đã chủ trương, hoặc

đã thi hành, mà công việc ấy lại không có thể lộn với của người khác Huống chi, công việc lại là công việc làm ra giữa xã hội, chẳng phải riêng của một người, ai cũng có quyền can thiệp đến, ai cũng có quyền bàn bạc đến Chỉ có một điều nên hỏi, là lời người

Trang 26

ta bàn bạc đó phải hay quấy mà thôi Nếu là phải, thì mình nên viết ra mà nhận lỗi và tỏ ý phục thiện của mình; bằng quấy, thì mình cũng nên viết ra mà cãi lại để binh vực cho chơn lý Đàng nào cũng phải trả lời hết, không phép làm thinh Làm thinh thì tỏ ra hai dấu: một là bí, hết đường nói lại; hai là khinh người Bí mà làm thinh, không nhận lỗi cách đường đường chánh chánh, thì thành ra mình không có can đảm, không biết phục thiện Còn khinh người thì lại vô lý lắm, mình khinh người, người lại chẳng biết khinh mình sao? Huống chi, phải biết rằng khinh người bằng một cách như vậy, thì trong khi mình khinh người đó, chính mình tự khinh lấy mình rồi, vì mình đã đối với mình, với người, cũng đều không ngay thật

Hai cái lỗi đó, thế nào Phạm tiên sanh cũng phải vấp một, vì tiên sanh đã làm thinh trong khi ấy Nhưng nói tiên sanh vấp cái lỗi trước thì thà nói tiên sanh vấp cái lỗi sau Bởi chưng, sau khi nín không trả lời, Phạm tiên sanh có viết một bài trong Nam phong nhớ chừng như đầu đề là Xử thế châm ngôn thì phải; trong đó có những câu, nhớ chừng như “Một thanh bảo kiếm…” chi chi đó thì phải Đại ý nói ta là thanh gươm bách luyện đây, tha hồ mà công kích, có sờn đâu được ta? Thiệt nó in hệt như cái giọng Tử Cống xưa kia binh vực cho thầy mình mà nói rằng: “Nhân tuy dục tự tuyệt, kỳ hà thương ư nhựt nguyệt hồ?” một thứ!

Về câu chuyện trên nầy ta lại nên chia ra hai mặt mà bàn Cái kiểu làm thinh ấy, nói về mặt học vấn là dở; chớ nói về mặt làm báo thì lại là hay Vong hồn ông Tập Xuyên, sống thì khôn thác thì thiêng, ông chứng giám cho lời tôi đây! Thật hồi đó Ngô tiên sanh hằm hằm chực Phạm quân trả lời thì kéo luôn cả đại đội ra mà công kích; song cái kế Tư Mã Trọng Đạt diệu thay, làm cho cái phương lược “lục xuất kỳ sơn” kia mới vừa có “nhứt xuất” thì đã quay đầu ngựa trở về! Tôi nói: về mặt làm báo là hay, cái hay ở đó

Song le, cái nghề làm báo, gặp thì làm, chớ có phải cái đất mà chúng ta toan đặt cái đời mình trên đó đâu Chúng ta – các ông đã đành, mà cũng xin cho tôi xen vào với – nên đặt cái đời mình trên cái đất học vấn Trong sự học vấn mà không ngay thật, ngay thật đối mình, đối với người, đối với nhứt thiết, thì thật là nguy hiểm lắm, nguy hiểm đến cái đời của mình nữa!

Có một điều nên lượng thứ cho Phạm tiên sanh, là lúc bấy giờ tiên sanh còn đương vào cái tuổi thanh niên, cái tuổi ấy thường làm cho người ta phụ khí và hiếu thắng Song ngày nay, tiên sanh niên càng cao, đức càng mậu, có lẽ những điều ký vãng ấy, tiên sanh đã rất lấy làm hối hận mà không nói ra chăng

Thánh nhân có nói rằng: “Quân tử tấn đức tu nghiệp, dục cập thời dã.” Chữ “đức” khỏi cắt nghĩa; còn chữ “nghiệp” đó tức là sự học vấn của mình Hai cái đó có quan hệ lẫn nhau, tới thì cùng tới, lui thì cùng lui, với nhau Muốn cho sự học vấn của mình một ngày một tới, phải hư tâm, phải khắc kỷ, phải biết phục thiện, thì mới tới được; mà sự học vấn

đã tới, thì cái đức của mình cũng ngày càng đầy đủ thêm Cập thời là thời nào? Theo ý tôi thì vào lúc ngoài ba mươi cho đến bốn năm mươi, xoang cỡ tuổi chúng ta ngày nay, là cái thời mà những sự phụ khí hiếu thắng đã lần lần xa ra khỏi mình

Trang 27

Sự tấn đức tu nghiệp mà thánh nhân nói đó, ở đời xưa thiệt rất khó; khó vì chẳng biết noi theo một cái phương pháp nào Song đương đời ta đây thì đỡ được sự khó ấy một chút; sẵn có phương pháp khoa học đó, ta nên lợi dụng lấy để mà tấn đức

Đã có người đứng sau lưng tôi mà cười tôi rồi! Họ cười họ lại còn nói: Cái đời anh nhà nho đặc sệt mà mỗi chút mỗi khoa học, khéo làm rầy tai! - Nếu có phải vậy thì tôi kiếu ông ấy đi, mà chỉ nói với những người nào không ra ý khinh tôi Thật vậy, sự nầy lại là một cái vấn đề nên nói rõ ở nơi khác nữa Đây tôi chỉ nói rằng: Cái phương pháp khoa học cũng vậy, hay là đích thân khoa học cũng vậy, thật là cái tiện cho học giả lợi dụng để

mà tấn đức Vì theo phương pháp khoa học thì mỗi một sự gì cũng phải luật lịnh, cậy chứng nghiệm để tìm cho thấy chơn lý, mà trong khi ấy lại phải bỏ hết cả những điều tư tâm, thành kiến và sự kiêu căng của mình đi; chẳng phải là trong lúc cầu tri thức đó, cũng luôn thể làm ích lợi cho tánh nết của mình sao? Tôi chối dài, tôi không phải nhà khoa học; song thật như ông Trần Trọng Kim nói, tôi có cái khuynh hướng về khoa học Câu chuyện vừa rồi là tôi lấy ở sự kinh nghiệm của chính mình tôi mà nói ra, có ích cho ai thì

có, không thì thôi, không có hại

Nãy giờ tôi nói dông dài những tấn đức tu nghiệp, khoa học khoa hiếc để cho lợt bớt câu chuyện đi, chớ rồi cũng không thể bỏ qua cái thói kiêu căng của mấy ông “học phiệt”

Họ làm vậy khác nào như ôm lấy cái độc quyền dư luận, trở ngại sự tấn bộ của học giới nước ta Ai nói, họ không thèm nói với, tức là có ý để một mình họ nói thôi, thế chẳng phải ôm lấy độc quyền dư luận là gì? Mà đã không cãi cọ thì không nẩy ra chơn lý; không có ánh sáng của chơn lý thì học giới tối tăm; thiệt họ đã vô ý mà dứt ngang con đường tấn bộ của học giới đi, chớ chẳng những trở ngại mà thôi vậy

Thật vậy, cái thói của họ đó đã tràn ngập cả xã hội mà thành ra như phong tục trong hơn mười năm nay Ai nói trời nói đất chi thì nói, ngang ngạnh đến đâu cũng không có người cãi Cái phong tục ấy nên đặt cho nó một cái danh từ là “nguội lạnh”

Chính mình Phạm Quỳnh tiên sanh đã nhìn thấy chỗ đó Tiên sanh có viết trong Nam phong số 148, hồi tháng Mars năm nay, về phần phụ trương tiếng Pháp, nơi bài “Hồi tưởng về Khổng Tử và Khổng giáo” (Réflexion sur Confucius et le Confucéisme), một đoạn như vầy:

“Ở nước Nam ta, cái phong trào bài kích Khổng giáo thà kêu là cái phong trào nguội lạnh… Mới có một nhà nho cũng học đòi bạn đồng đạo mình bên “thiếu niên Trung Quốc", ra tay phản đối Khổng Tử và Khổng giáo, mà chừng như độc giả chẳng mấy ai thiết đến, không ai cho là phải mà cũng không ai cho không, dầu rằng những bài phản đối

ấy viết bằng lối văn chín chắn và tài liệu dồi dào, đáng khen thật, song tôi tưởng chắc độc giả của nó cũng không nhiều bằng của những cái tin ngắn chút xíu trên tờ báo nói về công trạng của hai tay vô địch nghề banh vợt, mà hết thảy các báo đã tôn cho là nhứt quốc chi hùng”

Xin độc giả thử nghĩ coi, có cái xã hội nào lại nguội lạnh đến nỗi nước nầy chăng? Mà việc đó, đố ai dám cả gan bảo là việc tầm thường Chính trong đoạn đó chỗ để những cái chấm giây đó, Phạm tiên sanh nói rằng: “Kể ra thì đấng Thánh ở Khúc Phụ xa xuôi thật,

Trang 28

xa cả về không gian và về thời gian, song lâu nay chính ngài vẫn đã chi phối những điều giáo huấn của ngài trong cả cuộc sanh hoạt xứ nầy, về tinh thần và luân lý” Ừ! nếu đã nhìn nhận cho Khổng giáo ở xã hội mình là quan hệ với sự sống của mọi người vậy thì sao trong khi có kẻ nhè nó phản đối, ai nấy lại nỡ làm lơ, không thèm quan thiết đến cho đành? Tôi xin trung cáo cùng người trong nước: đừng có lấy cái cớ nói ra không ai thèm nói lại, làm dịp tiện để nhạo cười cái anh nhà nho mà Phạm quân nói kia; song ai nấy hãy nhìn điều nầy là một điều sỉ nhục cho cả một dân tộc, vì trong việc đó tỏ ra rằng cái lương tâm của dân nầy hình như đã tê điếng rồi vậy!

Lẽ đáng trong khi thấy những bài phản đối Khổng giáo đó, hạng người thường có cho

là không quan hệ mà bỏ qua đi nữa, thì những người bấy lâu đã có tông tín (conviction)

về Khổng giáo chủ trương cái thuyết duy trì Khổng giáo, cũng phải vội vã đứng ra, một là binh vực cho sự tông tín của mình, hai là vệ dực cho thánh đạo, ba là phá sự cổ hoặc cho người đương thời, mới phải cho Cái nầy từ hiền đến ngu rủ nhau làm thinh một loạt; sau khi đó rồi, có kẻ lại tỏ ý ra như tuồng mình làm vậy là đắc sách, thì tôi phải chịu, không hiểu cái lòng dạ người ta là thế nào! Nếu anh nhà nho công kích Khổng giáo đó mà công kích phải lẽ, thôi chẳng nói làm chi; ví bằng anh ta công kích bậy mà lại dùng lối văn chín chắn, tài liệu dồi dào, đến nỗi ông Phạm Quỳnh phải khen, thì tôi tưởng, chẳng nhiều thì ít, thế nào cũng có hại cho thế đạo nhân tâm chớ Vậy mà cứ nguội lạnh là nguội lạnh làm sao?

Tôi thấy đám trẻ con chơi với nhau, đến lúc đổ quạu, một đứa đứng ra một phía, lấy lời

vô lễ mà xỉ mắng mấy đứa kia Mấy đứa nầy thiệt hành cái chủ nghĩa tiêu cực phản kháng, ra hiệu lịnh cho nhau rằng: “Nó nói gì kệ nó, mình cứ bịt lỗ tai, chẳng thèm nghe!” Chúng nó bảo nhau thế nào, làm y như thế Đứa kia nói một chặp, mỏi miệng rồi thôi Khi ấy mấy đứa làm thinh ban nãy đó mới rập nhau xỉ vào mặt đứa ấy mà nói rằng:

“Lêu lêu mắc cỡ! Lêu lêu mắc cỡ!”

Quái làm sao! câu chuyện nói trên kia mà lại tình cờ giống với cái trò trẻ con nầy! Trời ôi! nhà nho ấy chẳng phải ai đâu lạ, chính thị là tôi đây Mà nếu còn có ai nữa thì tôi là một Phạm quân nói nhà nho trổng mà không kêu tên, ấy là vì cái tên tôi không đáng làm dơ ngòi bút của Phạm quân hay là vì người sợ tôi “mắc cỡ” tội nghiệp mà dấu tên đi, thì tôi không biết

Năm ngoái tôi có viết cả thảy 21 bài nói về ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta, đăng trong báo Thần chung, từ ngày 3 octobre cho đến 18 novembre 1929 Sự độc giả nguội lạnh đối với những bài ấy có đến như Phạm tiên sanh nói chăng, thì tôi không được biết cho chắc; song trước sau vỏn vẹn chỉ có một bài gởi tới phản đối, cũng có đăng ở Thần chung, mà tôi đã thú thiệt, không hiểu tác giả ý muốn nói những gì Vì vậy đương khi toàn văn của tôi chưa hết mà tôi cũng bắt chước đứa con nít nói trên đó, mỏi miệng rồi thôi

Chẳng đợi đến bây giờ có Phạm tiên sanh nói, tôi mới biết; cái sự nguội lạnh ấy tôi đã đoán trước rồi Trong bài thứ 21, là khi tôi đã ngã lòng toan gác bút, tôi có viết một đoạn rằng:

Trang 29

“Nước Tàu còn có năm ba bọn trung với Khổng giáo, gặp cơn nguy biến, ra tay chống chỏi, hết phương nầy, tìm phương khác, tuy không kéo lại được mà cũng còn tỏ cho thiên

hạ biết trong Khổng giáo vẫn có người Đến nước ta thì hết chỗ nói! Khổng giáo ở nước

ta trong khi gặp văn minh Âu châu, hình như nó nằm sát rạt xuống, vừa khóc vừa rên, vừa ngửng đầu lên coi chánh phủ Chánh phủ có để khoa cử thì cứ thi đậu làm quan chơi; chánh phủ bỏ khoa cử thì cũng đau lòng mà khóc rên chút đỉnh; nhưng đến khi chánh phủ lập trường bắt học chữ Pháp thì lại lau nước mắt mà cứ việc học, mong cho tốt nghiệp đặng làm quan Rồi đến ngày nay đây, có kẻ ngỗ nghịch là tôi, dám ra đương trường chỉ trích Khổng giáo, – để rồi coi, giạc chừng như – cũng không ai thèm nóng mặt mà ra miệng hết Ừ, nó nói ông Khổng Tử chớ nó có nói chi mình đâu, nó có động đến bát cơm của mình đâu mà hòng ra miệng! Không dám dối độc giả, tôi viết đến đây bỗng dưng hai hàng nước mắt tôi trào ra trên giấy Không phải tôi khóc vì Khổng giáo điêu tàn; nhưng tôi khóc, một là vì cái kẻ chỉ trích Khổng giáo lại là tôi; hai là vì ngó thấy cái tình đời bạc bẽo!”

Sự nguội lạnh đó, theo như tôi đã kể ra trong đoạn trước, thì quả là do mấy nhà “học phiệt” tạo ra Nếu còn bởi các cớ khá nữa, thì cái cớ mấy nhà “học phiệt” chuyên chế dư luận cũng là một cớ lớn, họ phải chịu một phần trách nhiệm lớn trong sự đó

Khi tôi viết bài bình phẩm cuốn sách Nho giáo, trong anh em đã có người e cho tôi lại

“mắc cỡ” chuyến nữa, nhưng tôi cũng cứ đánh bạo mà làm May quá! Trần tiên sanh khứng viết ra mà thương xác sự học vấn cùng tôi; cái tên tiên sanh tôi quý trọng bao nhiêu, thì cái bài ấy tôi cũng quý trọng bấy nhiêu; quả là “vàng”thật!

Về phương diện lý thuyết của cái bài tiên sanh trả lời cho tôi đó, tôi xin để rồi sẽ nói đến Nay chính tôi và cũng xin đại biểu cho những anh em có học vấn ít nhiều mà cùng tôi đồng ý kiến, ngỏ lời cảm tạ Trần tiên sanh về sự người đã có ý tốt, mở cái đường thương xác về sự học cho chúng tôi và hết thảy mọi người trong nước Việt Nam sau nầy Nhơn đó tôi dám lấy tư cách một nhà học giả tầm thường, không có cái bằng cấp nào hết, chỉ có cái óc tự do độc lập, lấy chơn lý làm thầy, không thần phục dưới quyền đạo giáo nào hay là thánh hiền nào, viết một cách thiệt nghiêm cẩn ra ở đây mấy lời, để cảnh cáo các nhà “học phiệt” nước ta mà trong đó, tôi đã cử một Phạm Quỳnh tiên sanh ra làm đại biểu

Học thuật của nước ta xưa nay chỉ có cái hư danh mà thôi, chớ coi đi coi lại, đem mà

so sánh với các nước, thì thấy ra tầm thường quá Nước Việt Nam nầy mà gọi được là có học thuật, hoạ từ nay về sau chăng Sự đó, cái trách nhiệm ở chúng ta, là những kẻ có học

mà ở vào cái thời đại văn hóa Đông Tây giao hội với nhau nầy

Chúng tôi muốn rằng trong nước ta từ rày về sau, nên lần lần bỏ hẳn cái danh từ Nho hoc và Tây học mà lập ra một nền học thuật mới, kêu là nền học thuật Việt Nam; nó sẽ đứng với nước ta đời đời: nước còn có thì học thuật còn có; học thuật còn có thì nước còn

có Ấy là một cái khí giới chúng tôi định sắm ra để cầm giữ tổ quốc và đưa đồng bào lên đường tấn hóa, hầu theo kịp loài người trên thế giới trong cõi đại đồng ngày nay

Trang 30

Trên đây nói “chúng tôi muốn, chúng tôi định”, chẳng qua là để tỏ ra cái ý kiến của một bọn người chúng tôi mà thôi Bên các ông, những người mà chúng tôi kêu là “học phiệt”, chắc cũng có cái ý kiến như chúng tôi đó, vì thấy có người đã tỏ ra trong khi luận

về sự học

Vậy thì hai bên, cái ý kiến đại để đồng nhau; có khác nhau, chỉ là cái thái độ Chúng tôi thì muốn, về sự học, phải cho ngôn luận được công khai Còn các ông, theo như cái thái

độ đã vẽ ra trên kia, thì hình như muốn chuyên chế

Chúng tôi cho cái thái độ ấy ở trong việc gì thì hoặc giả còn được, chớ ở trong học giới thì nhứt định không có thể được Cái lẽ tại sao mà không được, đã nói rõ trên kia rồi Vậy bây giờ chúng tôi yêu cầu các ông phải bỏ hẳn cái thái độ ấy đi Nghĩa là từ nay về sau,

về sự học, khi có ai nghi ngờ những điều các ông chủ trương mà chất vấn hoặc công kích, thì các ông phải trả lời minh bạch, phải thì nói phải, quấy thì nói quấy

Chúng tôi nhìn các ông là bậc túc học; nếu các ông chịu đem ý kiến mình trao đổi với mọi người, thì sự ích cho các ông chưa nói, mà phần chắc là có ích cho cả xã hội Nếu các ông còn giữ thói cũ, thì xã hội đã không được ích, mà tập theo các ông, lại thành ra cái phong tục nguội lạnh nữa Sự nguội lạnh ấy, tôi đã cho là cái lương tâm tê điếng; mà theo Trang Tử thì là cái lòng đã chết, chẳng có gì đáng buồn rầu hơn! (Ai mạc đại ư tâm tử)

Lần nầy là lần thứ nhứt mà tôi đem cái chánh nghĩa ra thưa cùng các ông như vậy; rồi mới tới dưới nầy là cái ý cảnh cáo

Các ông đành là bậc túc học, cái công nghiệp của các ông ở trong học giới nước ta đành chẳng phải là nhỏ Song cái thái độ ấy của các ông, hôm nay đã có nhiều người không phục, có ngày họ sẽ nổi lên mà phản đối

Tôi biết trong ba kỳ mỗi nơi đã có ít nữa là một người học vấn rộng rãi, có đức, có tài,

có thức, chẳng kém các ông là mấy Những người ấy đều khuynh hướng về cái bình dân chủ nghĩa, họ muốn sự học vấn được phổ cập, nên thế nào họ cũng sẽ đứng dậy mà đánh

đổ cái kiểu học phiệt của các ông Sự ấy chưa xảy ra là vì họ đương nuôi cái thế lực bằng học thức của họ cho thật mạnh đã Chẳng sớm thì chầy, trong nước Việt Nam nầy cũng sẽ

có một cuộc chiến tranh về tư tưởng Trước mặt các ông, tôi không nói dối

Cái chỗ tôi đem mà cảnh cáo các ông là chỗ đó Tùy các ông muốn làm như Diêm Tích Sơn, Trương Học Lương thì làm, hay là muốn làm như Ngô Bội Phu, Đoàn Kỳ Thụy thì làm

Tôi đây, chưa phải là kẻ phản đối các ông đâu Tôi chỉ là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng đi trước dẹp đường, và luôn thể báo hiệu cho các ông mà thôi

Phan Khôi

Phụ nữ tân văn số 62, 1930

Trang 31

ĐÔNG HỒ

(1906-1969)

 TIỂU SỬ

Tên thật Lâm Tấn Phác, bút danh: Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu Tiên Sinh, quê làng

Mỹ Đức, Hà Tiên Tên hồi nhỏ là Kỳ Phác, đăng ký hộ tịch là Tấn Phác, mồ côi cha mẹ, ở với bác Được đặt cho tiểu tự là Quốc Tỉ, tự: Trác Chi Thủa nhỏ đi học ở Hà Tiên, 16 tuổi thôi học Sau đó

lập 1926-1934 lập Trí Đức học xá, rồi vừa dạy học vừa viết báo Ông viết cho Nam Phong, Kỳ Lân

báo, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo, Việt dân, Mai, Tri Tân…

1935 lập báo Sống, được vài chục số thì đình bản, về lại Hà Tiên

Sau 1945 ông tham gia kháng chiến ở Hà Tiên, sau lên SG 1950 lập NXB Bốn Phương, 1953 lập

tập san Nhân loại có tính tiến bộ Ông cộng tác với nhiều báo: Bách Khoa, Tân văn, Tin văn, Văn hóa

nguyệt san…1964 không làm xuất bản về ẩn dật tại Quỳnh Lâm thư thất ở ngoại thành SG Năm 1965

làm giáo sư thỉnh giảng ở ĐH Văn khoa Ông mất 25.03.1969 ngay trong giờ giảng văn ở đại học

3 Cô gái xuân, tập thơ (sáng tác khoảng 1932-1935), Nam Định, Vị giang văn khố, 1935

4 Trinh Trắng, thi tuyển, Bốn Phương xb, 1961

Văn

5 Linh Phượng (tức Trác Chi Lệ Ký Tập), ký xen lẫn thơ, đăng ở Nam Phong tập XXII, số 128, in

ở NXB Nam Ký thư quán, HN, 1934

6 Chi lan đào lý , tùy bút, 1965

7 Thăm đảo Phú Quốc (Nam Phong, t XXI, số 124, 1927)

8 Hà Tiên Mạc thị sử (Nam Phong, t XXV, số 143, 1929)

9 Chuyện cầu tiên ở Phương thành (1932)

Dịch và khảo cứu

10 Thơ Đường, 1932

11 Hà Tiên thập cảnh, in chung với Đường Vào Hà Tiên của Mộng Tuyết, Bốn Phương xb, 1960

12 Truyện Song tinh của Nguyễn Hữu Hào, Bốn Phương xb, 1962

13 Năm ba điều nghĩ về Truyện Kiều (1965): thuyết trình nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn

Du

14 Bội lan hành (1969)

Trang 32

15 Úc Viên thi thoại (1969)

16 Đăng đàn (1969)

17 Dòng Cổ Nguyệt (1969)

18 Văn học miền Nam: văn học Hà Tiên (1970): tập hợp những bài giảng ở Đại học Văn khoa Sài

Gòn

CÔ GÁI XUÂN

Trong xóm làng trên, cô gái thơ, Tuổi xuân mơn mởn vẻ đào tơ Gió đông mơn trớn bông hoa nở, Lòng gái xuân kia vẫn hững hờ

Lững thững lên trường buổi sớm chiều, Tập tành nghiên bút, học may thêu Quần đen, áo trắng, khăn hồng nhẹ, Ngọn xõa ngang vai, tóc bỏ đều

Lá rợp cành xoài bóng ngả ngang,

Cô em dừng bước nghỉ bên đường, Cởi khăn phẩy giọt mồ hôi trán, Gió mát lòng cô cũng nhẹ nhàng

Đàn bướm bay qua bãi cỏ xanh, Lòng cô phất phới biết bao tình

Vội vàng để vở bên bờ cỏ, Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh

Áo trắng khăn hồng gió phất phơ, Nhẹ nhàng vui vẻ nét ngây thợ Trông cô hớn hở như đàn bướm, Thong thả trời xuân mặc nhởn nhơ

Trang 33

Đàn bướm bay cao, cô trở về, Sửa khăn, cắp sách lại ra đi, Thản nhiên, cô chẳng lòng thương tiếc,

Vì bướm ngày xuân chẳng thiếu chi!

Cũng xóm làng trên cô gái thơ, Tuổi xuân hơn hớn vẻ đào tơ

Gió đông mơn trớn bông hoa nở, Lòng gái xuân kia náo nức chờ

Tưng bừng hoa nở, bóng ngày xuân, Rực rỡ lòng cô, hoa ái ân

Như đợi, như chờ, như nhớ tưởng, Đợi, chờ, tưởng, nhớ bóng tình quân

Tình quân cô; ấy sự thương yêu, Đằm thắm, xinh tươi, lắm mỹ miều Khao khát, đợi chờ, cô chửa gặp, Lòng cô cảm thấy cảnh đìu hiu

**

Một hôm, chợt thấy bóng tình quân, Gió lộng mây đưa thoáng đến gần Dang cánh tay tình, cô đón bắt,

Vô tình mây gió cuốn xa dần

Gót ngọc phăng phăng cô đuổi theo :

“Tình quân anh hỡi! Hỡi người yêu!

“Gió mây xin để tình quân lại;

Trang 34

“Chậm chậm cho em nói ít điều ”

Than ôi ! Mây gió vẫn vô tình, Cuồn cuộn bay trên ngọn núi xanh Nhìn ngọn núi xanh, mây khói tỏa, Mắt cô, đôi giọt lệ long lanh

Lá rợp cành xoài bóng ngả ngang,

Cô em dừng bước nghỉ bên dường Cởi khăn phẩy gió mồ hôi trán, Gió mát, lòng cô những cảm thương

Lủi thủi bên đường, cô ngẩn ngơ Chốn này, đuổi bắt bướm ngày xưa,

Cô buồn, cô tiếc, cô ngui ngậm,

Cô nhớ ngày xuân, nhớ tuổi thơ:

“Đàn bướm bay qua bãi cỏ xanh,

“Lòng cô phất phới biết bao tình

“Vội vàng để vở bên bờ cỏ,

“Thoăn thoắt theo liền đàn bướm xinh

“Đàn bướm bay cao, cô trở về,

“Sửa khăn cắp sách lại ra đi

“Thản nhiên, cô chẳng lòng thương tiếc,

“Vì bướm ngày xuân chẳng thiếu chi! ”

Ái tình nào phải bướm ngày xuân, Tình ái ngày xuân chỉ một lần

Một thoáng bay qua không trở lại, Gái xuân rỏ lệ khóc tình quân!

Trang 35

(Cô gái xuân, 1935)

BỐN CÁI HÔN

Em nhớ: một sáng ngày mùa đông, Gió bấc ào ào tiếng hãi hùng Theo khe cửa sổ, gió thổi rít Chỉ nghe tiếng gió mà lạnh lùng!

Em cuốn mình trong làn chăn đệm, Đệm cỏ, chăn bông em chẳng ấm, Bỗng như có một ánh than hồng Chạm vào trán em chạy vào lòng, Lòng em ấm áp, hơi lạnh tan;

Em nằm sung sướng mà bàng hoàng

Sờ tay lên trán em mới biết:

Hơi ấm âu yếm mẹ em hôn

Em nhớ: một buổi chiều mùa thu, Bấy giờ mẹ em mất đã lâu

Trông chiếc lá rơi, em ủ rủ

Hơi may hiu hắt, em buồn rầu Mất mẹ, em mất tình âu yếm, Lạnh lùng, em thiếu hơi hôn ấm Đứng tựa bên vườn em ngẩn ngơ Chợt thấy cha em về trước sân,

Áo quần lấm láp vết phong trần, Chạy ra mừng rỡ đưa tay đón, Cúi xuống mái đầu, cha em hôn

Từ hôm em được cha em hôn, Đầm ấm lòng em bớt nỗi buồn Nhưng cha em mải bận xuôi ngược, Rày đó mai đây việc bán buôn

Trang 36

Em nhớ: một buổi trưa mùa hạ, Buổi trưa nặng nề, trời oi ả

Tựa cửa lớp học, em rầu rầu, Nghe tiếng ríu rít đàn chim sâu Trước sân, bè bạn em nô đùa Riêng em buồn cảm thân bơ vơ:

Mẹ mất, còn cha, cha ít gặp, Một năm chỉ hai lần rước đưa!

Đi qua, gọi em hỏi sự tình

Cầm tay cô dắt lại bàn học,

Ân cần, thương yêu vuốt mái tóc Rồi cô âu yếm hôn tay em,

Lộng qua cửa lớp cơn gió nồm, Bao năm buồn bực, gió thổi mát, Cái hôn như ngọn gió êm đềm

Nay em đang giữa cảnh đêm xuân Gió trăng tình tứ đêm thanh tân Trước vùng trời biển cảnh lồng lộng, Cùng anh trao đổi tình ái ân

Khoác tay anh đi trên bãi cát, Cát bãi, trong soi màu trắng mát Nghiêng đầu lơi lả tựa vai anh, Lặng nghe sóng bãi đưa rào rạt

Nước mây êm ái bóng trăng sao, Say sưa em nhìn lên trời cao, Buông khúc đàn lòng theo nhịp gió Giờ phút thần tiên hồn tiêu dạo Một hơi thở mát qua, dịu dàng,

Trang 37

Như cơn gió biển, thoáng bay ngang Rồi luồng điện ấm chạm trên má:

Ân ái môi anh kề nhẹ nhàng

Nũng nịu, em ngả vào lòng anh, Ngẩn ngơ ngừng lặng giây cảm tình Tóc em xoã tung, tay gió lướt, Bàng hoàng em nhớ chuyện sau trước:

Đời em khoảng hai mươi năm hơn Được hưởng bốn lần âu yếm hôn Bốn lần em thấy em sung sướng, Mưa gió đời em đỡ lạnh buồn

Nhưng, từ khi em thôi học rồi, Cùng cô giáo em không gặp gỡ

Mà rồi từ đó em lớn khôn, Cha em cũng chẳng hôn em nữa,

Ba lần hôn kia em mất rồi, Lần này biết có được lâu dài Nước bèo, em nghĩ đời chia biệt,

Mà lệ sầu em thổn thức rơi!

(PNTV số 243, ngày 24- 5- 1934, Cô gái xuân, 1935)

MUA ÁO

"Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi,

Em đâu còn áo mặc đi chơi Bán thơ, nhân dịp anh ra chợ, Đành gởi anh mua chiếc mới thôi !

Hàng bông mai biếc màu em thích, Màu với hàng, em đã dặn rồị

Còn thước tấc, quên ! em chửa bảo : Kích từng bao rộng, vạt bao dài ?

Trang 38

Ô hay ! nghe hỏi mà yêu nhỉ ! Thước tấc anh còn lựa hỏi ai Rộng hẹp, tay anh bồng ẵm đó, Ngắn dài, người mới tựa bên vai !"

TIẾNG SÁO

(Tặng Thanh Lan) Đêm khuya Một tiếng véo von, trong trẻo, nhẹ nhàng, Bay tản mạn trên không gian, theo luồng gió đưa vang, Như những tiếng xa xăm trong giấc mộng,

Như tiếng gọi của nước mây đồng vọng, Như tiếng vo ve của ngọn gió lướt cành thông, Như tiếng ca mơ màng huyền bí của tiên đồng, Như tiếng thì thầm, hồi hôp của quả tim

Dưới bàn tay âu yếm của người yêu, trong giờ phút êm đềm Tiếng dứt Như tiếng giọt nước suối,

Rơi ra ở lưng chừng khe núi

Mà hơi véo von, trong trẻo hãy còn Tản mạn, du dương khắp cả không gian…

Là tiếng sáo của một thanh niên tài tử Mỗi khi lòng cảm thấy bâng khuâng thương nhớ Đến người yêu: mang một tấm ái tình u ẩn, âm thầm

Mà gởi cho mây gió xa xăm, Mong rằng, chốn phương trời, người yêu có biết Cho tấm lòng mơ ước, đợi chờ tha thiết

Chỉ biết mà thôi! Biết cho lòng ai

Đã vì ai mà ngơ ngẩn bồi hồi

Chỉ biết mà thôi! Biết cho nhau là đủ Thoả thuê, êm dịu nỗi lòng thương nhớ

Người yêu ơi! Xin chớ bận vì ta,

Trang 39

Một kẻ bềnh bồng phiêu lãng không nhà

(Đông Hồ, Sống, số 5, ngày 26 Fevrier 1935)

TRƯỚC GIÓ

(Tặng Thanh Lan) Chập tối hôm qua, ta gặp một người trong mộng, Người có cái đẹp dịu dàng, xinh tươi lồng lộng

Là cái đẹp mặn mà, đầm thắm của người con gái đến thì, Cái đẹp dễ khiến cho người nhìn đắm đuối say mê

Nàng đứng trước chỗ ào ào cơn gió rét (Hơi gió lạnh như thấm vào trong xương thịt) Chiếc áo lụa phong phanh màu tuyết trắng bong, Dãi khăn san phơn phớt màu hồng

Bay lả lướt, phất phơ theo chiều gió lốc, Như một áng mây tàn lơn vờn trên cành cây ngọc

Ta, bấy giờ, thấy người giá buốt, mà trông Nàng thì như chẳng chút lạnh lùng

Âu yếm, ta sẽ hỏi: Em ơi! Lạnh nhỉ?

Mỉm cười, đáp lại lời ta: Anh ơi! Tuổi trẻ!

Tuổi trẻ là tuổi êm đềm, đầm ấm, nồng nàn, Thì chi có sợ nỗi lạnh lùng của sương gió, của thời gian Mặc gió thổi, sương gieo, thời gian lãnh đạm,

Anh than hồng của lòng ta vẫn ấm

Mà vui với văn chương, trăng gió, cỏ hoa, Với non sông, ánh sáng và nhất là với tình ái của đôi ta

(Đông Hồ, Sống, số 8, ngày 19 Mars 1935)

ĐI MÃI CHẲNG VỀ

(Tặng Thanh Lan) Buồn vơ vẩn Ta ngồi không, nhớ bạn,

Đời vắng bạn, lòng ta càng dễ chán

Trang 40

Nào những buổi trời tà,

Nào những đêm trăng vàng,

Ra ngắm nước mênh mang

Mà nhớ lại lúc trên một chiếc thuyền con Thả lênh đênh theo dòng nước mơn mang

Đêm khuya Trên hồ, gió sương bay lành lạnh, Nàng cùng ta ngồi sát liền bên cạnh

Mà đổi lẫn cho nhau những hơi đầm ấm chứa chan Của đôi bàn tay siết chặt, của đôi cái hôn âu yếm nồng nàn… Nào những lúc mưa bay,

Ra ngắm cảnh đồi cây

Mà nhớ lại lúc tránh mưa nghỉ bước bên rừng

Cơn gió lốc Mấy chiếc lá ở lưng chừng Bay lả tả, như đàn bướm đuổi nhau đùa cợt,

Ta chạy ra, đưa tay đón bắt mấy lần mới được Một chiếc lá xinh xinh đem tặng cho nàng

Mỉm cười, nàng bảo: Anh ơi! Lòng anh như chiếc lá vàng Khô héo Thì em phải chăng là màu xuân vui

Là màu ái tình, đem điểm lại cho tươi Rồi nhìn ta, nàng nhoẻn một nụ cười,

Nụ cười sạch tan màu mưa gió tơi bời

Trời trong trẻo…, lòng ta càng trong trẻo

Ôi! Một nụ cười huyền diệu!

Buồn vơ vẩn Ta ngồi không, nhớ bạn

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm