Công trình nghiên cứu này lấy đề tài Hướng tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính nhằm cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về nhu cầu tiếp cận truyền thông đ
Trang 1ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƯỜNG 2008
HƯỚNG TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CỦA
NGƯỜI KHIẾM THỊ, NGƯỜI KHIẾM THÍNH
( khảo sát một số học sinh trường khiếm thị Bừng sáng, trường khiếm thính Hy
Giảng viên HỒ NGỌC ĐOAN KHƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 2CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4
1.1 Đặc điểm của người khiếm thị, người khiếm thính 4
1.2 Khái quát chung về truyền thông đại chúng 6
CHƯƠNG 2 : NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KHIẾM THỊ, NGƯỜI KHIẾM THÍNH TRONG VIỆC TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG 13
ĐẠI CHÚNG 13
2.1 Cách tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính 13
2.2 Những công cụ trợ giúp người khiếm thị, người khiếm thính trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng 17
2.3 Những trở ngại đối với người khiếm thị , người khiếm thính trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng 24
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ , NGƯỜI KHIẾM THÍNH TRONG TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG 26
3.1 Các dự án hỗ trợ 26
3.2 Chương trình online dành cho người khiếm thị 28
3.3 Các nghiên cứu về khoa học kĩ thuật 29
3.4 Ý thức giúp đỡ người khiếm thị, người khiếm thính của cộng đồng được nâng cao 32 KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số Việt Nam hiện nay là 84.115.800 người (năm 2006) 1, trong đó người khiếm thính chiếm 9,33% dân số 2 Hàng năm, cứ 12.000 trẻ em sinh ra ở Việt Nam thì có gần 4% trẻ bị giảm thính lực, trong đó không ít trường hợp bị điếc vĩnh viễn, số còn lại nghe không rõ âm thanh Số người khiếm thị chiếm 1,2% với khoảng 900.000 người trong đó
có 600.000 người thuộc đối tượng mù 3 Do khiếm khuyết về khả năng nghe nhìn nên người khiếm thị, người khiếm thính gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống bao gồm cả những vấn đề tiếp cận thông tin Công trình nghiên cứu này lấy đề tài Hướng tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính nhằm cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về nhu cầu tiếp cận truyền thông đại chúng của họ, các cách thức mà họ
đã sử dụng để tìm hiểu thông tin cũng như những trở ngại mà người khiếm thị, người khiếm thính gặp phải trong quá trình này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tế đã có nhiều dự án, kế hoạch cũng như những hoạt động nghiên cứu nhằm hỗ trợ người khiếm thị, người khiếm thính trong sinh hoạt đời sống như dự án “Phát triển mạng lưới tin học đào tạo từ xa cho người khiếm thị” của Đặng Hoài Phúc, thành viên khiếm thị của Trung tâm tin học Sao Mai, TP HCM nhằm hỗ trợ 4 tổ chức khiếm thị Đồng Nai, Tây Ninh, Bến Tre, An Giang tiếp xúc và xử lí thông tin, dự án “Từ điển Kí hiệu cho người khiếm thính” của trường Đại học Sư phạm TP HCM với mục đích cải thiện chất lượng giáo dục trẻ khiếm thính đồng thời cũng tạo ra các điều kiện giúp người khiếm thính hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, dự án “Trung tâm hỗ trợ in ấn và thư viện chữ nổi” của trường Khiếm thị Bừng sáng và dự án “Xây dựng và phát triển tin học dành cho người khiếm thính” của trường Khuyết tật thính giác Hy vọng 1,… Tuy
Trang 4nhiên theo sự tìm hiểu của người viết thì chưa có công trình nghiên cứu nào đi theo hướng thực hiện của đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính Qua đó, người đọc có thêm hiểu biết về người khiếm thị, người khiếm thính và có thể giúp đỡ họ bằng những cách thích hợp và hiệu quả Mục đích của đề tài là hướng đến việc làm tăng hiệu quả trong quá trình tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp so sánh kết hợp với tra cứu tài liệu
5 Giới hạn của đề tài
Đề tài được thực hiện dựa trên kết quả khảo sát đối với học sinh trường Khiếm thị Bừng sáng và trường Khiếm thính Hy vọng 1 từ tháng 2 năm 2008 đến tháng 4 năm
2008
6 Những đóng góp mới của đề tài
Đưa ra cái nhìn tổng quát về nhu cầu tìm hiểu thông tin của người khiếm thị, người khiếm thính, tổng kết những điều đã và chưa đạt được từ các dự án dành cho họ, giới thiệu những nghiên cứu, sản phẩm mới có thể làm tăng hiệu quả tiếp nhận thông tin đối với hai loại đối tượng này
7 Kết cấu của công trình
Công trình nghiên cứu gồm :
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 55 Giới hạn của đề tài
6 Những đóng góp mới của đề tài
7 Kết cấu của công trình
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương này trình bày những vấn đề chung về người khiếm thị, người khiếm thính như đặc điểm sinh học và đặc điểm tâm lí, nhu cầu tiếp nhận thông tin của họ, các khái niệm về truyền thông đại chúng và một số phương tiện truyền thông
Chương 2: Những thuận lợi và khó khăn của người khiếm thị, người khiếm thính trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng
Chương này trình bày các cách thức tiếp cận thông tin của người khiếm thị, người khiếm thính cũng như những thuận lợi và khó khăn họ gặp phải trong quá trình này
Chương 3: Triển vọng đối với người khiếm thị, người khiếm thính trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng
Chương này trình bày về những dự án, công trình nghiên cứu và một số sản phẩm có thể hỗ trợ và giúp người khiếm thị, người khiếm thính tiếp nhận thông tin một cách thuận lợi và dễ dàng hơn
Kết luận : tổng kết vấn đề
Trang 6Người khiếm thính là người mất một phần hay mất hoàn toàn thính lực Khiếm thính thường do khiếm khuyết bẩm sinh nhiều hơn trường hợp bị tai nạn hay bệnh tật Trong
bộ não con người, vùng hình thành tiếng nói phải đi đôi với sự hoạt động của thính giác Với những người khiếm thính bẩm sinh, do không nghe được nên khả năng nói của họ hầu như cũng bị triệt tiêu Do đó, những người khiếm thính thường phải chịu cả hai khiếm khuyết cùng một lúc là không nghe được và không nói được Bệnh khiếm thính
có thể can dự vào chất lượng cuộc sống của bất kỳ ai, làm giảm khả năng giao tiếp với mọi người, gây nên sự hiểu lầm và mệt mỏi, làm tăng stress và làm mất đi những âm thanh mang đến niềm vui và ý nghĩa cuộc sống của họ
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, 9,33% dân số Việt Nam bị khiếm thính Cứ 12.000 trẻ em sinh ra hàng năm ở Việt Nam thì có gần 4% trẻ
bị giảm thính lực, không ít trường hợp bị điếc vĩnh viễn, số còn lại nghe không rõ âm thanh Gần 30% số người ở lứa tuổi 40 - 50 có hiện tượng giảm thính lực Khi bước sang lứa tuổi 50-60 tỷ lệ này là 35% và ở lứa tuổi 70, có đến 50% số người già bị khiếm thính
Trang 71.1.2 Đặc điểm tâm lý
Tự ti, mặc cảm là đặc điểm tâm lí chung của người khuyết tật, trong đó có người khiếm thị và người khiếm thính Họ thường có cảm giác thua thiệt so với những người bình thường Không ít người khiếm thị , người khiếm thính sống khép kín, ít khi chịu bộc lộ suy nghĩ và không dễ khi người khác muốn chia sẻ với họ Từ cảm giác đó, người khiếm thị, người khiếm thính dễ bộc lộ sự nóng nảy, phản ứng mạnh nếu có điều
gì làm họ cảm thấy không hài lòng Bên cạnh đó, người khiếm thị, người khiếm thính có khuynh hướng muốn chứng tỏ mình có thể sống độc lập mà không phụ thuộc quá nhiều vào sự giúp đỡ của những người xung quanh
Người khiếm thị thường ở trong cảm giác không an toàn do không thể thấy thế giới xung quanh, nếu có cũng chỉ là những hình ảnh mờ nhạt Cuộc sống của họ luôn ở trong bóng tối và rất khó cho họ nếu muốn hình dung ra bất cứ điều gì Những người khiếm thị giống như người bình thường bị che hai mắt bởi một tấm vải đen không thể tháo bỏ Họ đối mặt hàng ngày với những khó khăn kể cả những hiểm nguy khi không
có khả năng quan sát cuộc sống Vì lí do an toàn cho bản thân, người khiếm thính rất dễ
dè chừng nếu ai đó muốn tiếp xúc với họ
Người ta ví những người điếc nặng, điếc sâu như ngồi trong một cái chuông lớn bằng thuỷ tinh, chỉ thấy mọi người và các vật thể hoạt động chung quanh mình mà không nghe và hiểu được gì Vì vậy, họ cảm thấy bị tách rời, cách ly khỏi môi trường Đối với họ nếu nghe được dù chỉ một vài âm thanh nào đó cũng đã cảm thấy vui sướng Nếu nghe được một số từ ngữ, ghép nối lại và suy đoán từ hình miệng, cử chỉ, thái độ thì họ sẽ hiểu được người đối thoại Máy trợ thính sẽ giúp làm điều đó Tuy nhiên, rất nhiều người bị khiếm thính không nghĩ đến việc phải đeo máy trợ thính một phần vì mặc cảm mình bị tàn tật, một phần vì thấy bất tiện khi đeo máy
Tuy nhiên cũng từ những khiếm khuyết của bản thân, người khiếm thị, người khiếm thính lại rất có quyết tâm trong việc rút ngắn khoảng cách giữa người khuyết tật
và người bình thường Họ rất hứng thú và thực sự đam mê với bất cứ lĩnh vực nào mà
họ quan tâm Những nỗ lực của người khiếm thị, người khiếm thính trong cuộc sống, nhất là trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng là rất lớn Điều này giúp cho họ có
Trang 8thêm nhiều hiểu biết, dễ hoà nhập hơn với đời sống cộng đồng Từ đó, người khiếm thị, người khiếm thính cảm thấy tự tin hơn về bản thân, loại bỏ dần cảm giác mặc cảm, tự ti
1.2 Khái quát chung về truyền thông đại chúng
1.2.1 Khái niệm về truyền thông đại chúng
Truyền thông là một hoạt động gắn liền với lịch sử phát triển của con người Đó
là điều kiện để tạo nên những mối quan hệ xã hội giữa người với người Thiếu truyền thông, giao tiếp con người và xã hội loài người khó hình thành và phát triển Có nhiều khái niệm khác nhau về truyền thông đại chúng dưới nhiều góc độ 4:
- Góc độ kí hiệu lời: truyền thông là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bằng lời (John Hober năm 1954)
- Góc độ sự hiểu biết con người: truyền thông là quá trình qua đó chúng ta hiểu được người và làm cho người khác hiểu được chúng ta Đó là một quá trình liên tục, luôn thay đổi và biến chuyển để ứng phó với tình huống (Martin Andelsm)
- Góc độ tương tác: sự tương tác ngay cả ở mức sinh vật là một dạng truyền thông, bằng không sẽ không thể có hành động chung (G.H.Mead năm 1963)
- Góc độ quá trình truyền tải: truyền thông là sự truyền tải thông tin ý tưởng, tình cảm, kĩ năng…bằng cách sử dụng các kí hiệu: từ tranh ảnh, hình vẽ…Bản thân hành động hoặc quá trình truyền tải được gọi là truyền thông (Berelson và Steines năm 1964)
- Góc độ giảm độ không rõ ràng: truyền thông nảy sinh từ nhu cầu giảm độ không rõ ràng để có thể hành động có hiệu quả, để bảo vệ hoặc tăng cường (Dean C.Barnlund năm 1964)
- Góc độ chuyển giao, truyền tải, trao đổi: truyền thông đôi khi để chỉ cái được truyền tải, đôi khi chỉ phương tiện truyền tải, đôi khi lại là toàn bộ quá trình Trong nhiều trường hợp, cái đã được truyền tải bằng cách này hay cách khác vẫn tiếp tục được chia sẻ Nếu tôi chuyển một thông tin cho người khác, thông tin đó vẫn là của tôi Truyền thông đòi hỏi phải có sự tham gia (A Hyer năm 1955)
4
Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (1995), C ơ s ở lí luận b áo ch í truy ền th ông, Nxb Văn hoá
thông tin, trang 20
Trang 9- Góc độ ghép nối, kết nối: truyền thông là quá trình kết nối các phần rời rạc của thế giới với nhau (Ruesch năm 1957)
- Góc độ tính công cộng: truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người (Frank Dance năm 1970)
- Góc độ kênh, phương tiện, lộ trình: truyền thông là những phương tiện để chuyển đổi các nội dung quân sự, mệnh lệnh …như bằng điện thoại, điện tín, giao thông (từ điển cao học Hoa Kì)
- Góc độ dẫn dắt: truyền thông là quá trình dẫn dắt sự chú ý của người khác nhằm mục đích trả lời sự mong mỏi (Cartier và Hanoov năm 1950)
- Góc độ phản ứng: truyền thông là sự phản ứng của cơ thể với một nhân tố kích thích (Stevens năm 1950)
- Góc độ khuyến khích: mỗi hành động truyền thông được coi là sự chuyển tải thông tin chứa đựng yếu tố khuyến khích từ nguồn thông tin đến người tiếp nhận (Theo dore Newcomb năm 1966)
- Góc độ chủ định: về cơ bản truyền thông quan tâm đến những tình huống hành
vi, trong đó nguồn thông tin truyền một nội dung đến người nhận với chủ đích tác động tới hành vi của họ (Gerald Miler năm 1966)
- Góc độ thời gian, tình huống: quá trình truyền thông là quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang một tình huống khác theo một thiết
kế được ưu ái hơn (Bess Sondel năm 1956)
- Góc độ quyền lực: truyền thông là cơ chế qua đó quyền lực được thể hiện (Schaehter năm 1951)
Từ những khái niệm trên, có thể đi đến một ý khái quát, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau
để dẫn tới sự thay đổi trong nhận thức và hành vi
Trang 10Trong khi đó, từ “đại chúng” hướng tới những ý nghĩa sau 5:
- Hướng tới quần chúng (xã hội, dân tộc, giai cấp, khu vực, nghề nghiệp…)
- Thích ứng với nhu cầu của công chúng, giúp hiểu được những vấn đề và hiện tượng xã hội quan trọng, đề cập trên phạm vi rộng lớn những vấn đề về quyền lợi kinh
tế, xã hội, tinh thần của quần chúng và đáp ứng những tin tức mà họ có thể sử dụng như của chính mình trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
- Cố gắng tạo lập quan điểm thống nhất của đại chúng và những vấn đề liên quan tới nó, liên kết nó với cộng đồng xã hội và vạch ra quan điểm tích cực thống nhất trên phạm vi của những vấn đề đó, cùng với sự tiếp cận những chuẩn mực nhân loại
- Tính dễ tiếp cận của thông tin đối với đại chúng (cung cấp thông tin miễn phí hoặc trả khoản cước phí nhỏ, chế độ sử dụng thuận lợi tại nhà, trên đường, bên cạnh những nơi thường xuyên có người…), hình thức đơn giản, dễ sử dụng
- Công chúng có khả năng tiếp nhận thông tin cùng lúc, liên tục, cung cấp ổn định (phát hành theo định kì)
- Khả năng mở rộng đối với tất cả những ai muốn tham gia vào công việc của các phương tiện truyền thông đại chúng dưới các dạng thức khác nhau (thư, cộng tác, làm việc tại các cơ sở đầu mối của xã hội…)
Như vậy, nói một cách đơn giản, truyền thông đại chúng (mass communication)
là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) như báo chí, phát thanh, truyền hình…6
1.2.2 Một số phương tiện truyền thông
Bắt đầu từ những tín hiệu đơn giản, người ta thông báo cho nhau mục đích, phương pháp, cách thức hành động, thông tin…tạo nên sự thống nhất và hiệu quả trong
Trang 11công việc Trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống mình, con người đã tích luỹ được những kinh nghiệm quí báu, phát hiện thêm những hiện tượng lặp đi lặp lại của thiên nhiên Đồng thời, trong xã hội cũng hình thành nhu cầu truyền thông, truyền bá các kinh nghiệm, phương pháp lao động có hiệu quả, thông báo cho đồng loại những tri thức mới về thế giới xung quanh Sự ra đời của tiếng nói là nấc thang đầu tiên quan trọng nhất của quá trình hình thành, phát triển và tăng cường truyền thông – giao tiếp trong xã hội loài người
Từ những hình thức truyền thông đơn giản, người ta đi đến những hình thức hiện đại và phức tạp hơn Các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại trở thành những cái không thể thiếu để đảm bảo sự hoạt động ổn định của mỗi nền kinh tế cũng như mỗi chế
độ xã hội
Các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) là những công cụ kĩ thuật hay những kênh mà nhờ đó con người mới có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng Các phương tiện truyền thông đại chúng rất đa dạng: báo đài, truyền hình, phát thanh, internet,…Các phương tiện truyền thông này là một kênh quan trọng và có hiệu quả nhất của quá trình truyền thông
Một số phương
tiện truyền thông
Truyền hình Kết hợp hình ảnh, âm
thanh, văn bản trong cùng một thời điểm, dễ chọn lựa theo nhu cầu, thông tin nhanh chóng
Lượng thông tin đọng lại không nhiều, cơ hội tiếp cận trở lại một thông tin đã bị bỏ qua là hạn chế, cần có thiết bị thu hình nếu muốn theo dõi
Truyền thanh Thể hiện thông tin bằng
âm thanh, dễ chọn lựa theo nhu cầu, thông tin nhanh
Thông tin cũng dễ bị bỏ qua và đọng lại không nhiều, không nhìn thấy được nên khó chứng
Trang 12chóng minh độ chính xác, cần có thiết
bị thu sóng nếu muốn theo dõi
Sách báo Phổ biến, dễ chọn lựa và
lưu trữ thông tin
Không đáp ứng được tính nhanh nhạy của thông tin do phải qua khâu biên tập, in ấn
Internet Kết hợp ưu điểm của 3 loại
hình trên, khả năng ứng dụng công nghệ nghe nhìn
đa dạng, có thể kết nối đến những chuyên mục theo nhu cầu qua các đường link, khả năng tương tác cao
Thông tin phong phú nhưng không kiểm định được độ chính xác, chưa phổ biến đối với tất cả mọi người, cần có máy vi tính với chi phí khá cao
Các panô, áp
phích…
Có thể đặt ở nhiều nơi, được nhìn thấy nhiều lần, thể hiện thông tin bằng hình ảnh và văn bản
Có thể bị xem là phiền phức, không được quan tâm, lượng thông tin có thể bị giới hạn bởi diện tích thể hiện
Các phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò quan trọng trong xã hội vì :
- Chúng là kênh chủ yếu cung cấp thông tin thời sự, kiến thức và giải trí cho người dân và đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi cá nhân trong xã hội
- Chúng là một công cụ hữu hiệu để quản lí, điều hành và cải cách xã hội
- Chúng đã trở thành một định chế có những qui tắc và chuẩn mực riêng của mình trong lòng xã hội và có quan hệ mật thiết với những định chế khác trong xã hội
Trang 131.3 Nhu cầu tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính
Trong thời đại ngày nay, việc nắm được thông tin là một điều rất quan trọng và cần thiết đối với mọi người Với người khiếm thính, người khiếm thị, việc tiếp cận thông tin còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa Người khiếm thị, người khiếm thính cần thông tin không chỉ để cảm thấy không lạc lõng giữa xã hội mà còn một yêu cầu quan trọng hơn – đó là tìm kiếm cho mình cơ hội việc làm để nuôi sống bản thân
Theo thầy Nguyễn Tấn Huyến, Hiệu trưởng trường khiếm thị Bừng sáng, học sinh khiếm thị rất quan tâm đến văn hóa – thông tin và thích cập nhật thông tin hàng ngày 100% số học sinh khiếm thị được khảo sát cho biết rất hứng thú với việc tìm kiếm
và tiếp nhận các thông tin, trong khi đó đối với học sinh khiếm thính, con số này là 97,6% Người khiếm thị, người khiếm thính cần nhiều thông tin để tăng cường giao tiếp với mọi người Tiếp nhận được thông tin giúp cho họ phần nào cảm thấy không quá thua thiệt so với những người bình thường Mức độ hiểu được nội dung thông tin ở người khiếm thị, người khiếm thính thường kém hơn người bình thường nhưng những
gì tiếp nhận được theo khả năng của mỗi người cũng giúp ích rất nhiều cho họ
Việc sử dụng các phương tiện truyền thông của người khiếm thị, người khiếm thính cũng xuất phát từ những nhu cầu như những người bình thường Theo nhà nghiên cứu thông tin Denis Me Quail, những nhu cầu đó là:7
- Nhu cầu thông tin: nhằm vào những sự kiện quan trọng, những lời khuyên, thoả mãn tính hiếu kì, học tập, nâng cao trình độ
- Nhu cầu tự khẳng định mình: tăng cường nhân cách, tìm kiếm lối sống, hoà nhập với cộng đồng, sống có bản lĩnh
- Nhu cầu hoà nhập và giao lưu xã hội: sống chan hoà với mọi người, tình cảm thân quen, sống giao lưu, có sự giúp đỡ của cộng đồng, quan hệ rộng rãi
7
Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản, Nxb Thông tấn, Hà Nội, trang 42
Trang 14- Nhu cầu giải trí: thư giãn, sống có văn hoá, nghệ thuật, giải toả tình cảm, tìm kiếm sự hưng phấn
Những nhu cầu trên chi phối toàn bộ quá trình thông tin: trước khi chọn lựa thông tin; trong khi theo dõi, lĩnh hội và diễn đạt lại thông tin; tiếp nhận được gì hay có
ấn tượng gì sau quá trình đó
Trang 15CHƯƠNG 2 : NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI NGƯỜI KHIẾM THỊ, NGƯỜI KHIẾM THÍNH TRONG VIỆC TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG
2.1 Cách tiếp cận truyền thông đại chúng của người khiếm thị, người khiếm thính
Có nhiều cách để người khiếm thị, người khiếm thính tiếp cận truyền thông đại chúng Do những đặc điểm về mặt sinh học của mình nên việc tiếp cận thông tin đối với
họ cũng còn nhiều hạn chế
2.1.1 Đối với người khiếm thị
Người khiếm thị sử dụng thính giác để thay thế thị giác một cách tương đối nhưng khá hiệu quả Đa phần người khiếm thị có thính giác rất tốt Do không thể nhìn thấy hoặc khả năng nhìn kém, người khiếm thị hòa nhập vào cuộc sống chủ yếu bằng
âm thanh Lắng nghe là cách thức phổ biến nhất để người khiếm thị tiếp cận được với các thông tin quanh mình Điều này lí giải cho con số 100% học sinh khiếm thị trường Khiếm thị Bừng sáng chọn đài phát thanh là phương tiện thông dụng và hiệu quả nhất
để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình Ngoài giờ học và các sinh hoạt tập thể, cá nhân khác thì các học sinh khiếm thị dành phần lớn thời gian còn lại cho việc nghe đài Bạn Huỳnh Thanh Ngà, 23 tuổi, quê Hậu Giang, dành đến hơn 5 giờ mỗi ngày để theo dõi các thông tin trên đài phát thanh Theo khảo sát, những học sinh của trường ít nghe đài nhất cũng dành từ một giờ rưỡi đến hai giờ mỗi ngày để theo dõi các thông tin Tùy theo
sở thích riêng mà mỗi người lựa chọn cho mình những chương trình phát thanh phù hợp
Sách báo là nguồn thông tin rộng lớn Tuy nhiên với loại phương tiện truyền thông này, người khiếm thị ít có cơ hội tiếp cận Người khiếm thị sử dụng chữ nổi Braile Sách báo được in theo hệ thống kí tự này không phổ biến Theo tìm hiểu, hiện nay chỉ có tờ “Đời mới” là tờ báo chữ nổi duy nhất dành cho người khiếm thị tại Việt Nam
Trang 16Một phương tiện hiệu quả cho người khiếm thị tiếp cận truyền thông đại chúng là internet Bàn phím máy tính mà người khiếm thị sử dụng khá đặc biệt Các phím được
in nổi theo kí tự Braile để người khiếm thị tiện sử dụng Thêm vào đó, các phần mềm hỗ trợ đọc nội dung hiển thị trên màn hình máy tính đã giúp người khiếm thị vượt qua gần như mọi trở ngại khi sử dụng internet trong điều kiện không nhìn thấy Tốc độ học cách
sử dụng internet của người khiếm thị cũng không thua kém người bình thường nhờ khả năng tập trung cao và nhớ lâu Nếu như chỉ mất khoảng từ một đến một tháng rưỡi để học chữ nổi thì cũng không mấy khó khăn để người khiếm thị làm quen với bàn phím chữ nổi Tuy nhiên, chưa phải toàn bộ học sinh khiếm thị ở đây đều biết cách sử dụng máy vi tính cũng như internet Hiện tại, trường Khiếm thị Bừng sáng đã thành lập các lớp tin học riêng theo trình độ của học sinh, trên các dự án phát triển công nghệ thông tin cho người khiếm thị
Với những thông tin ở dạng văn bản, nếu được trình bày theo kí tự chữ nổi sẽ được người khiếm thị tiếp nhận thông qua cảm giác bàn tay Nếu thông tin được in theo chữ viết thông thường thì người khiếm thị cần sự giúp đỡ của một người sáng mắt khác Chia sẻ thông tin tìm hiểu được cũng là hoạt động thường xuyên của các học sinh khiếm thị Nhờ vậy mà một người có thể biết được nhiều thông tin mà không mất quá nhiều thời gian cũng như công sức tìm kiếm
Nhìn chung, người khiếm thị sử dụng thính giác là cách thức chủ yếu để tìm kiếm và tiếp nhận thông tin Bên cạnh đó, cảm giác bàn tay cũng là một yếu tố hỗ trợ cho họ phần nào
2.1.2 Đối với người khiếm thính
Người khiếm thính dùng mắt và khả năng nghe ( nếu có) ít ỏi của mình để tiếp nhận thông tin Tại các trường dành cho người khiếm thính, có nhiều bảng tin, áp phích
cổ động – tuyên truyền, sách báo, thư viện phục vụ nhu cầu của họ 78,5% số học sinh khiếm thính được khảo sát cho biết thường tìm kiếm thông tin trên sách báo Người khiếm thính rất thích đọc và đọc bất cứ những gì có thể để hiểu được thế giới xung quanh Một điều hạn chế là họ khó có thể hoặc không thể hiểu được những từ diễn đạt khái niệm trừu tượng hoặc khó giải thích bằng ngôn ngữ bàn tay Điều này khiến cho
Trang 17thời gian đọc xong một thông tin hay một tờ báo, một quyển sách đối với người khiếm thính khá dài
Do không thể hiểu nghĩa của nhiều từ vựng nên khả năng hiểu được nội dung thông tin ở người khiếm thính cũng bị hạn chế Trong số 42 học sinh khiếm thính của trường Khiếm thính Hy vọng 1 được khảo sát, có 15 học sinh cho biết mình có thể hiểu được 50% nội dung thông tin khi tiếp cận, trong khoảng từ 20% đến dưới 50% có 13 học sinh, trên 50 % có 5 học sinh
Ngoài sách báo thì truyền hình là phương thức phổ biến thứ hai để người khiếm thính tiếp cận thông tin Đặc điểm của truyền hình là thông tin bằng hình ảnh chiếm vị trí chủ đạo nên có thể giúp người khiếm thính tiếp nhận thông tin một cách dễ dàng hơn Người khiếm thính có thể đoán được ý người đối diện muốn nói gì qua khẩu hình Do
đó, khi người phát thanh viên trên truyền hình đọc hay nói quá nhanh, người khiếm thính sẽ không thể theo dõi kịp dẫn đến hệ quả tất yếu là không thể hiểu được nội dung Tuy nhiên, truyền hình là thể loại báo chí kết hợp cả hình ảnh, âm thanh và chữ viết Các dòng chữ chạy trên màn ảnh là phương tiện để người khiếm thính có thể tiếp nhận được thông tin nhanh, nhiều hơn và chính xác hơn
Người khiếm thính sử dụng ngôn ngữ bàn tay trong giao tiếp và đó cũng là một phương thức để họ tiếp nhận thông tin Kết quả khảo sát cho biết có 23,8% số học sinh khiếm thính tiếp nhận thông tin qua người khác Đó có thể là một người bình thường hay là một người khiếm thính khác Họ sẽ “nói chuyện” và truyền đạt thông tin cho nhau bằng cách ra dấu Do khả năng nghe bị hạn chế nên khi biết được một thông tin nào đó, người khiếm thính rất thích “kể” cho nhau nghe Ngoài việc ra dấu bằng tay, người khiếm thính còn thông tin cho nhau qua những biểu hiện của khuôn mặt Hiện nay chưa có một chuẩn mực nào nhất định cho các tín hiệu giao tiếp bằng tay nên người khiếm thính cũng gặp khó khăn khi tiếp xúc với những người khiếm thính khác không
sử dụng cùng hệ thống dấu hiệu bàn tay
Đứng thứ ba trong các cách thức tiếp cận thông tin của người khiếm thính là internet Máy tính thực hiện cùng lúc hai vai trò: cung cấp hình ảnh và chữ viết cho
Trang 18người khiếm thính Họ có thể dễ dàng chọn lựa những thông tin cần thiết cho mình và tiếp nhận chúng Điểm thuận lợi hơn ở internet so với truyền hình là người khiếm thính
có thể chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin Với những thông tin bằng chữ viết,
họ có nhiều thời gian để tra cứu nghĩa trong từ điển hoặc có thể xem lại nhiều lần một đoạn hình ảnh nào đó Học cách sử dụng internet cũng là học cách hòa nhập với cộng đồng một cách dễ dàng hơn Với internet, người khiếm thính có thể kết bạn, tìm kiếm việc làm phù hợp hay tự học một cách có hiệu quả theo khả năng, sở thích của mình Tại trường Khiếm thính Hy vọng 1, các học sinh được sử dụng hai phòng máy tính Một phòng có 9 máy tính đã được sử dụng trong vài năm này Phòng còn lại gồm 16 máy tính mới do Samsung tài trợ theo dự án “Phát triển công nghệ thông tin cho người khiếm thính” Cô Trần Thị Ngời – Hiệu trưởng trường Khiếm thính Hy vọng 1 – cho biết, một số học sinh của trường đang được đào tạo để đạt chứng chỉ A tin học, sau đó
sẽ tiếp tục được học nâng cao để sử dụng internet một cách dễ dàng hơn
Người khiếm thính là những người khiếm khuyết về thính giác tùy theo những mức độ khác nhau Với những người khiếm thính mức độ nhẹ, khả năng nghe ở họ vẫn còn Bạn Nguyễn Thúy Lựu, lớp 7A trường Khiếm thính Hy vọng 1 là trường hợp duy nhất trong số những học sinh được khảo sát có thể tìm hiểu thông tin trên radio Tuy không rõ lắm nhưng Lựu vẫn có thể nghe được phần nào những âm thanh quanh mình Đây là điều thuận lợi hơn rất nhiều so với những bạn khiếm thính mức độ nặng hơn
Các trường dạy học sinh khiếm thính đã sử dụng một số phần mềm phát âm khác nhau của riêng mỗi trường Các từ ngữ thể hiện trong phần mềm được minh họa bằng các hình ảnh thật trong cuộc sống Ví dụ, từ “chó” được minh họa bằng hình một con chó thật
Nhìn chung, với người khiếm thính, ngôn ngữ bàn tay, chữ viết và hình ảnh là những cách thức cơ bản để họ có thể giao tiếp với mọi người cũng như để tiếp cận truyền thông đại chúng
Trang 192.2 Những công cụ trợ giúp người khiếm thị, người khiếm thính trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng
2.2.1 Những công cụ trợ giúp người khiếm thị
2.2.1.1 Chữ nổi Braile
Đó là những kí tự được thể hiện dưới dạng những dấu chấm trên giấy Người khiếm thị sẽ dùng một dụng cụ nhọn đầu để “đục” lỗ trên giấy theo quy ước chung Người khiếm thị “đọc” những kí tự này bằng tay Bằng cảm giác của bàn tay, họ có thể biết những kí tự trên trang giấy muốn nói gì
Ứng dụng chữ nổi trong in ấn có thể kể đến tờ báo “Đời mới” – tờ báo cho người
mù do ông Lê Tiếp làm tổng biên tập Báo ra đời đã được 33 năm Ban đầu chỉ là tờ nội san lưu hành nội bộ với số lượng rất nhỏ do kinh phí hạn hẹp Đến năm 1988, “Đời mới” chính thức được đăng kí như một tờ tạp chí trong hệ thống báo chí Năm 1992 ra thêm bản in chữ thường và tờ “Đời mới” truyền thanh (được in sao ra băng cassete) Có những dịp quan trọng cần tuyên truyền và cần tiếng nói ủng hộ của các cấp các ngành, bản in chữ thường mới được xuất bản Còn định kì, tháng chẵn các hội viên có tờ báo chữ nổi, tháng lẻ có tờ truyền thanh
Gọi là tờ báo nhưng “Đời mới” to như cuốn sách, nặng đến gần nửa kí và nếu đứng cách xa 1m sẽ thấy nó trắng tinh không có lấy một hàng chữ Từ măng – séc báo cho đến dòng chữ “Cơ quan ngôn luận của Hội Người mù Việt Nam”, số ra, lượng ấn bản, các tin bài chính trên trang đầu đề được in bằng chữ nổi Bài viết cũng có tít, sa pô, tít phụ Tờ báo được phát đến tận tỉnh hội, phường hội, tới tay từng hội viên và những người mù, giúp họ hòa nhập hơn với đời sống cộng đồng, tạo cho họ một cuộc sống mới
Là tạp chí dành cho người mù nên mọi chuyện đều là thế giới xung quanh của người mù nhưng cũng khá phong phú với 9 chuyên trang, chuyên mục, từ hoạt động Hội, người tốt việc tốt, văn nghệ, phổ biến kiến thức đến Đất nước con người, hoạt động của người mù quốc tế