Dòng văn hóa này đã len lỏi vào khắp các ngõ ngách đời sống nhân dân, cũng như văn hóa của người dân Trung Quốc, nó gần gũi đến mức dường như người ta không còn nhớ hay quan tâm chiếc q
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
TÊN CÔNG TRÌNH:
KHÁM PHÁ NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ SỐ CÔNG TRÌNH:………
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
TÊN CÔNG TRÌNH:
KHÁM PHÁ NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HÓA QUẠT
TRUNG HOA
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI
Khoa: Ngữ Văn Trung Quốc
Năm thứ/Số năm đào tạo: 4/4
Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II 4
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
Chương I 4
VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 4
CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA 4
I QUẠT VÀ KHỞI NGUYÊN CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA 4
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUẠT TRUNG HOA 9
Chương II 23
NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA 23
I ĐẶC ĐIỂM CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH QUẠT 23
II ĐẶC ĐIỂM HỘI HỌA VÀ THƯ PHÁP TRÊN MẶT QUẠT 39
Chương III 51
GIÁM ĐỊNH – PHẨM BÌNH VÀ SƯU TẦM QUẠT 51
I GIÁM ĐỊNH QUẠT 51
II SƯU TẦM QUẠT 57
PHẦN III 59
PHẦN KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64
Trang 41
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
“Cổ vi kim dụng” (古为今用) nghĩa là những thứ ngày xưa nhưng lại trở
thành vật hữu ích cho ngày nay, đó là điều thiết yếu để phát huy văn hóa truyền thống dân tộc Trung Quốc có lịch sử lâu đời, có nghìn năm văn hiến, có di sản văn hóa dân tộc phong phú Chỉ với những điều này, Trung Quốc đã có thể đứng vững trước biết bao dân tộc trên thế giới Với nghìn năm văn hiến nên Trung Quốc
có rất nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc như : Hội họa, thư pháp, gốm sứ, đồ
cổ, hôn lễ, tang lễ, trà, rượu, phục sức,…và chắc chắn không thể thiếu văn hóa quạt Dòng văn hóa này đã len lỏi vào khắp các ngõ ngách đời sống nhân dân,
cũng như văn hóa của người dân Trung Quốc, nó gần gũi đến mức dường như người ta không còn nhớ hay quan tâm chiếc quạt có tự bao giờ? Dù như thế nhưng
không ai có thể phủ nhận rằng văn hóa quạt đã làm cho nền văn hóa Trung Quốc vốn dĩ đã phong phú lại càng thêm đa dạng Có thể nói Văn Hóa Quạt là một bộ
phận khắng khít không thể tách rời nền văn hóa Trung Quốc, hay nói cách khác, hai nền văn hóa này nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau làm cho văn hóa Trung Quốc càng trở nên độc đáo Thông qua việc giới thiệu về
Văn Hóa Quạt sẽ giúp người đọc phần nào hiểu thêm về văn hóa lịch sử Trung
Quốc Bởi vì, mỗi một chiếc quạt truyền thống đều chứa đựng các thông tin về niên đại lịch sử, dù là trực tiếp hay gián tiếp vẫn có thể giúp ta đi ngược dòng lịch
sử để hiểu thêm văn hóa Trung Quốc và sinh hoạt của dân chúng thời bấy giờ Có
thể nói Văn Hóa Quạt Trung Hoa là một cây đại thụ, bóng mát của nó không chỉ
bao trùm ở thời cổ đại mà còn lan tỏa cho đến ngày nay Do vậy, nếu tìm hiểu
nghiên cứu về văn hóa Trung Quốc mà bỏ qua dòng Văn Hóa Quạt thì sẽ là một
thiếu sót lớn
Từ nguồn gốc xa xưa, chiếc quạt không chỉ đơn thuần là vật dụng tạo gió
làm mát thường nhật, mà nó còn “hoài thai” về một trí tuệ của nghệ thuật văn hóa
Trang 52
Trung Hoa Chiếc quạt không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, mà nó đã phát triển
thành một loại hình văn hóa quạt và trở thành nét tượng trưng thú vị về thân thế,
địa vị xã hội của người cầm quạt Những tinh hoa về mỹ thuật công nghệ từ xưa
đến nay về văn hóa quạt đã ngưng tụ lại và phát triển thành một nghệ thuật quý
báu trong văn vật truyền thống của dân tộc Trung Hoa
Nội dung trên quạt với những đề tài phong phú khác nhau như truyện thần thoại, lầu các thôn quê, trùng điệp đá núi, khe suối dòng sông, hoa thơm cỏ lạ đều mang một tính nghệ thuật cao và một phong cách rất “Trung Hoa” Chính vì tâm
đắc với những điều trên, người viết đã quyết định chọn đề tài “Khám phá nét độc đáo của văn hóa quạt TrungHoa” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình Mặt
khác, người viết cũng mong muốn được đóng góp một phần nhỏ làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo về văn hóa Trung Quốc
II Mục đích nghiên cứu
Cùng với sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của nền văn minh nhân loại, con người luôn không ngừng theo đuổi, nâng cao đời sống nghệ thuật Đó cũng chính là lí do mà nghệ thuật chơi quạt và sưu tầm quạt của người Trung Quốc
được hình thành, ngày một hoàn thiện và phát triển nên một nền văn hóa quạt vươn đến đỉnh cao Đấy cũng là cả một quá trình phát triển lâu dài của văn hóa
quạt vốn khai sinh từ thời cổ đại của dân tộc Trung Hoa
Thông qua việc tìm hiểu khám phá nét độc đáo của văn hóa quạt Trung Hoa giúp chúng ta nhận thấy rằng: Hình ảnh của chiếc quạt đã trở thành nét tượng
trưng của văn hóa Trung Quốc và là sứ giả giao lưu văn hóa Thế giới Mặt khác, đây cũng là một bước đi cần thiết và hữu ích cho việc thúc đẩy sự hợp tác và giao lưu giữa hai nền văn hóa Việt-Trung
III.Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã thu thập các nguồn tư liệu có liên quan về văn hóa quạt của
người Trung Quốc, sau đó kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu phân tích, phương pháp hệ thống và phương pháp cấu trúc để hoàn chỉnh bài nghiên cứu này
Trang 63
Đó là những phương pháp được vận dụng để nghiên cứu, phân tích hệ thống đề tài
nhằm mục đích phát hiện ra những nét độc đáo của Văn Hóa Quạt Trung Hoa
IV Đóng góp và hạn chế của bài nghiên cứu
Thông qua bài nghiên cứu này, người viết mong muốn có thể đóng góp một phần nhỏ làm phong phú thêm nguồn tư liệu tham khảo cho những độc giả quan
tâm đến loại hình văn Văn Hóa Quạt Tuy nhiên, các tài liệu liên quan đến quạt
trong và ngoài nước còn quá ít, tài liệu tham khảo không nhiều Với trình độ hiểu biết hạn hẹp, trong phạm vi bài nghiên cứu, người viết chỉ đề cập đến những chiếc quạt cổ đại truyền thống Trung Hoa và quan tâm đến “nhịp thở” giàu tính nghệ thuật của quạt tròn và quạt xếp chứ không nói nhiều về xu hướng những chiếc quạt
mỹ nghệ phổ biến hiện nay Đề tài nghiên cứu khoa học này xuất phát từ góc độ của nhà sưu tầm quạt, xoay quanh trình độ thẩm định quạt và giá trị thưởng ngoạn quạt Hầu như chưa có quyển sách nào viết về chất liệu nan quạt, mặt quạt và cách
giám định một cách hoàn chỉnh, toàn diện, mà chỉ nhắc đến “khởi nguyên của văn hóa quạt” một cách chung chung Vì thế, người viết đã tập hợp, chỉnh lý và tổng
kết lại trong tập nghiên cứu này Song, để tìm hiểu cho tận tường dòng văn hóa ấy quả không phải là việc của ngày một ngày hai Do giới hạn của bài nghiên cứu, thêm vào đó với vốn kiến thức ít ỏi của mình nên còn nhiều vấn đề chưa phân tích
và chưa nghiên cứu sâu
Dù rằng đã rất cố gắng nhưng chắc hẳn bài nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót và còn nhiều chỗ chưa sâu chưa sát, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
Trang 74
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương I VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA
I QUẠT VÀ KHỞI NGUYÊN CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA
Từ lâu, chiếc quạt không những chỉ được sử dụng như một vật dụng bình thường trong sinh hoạt hằng ngày, mà còn chất chứa bên trong nó cả một trí tuệ văn hóa nghệ thuật của đất nước Trung Hoa, cô kết cả một tinh hoa thủ công mỹ nghệ từ xưa đến nay, và phát triển rực rỡ thành một nét văn hóa độc đáo mang phong cách rất riêng của quạt Trung Quốc, một kho tàng nghệ thuật quý giá trong
số những văn vật cổ truyền của dân tộc Trung Hoa
Quạt có khởi nguyên từ thời cổ đại xa xưa Song, có một điều mà đại đa số các học giả nói chung, cũng như các nhà sưu tầm về quạt nói riêng thường không
nhắc đến, đó là: Chiếc quạt lại khởi nguyên từ hình dáng của một loại “ô” lớn của Trung Quốc mà người Việt ta gọi là lọng hay tàn lọng
Xuất hiện từ rất sớm, quạt lúc bấy giờ với hình dáng là cái lọng lớn được gắn vào kiệu, xe của những bậc vua quan Khi kiệu xe di chuyển thì tàn lọng này
sẽ tạo ra một dòng khí lưu, thành gió quạt mát cho người ngồi trên kiệu, xe Quạt trong thời kỳ này chủ yếu được những bậc đế vương dùng để che nắng mưa, ngăn cát bụi khi vi hành, nên dần dần nó trở thành một phần của nghi thức nghi trượng, thể hiện sự oai phong, uy nghiêm Chính vì chỉ dùng để che nắng mưa, ngăn cát bụi nên quạt lúc bấy giờ còn được gọi là “Chướng phiến” ( 障扇 ) (Chướng “障” trong Chướng phiến tức nghĩa là ngăn lại, che chắn)
Dần dần, loại quạt hình lọng này được cải tiến thành chiếc quạt có cán dài
và có tên gọi là quạt Ngũ Minh (五明扇) Vì vậy, có rất nhiều học giả cho rằng
Trang 8Tạm dịch: “Để mở rộng tầm nghe nhìn, tiện việc tuyển chọn hiền tài để phò
trợ cho mình, vua Thuấn đã làm quạt Ngũ Minh”
Hình vẽ chiếc quạt đầu tiên là hình quạt cán dài cầm trên tay người nô lệ khắc trên bình đồng dát vàng bạc thời Chiến Quốc, được khai quật tại đầm Bách Hoa thành đô Tứ Xuyên
Hình quạt cán dài đầu tiên trên bình đồng dát vàng
(1)
Tấn Thôi Báo (晋催•), “Cổ Kim Chú” (古?¡注), NXB Giáo dục Liêu Ninh, 1998,
Trang 96
Người ta còn tìm thấy mẫu vật quạt cán gỗ còn sót lại, được khai quật ở mộ Thiên Tinh Quan Sở, huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc và quạt cán dài đời Tây Hán được khai quật tại gò Mã Vương ở Trường Sa, Hồ Nam Đặc biệt chiếc quạt cán dài này dài 1.76 m, cán quạt được làm bằng gỗ, mặt quạt được đan bằng nan cói và viền xung quanh được bọc bằng vải, thường là do nô lệ hoặc người hầu cất giữ để che bụi tránh nắng, và cũng để tượng trưng cho uy quyền của người chủ
Quạt đời Tây Hán có cán dài 1.76 m
Loại quạt này xưa gọi là “sáp” ( 翣 ), hay còn gọi là “Chưởng phiến” ( 掌扇
? ) vì quạt được nô lệ, người hầu cất giữ và cầm trên tay khi hầu quạt (Chưởng “掌” trong Chưởng phiến tức nghĩa là cầm, nắm trong tay)
Trong “Phương ngôn, tạp tích” <方言.杂释> có viết:
“扇自关而东谓之翣,自关而西谓之扇,
今江东亦通名扇为翣” (1)
Tạm dịch: “Quạt từ quan ải về phía đông gọi là sáp, từ quan ải về phía tây
gọi là phiến, nay tỉnh Giang Đông cũng đều gọi đồng nhất quạt là sáp”
Trong “Thế bản” <世本> còn viết: “Võ vương tác sáp” (2) (武王作翣) tức
là Võ vương làm “sáp” Trong “Tiểu nhĩ nhã, quảng phục” <小尔雅.广服> cũng
Trang 107
có chép: “Đại phiến vị chi sáp” (3) (大扇为之翣) tức nghĩa là quạt lớn đều gọi là
“sáp” Ngoài ra, Vương Hú Sơ có nói rõ thêm là:
“天子八,诸侯六,大夫四,士二” (4)
(王煦疏 )
Tạm dịch: “Vua 8 chiếc, chư hầu 6 chiếc, quan chức 4 chiếc, kẻ sĩ 2 chiếc”
Ghi chép trên cho thấy số lượng “sáp” sử dụng nhiều hay ít là tùy thuộc vào
uy quyền và địa vị của người sở hữu quạt
Ngoài ra, ta còn có thể bắt gặp loại quạt cán dài này trong “Bộ liễn đồ” <步辇图>, bức họa nổi tiếng của Diêm Lập Bản đời Đường cũng như tranh bích họa đời Tống ở chùa Khai Hóa thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây
Bức tranh “Bộ Liễn Đồ”đời Đường Tranh bích họa đời Tống
Hoàng Hoài Tín (黄©怀信), “Tiề nhĩnhã,quảg phụ”(小尔雅.广?服?), NXB
Tam Thái, 2003, trang 98
(4)
Trích dẫn từ http://www.maiweb.net/cgi-bin/book
Trang 118
Theo “Thập di ký” <拾遗记> của Vương Gia đời Tấn viết rằng: đời vua Chu Chiêu Vương, Đồ Tu Quốc (图休国) có dâng vua con chim phượng xanh và con chim khách đỏ Hè về chim thường dễ rụng lông cánh nên vua Chiêu Vương bèn sai người lấy tất cả lông chim kết thành bốn chiếc quạt nổi tiếng “Du Phiêu” (游飘), “Điều Cáchz” (条翮), “Hề Quang” (兮光), “Trắc Anh” (仄影) và ngâm rằng:
“轻风四散,冷然自凉” (1)
Tạm dịch: “Gió hây tứ phía, xua nồng ấp lạnh.”
Về sau, những chiếc quạt làm bằng lông chim ngày càng nhiều và phổ biến trong nhân gian Chiếc quạt bằng lông chim mềm mại, màu sắc rực rỡ mà không kém phần mới lạ độc đáo nên rất được mọi người ưa chuộng và gọi chung là quạt
“Lông Vũ” (羽扇)
Chúng ta có thể thấy được quạt này trong bức chạm khắc đá “Phi thiên” (飞天) thời Bắc Ngụy, các tiên nữ tay cầm quạt Lông Vũ bằng lông chim trĩ, gà rừng, tượng trưng cho đôi cánh lúc bay
Bích họa “Phi thiên”
(1)
Trích dẫn từ http://www.bjname.com/gleaning
Trang 129
Với chất liệu chủ yếu được làm từ lông chim, hình dáng quạt được cải tiến,
có thể khép lại và mở ra như cánh cửa để tôn thêm vẻ uy nghiêm cho các bậc vua quan khi ngồi trên kiệu Điều này cũng phần nào lý giải được vì sao chữ Quạt trong tiếng Hán “Phiến” (扇 ) lại được kết hợp từ chữ “ Hộ “ (户 ) tức cánh cửa và chữ “Vũ” ( 羽 ) tức lông chim
Đây là thời kỳ ban sơ của chiếc quạt Trung Quốc Trong thời kì này dù chiếc quạt có cải tiến đến đâu, thì cũng chỉ là cái “lọng”, tuy được kết bằng lông chim nhưng cũng chỉ là quạt cán dài và dùng trong nghi thức nghi trượng của các bậc vua quan để thể hiện sự uy nghiêm, oai vệ Có thể nói lúc bấy giờ người Trung Quốc còn chưa có khái niệm cụ thể gì về “Quạt” Nhưng theo từng tiến trình của lịch sử, quạt Trung Hoa không chỉ dừng lại ở đó mà phát triển thành một nét văn hóa rực rỡ và không kém phần quan trọng trong nền văn hóa nổi tiếng của đất nước Trung Hoa
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUẠT TRUNG HOA
Chiếc quạt ở Trung Quốc đã có mấy nghìn năm lịch sử Những vật liệu thông dụng để làm nên chiếc quạt gồm cây cói, lá cây cọ, thân cây lúa mạch, lông
vũ của các loài chim, rồi đan thành các loại quạt thủ công đủ mọi kiểu dáng Về sau, quạt được làm từ trúc, gỗ, ngà voi, đồi mồi, phỉ thúy, giấy,…… với cấu trúc tinh xảo Qua một vài khâu chạm khắc, khoan đục, thêm vào đó sự nhấc bút đề thơ tác họa của các danh nhân danh họa đã làm cho giá trị của chiếc quạt tăng thêm lên gấp bội phần
Qua mấy nghìn năm diễn biến cải tiến và hoàn thiện, chiếc quạt Trung Hoa
đã phát triển thành một “Gia tộc quạt” gồm mấy trăm loại nhưng chỉ quy lại thành hai loại chính yếu là Quạt tròn ( 团扇 ) và Quạt xếp ( 折扇 )
1 Quá trình phát triển của Quạt tròn ( 团扇 ):
Quạt tròn xuất hiện sớm hơn, có lịch sử lâu đời nhưng ngắn ngủi, chỉ kéo dài từ thời Đông Hán Thành đế năm thứ 32 trước công nguyên đến năm thứ 7 trước công nguyên Lúc bấy giờ, tuy Quạt tròn mới chỉ là sản phẩm thủ công thô
Trang 1310
sơ, ít người sử dụng, song không thể phủ nhận sự tồn tại của Quạt tròn trong thời
kỳ này
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện một số lượng khá nhiều hình vẽ, khắc trên
đá trong những ngôi mộ cổ đời Hán có chạm trổ hình quạt, như ngôi mộ đời Hán ở huyện An Khưu tỉnh Sơn Tây được phát hiện vào đầu những năm 50 thế kỷ XIX Trong ngôi mộ có 16 phiến đá khắc hình quạt, và ngay trên những phiến đá ở bờ tường phía bắc ngôi mộ có khắc hình chiếc quạt như hình con dao Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện thêm 3 ngôi mộ cổ có tranh bích họa hình quạt tròn dài ở Liêu Dương Đây được xem như là hình dáng của những chiếc quạt tròn đầu tiên xuất hiện sớm nhất
Tranh bích họa được khai quật có khắc hình quạt tròn dài
Hay như tranh bích họa khai quật năm 1979 ở thôn Đại Trác Doanh huyện
Từ tỉnh Hà Bắc từ trong một ngôi mộ của Như Như Lân và công chúa đời Đông Bắc Ngụy vào niên đại năm thứ 8 Võ Đình đời Đông Ngụy ( năm 550 công nguyên) Trên tranh bích họa ở bờ tường phía Bắc có vẽ bảy thiếu nữ, thiếu nữ đứng giữa trông khá đầy đặn, đầu đội mũ quan, tay phải đưa bàn tay có vẻ như ra lệnh, sáu thiếu nữ bên cạnh có dáng vẻ khá mảnh mai thanh tú, tóc bới thành hai búi, tay cầm quạt tròn có hình ovan (hay hình quả trứng vịt) cán dài Và đây cũng
là hình ảnh của chiếc quạt lúc ban sơ
Trang 1411
Ngoài ra, trong bài thơ “Đáp đoàn phiến ca” <答团扇歌> của Đào Diệp đời Tấn cũng đã nhắc đến Quạt tròn, đủ để chứng minh rằng Quạt tròn bắt đầu “lên ngôi” và đang trên đà phát triển:
七宝画团扇,灿烂明月光,
与郎却耽暑,相忆莫相望。
(桃叶)
Tạm dịch: “Quạt tròn tranh thất bảo, sáng ngời ánh trăng cao, hơi nồng bay
đâu mất, ai ơi đừng quên nhau!”
Những chiếc quạt tròn ban đầu này được làm bằng trúc như trong bài “Trúc phiến phú” <竹扇赋> của Ban Cố đời Tấn có viết:
Tạm dịch: “Thân trúc xanh xanh thẳng ngọn sào, lá trúc lao xao trổ anh hào,
yểu điệu chen chúc bên hồ nước, réo rắt dập dìu vui xiết bao Vót làm phiến sáp thành vật báu, gửi cho quân vương đặng cống dâng, đủ “độ” tốt tá vuông tròn khéo, hây gió ấp lạnh giấc nồng theo.”
Thông qua cách miêu tả của bài thơ, ta không những biết được sự sinh trưởng của cây trúc mà còn biết cả về vật liệu làm quạt, hình dáng và công dụng của quạt, đồng thời chứng minh rằng, từ lâu, trúc đã là vật liệu làm quạt chủ yếu Hứa Tuân đời Tấn cũng có thơ ca ngợi quạt trúc như sau:
(许询)
Trang 15Trong “Phú đắc Phúc Châu bạch trúc phiến tử” <赋得福州白竹扇子> của Trương Hộ đời Đường có viết:
Theo sự tiến bộ của kỹ thuật dệt lụa, chất liệu làm quạt tròn dần được thay thế bằng vải lụa nên còn được gọi là quạt lụa (纨扇 ) Đã có rất nhiều thơ ca nói về quạt, thế nhưng nếu nói đến bài thơ nổi tiếng có nhắc đến quạt lụa, thì phải kể đến bài thơ “Oán Ca Hành” <怨歌行>, một bài thơ quạt lụa sủng thiếp vua Hán Thành của Ban Tiệp đời Hán, trong đó viết :
新制齐纨素,皎洁如霜雪,
裁为合欢扇,团圆似月明,
出入君怀袖,动摇微风发,
Trang 1613
常恐秋节至,凉风夺火热,
弃捐箧笥中,恩情中道绝。
(班婕)
Tạm dịch: “Chất lụa Tề mới thay! Trắng muốt một màu mây, hợp hoan
nom khéo đấy, trăng tròn đủ cả hai, ra vào lòng áo ai, gió mát thổi hây hây Mùa thu! Ôi ai sai, gió lạnh hơi nồng bay, người bỏ trong rương tủ, tình chàng thiếp đành phai!”
Một chiếc quạt lụa được gửi gấm biết bao sự buồn vui tan hợp của tình yêu đôi lứa, ấy là nỗi lòng của những người thương nhau thật thấm thía và cũng thật sâu sắc Mà thật vậy, hình ảnh chiếc quạt tròn, quạt lụa đã dần đi vào thơ ca Đặc biệt là đời Đường, thời hoàng kim của văn học thi ca Trung Quốc, những bài văn, bài minh, bài phú, bài từ đã hết lời ca ngợi vẻ đẹp của quạt nhiều khôn tả xiết Các nhà thơ như Lương Vũ Đế, Tiên Diễn, Lưu Vũ Tích và Đỗ Mục đời Đường, nhà thơ Vương An Thạch đời Minh đều có những bài thơ nổi tiếng ca ngợi về quạt tròn
Hiện vật quạt đời Đường hiện chỉ còn phát hiện trong ngôi mộ đời Đường ở thành phố Astana tỉnh Tân Cương, chẳng hạn như chiếc quạt lụa cán dài bằng gỗ được khai quật, trên mặt quạt đều có vẽ hình hoa cỏ và chim muông Hay như bức
“Đảo luyện đồ điệu” <捣练图调> (hiện được cất giữ tại viện mỹ thuật Boston ở Mỹ) của Trương Huyên (张?), một họa sĩ nổi tiếng đời Đường (nhưng đây chỉ là bức tranh phóng tác đời Tống) Bức tranh này vẽ hình một cô gái tay cầm chiếc quạt tròn cán ngắn
Trang 1714
Bức tranh “Đảo luyện đồ điệu” của Trương Huyên đời Đường
Đến với bức tranh “Trâm hoa sĩ nữ đồ” <簪花士女图> của họa sĩ Châu Phỏng (周昉) đời Đường (hiện được cất giữ tại Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh), ta thấy trong tranh là một phụ nữ tay cầm chiếc quạt tròn cán dài trên đó có vẽ hình hoa mẫu đơn
Bức tranh “Trâm hoa nữ sĩ đồ” của Châu Phỏng đời Đường
Một bức tranh khác của Châu Phỏng là “Huy phiến sĩ nữ đồ” <挥扇士女图
> (hiện cất giữ ở Viện Bảo Tàng Cố Cung) được làm bằng lụa màu Tranh này mô
tả cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của các cung nữ, phi tần trong cung Cả bức tranh có tổng cộng 13 người, người đứng hầu, người đưa quạt, chiếc quạt này là loại quạt tròn cán dài, trên mặt quạt có hình vẽ một đôi loan phượng
Trong tác phẩm để đời nổi tiếng của danh họa Cố Hùng đời Đường “Hàn
Hy Tải dạ yến đồ” <韩熙戴夜宴图> mô tả Hàn Hy Tải đang thưởng thức cô nhạc
Trang 1815
kỹ diễn tấu nhạc cụ, tay cầm cây quạt cán ngắn, bên ngoài mặt quạt có khung gỗ, vừa vẫy quạt vừa nghe nhạc, bên cạnh còn có một tỳ nữ tay cầm quạt tròn cán dài, trên đó có vẽ hình cây, núi Vì chiếc quạt là vật thể hiện thân thế và địa vị của từng người nên thời bấy giờ quy định tì nữ đều phải dùng quạt cán dài để hầu chủ nhân, còn quạt cán ngắn chỉ dành cho các bậc vua quan, sỉ tử, hiền triết và những người có địa vị trong xã hội
Bức tranh “Hàn Hy Tải dạ yến đồ” của Cố Hùng đời Đường (1)
Trang 1916
Quạt Tròn của đời Đường có thể dựa vào tỉ lệ giữa đường kính mặt quạt và
độ dài của cán quạt để phân loại:
Quạt tròn cán dài: có tỉ lệ 1 : 3 hoặc 1 : 3.5
Quạt tròn cán trung bình: có tỉ lệ 1 : 2
Quạt tròn cán ngắn: có tỉ lệ 1 : 1
Nếu phân tích theo tiến trình thời gian, mặt quạt dường như dần dần “quá độ” từ hình tròn sang hình vuông, tạo nên nhiều kiểu dáng quạt phong phú khác nhau Tuy Quạt tròn là tên gọi chung để chỉ các loại quạt có mặt quạt dạng tròn Nhưng theo thói quen của người Trung Quốc, Quạt tròn còn bao gồm cả các loại quạt có bốn góc bo tròn Quạt Tròn gồm hai bộ phận cấu thành, đó là cán quạt và mặt quạt Với những ngụ ý khác nhau mà quạt tròn có các tên gọi khác nhau Ngoài tên quạt Lụa ra, quạt tròn còn được gọi là quạt Bằng ( 平扇 ) do mặt quạt phẳng, hay quạt Hoan Hợp (合欢扇 ) do có mặt quạt dạng tròn, ngụ ý sự đoàn viên sum hợp cát tường của người Trung Quốc Bên cạnh đó, cũng do mặt quạt được làm từ chất liệu tơ lụa nên còn được gọi là quạt Vải Lọc, quạt Vải Thưa (罗扇) Quạt tròn có đặc điểm là không thể xếp lại được
Đời Đường là cột mốc đánh dấu sự phát triển vượt bậc của quạt tròn Có một điều mà cho đến nay các học giả và các nhà sưu tầm chưa làm sáng tỏ được là những tác phẩm hội họa trên mặt quạt có từ khi nào? Nhưng đến đời Đường, nội dung họa tiết thể hiện trên mặt quạt được thăng hoa, phát triển và trở thành một trào lưu thư họa trên mặt quạt Dưới đây là mặt quạt có thêu hình hoa mẫu đơn của quạt tròn
Quạt tròn thêu hình hoa mẫu đơn
Trang 2017
Có thể nói, hễ nói đến quạt là người ta dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh một
mỹ nhân cầm quạt e lệ che mặt Và dường như hình ảnh mỹ nhân và chiếc quạt có phần tương hỗ nhau toát lên vẻ thùy mị và kín đáo của người đẹp Vì thế, chiếc quạt cũng trở thành vật chuyên dụng của phụ nữ thời bấy giờ
Quạt tròn cũng như những nét vẽ hội họa trên quạt tròn phát triển đạt đến đỉnh cao đặc biệt vào đời Tống Nhưng đến đời Nguyên, quạt tròn có xu hướng suy thoái và dần dần bị mai một Quạt xếp lên ngôi thế vị
2 Quá trình phát triển của Quạt xếp ( 折扇 ) :
Tổ tiên của người Trung Quốc đã dùng lông chim, nan trúc, lụa là để làm quạt, cụ thể là quạt tròn mà chúng ta vừa nói đến Theo đà phát triển của nghề làm giấy, về sau người ta lại dùng giấy dán lên làm mặt quạt ( người Việt gọi công đoạn này là phất quạt ) Vào năm 1975, tại Công xã Mao Lục huyện Kim Đàn tỉnh Giang Tô, người ta đã khai quật được một ngôi mộ của thái học sĩ Châu Vũ đời Nam Tống, trong đó đã xuất thổ được một chiếc quạt tròn giấy cán xếp sơn mài
hình ảnh của chiếc quạt xếp bằng giấy đầu
tiên, vẫn còn mang dáng dấp của quạt
tròn ) Cách chế tạo ra quạt này cực kỳ tinh
xảo: cán gỗ mảnh được dùng để làm trục,
những sợi nan trúc mảnh như lông bờm
được dùng làm xương quạt, rồi dán giấy
lên, và chiếc quạt ra đời Cán quạt dùng
hai màu đỏ đen tô lên bằng cách thấm
nước, hơn mười mấy lớp, dày từ 2 – 3 cm,
sau đó chạm lộng thành ba cặp hoa văn
“như ý”, đầu nan hình hai đóa mây đối
xứng, cả cán quạt được sơn mài
Hình ảnh chiếc quạt xếp đầu tiên
Trang 21chạm khắc không nối liền với phần trên của cán gỗ Khi quạt, cán gỗ ở giữa mặt quạt có thể xoay chuyển tùy thích trong bộ cán sơn mài mà không bị rơi xuống
Từ đời Tống trở đi, Trung Quốc đẩy mạnh chế tạo quạt xếp, đa số phất quạt bằng giấy bồi Triệu Nhan Vệ (赵颜卫) đời Tống cho rằng quạt xếp được du nhập vào Trung Quốc thông qua con đường từ Nhật Bản đến Cao Ly (Hàn Quốc hiện
nay) Trong “Vân lục mạn sao” <云麓漫钞> ông nói: “Người Tống chế tạo quạt xếp, dùng trúc đã hấp làm nan, cặp với lụa là, nhà giàu thì dùng ngà voi làm nan, trang trí thêm vàng bạc, có thể nó được du nhập từ Cao Ly” (1) Thật ra, từ thời Nam Tề (479-502), Trung quốc đã có quạt xếp rồi, điều này được chứng minh trong “Nam Tề thư, Lưu Tường truyện” <南齐书.刘祥传> (2) “Tư đồ Chư Uyên vào triều, dùng quạt bán khuyên để che nắng”, trong “Thông giám” <通监> có chú thích: “Quạt bán khuyên tức là quạt xếp” Bằng chứng hiện vật cụ thể cho việc quạt xếp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc là hộp trang điểm thiếp vàng được phát hiện trong mộ phần đời Nam Tống ở huyện Vũ Tiến, tỉnh Giang
Tô năm 1977, đồ sơn mài này được gọi là “hộp trang điểm cánh sen thiếp vàng sơn đỏ hoa văn hình hoa cỏ, người và vật”, hiện nó được cất giữ kỹ ở Viện bảo tàng Thường Châu Nắp hộp này có vẽ một bức “Viên lâm sĩ nữ tiêu hạ đồ” <园林士女消夏图>, đó là bức tranh có hình một cô tay ôm quạt lụa, một cô thì nhẹ đưa quạt xếp Từ bức tranh đó ta có thể thấy quạt xếp đã có từ thời Nam Tống
(1)
Bao Minh Tân (包铭新), “Giám định và Sưu tầm quạt Trung Quốc” <扇子-鉴
赏与收藏>, NXB Nhân dân Sơn Đông, 1994, trang 325
(2) )
Tấn Thôi Báo (晋催豹), “Cổ Kim Chú” (古今注), NXB Giáo dục Liêu Ninh,
1998, trang 92
Trang 22Hộp trang điểm thiếp vàng sơn đỏ đời Nam Tống
Bức tranh”Viên lâm sĩ nữ đồ” trên nắp hộp
Trước đời Minh, người ta ít thấy quạt xếp vì nó không phổ biến lắm Bởi vậy nên có một số người thời đó cho rằng, quạt xếp bắt đầu xuất hiện vào khoảng những năm Vĩnh Lạc (1403 – 1425) đời Minh Vì quạt xếp được hoàng đế Vĩnh Lạc ưa chuộng, nên nó đã có sự phát triển nhanh chóng trong những năm đầu đời Minh Chiếc quạt xếp lúc này đã “thay da đổi thịt”, thay hình đổi dạng đúng nghĩa với tên “quạt xếp”
Trang 23Chiếc quạt xếp được cải tiến
Trong “Hiền dịch biên” <贤弈编> của Lưu Nguyên Khanh (刘元卿) có ghi lại “Trong năm Vĩnh Lạc nước Triều Tiên có tiến cống quạt xếp, vua thích sự tiện lợi của quạt, đó là có thể xếp lại như ý, bèn ra lệnh cho những người thợ trong nước làm quạt theo hình thức đó.” Hoàng đế Vĩnh Lạc Chu Duyên đánh giá rất cao quạt xếp, quần thần được vua ban thưởng, và thế là góp phần tăng cường tuyên truyền suy tôn quạt xếp Từ đó cách nhìn của mọi người về quạt cũng ngày càng thay đổi Quạt xếp được dùng trước nhất là trong cung đình, nó là vật chuyên dùng của vua, nên khi đem phổ biến rộng rãi ở các địa phương dĩ nhiên cần phải trải qua một quá trình, một quãng thời gian nhất định Từ những chiếc quạt xếp đời Minh được khai quật cho đến những chiếc quạt được lưu truyền ngày nay, người ta thấy chúng chủ yếu đều ra đời từ giữa và cuối đời Minh, mà nơi sản xuất chủ yếu vẫn là Tứ Xuyên và khu vực phía Nam tỉnh Giang Tô, phía Bắc thành phố Thượng Hải và Triết Giang
Nghề làm quạt của Trung Quốc đến hai đời Minh, Thanh phát triển rất mạnh Nó được làm và phân bố rộng khắp trong phạm vi cả nước Trung Quốc bấy giờ Lúc này tên quạt được đặt theo tên địa danh sản xuất như: quạt Hàng Châu (杭州扇), quạt Tô Châu (苏州扇), quạt Tứ Xuyên (四川扇 )…… hay đặt theo từng tính năng cho mỗi mùa trong năm như: Quạt mùa xuân ( 春扇 ), Quạt mùa hạ ( 夏
扇 ), Quạt mùa thu ( 秋扇 ), Quạt mùa đông (冬扇 ) Mặt quạt và nan quạt ngày càng được cải tiến tinh xảo Hơn nữa, thư họa trên mặt quạt ngày càng phong phú
và được những bậc hiền triết, văn sĩ tử công nhận
Trang 24Quạt không chỉ đã gắn bó khắng khít với cuộc sống người dân mà nó cũng bắt dầu được đưa vào nghệ thuật Nhân vật Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết “Tây
Du Ký” <西游记> ba lần mượn quạt ba tiêu, nhân vật Sở Lưu Hương <楚留香> trong bộ tiểu thuyết cùng tên đã dùng quạt để làm vũ khí hay nhân vật Tịnh Văn trong “Hồng Lâu Mộng” <红楼梦> xé quạt, tuy đều là sự hư cấu về nghệ thuật, nhưng phần nào đó đã phản ánh được việc ảnh hưởng của chiếc quạt Đồng thời, quạt và nghệ thuật thư họa cũng có mối liên hệ khắng khít Các tác giả tiêu biểu như Thù Anh, Đường Bá Hổ, Văn Trưng Minh, Thẩm Chu đời Minh, Đường Diễn,
“Dương Châu bát quái” đời Thanh và họa sĩ nổi tiếng Thường Châu Hồn Nam Điền đều để lại cho đời những kiệt tác thư họa trên mặt quạt
Mặt quạt tranh Sơn thủy của Thẩm Chu đời Minh
Mặt quạt hình hoa mẫu đơn của Đường Diễn đời Thanh
Tuy quạt xếp xuất hiện trễ hơn quạt tròn nhưng lại đóng một vai trò hết sức quan trọng và đánh dấu một bước ngoặt đạt đến đỉnh cao của quạt Trung Quốc
Trang 25Quạt xếp có đặc điểm chung là có thể xếp vào và mở ra một cách dễ dàng, nên có thể thuận tiện mang theo bên người Chính vì vậy mà quạt xếp đã trở thành vật bất
li thân của mọi người từ vua quan, hay các bậc hiền triết, thi nhân, văn sĩ tử cho đến thường dân
Cùng với sự phát triển, theo thời gian quạt xếp ngày càng có nhiều tên gọi khác nhau Quạt xếp còn được gọi là “ Quạt Gấp Nếp “ ( 折叠扇 ) do nan quạt được gấp nếp và xếp lại hay “ Quạt Tụ Đầu “ (聚头扇) do khi xếp quạt lại, hai đầu của nan cái tụ lại làm một Khi cất giữ quạt xếp, ta xếp quạt lại, còn khi dùng thì xòe quạt ra nên quạt xếp còn được gọi là “ Quạt Xòe “ ( 撒扇 )
Quạt xếp phát triển mạnh mẽ và vươn lên đạt đến đỉnh cao nhất là vào giữa đời Thanh Chiếc quạt xếp lúc này không chỉ đơn thuần là vật để quạt mát, hay là một thứ thủ công mỹ nghệ, mà hơn hết nó còn là vật thể hiện địa vị xã hội của người cầm quạt Dù là mùa hạ khí trời oi bức hay mùa thu tiết trời mát mẻ, tay cầm chiếc quạt xòe ra xếp lại, cất vào tay áo hay gài vào thắt lưng cũng đều toát lên vẻ thanh tao, nhã nhặn Không dừng lại ở đó, quạt xếp của Trung Quốc còn du nhập vào khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là châu Âu Đời vua Càn Long (1736 – 1795), một số thương nhân Quảng Châu đã sản xuất ra những chiếc quạt xếp bằng ngà voi, số lượng nan nhiều và chồng xếp lên nhau, phù hợp với thị hiếu của người châu Âu, và đặc biệt được quý bà, quý cô yêu thích Những họa tiết trên mặt quạt tuy mang chủ đề Trung Quốc nhưng lại xử lý theo phong cách châu Âu (chinoiserie) Những loại quạt như thế gọi là Quạt Brise (Brise fan) Ngoài ra, một
số quạt xếp được làm từ vật liệu quý như: đồi mồi, phỉ thúy, gỗ thơm,……ở Quảng Đông để xuất khẩu đi khắp các nước Thế nên, quạt xếp trở thành văn hóa Trung Quốc và là sứ giả giao lưu văn hóa trên thế giới
Trang 26Chương II NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HÓA QUẠT TRUNG HOA
I ĐẶC ĐIỂM CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH QUẠT
Như đã nói ở chương I, quá trình hình thành và phát triển của văn hóa quạt Trung Hoa chủ yếu đề cập đến quạt xếp Tuy quạt tròn xuất hiện sớm hơn nhưng chỉ thịnh hành trong một giai đoạn ngắn và nhanh chóng bị quạt xếp “thế ngôi” bởi tính năng có thể xếp vào, xòe ra một cách linh hoạt và tiện lợi Không dừng lại
ở đấy, quạt xếp còn tiếp tục phát triển đến ngày hôm nay và trở thành một phần của văn hóa dân tộc Trung Hoa có bề dày hơn 5000 năm lịch sử Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, người viết chỉ chú trọng và trình bày chủ yếu về các đặc điểm của quạt xếp
1 Nan quạt ( xương quạt )
Nan quạt ( 扇股 ) còn gọi là xương quạt ( 扇骨 ) được đề cập sau đây chính là nan của quạt xếp Nói đến nan quạt là phải nói đến
sự phong phú về kiểu dáng, chất liệu, sự đa dạng về điêu khắc, chạm trổ, về số lượng nan cũng như mặt quạt và thư họa trên mặt quạt,
đã hình thành nên những tác phẩm khác nhau
về quạt Ngay việc điêu khắc chạm trổ trên xương quạt thôi, đã được xem là một ngành nghề thủ công mỹ nghệ rồi Nan quạt vốn dĩ được xem là một tác phẩm nghệ thuật được lưu giữ, bảo tồn và được quy vào một trong những hạng mục về sưu tầm quạt
Trang 271.1 Kích thước và số lượng nan
Trong các nan quạt, hai nan ở ngoài bìa gọi
là nan bìa hay nan cái ( 大股 ) Số lượng nan của quạt xếp có thể có từ 9 nan, 11 nan, 12 nan, 13 nan, 14 nan, 16 nan, 18 nan, 20 nan, 22 nan, 24 nan, 30 nan, thậm chí có thể lên đến 40 nan Khi tính số lượng nan quạt phải cộng gộp cả hai nan bìa Số lượng nan ít như loại quạt 9 nan hay 11 nan thì nan quạt lớn, khoảng cách giữa các nan rộng, số lượng nan nhiều như loại quạt có 30 nan hay 40 nan thì nan quạt nhỏ, nhuyễn và khoảng cách giữa các nan hẹp
Trên thực tế, với những loại quạt có số nan quá nhiều hoặc quá ít như thế, kích cỡ của 2 nan bìa và các nan khác đều xấp xỉ nhau Mặt quạt được bồi dán lại bằng vải gấm ở 2 nan cái Trước 1949, trong số các loại quạt có số lượng nan như thế thì loại quạt có 16 nan là thông dụng hơn cả Còn loại quạt 18 nan thì hiếm thấy trong thời kì này nhưng về sau lại cực kỳ thịnh hành Riêng loại quạt có 20,
24 nan là loại quạt chuyên dụng dành cho nữ giới bởi nan quạt nhỏ, nhuyễn, trông
có vẻ điệu đà hơn nên rất được quý bà quý cô ưa chuộng
Độ dài của nan quạt còn tùy thuộc vào số lượng nan nhiều hay ít sao cho tương xứng, cân đối Loại quạt 16 nan phổ biến nhất có nan dài 31 - 32 cm, những loại quạt lớn có số nan ít thì độ dài của nan không quá 33 - 34 cm Một số loại có nan dài khoảng 40 cm được dùng nhiều trong vũ đạo Còn những loại quạt dành cho nữ giới có độ dài nan quạt rất ngắn, độ chừng 16 -24 cm
Trang 28
Loại quạt 40 nan dành cho nữ giới Loại quạt 16 nan thông dụng
1.2 Chất liệu nan quạt
Ban đầu, chất liệu của nan quạt xếp thường làm từ gỗ thông, gỗ bách Về sau, người ta dùng trúc làm chất liệu chủ yếu đối với các loại nan quạt thường, và dùng một số loại gỗ quý làm nan quạt để nâng cao giá trị của chiếc quạt
1.2.1 Trúc
a/ Trúc thường ( 普通竹 )
Trúc thường có thể được dùng làm nan cho tất cả các loại quạt, nhất là quạt tranh chữ (tức những loại quạt được viết thư pháp hay vẽ tranh trên mặt quạt) Những loại trúc càng lâu năm thì càng quý Trúc sạch, không lẫn tạp chất là loại trúc tốt, sau khi gia công hơi ngả sang màu vàng, được gọi là trúc xanh ( 玉竹 ),
có loại ngả sang màu nâu được gọi là trúc dầu ( 油竹 ) Sau khi gia công, ngâm trúc vào nước nhiều giờ rồi đánh bóng Ngoài ra, trúc còn được dùng để làm cả nan cái
Trang 29Một số nan quạt được làm từ trúc
b/ Trúc đốm (斑竹?)
Do thân trúc có nhiều đốm chấm nhỏ nên được gọi là Trúc đốm Loại trúc này có kích cỡ khác nhau, độ thưa dày khác nhau tạo nên một nét đặc sắc rất riêng biệt Vì trúc đốm có đường kính nhỏ, nên khi bổ đôi ra, mặt trong lõi trúc hơi lõm vào và có màu nhạt hơn thích hợp dùng làm nan cái cho những loại quạt có nan nhuyễn Khi dùng chất liệu này làm nan chiếc quạt sẽ càng nổi bật hơn với hai nan cái có đốm chấm tự nhiên mà độc đáo
Chiếc quạt có nan làm từ trúc đốm
Trang 30c/ Trúc bụng phật ( 佛肚竹 )
Đây là một loại trúc khá đặc biệt, do khoảng cách giữa các đốt trúc ngắn và gần nhau, hơn nữa đoạn giữa các đốt trúc phình ra mà dân gian cho đó là hình dáng của bụng phật Loại trúc này thường được bổ đôi ra dùng làm nan cái cho các loại quạt tranh chữ có 16 nan là phổ biến nhất và rất được ưa chuộng
Chiếc quạt có nan làm từ trúc bụng phật
1.2.2 Các loại gỗ
a/ Gỗ giáng hương: ( 紫檀 )
Đây vốn là một loại gỗ quý và được chia làm hơn 10 loại nhỏ nhưng chung qui đều được gọi bằng tên chung là Giáng hương Gỗ Giáng hương cứng, chắc, có màu nâu sậm Ngoài việc sử dụng làm nan quạt ra, còn có thể làm vật liệu khảm nạm
b/ Gỗ trầm hương ( 檀香 )
Đây có lẽ là loại gỗ được nữ giới ưa chuộng hơn cả bởi mùi hương thoang thoảng, dìu dịu mà thơm lâu của nó Vì thế gỗ trầm hương được dùng làm nan quạt thì càng tuyệt vời hơn Khi đưa tay quạt, mùi thơm phảng phất của hương trầm không những làm cho tinh thần sảng khoái, tỉnh táo hơn, mà mùi hương trầm còn có thể tránh được mối, mọt trong việc cất giữ, bảo quản Nan trầm hương có loại lớn loại nhỏ, có loại được trạm trổ hay khắc thêm một vài họa tiết, càng tôn thêm vẻ quý phái cho chiếc quạt
Trang 311.2.3 Những chất liệu khác
Ngoài trúc và gỗ ra, nan quạt còn được làm từ nhiều chất liệu khác như ngà voi, đồi mồi, xương thú, sừng trâu…
a/ Ngà voi ( 象牙 )
Đây là chất liệu thượng hạng trong các ngành thủ công mỹ nghệ nói chung
và là một trong những chất liệu quý nhất của nan quạt nói riêng Ngà voi có màu trắng ngà hài hòa, có kết cấu chắc cứng Chính nhờ ưu điểm này nên trạm khắc hoa văn trên ngà voi rất dễ dàng và sắc nét Nhưng vì ngà voi là chất liệu quý hiếm nên giá thành của loại quạt có nan bằng ngà voi rất cao Do đó đôi khi người ta chỉ
sử dụng ngà voi để làm hai nan bìa, các nan còn lại được làm bằng trúc thường vì phần này đã bị mặt quạt che lấp, không ảnh hưởng mấy đến vẻ mỹ quan bên ngoài
b/ Xương thú : ( 兽骨 )
Trang 32Nan quạt có thể làm từ xương của nhiều loại thú Vì giá thành rẻ lại có màu trắng giống với màu trắng của ngà voi nên nan ngà voi thường bị làm giả bởi xương thú Nhưng nếu nhìn kỹ thì chúng ta có thể nhận dạng, vì ngà voi có kết cấu chắc, màu bóng sáng, có những đường vân nhạt rất đẹp, còn xương thú có phần thô hơn, hơi bị xỉn màu và có những đốm bọt li ti trên bề mặt do bị oxy hóa
1.3 Kiểu dáng của nan quạt
Nan quạt có một vai trò quan trọng , tỉ lệ phải chính xác, độ rộng hẹp phải hợp lý Có thể nói, nan quạt đã tạo dáng cho chiếc quạt hoàn chỉnh hơn, có phong
cách hơn Kiểu dáng của nan quạt muôn hình vạn trạng Chỉ riêng nơi tụ đầu của hai nan bìa đã có thể liệt kê hàng loạt các kiểu dáng của nan quạt như đầu vuông, đầu tròn lớn, đầu tròn nhỏ, đầu bằng, đầu ngọc lan, đầu đuôi
cá, đầu mỏ vịt, đầu vịt, đầu nhọn, đầu giọt sương, đầu quả trám, đầu hồ lô, đầu hoa mai, đầu đuôi én v…v… Thông thường nan quạt hay phỏng theo kiểu dáng để đặt tên Dưới đây người viết chỉ chọn lọc và giới thiệu một vài kiểu nan quạt phổ biến nhất
1.3.1 Nan đầu vuông thẳng (直式方头)
Nan quạt có dáng đầu vuông thẳng của quạt xếp xuất hiện sớm nhất, loại nan này đơn giản nhất nên được sử dụng phổ biến rộng rãi, khoảng cách giữa các
Trang 33nan quạt khít, kích thước nan quạt dài và được xếp theo dạng cấp bậc Đối với những loại quạt khác, kích thước của nan quạt cần phải đạt đến một độ chuẩn xác nhất định Nếu quá ngắn thì không đẹp mắt, quá dài thì phải xén bớt Nhưng nan quạt đầu vuông thì không như thế, nó tiện lợi ở chỗ khi bồi dán không cần phải quá chú ý đến độ dài ngắn của mặt quạt
Một số nan đầu vuông thẳng
1.3.2 Nan đầu trọc (和尚头)
Kiểu nan quạt này có từ đời Minh, còn được gọi là nan đầu tròn Do hai đầu
tụ lại của nan bìa có hình cầu bóng láng nên dân gian thường quen gọi với cái tên hài hước là “nan đầu trọc” Kiểu nan quạt này thường gặp ở loại quạt có 9 nan và
11 nan
1.3.3 Nan gợn sóng (波折式)
Loại quạt này có các nan trong và hai nan bìa được uốn theo hình lượn sóng một cách khéo léo, vì thế có tên gọi là nan gợn sóng Kiểu nan quạt này tuy có phần đặc sắc nhưng cũng rất phổ biến, nhất là ở những loại quạt có 9 nan hay 16 nan
Trang 34Kiểu nan gợn sóng
1.3.4 Nan đuôi cá (鱼尾式)
Đây là kiểu nan quạt khó làm và hiếm thấy nhất Phần trên đuôi quạt lõm vào và được bó thành một bó , phần dưới chuôi quạt xoè rộng ra hình thù giống như đuôi cá Vì thế kiểu nan này được gọi là nan đuôi cá và chỉ được làm bằng
chất liệu trúc vì dễ gọt đẽo
1.3.5 Nan tập cẩm (集锦式)
Quạt tập cẩm có thể đi đôi với mặt quạt và nan quạt thông thường, cũng có thể phối cùng mặt quạt tập cẩm và nan tập cẩm Đặc điểm của nan tập cẩm là các nan quạt không phải được bồi dán giữa hai lớp giấy của mặt quạt, mà trái lại mặt quạt bị nan quạt kẹp lại ở giữa, nan quạt lộ trên mặt quạt Vì thế, những loại quạt
có nan tập cẩm còn được gọi là quạt nan kẹp (夹股扇) Thông thường không phải tất cả các nan đều được lộ trên mặt quạt mà được sắp xếp cách mấy nan thì lộ một nan, đôi khi còn phải tùy thuộc vào bố cục họa tiết trên mặt quạt Các nan quạt nhỏ
và nhuyễn thật tinh xảo, chỉ rộng ở phần chuôi quạt để thuận tiện cho việc đóng nhài ( đóng đinh và chốt lại để kết nối các nan quạt)
2 Mặt quạt :