1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động tình nguyện của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh hiện nay công trình nghiên cứu khoa học sinh viên giải khuyến khích cấp trường

94 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động tình nguyện của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh hiện nay công trình nghiên cứu khoa học sinh viên giải khuyến khích cấp trường
Tác giả Nguyễn Xuân Trường, Lê Thị Mộng Quỳnh
Người hướng dẫn TS Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
Trường học Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Đề tài tìm hiểu hoạt động tình nguyện của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhằm giúp Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Trường họp Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và Đại học Khoa

học tự nhiên – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)

Nhóm sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Xuân Trường

Thành viên: Lê Thị Mộng Quỳnh

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019

Trang 2

ĐHQG-HCM Trường ĐHKHXH&NV

và Đại học Khoa học Tự Nhiên – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)

Thành phần tham gia thực hiện đề tài

TT Họ và tên Chịu

trách nhiệm Điện thoại Email

1 Nguyễn Xuân Trường 1 Chủ nhiệm 0355386767 n.xuantruong72@gmail.com

2 Lê Thị Mộng Quỳnh Tham gia 0968750121 mongquynh1005@gmail.com

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2018 – 2019

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 4

Đề tài nghiên cứu khoa học này, là sản phẩm đầu tiên của chúng em trong thời gian học đại học Nó cũng đánh dấu bước khởi đầu trong việc nghiên cứu khoa học xã hội nói chung

và xã hội học của chúng em nói riêng

Trước hết, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn khoa học – TS Nguyễn Nữ Nguyệt Anh Cô là người đã khơi lên đam mê nghiên cứu khoa học và đã dẫn dắt chúng em từ những bước đi đầu tiên còn nhiều bỡ ngỡ cho đến ngày hôm nay Cô đã luôn tận tình chỉ dẫn, chia sẽ những kiến thức chuyên môn và luôn động viên khuyến khích chúng em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

Kế đến, chúng em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong và ngoài Khoa

Xã hội học, đặc biệt là cô chủ nhiệm Ths Nguyễn Xuân Anh, TS Huỳnh Thị Như Lý, Ths Trần Thị Bích Liên, Ths Lê Anh Vũ … đã tận tình hỗ trợ chuyên môn và động viên tinh thần của chúng em

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến các bạn cùng lớp K22 – khoa Xã hội học, đặc biệt

là nhóm bạn thân: thầy An, Lê Mơ, Thúy Vi, Minh Thư, Trần Dương, Quang Lý, Nhật Huy, Đức Tính, đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc thực hiện nghiên cứu và luôn sát cánh với chúng mình trong những lúc khó khăn

Chúng con xin dành những lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cha Mẹ và các thành viên trong đình đã dành nhiều sự quan tâm và hy sinh cho chúng con

Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn xuất phát từ đáy lòng đến những người luôn quan tâm và hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu cũng như trên bước đường đời

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 5 năm 2019

Nhóm nghiên cứu

Nguyễn Xuân Trường và Lê Thị Mộng Quỳnh

Trang 5

Đại diện cho nhóm nghiên cứu, tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của chúng

tôi Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm

của chúng tôi đã tiến hành thực hiện tại hai trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

và Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4 năm

Trang 6

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6

6 Cấu trúc của báo cáo 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU CỦA MẪU KHẢO SÁT 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 8

1.2 Đặc điểm nhân khẩu mẫu của khảo sát 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THAM GIA HOẠT ĐỘNG TÌNH NGUYỆN CỦA SINH VIÊN ĐHQG TP.HCM HIỆN NAY 2.1 Sơ lược về hình thức, tổ chức và một số chương trình/ hoạt động tình nguyện nổi bật của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên ở Việt Nam hiện nay 39

2.2 Hoạt động tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM hiện nay 45

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 68

Trang 7

Bảng

Bảng 1.1 Các đặc điểm nhân khẩu của mẫu khảo sát 36

Bảng 2.1 Tham gia tổ chức tình nguyện theo tôn giáo của sinh viên 56

Bảng 2.2 Mức độ yêu thích các hoạt động tình nguyện 57

Bảng 2.3 Mức độ đánh giá các hoạt động tình nguyện do Đoàn, Hội và các nhóm liên quan tổ chức 60

Biểu đồ Biều đồ 2.1 Các hoạt động tình nguyện đã từng tham gia của sinh viên (%) 47

Biểu đồ 2.2 Mục đích tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên (%) 49

Biểu đồ 2.3 Giá trị ưu tiên khi tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên 51

Biểu đồ 2.4 Các tổ chức, nhóm đoàn thể tình nguyện của sinh viên (%) 53

Biểu đồ 2.5 Mong muốn tham gia hoạt động tình nguyện do Đoàn, Hội tổ chức (%) 58

Biểu đồ 2.6 Lý do không tham gia các hoạt động tình nguyện do Đoàn, Hội tổ chức (%) 59

Trang 8

CLB Câu lạc bộ

ĐHQG TP.HCM Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

ĐH KHTN Đại học Khoa học Tự nhiên

TP.HCM thành phố Hồ Chí Minh

UNV United Nations Volunteers

(Chương trình Tình nguyện Liên Hợp Quốc) SVCG Sinh viên Công giáo

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới mạnh mẽ, đẩy mạnh hội nhập hợp tác quốc tế trên nhiều phương diện như: kinh tế, văn hóa, giáo dục,… Trước xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam không thể tránh khỏi những yếu tố bên ngoài tác động đến lối sống, quan điểm

và giá trị sống của người dân Kể từ khi đất nước hoàn toàn độc lập (năm 1975), các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tìm hiểu sự thay đổi trong lối sống, quan điểm điểm và giá trị sống của người dân Việt Nam Các học giả đã đưa ra những kết luận tương đồng nhau, đó là thang giá trị nhân cách của con người Việt Nam có một sự chuyển dịch khá lớn (Trần Sỹ Phán & Trần Thị Hồng Lê, 2014) Ngoài sự thay đổi đó, lối sống của người dân Việt Nam cũng có sự thay đổi đáng kể Biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi này là lối sống của bộ phận thanh niên Việt Nam Nhiều nghiên cứu về vấn đề này, đã chỉ ra những xu hướng tiêu cực trong lối sống của một bộ phận thanh niên như: coi trọng giá trị trước mắt, xem nhẹ giá trị truyền thống, coi trọng vai trò và lợi ích cá nhân, thích hưởng thụ, đua đòi, xa hoa lãng phí,

… (Đào Văn Minh, 2016)

Bên cạnh một bộ phận thanh niên có lối sống tiêu cực, vẫn còn một bộ phận các bạn trẻ

có lối sống tích cực Lối sống này được thể hiện rõ nét thông qua việc tham gia các hoạt động tình nguyện phục vụ cộng đồng Tình nguyện vì cộng đồng là một phẩm chất đặc trưng, đậm chất nhân văn nổi bật của con người, thể hiện tình yêu thương, lòng chia sẻ, bao dung và trách nhiệm giữa con người với con người Thông qua việc tham gia các hoạt động tình nguyện, thanh niên cũng thể hiện được lối sống, quan điểm và giá trị sống của mình trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay Việc lựa chọn tham gia các hoạt động tình nguyện của thanh niên có sự thay đổi theo thời gian và bối cảnh xã hội Trong một cuộc khảo sát gần đây về xu hướng giá trị sống của thanh niên ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), kết quả khảo sát cho thấy tiêu chí chọn các hoạt động tình nguyện của thanh niên hiện nay ít quan tâm hơn đối với các hoạt động chỉ mang tính phong trào, hình thức và không liên quan trực tiếp đến mình cũng như trong thời gian ngắn ít tạo ra một kết quả cụ thể đối với xã hội (Nguyễn Đức Lộc, 2017) Tuy nhiên , trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều dư luận trái chiều xung quanh việc tham gia tình nguyện của sinh viên như “việc nhà

Trang 10

thì biếng nhác, việc chú bác thì siêng năng”1, đi tình nguyện để kiếm điểm rèn luyện, để kiếm người yêu, để chụp hình sống ảo,2 … Phải chăng, sinh viên tham gia tình nguyện vì những giá trị vị kỷ mà bỏ qua những giá trị cộng đồng? Hay có phải như Huỳnh Văn Sơn (2009, trang 9) đã nhận định rằng cái tôi của sinh viên vẫn còn rất lớn, lợi ích của cá nhân rất có thể được đặt lên trên lợi ích chung?

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn tìm hiểu về “Hoạt động tình nguyện của

sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” Với hy vọng qua nghiên

cứu này, phác thảo được bức tranh về lối sống của sinh viên hiện nay thông qua việc tham gia các hoạt động tình nguyện phục vụ cộng đồng Nghiên cứu này cũng sẽ đóng góp vào

sự đa dạng của các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề lối sống của sinh viên Bên cạnh đó, đây cũng sẽ là một tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn để Ban chấp hành Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến các tiêu chí lựa chọn tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Dựa trên cơ sở đó, Ban chấp hành Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên có thể xây dựng, thiết kế những chương trình hoạt động tình nguyện phù hợp với sinh viên Từ đó, các hoạt động tình nguyện sẽ mang lại hiệu quả

tốt nhất

1 20180610091438257.chn

http://kenh14.vn/tranh-cai-gay-gat-chuyen-sinh-vien-tinh-nguyen-viec-nha-thi-nhac-ma-viec-chu-bac-lai-sieng-2 trong-mat-nhieu-nguoi-20181225232744465.chn

Trang 11

http://kenh14.vn/tai-sao-mot-hanh-dong-nhan-van-nhu-sinh-vien-tinh-nguyen-lai-bi-len-an-tro-thanh-dieu-vo-bo-2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Đề tài tìm hiểu hoạt động tình nguyện của sinh viên Đại học Quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhằm giúp Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên có được một cái nhìn tổng quan về thực trạng việc tham gia hoạt động tình nguyện Từ đó, giúp cho Đoàn, Hội có phát triển các chương trình, hoạt động tình nguyện phù hợp với sinh viên và mang lại hiệu quả tích cực cho cộng đồng và xã hội

Mục tiêu cụ thể:

Từ mục tiêu tổng quát chúng tôi xác định các mục tiêu cụ thể như sau:

- Tìm hiểu mục đích và giá trị ưu tiên của sinh viên khi tham gia hoạt động tình nguyện

- Tìm hiểu sự lựa chọn của sinh viên về hình thức và tổ chức tình nguyện

- Tìm hiểu mức độ yêu thích của sinh viên và đánh giá của họ với các hoạt động tình nguyện do Đoàn, Hội tổ chức

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng là chính, định tính là bổ sung Phương pháp định lượng với dữ liệu định lượng từ khảo sát bảng hỏi nhằm nhận diện thực trạng thực gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM hiện nay Phương pháp định tính với dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu nhằm bổ sung và giải thích cho thực trạng tham gia tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM hiện nay

3.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Nguồn tại liệu thứ cấp được sử dụng để phân tích trong nghiên cứu này dựa trên cơ sở nguồn tư liệu sẵn có như các báo cáo, luận án, luận văn, bài viết trên tạp chí khoa học, sách, báo, trang web … có liên quan đến lối sống, định hướng giá trị và hoạt động tình nguyện của sinh viên hiện nay Việc phân tích các tư liệu sẵn có giúp chúng tôi có thể đánh giá về vấn đề nghiên cứu Đồng thời, qua việc phân tích này cũng giúp tác giả tìm ra những thông tin phù hợp đề trả lời cho câu hỏi nghiên cứu

Trang 12

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Thu thập thông tin định lượng

Chúng tôi đã tiến hành thu thập các thông tin định lượng bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với khách thể là sinh viên hai trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH&NV) và Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH KHTN) – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) Từ lý thuyết tiếp cận, chúng tôi tiến hành xây dựng bảng hỏi phù hợp với đối tượng nghiên cứu Việc sử dụng bảng hỏi giúp chúng tôi thu thập được những dữ liệu định lượng mang tính khách quan Các thông tin định lượng sau khi thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS Các dữ liệu định lượng sau khi phân tích được chúng tôi sử dụng để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu

Thu thập thông tin định tính

Phỏng vấn sâu để tìm hiểu sâu một vấn đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về vấn đề đang nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc: phỏng vấn sâu bán cấu trúc là phỏng vấn dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề mở cần đề cập đến Tuy nhiên, thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tùy thuộc vào ngữ cảnh và đặt điểm của đối tượng phỏng vấn

Các phỏng vấn được thực hiện trên cơ sở những câu hỏi được thiết kế sẵn cho từng nhóm đối tượng được phỏng vấn:

 Phỏng vấn các sinh viên

 Phỏng vấn cán bộ Đoàn – Hội sinh viên, người phụ trách nhóm tình nguyện tôn giáo

3.3 Phương pháp chọn mẫu và tuyển người tham gia nghiên cứu

Chọn mẫu cho bảng hỏi

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn mẫu cho bảng hỏi là mẫu chỉ tiêu vì những

lý do sau đây Thứ nhất, chọn mẫu chỉ tiêu phù hợp với quy mô và kinh phí của đề tài Bên cạnh đó, dựa trên những tiêu chí đặt ra như giới tính, năm học, trường học chúng tôi tiến hành thu thập thông tin nhằm đảm bảo tính đại diện của các nhóm khảo sát Tuy nhiên, cách chọn mẫu này cũng có những hạn chế nhất định như không thể suy luận kết quả nghiên cứu cho tổng thể (mẫu chỉ tiêu là mẫu phi xác suất), các nhóm được chọn chưa đảm bảo hết tính đại diện cho tổng thể

Trang 13

Quy mô mẫu: chúng tôi đã tiến hành khảo sát bảng hỏi với 200 sinh viên

Địa điểm lấy mẫu, địa bàn tiến hành lấy mẫu là hai trường ĐH KHXH&NV và ĐH

KHTN – ĐHQG TP.HCM Lý do chúng tôi chọn hai địa điểm trên để tiến hành khảo sát vì hai trường đại học này là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học tiêu biểu và lớn nhất ở các tỉnh phía Nam Hai trường này có quy mô đào tạo rộng, loại hình đào tạo đa dạng, các sinh viên đến từ nhiều địa phương khác nhau trên cả nước nên có sự

đa dạng về nguồn gốc xuất cư, đặc điểm văn hóa vùng miền Đồng thời, do có sự ảnh hưởng tác động về ngành học nên đề tài cũng muốn so sánh xem liệu có sự ảnh hưởng tác động khác biệt về ngành học, về nơi cư trú tạm thời sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên Tuy nhiên với cách chọn mẫu chỉ tiêu, kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh được thực trạng tham gia tình nguyện của sinh viên trong mẫu khảo sát

và chưa thể khái quát được cho toàn bộ sinh viên ĐHQG TP.HCM

Chọn mẫu cho phỏng vấn sâu

Chúng tôi lựa chọn mẫu phi xác suất cho việc thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu bán cấu trúc Mẫu phi xác suất được lựa chọn là mẫu phán đoán Chúng tôi xác định hai đối tượng cho phỏng vấn sâu như sau

Phỏng vấn sâu bán cấu trúc với một sinh viên theo tiêu chí tôn giáo (Công giáo) nhằm tìm hiểu động cơ, mục đích của họ khi tham gia các hoạt động tình nguyện được tổ chức trong cũng như ngoài phạm vi trường đại học

Phỏng vấn sâu bán cấu trúc một sinh viên trong Ban phụ trách câu lạc bộ của Khoa/

bộ môn để tìm hiểu những thông tin về cách thức xây dựng các chương trình tình nguyện cho sinh viên, thực trạng sinh viên tham gia các hoạt động tình nguyện và hiệu quả của các hoạt động tình nguyện đã từng được tổ chức

Chúng tôi đã tiến hành được hai cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với một nam sinh viên, năm 4 và một nữ sinh viên, năm 3, đang là chủ nhiệm của một CLB tình nguyện, trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM

Trang 14

3.4 Phương pháp xử lý thông tin

Từ nguồn tư liệu có sẵn: sách, báo, tạp chí, văn bản, các bài tham luận, báo cáo, chúng tôi tiến hành tổng quan các thông tin, tài liệu này theo những chủ đề khác nhau để từ

đó có những nhận định ban đầu về định hướng giá trị, lối sống và việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên

Dữ liệu định lượng sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS Statistics 20 đối với 200 bảng hỏi Kết quả phân tích những dữ liệu định lượng này nhằm nhận diện thực trạng tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM hiện nay

Những thông tin định tính mà chúng tôi thu được từ phương pháp phỏng vấn sâu được

xử lý bằng cách gỡ băng (từ các băng ghi âm), sắp xếp, hệ thống lại nguồn tư liệu về những nội dung ghi chép Kết hợp cùng số liệu định lượng hóa thông tin định tính qua khảo sát thống kê bằng bảng hỏi nhằm giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tình nguyện của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn và trường Đại

học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi thời gian: từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu này hy vọng có thể góp phần bổ sung vào các nghiên

cứu thực nghiệm về hoạt động tình nguyện của sinh viên hiện nay thông qua cách nhìn lối sống

Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này sẽ là một tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn để

Ban chấp hành Đoàn – Hội sinh viên có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến các tiêu chí lựa chọn tham gia các hoạt động tình nguyện của sinh viên Dựa trên cơ sở

đó, Ban chấp hành Đoàn – Hội sinh viên có thể xây dựng, thiết kế những chương trình hoạt động tình nguyện phù hợp với sinh viên

Trang 15

6 Cấu trúc của báo cáo

Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo đề tài nghiên cứu của chúng tôi gồm có hai chương

Chương 1, chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý luận của đề tài bao gồm tổng quan tình hình nghiên cứu, lý thuyết áp dụng và câu hỏi nghiên cứu Tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày các đặc điểm nhân khẩu mẫu khảo sát sinh viên

Chương 2, chúng tôi chia thành hai phần Phần thứ nhất, giới thiệu một cách sơ lược

về các hình thức, tổ chức tình nguyện ở Việt Nam hiện nay và các chương trình, hoạt động tình nguyện nổi bật của Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên Phần thứ hai, chúng tôi sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu về thực trạng tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên trên các phương diện: mục đích và giá trị ưu tiên khi tham gia hoạt động tình nguyện; lựa chọn hình thức và tổ chức tình nguyện; mức độ yêu thích và đánh giá về một số chương trình,

hoạt động tình nguyện do Đoàn, Hội tổ chức

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU CỦA SINH VIÊN TRONG MẪU KHẢO SÁT 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tình nguyện hiện hữu trong mọi xã hội trên thế giới Ở mỗi nền văn hóa và với những thứ tiếng khác nhau, những khái niệm định nghĩa nó cũng như hình thức thể hiện bằng câu chữ lại khác nhau Những giá trị bao hàm trong những hành động tình nguyện thì lại mang tính phổ quát và tương đồng: đó là một đam mê đóng góp cho lợi ích chung, hoàn toàn tự nguyện và không hề kỳ vọng được đền đáp bằng vật chất (UNV, 2011) Dưới góc nhìn xã hội học, hoạt động tình nguyện có thể được xem là một hành động xã hội hoặc một biểu hiện của lối sống được hình thành từ tập tính của cá nhân trong các định chế hay nhóm có cùng vị thế

Để có được một cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ

đó nhận diện được các vấn đề đã được nghiên cứu, phát hiện những điểm chưa được quan tâm và tìm được hướng tiếp cận phù hợp nhằm lý giải các yếu tố tác động đến việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên hiện nay Chúng tôi tiến hành tổng quan các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước theo hai vùng chủ đề chính

Thứ nhất, những nghiên cứu về lối sống và giá trị của thanh niên Việt Nam Đầu tiên,

chúng tôi trình bày khái quát thực trạng lối sống định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay qua tổng quan các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nhiều lĩnh vực khác nhau Tiếp theo, chúng tôi sẽ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến lối sống và định hướng giá trị của thanh niên đã được các tác giả phát hiện trong các nghiên cứu trước

Thứ hai, những nghiên cứu về hoạt động tình nguyện của thanh niên Trong phần này,

chúng tôi sẽ trình bày những đặc điểm nổi bật về thực trạng hoạt động tình nguyện ở Việt Nam và trên thế giới, những hiệu quả và lợi ích mà các hoạt động này mang lại Bên cạnh

đó, chúng tôi cũng trình bày một số yếu tố tác động đến việc lựa chọn tham gia hoạt động tình nguyện của thanh niên Việt Nam hiện nay

Trang 17

1.1.1.1 Những nghiên cứu về lối sống và và giá trị của thanh niên Việt Nam

Thực trạng lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay

Thanh niên, là một nhóm xã hội – dân cư “động”, vì đặc tính “động” của mình nên nhóm này luôn là chủ thể chuyển tải liên tục liên tục các giá trị liên thế hệ Song mặt khác nhóm thanh niên rất khó xác lập cho mình những giá trị xác định có thể tạo nên một bản sắc (lối sống) nhóm bền vững (Phạm Hồng Tung, 2008) Trong bối cảnh toàn cầu hóa của Việt Nam hiện nay, nhóm thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh chóng các giá trị từ nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên, sự thay đổi về hệ giá trị của người trẻ đã dẫn đến những biểu hiện khác nhau trên phương diện lối sống của họ Những biểu hiện nay có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực Song nhìn chung, chúng đều có sự chuyển biến theo thời gian

Sự biến đổi trong lối sống và định hướng giá trị của thanh niên

Lối sống và định hướng giá trị của con người được hình thành trong một quá trình lâu dài và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố xã hội Trong các xã hội khác nhau, con người sẽ có lối sống và hệ giá trị khác nhau Lối sống và giá trị của các thành viên trong cùng một định chế hay nhóm xã hội cũng thay đổi theo thời gian và cấu trúc của

xã hội đó Một số nghiên cứu về lối sống và định hướng giá trị ở Việt Nam cho thấy có sự chuyển đổi lối sống và định hướng giá trị của thanh niên theo thời gian (Huỳnh Văn Sơn, 2009; Đoàn Văn Điều, 2011; Nguyễn Quý Thanh, 2011; Phạm Hồng Tung, 2011; Bùi Thị Vân Anh, 2012; Trần Sỹ Phán & Trần Thị Hồng Lê, 2014; Nguyễn Đức Lộc, 2017) Các tác giả cho rằng định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay đang chuyển

từ các giá trị mang tính truyền thống sang các giá trị hiện đại thiên về cá nhân Các giá trị được thanh niên Việt Nam đề cao hiện này là: hiếu thảo, tự tin, trung thực (Huỳnh Văn Sơn, 2009); gia đình; nghề nghiệp, việc làm; lý tưởng sống, sức khỏe (Đoàn Văn Điều, 2011; Phạm Hồng Tung, 2011; Bùi Thị Vân Anh, 2012) Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho chúng ta thấy, những giá trị hiện đại mang tính cá nhân đang được thanh niên đề cao như: việc làm/ nghề nghiệp, sức khỏe, tự tin hay lý tưởng sống chiếm vị trí khá cao trong thang giá trị của người trẻ hiện nay Song những giá trị truyền thống như: gia đình hay sự hiếu thảo vẫn được thanh niên Việt Nam đề cao và giữ gìn Tuy nhiên trong một số nghiên cứu, các tác giả đã chỉ ra rằng một số giá trị mang tính tập thể của thanh niên như: vì lợi ích cộng đồng, hy sinh (Huỳnh Văn Sơn, 2009; Phạm Thị Hồng Hà, 2012); các vấn đề chính

Trang 18

trị - thời sự của đất nước (Bùi Thị Vân Anh, 2012; Nguyễn Đức Lộc, 2017) chưa được họ quan tâm đúng mức Vì vậy, các giá trị này thường xếp vị trí thấp trong thang giá trị của

thanh niên Việt Nam hiện nay Có tác giả cho rằng thực trạng này cho thấy “cái tôi của

sinh viên vẫn còn rất lớn, lợi ích của cá nhân rất có thể được đặt lên trên lợi ích chung.”

(Huỳnh Văn Sơn, 2009)

Lối sống của thanh niên Việt Nam cũng có những sự chuyển biến đáng kể Trong nghiên cứu của Phạm Hồng Tung (2011) về xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay cho thấy, gần một nửa thanh niên được hỏi sống thực dụng, thực tế hơn khi

họ chọn lựa việc làm là ưu tiên số một, khá ít thanh niên được hỏi xác định đóng góp cho đất nước là ưu tiên số một; một phần năm thanh niên được hỏi cảm thấy thất vọng, bi quan

về tương lai của mình (trang 289, 341) Kết quả này cũng tương đồng với các tác giả khác khi cho rằng lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay chủ yếu mang tính thực tế, thực dụng (Đoàn Văn Điều, 2011; Bùi Thị Vân Anh, 2012; Trần Sỹ Phán & Trần Thị Hồng Lê, 2014; Đào Văn Minh, 2016) Bên cạnh đó, lối sống của giới trẻ ngày nay còn được biểu hiện bởi đặc điểm sau Độ tuổi kết hôn trung bình của nam giới và nữ giới ở Việt Nam đang ngày càng tăng lên và không có sự chênh lệch đáng kể so với độ tuổi kết hôn trung bình trên thế giới (theo UNFPA, độ tuổi kết hôn trung bình của nam giới là 24,4 và nữ giới là 23,2) (Mai Thị Kim Thanh, 2011) Lối sống của thanh niên còn thể hiện qua nhu cầu giải trí và cách tiếp cận các loại hình văn hóa khác nhau Hoạt động giải trí của thanh niên hiện nay khá đa dạng bao gồm những hoạt động mang tính cá nhân và những hoạt động mang tính tập thể Sự ra đời của các loại hình truyền thông mới như Internet, mạng xã hội làm phong phú thêm những loại hình giải trí của thanh niên Bên cạnh đó sinh viên vẫn tham gia vào những hoạt động giải trí truyền thống (Đặng Cảnh Khanh, 2007; Nguyễn Quý Thanh, 2011)

Tóm lại, lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay đang có xu hướng biến chuyển theo thời gian và bối cảnh xã hội Tiếp theo, chúng tôi sẽ tổng quan những xu hướng tích cực và tiêu cực trong lối sống của người trẻ hiện nay

Trang 19

Những xu hướng tích cực trong lối sống của thanh niên

Bên cạnh việc nhận diện xu hướng thay đổi trong lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Các tác giả cũng

đi sâu vào phân tích và đánh giá thực trạng lối sống hiện nay của thanh niên Phạm Hồng Tung (2011) cho rằng lối sống của thanh niên nước ta có 6 đặc điểm và xu hướng tích cực chủ yếu sau: (1) trân trọng và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; (2) yêu nước, quan tâm đến tình hình đất nước; (3) thực tế, thiết thực trong suy nghĩ, hoạt động và ứng xử hàng ngày; (4) năng động, sáng tạo, luôn hướng tới cái mới, cái khác biệt; (5) tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu thành tựu văn minh và tinh hoa văn hóa từ bên ngoài; (6) có khát vọng, lạc quan, có tính tích cực chính trị - xã hội cao và bản lĩnh chính trị rõ ràng (tr 11) Bùi Thị Vân Anh (2012) trong nghiên cứu của mình về lối sống thanh niên nông thôn cũng đưa ra một số kết quả tương tự như: yêu nước là một trong những giá trị cốt lõi, cơ bản nhất của thanh niên nông thôn nói riêng và thanh niên Việt Nam nói chung hiện nay; gia đình là là một giá trị được thanh niên quan tâm nhất; các giá trị hiện đại phương Tây đang dần được du nhập và tác động đến lối sống của thanh niên nông thôn qua

sự thay đổi trong nhận thức về vị trí và vai trò của vợ chồng trong hôn nhân

Tuy nhiên trong một nghiên cứu mới đây của Nguyễn Đức Lộc (2017), cho rằng người trẻ dường như không mấy quan tâm các vấn đề chính trị trong các cuộc thảo luận giao tiếp thường ngày thay vào đó họ quan tâm hơn đến các vấn đề: ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm hay giao thông (trang 135, 136) Lý giải cho thực trạng này, tác giả cho rằng những vấn đề chính trị quốc gia không thật sự ảnh hưởng tức thời và trực tiếp đến cuộc sống của thanh niên, nên họ cũng không có nhu cầu thể hiện quan điểm hay suy nghĩ quá nhiều đến các vấn đề này (trang 136)

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng lối sống của thanh niên Việt Nam

có những biểu hiện mang tính tích cực phù hợp với sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của Đất nước hiện nay

Những xu hướng tiêu cực trong lối sống của thanh niên

Ngoài những đặc điểm và xu hướng lối sống tích cực, lành mạnh nói trên Các tác giả cũng chỉ ra những đặc điểm và xu hướng lối sống tiêu cực của thanh niên Việt Nam hiện nay Các đặc điểm đó là: sống buông thả bản thân; hành xử hung bạo; sống ích kỷ, thờ ơ,

Trang 20

vô cảm, thiếu trách nhiệm và nhiệt tình của tuổi trẻ; sống hời hợt a dua theo theo các trào lưu thời thượng, tiếp thu xô bồ ảnh hưởng văn minh, văn hóa từ bên ngoài (Phạm Hồng Tung, 2011); lối sống hành xử bạo lực, coi thường pháp luật; đua xe trái phép, hiện tượng đồng tình luyến ái (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2015) Đào Văn Minh (2016), cho rằng tác động của chủ nghĩa thực dụng đã làm xuất hiện lối sống tiêu cực trong một bộ phận sinh viên nước ta Lối sống tiêu cực này thể hiện qua những đặc điểm sau: (1) tư tưởng đề cao, tuyệt đối hóa giá trị trước mắt, hiện tại; xem nhẹ giá trị truyền thống lâu dài; (2) coi trọng, tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân; hướng vào lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hơn là lợi ích tập thể, cộng đồng; ít quan tâm đến các vấn đề xã hội; (3) coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, thích hưởng thụ, đua đòi, xa hoa lãng phí, xem thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng là mục đích cuối cùng của cuộc sống (trang 72) Trong xã hội Việt Nam hiện nay, tiền được xem là một giá trị và nhu cầu của thanh niên Họ làm nhiều cách để kiếm tiền, song bên cạnh những cách kiếm tiền lành mạnh do chính sức lao động và trí tuệ của bản thân, vẫn còn một bộ phận thanh niên có những cách kiếm tiền thiếu lành mạnh, nhiều thanh niên vẫn còn sống dựa vào sự hỗ trợ tiên bạc của cha mẹ và người thân cho đến khi lập gia đình Giới trẻ ngày nay kiếm tiền là để chi tiêu Họ thích chi tiêu phóng khoáng, thậm chí tiêu xài hoang phí và hay vượt quá số tiền mình có (Phan Thị Mai Hương, 2012) Văn hóa kiếm tiền và tiêu tiền đã thể hiện phần nào lối sống mang tính tiêu cực của một bộ phận thanh niên Việt Nam hiện nay

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu trên có sự tương đồng với nhau và với các nghiên cứu khác cùng chủ đề (Phan Thị Hồng Hà, 2012; Nguyễn Thị Thanh Hà, 2014; Trần Sỹ Phán & Trần Thị Hồng Lê, 2014) Lối sống tiêu cực của một bộ phận thanh niên Việt Nam đang có xu hướng ngày càng lan rộng và gây ra tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta hiện nay

Trước thực trạng chuyển biến lối sống và định hướng giá trị cùng với những biểu hiện phức tạp trong lối sống của thanh niên, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện ra một số yếu tố tác động đến lối sống và định hướng giá trị của người trẻ hiện nay sẽ được chúng tôi trình bày trong phần tiếp theo

Trang 21

Các yếu tố tác động đến lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay

Các yếu tố tác động đến lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay được chia thành hai nhóm chính là: là các yếu tố ngoại sinh và các yếu tố nội sinh Các yếu tố ngoại sinh có thể kể đến như: chủ nghĩa thực dụng (Đào Văn Minh, 2016); gia đình

và nhà trường (Phạm Hồng Tung, 2011; Phan Thị Hồng Hà, 2012); truyền thông hiện đại

và Internet (Nguyễn Quý Thanh, 2011; Phạm Hồng Tung, 2011; Nguyễn Đức Lộc, 2017); Tôn giáo (Phan Thị Hồng Hà, 2012); …

Chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, xuất hiện ở Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ XIX Trào lưu triết học đang được phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Chủ nghĩa thực dụng có sự tác động không nhỏ đến văn hóa, đạo đức và lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân nói chung và thanh niên nói riêng Tác động tích cực của chủ nghĩa thực dụng là giúp cho thanh niên khắc phục được bệnh giáo điều về lý luận, biết kết hợp lý thuyết với thực hành, lý luận với thực tiễn (Trần Sỹ Phán, 2012; trích lại trong Đào Văn Minh, 2016) Bên cạnh đó, chủ nghĩa thực dụng cũng tác động tiêu cực đến văn hóa, đạo đức và lối sống của một bộ phận thanh niên Việt Nam qua các biểu hiện như: đề cao giá trị trước mắt xem nhẹ giá trị truyền thống; coi trọng lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm; thích hưởng thụ, đua đòi, xa hoa, lãng phí (Đào Văn Minh, 2016) Đất nước ta đang ở trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vì thế không tránh khỏi việc các trào lưu văn hóa từ các nơi trên thế giới được du nhập vào đời sống của người dân Vì thế, trong đề tài này, các trào lưu văn hóa trong đó có chủ nghĩa thực dụng, cũng được chúng tôi quan tâm nghiên cứu, để làm rõ hơn bản chất của việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên hiện nay

Gia đình và nhà trường với chức năng xã hội hóa là các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Gia đình là tác nhân xã hội hóa đầu tiên

và quan trọng nhất (ảnh hưởng mạnh nhất) với tất cả các cá nhân, bằng các thông tin có lời

và không lời, cha mẹ và người thân đã truyền dạy cho đứa trẻ những vai trò xã hội, khuân mẫu hành vi, giá trị xã hội, chuẩn mực sống, niềm tin đạo đức, quy tắc giao tiếp, kiến thức,

… (Nguyễn Minh Hòa, 1999; Hoàng Bá Thịnh, 2017) Yếu tố liên quan đến gia đình ảnh hưởng đến việc định hướng giá trị của sinh viên trong một nghiên cứu gần đây được thể

Trang 22

hiện qua sự quan tâm, dạy bảo, nhắc nhở của gia đình; lối sống, cách ứng xử của những người thân và truyền thống của gia đình, dòng họ (Phan Thị Hồng Hà, 2012) Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chức năng xã hội hóa của gia đình cũng dần thu hẹp lại và nhường chỗ cho các định chế khác, trong đó phải kể đến trường học (định chế giáo dục) (Nguyễn Minh Hòa, 1999; Hoàng Bá Thịnh, 2017) Nhà trường giúp người học tiếp biến văn hóa, lĩnh hội các giá trị, chuẩn mực xã hội và chuẩn bị cho việc đóng các vai trò xã hội với tư cách là một thành viên trong xã hội Trong môi trường giáo dục tại trường học, con người làm quen với xã hội thông qua tương tác với bạn bè cùng lớp, cùng trường, thầy cô, … Bên cạnh đó, học sinh cũng tham gia vào các nhóm chính thức và phi chính thức trong quá trình học tập Do vậy, các niềm tin, giá trị trong các nhóm xã hội được cá thể hóa trong từng học sinh góp phần hình thành nên lối sống và định hướng giá trị của họ (Lê Ngọc Hùng, 2015) Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Hồng Hà (2012) đã chỉ ra những lời dạy bảo, nhắc nhở của thầy cô, giáo viên chủ nhiệm cũng có ảnh hưởng lớn đến việc định hướng giá trị đạo đức của sinh viên Nhìn chung, gia đình và nhà trường vẫn là hai yếu tố quan trọng trong việc hình thành lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay

Truyền thông đại chúng là một định chế xã hội, có tác động mạnh mẽ đến đời sống và góp phần định hình lối sống và giá trị của con người Trong xã hội đương đại, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là Internet, đã và đang xâm nhập vào nhiều mặt khác nhau của đời sống xã hội Trước thực trạng Internet ngày càng được phổ biến và sử dụng rộng rãi trong người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ (sinh viên) chiếm khoảng 90% (Nguyễn Quý Thanh, 2011), cùng với các sự kiện xã hội mang tích tiêu cực liên quan đến việc sử dụng Internet của giời trẻ trong thời gian gần đây, các nhà khoa học đã đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến phương tiện truyền thông kiểu mới này Nguyễn Quý Thanh (2011) đã tiến hành nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa Internet và lối sống sống của sinh viên trên cơ sở ba thành tố cấu thành lối sống của họ là: hoạt động học tập, hoạt động giải trí và các định hướng giá trị Kết quả nghiên cứu cho thấy, Internet có những tác động

đa chiều, thậm chí trái ngược nhau đến hoạt động học tập, giải trí và định hướng giá trị của sinh viên Việt Nam hiện nay Tác giả cho rằng Internet làm cho lối sống của sinh viên trở nên năng động hơn, hướng ngoại nhiều hơn, định hướng giá trị mang mang tính tự do hơn

Trang 23

so với các thể hệ sinh viên trước kia Nguyễn Đức Lộc (2017) cũng cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chuyển dịch hệ giá trị sống của thanh niên là sự phát triển của các ứng dụng khoa học kĩ thuật trong kỷ nguyên số hóa (Internet và các hình thức như mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin, …) Nhìn chung, các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và Internet nói riêng có ảnh hưởng nhất định đến lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa Internet và lối sống, định hướng giá trị còn một số điểm hạn chế như chưa giải thích được

cơ chế tác động của nó đối với lối sống sinh viên (Nguyễn Quý Thanh, 2011)

Tôn giáo là một yếu tố có tác động trực tiếp đến lối sống và giá trị của con người Yếu

tố này đã được nhà xã hội học nổi tiếng Max Weber phát hiện và phân tích trong tác phẩm

kinh điển của mình “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản” Trong xã

hội Việt Nam ngày nay, tôn giáo vẫn là một yếu tố quan trọng có tác động không nhỏ đến lối sống và định hướng giá trị của người dân, trong đó có thanh niên Trong một nghiên cứu

về định hướng giá trị đạo đức của sinh viên ở trường Đại học Đồng Nai3 năm 2012, theo các sinh viên đạo Công giáo, họ cho rằng những lời dạy bảo, nhân cách của giới chức sắc tôn giáo (linh mục; tu sĩ nam, nữ); các hoạt động sinh hoạt tập thể, cộng đồng ở nhà thờ và lối sống, cách ứng xử của người với người trong cộng đồng giáo dân là các yếu tố tác động đến việc định hình nhân cách nói chung và định hướng giá trị đạo đức nói riêng của nhóm sinh viên theo đạo Công giáo ở Đại học Đồng Nai (Phan Thị Hồng Hà, 2012) Bên cạnh

đó, những giá trị văn hóa đạo đức Công giáo có ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội

mà cụ thể đến lối sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng tôn giáo (Nguyễn Hồng Dương, 2016; Lê Bá Trình & Nguyễn Thị Quế Hương, 2017) Nghiên cứu về đạo Công giáo ở Việt Nam đã chỉ ra rằng, thông qua việc giáo dục và trao truyền cho các tín hữu được bắt đầu từ khi còn nhỏ đã làm cho các tín đồ hình thành nên lối sống đạo đặc trưng của tôn giáo này (Vũ Thị Hà, 2017) Các nghiên cứu về các tôn giáo khác như Phật giáo hay Islam giáo cũng chỉ ra rằng các giá trị tôn giáo thông qua quá trình xã hội hóa đã góp phần hình thành nên

3 Đồng Nai là một địa phương tập trung đông người Công giáo nhất trong cả nước Tỷ lệ người theo đạo Công giáo chiếm khoảng 33% dân số của tỉnh

Theo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_ph%E1%BA%ADn_Xu%C3%A2n_L%E1%BB%99c

Trang 24

lối sống của các tín đồ (Đỗ Thị Thanh Hà, 2017; Hoàng Thị Thơ, 2017) Nghiên cứu này

sẽ góp phần kiểm tra và làm rõ hơn mối liên hệ đó qua việc phân tích việc tham hoạt động tình nguyện theo từng nhóm sinh viên theo các tôn giáo khác nhau

Bên cạnh đó, các yếu tố nội sinh được một số tác giả nhắc đến là: trải nghiệm cuộc sống, tính cách, mục đích, ước mơ, lý tưởng sống (Phan Thị Hồng Hà, 2012); vô thức, cái tôi, lidibo, xung lực bản năng của eros và thanatos, … (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2015) Các yếu tố nội sinh trên được hai tác giả trên đưa ra dựa trên dựa trên quan điểm của tâm lý học Bằng cách tiếp cận của xã hội học, bên cạnh các yếu tố ngoại sinh thì chúng tôi cũng tìm hiểu các yếu tố vi mô (nội sinh) có ảnh hưởng đến việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên hiện nay

Trong phần này, chúng tôi đã tổng quan các nghiên cứu về chủ đề lối sống và định hướng giá trị của thanh niên Kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đã cho thấy được thực lối sống, định hướng giá trị của người trẻ thông chuyển sự chuyển biến trong lối sống, định hướng giá trị cùng với những xu hướng mang tính tích cực và tiêu cực trong lối sống của họ Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra được một số yếu tố ngoại sinh và nội sinh có ảnh hưởng đến lối sống, giá trị sống của người trẻ ở Việt Nam hiện nay

1.1.1.2 Những nghiên cứu về hoạt động tình nguyện của thanh niên hiện nay

Tinh thần vì cộng đồng là giá trị cao đẹp, là cái gốc, bản chất của con người Việt Nam bắt nguồn từ lòng yêu nước và tự hào dân tộc, yếu tố này đã sớm phát triển từ khi đất nước

ra đời và được vun đắp qua các thế hệ Nhưng để nói về tình nguyện là một hoạt động có

tổ chức, có ý thức và mang lại hiệu quả đo lường được, có tác động đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của cả cộng đồng thì tình nguyện chỉ mới thực sự hình thành từ sau Cách mạng Tháng Tám và phát triển một diện mạo mới sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (30/04/1975), đặc biệt là từ khi Việt Nam tiến hành chính sách “Đổi mới”, mở cửa giao lưu với quốc tế Phong trào tình nguyện đã phát triển sâu rộng cả về nội dung và hình thức, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia Hoạt động tình nguyện trở thành một trong những nhiệm vụ thường xuyên của các địa phương, đơn vị, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo sự gắn kết, thể hiện trách nhiệm của thanh niên đối với cộng đồng xã hội

Trang 25

Phong trào tình nguyện phát triển mạnh mẽ, sôi nổi nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh nơi được biết đến như là “quê hương thứ hai” của sinh viên Việt Nam khi tập trung nhiều trường Đại học, Cao đẳng nhất trên cả nước Chính yếu tố này giúp các phong trào, hoạt động tình nguyện của thành phố phát triển với lực lượng nòng cốt là sinh viên – những người trẻ đang dệt ước mơ cho đời và cho quê hương, đất nước

Ngày nay, các phong trào tình nguyện vẫn tiếp tục phát triển và mang nhiều hình thái, màu sắc mới, nhiều hình thức tổ chức khác nhau Bên cạnh đó, những người tham gia các hoạt động tình nguyện cũng có những thay đổi theo sự biến đổi không ngừng của xã hội Tuy đã có một vài nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ vai trò của tình nguyện đới với cộng đồng, xã hội; Tìm hiểu các động lực tham gia các hoạt động tình nguyện của các tình nguyện viên hay xu hướng lựa chọn các hình thức tình nguyện của thanh niên,… mà không nhấn mạnh nghiên cứu các yếu tố xã hội tác động như thế nào đến việc tham gia các hoạt động tình nguyện; sự ảnh hưởng của các yếu tố xã hội lên lựa chọn tình nguyện của cá nhân như lối sống, nhận thức của thanh niên về hoạt động tình nguyện – phục vụ cộng đồng trong bối cảnh toàn cầu hóa,… Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu mới, sâu sát về các hoạt động tình nguyện và những quan điểm, góc nhìn xã hội học phù hợp đối với các hoạt động tình nguyện trong bối cảnh xã hội hiện nay

Tình nguyện góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và mang lại lợi ích cho

toàn xã hội nói chung và cá nhân tình nguyện viên nói riêng “Trong hai thập kỷ qua, các

chương trình tình nguyện ở Campuchia đã tạo ra sự khác biệt trong việc giảm nghèo đói, giảm tỷ lệ mù chữ, cải thiện sức khỏe, thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ nhân quyền và môi trường” (UNV, 2017) Hay ở Philippines tổng giá trị của công việc tình nguyện đạt

44,5 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng GDP năm 2009 của nước này (Hagman, 2011) Với những lợi ích do tình nguyện mang lại, không ai có thể phủ nhận giá trị của nó trong sự phát triển của toàn xã hội Vì vậy, hoạt động tình nguyện không thể nằm ngoài các đối tượng nghiên cứu trong xã hội ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới Các nhà nghiên cứu mong muốn tìm ra các quy luật, bản chất của nó mà hướng tới sự phát triển tối đa lợi ích

do hoạt động tình nguyện mang lại

Trang 26

Trong báo cáo của UNV (Chương trình Tình nguyện viên Liên Hợp Quốc) ở Campuchia năm 2017, số liệu thống kê đáng chú ý là tỷ lệ nữ giới tham gia hoạt động tình nguyện cao hơn nam giới Đối với tất cả các nhóm tuổi, tình nguyện viên ở giáo dục cao đẳng, đại học chiếm tỷ trọng cao nhất

Trong bài viết “Tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động tình nguyện ở Việt

Nam” của An Đình Doanh (2010), đã mô tả một cách khái quát thực trạng của hoạt tình

nguyện ở Việt Nam Tác giả cho rằng hoạt động tình nguyện đã đem lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội cho sự phát triển của Đất nước Trong hai năm 2009 và 2010, đã có 15 triệu lượt thanh niên, học sinh tham gia hoạt động tình nguyện; hỗ trợ, giúp đỡ gần 38 triệu lượt người, vận động đóng góp trên 250 tỉ đồng và gần 5 triệu ngày công giúp đỡ những người dân có hoàn cảnh khó khăn Bên cạnh đó, hoạt động tình nguyện ở Việt Nam cũng đang gặp phải những thách thức lớn xuất phát từ lực cản của lợi nhuận, lợi ích cá nhân do nền kinh tế nước ta đang đi theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Hiện nay, vai trò của hoạt động tình nguyện đã dần được xem xét một cách đầy đủ hơn

Nó không chỉ dừng lại ở chiều cho đi mà còn là ở chiều nhận lại, tức là tác động lên chính bản thân những người làm tình nguyện (Lại Hồng Vy, 2013) Song làm thế nào để hoạt động tình nguyện có thể phát triển đúng hướng và phát huy tối đa hiệu quả của nó? Để làm được điều này, tác giả Lại Hồng Vy (2013) cho rằng cần phải phối hợp giữa nhiều yếu tố,

mà quan trọng nhất là bản thân tình nguyện viên; công việc tình nguyện rõ ràng và linh hoạt; môi trường tình nguyện hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển; hệ thống quản lý và hỗ trợ của chính quyền và các tổ chức cấp quốc gia; và nhận thức của xã hội về hoạt động tình nguyện Tác giả đã nghiên cứu mô hình tình nguyện của Úc, là một quốc gia phát triển mạnh trong lĩnh vực phi lợi nhuận, để tìm hiểu vai trò của hoạt động tình nguyện như một phương thức hòa nhập xã hội cho tình nguyện viên Từ việc phân tích những hoạt động tình nguyện ở Úc và Việt Nam, tác giả đã rút ra được bài học kinh nghiệm và đưa ra những khuyến nghị nhằm xây dựng một mô hình tình nguyện hiệu quả cao ở Việt Nam hiện nay Mỗi người có những cách hành động khác nhau để thực hiện động cơ, mục đích của mình Điều này có nghĩa là những tình nguyện viên khi tham gia các hoạt động tình nguyện không phải do phát giác hay hành động trong vô thức mà họ cũng có những lý do, mục đích khác nhau Điều này được thể hiện phần nào trong nghiên cứu của Eva Mysliwiec (2005)

Trang 27

Tác giả đã tiến hành khảo sát 215 thanh niên để tìm ra các động lực tham gia các hoạt động tình nguyện trong giới trẻ Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, động lực chính cho việc tham gia tình nguyện của thanh niên xuất phát từ lợi ích mong muốn đạt được khi tham gia hoạt động tình nguyện của cá nhân như là để học hỏi kiến thức và kinh nghiệm làm việc; kết thêm bạn mới; cải thiện tính cách; có cơ hội đi các tỉnh thành… và chỉ một số ít thanh niên tham gia hoạt động tình nguyện để đóng góp cho sự phát triển của đất nước

Bên cạnh những lý do tham gia hoạt động tình nguyện thì tính chất của các hoạt động tình nguyện cũng quyết định quan trọng đến sự tham gia của sinh viên Nguyễn Đức Lộc (2017) đã chỉ ra rằng xu hướng chọn lựa các hoạt động tình nguyện của sinh viên liên quan đến mức độ thiết thực cũng như tính cấp thiết của hoạt động tình nguyện ấy Các hoạt động mang tính phong trào như các cuộc thi văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của Đoàn Hội ít được thanh niên quan tâm và mong muốn tham gia Bên cạnh đó các hoạt động như bảo vệ

Tổ quốc/ giữ gìn an ninh/ trật tự tại địa phương cũng ít được các bạn trẻ quan tâm Qua đó chúng ta có thể thấy kết quả trên đã chứng minh rõ hơn tiêu chí chọn các hoạt động tình nguyện của thanh niên TP.HCM, đó là ít quan tâm hơn đối với các hoạt động chỉ mang tính phong trào, hình thức và không liên quan trực tiếp đến mình cũng như trong thời gian ngắn

ít tạo ra một kết quả cụ thể đối với xã hội

Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy từ sự tiếp nhận nền văn hóa toàn cầu cùng với sự phát triển của các ứng dụng khoa học kĩ thuật trong kỷ nguyên số hóa đã kết nối thanh niên TP.HCM trở thành một phần của một nền văn hóa toàn cầu Từ đó dẫn đến xu hướng lựa chọn những giá trị sống hiện đại thay thế cho những hệ giá trị truyền thống Nhiều học giả bằng quan sát cá nhân đã cho rằng đa số thanh niên ngày nay có sự suy giảm về những giá

trị văn hóa, đạo đức, lối sống mà một trong những nguyên nhân là “do bản thân cá nhân

thiếu bản lĩnh, thiếu tự tin, xuất phát từ sự lười lao động, lười suy nghĩ, thiếu kiềm chế, thích đua đòi, ăn diện, trình độ học vấn thấp,… hoặc do cách giáo dục của gia đình, cha

mẹ không quan tâm đến con cái, các gia đình cha mẹ ly hôn” (Lê Thị Ngọc Điệp, 2017:

trang 114)

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá trị sống của thanh niên TP.HCM hiện nay đang chịu sự tác động mạnh mẽ của các trào lưu xã hội Điều này được phản ánh rõ nét qua việc lựa chọn những giá trị liên quan đến các vấn đề như: môi trường sống, giải trí, tình nguyện, học hành,

Trang 28

hôn nhân – gia đình, nghề nghiệp, mục tiêu cuộc đời của người thanh niên hiện nay Sự xuất hiện của các giá trị mới mẻ trong xã hội hiện nay như: hôn nhân đồng giới, vấn đề ly hôn, cũng như là quan niệm về nghề nghiệp, gia đình, bạn bè v.v… trở thành những giá trị chung của thế hệ thanh niên hiện nay Các giá trị này là các giá trị mang tính chất đương đại, gắn với nhu cầu xuất phát từ bối cảnh sống thực tế của họ Xu hướng lựa chọn giá trị sống hiện nay của thanh niên TP.HCM phản ánh lối tư duy mang tính cá nhân hóa và đi kèm với đó là xu hướng lý tính hóa trong nhận thức của họ Các giá trị được lựa chọn không còn là những giá trị mang tính tập thể như các giá trị đã được các thế hệ thanh niên trước đây lựa chọn Thay vào đó, các giá trị được lựa chọn là những giá trị bắt nguồn từ nhận thức của cá nhân và tùy thuộc vào những đặc điểm mang tính đặc thù của từng người Hay nói cách khác, các giá trị tập thể, phổ quát đang dần bị thay thế bởi các giá trị cá nhân Chính những điều này ảnh hưởng nhiều đến nhận thức lối sống của thanh niên về hoạt động tình nguyện – phục vụ cộng đồng

Toàn cầu hóa đã mang đến cho nước ta những sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật nhưng cũng làm ảnh hưởng đến các giá trị và lối sống của con người trong xã hội hiện nay Nhìn vào khía cạnh tốt đẹp nhất của toàn cầu hóa đối với hoạt động tình nguyện chính

là sự hợp tác quốc tế để cùng đưa ra các chương trình tình nguyện quốc tế mang lại hiệu quả cao Đây cũng chính là xu hướng phát triển hoạt động của nhiều nước trên thế giới và của Việt Nam nhiều năm trở lại đây Như ông Tim E.M Wu, Chủ tịch, IAVE (Hiệp hội

quốc tế về nỗ lực tình nguyện ở Đài Loan) đã từng nói “Sự phát triển của các dịch vụ tình

nguyện là một chỉ số cho sự trưởng thành của một xã hội dân sự” Ngay từ rất sớm, Đài

Loan đã có nhiều chương trình, tổ chức tình nguyện quốc tế, có nhiều kinh nghiệm trong

hợp tác quốc tế để chúng ta có thể học hỏi Họ khẳng định “Mỗi người có một nghĩa vụ và

trách nhiệm để thúc đẩy sự thịnh vượng và tiến bộ xã hội Tham gia chương trình Tình nguyện ở nước ngoài và Dịch vụ Thanh niên ở nước ngoài là một biểu hiện của trách nhiệm này Hoạt động tình nguyện và dịch vụ ở nước ngoài không chỉ chia sẻ kinh nghiệm của Đài Loan với các đồng minh và bạn bè quốc tế, mà còn là phương tiện để những người có

lý tưởng tham gia công tác ngoại giao và đóng góp trực tiếp cho cộng đồng quốc tế.”

(Volunteer Taiwan, 2001)

Trang 29

Một nét mạnh của phong trào tình nguyện ở Việt Nam từ 1990 trở lại đây là ngày càng

có sự tham gia tích cực và có hiệu quả hơn của cộng đồng các tổ chức tình nguyện quốc tế Bên cạnh các hoạt động từ thiện nhân đạo, các tổ chức này còn tham gia tích cực vào công tác phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực và xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng dân

cư có khó khăn Từ đầu năm 1990, Chương trình Người tình nguyện Liên Hợp Quốc (UNV)

đã mở văn phòng tại Việt Nam Số người tình nguyện của UNV hiện nay đã tăng gấp ba so với thời kỳ đầu Số tình nguyện viên trong nước cũng tăng lên khá nhiều, chiếm 50% tổng

số người tình nguyện của chương trình Các tình nguyện viên UNV hoạt động trên nhiều lĩnh vực và không quản ngại vất vả đến những vùng sâu, vùng xa, chia sẻ khó khăn với đồng bào địa phương, và cung cấp những kiến thức và kinh nghiệm làm ăn, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam (Hữu Nam, 2001)

Nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đã cử hàng trăm người tình nguyện có năng lực và nhiệt tình tới làm việc tại Việt Nam Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản đã xây dựng Chương trình tình nguyện viên hải ngoại Nhật Bản (JOCV) tại Việt Nam từ năm 1994 Cho đến nay tình nguyện viên hải ngoại Nhật Bản đã tham gia có hiệu quả hàng chục dự án phát triển kinh tế xã hội Hàng trăm tình nguyện viên của các tổ chức phi chính phủ và của nhà nước

Úc, Canada, Hàn Quốc, Anh, v.v… đã và đang sát cánh cùng người tình nguyện Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, dạy ngoại ngữ, chuyển giao kiến thức mới về quản lý, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Hàng trăm lượt thầy thuốc các nước Mỹ, Pháp, Úc, Canađa đã tình nguyện đến Việt Nam hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm ghép thận, thay van tim, vá môi và các kỹ thuật khác mang lại cuộc sống và nụ cười cho hàng ngàn bệnh nhân, chủ yếu là trẻ nhỏ (Hữu Nam, 2001)

Nhìn nhận sự quan tâm và mức độ tham gia các hoạt động tình nguyện của các bạn trẻ qua một lăng kính khác từ nghiên cứu Các đoàn hội của sinh viên Công giáo (SVCG) ngoại tỉnh ở Hà Nội: sự hình thành và các hình thức hoạt động (Vũ Thị Hà, 2016) thì điều kiện

eo hẹp về kinh tế của đời sống sinh viên, hầu hết vẫn còn phụ thuộc vào nguồn trợ cấp của cha mẹ là một trong những nguyên nhân hạn chế sự tham gia của thanh niên đến các hoạt động này Đối với người Công giáo nói chung và SVCG nói riêng, ngay từ khi còn nhỏ đã thấm nhuần tư tưởng làm điều thiện, giúp đỡ mọi người là một cách thể hiện sống động đức

Trang 30

tin hoạt động thiện nguyện là một phần của việc thực hành đời sống yêu thương bác ái theo tinh thần Kitô giáo, thể hiện của tình yêu thương tha nhân đó Hoạt động thiện nguyện là một hoạt động vừa có tính chất đời, vừa mang tính chất đạo, được người trẻ Công giáo đặc biệt coi trọng và tham gia với tỷ lệ khá đông, đặc biệt với các hoạt động do các nhóm SVCG

tổ chức

Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động thiện nguyện thì kinh phí là điều không thể thiếu Đây cũng là khó khăn chung của các nhóm SVCG Kinh phí đi lại và ăn uống thường là do các thành viên tự nguyện đóng góp Kinh phí mua vật chất để làm từ thiện thường do các trưởng nhóm và ban điều hành vận động các cựu sinh viên của nhóm kêu gọi các doanh nghiệp mà chủ là người Công giáo hoặc liên hệ với các linh mục để có sự trợ giúp Vì thế, các hoạt động từ thiện nào không phải đóng góp quá nhiều kinh phí sẽ thu hút được đông các bạn sinh viên tham gia, những hoạt động nào cần đóng góp kinh phí lớn thường chỉ có ban điều hành của nhóm cùng với một số thành phần năng động của nhóm tiến hành Qua đây cho thấy, các hoạt động này có tác dụng thu hút giới trẻ nhiều hơn các hoạt động vui chơi dã ngoại nếu được tổ chức tốt

Như vậy, trên cơ sở của đức bác ái và là biểu hiện sinh động của đức ái trong thực tiễn đời sống, hoạt động từ thiện nhân đạo của Công giáo không chỉ là tôn chỉ đời sống đạo của nhiều dòng tu, hội đoàn, mà đó còn là một nét đẹp đạo đức, một hạt nhân tích cực trong giáo lý của tôn giáo này

Qua nghiên cứu trên có thể thấy kinh phí là một trong những trở ngại lớn của người trẻ khi tham gia các hoạt động tình nguyện, các hoạt động mang lại lợi ích cho xã hội Để khắc

phục điều này, Mimmi Viviana Clase Hagman trong báo cáo “Impact of Youth

Volunteering in Philippines”, năm 2011, với câu hỏi “Làm thế nào để có thể tối đa hóa tác

động tích cực của tình nguyện?”, tác giả chỉ ra đó là cần có sự liên kết, phối hợp tốt giữa các tổ chức nhằm đưa ra các hoạt động tình nguyện đa dạng, nhiều sự lựa chọn hơn cho các tình nguyện viên cũng như có các chương trình hỗ trợ những người tham gia hoạt động tình nguyện

Sự thiếu phối hợp giữa các tổ chức cũng là điểm yếu cần khắc phục trong các phong trào tình nguyện ở Việt Nam hiện nay Có lúc có nơi còn nặng về hình thức, các hoạt động thiếu sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo nhất quán, chưa coi trọng huấn luyện kỹ năng Tuy

Trang 31

nhiên, các mặt yếu đang dần được chỉ ra và từng bước khắc phục Với sự quan tâm của Chính phủ đối với các hoạt động tình nguyện và sự hưởng ứng rộng rãi của các tổ chức xã hội Việt Nam, sự tham gia tích cực và chia sẻ hiểu biết của cộng đồng tình nguyện quốc tế, phong trào tình nguyện của Việt Nam sẽ có một tương lai đầy hứa hẹn

Trên đây là một số nghiên cứu liên quan trực tiếp đến hoạt động tình nguyện của thanh niên hiện nay Nhìn chung các nghiên cứu này đã mô tả được thực trạng tham gia hoạt động tình nguyện của giới trẻ, trong đó có nhóm sinh viên Tuy nhiên, các nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được, chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa lối sống và việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng cách tiếp cận lối sống để tìm hiểu thực trạng tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM hiện nay

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận

Thông qua việc tổng quan các nghiên cứu về chủ đề lối sống, giá trị sống và chủ đề hoạt động tình nguyện của thanh niên, chúng tôi nhận thấy rằng hoạt động tình nguyện của sinh viên vừa là một biểu hiện của lối sống được hình thành từ tập tính của cá nhân trong từng giai cấp và nhóm xã hội cùng vị thế vừa là một hành động mà sinh viên gán cho một

ý nghĩa chủ quan nhất định (hành động xã hội) Bên cạnh đó, sinh viên còn chịu ảnh hưởng của nhiều giá trị đan xen dẫn đến họ tham gia các hoạt động tình nguyện với những mục

đích không giống nhau Trên cơ sở đó chúng tôi quyết định lựa chọn ba lý thuyết: lý thuyết

tiếp cận lối sống của Bourdieu, lý thuyết về giá trị và lý thuyết hành động xã hội của Max Weber để nghiên cứu việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên ĐHQG TP.HCM

ba câu hỏi nghiên cứu của Weber là lối sống được hình thành như thế nào Ông đã dành một phần sự quan tâm của mình để nghiên cứu về tôn giáo và cách thức mà nó tạo ra các

Trang 32

biểu tượng chung cũng như những sinh hoạt tôn giáo Weber cho rằng các tôn giáo có một vai trò trong việc tạo nên lối sống, vì thế ông đã phân tích tôn giáo dưới góc độ lối sống (Flueyry, 2016) Vậy thì “lối sống” là gì?

Có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về lối sống Trong tiếng nước ngoài, như trong tiếng anh cũng có nhiều thuật ngữ liên quan mô tả về khái niệm này như “life style”, “the way of life”, “way(s) of living” Trong tiếng Việt cũng có những thuật nhữ tương tự như “lối sống”, “nếp sống”, “phong cách sống” Theo Đôbơrianốp, nhà xã hội học

người Bulgaria, đã cho rằng: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống

những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người” Như vậy, theo ông, lối sống bị chi phối bởi những đặc điểm của hệ thống

các quan hệ xã hội mà cá nhân sống trong đó (Nguyễn Quý Thanh, 2011)

Theo từ điển Cambridge về xã hội học, lối sống là khái niệm đề cập đến những khuân mẫu hành động và văn hóa khác biệt Chính những khuân mẫu hành động và văn hóa này phân biệt các cá nhân và nhóm với nhau (Nguyễn Quý Thanh, 2011) Trong từ điển Xã hội học Oxford, thuật ngữ này được hiểu là những cách sống khác nhau, thường đập ngay vào mặt người ta thông qua những giá trị và phương thức tiêu dùng, là những cái đi kèm theo

sự khác biệt hóa ngày càng tăng của các xã hội tư bản chủ nghĩa tiên tiến Những khác biệt hóa như vậy, về nhiều phương diện cũng tương từ như quan niệm về các “nhóm có cùng vị thế” của Max Weber, đôi khi được coi là cái thay thế cho các giai cấp kinh tế - xã hội để trở thành nguyên tắc chủ yếu của sự phân chia xã hội (Từ điển Xã hội học Oxford, 2012, trang 273)

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lối sống Trong nghiên cứu này, chúng

tôi sử dụng khái niệm lối sống của Phạm Hồng Tung (2007), lối sống là “quá trình hiện

thực hóa các giá trị và hệ giá trị văn hóa trong thực tiễn cuộc sống hằng ngày” Khái niệm

này đã thể hiện được bản chất của lối sống là sự hiện thực hóa các giá trị trong đời sống hằng ngày của con người Những giá trị này có thể xuất phát từ các định chế (gia đình, tôn giáo, giáo dục, …) hay từ các “nhóm xã hội có cùng vị thế” mà cá nhân đó là thành viên Khi nghiên cứu về hoạt động tình nguyện của sinh viên, khách thể (sinh viên) mà chúng tôi hướng đến có thể là một thành viên trong một định chế hoặc một nhóm xã hội cùng vị thế nào đó Vì vậy, họ sẽ mang những giá trị khác nhau mà các thành viên trong cùng một định

Trang 33

chế hay nhóm xã hội chia sẻ Những giá trị mà họ tiếp nhận lại được hiện thực hóa trở thành lối sống của cá nhân đó Việc tham gia hoạt động tình nguyện của sinh viên chỉ có thể phản ánh một khía cạnh nhỏ trong lối sống của họ, song các giá trị mà các hoạt động tình nguyện mang lại cũng tác động đến chính bản thân những người tham gia Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ phân tích hoạt động tình nguyện của sinh viên dưới góc độ lối sống Trong xã hội học hiện đang tồn tại hai lối tiếp cận nghiên cứu về lối sống: lối tiếp cận phi cơ cấu và lối tiếp cận cơ cấu Lối tiếp cận phi cơ cấu chú trọng quá trình cá thể hóa và tăng lên các khả năng lựa chọn cho các hành động xã hội mà ít nhất chú ý đến các đặc điểm

cơ cấu, tiêu biểu là lý thuyết của Ulrich Beck Ông nhấn mạnh lối sống được hình thành do con người trong xã hội hiện đại có nhiều tự do lựa chọn Tuy nhiên, tự do không phải là vô hạn và đồng thời mang nhiều rủi ro do con người phải tự mình quyết định lấy hành động, cuộc sống của mình mà không có những định hướng chắc chắn như trong xã hội truyền thống Bên cạnh đó còn có nghiên cứu thực nghiệm của Ludtke nhấn mạnh những ưa thích trong hành động của các cá nhân, lối sống tự nó trở thành yếu tố ảnh hưởng, đặc điểm để giải thích đối với định hướng hành động và chất lượng sống Với lối tiếp cận hành động duy lý, Ludtke đã nhấn mạnh sự tự do lựa chọn của con người trong xã hội hiện đại Tuy nhiên, sự tự do lựa chọn và sở thích quyết định đến lối sống có mối liên hệ với nguồn lực (vốn kinh tế, văn hóa và xã hội) (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016)

Lối tiếp cận cơ cấu cho rằng các nhóm lối sống chủ yếu phụ thuộc vào tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, thu nhập,… đặt trọng tâm vào các điều kiện cơ cấu của hành động Tiêu biểu là các nghiên cứu của Bourdieu (1979), Muller (1992) và Zapf (1987) Có mối quan

hệ giữa các chỉ báo cơ cấu xã hội và việc tổ chức đời sống của cá nhân Phân tích lối sống theo xã hội học, trước nhất, cần phải chỉ ra được sự khác biệt xã hội và bất bình đẳng xã hội Khái lối sống là một khái niệm cơ bản, ngang hàng như giai cấp hoặc tầng lớp (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ cho lối tiếp cận cơ cấu Lối sống bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, trình độ học vấn, thu nhập và vị trí nghề nghiệp, giới tính, tầng lớp xã hội Thông qua lối sống thể hiện sự bất bình đẳng (chiều dọc – vertical)

và sự khác biệt (chiều ngang – horizontal) Đặc biệt, trong nhiều nghiên cứu, độ tuổi và trình độ học vấn có ảnh hưởng mạnh đến lối sống (Otto & Rossel, 2012; trích lại trong Lâm Thị Ánh Quyên, 2016)

Trang 34

Các nguồn lực và thành phần giai cấp/ tầng lớp, các loại hình gia đình, … cũng tác động lên lối sống Song lối sống không chỉ bị tác động từ bên ngoài, mà còn do các cá nhân

tự quyết định Trong các xã hội có trình độ phát triển kinh tế cao và tự do, con người có nhiều điều kiện để tự tổ chức đời sống Các nhóm lối sống khác nhau thể hiện sự tương đồng/ có mối quan hệ với một tầng lớp hoặc giai cấp xã hội nhất định Bất bình đẳng về thu nhập và tài sản đã làm cho các nhóm lối sống (theo chiều dọc) ngày càng tách biệt ra Và như vậy bất bình đẳng xã hội thể hiện ngay cả trong hoạt động sống của các cá nhân (Muller, 2012; trích lại trong (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016)

Trong các nhà xã hội học tiếp cận lối sống theo lối cấu trúc thì Pierre Bourdieu (1930 – 2002) được xem là đại diện tiêu biểu nhất Lối tiếp cận của ông nhấn mạnh yếu tố cơ cấu

xã hội, giai cấp quyết định đến lối sống Phân tích thực nghiệm về lối sống của Bourdieu

về xã hội Pháp dựa trên ba phạm trù phân tích: thị hiếu là yếu tố phân biệt; tập tính là trung gian giữa cơ cấu và hành động; từ thị hiếu và tập tính sản sinh ra những thực hành văn hóa

là những hành động được phân loại Từ ba yếu tố này, Bourdieu phát triển chủ điểm trung

tâm: sự khác biệt thị hiếu dựa trên sự khác biệt những điều kiện tồn tại khách quan Lối

sống không phải là một sản phẩm mang tính chủ quan, mà là một hiện tượng xã hội mang đặc trưng giai cấp Sự đa dạng của các lối sống là bằng chứng cho cuộc đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra để duy trì hoặc thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng vốn tồn tại bấy lâu, dựa vào công cụ là văn hóa – biểu tượng (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016: trang 89) Như vậy, lý

thuyết giai cấp và xã hội học văn hóa của Bourdieu không tách rời nhau Văn hóa luôn đạt được ưu thế vượt trội của nhân cách trong thị hiếu, tố chất, ngôn ngữ và ứng xử

Theo Bourdieu, lối sống là một thành tố của “vốn văn hóa”: thông quan hoàn cảnh xã hội nhất định (hoàn cảnh giai cấp) mà tập tính sản sinh ra một lối sống đặc trưng, thể hiện

ở những thực hành văn hóa nhất định Trọng tâm phân tích lối sống của ông là định nghĩa thị hiếu hợp thức như một vấn đề của văn hóa (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) Như vậy, để

có thể hiểu được lối sống theo cách tiếp cận cấu trúc của Bourdieu, cần phải hiểu được khái niệm tập tính là gì?

Trang 35

Tập tính (habitus)

Bourdieu cho rằng tập tính là những hành vi, cử chỉ, thói quen, bộ dạng, tư tưởng, cũng như những cách thức cảm nhận, những hình thức thể hiện tình cảm, sở thích, … mà cá nhân thể hiện trong đời sống xã hội một cách ý thức hay vô thức Nhìn vào tập tính của một cá nhân có thể đọc được cấp bậc và vị thế của họ trong xã hội Bourdieu khái niệm hóa “tập tính” theo nhiều cách thức đa dạng:

Như là những thực nghiệm hành động theo các cách thức riêng biệt (“lối sống”); Như là những động lực thúc đẩy, sở thích, khiếu thẩm mỹ, tình cảm;

Như là ứng xử được biểu hiện;

Như là các kỹ năng và năng lực xã hội thực tiễn;

Như là nguồn cảm hứng và kỳ vọng về các cơ hội cuộc đời và con đường sự nghiệp Tập tính là hiệu quả sinh ra bởi bản thân/ sự việc/ công việc (opus operatum) và phương cách hành động (modus operandi) sinh ra sự phân loại xã hội và giai cấp xã hội Tập tính

bị quy định bởi giai cấp và các điều kiện sống đặc trưng của từng giai cấp thông qua các quá trình thích nghi, học hỏi và điền kiến hóa được các cá nhân nội tâm hóa Tập tính được luyện tập, được khắc sâu bằng một hệ thống giáo dục phức hợp bao gồm gia đình, trường học và bối cảnh xã hội, sản sinh ra những nhu cầu và động cơ, mà trước hết là một thị hiếu

và lối sống nhất định Tập tính được biểu hiện trong hầu hết các hoạt động thực tế của con người trong khi họ không có ý thức về tập tính (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016)

Nguồn gốc xuất thân và đường đời xã hội đóng vai trò trung tâm tác động đến tập tính

Sự tác tác động này diễn ra thông qua sự phát triển của cá nhân trong thời thơ ấu, lịch sử gia đình và giai cấp đã đi vào tập tính (ngôn ngữ, giá trị của giai cấp, …) Những điều kiện sống giống nhau (được xác định qua khối lượng của vốn, cơ cấu của vốn) sẽ sinh ra những tập tính giống nhau Theo Bourdieu, khi con người sống và lớn lên trong những điều kiện sống của giai cấp xã hội của mình (ví dụ những người cùng xuất thân từ gia đình nông dân hay những người xuất thân từ gia đình giàu có, …) ở họ sẽ hình thành một cách vô thức các hình thức tập tính của giai cấp Nói tóm lại, cơ cấu xã hội đã được nội tâm hóa trong tập tính; đến lượt mình tập tính lại sản sinh ra sự đồng nhất giữa cơ cấu đã được nội tâm hóa

và thực tiễn lối sống Bằng cách này mà tập tính đã biến sự khác biệt giữa những điều kiện kinh tế xã hội và văn hóa vào sự khác biệt của lối sống (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016)

Trang 36

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận lối sống theo hướng cấu trúc của Bourdieu với các mục đích Thứ nhất, cách tiếp cận này giúp chúng tôi xem hoạt động tình nguyện là một biểu hiện của lối sông được hình thành từ tập tính của sinh viên trong các nhóm xã hội khác nhau (vùng miền, nơi ở, tôn giáo, trường học, giới tính, …) Với những lối sống đặc trưng của từng nhóm xã hội, sinh viên sẽ có nhận thức, thái độ và hành vi khác nhau đối với việc tham gia tình nguyện Thứ hai, cách tiếp cận của Bourdieu cũng giúp chúng tôi giải thích được mối tương quan của các biến độc lập (giới tình, tôn giáo, trường học, năm học, …) với các biến phụ thuộc biểu hiện cho việc tham gia tình nguyện của sinh viên hiện nay

1.1.2.2 Lý thuyết về giá trị trong xã hội học

Thuật ngữ giá trị có nhiều nghĩa khác nhau Trong phân tích thống kê định lượng, giá

trị là con số được quan sát trong một biến số cụ thể đối với môi trường riêng biệt, hoặc trong một tình trạng đặc thù, nó là một đại lượng bằng số Trong kinh tế học, lý thuyết lao động về giá trị nói rằng hàng hóa được trao đổi theo lượng lao động kết tinh trong đó, còn

lý thuyết Marxist về bóc lột cho rằng người thuê nhân công đã lấy ra một giá trị thặng dư

và giữ mức trả công thấp bằng cách tạo ra một đội quân lao động dự trữ Trong nghiên cứu thái độ, giá trị là những ý kiến của mọi người về hành vi đạo đức hoặc hành vi phù hợp, về việc cái gì là đúng hoặc sai, là đáng khen hay đáng chê Theo cùng cách đó, các nhà triết học coi giá trị như là một phần của đạo đức học, mỹ học và triết học chính trị (Từ điển Xã hội học Oxford, 2012, trang 188)

Trong xã hội học, giá trị là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm Những nhà xã hội học kinh điển, nhất là Durkheim và Weber đã thảo luận rất dài về vai trò của giá trị trong nghiên cứu xã hội Đối với các nhà chức năng luận chuẩn tắc nói chung (còn gọi là chức năng luận đồng thuận) và Talcott Parsons nói riêng, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các giá trị được chia sẻ trong việc duy trì trật tự xã hội Các cuộc tranh luận cổ điển về giá trị đã diễn ra và lôi cuốn những tên tuổi lớn như C Wright Mill, Howard S Becker, Alvin Gouldner, George Lundberg, Robert Lynd, Gunnar Myrdan (Từ điển Xã hội học Oxford, 2012) Khái niệm giá trị tiếp tục được các nhà xã hội học định nghĩa và đem ra thảo luận, song cho đến ngày nay khái niệm này vẫn chưa được thống nhất

Trang 37

Trong cuốn “Nhập môn Xã Hội học”, các tác giả cho rằng giá trị “là vấn đề tình cảm

của văn hóa và liên quan đến nhận thức của các thành viên của nhóm về cái đúng cái sai, cái tốt và cái xấu …” (Trần Thị Kim Xuyến & Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2005: trang 134)

Nguyễn Xuân Nghĩa (2017) trong cuốn “Xã hội học” của mình lại cho rằng giá trị “là

những tiêu chuẩn, những tư tưởng đề cao và biện minh cho các chuẩn mực, trên cơ sở đó

là các thành viên của một nền văn hóa xác định cái gì là đúng, là tốt, là đẹp và cái gì là cần thiết hay không cần thiết” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2017: trang 103) Ông cũng cho rằng

giá trị tồn tại trong ý thức tập thể của một xã hội hay nói cách khác giá trị là những phương thức tồn tại và hành động mà xã hội xem như là lý tưởng phải đạt đến Giá trị cũng là những nguyên tắc tổng quát, những đánh giá, phán đoán, trên quan điểm của văn hóa, cái mà chúng

ta làm, cái chúng ta mơ ước Mặt khác, các giá trị sẽ chi phối các quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh của cá nhân Con người học được các giá trị thông qua quá trình xã hội hóa trong gia đình, trường học, tôn giáo và các đoàn thể xã hội nói chung

Giá trị là một thành tố của văn hóa, tồn tại trong các xã hội, định chế và các nhóm xã hội khác nhau, có tác động đến hành động của con người Vì vậy, nghiên cứu về giá trị đã xuất hiện từ lâu trong khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng Những nghiên cứu về giá trị trong xã hội học khởi đầu với các tác giả như Parsons và Shils (1951), Kluckhohn (1951), Williams (1960), Allport et al (1960), Scott (1965), Smith (1969), và Kohn (1969) (Karp, 2000: p 3214)

Trước tiên, là quan điểm của các nhà lý thuyết chức năng, đại diện đầu tiên của trường phải này là Emile Durkheim, trong các công trình nghiên cứu của ông, tôn giáo là một vấn

đề được ông quan đặc biệt Ông cho rằng tôn giáo là cội nguồn của trật tự xã hội và tinh thần, đạo lý, ràng buộc các thành viên của xã hội với một công cuộc xã hội chung, một tổ hợp giá trị được mọi người chia sẻ và các mục tiêu xã hội (Connoly, 2018)

Một đại diện tiêu biểu khác cho trường phải này là Tacot Parsons, ông cho rằng các hệ thống văn hóa có khả năng biến các giá trị chung của xã hội thành hệ những giá trị riêng của mỗi người thông qua cơ chế xã hội hóa cá nhân, và nhờ vậy, giá trị thực hiện chức năng kiểm soát xã hội, duy trì trật tự và bảo tồn các khuôn mẫu hành động của các cá nhân (Lê Ngọc Hùng, 2011: trang 31) Ông cũng đưa ra ba hệ thống của tổ chức hành động của con người: hệ thống xã hội, hệ thống văn hóa và hệ thống nhân cách Đối với hệ thống nhân

Trang 38

cách, giá trị là định hướng giá trị, là tố chất cá nhân lựa chọn các phương án hành động (các hành động này dựa trên các cơ sở của quy định) Trên bình diện văn hóa, giá trị là những quy định tiêu chuẩn Trên bình diện xã hội, giá trị điều tiết các tương tác (Abels, 2009; trích lại trong (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) Tuy nhiên lý thuyết này của Parsons chưa được kiểm nghiệm thực tế

Dưới góc độ xã hội học, giá trị có tính chất hướng dẫn và lựa chọn Vì vậy, khi nó chỉ

ra những cái gì là phù hợp, cái gì không phù hợp với cá nhân, với cộng đồng, với xã hội thì đồng thời chúng cũng chấp nhận những kiều hành vi nào đó và phủ nhận những hành vi khác Giá trị được thực hiện thông qua hành động của các vai trò xã hội và vì vậy giá trị quy định tính thống nhất của các vai trò xã hội, kiến tạo “sự đồng thuận xã hội” Nghiên cứu giá trị sẽ giúp nhà xã hội học nắm bắt được động lực tiềm ẩn bên dưới bề mặt đời sống

xã hội (Mai Thị Kim Thanh, 2011)

Nghiên cứu về giá trị không nhằm đoán trước giá trị nào là tốt nhất, nhưng cố gắng khám phá xem người ta tin vào điều gì và niềm tin của họ thúc đẩy hành vi như thế nào Đồng thời, nghiên cứu về giá trị còn tìm hiểu xem người ta nắm giữa các giá trị ở mức độ nào, các ưu tiên giá trị như thế nào khi so sánh với người khác, nhóm khác, hoặc xã hội khác (Nguyễn Đức Lộc, 2017)

Giá trị được xem xét ở cấp độ cá nhân khi tìm hiểu về ưu tiên giá trị như quan điểm của Rokeach (1973; trích lại trong Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) Schwartz (1992, 2006a, 2012; trích lại trong Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) đã mở rộng thang đo giá trị của Rokeach và đưa

ra 10 giá trị cơ bản của nhân loại (basic human values) đó là các giá trị: (1) tính tự định hướng (self-direction), (2) sự kích thích (stimulation), (3) sự hưởng thụ (hedonism), (4) thành tựu (achievement), (5) quyền lực (power), (6) sự bảo đảm (security), (7) sự tuân thủ (conformity), (8) truyền thống (tradition), (9) tính vị tha (benevolence), (10) tinh thần bác

ái (universalism) (Schwartz, 2012) Nghiên cứu sau này về giá trị của Schwartz đã phát triển thành lý thuyết về định hướng giá trị văn hóa (theory of cultural value orientation) Schwartz (2012) cũng quan sát và đưa ra sáu đặc điểm chính khi sử dụng khái niệm giá trị là:

(1) Các giá trị là những niềm tin

Trang 39

(2) Giá trị liên quan đến những mục tiêu được mong muốn và cách thức thực hiện những

mục tiêu này

(3) Giá trị vượt lên những hành động và tình huống đặc trưng Chẳng hạn, phục tùng

rất quan trọng trong công việc hoặc ở nhà trường, trong thể thao hoặc kinh doanh,

với gia đình, bạn bè hoặc người lạ

(4) Giá trị phục vụ như là tiêu chuẩn để dẫn dắt sự chọn lựa hoặc đánh giá hành vi, con

người và sự kiện

(5) Các giá trị được sắp xếp theo tầm quan trọng đối với mỗi người Một bộ các giá trị

tạo nên hệ thống các giá trị được ưu tiên Các nền văn hóa và các cá nhân tiêu biểu

cho hệ thống các giá trị được ưu tiên của họ

(6) Tầm quan trong tương đối của đa giá trị dẫn dắt hành động Mỗi thái độ hay hành

vi thương liên quan đến nhiều hơn một giá trị

Thao tác hóa khái niệm của Schwartz phù hợp với quan điểm của xã hội học: giá trị là

khái niệm trừu tượng, nhưng lại không quá trừu tượng bởi giá trị có thể tạo động cơ cho

hành vi (Lâm Thị Ánh Quyên, 2016) Đối với các nhà xã hội học, giá trị văn hóa là quan trọng bởi vì chúng phản ánh các

cách thức mà xã hội cân bằng các mối quan tâm đối nghịch, xung đột với nhau giữa các cá

nhân và nhóm, và giữa các giá trị cơ bản mà cá nhân được xã hội hóa Ở cấp độ cá nhân

nhà nghiên cứu quan tâm đến các gía trị ưu tiên, ở cấp độ văn hóa, nhà nghiên cứu tìm hiểu

về giá trị thịnh hành trong nên văn hóa đó (Karp, 2000)

Các nghiên cứu xã hội học về giá trị còn xem xét mối quan hệ giữa các giá trị và tiến

trình xã hội vì giá trị là sản phẩm của tập thể và là bộ phận quan trọng hợp thành của một

nền văn hóa, các giá trị được hình thành nên trong các quá trình xã hội tương đối lâu dài

Con người thường dựa trên một quan điểm văn hóa nhất định để đánh giá về những gì là

đúng hay sai, đẹp hay xấu, thiện hay ác, do đó nên hay không nên làm Chính nguyên tắc

này đã chi phối hành vi của mỗi con người trong tất cả các khía cạnh trong đời sống của họ

(Macionis, 2004, trang 89) Các nghiên cứu có thể kể đến như, Weber (1905, 1958) nói về

chủ nghĩa tư bản (capitalism) và nền đạo đức Tin lành (Protestant Ethic) Các cá nhân bị

ảnh hưởng bởi các cam kết tôn giáo hơn là các nhu cầu kinh tế hay sự áp đặt bên ngoài

Triadis (1989) nói về hai nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân là tự do kinh tế và sự phức tạp

Trang 40

về văn hóa Inglehart đo lường mối quan hệ giữa các giá trị văn hóa và sự phát triển kinh tế

và đưa ra giả thuyết về xã hội hậu duy vật (1971, 2010)

Như vậy, theo các nhà xã hội học, giá trị được xem xét ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô, gồm các giá trị ưu tiên cơ bản đến giá trị đặt trong các thiết chế xã hội khác nhau Lý thuyết

về giá trị cho chúng tôi thấy có nhiều hệ giá trị đan xen nhau, chính sự phong phú này cung cấp cho chúng tôi những khung tham chiếu hữu ích cho việc thiết kế nghiên cứu nói chung

và các công cụ thu thập thông tin nói riêng

1.1.2.3 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber

Max Weber (1864 – 1920), nhà kinh tế học, nhà sử học và một nhà xã hội học nổi tiếng người Đức Ông được xem là một trong những nhà xã hội học có ảnh hưởng nhất do sự

đóng góp to lớn của mình trong lĩnh vực này Weber đã định nghĩa xã hội học là “khoa học

giải nghĩa hành động xã hội và … tiến tới cách giải thích nhân quả về đường lối và hệ quả của hành động xã hội” (Lê Ngọc Hùng, 2011: trang 194)

Theo Weber, đối tượng cơ bản của xã hội học là hành động của cá nhân Hành động của cá nhân mang tính “xã hội” (social action) theo nghĩa là nó có liên quan với hành động của tha nhân, hành động, diễn tiến hành động của cá nhân sẽ được định hướng tùy theo phản ứng của tha nhân Bởi vì cá nhân luôn gán cho hành động của mình một ý nghĩa mang tính chủ quan nên tiến trình của hành động này luôn có tính đến và bị tác động bởi ứng xử

của tha nhân (Flueyry, 2016, trang 38) Weber đã định nghĩa “hành động xã hội” là “hành

động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành

vi của người khác, và vì vậy nói được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó” (Lê Ngọc Hùng, 2011, trang 199)

Weber đã đưa ra định nghĩa về “hành động xã hội” trong bối cảnh diễn ra những cuộc tranh luận giữa hai trường phái hành vi và hành động của con người Đối lập với thuyết hành vi, ông cho rằng nếu một lý thuyết tập trung vào cá nhân thi không thể bỏ qua các yếu

tố chủ quan của cá nhân: tình cảm, suy nghĩ, tư tưởng Nếu chỉ coi phản ứng của con người như một phản xạ trả lời một kích thích thì con người không khác bao nhiêu so với động vật Thực ra con người ngoài việc phản xạ với các kích thích từ môi trường, con suy nghĩ về nó

và lựa chọn những cách ứng xử một cách có trí tuệ và tuân theo tình cảm của mình (Trần Thị Kim Xuyến & Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2005)

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Lê Ngọc Hùng. (2011). Lịch sử và lý thuyết Xã hội học. Hà Nội: Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2011
17. Lê Ngọc Hùng. (2015). Xã hội học Giáo dục. Hà Nội: Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Giáo dục
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2015
18. Lê Thái Thị Băng Tâm. (2003). Lối sống của sinh viên ĐHQGHN hiện nay. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống của sinh viên ĐHQGHN hiện nay
Tác giả: Lê Thái Thị Băng Tâm
Năm: 2003
19. Macionis, J. J. (2004). Xã hội học. Hồ Chí Minh: Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Macionis, J. J
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
20. Mai Thị Kim Thanh. (2011). Giáo trình Xã hội học Văn hóa. Hà Nội: Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học Văn hóa
Tác giả: Mai Thị Kim Thanh
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2011
21. Mai Văn Hai & Mai Kiệm. (2018). Xã hội học Văn hóa. Hồ Chí Minh: Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Văn hóa
Tác giả: Mai Văn Hai & Mai Kiệm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2018
22. Nguyễn Đức Lộc. (2017). Nhận diện xu hướng lựa chọn giá trị sống của thanh niên tại thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh: Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện xu hướng lựa chọn giá trị sống của thanh niên tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Lộc
Năm: 2017
23. Nguyễn Hồng Dương. (2016). Ảnh hưởng của giá trị Công giáo ở Việt Nam tới cá nhân, gia đình, cộng đồng. Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 và 10 (158), 77 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 và 10 (158)
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Năm: 2016
24. Nguyễn Minh Hòa. (1999). Xã hội học: những vấn đề cơ bản. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học: những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
25. Nguyễn Quý Thanh. (2011). Internet - Sinh viên - Lối sống: Nghiên cứu Xã hội học về phương tiện truyền thông kiểu mới. Hà Nội: Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internet - Sinh viên - Lối sống: Nghiên cứu Xã hội học về phương tiện truyền thông kiểu mới
Tác giả: Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2011
26. Nguyễn Thị Bích Hằng. (2015). Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud. Hà Nội: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hằng
Năm: 2015
27. Nguyễn Thị Thanh Hà. (2014). Giá trị truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Hà Nội:Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Năm: 2014
28. Nguyễn Trần Bạt. (2005). Văn hóa và con người. Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005
29. Nguyễn Tuấn Anh. (2016). Một số đặc điểm về lối sống của thanh niên hiện nay. Tạp chí thanh niên, 18 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí thanh niên
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2016
30. Nguyễn Xuân Nghĩa. (2012). Nghiên cứu định tính trong Khoa học xã hội: Một số vấn đề về nhận thức luận, phương pháp luận và phương pháp. Hồ Chí Minh: Nxb ĐHQGTPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định tính trong Khoa học xã hội: Một số vấn đề về nhận thức luận, phương pháp luận và phương pháp
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb ĐHQGTPHCM
Năm: 2012
31. Nguyễn Xuân Nghĩa. (2016). Phương pháp và Kĩ thuật trong nghiên cứu xã hội. Hồ Chí Minh: Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và Kĩ thuật trong nghiên cứu xã hội
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2016
32. Nguyễn Xuân Nghĩa. (2017). Lý thuyết xã hội đương đại: một số nhà tư tưởng quan trọng từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay. Hồ Chí Minh: Nxb ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết xã hội đương đại: một số nhà tư tưởng quan trọng từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb ĐHQG TP.HCM
Năm: 2017
33. Nguyễn Xuân Nghĩa. (2017). Xã hội học. Hồ Chí Minh: Nxb ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
Năm: 2017
34. Phạm Hồng Tung. (2007). Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 271 - 278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Phạm Hồng Tung
Năm: 2007
35. Phạm Hồng Tung. (2008). Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: một số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận.Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 148 - 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Phạm Hồng Tung
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm