1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến trúc và mỹ thuật nhà trăm cột (cần đước – long an) đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2013

62 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến trúc và mỹ thuật nhà Trăm Cột (Cần Đước – Long An)
Tác giả Chung Đức Vũ, Nguyễn Hữu Lâm, Nguyễn Văn Nang
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Văn Thắng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 10,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: Mục đích: Đề tài được thực hiện với mục đích chính là lưu giữ lại những giá trị truyền thống về lịch sử văn hóa của nhà cổ Trăm cột qua đó có thể giũ gì

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ -o0o -

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2013

Tên công trình:

KIẾN TRÚC VÀ MỸ THUẬT NHÀ TRĂM CỘT

(CẦN ĐƯỚC – LONG AN)

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Chung Đức Vũ lớp khảo cổ học khóa 2009 – 2013 Thành viên: Nguyễn Hữu Lâm lớp khảo cổ học khóa 2009 – 2013 Thành viên: Nguyễn Văn Nang lớp khảo cổ học khóa 2010 – 2014 Người hướng dẫn: PGS.TS Đặng Văn Thắng – Trường Đại Học Khoa Học

Xã Hội & Nhân Văn – ĐHQG TPHCM

Tp Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 3 năm 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NHÀ TRĂM CỘT 5

1.1.Chủ Nhân. 5

1.2.Quá Trình Xây Dựng Ngôi Nhà. 7

CHƯƠNG 2: NHÀ TRĂM CỘT 9

2.1 Kiến trúc nhà Trăm cột 9

2.2 Vật liệu kiến trúc. 16

2.3 Mỹ Thuật Nhà Trăm Cột. 18

CHƯƠNG 3: NHÀ TRĂM CỘT TRONG BỐI CẢNH NHÀ CỔ Ở NAM BỘ 28

3.1 Đặc điểm nhà trăm cột 28

3.2 So sánh với nhà ở truyền thống người Việt ở Cù Lao Phố (Biên Hòa – Đồng Nai) 30

3.3 Hiện trạng và kiến nghị bảo tồn : 30

KẾT LUẬN 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO………34

PHỤ LỤC……….35

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kiến trúc nhà ở là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có khảo cổ học lịch sử Từ thời xa xưa khi ngôi nhà của con người là mái đá, hang động cho đến những túp lều bằng tre nứa thì nó đã chứa đựng những thông điệp về loại hình cư trú mà con người sáng tạo Ngôi nhà có vai trò vô cùng quan trọng, nó là nơi cư ngụ và cũng là nơi chứa đựng những yếu

tố văn hóa, tinh thần cũng như tình cảm gia đình trong đó Nó là mầm móng đầu tiên cho sự hình thành nên xã hội Chính vì vậy, người Việt Nam rất quan tâm chăm chút cho ngôi nhà của mình, họ gần như dồn hết tâm sức, gia sản của mình vào ngôi nhà, tùy theo vùng miền, tùy theo yếu tố địa lý mà nhà Việt mang những nét khác nhau

Vùng đất Cần Đước, Long An là nơi có truyền thống lâu đời với những nét đẹp mang giá trị văn hóa to lớn của những lưu dân người Việt đi khai hoang lập ấp Ở vùng Cần Đước nói chung và vùng Long Hựu nói riêng có nhiều ngôi nhà cổ nhưng chưa có ngôi nhà nào còn nguyên vẹn và lưu giữ được nhiều nét đẹp truyền thống như nhà Trăm Cột Nhà Trăm cột là một sự phối trộn, dung hòa nét kiến trúc, điêu khắc và mỹ thuật đặc trưng của dân tộc và sự hòa quện, ảnh hưởng của phương tây

Đã hơn một trăm năm qua, ngôi nhà trăm cột ở huyện Cần Đước, Long

An – một di sản văn hóa cấp Quốc gia đang chống chọi với mưa nắng và đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại lấn chiếm của con người Chính vì thế nghiên cứu khoa học để bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị của di tích nhà trăm cột là một yêu cầu bức thiết của khoa học xã hội nhân văn và cũng là nhiệm vụ của người sinh viên yêu khoa học do đó chúng tôi chọn đề tài “Kiến trúc và mỹ thuật nhà Trăm cột” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Những ngôi nhà cổ truyền thống của Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như Kiến Trúc,

Trang 4

Khảo cổ học, Văn hóa học, Dân tộc học, Sử học, Mỹ thuật, Qua nhiều thế hệ nghiên cứu đã có nhiều công trình ra đời, mang trong mình những kiến thức quý giá cung cấp cho người nghiên cứu nhiều tư liệu quý, quá trình nghiên cứu nhà cổ cũng làm nên tên tuổi nhiều học giả lớn với nhiều tác phẩm tiêu biểu mang giá trị khoa học rất lớn như:

Ngô Huy Huỳnh ( 1986), “ Lịch Sử Kiến Trúc Việt Nam”, NXB Xây dựng; Nguyễn Khởi ( 1991), “ Kiến trúc Việt Nam các dòng tiêu biểu”, Đại học

KT TPHCM; Võ Đình Diệp, Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Hữu Thái ( 1984), “Nhà

ở nông thôn Nam Bộ”, NXB TPHCM, Nguyễn Khắc Tụng ( 1996), Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam tập 1,2”, NXB Xây Dựng; Nguyễn Đức Thềm ( 2000) “ Góp phần tìm hiểu bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam”, NXB Xây dựng,

Về Mỹ thuật có: Chu Quang Trứ ( 2003), “ Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam”, NXB Mỹ thuật; Trần Lâm Biền ( 2001), “ Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt” NXB VHDT,

Về liên ngành kiến trúc, lịch sử và bảo tồn có các công trình như: Trần Văn Ánh ( 2005), Nhà gỗ Hội An những giá trị và giải pháp bảo tồn”, NXB Trung tâm quản lý bảo tồn di tích Hội An”, NXB Thế Giới, Hà Nội; Phan Thuận An ( 1995), “ Kiến trúc cố đô huế”NXB Thuận an,

Và còn nhiều những bài viết về nhà cổ truyền thống trên các tạp chí chuyên ngành và liên ngành như Kiến Trúc, Kiến Trúc và Đời Sông, Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, Dân tộc học, Khảo cổ học, tạp chí

di sản, ….Bản tin trùng tu di tích của trung tâm thiết kế và tu bổ di tích của Bộ Văn hóa Thông tin ( nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch)

Về nhà cổ Trăm Cột đã có một vài bài viết trên các báo và tạp chí, một

số kênh truyền hình cũng thực hiện nhiều đoạn phim về ngôi nhà này Việc nghiên cứu nhà trăm cột bắt đầu vào những năm đầu của thập niên 80, với những cuộc điền dã tham quan của giới nghiên cứu để hoàn thành hồ sơ công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia Trong tạp chí khảo cổ năm 1998 có 1 bài viết của Nguyễn Hữu Công và Huỳnh Anh Tuấn, Nhà Trăm Cột, Cần Đước –

Trang 5

Long An Nội dung chủ yếu là khảo tả một số nét độc đáo về kiến trúc và mỹ thuật trong ngôi nhà và giới thiệu sơ nét về chủ nhà

Ngoài ra trên các báo Tuổi trẻ, Vnexpress, Dân trí, cũng có một số bài đăng, nhưng cũng chủ dừng lại ở mức giới thiệu về ngôi nhà Đồng thời có 1 số đoạn phim, phóng sự do các kênh truyền hình thực hiện, cũng chỉ dừng lại ở giới thiệu như các báo

Với lòng trân trọng và biết ơn vô cùng đối với các bậc học giả đi trước

đã để lại những kiến thức vô cùng quý giá Nhóm Tác giả sẽ tiếp thu có chọn lọc và ứng dụng nó vào công trình nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích: Đề tài được thực hiện với mục đích chính là lưu giữ lại những giá trị truyền thống về lịch sử văn hóa của nhà cổ Trăm cột qua đó có thể giũ gìn, phát huy và bảo tồn những giá trị đó, nó góp phần cho công cuộc phục dựng nhà cổ sau này cũng như làm rõ hơn về những giá trị quý giá mà nhà cổ trăm cột đang lưu giữ trong mình

Nhiệm Vụ: - Khảo sát ngôi nhà cổ Trăm cột

- Khảo tả, đo đạt, phỏng vấn lấy tư liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu về bối cảnh lịch sử và chủ nhân của ngôi nhà

- Nghiên cứu làm bật lên những giá trị về mặt kiến trúc và

mỹ thuật của ngôi nhà trong bối cảnh của nhà cổ ở Nam bộ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thưc hiện công trình nghiên cứu này ngoài sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhóm tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử, phương pháp nghiên cứu khảo cổ học, điền dã, khảo sát, nghiên cứu thực trạng hiện trường ngôi nhà, phương pháp kiến trúc, phương pháp điều tra dân tộc học, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp mỹ thuật, phương pháp kỹ thuật: đo, vẽ, chụp ảnh, , ngoài ra còn sử dụng phương pháp logic và thống kê

Trang 6

5 Giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về ngôi nhà Trăm cột ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An từ đó so sánh đối chiếu với loại hình nhà ở truyền thống ở một số tỉnh của Nam bộ như Đồng Nai…

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài sẽ nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề về kiến trúc và mỹ thuật của ngôi nhà, làm sáng tỏ ý nghĩa và vai trò của nó với nhà ở Nam bộ cũng như nền

mỹ thuật Việt Nam, đi sâu vào giải thích, chứng minh và nêu lên ý nghĩa của các đồ án hoa văn, cũng như giá trị của ngôi nhà từ đó góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy gía trị của nhà trăm cột qua đó góp phần vào sự phát triển chung của việc bảo tồn di tích trên cả nước

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt lý luận: nghiên cứu nhà cổ trăm cột nó góp phần làm sáng tỏ thêm những nét độc đáo của nhà cổ ở nam bộ nói chung và vùng tây nam bộ nói riêng Qua những nét độc đáo của nhà trăm cột có thể liên hệ với những ngôi nhà cổ ở miền trung hay miền bắc, qua đó làm phong phú, sáng tỏ thêm về nhà cổ Việt Nam

Về thực tiễn: trong thời điểm hiện nay các ngôi nhà truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một và mất dần, xuống cấp nhà trăm cột cũng không ngoại lệ Với xu hướng phát triển của những ngôi nhà hiện đại thì những giá trị truyền thống của nhà cổ đang dần bị thay đổi Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhà cổ Trăm cột là góp phần làm phong phú tư liệu cho việc bảo tồn, tu bổ và phát huy các giá trị nhà Trăm cột

Ngoài ra với những đóng góp ban đầu về mặt nghiên cứu của đề tài cho thể sử dụng tham khảo cho việc nghiên cứu nhà cổ truyền thống của người Việt

ở vùng Nam bộ

8 Kết cấu của đè tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, danh mục tài liệu tham khảo Công trình chia thành 3 chương và 8 tiết

Trang 7

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NHÀ TRĂM CỘT

1.1 Chủ Nhân

Năm 1901, chàng trai Trần Văn Hoa, khi ấy là thanh niên 22 tuổi được cha mình gọi là dạy việc, cha anh là một hương sư của làng Long Hựu, ông Trần Văn Nhơn, giàu có nổi tiếng khắp vùng là người có công vô cùng lớn trông việc dựng làng lập ấp ở Long Hựu Ông Trần Văn Nhơn đã truyền đạt ý định của mình cho con trai là muốn xây dựng một ngôi nhà theo nếp truyền thống của tổ tiên, nhưng do tuổi cao sức yếu nên không thể làm được đành nhờ vào con trai Theo như ý nguyện của cha, Trần Văn Hoa tiến hành xây dựng ngôi nhà và là chủ nhân đầu tiên của Nhà Trăm Cột

Ông Trần Văn Hoa sinh năm 1879 người làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn ( nay là xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long an ), Cha là ông Trần Văn Nhơn, mẹ là bà Tô Thị Vân Tổ tiên ông Trần Văn Hoa vốn là người làng Nhật Tảo bên kia sông Vàm Cỏ, gia đình ông có công bà nội là ông Cử và bà Thanh Hiếu ( Maria Thanh Hiếu) theo đạo Thiên Chúa, là một “con chiên ngoan đạo” nhưng vì thời cuộc, thời bấy giờ Vua Minh Mạng đang ra các sắc lệnh đàn áp và giết hại người dân theo đạo Thiên Chúa kèm theo đó là nhiều chính sách cấm đạo khắc nghiệt, Gia đình ông vẫn theo đạo nên bị đàn áp, Ông nội ông là ông Cử bị chém đầu tại làng Nhật Tảo, được người dân chôn cất và thờ cúng, Bà nội ông là cụ Thanh Hiếu vì sợ bị sát hại đã dẫn các con vượt sông Vàm Cỏ qua làng Long Hựu để định cư sinh sống nhằm trốn sự bắt bớ của triều đình, sang bên làng Long Hựu dựa vào vốn tài sản vốn có, cụ Thanh Hiếu đã cho người khai hoang lập làng và tạo nên một gia sản đồ sộ, sau khi cụ Thanh Hiếu mất được con cháu chôn trong khu nghĩa trang dòng họ gần ngôi nhà, theo quan sát của nhóm tác giả, mộ cụ Thanh Hiếu cũng là một công trình đồ sộ được làm hoàn toàn bằng đá xanh và điểm đặc biệt là ngoài bia mộ chạm khắc tên tuổi bằng chữ hán nôm thì còn có những chi tiết trên bức bình phong hậu lại chạm cây thánh giá và khắc chữ Maria Thanh Hiếu bằng chữ quốc ngữ, mộ cụ có diện tích khoảng 3m2 với những bình

Trang 8

phong tiền, bình phong hậu, (… ), sau cụ Thanh Hiếu người kế thừa gia sản là

cụ Trần Văn Nhơn, cụ Nhơn lập gia đình có vợ bà cụ bà Tô Thị Vân, theo điều tra phỏng vấn của nhóm tác giả với gia đình chủ nhà thì được biết thời đời cụ Trần Văn Nhơn gia đình không còn theo đạo Thiên Chúa nữa, căn cứ theo bài

vị của cụ Tô Thị Vân là vợ cụ Nhơn lại là một phật tử quy y tại chùa Linh Sơn ( hay dân gian thường gọi chùa Núi, Khu di tích khảo cổ học Rạch Núi), vợ chồng cụ Nhơn nổi tiếng là người nhân đức, tài cao học rộng nhất xứ Long Hựu nên được nhân dân kính trọng Nhưng nếu nói thật sự gia đình dòng tộc đạt đến

độ giàu có tột bậc và quyền lực thì phải nói đến cụ Hoa, Ông là một người trẻ tuổi nhưng tài cao học rộng, chí lớn hơn người và là người ấp ủ nhiều ước vọng lớn, ông Trần Văn Hoa đã cho xây dựng ngôi nhà trong 5 năm ròng rã, và nó gần như là một kiệt tác nghệ thuât thời bấy giờ Theo như tìm hiểu của nhóm tác giả thì Trần Văn Hoa là người biết nhân nghĩa và đối đãi vô cùng khôn khéo, bên ngoài ông qua lại với quan tây, nhận các chức phận do quan tây ban phát nhưng bên trong ông lại đào hầm nuôi giấu nghĩa binh, có một giả thuyết

là ông đã đào một con đường hầm từ nhà thông ra kinh nước mặn để cho nghĩa quân ẩn náo và chiến đấu chống pháp, mặc khác ông là người nhân đức hay giúp đỡ những người nghèo khổ nên người dân vô cùng kính trọng, chính vì vậy trong những năm kháng chiến ác liệt, bom rơi đạn lạc nhưng nhà ông Hoa vẫn không bị tổn hại do những chính sách khôn khéo của ông Năm 1952, ông Trần Văn Hoa mất, con ông là cụ Trần Văn Miên không theo nghiệp cha nên gia bình bắt đầu xuống dóc

Ông Trần Văn Miên tự Đô là con ông Trần Văn Hoa sinh năm 1903, Ông Miên có thể gọi là người giàu có từ “trong trứng nước” vì khi ông ra đời nhà cửa đã huy hoàng, gia đình thì giàu có bậc nhất xứ không ai giàu bằng, nhưng ông Trần Văn Miên không theo nghiệp cha và không khôn khéo dung hòa như cha nên gia đình dần xuống dóc, thời bấy giờ ông Miên cũng đảm nhận chức Hội Đồng nhưng không quyền lực và uy thế như cha mình, Ông Miên lấy vợ là cụ bà Cao Thị Đến, sinh ra hơn 10 người con, đến năm 1976 ông Trần Văn Miên mất, để lại gia sản cho các con, nhưng khi ông mất gia đình

Trang 9

càng túng quẩn bởi chế độ đã thay đổi nước ta đã đi theo xã hội chủ nghĩa và không chấp nhận địa chủ, ruộng đất ông bị tịch thu và chia cho dân nghèo, thời

kỳ hoàng kim của dòng họ Trần chấm dứt

Đời thứ ba kế tục ngôi nhà là ông Trần Văn Ngộ là con út của ông Trần Văn Miên và bà Cao Thị Đến, Ông Ngộ sinh năm 1946, khi ông sinh ra thì gia đình vẫn còn giàu có, nhưng tới khi ông chính thức tiếp quản gia sản thì vì những lý do lịch sử nên gia đình ông cũng như bao nhà khác, là những công dân bình thường của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Ông Ngộ đi theo con đường bút nghiêng, với vốn dĩ là một người thông minh ham học và ông đã

cố gắng bằng chính năng lực mình là đi theo nghiệp “ gõ đầu trẻ”, ông Ngộ làm tới hiệu trưởng trường THCS Long Hựu Đông năm 2010, khi đang hướng dẫn đoàn thanh tra viện kiểm sát tỉnh và huyện xuống tham quan nhà và khi nhắc tới chuyện nhà bị lấn chiếm bất chợt ông xin thoái lui vì mệt và ngã quỵ xuống

đó qua đời, câu chuyện thật đau lòng cho một người thầy, một người giữ gìn ngôi nhà quý giá Ngôi nhà được công nhận là di tích quốc gia trong khi ông Ngộ đang cai quản năm 1997 Sau khi ông mất, vợ ông là bà Trần Thị Ngỏ cũng là một giáo viên hưu trí tiếp quản và bảo vệ, gìn giữ ngôi nhà cho đến ngày hôm nay

1.2 Quá Trình Xây Dựng Ngôi Nhà

Năm 1901, thể theo ý nguyện của cha mình, Chàng trai Trần Văn Hoa

đã khăn gói lên đường ra tận đất kinh kỳ xứ Huế để thăm thú cung điện lầu đài

và mời những người thợ về xây dưng ngôi nhà, ông đã mời 15 nghệ nhân người Huế vốn là người làng mộc Mỹ xuyên về xây dưng ngôi nhà

Làng mộc Mỹ Xuyên (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên- Huế) tồn tại từ hơn 200 năm qua Những công trình kiến trúc chạm khắc lộng lẫy từ thời nhà Nguyễn còn tồn tại đến ngày nay, như hệ thống di tích các kiến trúc gỗ ở Huế, nhà rường cổ ở làng cổ Phước Tích, hay các đình, chùa, miếu,

vũ ở nhiều vùng đất miền Trung đều do những người thợ mộc Mỹ Xuyên góp sức tạo nên Làng mộc mang trong mình những giá trị truyền thống và còn

Trang 10

được lưu giữ đến ngày hôm nay, ngày xưa khi nhắc đến chạm khắc Huế là không ai không nhớ đến làng Mỹ Xuyên, làng nghề tồn tại 200 năm và đã xây dựng nên bao công trình vĩ đại Năm 1901, 15 nghệ nhân Mỹ Xuyên ( Huế) theo ông Trần Văn Hoa lặn lội dặm dài vào trong nam để xây dựng ngôi nhà trăm cột trong suốt năm năm Ngày nay, thương hiệu mộc Mỹ Xuyên vẫn nức danh trên thị trường và được đông đảo người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, sử dụng

Theo điều kiện tự nhiên thời bấy giờ thì vùng Long Hựu là vùng đất ngập nước chỉ toàn những cây lao, bụi rậm, không có những cây gỗ quý, to lớn nên việc sử dụng vật liệu tại chỗ là vô cùng khó khăn và buộc ông Hoa phải đi khắp nơi để tìm các loại danh mộc về xây dựng nhà Thời bấy giờ vùng Tân Uyên, Bình Dương nổi tiếng với các loại danh mộc như: cẩm lai, gõ đỏ, gõ mun và cả gỗ tech một loại gỗ quý Nên ông đã lặn lội tận nơi tìm mua cho được những danh mộc về xây dựng nhà, từ vùng Long Hựu lên tới Tân Uyên cũng ngót hơn 100km nên việc vận chuyển đường bộ là không thể được, nên ông Hoa đã chọn việc vận chuyển đường sông, từ Hồ Dầu Tiếng mon theo các con sông về tới làng Long Hựu Thời đó, người dân ai cũng bất ngờ về sự chuẩn bị của ông Hoa, người ta tưởng chừng như ông đang dự định xây một cung điện nguy nga hay một kinh thành tráng lệ

Tại vùng Long Hựu cũng không có sản xuất gạch ngói tốt theo yêu cầu của ông Hoa nên ông đã lên tận vùng Biên Hòa, vốn nổi danh với nghề làm đồ gốm, gạch ngói, ông mua toàn bộ ngối âm dương và gạch Da Qui, cũng như gạch thỏi để xây dựng móng nhà Tất cả công việc vận chuyển đều được thực hiện bằng đường sông

Khi chọn vị trí xây ngôi nhà ông đã nhờ các thầy địa lý về xem và ông xây nhà theo hai cửa, một cửa chính quay về hướng tây Bắc theo phù hợp với bổn mạng ông, cửa phụ thứ hai ngay chỗ tụ nước của con kinh Nước Mặn phù hợp với thế thủy tụ của thuật phong thủy

Thời đó, 15 người nghệ nhân Huế đã ở ròng rã nhà ông Hoa suốt 5 năm

để xây dựng, một thời gian tương đối lớn đê hoàn thiện một kệt tác như vậy

Trang 11

có dạng hình lá sách được cố định bởi hai trụ cột bằng bê tông, phía trên có tấm bảng bằng thiếc ghi rõ là “Nhà Trăm Cột”, đường dẫn vào nhà được đổ bê tông Xung quanh nhà là nhiều kênh rạch và ao hồ và mọc rất nhiều bụi Dừa Nước, một loại cây đặc trưng của vùng đất Tây Nam Bộ Nhà được xây dựng trên nền đất cao cách mặt đất khoảng 90cm Phía trước sân nhà là khoảng đất rộng trồng cây cảnh và cây ăn trái như xoài, cây cau, cây sứ, tiếp đến là hồ nước khá rộng trước nhà, có thể đây là yếu tố phong thủy được ông Trần Văn Hoa tạo ra… Phần sân sau có chứa củi đốt và những mảnh gói đã hư trên nền được làm bằng

đá có trát vữa, cuối cùng là nhà vệ sinh mới được xây để phục vụ khách tham quan Mặt sân có trồng cây mãng cầu, cây me Phần lãm lúa phía sau đã được

dỡ bỏ từ lâu, giờ chỉ còn lại nền móng

2.1.2 Bố trí mặt bằng nhà

Nhà được bố trí theo dạng mặt bằng hình chữ Đinh (J) có 3 gian 2 chái đôi chạy suốt gồm hai phần: phần trước và phần sau, ở giữa nhà là một sân nhỏ hình vuông khoảng 36m2, sân nhỏ đó được gọi là sân Thiên Tỉnh dùng để lấy ánh sáng và thoát hơi toàn ngôi nhà, phần sân này nay được đặt hai hàng lu lớn chứa nước ngọt Phần trước (không kể hai chái) có không gian ngoài là phòng khách, các gian giữa bên trong để thờ tự (nội tự, ngoại khách), hai chái bên là

Trang 12

buồng ở sinh hoạt và dùng để đồ lặt vặt Phía sau nhà chính là kho và lẫm lúa, hiện đã đổ nát chỉ còn lại nền

2.1.3 Kết cấu vì kèo, gian, chái

Nhà Trăm Cột ở Cần Đước tỉnh Long An được kết cấu theo dạng nhà rường hay còn gọi là nhà xuyên trính, đâm trính hay nhà chày cối… có hai mái

và hai chái Loại nhà này có nguồn gốc từ những di dân người Việt của thời kỳ đầu khai phá chủ yếu là người dân ở xứ Ngũ Quảng hay nói khác hơn là xứ Huế, nó mang đậm chất Huế nhưng có pha lẫn với chất Nam Bộ do người xây dựng là những người thợ làng Mỹ Xuyên và người tổng công trình sư ngôi nhà này là ông Trần Văn Hoa, nên nó có chút biến thiên cho phù hợp với điều kiện

tự nhiên và văn hóa của vùng đất Nam bộ

Đặc trưng của kiểu nhà này là vì kèo xuyên trính, có hai hàng cột cái hay cột hàng nhất bố trí hai bên đòn dông (ở Quảng Nam gọi là đòn đông), tạo

ra một khoảng rộng giữa nhà cùng với hai hàng cột hàng nhì, hàng ba ở hai phía trước, sau và thường có thêm hàng cột hiên trước mặt nhà Chính vì vậy, kiểu nhà này có nhiều ưu điểm là có khoảng không gian dọc giữa nhà được nới rộng hơn và có tác dụng chịu lực tốt (còn được gọi là “rộng lòng căn”) nhờ hai hàng cột cái của nhà dời qua hai lòng nhà (còn gọi là cột hàng nhất, “tiền – hậu”), không bị chật hẹp không gian như kiểu vì kèo cột giữa (còn gọi là nhà nọc ngựa) Có được điều đó là do kỹ thuật của vì kèo xuyên trính (vì kèo là bộ phận kết cấu trong bộ khung nhà truyền thống Việt Nam, có dạng hình tam giác cân để đỡ hai mái dốc về hai phía Vì kèo cùng với các cột trong cùng mặt phẳng tạo thành bộ phận chính của khung nhà, hai vì kèo liên tiếp được nối bởi các thanh vuông góc với mặt phẳng vì tạo thành gian của nhà Nhiều gian nhà

sẽ tạo nên không gian nhà Trong hình tam giác của vì kèo thì cạnh đáy là xà ngang, cạnh nghiêng là thanh kèo Các hoành (xà gồ) đặt vuông góc trên thanh kèo là kết cấu chinh đỡ mái dốc (qua các lớp đệm gồm có rui, mè…) với trụ chống nóc là một hình thức phát triển của vì kèo cột giữa Do vì kèo xuyên trính đã áp dụng nguyên lý kỹ thuật cột giữa được thay thế bằng một trụ ngắn

Trang 13

nằm trên một thanh trính nối hai cột nằm liền kề ở phía trước và phía sau Với

kỹ thuật này, trụ đã đóng một vai trò kết cấu quan trọng như cột giữa Điều đó, chứng tỏ việc duy trì hình thức truyền thống sử dụng vì kèo cột giữa thì đã có những thay đổi cho phù hợp và thuận tiện hơn cho sinh hoạt của người sử dụng Hai hàng cột cái gồm 8 cột nên dạng sườn nhà được gọi là nhà bát trụ hoặc nhà bát dần1 Vị trí các cột được định theo hướng tây đông, tiền hậu Từng cập cột cái được nối liền với nhau từng đôi theo chiều sâu nhà và được nêm cứng bằng một thanh gỗ xuyên ngang gọi trính Một cột đội hay một cây trụ được gắn vào giữa mặt trên của trính gọi là cây trổng Đầu cây trổng có gắn cánh dơi (ấp quả) đỡ hai đầu kèo và đòn dông nóc nhà 2 Nơi tiếp giáp giữa cây trính và cây trổng là bộ chày cối tượng trưng cho âm dương hòa hợp (có dạng hình của sinh thực khí) nên nhà còn gọi là nhà trính trổng hay nhà chày cối

Cột cái và cột quân: Nhà Trăm Cột có cấu trúc cột, tường gạch bao

quanh với liên kết cấu gỗ độc lập Tổng số cột hiện có là 120 cột, trong đó có

68 cột tròn và 52 cột vuông tất cả đều làm bằng gỗ, nhưng đã tu sửa hàng cột ở hàng ba (cột hiên) đổi chất liệu cột gỗ thành cột xi măng gắn gạch men Nhà có bốn hàng cột bốn cột cái ở giữa nhà được làm bằng gỗ gõ mật màu đen bong,

có một đầu làm nhỏ hơn so với chân cột Chân cột kê đá tảng xanh chống lún được đặt chìm dưới nền nhà, phần trên được đục vuông vắn xung quanh chân cột nhô cao lên so với nền gạch của nhà Tám cột cái ở trung tâm của nhà mang một ý nghĩa đặt biệt gọi là “Bát Trụ” biểu thị cho sự vững chắc mãi mãi theo thời gian, tám cột cái chia nhà thành 3 gian 2 chái đôi hay 5 gian 2 chái

Khung nhà được thiết kế bằng hệ thống cột gỗ và tường gạch được xây cùng với việc đặt chân tảng và dựng 4 cột gỗ trung tâm để chịu lực rồi mới đến việc lắp đặt các cấu kiện còn lại trong ngôi nhà

Cột hiên: có 8 cột, hiện nay đã được tu sửa thành cột xi măng Có 4 trụ

cột hình vuông được gắn gạch men có tác dụng chính là đỡ mái hiên còn có 4

Trang 14

trụ có tiết diện hình vuông nằm dưới tường hành lang cũng có tác dụng đỡ mái hiên

Kèo: Theo trình tự dựng nhà khi cố định xong hệ thống cột là đến việc

đặt các thanh kèo, kèo là kết cấu giữ vai trò nối đầu các cột cái và cột quân, kèo được phân đoạn theo các khoảng của cột Tại đầu cột, có mộng liên kết với phần dưới của kèo Ở mỗi đầu kèo có lá dung vươn dài làm nhịp cầu nối giữ các đoạn kèo kế tiếp theo kiểu gối đầu tạo tính liên tục đảm bảo sự vững chắc, được gọi là dạng hình thức “kèo chồng” Kèo từ hàng cột cái chạy dài đến cột nằm ở tường gạch phía trước và nối thêm một đoạn kèo chồng từ cột này ra đến cột hiên Hệ thống kèo để trơn, nhưng ở phần kèo từ đầu cột nối ở tường gạch đến cuối đầu kèo cột hiền có trang trí hoa văn “ dây lá hóa long”, “tùng lộc” Phần nóc tam giác – nơi giao nhau của 2 đầu kèo được đặt đòn dông nói tám đầu kèo của hai mái Như vậy, đây là kết cấu vì nóc tam giác có hình thức bộ chày – cối chống trực tiếp vào hai thanh kèo đặt dưới cây trính

Kèo Hiên: là cây kèo ngắn nằm ngoài hiên, đầu kèo được gắn vào đầu

cột gỗ (cột cửa có vách gạch), gối lên đuôi kèo nhì để đỡ lấy mài hiên, đuôi kèo đặt chìm vào xuyên qua cột hiên bằng gỗ(hiên nay đã thay bằng cột xi măng gắn gạch mem) để lộ phần đuôi kèo có hoa văn hình “dây lá hóa long” và thâm kèo được chạm chỗ rất độc đáo

Trính: Sau khi dựng bốn hàng cột cái đầu tiên người ta bắt đầu lắp các

thanh trính để liên kết tám cột cái của gian trung tâm này lại với nhau Nhà Trăm Cột có 4 thanh trính, cây trính có hình cách dơi hơi cong lên phía trên Trên thân cột được đục mộng để xuyên trính, ở đầu của trính cũng có lỗ mộng

để đóng chốt sau khi đã lắp trính vào cột Ở giữa thanh trính và dười chỗ giao nhau của hai đầu kèo có một cấu kiện được gọi là bội chày – cối (trống – cối) vừa để đỡ đầu nối của hai thanh kèo trên đỉnh nóc chống xuống thanh trính vừa mang ý nghĩa dân gian là âm (cối) dương (chày) hòa hợp, hay theo một số nhà nghiên cứu đó là kiểu Linga và Yoni, một tín ngưỡng phồn thực của cư dân Việt cổ và cư dân Chăm

Cây đà xuyên (xà ngang) nối hai hàng cột cái theo chiều ngang được lắp

Trang 15

để cố định khung nhà Hệ thống cây xuyên bao quanh bốn cột chia thành 3 đoạn tương ứng với 3 gian Cây xuyên để trơn không trang trí hoa văn Hai hàng cột cái chia mái nhà thành hai phần bằng nhau, đây cũng là điểm giao nhau giữa các vì kèo mái trước và mái sau

Đòn dông: có tiết diện vuông bằng với tiết diện của hoành là 10 x 10 cm,

đặt trên chỗ giao nhau (giao nguyên) của hai đầu kèo

Đòn tay (Hoành): Sau khi lắp kèo là đến việc đặt đòn tay Nhà Trăm

Cột đòn tay có tiết diện vuông 10 x 10 cm được đặt ở trên kèo, vuông góc với kèo và được chia ra thành các khoảng đặt đòn tay đều nhau Việc lắp đặt các thành đòn tay cũng có tác dụng giống như các thanh xà ngang giúp liên kết các đầu cột không bị xê dịch khỏi vị trí ban đầu Có nhiều trường hợp đòn tay và xà liên kết đầu cột là hai kết cấu nhưng trong trường hợp nhà Trăm Cột cây xà ngang nối các hàng cột cái theo chiều ngang nhà còn cây xà liên liên kết đầu cột chính là đòn tay, hai bộ phận này được kết hợp thành một kết cấu

Rui: Sau khi đặt đòn tay là công đoạn đóng rui Rui là những thanh gỗ

vuông dài được đóng trên đòn tay để đở mái Các thanh rui đóng xuôi theo chiều nghiêng của mái, vuông góc với đòn tay Việc đóng rui nhằm mục đích

có định chắc chắn hơn vị trí những thanh đòn tay nằm trên kèo và quan trọng hơn nó là kết cấu trực tiếp đỡ lấy những viên ngói âm dương

Gian: Nhà được chia thành 3 gian 2 chái đôi gồm chái thượng chái hạ,

hay theo một số nhà nghiên cứu thì nó được chia thành 5 gian 2 chái, giống như những nhà truyền thống khác gian nhà được chia theo các khoảng của cột Không gian nhà được phân chia theo dạng “nội tự ngoại khách” Phần nội tự ở gian giữa được đặt 3 bàn thờ Bàn thờ gian giữa là nơi thờ ông Trần Văn Nhơn, bên phải đặt bàn thờ ông Trần Văn Hoa, bên trái là bàn thờ ông Trần Văn Miên Phần ngoại khách ở gian trung tâm là bộ trường kỷ, hai gian bên đặt ván ngựa

và bộ bàn ghế gỗ gõ đỏ dùng để tiếp khách Phía trước bộ bàn ghế có một bộ bàn tròn thường được dùng để tiếp khách từ xa đến thăm Buồng ngủ được ngăn cách bởi vách ván phía sau hai gian bên phần nội tự phái trên vách ván có trang trí bao lam và có vách lá gió, phần phía trên của cây xuyên, và phía trên

Trang 16

gian thờ có một căn gác đây là điểm rất độc đáo của ngôi nhà, nhưng hiện tại

do nó không còn phát huy được công năng của mình nên đã bị tháo dỡ nay chỉ còn lại cửa hai ô cửa để vào căn gác

Buồng ( phòng ngủ): là khoảng không gian của chái thượng hai bên nhà,

cửa buồng hình vòm chạm khắc tinh xảo, có vách lá gió được chạm khắc tỉ mỉ, phía dưới cửa buồng có thanh xà chạy qua Cửa buồng là dạng cửa lùa theo kiểu Nhật Bản, nhưng bây giờ buồng không còn được sử dụng nữa nên những cửa đó được đóng cố định, không mở được

Hiện tại vì nhiều lý do và muốn thuận tiện trong sinh hoạt các kiến trúc bên trong nhà đã thay đổi rất nhiều, bên chái hạ bên phải ngôi nhà không còn được sử dụng, chỉ dùng làm kho chứ đồ đạc và đang bị xuống cấp nghiêm trọng các vì kèo, cột và nền lát gạch đã bị mục nát, mối mọt, còn chái hạ bên trái được sử dụng làm nên sinh hoạt chính của ngôi nhà, bên chái hạ bên trái có đặt

1 bộ ván, và 1 bàn thờ Phật được chủ nhà thờ phụng sau này

2.1.4 Mái, tường và cửa

Mái ngói: ngói lợp nhà ở Trăm Cột là loại ngói âm dương được lợp từ

thấp lên cao dọc theo kèo và năm trên xà ngang, ngói được lợp ba lớp trong đó

có lớp ngói “thí” và hai lớp ngói chính Ngói được làm từ những lò sản xuất gốm ở Biên Hòa nổi tiếng bền và đẹp từ thế kỷ XVIII, XIX và hiện nay vẫn còn tồn tại Mái ngói âm dương có dải ngói nhô lên thẳng hàng chạy dọc theo mái và xen kẽ nhau theo chiều của cây kèo nhà Trong quá trình lợp mái những người thợ cần phải rất khéo léo vì ngói rất dễ bị trượt vỡ Hệ thống đòn tay, rui,

mè đã tạo nên một giá đỡ mái ngói rất chắc chắn Sau khi lợp xong mái, các viên ngói của phần mái trước và mái sau được cố định bằng một gờ xi măng nhô cao lên trên đỉnh nóc tạo thành một dải ngang cứng cáp, hai bên đầu hồi của mái và phần diềm mái cũng được xây cố định bằng vữa xi măng

Ở hai đầu hồi của nhà được trang trí hình dáng cách điệu “ cá hóa long” quay đầu về hai phía và trên nóc mái xây đắp xi măng hai hình mang dáng hai con cá quay đầu vào nhau

Trang 17

Tường: các vách tường gạch trát vữa dày 150 cm được nối với nhau

thông qua các hàng cột ngoài cùng (trừ cột hiên) và bao bộc xung quanh tạo nên không gian kín, chịu lực cho ngôi nhà Mặt đứng nhà được thiết kế theo kiểu ba gian, các cột ngoài tiếp xúc với bức tường đều là cột gỗ vuông mực (trừ hàng cột phía trước) Lan can của hành lang hiên được xây bằng gạch lỗ hoa mới, mặt đứng nhà được quét sơn vôi trắng Móng nền được làm từ đá ong trát vữa Những vách bên trong để ngăn giữa chái thượng chái hạ là vách gỗ, những vách ngăn các căn buồng cũng được làm bằng gỗ quý

Cửa: Cửa nhà chính bao gồm ba hệ cửa bằng gỗ được thiết kế theo ba

gian nhà Phần khung cửa có dạng hình chử nhật, cửa lá sách được gắn cố định Phần dưới, một nửa trên là cửa lá sách, một nửa dưới là đố bản, hai cánh cửa

mở ra ngoài Chỉ có một cửa ở gian chính và 2 của ở hai chái đều có kích thước bằng nhau Ở mặt phía Nam và Bắc, có một của bằng gỗ có dạng hình chữ nhật, cửa lá sách với bốn cánh cửa mở ra ngoài và được gắn cố định Ở mặt phía Đông, có bảy cửa làm bằng gỗ và có dạng hình chữ nhật, cửa lá sách được gắn

cố định

Cửa sổ: Có tất cả 13 cửa sổ trổ hai bên nhà chính, nhà sau và nhà bếp

Cánh của có dạng lá sách và có song sắt, cánh cửa mở ra ngoài

Như vậy, nhà Trăm Cột là một di tích kiến trúc nghệ thuật dạng kiến trúc dân dụng có sự pha trộn giữa các yếu tố Đông và Tây, là ngôi nhà truyền thống có mặt nhà theo phong cách nhà ở của người Việt ở Miền Nam tô lên một dáng vẻ cổ kính, quyền quý cảu tầng lớp có quyền thế, giàu có và cũng là Hương sư, thành viên của Hội đồng Quản Hạt Chợ Lớn hồi đầu thế kỷ XX Tính đến nay, ngôi nhà được xây từ những năm 1901 – 1903 đến nay cũng đã hơn 100 năm tồn tại Ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn dáng vẻ ban đầu của thời xưa, tuy đã có những chi tiết, bộ phận đã xuống cấp theo thời gian nhưng thật may mắn khi chảy qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ ngôi nhà chưa từng bị bom rơi đạn lạc lần nào Đây là là một ngôi nhà có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn và được nhóm thợ miền Trung (Mỹ Xuyên) thực hiện nên mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế và giống với các ngôi nhà cùng loại ở Trung

Trang 18

bộ, Bắc bộ Tuy nhiên, vì làm theo đơn đặt hàng và theo ý muốn của gia chủ nên nó pha nhiều nét tiểu dị, đặt biệt là các yếu tố đại phương phương Nam Ngôi nhà còn thể hiện nổ lực tìm tòi, học hỏi và biết bao cố gắng, những hoài bào, ước mơ và tâm tư tình cảm của ông Trần Văn Hoa gửi gắm vào đây, đồng thời cũng thể hiện sở thích và óc thẩm mỹ của gia chủ khi quyết định dựng ngôi nhà này

Ngày nay, ngôi nhà là niềm tự hào của con cháu gia chủ, là nơi bảo lưu những giá trị đạo đức, phong tục tập quán của dân tộc cho các thế hệ mai sau Hơn thế nữa, ngôi nhà là một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật vô cùng độc đáo và tiêu biểu của tỉnh Long An nói riêng Nam bộ nói chung mang dấu ấn văn hóa, lịch sử những năm đầu thế kỷ XX

3

TS.KTS Nguyễn Đình Thi (2011), Kiến trúc nhà ở nông thôn, NXB Khoa học Kỹ Thuật Hà Nội,

Tr74 – 75

Trang 19

Tân Uyên – Bến Cát, chọn những loài cây thân gỗ quý như: gõ đỏ, gõ mật, mun, thao lao, cẩm bông, cẩm lai, trắc, giá ty Trong đó đặt biệt là giá ty được mệnh danh là “vua gỗ” được ông ưu tiên tìm với số lượng nhiều nhất, đích thân ông chọn những cây lớn nhất, dài nhất rồi cho người hạ nguyên cây, lọc phần vỏ và phần có thể mục bên ngoài, chỉ còn lõi rồi phơi khô Có được gỗ đúng theo yêu cầu thì công việc khó khăn hơn là vận chuyển gỗ về đến nhà để xây dựng, đó là công việc không dễ dàng khi phải vận chuyển một khối lượng lớn gỗ vượt gần

100 km trong điều kiện thời đó là vô cùng gian nan Ông Trần Văn hóa đã cho thả gỗ lên bè xuôi hệ thống sông Sài Gòn về đến nhà mình thành công Điều đó cho thấy tâm huyết và trí lực tài hoa của gia chủ để thực hiện hoài bảo xây dựng công trình nghệ thuật nhà rường của mình

Những cây gỗ có chất lượng tốt nhất như gỗ gõ mật được chọn làm các cột cái và các loại gỗ khác sẽ được lựa chọn để làm bao lam, bàn ghế, kèo, xà ngang, trính, khung nhà…

2.2.2 Gạch nền, đá trụ, ngói lợp

Gạch nền: được lựa chọn tỉ mỉ, có xuất xứ từ các lò gạch, lò gốm từ

Biên Hòa Gạch tàu có dạng hình lục giác ( hay còn gọi là gạch Da Quy) kết dính với nhau bằng vữa tam hợp, có kết cất bền bỉ và kiểu dáng đẹp đáp ứng phù hợp với yêu cầu của gia chủ khi dùng để lát nền tạo nên không gian cổ kính và nghệ thuật thẩm mỹ cao Ngoài gạch lát nên còn có gạch để xây vách tường và được kết dính bằng vữa Gạch dùng để xây là loại gạch đặc, rất chắc chắn được dùng để xây móng và tường nhà

Đá: có hai loại, một loại đá xanh được vùng để làm đá trụ đỡ cột nhà ( chân kê tảng) và được trang trí có dạng hình vuông Một loại còn lại là đá tảng (đá ong) được dùng để làm nền móng cho ngôi nhà Cả hai được lấy từ một số ngọn núi ở vùng Biên Hòa (Biên Hòa đầu thế kỷ XX)

Ngói lợp: được gia chủ chọn lò gạch có uy tín nhất ở vùng Biên Hòa rồi

đặt nung, ngói được chọn là loại ngói liệt (loại ngói dành riêng để lợp nhà rường)

Trang 20

Các loại vật liệu trên đều không có ở làng Long Hựu Đông mà phải đến tận Biên Hòa mới có được các vật liệu này Đích thân gia chủ đi tìm là chọn lựa tại chỗ rồi cho chế biết thành sản phẩm rồi cho người vận chuyển về, cho thấy

sự kỳ công trong việc xây dựng hết sức tâm huyết Năm 2004, mái ngói nhà hư hại nặng đã được trùng tu 60%

2.3 Mỹ Thuật Nhà Trăm Cột

2.3.1 Trang Trí Kiến Trúc

Nhà Trăm Cột là một công trình nghệ thuật đặc sắc bật nhất vùng đất Nam Bộ, nhà được chạm trổ và trang trí với nhiều cấu kiện kiến trúc khác nhau, mỗi cấu kiện đều được chạm trổ trang trí bằng những hoa văn vô cùng tinh xảo mang yếu tố tả thực cao, mỗi một cấu kiện trang trí là một tấm lòng gửi gắm vào đó bao nhiêu ước mong, hy vọng và những lời cầu chúc dành cho chủ nhân ngôi nhà, ngoài ra nó mang yếu tố miêu tả cảnh sắc, cây trái của vùng đất Nam

Bộ, đây là một nét trang trí rất độc đáo của Ngôi nhà, nó làm cho ngôi nhà mang nét độc đáo cho riêng mình

2.3.1.1 Trang Trí Bao Lam gian giữa

Hàng cột giữa gồm 8 cây chia nhà thành ba gian, hai chái đôi ( gồm chái thượng và chái hạ), ở ba gian nhà đều có bao lam bao quanh cột, các bao lam chạm trổ các đề tài độc đáo Bao lam được trang trí theo dạng đối xứng, hai bao lam hai bên được chạm trổ hoàn toàn giống nhau và riêng ở những bao lam được chạm đối xứng qua trục giữa

Bao lam ở giữa được chạm lộng và chạm trổ với họa tiết hoa sen và chim sẻ rất độc đáo, những hoa sen có hồn và chạm từng cánh, nhụy hoa rất sắc nét, độc đáo của bao lam này là đồ án chạm được chia thành hai nhóm, phía dưới là chạm hoa sen nhưng phía trên lại chạm hoa Mẫu Đơn và chim trĩ Phía trên cùng có cuốn thư ghi chữ Phúc Lâm Môn

Đề tài hoa sen, chim sẻ được gọi là đề tài sen điểu, mang một ý nghĩa to lớn, mang sự thanh tao của người quân tử, hoa sen là một loài hoa thanh khiết,

dù nó bình dị và rất mộc mạc Hoa sen được trồng nơi bùn sình nhưng vẫn tỏa

Trang 21

hương thơm ngát, vẫn vươn lên khỏi mặt nước đứng vững trải trước nắng mưa, từng cánh hoa được chạm vô cùng sắc nét, thấy được độ mỏng của cánh và đài sen Chim sẻ là một loài chim rất đặc trưng của vùng nhiệt đới nói chung và vùng nam bộ nói riêng Hoa sen, chim sẻ là hai loại đặc trưng của vùng đất nam

bộ, nó phản ánh thiên nhiên nam bộ

Đề tài Mẫu đơn, Chim trĩ đây là một đề tài thể hiện sự cao sang và quyền quý, đề tài này có nguồn gốc từ Trung Quốc, Người Trung Quốc cho rằng hoa Mẫu đơn có nghĩa là phú quý, trang trí hoa này trong nhà là cầu mong tài lộc và phú quý cho gia đình, chim Trĩ một loài chim của Vương giả, mang một nét đẹp rất độc đáo không thể lẫn nó với ai được Đề tài này mang ý nghĩ rằng đây là nơi vương giả, quyền quý giàu có tột bậc không ai sánh bằng và cũng như cầu mong sự phú quý, vinh hoa cho gia chủ

Ở trung tâm của bao lam trang trí cuốn thư mang dáng chữ triện ghi chữ Phúc Lâm Môn Với ý nghĩa cầu mong điều phú quý, may mắn đến với ngôi nhà, phúc lộc luôn được vào nhà

Kết hợp cả ba đề tài này ta thấy nó mang một sự hoàn mỹ về triết lý của người xưa và mang trong đó suy nghĩ rất nhân văn của ngôi nhà, không phải đơn thuần mà nghệ nhân lại chạm hoa sen bên dưới hoa mẫu đơn, theo như giả thuyết của nhóm tác giả thì có thể ý nói rằng gia chủ là người nghèo khó, là hoa sen sống giữa bùn lầy nhưng vẫn vươn lên làm giàu để thành hoa mẫu đơn hay muốn giáo dục con cháu không được quên quá khứ của cha ông Phía dưới cuốn thư không phải là con dơi như những đồ án thông thường mà lại là một con bướm Đây là một nét độc đáo, nó mang một ý nghĩa nào đó

2.3.1.2 Trang Trí Bao Lam hai gian bên

Hai bao lam hai bên được chạm cũng theo thể thức chia hai đề tài từ dưới lên khoảng 70cm được chạm hoa hồng, với từng bông hoa nở tung cánh được chạm sắc sảo cùng đó là lá, búp hoa và có cả những gai trên thân cây hoa, phần còn lại phía trên chạm một loại hoa lạ, theo nhận định của vài chuyên gia cũng như so sánh cá nhân của tác giả thì đây chính là hoa Sa La, một loại hoa quý có nguồn gốc từ Ấn Độ Hai bao lam được chạm theo thể thức đối xứng

Trang 22

với nhau

Hoa Hồng là một đề tài mới lạ chỉ có trong những trang trí kiến trúc của Châu âu nhưng lại xuất hiện trong ngôi nhà này nó thể hiện sự hài hòa đông tây của ngôi nhà Các đồ án chạm vô cùng sắc sảo mang tính tả thực, chi tiết tới từng cánh hoa hay gai trên cành hoa

Hoa Sa La và chim Công: hoa Sa La là một loại hoa rất đặc biệt, đối với Phật giáo nó là loại hoa linh thiêng, hoa của cây mà đức Phật nhập diệt dưới đó Chim Công một loài chim của quyền quý và xinh đẹp, chim Công cũng là một trong những loài chim đặc trưng của Ấn Độ Ý nghĩa của đồ án này theo như nhóm tác giả có thể đoán nó là một yếu tố mang tính phú quý, cao sang cho ngôi nhà, nó thể hiện ngôi nhà là nơi hội tụ đông tây kim cổ Hoa Sa La được chạm tỉ mỉ đến từng chi tiết, từng cánh hoa đang dần bung ra, ở trung tâm bao lam là một hoa Sa La to đang nở bung cánh đở hoa đó là một con dơi, mà dơi là phúc, chúng ta có thể hiểu hoa nở là có phúc, phúc sinh từ hoa Các đồ án chim công được cham với nhiều hình dáng khác nhau, có con xòe đuôi có con xếp đuôi lại, các con Công được chạm rất thực và vô cùng sống động

Công là loài chim ưa sống nơi thanh vắng và có bộ lông đa sắc, do đó công được xem là biểu trưng cho thái bình và thịnh vượng

(nhìn về hướng núi, dựa vào cảnh đẹp cùng cánh chim bay cũng tạo thành kỳ

quang), kết hợp với bức liễn đối bên trái: Thiên địa náo trường xuân, mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh (Trong sự vận động của trời đất vào mùa xuân,

mầm trúc nhú lên, cây mai thanh mảnh tạo thành vẻ đẹp) dường như muốn khai thị cho người xem một nhãn quan thưởng thức cái đẹp trời đất

Các đồ án hoa văn chạm có mang những ý nghĩ đối với ngôi nhà, như đồ

án Tùng Lộc được chạm rất nhiều trong nhà, Tùng Lộc, Tùng là mọt loại cây

Trang 23

tượng trưng cho quân tử, thanh tao, Tùng lá luôn xanh nên biểu trưng cho sự trường xuân, trường thọ, Lộc chính cái tên nó cũng nói lên nhiều điều, lộc là tài lộc Đồ án Tùng Lộc là cầu mong cho sự chính trực, sống lâu và luôn có lộc phúc

Đồ án: Mai Điểu là tượng trưng cho mùa xuân, mùa xuân hoa mai nở, có chim én bay về, hoa mai là biểu tượng của mùa xuân nam bộ, ý nghĩa của đồ án này là diễn tả cảnh ngày xuân, cầu mong gia chủ luôn có mùa xuân, luôn được hạnh phúc và ấm áp, gia đình luôn mãi là mùa xuân

Đồ án Mai hóa phụng: đây là đồ án mang ý nghĩa rất lớn, nó thể hiện sự bình đẳng nam nữa trong gia đình, con gái con nhà quyền quý như là hoa mai, một loại hoa thanh cao và quý giá, nhưng chưa hẳn đã là chim phụng, chim phụng phải là người đức cao vọng trọng, có vị thế trong xã hội Chính vì vậy,

đồ án này thể hiện mong ước của gia chủ là mong sau con cháu gái nhà này sẽ được đỗ đạt thành danh chứ không riêng gì con trai, để cho hoa mai sớm hóa chim phụng

2.3.1.4 Trang Trí kèo

Kèo hiên được trang trí rất đẹp mắt với hình tượng đuôi kèo là đầu rồng hình tượng dây lá hóa long, hoa cúc, Tùng Lộc, với đầu kia cũng hình tượng đầu rồng nhưng bé hơn Các họa tiết trang trí trên thân kèo được chạm thủng rất tinh vi, nhưng ở hai đầu lại đươc chạm trổ, một cách chạm rất độc đáo thể hiện tay nghề cao của nghệ nhân

Đuôi kèo hiên được gác lên cột hiện và chạm hình đầu rồng, với đồ án Vân hóa long ( hay dây lá hóa long, dây lá hóa cù), sở dĩ đuôi kèo hiên được chạm như vậy cho nó phù hợp với cấu kiện tứ linh Long Lân Quy Phụng Nó thể hiện sự quyền quý của gia chủ

Thân kèo được chạm thủng các họa tiết dây lá, thể hiện sự tươi mát và gần gũi với thiên nhiên

Đầu kèo được chạm hình tùng lộc và đầu rồng theo dạng hồi Long, nó là một cụm các đồ án độc đáo mang rất nhiều ý nghĩa trong đó

Trên thân kèo mẹ trong nhà được chạm tứ thời nhưng ở đây lại có một

Trang 24

sự cải biến, thay vì mai lan cúc trúc thì lại là mai lan cúc sen Có lẽ nó biến thiên cho phù hợp với ngôi nhà và sở thích của chủ nhà

Đồ án Cúc Hóa Long: là một đồ án mang ý nghĩ cầu chúc cho con trai trong nhà luôn thành công, mong rằng con cháu trai trong nhà luôn được đỗ đạt

Đồ án phụng, quy: đồ án được chạm hình ảnh dây lá hóa phụng và hóa quy, nó được ẩn mình trong nhau, được chạm ở kèo chái tất cả các kèo đều được chạm, chỉ riêng hai kèo cuối của 2 góc nhà là không được chạm, đây cũng

là một nét độc đáo của ngôi nhà

2.3.1.5 Trang Trí Khuôn Bông và Vách lá gió

Khuôn bông trên hai bao lam được chạm trổ tinh vi với chính giữa là hình con Lân được chạm lộng sắc sảo, hai bên là chim Phụng và chim Loan , trên các khuôn bông và xà ngang còn chạm các họa tiết trái như măng cụt, mận, ổi, những trái cây mang dáng dấp phương nam

Đồ án Kỳ Lân nó phù hợp với đồ án tứ linh của ngôi nhà, kỳ lân là một loài linh thú không có thực, kỳ lân là loài linh thú tượng trưng cho quyền lực và sức mạnh

Trên các khuôn bông chạm mận, ổi, khế: đó là những loại trái cây đặc thù của vùng đất nam bộ, đây là một nét rất độc đáo nữa của ngôi nhà, hầu như những ngôi nhà khác không có chạm những đồ án đó

Ngoài những đồ án được chạm trổ và chạm lộng về các đồ án trái cây thì còn có các khuôn bông chạm lộng Tùng Lộc, … ngoài ra còn có các khuôn bông con tiện, hồi văn chữ vạn,

Trang 25

Khuôn bông hai bên cửa buồn được chạm rất nhiều họa tiết khác nhau

và phong phú hơn so với khuôn bông ở giữa, trong đó có các đồ án hoa văn sau:

Đồ án Lan Điệp đó là hình ảnh chạm lọng hoa lan và con bướm trên nền của hồi văn chữ vạn, với ý nghĩa cầu chúc cho vợ chồng nồng thắm, hạnh phúc Ngoài được chạm lọng nó còn được sơn mài, khảm ốc xà cừ

Đồ án giỏ hoa đó là một dạng đồ án của châu âu, giỏ hoa mang ý nghĩa cao sang, đầy đủ, sung túc với ước muốn cho gia đình luôn đầy đủ, phía dưởi giỏ hoa có ngọc bội

Đồ án Sen Le đó là một dạng đồ án đặc trưng của phương nam, hoa sen dưới đầm lầy, ao hồ luôn gắng liền với chim le le hay chim cò nó mang một ý nghĩa đi cùng nhau, luôn bên nhau, cầu chúc cho gia đình luôn mãi bên nhau

Đồ án lan điệp – uyên ương đây là một dạng đồ án mới biến thể nó thể hiện hình ảnh đôi chim và đôi bướm bay quanh cụm hoa lan Lại là một hình ảnh cho sự hạnh phúc gia đình nữa

Đồ án trái lựu, đồ án trái lựu được chạm một đôi lựu, lựu có ý nghĩa cầu chúc cho con đàn cháu đống do lựu rất nhiều hạt, hai qua lựu đi cùng nhau tượng trưng cho vợ chồng luôn bên anh nhau

Đồ án Trái Đào, quả Đào tượng trưng cho sự trường thọ và mỹ mãn, từ ngàn xưa trong nền văn hóa Trung Quốc, đào luôn được sử dụng trong các lễ mừng thọ, chúc thọ những người lớn tuổi, đồ án quả đào lại được tạo tác một đôi trên nền của hồi văn chữ vạn, một kỹ thuật chạm lọng độc đáo với ý nghĩa

là cầu mong vợ chồng gia chủ, sống lâu trường thọ

Đồ án măng cụt, một loại trái cây rất đặc thù của vùng nam bộ, được chạm sắc sảo, nổi lên từng khía bên dưới, theo quan sát của nhóm tác giả, có 1

đồ án bị hư hại thì nhìn nhận thầy rằng chạm rất thực vì trái măng cụt tách khỏi cuốn nhìn như thật, măng cụt cũng được chạm đôi cùng nhau

Ở thanh trên cùng của cửa buồng, trung tâm được chạm một loài hoa nhìn như hoa bất tử, theo nhận định của nhóm tác giả đó là hoa bất tử, chỉ có ở

Đà Lạt mới trồng được loài hoa đó, hoa bất tử không bao giờ tàn, nó chỉ khô lại,

có lẽ nó mang ý nghĩa trường sinh

Trang 26

Ngoài ra còn có các đồ án Tùng Lộc, và dơi, vẫn với ý nghĩa cầu mong cho gia đình luôn có nhiều phúc lộc

Buồng ngủ là nơi sinh hoạt riêng tư của vợ chồng nên những hình ảnh

đó được chạm mang ý nghĩa cầu chúc cho vợ chồng gia chủ luôn trăm năm hạnh phúc và sinh được con đàn cháu đống

Vách lá gió được trang trí các khuôn bông hồi văn chữ vạn, các khuôn dây lá hóa phụng và vân hóa dơi

Vân hóa dơi là một đồ án thể hiện sự phúc lộc trong đó dơi ẩn trong mây hay sinh ra từ mây là một đồ án lạ, trong quá trình nghiên cứu tài liệu tác giả chưa nhận thấy nơi nào có

Đồ án hoa văn chạm lọng điểu và mẫu đơn trên nền hồi văn ô trám: mang một ý nghĩa cầu mong phú quý

2.3.2 Trang trí nội thất

Trong nhà được bày trí rất nhiều đồ đạt thể hiện đẳng cấp của gia chủ, hầu như toàn bộ đồ đạt trong nhà đều được chế tác bằng các loại gỗ quý, với nhiều loại bàn ghế khác nhau

2.3.2.1 Bộ trường kỷ:

Ở giữa nhà được đặt bộ ghế nghi chân móng, bao lam mặt trước ghế chạm lộng đào, lựu và dơi nữa cách điệu nữa tả thực, giữa bao lam chạm giỏ trái cây gồm đào, lựu, phật thủ, mãng cầu mang phong cách Huế, hai bên hong ghế được chạm lộng đào, phật thủ, cuốn thư, dơi, mô típ trang trí thể hiện ước muốn của gia chủ

Nối liền ghế nghi là bàn chữ nhật chân móng bao lam chạm sóc nho nhưng không sâu hai bên là hai trường kỷ chân móng được chạm lộng với nhiều ô học, bao lam trường kỷ trang trí các đề tài như mai điểu, song tiền, bí đào

Đồ án hoa văn trái bí đao đây là một loại quả rất quen thuộc với người dân nam bộ, nó mộc mạc chân tình như người dân Nam bộ

Bàn dài trong bộ tràng kỷ được chạm thủng họa tiết Sóc Nho, một họa

Trang 27

tiết chạm trổ của châu Âu, mang một nét phương tây rất lớn, chân bàn và ghế là dạng chân móng

2.3.2.2 Bàn thờ: gồm bốn bốn bàn

Bộ 3 cái bàn thờ trong nội tự, bàn được chế tác bằng gỗ quý, được chạm

thủng nhiều họa tiết: phúc đáo, tùng lộc và cuốn thư, chân bàn được làm theo

dạng chân móng Và với mô típ chim sẻ ở các tư thế “phi – minh – túc – thực” (bay – hót – ngủ gật – ăn) trên cành hoa cúc đang nở rộ, mang ý nghĩa cho sự thăng tiến (phi), danh giá (minh), đầy đủ (túc) và bổng lộc (thực) Trên bàn thờ đặt ba bộ lư hương, chân đèn, chò quả bằng gỗ chạm thủng hoa văn dây lá hóa rồng, bình hoa gốm và bài vị thờ gia tiên được sơn son thiếp vàng

Phía trong cùng của ba bàn thờ là ba bức tranh vẽ trên thiếc với phong cảnh non nước hữu tình tượng trưng cho quê hương, đất nước, nguồn cội để mong con cháu luôn nhớ đến ông bà, tổ tiên

Bàn thờ thứ tư đặt phía ngoài bên trái nội tự ở phía trước căn buồng là thờ ông Trần Văn Ngộ mới mất cũng có những đồ án như tùng - lộc, phúc đáo…

2.3.2.3 Bộ bàn tộc:

Hai bộ bàn này có chiều dài, được làm theo dạng bàn đực, bàn cái Bàn đực và bàn cái khác nhau một kiểu xâu chuỗi, đối với bàn đực xâu chuỗi nằm phía trên, bàn cái xâu chuỗi nằm phái dưới Mỗi bàn đi kèm 6 cái ghế, tạo nên

bộ bàn ghế hai bên trường kỷ Bàn đực dùng tiếp khách nam, bàn cái dùng tiếp khách nữ

Hai bàn tròn, trong nhà có 2 bàn tròn, có thể xoay được, mặt bàn được làm bằng gỗ nguyên tấm, thân cây để làm mặt bàn này ít nhất cũng có tuổi thọ trên một trăm năm, chân được làm dạng con tiện Được đặt nối theo hai bàn dài

2.3.2.4 Bàn viết, trong nhà có một đồ đạc rất đặc biệt đó là bàn viết, bàn

viết có dạng như đàn Piano của phương tây, có 1 vòm cây có thể di chuyển lên xuống để sử dụng xong có thể đậy lại Bàn được làm bằng gỗ quý

2.3.2.5 Tủ rượu, tủ rượu ngày nay không còn được sử dụng, bị đặt qua

một bên, tủ rượu làm đúng theo kiểu châu âu, với nhiều họa tiết đặc trưng nước

Trang 28

Pháp và có nhiều ô để đạt rượu, tủ rượu được làm bằng gỗ là chính ngoài ra các họa tiết trang trí trên tủ được làm bằng đồng

2.3.2.6 Ván Ngựa, trong nhà có 3 bộ ván ngữa, 2 bộ được đặt nhà khách,

mỗi bộ có 3 tấm và 1 bộ đặt phía sau

2.3.2.7 Hoành Phi

Trong nhà còn có 5 bức hoành phi, nhưng 3 bức còn rõ chữ, trong đó có

1 bức sơn son thiếp vàng, 4 bức cẩn xà cừ Bức hoành phi sơn son thiếp vàng ghi chữ “sơn trang cổ tận” được treo ngay gian giữa nhà mang ý nghĩa: Ngôi nhà đẹp xưa nay hiếm có Bức hoành phi khảm xà cừ hai gian bên rõ chữ ghi chữ “Thiện Tối Lạc” nghĩa là: Làm việc thiện cảm thấy vui vẻ

Nhận xét

Nhà Trăm Cột mang nét độc đáo lớn nhất là qua các đồ án mỹ thuật trang trí trong nhà, với nhiều đồ án hoa trái mang nét đặt trưng của vùng đất nam bộ, và có những cải biên để phù hợp với ý nguyện của gia chủ

Những đồ án từ xa xưa và nó là những cái truyền thống chưa bao giờ thay đổi nhưng ở nhà này với sự sáng tạo của gia chủ và nghệ nhân thì nó đã biến đổi để phù hợp với vùng đất nam bộ, vốn là một vùng đất mới được khai hoang vài trăm năm nay

Ngôi nhà này mang nét kiến trúc truyền thống của Huế nhưng đâu đó trong ngôi nhà lại phảng phất hình ảnh của châu âu hoa lệ, của Ấn độ huyền bí hay là phương nam đầy dân dã Những nét đẹp cung đình kiêu sa của đất thần kinh vẫn được các nghệ nhân bảo lưu và phát triển, biến đổi để tạo nên những sắc thái riêng cho nhà Trăm Cột mà không lẫn vào đâu được

Nét nghệ thuật của ngôi nhà mang tính nhân văn sâu sắc, dù là người giàu có, quyền lực bật nhất lúc bấy giờ nhưng trong những đồ án hoa văn lại ẩn chứa đâu đó cái quá khứ khó khăn của cha ông nhằm nhắc nhở con cháu luôn nhớ về cội nguồn

Vốn là người nhân đức nên việc làm điều thiện là niềm vui lớn của gia tộc họ Trần từ bao đời nay, nên bức hoành phi “ Thiện Tối Lạc” treo gian chính trong nhà là nhằm nhắc nhở con cháu lấy điều thiện làm đầu, và phải luôn quan

Trang 29

tâm tới người khác

Điều đặc biệt nữa mà nhóm tác giả cho rằng rất độc đáo là tất cả đuôi kèo của ngôi nhà đều được chạm trổ rồng phụng uy nghi nhưng chi riêng 2 cây kèo trên 2 đuôi mái lại không được chạm, không hiểu đây phải chăng là một kiên kị văn hóa

Trang 30

CHƯƠNG 3: NHÀ TRĂM CỘT TRONG BỐI CẢNH NHÀ CỔ

Ở NAM BỘ

3.1 Đặc điểm nhà trăm cột

Lịch sử nam bộ - vùng đất đầy hứa hẹn, nơi mà những lớp cư dân từ

vùng ngũ Quảng vào lập nghiệp và đem theo cả lối xây cất nhà của họ vì thế

đây cũng chính là đặc điểm của những ngôi nhà rội, nhà rường miền Trung ở

Nam bộ nói chung và Long An nói riêng Nhà trăm cột được xây dựng vào năm

1901 như vậy ngôi nhà này đã mang những giá trị lịch sử xây dựng

Nhà trăm cột có những đặc điểm cơ bản của kiến trúc truyền thống Việt

Nam bởi ngôi nhà này được tạo dựng bởi đôi tay người thợ Việt, sử dụng vật

liệu Việt, xây dựng trên đất Việt, chịu sự qui định bởi môi trường khí hậu và

tâm lý, tập quán Việt… nên nó vẫn mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của

kiến trúc truyền thống Việt Nam Đó là những công trình kiến trúc dân dụng

với phong cách kiến trúc giản dị khiêm tốn, nhẹ nhàng – khoáng đạt phù hợp

với phong tục tập quán dân tộc và khí hậu nhiệt đới Việt Nam6 Nhà trăm cột

có một đặc điểm chung với nhà ở xứ nhiệt đới nước ta là mang “tính mở” và

một đặc điểm riêng là thông thoáng cả về kết cấu lẫn trang trí, bộ khung chịu

lực cũng được giảm thiểu vì không phải chống chọi với những cơn lốc, những

trận lụt như miền Trung hay những đợt lũ quét, những ngày giá lạnh vào mùa

đông như miền Bắc Kiến trúc nhà kết cấu xuyên trính, kết cấu này sử dụng vì

kèo chồng tức là đầu kèo dưới được đặt lên đuôi kèo trên xuyên qua cột (đặc

điểm này giống với nhà ở Huế và Hội An)

Kiến trúc cổ Việt Nam có kích thước tương xứng với tầm vóc người

Việt Nam vì thế tạo hình nghệ thuật trong kiến trúc truyền thống thường là bố

cục cân xứng, hài hòa; Màu sắc trang trí đẹp mắt và giàu tính dân gian7 Cùng

Trang 31

là kiến trúc truyền thống của người Việt vì thế nhà trăm cột cũng mang những đặc trưng chung của tạo hình nghệ thuật điêu khắc trang trí của một ngôi nhà truyền thống Qua khảo tả về trang trí nội thất của ngôi nhà ta có thể khái quát những motif chính trang trí điêu khắc: Hình dây hoa lá, cành và trái cây, trong nghệ thuật trang trí dân gian Nam bộ không thể thiếu những cây trái đặc trưng của xứ này đó là những trái cây lựu, mãng cầu, mận… Hình động vật được các nghệ nhân bố trí trong ngôi nhà gồm: rồng là con vật thiêng, một trong bốn thú linh: long, lân quy, phượng ; hay dơi, chim sẻ, bướm Ngoài ra còn có các cấu kiện mang tính trang trí khác góp phần làm nên vẻ đẹp của ngôi nhà như hoành phi, bao lam, liễn đối, đèn chùm…

Có thể nói rằng nghệ thuật điêu khắc gỗ trong ngôi nhà trăm cột mang dáng dấp của quê hương Nam bộ với những cây trái đặc trưng của xứ sở này như khế, bí đao, mận, măng cụt, ổi… Ngoài việc phản ánh lịch sử, nghệ thuật những hình tượng trang trí điêu khắc trên gỗ còn mang tính cách con người Nam bộ là thẳng thắn, không câu lệ, phóng khoáng, tự do dễ thích nghi với môi trường xung quanh Nhà trăm cột thật đúng là những tác phẩm nghệ thuật bình

dị mà đặc sắc đã được các thế hệ người xưa truyền lại cho những thế hệ sau tiếp nối

Nhà ở gỗ là một loại hình di sản kiến trúc dân dụng xuyên suốt chiều dài lịch sử, chức năng của một ngôi nhà là để ở nhưng ở đó nó còn nuôi dưỡng tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, tình làng xóm, tình yêu quê hương đất nước Bất cứ ai đi đâu xa cũng muốn trở về với quê hương mình, với làng xóm thân thương, đặc biệt là với mái ấm gia đình và ngôi nhà chính là nơi chốn, là điểm tựa, là nơi nuôi dưỡng hạnh phúc và ước mơ của mỗi con người Thông qua vai trò là để ở ngôi nhà còn lưu giữ được bao nét văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Vì thế đây là tài sản văn hóa cần phải được quan tâm, giữ gìn và phát huy

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w