1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần

71 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội – Trường hợp khóa 1
Tác giả Nguyễn Nam Thành, Phạm Thủy Tiên, Trương Thanh Nhã
Người hướng dẫn TS. Đào Minh Hồng
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học EUREKA lần
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 870,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì lý do đó mà chương trình đào tạo hướng tới đào tạo chú trọng đến kỹ năng sống bên cạnh những kiến thức ngành học đơn thuần để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể sử dụng được ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1 : Thực trạng việc làm của sinh viên khóa 1 Bộ môn Quan hệ Quốc tế - ĐH KHXH&NV TPHCM 6

1 Mô tả mẫu 6

2 Đánh giá khả năng phù hợp với công việc 8

2.1 Đánh giá của Bộ môn và tình trạng việc làm 8

2.2 Đánh giá của sinh viên về vấn đề việc làm và chương trình đào tạo 9

3 Đánh giá chung của sinh viên về chương trình đào tạo của bộ môn 19

Chương 2 : Những đề xuất giải pháp 26

1 Những vấn đề từ phía sinh viên 26

2 Những đề xuất đối với bộ môn 27

2.1 Với chương trình đào tạo 27

2.2 Đối với tổ chức của bộ môn 34

2.3 Đối với sinh viên 36

2.4 Đối với các hoạt động ngoại khóa 37

2.5 Đối với việc thi tuyển đầu vào 38

Kết Luận 39

1 Đối với nhóm nghiên cứu 39

2.Những đề xuất từ phía người học và chương trình đào tạo của Bộ môn 40

3 Những nhận xét ban đầu về phía nhà tuyển dụng 41

Phụ Lục 42

Trang 4

MỞ ĐẦU KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Hiện nay, “hội nhập” đã len lỏi vào không chỉ từng quốc gia mà đã gõ cửa từng vùng, từng miền, từng doanh nghiệp và từng cá nhân Cũng từ đó, hoạt động đối ngoại trước đây chỉ là nhiệm vụ của nhà nước thì bây giờ các hoạt động đối ngoại trở nên đa dạng hơn bao giờ hết Vì vậy, nhu cầu nguồn nhân lực về công tác đối ngoại của các công

ty – doanh nghiệp ở nước ta ngày càng cao, đòi hỏi cả về chất lượng lẫn số lượng Không chỉ có thế, những cá nhân trước đây tham gia vào những hoạt động đối ngoại dựa trên nền tảng kinh nghiệm là chính cần một cơ hội được tham gia đào tạo một cách bài bản để dễ dàng nắm bắt các yêu cầu không ngừng biến đổi của thực tiễn

Trong khi đó, thực tế cho thấy công tác đào tạo chính quy vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu cấp thiết này Thực tiễn luôn đi trước mở đường cho nhận thức Trong khi nền giáo dục Việt Nam thay đổi theo từng năm thì nền kinh tế thị trường ở nước ta thay đổi từng giờ tạo ra một khoảng trống ngày càng sâu sắc giữa nhu cầu của thực tiễn và đào tạo Tại Việt Nam, cách đây một vài năm, mới chỉ có Học viện Ngoại giao Hà Nội (trước đây là Học viện QHQT) có chức năng đào tạo cán bộ phục vụ cho công tác ngoại giao - đối ngoại, đặc biệt là cho các cơ quan nhà nước, các lãnh sự quán … Tuy vậy, vấn đề nhân lực thực hiện công tác đối ngoại cung ứng cho khu vực ngoài các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn bỏ ngỏ

Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn

là trung tâm kinh tế - văn hóa của khu vực đồng bằng Nam Bộ Tốc độ phát triển kinh tế của thành phố luôn ở mức cao, xấp xỉ 12%1 gấp 1.5 lần so với tốc độ phát triển trung bình của cả nước Điều này cho thấy sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới tại TP.HCM diễn ra ngày càng nhanh chóng và sâu sắc Trong bối cảnh đó, hoạt động đối ngoại ở TP HCM diễn ra vô cùng sôi động với hàng ngàn văn phòng đại diện các tập đoàn lớn và lãnh sự quán các nước tại Việt Nam Ngoài ra, tại thành phố còn hàng trăm khu chế xuất và nhiều khu công nghiệp với số vốn đầu tư nước ngoài Chính vì thế mà nhu cầu nhân lực cho khu vực là vô cùng to lớn mà không có bất kỳ đơn vị nào có thể đào tạo một cách chính quy và bài bản nguồn nhân lực phục vụ cho các hoạt động đối ngoại đang diễn ra sôi động tại địa phương Do đó, yêu cầu chuẩn bị đội ngũ phục vụ công tác đối ngoại có năng

1

Xem thêm kết quả ở trang web UBND TP.HCM

http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/thong_ke/giai_doan_01_06/slcy2?left_menu=1

Trang 5

lực và phẩm chất tốt đang dần trở thành một yêu cầu cấp bách và ngày càng to lớn trong tương lai 2

Đại học quốc gia Tp HCM vốn là ngọn cờ đầu trong công tác đào tạo bậc đại học khu vực phía Nam đã sớm nhận ra nhu cầu này và ủy thác cho trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn Tp HCM thực hiện đề án thành lập bộ môn Quan hệ quốc tế Vào năm

2003, bộ môn Quan hệ Quốc tế chính thức được thành lập và tuyển sinh trở thành một mũi đột phá quan trọng trong chính sách đào tạo của Đại học quốc gia công cuộc định hướng đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của thị trường đang ngày một cao

Bộ môn Quan hệ quốc tế hướng tới đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho nhu cầu trực tiếp từ nền kinh tế Hay nói cách khác, bộ môn hướng đến đào tạo những nhân viên phục vụ trong lĩnh vực đối ngoại của các doanh nghiệp – công ty Chính vì lý do đó mà chương trình đào tạo hướng tới đào tạo chú trọng đến kỹ năng sống bên cạnh những kiến thức ngành học đơn thuần để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể sử dụng được ngay vào công việc thực tế Đây là điểm khác biệt cơ bản trong chương trình đào tạo của Bộ môn

và Học viện Ngoại giao Hà Nội

Tính cho đến nay, bộ môn đã đào tạo được 5 khóa với 800 sinh viên chính quy và hơn 1200 sinh viên tại chức, văn bằng 2, trong đó đã có một Khóa tốt nghiệp với tổng số

114 sinh viên Số lượng sinh viên của các năm tăng đều đặn từ hơn 100 sinh viên trong khóa đầu tiên, đến nay đã có gần 200 sinh viên Khóa 5 Chương trình đào tạo cũng đã được chuyển đổi từ đào tạo theo hệ niên chế sang hệ tín chỉ trong 2 năm học vừa qua, theo khung chương trình mới của Bộ giáo dục và Đào tạo Như vậy liên tục trong nhiều năm, chương trình đào tạo liên tục được thay đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn dần dần định hình nên khung chương trình đào tạo đặc thù của bộ môn

Cũng như nhiều sinh viên Bộ môn QHQT khác, nhóm nghiên cứu rất quan tâm đến vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp Mối quan tâm đó có thể được giải đáp thông qua những sinh viên Khóa 1 – được xem là “thuốc thử” chính xác nhất cho chương trình đào tạo và đánh giá của Bộ môn Cũng chính vì vậy mà nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên

cứu đề tài “Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành Quan hệ quốc tế: thực trạng đào tạo và nhu cầu của xã hội – trường hợp Khóa 1”

2

Đề án lên Khoa của Bộ môn Quan hệ quốc tế

Trang 6

1 Mục tiêu và nhiệm vụ

Thực tế sinh viên Khóa 1 tốt nghiệp ở Bộ môn QHQT đã đặt ra cho nhóm nghiên cứu những câu hỏi cần phải trả lời Các sinh viên ra trường có tìm được việc làm hay không? Những việc làm đó có phù hợp với những kiến thức đã học hay không? Bộ môn QHQT cần tổ chức chương trình đào tạo như thế nào để sinh viên ra trường có thể đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng?

Do QHQT là một ngành học mới mẻ ở Việt Nam, hơn nữa, ở trường ĐH KHXH&NV, Bộ môn QHQT chỉ mới được thành lập vào giữa năm 2003 và đến năm

2007 mới chính thức đào tạo được Khóa 1 ra trường Vì vậy đây chỉ là lần đầu tiên một

đề tài nghiên cứu về khả năng thích nghi với công việc của sinh viên Bộ môn QHQT được tiến hành, nhằm tìm hiểu về nhu cầu việc làm của sinh viên QHQT, về yêu cầu của công việc thực tế và những thuận lợi – khó khăn đặc thù của sinh viên QHQT so với sinh viên các ngành học khác Dựa trên những vấn đề cần tìm hiểu đó, đề tài nghiên cứu cần phải đáp ứng những mục tiêu sau:

– Cung cấp thông tin chi tiết về thực trạng việc làm của sinh viên QHQT Khóa 1 sau khi tốt nghiệp Từ đó có cái nhìn cụ thể về sự tương quan phù hợp giữa chương trình đào tạo dành cho Khóa 1 của Bộ môn QHQT ĐH KHXH&NV TP.HCM đối với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp

– Những nhu cầu thực tế của doanh nghiệp Từ đó, có những kiến nghị, đề xuất và thay đổi nhằm hợp lý hóa chương trình đào tạo của Bộ môn

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài có những khảo sát về mặt thực nghiệm đối với chương trình đào tạo của Bộ môn nhằm tìm ra những mặt tích cực, phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động để tiếp tục phát huy những ưu điểm, đồng thời chỉ ra được những hạn chế của chương trình đào tạo, nhằm hoàn thiện hơn chương trình giảng dạy và kiện toàn về cơ cấu hoạt động,

từ đó có những định hướng phát triển lâu dài đối với Bộ môn QHQT của trường ĐH KHXH&NV TP.HCM nói riêng và ngành QHQT nói chung, mà trước mắt là hoàn thiện khung chương trình thành lập Khoa QHQT Bên cạnh đó, cuộc nghiên cứu còn là một hoạt động thiết thực để hướng tới việc nâng cao chất lượng sinh viên các khóa sau, và hoàn thành hướng tổ chức chương trình thi tuyển kiểu mới vào năm 2010

3 Tiến trình thực hiện

Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra của đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các bước sau:

Trang 7

– Tìm hiểu khả năng tìm việc làm của sinh viên Khóa 1 Bộ môn QHQT ĐH KHXH&NV TP.HCM bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp

– Khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp

– Tham khảo ý kiến của các giảng viên về chương trình đào tạo

– Tham khảo mô hình giảng dạy ngành QHQT ở một số nước tiên tiến và ở Học viện Ngoại giao Hà Nội

– Dự vào những cơ sở trên, nhóm nghiên cứu đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên QHQT những khóa sau, đảm bảo đáp ứng nhu cầu đào tạo cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp trong hoạt động thực tiễn

4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

– Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên Khóa 1 của Bộ môn QHQT - lớp sinh viên đầu tiên đã thụ hưởng toàn bộ chương trình đào tạo

– Chất chỉ thị trong điều kiện thực tế: tương tác của môi trường làm việc thực tế Điều này sẽ cho thấy mối tương quan giữa chương trình đào tạo và những yêu cầu thực tiễn đối với sinh viên QHQT

– Mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp: Trong quá trình tương tác thực tế, sinh viên Khóa 1 là nhịp cầu nối giữa nhà trường và doanh nghiệp Nhu cầu của doanh nghiệp sẽ được phản ánh qua công việc thực tế mà sinh viên đang làm, từ đó cho thấy khả năng ứng dụng những kiến thức đã học và những mặt hạn chế của sinh viên

5 Phương pháp nghiên cứu

– Khảo sát trên 61 sinh viên trong tổng số 114 sinh viên Khóa 1 bằng bảng hỏi – Phỏng vấn trực tiếp 11 sinh viên

– Phát phiếu điều tra cho các nhà tuyển dụng sử dụng sinh viên khoa QHQT – Phỏng vấn trực tiếp các nhà tuyển dụng

– Xử lý phiếu điều tra bằng chương trình SPSS

6 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Hiện nay, việc giảng dạy ngành Quan hệ quốc tế trong nước vẫn còn hết sức mới

mẻ, chính vì vậy mà trong thực tế chưa có bất kỳ khảo sát nào về kỹ năng làm việc của

Trang 8

sinh viên ngành Quan hệ quốc tế Mặc dù Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao được thành lập từ lâu nhưng cũng chưa có công trình nghiên cứu tương tự Chính vì thế trong

đề tài này, nhóm nghiên cứu chủ yếu sử dụng tư liệu nghiên cứu tự thu thập, bên cạnh đó tham khảo khung đào tạo của Học viện Ngoại giao, Bộ ngoại giao để thực hiện đề tài này

7 Tiến trình và kết quả của cuộc nghiên cứu

Trong quá trình khảo sát, nhóm nghiên cứu vẫn còn gặp rất nhiều hạn chế, cả về mặt khách quan và chủ quan Những khó khăn đó là:

– Phương pháp điều tra thay đổi: Khi thiết kế cuộc điều tra bảng hỏi, người lập bảng hướng đến việc điều tra bằng phỏng vấn viên, nhờ đó có thể kiểm tra ngay tính logic và tính xác thực trong trả lời của những người được phỏng vấn Tuy nhiên, do hạn chế về số lượng phỏng vấn viên và hạn chế về thời gian của người được phỏng vấn, cuộc nghiên cứu phải tiến hành bằng phương pháp bảng hỏi tự điền Phương pháp này có ưu điểm: ít mất thời gian cho người phỏng vấn và người trả lời, tuy nhiên lại có khá nhiều hạn chế như trả lời tùy tiện, thiếu thiện chí, không hợp tác…

– Thiếu hụt về nhân lực (phỏng vấn viên) về mặt số lượng lẫn chất lượng do các phỏng vấn viên chưa được đào tạo về kỹ năng làm việc và nghiên cứu khoa học

– Về mặt thời gian: do nhóm tiến hành khảo sát ngay trước buổi lễ tốt nghiệp nên thời gian dành cho thu thập thông tin không nhiều Đồng thời khoảng thời gian từ lúc thi tốt nghiệp đến thời điểm tiến hành khảo sát chưa đủ dài (5 tháng) để các sinh viên ổn định điều kiện việc làm

– Thái độ hợp tác của sinh viên khóa 1 và các nhà tuyển dụng không cao, số lượng phản hồi không nhiều, buộc nhóm phải tiến hành phỏng vấn trực tiếp

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên toàn bộ sinh viên khóa 1 của Bộ môn QHQT (114 sinh viên), nhưng trong điều kiện thực tế với những hạn chế nêu trên, số phiếu hợp

lệ thu được là 61/114 Như vậy sai số của mẫu khảo sát là 8.7% Do đó những thông tin thu nhận có độ tin cậy tốt nhưng tính đại diện không phải là hoàn toàn tuyệt đối

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn nêu trên, nhóm nghiên cứu đã nhận được sự

hỗ trợ tận tình từ phía Bộ môn, được tiếp cận nguồn tư liệu đánh giá chương trình giảng dạy của sinh viên và chương trình khung đào tạo Một số đơn vị tuyển dụng cũng đã rất nhiệt tình với công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Không thể không nhắc đến sự hướng dẫn chu đáo và chi tiết của giảng viên hướng dẫn giúp nhóm nghiên cứu có thể hoàn thành đề tài này

Trang 9

Chương 1 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 1

BỘ MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ - ĐH KHXH&NV TPHCM

và thu nhập, cho ta thấy được mặt khác của vấn đề

Bảng 3: Việc sử dụng thời gian hiện tại

Trang 10

Sử dụng thời gian

Số lượng Phần trăm

Số lượng Phần trăm

có việc làm thời vụ hoặc bán thời gian Như vậy, có thể thấy tỷ lệ sinh viên của Khóa 1

có việc làm là rất cao chứng tỏ chương trình đào tạo đã đáp ứng được bước đầu nhu cầu của các nhà tuyển dụng

Trang 11

Một cuộc khảo sát bỏ túi với sinh viên các ngành trong Tường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Tp.HCM đã tốt nghiệp cho thấy với thời gian đầu (6 tháng khi vừa tốt nghiệp), đây là một tỷ lệ có việc làm rất cao

 Tóm lại:

– Sinh viên QHQT được khảo sát có đến 96% là có việc làm kể cả toàn thời gian

và bán thời gian

– Chương trình đào tạo bước đầu đáp ứng được nhu cầu nhà tuyển dụng

2 Khả năng phù hợp với công việc

2.1 Đánh giá của Bộ môn và tình trạng việc làm

Bảng 6: Tương quan việc làm và xếp loại tốt nghiệp

Tình trạng việc làm Xếp loại tốt nghiệp

Tổng cộng

Bảng 7: Tương quan giữa xếp loại tốt nghiệp và thu nhập

Mức thu nhập hiện tại

Tổng cộng Xếp loại tốt

nghiệp

Dưới 2 tr

Từ 2tr đến 3.5tr

Từ 3.5tr đến 5tr Trên 5tr

Trang 12

Qua 2 bảng số liệu tương quan trên, có thể thấy chỉ có sinh viên đạt tốt nghiệp loại Khá mới có mức thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng Các mức thu nhập còn lại được dàn trải khá đều Tuy nhiên, bảng số liệu trên cũng cho thấy mặt khác của mối tương quan này: xét trên mặt bằng chung, nhóm sinh viên tốt nghiệp loại Khá có thu nhập thấp hơn nhóm sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình khá

Để lý giải điều này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu trên một số sinh viên thuộc 2 nhóm này Kết quả cho thấy rằng những sinh viên tốt nghiệp loại Khá hầu hết xem công việc đang làm chỉ là những công việc mang tính chất tạm thời, vì có nhu cầu học cao hơn hoặc bổ sung thêm kiến thức ở các ngành học khác, trong khi các sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình khá đều có xu hướng chọn việc làm ổn định Mặt khác, vào thời điểm làm bảng điều tra, nhiều sinh viên tốt nghiệp Khá cũng đang chờ những công việc phù hợp với trình độ và khả năng của mình Đến nay, các sinh viên này đã tìm được việc làm vừa ý

Kết quả trên cho thấy xếp loại đánh giá của Bộ môn là tương đối chính xác với năng lực của sinh viên và phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng

 Tóm lại:

– Xếp loại tốt nghiệp của Bộ môn là hợp lý

– Sinh viên không có việc làm là vì những lý do cá nhân

2.2 Đánh giá của sinh viên về vấn đề việc làm và chương trình đào tạo

a Yêu cầu tuyển dụng

Bảng 8: Kinh nghiệm làm việc

Cần thiết không? Số lượng Phần trăm

Trang 14

Xếp thứ 2 về kỹ năng giúp sinh viên có thể tìm được việc làm là kỹ năng tin học (44.3% tổng số lựa chọn) Tiếp theo là ngoại hình và sức khỏe với tỷ lệ lựa chọn lần lượt

là 37.7% và 34.4% Song môn tin học và giáo dục thể chất lại chưa có thời lượng và chất lượng đào tào phù hợp cho xứng với tầm quan trọng của mình Yêu cầu của nhà trường đối với sinh viên khi tốt nghiệp là phải có được bằng A tin học và bằng giáo dục thể chất,

đó là những yêu cầu rất cơ bản, chưa đủ để tạo nên khả năng cạnh tranh cho sinh viên nếu sinh viên không tự trau dồi Các loại hình thể thao trong môn giáo dục thể chất vừa ít về

số lượng (5 môn tự chọn bao gồm: bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, võ thuật, bóng đá), vừa ít về cường độ (3 tiết mỗi tuần) và số lượng (chỉ được dạy trong 2 năm học) Nhà trường chưa có một cơ chế hợp lý để khuyến khích sinh viên rèn luyện thể thao đều đặn

và hợp lý

 Tóm lại:

– Bộ môn đã đào tạo đúng trọng tâm một phần yêu cầu của nhà tuyển dụng

– Kỹ năng tin học của sinh viên còn hạn chế

– Môn Giáo dục thể chất cần được cải thiện

b Khả năng sử dụng kiến thức

Bảng 15: Khả năng sử dụng kiến thức học ở Đại học

Số lượng

Phần trăm

Trang 15

Bảng 16: Sử dụng khối kiến thức Kinh tế

Trang 16

Tuy là một điểm mạnh của Bộ môn, nhưng theo cựu sinh viên Phạm Đức Thiện (hiện là giáo viên tiếng Anh tại trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành), chương trình đào tạo môn Anh Văn của Bộ môn là chưa đủ, hầu hết các giảng viên đều không đủ chuyên môn và kinh nghiệm để dạy Anh văn chuyên ngành Đây là thực tế đào tạo khóa 1 của Bộ môn khi thời gian đầu thành lập còn thiếu giáo viên, phải thỉnh giảng từ nhiều trường khác, đồng thời đội ngũ giảng viên, đặc việt là giảng viên Anh văn, đều còn trẻ, quá trình giảng dạy và cọ xát thực tể chưa nhiều Bên cạnh đó, việc mỗi năm có 1 giáo viên phụ trách đứng lớp khiến giáo viên không theo sát được trình độ học của sinh viên để có những điều chỉnh và hướng dẫn phù hợp

Khi phỏng vấn sâu các nhà tuyển dụng, kết quả cho thấy sinh viên QHQT có khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt nhưng vốn tiếng Anh chuyên ngành chưa đủ để đáp ứng nhu cầu công việc cao Vì thế, cần có giải pháp hợp lý để khắc phục tình trạng giảng viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm và thời lượng quy định dành cho môn Anh văn tại trường Đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo còn hạn chế

Một khối kiến thức khác cũng không kém phần quan trọng trong công việc, nhưng với lượng kiến thức mang nặng tính lý thuyết đã được học tại trường Đại học, sinh viên không thể đáp ứng được nhu cầu thực tế: đó là khối kiến thức Luật Thực tế cho thấy, soạn thảo một hợp đồng thương mại đơn giản lại là điều không hề đơn giản đối với các sinh viên đã tốt nghiệp Tuy vậy, qua bảng đánh giá của sinh viên về chương trình đào

Trang 17

tạo của các năm cho thấy bộ môn đã ý thức được vấn đề này và cải thiện chương trình học cho sinh viên, với việc đưa vào chương trình đào tạo môn Hợp đồng thương mại3 Từ việc dạy cho sinh viên khóa 3 môn học này với tính chất giới thiệu (chỉ dừng lại ở việc nhận biết các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại, sinh viên chưa thể lập một hợp đồng hoàn chỉnh) đến việc tách Hợp đồng thương mại thành một môn học riêng biệt cho sinh viên các khóa sau

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy nếu không có những khối kiến thức nghiệp vụ, sinh viên tốt nghiệp ngành QHQT khó có thể cạnh tranh với sinh viên các trường được đào tạo chuyên ngành khác như Luật, Kinh tế… song, khối kiến thức này vẫn còn chưa được sử dụng đúng mức Chỉ có 13.1% sinh viên cho biết có sử dụng đuợc những gì đã học mà thôi Do đó, Bộ môn cần có những thay đổi để phù hợp với yêu cầu công việc thực tế

Bảng 21: tương quan giữa lĩnh vực công tác và việc sử dụng khối kiến thức kinh tế

Tổng cộng

Có sử dụng

Không

sử dụng

Không trả lời

Bảng 21 cho thấy việc sinh viên khóa 1 làm việc có áp dụng khối kiến thức kinh tế

là khá rộng rãi và đa dạng Tuy vậy, theo kết quả khảo sát, chỉ riêng 2 trường hợp sinh viên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại đã gặp khá nhiều khó khăn khi sử dụng các kiến thức đã được học Sinh viên Đặng Thị Thanh Duyên – hiện đang là trợ lý cho một giám đốc công ty chứng khoán - cho rằng việc học các môn kinh tế ở trường đều rất khái quát, sơ lược, chưa có những môn học cụ thể và thời gian học ngắn (gói gọn trong vài đơn vị học trình)

So sánh với chương trình đào tạo ở Khoa Kinh tế ĐH QG TP HCM hay Đại học Kinh tế, những kiến thức mà sinh viên Bộ môn QHQT được học hầu hết thuộc về các

3

Bảng thống kê ý kiến đánh giá của sinh viên qua 2 năm – Phụ lục

Trang 18

môn học Đại cương Tuy vậy, trong quá trình đào tạo, Bộ môn đã có những cố gắng nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành này khi nâng số môn học Kinh tế lên 13 môn (thay

vì 7 môn như những khóa đầu tiên)4

 Đánh giá về chương trình đào tạo:

– Sinh viên được học dàn trải, nặng về lý thuyết

– Khối kiến thức Nghiệp vụ còn chưa được quan tâm đúng mức

– Đội ngũ giảng viên còn nhiều hạn chế

– Môn thế mạnh Ngoại ngữ vẫn chưa được đào tạo chuyên sâu

c Thực trạng sinh viên sau khi tham gia vào công việc thực tế

Bảng 22: Khả năng nhận sự đào tạo của đơn vị

Số lượng

Phần trăm

Đào tạo lai cho phù hợp

Đào tạo nâng cao năng

Bảng 23: tương quan giữa đào tạo của nơi làm và xếp loại sinh viên

Xếp loại tốt nghiệp

Anh/Chị có nhận được sự đào tạo của đơn vị hay không?

Tổng cộng

4

Xem phần phụ lục về chương trình đào tạo

Trang 19

Không cần đào tạo

Đào tạo lại cho phù hợp nhu cầu đơn vị

Đào tạo nâng cao năng lực

Bảng 24: Tương quan giữa đào tạo của nơi làm và mức thu nhập

Mức thu nhập hiện tại Anh/Chị có nhận được sự đào tạo của đơn vị hay không? Tổng

cộng

Không cần đào tạo

Đào tạo lại cho phù hợp nhu cầu đơn vị

Đào tạo nâng cao năng lực

Bảng 25: Tương quan giữa thu nhập và thời gian tìm được việc làm

Mức thu nhập hiện tại Thời gian nhận được việc làm hiện tại Tổng

cộng

Trước khi ra trường

Khi vừa tốt nghiệp

Một thời gian sau khi tốt nghiệp

Không trả lời

Trang 20

Bảng 26: Sự phù hợp giữa chương trình đào tạo và công việc

Bảng 27: Tương quan giữa nhận thức về sự phù hợp của chương trình đào tạo

và mức thu nhập của sinh viên

Mức thu nhập hiện tại

Sự phù hợp giữa

chương trình đào tạo

và công việc Duới 2

tr

Từ 2tr đến 3.5tr

Từ 3.5tr đến 5tr Trên 5tr

Không trả lời

Tổng cộng

Trang 21

Không trả lời 1 0 1 0 0 2

Biến số “thu nhập” cho thấy sự đánh giá của thị trường đối với khả năng làm việc

mà sinh viên có được nên qua bảng tương quan này, từ đó có thể thấy mức độ phù hợp thực tế của chương trình đào tạo

Xét trên 2 bảng thu nhập “Từ 3.5tr đến 5tr” và “Trên 5tr”, nhận xét của sinh viên

là “Khác” và “Phù hợp nhưng chưa đủ” chiếm đa số Điểm qua các giá trị “Khác” đó, hầu hết đều cho rằng chương trình dạy thuần lý thuyết và chưa đủ cụ thể, chuyên sâu Như vậy có thể xác định rằng nếu chỉ sử dụng kiến thức ở mức độ giảng dạy thì chưa được thị trường lao động đánh giá cao

Bảng 28: Dự định theo học Cao học ngành QHQT của sinh viên

Lựa chọn Số lượng Phần trăm

Điều này cho thấy ngoài những kiến thức đã học được ở bậc đại học, sinh viên phải tự bổ sung thêm các kiến thức chuyên ngành khác để phù hợp với công việc thực tế, như vậy, xuất hiện một nhu cầu rõ nét phải chia thành các chuyên ngành đào tạo để sinh viên có thể tiếp nhận chương trình đào tạo chi tiết hơn và ứng dụng được những kiến thức

đó vào trong thực tế

 Có thể kết luận được rằng:

– Chương trình đào tạo chưa đủ đáp ứng nhu cầu công việc

Trang 22

– Những sinh viên có khả năng tự làm việc, tích lũy kinh nghiệm cao sẽ chỉ cần kiến thức ở trường là có thể tìm được việc làm với mức thu nhập cao

– Sinh viên Khóa 1 cần phải có những đào tạo mở rộng sang các ngành khác mới

có thể đáp ứng được nhu cầu của công việc thực tế

3 Đánh giá chung của sinh viên về chương trình đào tạo của Bộ môn

Bảng 29: Đánh giá của Sinh viên về chương trình đào tạo

Đánh giá của Sinh viên Số lượng Phần trăm Cung cấp kiến thức đơn

Chiếm số lượng đông nhất trong bảng 29 là mức đánh giá chương trình đào tạo

“Cung cấp kiến thức đơn thuần” chiếm 60.7% số lựa chọn, cách biệt khá lớn so với mức thứ 2 là “Cung cấp kiến thức và kỹ năng sống” (chiếm 24.6%) Như vậy, có thể thấy rằng chương trình học vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc theo cách đánh giá của sinh viên

Bảng 30: Tương quan mức thu nhập và đánh giá của sinh viên về chương trình đào

tạo

Đánh giá của sinh viên về chương trình đào tạo

của Bộ môn

Tổng cộng Mức thu nhập hiện tại

cấp kiến thức đơn thuần

Cung cấp kiến thức nền tảng cho công việc

Cung cấp kiến thức

và kỹ năng sống

Trang 23

Tổng cộng 37 7 15 2 61

Bảng 30 cho thấy 2 trường hợp Bộ môn cung cấp kiến thức đạt được mức thu nhập cao Mặc dù vậy, vẫn có một số lượng lớn sinh viên có mức thu nhập thấp có lựa chọn tương tự Khi kiểm kê lại các phiếu điều tra, điều bất ngờ là hầu hết những trường hợp này đều là những sinh viên tốt nghiệp loại Khá, hầu hết là đang đi làm các công việc bán thời gian trong lúc tìm kiếm các cơ hội học hành khác hay đơn giản là muốn nghỉ ngơi

TS Đào Minh Hồng – Trưởng Bộ môn QHQT - cho biết, Bộ môn chú trọng đến việc bồi dưỡng và rèn luyện những kỹ năng sống bên cạnh đào tạo kiến thức đơn thuần Như vậy, qua kết quả này phần nào cho thấy được trọng tâm đào tạo của Bộ môn là có cơ sở

Có thể nói rằng chương trình đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của công việc thực tiễn, mặt khác, chương trình cũng chưa đáp ứng được với mong muốn của sinh viên Những bảng sau cho thấy rõ điều đó Sau đây là một số bảng thống kê thái độ của sinh viên được khảo sát với những ngành học

Bảng 31: Anh/Chị có thích khối kiến thức ngành Luật hay không?

Thái độ Số lượng Phần trăm

Bảng 32: Anh/Chị có thích khối kiến thức kinh tế hay không?

Thái độ Số lượng Phần trăm

Không trả lời 2 3.3%

Bảng 33: Anh/Chị có thích khối kiến thức Chính trị hay không?

Thái độ Số lượng Phần trăm

Trang 24

Không trả lời 2 3.3%

Bảng 34: Anh/Chị có thích khối kiến thức Ngoại ngữ hay không?

Thái độ Số lượng Phần trăm

Không trả lời 2 3.3%

Bảng 35: Anh/Chị có thích khối kiến thức Kỹ năng nghiệp vụ hay không?

Thái độ Số lượng Phần trăm

Như vậy, sinh viên có sự phân bố sở thích không đồng đều Khi được phỏng vấn

về lý do, các sinh viên Khóa 1 cho biết, những môn trong khối ngành Luật đều còn sơ khai và cơ bản, nặng tính từ chương và chưa đi vào giải quyết được những vấn đề thực tế Đồng thời, khả năng giảng dạy và truyền đạt của giảng viên cũng là một yếu tố tác động Cần có thêm các bài tập tình huống gắn với thực tế nhằm kích thích khả năng tư duy, tự tìm hiểu của sinh viên Tuy vậy, nếu dồn toàn bộ kiến thức vào chương trình học sẽ gây quá tải cho sinh viên Do đó cần có một giải pháp có thể điều hòa được lượng kiến thức truyền đạt và khả năng học tập của sinh viên

Các môn Kỹ năng nghiệp vụ có số lượng sinh viên lựa chọn ít thứ hai chỉ sau các môn Luật Lý do chính của việc lựa chọn này là số lượng môn còn ít, chưa đủ độ chuyên sâu, trong khi các môn nghiệp vụ lại là những kỹ năng cơ bản tạo ra “sức hút” đối với doanh nghiệp cho sinh viên ngành QHQT nhiều nhất

Sau đây là đánh giá chi tiết của sinh viên về chương trình đào tạo của Bộ môn

Trang 26

ưu thế của Bộ môn Mặc dù vậy, chính do sự dàn trải trên quá nhiều môn học nên quỹ thời gian dành cho từng môn còn hạn chế và chưa đạt đủ độ chuyên sâu cần thiết Bảng

39 và bảng 40 cho thấy điều đó khi có đến hơn 1/3 số sinh viên được khảo sát cho biết cảm thấy chương trình đào tạo nặng về lý thuyết cũng như chưa được chuyên sâu

Một ví dụ là các môn ngành Luật, sinh viên Khóa 1 chỉ được học những kiến thức đơn thuần và tương đối cơ bản, ít có những mở rộng chuyên sâu để có thể vận dụng vào công việc Theo những trải nghiệm thực tế của nhóm nghiên cứu, môn Hợp đồng thương mại quốc tế được dạy lồng ghép vào môn Luật thương mại quốc tế Như vậy, thời gian cả hai môn học đều không đủ để có thể mở rộng ra thêm các phần bài tập cũng như giải quyết các tình huống thực tế

Bảng 42: Tương quan giữa đánh giá của sinh viên về chương trình đào tạo và tình hình công tác Đoàn, Hội, CLB

Công tác Đoàn, Hội, CLB Đánh giá của SV về

chương trình đào tạo

của Bộ môn

Không có lợi ích, không thiết thực

Có một chút lợi ích

Phù hợp Rất tốt

Không ý kiến

Không trả lời

Tổng cộng

Cung cấp kiến

Cung cấp kiến

Trang 27

Qua bảng 42, việc sinh viên đánh giá ngoài cung cấp kiến thức, các hoạt động của

Bộ môn còn cung cấp thêm cả kỹ năng sống cho thấy đó là những sinh viên tham gia tích cực vào công tác Đoàn, Hội, CLB chiến 14 (3 trường hợp lựa chọn “Phù hợp”, 11 trường hợp lựa chọn “rất tốt”) trên tổng số 15 sinh viên lựa chọn Điều này cũng cho thấy rằng những hoạt động ngoại khóa của Bộ môn hoạt động rất hiệu quả Tuy vậy, số lượng này vẫn còn rất hạn chế, chỉ chiếm 24.6% số lượng sinh viên được khảo sát Với hai trường hợp được nhóm nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp đều không có ý kiến nào về các công tác ngoại khóa này Như vậy, vấn đề chính hiện nay của các tổ chức này là làm sao lôi kéo được thêm đông đảo sinh viên tham gia

Sinh viên Nguyễn Thanh Khoa còn cho biết một khía cạnh khác mà cuộc khảo sát

đã không đề cập tới một cách cụ thể: đó là việc thực tập thực tế Sinh viên này cho biết việc thực tập thực tế của Bộ môn có hiệu quả rất kém Chuyến đi chỉ là tham quan đơn thuần bao gồm cả việc tham quan đại sứ quán của Việt Nam Sinh viên chỉ được nghe thuyết trình về các công việc, sau đó là tổng hợp để viết báo cáo mà hoàn toàn không được tham gia vào công việc thực tế Phần lớn thời gian còn lại là di chuyển và tham quan Chính vì vậy khi tôt nghiệp và đi làm, sinh viên Khóa 1 khó mà có thể vận hành được công việc trôi chảy trừ những sinh viên tự bổ túc kinh nghiệm cho mình thông qua quá trình làm việc bán thời gian trước đó Vấn đề này được sự xác nhận không chỉ của sinh viên Khóa 1 mà còn rất nhiều sinh viên Khóa 2 khi được hỏi đến cũng đều cho ý kiến tương tự 5

 Kết luận về chương trình đào tạo từ phía sinh viên Khóa 1:

– Chương trình đào tạo phong phú, đa dạng

– Công tác Đoàn – Hội – CLB là nguồn cung cấp kỹ năng sống cho sinh viên

Trang 28

– Chương trình đào tạo còn chung chung, thời gian mỗi môn chưa hợp lý, nặng

về lý thuyết và thiếu thực tiễn

Trang 29

Chương 2 NHỮNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

1 Những vấn đề từ phía sinh viên

Về phía sinh viên của Bộ môn, phản hồi từ các giảng viên cũng như đơn vị công tác cho thấy còn rất nhiều vấn đề cần cải thiện cũng như những ưu điểm cần khuyến khích để phát triển

Ưu điểm đầu tiên mà các nhà tuyển dụng đề cập đến là tinh thần trách nhiệm với công việc Trong 11 phiếu khảo sát thu nhận được từ phía các nhà tuyển dụng có đến 7 phiếu đánh giá ở mức độ Tốt và 4 phiếu đánh giá ở mức độ Khá Song song với ưu điểm này là khả năng chịu áp lực công việc đối với sinh viên Bộ môn cũng được đánh giá cao không kém Đây là những đòi hỏi vô cùng quan trọng của các nhà tuyển dụng khi áp lực của công việc hiện đại ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn về tính chất phức tạp của

Sinh viên QHQT được làm quen với cách làm việc “khoán” Các bài tiểu luận cuối môn được giao cho sinh viên với yêu cầu và thời hạn nộp bài cụ thể Cách làm này không chỉ được tiến hành với một môn học mà là nhiều môn cùng lúc với thời hạn nộp gần sát nhau Như vậy, chính điều này gián tiếp tạo ra một áp lực lớn và đòi hỏi cao về khả năng hoàn thành đúng thời hạn trở thành một thói quen tốt cho sinh viên khi bước vào quá trình làm việc thực tế

Một ưu điểm khác cũng được các nhà tuyển dụng đánh giá tốt là khả năng làm việc độc lập của sinh viên Có thể lý giải được điều này thông qua khả năng làm tiểu luận của sinh viên đòi hỏi tính độc lập rất cao.Do ngành học còn mới nên lượng tài liệu không nhiều đòi hỏi sinh viên phải tự tìm tòi thêm rất vất vả Nhưng mặt trái của nó là khả năng làm việc nhóm lại không đạt được yêu cầu của công việc Ngay cả các bài thuyết trình nhóm trong chương trình học vẫn có sự phân công không đều giữa các thành viên Một số nhóm chỉ được cấu thành bởi những thành viên chủ chốt Chính vì vậy kết cấu của hầu hết các nhóm là không cao

Kỹ năng tin học là một trong những vấn đề các nhà tuyển dụng phàn nàn nhiều nhất Mặc dù trong chương trình đào tạo yêu cầu sinh viên phải có bằng A tin học khi tốt nghiệp nhưng thực tế, chương trình đào tạo vẫn không đáp ứng được nhu cầu của công việc thực tế Một số sinh viên còn không thể sử dụng các thao tác cơ bản nhất như đổi tên

Trang 30

tập tin, sử dụng chương trình Outlook Express để quản lý email cho công việc một cách thành thạo… Ngoài Microsoft Office thì chương trình học tin học trong nhà trường không đề cập đến những kỹ năng này

Một vấn đề khác là khả năng cập nhật thông tin hàng ngày Ông Đồng Ngọc Tuấn, giám đốc chi nhánh Công ty cổ phần và phát triển công nghệ Nguyễn Hoàng – inet cho biết sinh viên của Bộ môn làm việc tại chi nhánh không thu thập thông tin tức thời sự trong và ngoài nước một cách nhanh chóng Điều này cũng phù hợp với việc khi sinh viên Bộ môn có cuộc gặp gỡ với nguyên tổng lãnh sự Canada tại TP HCM ông Sanjeev Chowdhury, khi được hỏi về khả năng đọc báo của sinh viên, chỉ vài người thừa nhận là

có đọc báo mỗi ngày

Về phía giảng viên, giảng viên Trần Tịnh Đức cho biết sinh viên Bộ môn có khả năng đọc và phân tích công việc khá kém Điều này thể hiện thông qua khả năng đọc và tổng hợp tài liệu khi làm các khóa luận Tốt nghiệp Những đề mục “điểm tài liệu” khá sơ sài và không bao quát được hết những công trình trước đó

 Kết luận những vấn đề còn tồn đọng ở Sinh viên:

– Sinh viên có tinh thần trách nhiệm và năng lực làm việc độc lập tốt

– Khả năng làm việc nhóm còn kém

– Kỹ năng tin học văn phòng là điểm yếu nhất của sinh viên Bộ môn

– Sinh viên không có thói quen cập nhật thông tin hàng ngày, khả năng đọc và

phân tích tài liệu còn yếu

2 Những đề xuất đối với bộ môn

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu của sinh viên cũng như nhà tuyển dụng, nhóm nghiên cứu đưa ra một số những đề xuất sau đây:

2.1 Với chương trình đào tạo

Trang 31

chia Không có ý kiến 11 18.0%

Qua bảng 43 có thể thấy nguyện vọng của sinh viên trong việc chia chuyên ngành

để có thể được hưởng sự đào tạo sâu hơn từ phía Bộ môn Công ty cổ phần chứng khoán Mirae Asset có góp ý như sau:”Nâng cao kiến thức chuyên ngành kinh tế, những lĩnh vực đầu tư đang “hot” trên thị trường” Ngay cả các nhà tuyển dụng cũng có yêu cầu cao đối với những kiến thức và kỹ năng chuyên ngành mà Bộ môn vẫn chưa thể đáp ứng được

Lợi ích của việc chia chuyên ngành đem lại là vô cùng to lớn Việc chia theo từng chuyên ngành sẽ giúp sinh viên có thể đi sâu hơn vào từng khối kiến thức ngành, đồng thời chia nhỏ số lượng sinh viên đang quá đông (hơn 200 sinh viên một lớp) thành các lớp nhỏ hơn tạo điều kiện cho việc học bằng những phương pháp tương tác giữa người học và giảng viên

Bảng 44: Chia chuyên ngành chính trị quốc tế?

Trang 32

Không nên chia 14 23.0%

Đối với ngành Nghiên cứu khu vực và PR, các sinh viên đã tốt nghiệp cho rằng không thật sự cần thiết Hơn nữa, đối với Nghiên cứu khu vực, theo Thạc sĩ Bùi Hải Đăng cho biết :”Nghiên cứu khu vực vốn là một ngành thừa hưởng từ rất nhiều những ngành khác, ở châu Âu, khi muốn nghiên cứu khu vực là anh đã phải có một bằng cấp

Trang 33

của một ngành học khác như là kinh tế, chính trị… thì mới dựa trên đó mà nghiên cứu trong từng khu vực cụ thể.”

Như vậy, Nghiên cứu khu vực không nên đưa vào trở thành một ngành học riêng biệt mà là một bộ phận cho tất cả các chuyên ngành khác có thể tham gia vào Bộ môn có thể thành lập một tổ nghiên cứu khu vực riêng với những giảng viên đã có nhiều nghiên cứu về các khu vực để tăng cường các công trình nghiên cứu đồng thời cập nhật liên tục những kiến thức mới cho chương trình giảng dạy

Còn với PR, đây là một ngành học tương đối mới ở Việt Nam Thông thường, PR được ghép chung vào với Marketing hơn là với QHQT, cũng vì vậy mà sinh viên QHQT

dù có những nét tương đồng về mặt giao tiếp nhưng cũng không mặn mà lắm với ngành

PR Vì vậy, nếu muốn đưa PR trở thành một chuyên ngành của QHQT phải có biện pháp

“tiếp thị” cho sinh viên về chương trình đào tạo

Đối với chuyên ngành Luật, khi đi sâu vào chuyên ngành, nên chuyển đổi phương pháp dạy từ chương sang phương pháp nghiên cứu tình huống cụ thể (Case Studies) để làm rõ các lý thuyết mà sinh viên có thể tự nghiên cứu thêm trong quá trình đọc sách tại nhà Phương pháp này tập cho sinh viên khả năng tự làm việc, tự học để có thể tham gia giải quyết các tình huống trên lớp, đồng thời từ giải quyết các tình huống có thể đảm bảo được việc sinh viên tự làm việc ở nhà với các lý thuyết có sẵn

Đối với chuyên ngành kinh tế, các nhà tuyển dụng cũng không ngừng đòi hỏi cao

về nghiệp vụ kinh tế đặc biệt là nghiệp vụ xuất nhập khẩu Cũng chính nghiệp vụ trong đàm phán kinh tế là đặc trưng riêng của ngành QHQT bên cạnh những khối kiến thức về kinh tế đơn thuần khác, làm sinh viên QHQT có thể dễ dàng cạnh tranh với những trường đại học chuyên dạy về kiến thức kinh tế đối ngoại đơn thuần như Kinh tế hay Ngoại Thương

Nhu cầu học chuyên ngành Ngoại giao của sinh viên và các nhà tuyển dụng là rất lớn nhưng trong thực tế, nếu đặt riêng một mình thì Nghiệp vụ ngoại giao cũng chỉ là một công cụ như Ngoại ngữ và Tin học mà thôi, cần phải có sự hỗ trợ kiến thức trong các ngành học cụ thể Do đó, một số sinh viên cho rằng nên biến Nghiệp vụ ngoại giao trở thành các môn chung bắt buộc cho sinh viên Bộ môn Các nghiệp vụ này cần được giảng dạy từ những nhu cầu thực tế nhất cho sinh viên Bộ môn như nghiệp vụ đàm phán, tổ chức và điều khiển hội thảo, họp báo, hội nghị… cũng như có những giới thiệu sâu hơn trong các chuyến thực tập thực tế thông qua hoạt động cụ thể của các Đại sứ quán, Lãnh

sự quán mà sinh viên có dịp tham quan

Trang 34

Một vấn đề nữa là cần có định hướng trong chương trình cho những môn học với giảng viên từ trước khi bắt đầu giảng dạy Tốt nhất là đề cương môn học phải được thông qua để tránh những kiến thức lan man, ngoài lề hay không có trọng tâm trong quá trình giảng dạy, đảm bảo cho môn học đạt được độ “sâu” cần thiết Qua đó cũng góp phần kiểm soát được định hướng đào tạo của chương trình

Đối với môn Anh văn cần có sự thay đổi cho chương trình đào tạo bài bản hơn Hiện nay trình độ sinh viên có sự chênh lệch khá lớn mà thực tế là chương trình đào tạo

có giới hạn về thời lượng, nên nếu dạy lại từ đầu cho sinh viên thì không thể đủ thời lượng nâng cao và nếu có thì cũng quá nhanh so với sức học của các sinh viên Vì thế cần

có một mốc giới hạn cơ bản cho sinh viên để có thể đào tạo ngay lên Anh văn chuyên ngành như mức bằng C hay 60 điểm TOEFL iBT được yêu cầu ngay từ cuối Học kỳ IV (Để có thể bảo lưu giá trị đến khi ra trường) Như vậy, thời lượng 42 tín chỉ có thể được

sử dụng để đào chuyên ngành mà năng lực ngoại ngữ của sinh viên tương đối đồng đều

Với các môn Giáo dục thể chất, Bộ môn nên đề xuất với nhà trường duy trì trong suốt cả 4 năm học nhưng mở rộng ra với nhiều loại hình thể thao và cho sinh viên tự chọn, không bó hẹp trong một số môn như Bóng chuyền, Bóng rổ, Võ thuật như hiện nay

mà có thể thêm vào các môn như Bơi lội, Bóng bàn, Cầu long, Bóng đá Sinh viên của năm III và năm IV đã được về học trên cơ sở ở Đinh Tiên Hoàng, thuận lợi hơn trong vấn

đề sân bãi khi nhà trường có thể liên hệ với các cơ sở thể dục thể thao trong thành phố Ngoài ra, chính nhà trường cũng cần tổ chức ra các Câu lạc bộ, đội nhóm thể thao để làm nơi sinh hoạt cho sinh viên và cũng tạo đội hình nòng cốt để tham gia các kỳ đại hội thể thao cấp Thành phố và Quốc gia Nếu đáp ứng được điều này, vấn đề sức khỏe – vốn nhận được sự quan tâm sâu sắc từ nhà tuyển dụng – có thể được giải quyết

Môn Tin học lại là một vấn đề khác mà bằng A tin học hiện nay không đủ đáp ứng nhu cầu của công việc thực tế vốn không chỉ gói gọn trong việc sử dụng Ofiice Nên lồng ghép thêm một số kỹ năng cơ bản vào môn học nghiệp vụ thư ký - văn phòng trong các môn kỹ năng để sinh viên có thể dễ dàng làm việc khi ra trường

Như vậy, qua khảo sát, nhóm nghiên cứu đề xuất việc phân chia thành 3 chuyên ngành là Chính trị quốc tế, Luật quốc tế và Kinh tế quốc tế đồng thời đặt những Nghiệp

vụ ngoại giao làm môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo Nghiên cứu khu vực nên được mở riêng một tổ nghiên cứu và trở thành môn học tự chọn cho sinh viên Ngoài ra cần tiến hành những nghiên cứu mở rộng thêm về khả năng mở chuyên ngành PR trong

Bộ môn QHQT để có kết luận chính thức mà trong khuôn khổ cuộc nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu không đề cập đến

Trang 35

– Để sinh viên tự tích lũy khả năng tiếng Anh đạt mức độ nhất định, Bộ môn chỉ

đào tạo Anh ngữ chuyên ngành

– Trau dồi khả năng tin học văn phòng bằng cách lồng ghép vào các môn nghiệp

vụ

– Duy trì môn Giáo dục thể chất và mở rộng các môn học, mở các Câu lạc bộ thể

thao cho sinh viên tham gia

– Bộ môn đã có những nhận thức đúng đắn nhằm thay đổi chương trình đào tạo theo hướng phát triển có lợi cho sinh viên

b Phương pháp giảng dạy

Qua các sinh viên Khóa 1, biện pháp giảng dạy lấy người học là trung tâm thông qua tiểu luận và thuyết trình tỏ ra hiệu quả khi được các nhà tuyển dụng đánh giá cao về tính độc lập cũng như trách nhiệm công việc của sinh viên Mặt khác, trong một chừng mực nhất định, cụ thể là với số lượng sinh viên ít, vào khoảng 30-40 người, phương pháp này sẽ phát huy hiệu quả cao độ khi buộc sinh viên phải tự làm việc ở nhà

Bên cạnh đó, cần mở rộng thêm khả năng tranh luận giữa sinh viên với sự hướng dẫn của giảng viên trong quá trình học Tính tương tác giữa sinh viên – giảng viên thông qua quá trình thuyết trình đã có nhưng tính tương tác giữa sinh viên với nhau là chưa cao Một phần bởi vì sinh viên ngoài nhóm thuyết trình không có sự chuẩn bị về đề tài trên lớp, một phần do thời lượng chương trình không cho phép Biện pháp này có ưu điểm là

có thể tổng hợp được một lượng kiến thức lớn xung quanh vấn đề chính thông qua phản biện và bảo vệ các vấn đề, đồng thời có thể chọn lọc ra các kiến thức đúng trong số lượng kiến thức mà sinh viên tự tìm hiểu được Ngoài ra sinh viên còn là người trực tiếp xây dựng nên bài giảng nên khả năng nắm bắt, hiểu và nhớ sẽ sâu hơn

Đối với phương pháp đọc-chép truyền thống, khả năng nhớ kiến thức của sinh viên là không cao khi sinh viên tỏ ra thụ động, ỷ lại vào giảng viên mà không mở rộng, đào sâu nghiên cứu vấn đề đã học Điều này được chứng tỏ qua môn Địa chính trị của Giảng viên Trần Tịnh Đức Với lối học truyền thống, tuy giảng viên có yêu cầu sinh viên

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 7: Tương quan giữa xếp loại tốt nghiệp và thu nhập - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 7 Tương quan giữa xếp loại tốt nghiệp và thu nhập (Trang 11)
Bảng 9: Quen biết - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 9 Quen biết (Trang 13)
Bảng 14: Vốn sống - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 14 Vốn sống (Trang 14)
Bảng 21: tương quan giữa lĩnh vực công tác và  việc sử dụng khối kiến thức kinh tế - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 21 tương quan giữa lĩnh vực công tác và việc sử dụng khối kiến thức kinh tế (Trang 17)
Bảng 22: Khả năng nhận sự đào tạo của đơn vị - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 22 Khả năng nhận sự đào tạo của đơn vị (Trang 18)
Bảng 24: Tương quan giữa đào tạo của nơi làm và mức thu nhập - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 24 Tương quan giữa đào tạo của nơi làm và mức thu nhập (Trang 19)
Bảng 25: Tương quan giữa thu nhập và thời gian tìm được việc làm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 25 Tương quan giữa thu nhập và thời gian tìm được việc làm (Trang 19)
Bảng 30: Tương quan mức thu nhập và đánh giá của sinh viên về chương trình đào - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 30 Tương quan mức thu nhập và đánh giá của sinh viên về chương trình đào (Trang 22)
Bảng 29: Đánh giá của Sinh viên về chương trình đào tạo - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
Bảng 29 Đánh giá của Sinh viên về chương trình đào tạo (Trang 22)
Hình  thức  kiểm tra - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức kiểm tra (Trang 51)
Hình  thức  thảo  luận,  làm  việc  nhóm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức thảo luận, làm việc nhóm (Trang 51)
Hình  thức  thảo  luận,  làm  việc  nhóm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức thảo luận, làm việc nhóm (Trang 52)
Hình  thức  kiểm  tra và  thi trắc  nghiệm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức kiểm tra và thi trắc nghiệm (Trang 58)
Hình  thức  thảo  luận,  làm việc  nhóm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức thảo luận, làm việc nhóm (Trang 59)
Hình  thức  thảo  luận,  làm việc  nhóm - Kỹ năng làm việc của sinh viên ngành quan hệ quốc tế thực trạng đào tạo và yêu cầu xã hội   trường hợp khóa 1 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần
nh thức thảo luận, làm việc nhóm (Trang 61)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w