HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỐN NGÀNH KINH TẾ BIỂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2015 CÁC TỪ VIẾT TẮT APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương Asia Pacific Econom
Trang 1ĐẠI HỌC QUỒC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Th.S NGUYỄN THỊ PHƯỢNG CHÂU
TP HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỒC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Th.S NGUYỄN THỊ PHƯỢNG CHÂU
TP HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10
1.1 TỔNG QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 10
1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 22
2.1 KHÁI NIỆM NỘI DUNG VỀ CHIẾN LƯỢC 22
2.1.1 Sự ra đời và phát triển lý thuyết về chiến lược 22
2.1.2 Khái niệm về chiến lược kinh doanh 24
2.1.3 Yêu cầu của chiến lược kinh doanh 26
2.1.4 Phân loại chiến lược kinh doanh 27
2.2 QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 29
2.2.1 Phân tích môi trường chiến lược 30
2.2.2 Xác định các quan điểm cơ bản (tầm nhìn) của chiến lược 36
2.2.3 Đề ra các mục tiêu chủ yếu của chiến lược 36
2.2.4 Định hướng phát triển các chiến lược bộ phận 36
2.2.5 Các giải pháp thực hiện chiến lược 37
2.3 CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC 37
2.3.1 Phân tích môi trường cạnh tranh theo Michael Porter 37
2.3.2 Mô hình phân tích ma trận SWOT 39
2.3.3 Mô hình phân tích của I Ansoff 42
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN 48
BỐN NGÀNH KINH TẾ BIỂN BÀ RỊA-VŨNG TÀU 48
3.1 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 48
3.1.1 Phân tích môi trường quốc tế 48
3.1.1.3 Xu hướng quốc tế hóa và khu vực hóa kinh tế thế giới 49
3.1.2 Phân tích môi trường trong nước 51
3.2 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TÁC NGHIỆP (PEST) 55
3.2.1 Phân tích môi trường chính trị và pháp lý 55
3.2.2 Phân tích các yếu tố xã hội 59
3.2.3 Phân tích các yếu tố tự nhiên 60
3.2.1.4 Phân tích các yếu tố công nghệ 64
3.3 PHÂN TÍCH SWOT 67
3.3.1 Dầu khí 67
Trang 43.3.2 Du lịch 70
3.3.2.2 Phân tích cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch 72
3.3.2 Hải sản 75
3.3.2.2 Phân tích cơ sở hạ tầng và dịch vụ hải sản 76
3.3.3 Cảng biển 77
3.4 Lựa chọn chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển đến năm 2015 80
CHƯƠNG 4 : CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỐN NGÀNH KINH TẾ BIỂN 86
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2015 86
4.1 Quan điểm phát triển bốn nghành kinh tế biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2015 86
4.2 Mục tiêu phát triển các ngành kinh tế biển đến năm 2015 .86
4.3.1 Định hướng phát triển ngành Du lịch 87
4.3.2 Định hướng phát triển cảng biển 96
4.3.3 Định hướng phát triển công nghiệp dầu khí 105
4.3.4 Định hướng phát triển ngành hải sản 107
4.4 Giải pháp chung cho phát triển kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015 108
4.4.1 Tạo vốn cho phát triển kinh tế biển 108
4.4.2 Ưu tiên dành vốn và các chính sách ưu đãi đặc biệt cho Côn Đảo 110
4.4.3.Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế 112
4.5 Giải pháp cho sự phát triển bốn ngành kinh tế biển Bà Rịa – Vũng Tàu 113
4.5.1 Giải pháp phát triển ngành Du lịch 113
4.5.2 Giải pháp phát triển ngành hải sản 115
4.5.3 Giải pháp phát triển ngành cảng biển 116
4.5.4 Giải pháp phát triển dầu khí 117
PHẦN III: Kết luận và kiến nghị 119
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 5HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỐN NGÀNH
KINH TẾ BIỂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2015
CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
(Asia Pacific Economic Cooperation)
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á (The Association of Southeast
IMO Tổ chức hàng hải quốc tế (International Maritime Organisation)
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong thời đại ngày nay, để giải quyết những vấn đề then chốt về lương thực,
thực phẩm cũng như về nguyên, nhiên liệu và năng lượng…cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại, không còn con đường nào khác là phải kết hợp chặt chẽ giữa khai thác tiềm năng kinh tế của đất liền với tăng cường khai thác tiềm năng kinh tế của biển Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kĩ thuật trong mấy thập niên gần đây đã cho phép Việt Nam có thể khai thác, sử dụng được nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển Hiện nay Việt Nam không chỉ khai thác nguồn lợi của khu vực gần bờ mà đã từng bước tiến ra khai thác các nguồn tài nguyên phong phú của thềm lục địa và các vùng biển khơi
Theo như nhiều Chiến lược gia quốc tế đã dự đoán: Thế kỉ 21 sẽ thực sự là
“Thế kỷ của Biển khơi và Đại dương”
Nằm ở vị trí thuận lợi, phía Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp Biển Đông Đây chính là cửa ngõ hướng ra Biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ Vị trí này cho phép Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển
Trong những năm qua, các ngành kinh tế biển đã tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cho tỉnh, góp phần rất lớn vào việc đưa vị thế kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lên là một trong những tỉnh hàng đầu của kinh tế Việt Nam về tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm GDP trong giai đoạn 1992 -2005, kể cả dầu khí, tăng bình quân 14,7% mỗi năm; không kể dầu khí, tăng 21% mỗi năm Năm 2005, GDP
cả dầu khí tăng 10,6 %, trừ dầu khí tăng 21,8 % GDP bình quân đầu người 2005, kể
Trang 7cả dầu khí, đạt khoảng 7.050 USD, gấp 7,2 lần so với năm 1992; không kể dầu khí,
đạt khoảng trên 2.570 USD, gấp 13,9 lần so với năm 1992
Hàng năm, Bà Rịa -Vũng Tàu tạo ra 11% GDP và đóng góp trên 30% tổng thu
ngân sách nhà nước (Nguồn Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2001 – 2005, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2006)
Sự phát triển kinh tế trên địa bàn Bà Rịa –Vũng Tàu chủ yếu là các ngành kinh tế biển Nhờ có tiềm năng khí đốt gắm liền với hệ thống cảng, 7 khu công nghiệp của tỉnh đã được phát triển với tổng diện tích 3.200 ha, bao gồm các ngành công nghiệp khai thác dầu thô và khí đốt (khoảng 16 - 18 triệu tấn dầu thô và 6 tỷ m3 khí /năm), công nghiệp sản xuất điện (khoảng 3.800 MW/năm), sản xuất khí hóa lỏng, công nghiệp luyện cán thép, sản xuất phân urê (800 ngàn tấn/năm), chế biến hải sản Trong 5 năm (2001-2005) tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hải sản trên địa bàn tỉnh đạt 538 triệu USD, vượt 66,56% chỉ tiêu của Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần
III và bằng 307.35% so với thời kỳ 1996-2000 (Nguồn Báo cáo tình hình thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2005, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2006)
Với những thành tựu đã đạt được và tiềm năng lợi thế sẵn có, kinh tế biển đã
và đang thể hiện vai trò cũng như tầm quan trọng của mình trong tiến trình hội nhập quốc tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Ngày 18-5 - 2007, UBND tỉnh đã thông qua chương trình hành động về chiến lược biển từ nay đến 2020 Theo đó, tỉnh sẽ tập trung đầu tư, qui hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế, các đô thị, các khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch trên vùng biển và vùng ven biển thuộc phạm vi quản lí của tỉnh Tỉnh sẽ ưu tiên xây dựng tuyến hành lang kinh tế công nghiệp, cảng, dịch vụ hàng hải: Tân Thành – Bà Rịa – Long Sơn – Vũng Tàu; tuyến hành lang kinh tế dịch vụ du lịch biển Vũng Tàu - Long Hải – Phước Hải – Bình Châu; Khu kinh tế du lịch hiện đại tầm cỡ quốc tế Côn Đảo; tập trung xây dựng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp; phát triển
Trang 8hệ thống cảng biển, công nghiệp đóng sửa tàu thuyền và dịch vụ hàng hải, các khu
du lịch ven biển và hải đảo; Phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản
Ngành thương mại tỉnh đã xây dựng và trình UBND tỉnh dự thảo chiến lược xây dựng “thương hiệu” Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2010, trong đó chú trọng đến vấn đề xây dựng thương hiệu các ngành kinh tế biển nhằm khơi dậy tiềm năng kinh
tế và phù hợp với chiến lược chung của tình về phát triển kinh tế biển
Tất cả những điều này đã cho thấy, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế biển trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và triển vọng tiếp tục khai thác phát triển trong thời kì hội nhập (2006 – 2015)
Xuất phát từ nhũng lí do trên và nhận thấy đây là vấn đề rất thiết thực, có nhiều ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho sự phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế nói chung của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Và cho đến nay, chưa có nhiều công trình khoa
học nghiên cứu cụ thể về vân đề này Do đó, đề tài: “Hoạch định chiến lược phát
triển các ngành kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015” nhằm mục
đích xác định Chiến lược phát triển các ngành kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015 Nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích những tiềm năng, thế mạnh về
nhiều mặt tự nhiên, kinh tế của các ngành kinh tế biển (4 ngành kinh tế biển là: dầu
khí, cảng biển, du lịch và hải sản), từ đó giúp chính quyền địa phương thấy rõ được
điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O), thách thức (T) và có chính sách, biện pháp cụ thể để phát triển kinh tế biển trong thời gian tới
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trong đề tài này, mục tiêu tổng quát nhằm xác định được chiến lược phát triển bốn ngành Kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thông qua việc phân tích môi trường tác động (vĩ mô và vi vô) dựa trên công cụ đánh giá SWOT Qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra một số kiến nghị, giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển bốn ngành kinh tế biển góp phần tăng cường khả năng hội nhập và
Trang 9phát triển Kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và cả nước nói chung từ nay đến năm 2015
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Khảo sát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
2 Xác định cơ sở lý thuyết về hoạch định chiến lược phát triển
3 Xác định các yếu tố liên quan, tác động đến sự phát triển các ngành kinh
tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và phân tích cụ thể những yếu tố đó
4 Sử dụng công cụ PEST - SWOT để phân tích các yếu tố thuộc điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O) và thách thức (T)
5 Kết hợp các yếu tố đó để đề ra chiến lược và chương trình hành động
6 Đề xuất một số chiến lược, giải pháp để khắc phục điểm yếu, thách thức bên ngòai và phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội đối phát triển kinh tế biển đối với các cơ quan chính quyền, ban ngành của địa phương
7 Xác định cụ thể chiến lược, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và phải xây dựng được chương trình hành động cụ thể, chi tiết, tiến tới lập dự án qui hoạch, phát triển đồng bộ các ngành kinh tế biển
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được phân tích chủ yếu dựa trên dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thô của các
sở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là: Sở Khoa học Công Nghệ , Sở Kế hoạch Đầu Tư, Sở Thủy Sản, Sở Du Lịch, Hiệp Hội Du Lịch
Phương pháp thu thập thông tin
Trước và sau khi định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành tu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như:
Báo chí: chúng tôi thu thập nhiều tài liệu và bài viết về tiềm năng phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên các báo: báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên, báo Bà Rịa– Vũng Tàu,
Trang 10 Các đề tài nghiên cứu có liên quan đến biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của các nhà nghiên cứu khoa học, các anh chị khóa trước
+ Tài liệu báo cáo tổng hợp của các cơ quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Sở Khoa học Công nghệ; Sở Kế Hoạch và Đầu tư; Sở tài nguyên môi trường; Sở Thủy Sản;
Sở Du lịch; Hiệp hội du lịch; Ban quản lý các khu công nghiệp; Ủy ban nhân dân tỉnh
Internet: thông qua công cụ tìm kiếm Tiếng Việt www.vinaseek.com, www.google.com.vn
Qua phỏng vấn thực tế các cá nhân và tiến hành phỏng vấn sâu tại các cơ quan chức năng sẽ thể hiện các nội dung về vai trò, những kết quả, định hướng phát triển của các ngành kinh tế biển trong quá khứ, hiện tại và tương lai…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển đến năm 2015 là đối tượng nghiên cứu của đề tài này
Khách thể nghiên cứu là bốn ngành Kinh tế biển: Du lịch, Dầu khí, Hải Sản, Cảng biển của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu chiến lược phát triển bốn ngành kinh
tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015 Nghiên cứu dựa trên số liệu của bốn ngành là: Du lịch, Dầu khí, Hải Sản, Cảng biển và các số liệu liên quan khác
Trang 115 Giả thuyết nghiên cứu
Giả định bốn ngành: Du lịch, Dầu khí, Hải Sản, Cảng biển đều là những ngành kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và được xác định là những ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm cho sự phát triển kinh tế của tỉnh đến năm 2015
Mục đích là giả định để lí giải vấn đề
Trang 126 Khung phân tích
Công nghệ
Môi trường nội bộ (Phân tích SWOT)
Môi trường trong nước
Tự nhiên
Chính trị, pháp
lý
Xã hội
Lựa chọn chiến lược
XD chương trình hành động
Môi trường
Vĩ mô
Hải sản
Dầu khí
Du lịch
Trang 137 Kế hoạch tiến hành nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian 5 tháng
Ngày bắt đầu: 02/11/2007
Ngày hoàn thành: 30/04/2008
Thời gian cụ thể được phân bổ như sau:
+ Thực địa, thu thập các tài liệu, dữ liệu liên quan đến đề tài:
- Thực địa, điều tra lần I: 02/03/08 đến 06/03/08
- Thực địa, điều tra lần II: từ 23/03/08 đến 27/03/08
+ Xử lý số liệu, tiến hành viết, đánh máy: từ 27/03/08 đến 20/04/08
+ Sửa chữa, hoàn tất đề tài nghiên cứu: 20/04/08 đến 27/04/08
+ Các kết quả nghiên cứu này sẽ được lần lượt trình bày trong báo cáo này, bao gồm ba phần chính:
+ Phần mở đầu: Giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu – nhiệm vụ, đối tượng , nội
dung và phương pháp, phạm vi nghiên cứu
+ Phần nội dung: Bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan khu vực nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hoạch định chiến lược
Chương 3: Phân tích môi trường phát triển bốn ngành kinh tế biển Bà Rịa–Vũng Tàu
Chương 4: Định hướng phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2015
+ Phần kết luận - kiến nghị: Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính,
nhận xét về nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu mới
Trang 148 Khái niệm về kinh tế biển
Thế nào là kinh tế biển? Những ngành nào được xem là ngành kinh tế biển?
Đó là những câu hỏi mà hiện nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất Tuy nhiên, có hai quan niệm về kinh tế biển mà chúng ta cần quan tâm:
- Quan niệm 1 (Theo nghĩa hẹp): Kinh tế biển gắn liền với những hoạt động thu lợi từ trên biển và hải đảo
Cách hiểu này được xem là chưa đầy đủ và toàn diện vì nó tách rời với mọi hoạt động trên đất liền Đi ngược lại với quy luật không gian kinh tế là một thể thống nhất không thể tách rời
- Quan niệm 2 (Theo nghĩa rộng): Kinh tế biển bao gồm cả hoạt động trên biển
và trên đất liền (tức là những vùng nội địa ven biển như: khu công nghiệp, du lịch,
đô thị ven biển,…có những giá trị gia tăng trên đất liền)
Cách hiểu này có nhiều ý kiến cho rằng là lạm dụng vì nhiều vùng không thuộc biển cũng bị cột chặt, trói buộc vào biển, có những ngành không thuộc biển cũng bị ràng buộc vào kinh tế biển
Tóm lại, hiện nay chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng để xác định ngành nào thuộc kinh tế biển
Tuy nhiên, theo cách hiểu của cá nhân : Kinh tế biển là một nhóm bao gồm các ngành kinh tế có những hoạt động gắn liền với không gian biển và những ngành
này đều tồn tại và phát triển chủ yếu dựa vào biển
Trang 15PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
1.1.1 Sơ lược lịch sử tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm 1658, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa 2.000 quân đánh thành Mô Xoài của Chân Lạp (thuộc vùng đất Bà Rịa ngày nay) Lý do của cuộc chinh phạt này được Chúa Nguyễn đưa ra là để bảo vệ những cư dân người Việt đã vào đây làm ăn sinh sống Trận này, Chúa Nguyễn bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân Chân Lạp xin được làm chư hầu và triều cống hàng năm Năm Giáp Tuất, Thái Tông thứ 27 (1674), Chúa Hiền lại sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên đem quân đánh lũy Bô Tâm của Chân Lạp ở xứ Mô Xoài mà về sau người Việt gọi là Lũy cũ Phước Tứ (vùng thị trấn Long Điền ngày nay)
Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa
Tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập tỉnh Phước Tuy gồm địa bàn tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa
Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sáp nhập tỉnh Bà Rịa với tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Biên
Từ tháng 2 năm 1976 sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai
Từ tháng 5 năm 1979 lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trải qua các thời kỳ lịch sử với nhiều địa danh nổi tiếng và tên gọi khác nhau từ Tam Thắng, Vũng Tàu đến Bà Rịa, Phước Tuy, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và ngày 12-8-1991 chính thức được mang tên Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 16tỷ lệ 1/50.000 6429-I, 6429-IV, 6430-I, 6430-II, 6430-III, 6430-IV, 6530-III)
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giáp với tỉnh Đồng Nai (ở phía Bắc và phía Tây, Tây Bắc), Bình Thuận (ở phía Đông), biển Đông (ở phía Nam, Tây và Tây Nam) và thành phố Hồ Chí Minh (ở phía Tây)
Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên 1975,15km2 với tổng chiều dài địa giới là 162 km, tổng chiều dài bờ biển là 305,4 km (gồm bờ biển và quần đảo Côn Sơn - Côn Đảo) với trên 100.000 km2 thềm lục địa
Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi Các đường quốc 51, 55, 56 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà Rịa - Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế
Địa hình:
Trên diện tích gặp 4 dạng địa hình chính với các đặc trưng như sau:
Địa hình dạng cao nguyên: Gồm phần Bắc và Đông Bắc huyện Châu Thành
với độ cao 70-250 m Bề mặt có dạng vòm và rải rác nổi lên trên các họng núi lửa dạng chóp Bề mặt cao nguyên được cấu thành bởi các thành tạo bazan phong hóa (đất đỏ) dày 3-5m (ở rìa vòm) tới 25-30 m (ở trung tâm vòm) và bị phân cắt yếu bởi mạng sông suối dạng tỏa tia
Đồng bằng xâm thực tích tụ cổ: Gặp ở Hắc Dịch (Bắc Bà Rịa) Bề mặt địa
hình nhấp nhô dạng đồi thấp, thoải với độ cao theo bậc từ 5-10 m 15-25 m và 30-35
m
Trang 17Đồng bằng cửa sông ven biển: Địa hình này gặp ở phía Tây và phía Nam
tỉnh Địa hình bị phân cắt mạnh bởi mạng kênh rạch chằng chịt Độ cao địa hình từ 1-2 m
Núi sót: Trên địa bàn tỉnh gặp rải rác các núi sót độc lập hoặc dạng dải với độ
cao 200-500 m: núi Dinh, núi Thị Vải, núi Ông Câu, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa, núi
Đá Dựng, núi Hòn Thùng Một số núi là nguồn cung cấp đá xây dựng và tạo vẻ đẹp cho cảnh quan thiên nhiên
Trang 18trong năm không lớn Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2.370 – 2.850 giờ và phân phối đều các tháng trong năm
Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1.600 mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% lượng mưa cả năm; và 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô là các tháng còn lại trong năm
Khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày (như tiêu, điều, cao su, cà phê) và cho phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng
Mạng lưới sông suối:
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mạng sông suối và kênh rạch khá dày nhưng phân bố không đều và chủ yếu là nhỏ nên ít có ý nghĩa giao thông đường thủy
của tỉnh, mặc dù chảy dọc ranh giới không dìa lắm Sông rộng trung bình 0,4 km, cửa sông rộng 1km và sâu trung bình 12 m Sông chảy theo hướng chính Bắc – Nam
Hệ thống sông Dinh: Sông xuất phát từ khu Cẩm Mỹ, núi Đất, núi Nghệ và
chảy theo hướng chính Bắc – Nam Từ cầu Cỏ May sông chia thành 2 nhánh: Bà Côi và sông Cỏ May
Phần gần các cửa sông Dinh và Thị Vải phát triển nhiều kênh rạch, bãi lầy và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều mạnh mẽ
Sông Ray: Xuất phát từ vùng núi Chưa Chan chảy qua vùng Xuân Lộc (Đồng
Nai) theo hướng Bắc – Nam và qua vùng Bà Rịa – Vũng Tàu ở phần trung tâm Lòng sông hẹp, ít nước nhưng là nguồn nước quan trọng trong sản xuất nông-lâm nghiệp của tỉnh
Trang 19Sông Hóa: Xuất phát từ khu vực xã Thừa Tích và chảy qua Xuyên Mộc theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam rồi chảy ra biển theo hướng Đông Bắc – Tây Nam
Sông ngắn, hẹp, ít nước
Hệ thống sông Bà Đắp: Đây cũng là một sông nhỏ xuất phát từ khu vực núi
Đất chảy qua xã An Nhất theo hướng Bắc – Nam, chảy về xã Long Mỹ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển theo hướng Đông – Tây
Hệ thống sông Băng Chúa: thuộc phần phía Đông tỉnh (giáp Bình Thuận)
Suối nước nóng Bình Châu cũng chảy vào sông này
Tóm lại, sông suối tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhỏ, ngắn, ít nước và phụ thuộc vào mùa mưa Các suối cấp 1, 2 vào mùa khô thường cạn kiệt Tuy vậy, nước sông suối là nguồn cung cấp chính để sản xuất nông nghiệp và dự trữ trong các công trình thủy lợi
Ngoài hệ thống sông, còn có vịnh Gành Rái có vai trò hết sức quan trọng Phía Đông vịnh giáp Vũng Tàu, phía Tây giáp huyện Cần giờ thuộc Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp đảo Long Sơn Vịnh có độ sâu biến đổi từ vài mét đến 32 mét Trên vách bờ của vịnh có 3 sông lớn đổ vào
1.1.2.2 Đặc điểm vùng biển và hải đảo
điểm nước được tính từ ranh giới giữa huyện Xuyên Mộc và huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận) đến Hòn Trứng Nhỏ (hòn đảo xa nhất của huyện Côn Đảo) Bờ biển
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở đoạn đầu của vùng biển Nam Bộ, tiếp giáp với bờ biển Trung Bộ, khởi đầu của một vùng bờ biển mới với cấu trúc địa chất khác biệt
Ở cách thành phố Vũng Tàu gần 170 km là quần đảo Côn Lôn gồm 16 hòn lớn nhỏ Đảo chính là Côn Lôn Lớn có diện tích 58 km2 và một số đảo khác Đường
bờ biển Côn Đảo khúc khuỷu và khá phức tạp
Trang 20Địa hình đáy biển của Bà Rịa – Vũng Tàu có độ dốc tương đối lớn Trầm tích đáy chủ yếu là cát mịn Về phía Tây Bắc Côn Đảo, đáy biển có các hố trũng sâu, các
hồ này có liên quan đến các khe nứt kiến tạo do các núi lửa cổ và được mài mòn theo thời gian bởi các dòng chảy qua eo biển
Biển Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gó mùa, chịu ảnh hưởng của khí tượng thủy văn đại dương, hơi thiên về khí hậu xích đạo
Nhiệt độ: Nhiệt độ nước biển biến đổi theo mùa và theo độ sâu của nước
Nhiệt độ trung bình tầng nước mặt dao động từ 240C đến 270C Vào mùa gió tây nam, ở vùng ven bờ nhiệt độ thấp hơn ngoài khơi khoảng từ 20C – 40C; vào mùa thời kì gió mùa đông bắc thì có hiện tượng ngược lại
Chế độ gió: Chế độ gió ở đây chia là hai mùa rõ rệt, đó là gió mùa Đông Bắc
và gió mùa Tây Nam Mùa gió Đông Bắc có tần suất xuất hiện lớn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa gió Tây Nam có tuần suất xuất hiện lớn từ tháng 6 đến tháng
10
Chế độ sóng: Vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có chế độ sóng liên quan trực
tiếp đến chế độ gió mùa Mùa sóng hướng Đông Bắc và mùa sóng hướng Tây Nam Mùa sóng hướng Đông Bắc có tần suất xuất hiện lớn vào tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, vùng ven bờ sóng có hướng Bắc chiếm ưu thế với tần suất khoảng 60%, ở vùng biển thoáng sóng thịnh hành theo hướng Đông Bắc chiếm tần suất 92% Mùa sóng hướng Tây Nam có tần suất xuất hiện cực đại vào tháng 8 và tháng
9, sóng có hướng Tây Nam chiếm tần suất khoảng 62%
Chế độ dòng chảy: Vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu chịu sự chi phối mạnh của
dòng triều và trường gió mùa Ở các khu vực cửa sông còn chịu tác động mạnh của dòng chảy sông, đặc biệt là vào mùa lũ Dòng chảy tổng hợp ở đây được hình thành bởi dòng triều và dòng gió (vùng xa bờ), dòng triều, dòng gió và dòng chảy sông (vùng ven bờ cửa sông), tốc độ dòng chảy tổng hợp trung bình khá lớn, nằm trong
Trang 21khoảng 30-50 cm/s, vùng cửa sông giá trị vận tốc lớn hơn rất nhiều, có thể đạt trên
100cm/s
Chế độ mực nước: Chủ yếu hình thành bởi thủy triều với chế độ bán nhật
triều không đều Biên độ triều từ 3-4m vào kì triều cường, thuộc loại lớn ở Việt Nam, vào kì triều kém độ lớn từ 1,5-2,0m Riêng vùng cửa sông trong mùa mưa còn
bị ảnh hưởng mạnh bởi những đợt lũ làm thay đổi đáng kể biến trình mực nước ở
đây
Độ mặn: Cũng có sự khác biệt giữa hai mùa, giữa các vùng nước ven bờ với
ngoài khơi Từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, khi lưu lượng nước sông đổ ra biển nhỏ, thì độ mặn của nước biển ở tầng mặt đến tầng đáy lớn hơn 32% Từ tháng 5 đến tháng 10, lượng nước ngọt của các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long đổ ra biển mạnh (lưu lượng gấp 2,2 lần mùa khô), thì có hiện tượng phân tầng nước rõ rệt Lớp phủ bề mặt có độ muối thấp hơn 32%; nồng độ muối ven bờ
giảm từ 5-8% so với mùa khô
không những có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mà còn tạo ra một tiềm
năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển
Tài nguyên biển của Bà Rịa - Vũng Tàu rất thuận lợi cho phát triển vận tải biển, hệ thống cảng, du lịch và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản
Phần này tôi sẽ làm rõ trong phần sau
1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành tựu kinh tế: Kinh tế trên địa bàn đã vượt qua nhiều khó khăn lớn hồi
đầu thập kỷ 1990, sớm tạo được thế ổn định và đạt tốc độ phát triển khá; chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa với cơ cấu công nghiệp, dịch vụ,
nông nghiệp Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh
Hoạt động kinh tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí Trên
thềm lục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá
Trang 22cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng
góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của
cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của cả nước) Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn/năm), sản xuất polyethylene (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại có 2 nhà máy, 1 dự án lớn mới được cấp phép và 1 dự án lớn khác đang chờ cấp phép đầu tư) Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng Về lĩnh vực du lịch, tỉnh này là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước Trong thời gian qua, chính phủ đã cấp phép và đang thẩm định một số dự án du lịch lớn như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD) Trong năm 2005, GDP đầu người của Bà Rịa-Vũng Tàu đứng đầu cả nước (4000 USD kể cả dầu khí, 2000 USD không kể dầu khí), thu ngân sách năm 2006 dự kiến 65.030 ngàn tỷ đồng (xếp thứ 2 sau Tp Hồ Chí Minh là 67.254 ngàn tỷ đồng)
Tuy nhiên mức sống của dân cư nói chung thì xếp sau Tp HCM và Hà Nội (Nguồn
Báo cáo tổng hợp, Sở Kế Hoạch Đầu tư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2005)
Trang 23 Khu công nghiệp:
Tỉnh hiện có 7 khu công nghiệp: Đông Xuyên, Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A mở rộng, Mỹ Xuân A 2, Mỹ Xuân B1, Cái Mép Các khu công nghiệp này
đã được chính phủ quy hoạch để triển khai đầu tư và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ bản (như san lấp mặt bằng, làm đường giao thông, điện lực, cấp thoát nước, v.v.)
Giao thông vận tải:
nhau Quốc lộ 51A (4 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km Trong 5-7 năm tới sẽ có đường cao tốc Biên Hòa-Vũng Tàu 8 làn xe song song với Quốc lộ 51A Toàn tỉnh hiện có trên 2.079 km đường giao thông, trong đó: Ðường do trung ương quản lý dài
79 km, chiếm 3,8%; đường do tỉnh quản lý dài 713 km, chiếm 34,27%; đường do huyện và xã quản lý dài 1.247 km, chiếm 60% Chất lượng đường bộ: đường cấp phối, đường đá dăm chiếm 51%, đường nhựa chỉ chiếm 20% còn lại là đường đất, đường đất sỏi 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm
Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên Từ Vũng Tàu có thể đi
Tp Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm
Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng
thăm dò khai thác dầu khí Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, ranh giới tỉnh khoảng 20 km
Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch đến năm
2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1,435 m sẽ được xây dựng nối Tp Hồ Chí Minh và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/g
địa bàn tỉnh là 59.839 chiếc, bình quân có 7,2 chiếc trên 100 dân
Mạng lưới điện quốc gia: 100% số huyện thị có mạng lưới điện quốc gia, số
xã sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%; số hộ được sử dụng điện đạt 70%
Trang 24Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Hiện tỉnh có 6 mạng lưới nhà máy nước với
tổng công suất là 58.000 m3/ngày đêm, số người được sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh chiếm 80
(Nguồn Báo cáo tổng hợp, Sở Kế Hoạch Đầu tư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu , 2005)
Dân cư: Khi mới thành lập tỉnh năm 1991, dân số của tỉnh là 611.000 người,
đến năm 1995, dân số lên đến 714.000 người, tăng 14,71% so với năm 1991 Theo
số liệu thống kê năm 2002, dân số Bà Rịa - Vũng Tàu là 862.081 người, tăng 41,0%
so với thời kỳ đầu thành lập (năm 1991) Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm 2002 so với năm 2001 là 2,4% Mật độ dân số: 436 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 14,2‰ Năm 2004 là: 1.982,2 km², 897.600 người (trung bình năm) Năm 2005 là:
913.100 người, mật độ dân số 461 Người/km² (Nguồn Tổng cục thống kê 2005)
Trên địa bàn tỉnh có trên 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 772.306 người, chiếm 97%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Hoa có 10.761 người, chiếm 1,45%; dân tộc Chơ-ro có 6.328 người, chiếm 0,91%; dân tộc Khơ-me có 1.249
người, chiếm 0,15%; dân tộc Tày có 1.156 người, chiếm 0,09% (Nguồn Tổng cục
thống kê 2005)
Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002 đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 5
huyện, 1 thị xã, 1 thành phố với 69 xã, phường Số học sinh phổ thông niên học 2002-2003 là 196.581 em, trong đó số học sinh dân tộc thiểu số là 3.523 học sinh, chiếm 1,8%; số giáo viên toàn tỉnh là 6.880 người Số thày thuốc có 365 người, bình
quân y sĩ trên 1 vạn dân là 3,1 người; bác sĩ trên 1 vạn dân là 4,6 người (Nguồn Báo
cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2005, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2006)
Tín ngưỡng:Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Bà Rịa – Vũng
Tàu vẫn mang đậm màu sắc dân gian với các nền “văn hoá sinh tồn” (nghề nông, nghề cá, thủ công…), “văn hoá ứng xử” (sự giao tiếp, tổ chức phường nghề, nghi lễ, hội hè…), “Văn hoá đạo đức” (các mối quan hệ ông bà, cha mẹ, xóm giềng…), “văn
Trang 25hoá tín ngưỡng” (tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng nguyên thuỷ…) “Văn hoá nghệ thuật” (ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian, ca dao, cổ tích hội hoạ, kiến trúc…) Đặc biệt, nền “Văn hoá tín ngưỡng” được thể hiện đậm nét với các lễ hội “Nghinh ông” của cư dân vùng ven biển như xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Ðất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (Tp.Vũng Tàu) Trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Nghinh Ông - đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm tôn thờ linh vật đã phù hộ giúp đỡ ngư dân trong những
tháng ngày lênh đênh trên biển
Lễ hội Dinh cô (Long Hải) thể hiện lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân với người con gái giàu lòng nhân ái, bị tử nạn trong một trận bão được ngư dân Long Hải chôn cất, tôn xưng là “Long Hải Thần Nữ” Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 - 11 - 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả đêm
Lễ hội Trùng Cửu 9/9 âm lịch hàng năm, diễn ra tại Nhà Lớn Long Sơn đây
là lễ cầu an, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh được mạnh khoẻ an lành, lễ hội diễn
ra vào đêm mồng 8 và ngày 9/9 âm lịch Đêm 8/9 gọi là lễ Tiên Thường kỉnh mặn (cúng mặn) chủ yếu là các sản vật do các bá tánh mang vào kỉnh (cúng), và ngày 9/9 gọi là Chánh Giỗ kỉnh chay (cúng chay), lễ hội không tổ chức linh đình như nhiều lễ hội khác chủ yếu là đi dâng hương, nguyện cầu khấn vái, và tưởng nhớ đến công đức của ông Trần Đạo Ông Trần mang đậm màu sắc dân gian, đạo thờ cúng ông bà
tổ tiên, đề cao hiếu nghĩa mà không có kết nạp tín đồ, không có kinh kệ, không có tổ chức lãnh đạo đứng đầu tôn giáo
Ngoài ra cư dân Bà Rịa – Vũng Tàu còn có những phong tục thờ cúng những người có công dựng nước và giữ nước vị anh hùng cứu nước như Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, thờ cúng Thành Hoàng… Tất cả nền văn hoá trên đã tạo nên một quần thể kiến trúc đầy màu sắc mang tính dân tộc của Dinh Cô, Đình Thần Thắng Tam, Nhà Lớn Long Sơn
(Nguồn Báo cáo tổng hợp, Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2005)
Trang 26Tóm lại: Chương 1 cho chúng ta thấy một cách khái quát những đặc điểm tự nhiên,
kinh tế, xã hội, văn hóa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Đồng thời, thấy được những đặc điểm cơ bản về khí hậu địa hình, tài nguyên biển Đó là tổng thể vùng nghiên cứu,
là cơ sở chúng ta có thể lấy làm căn cứ để phân tích môi trường nội bộ tỉnh, nhằm hoạch định chiến lược và đưa ra các giải pháp phát triển các ngành kinh tế biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2015
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
2.1 KHÁI NIỆM NỘI DUNG VỀ CHIẾN LƯỢC
2.1.1 Sự ra đời và phát triển lý thuyết về chiến lược
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh
Trong quân sự cũng có nhiều quan niệm về chiến lược Theo từ điển Larouse thì “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng” Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác nhau như: chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường…
Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, chiến lược phát triển muộn hơn vào nửa đầu thế kỷ 20 Đến những năm 1950 xuất hiện một số các chủ trương, ý tưởng hoạch đinh chiến lược trong các doanh nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các tiềm lực tài nguyên Vào giai đoạn này môi trường kinh doanh của doanh nghiệp đã chứng kiến những thay đổi lớn:
- Sự phát triển nhanh chóng của một xã hội tiêu dùng, cung vượt xa cầu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn, họ trở nên khó tính hơn, dẫn đến tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt
- Xu thế quốc tế hóa các giao dịch kinh tế phát triển mạnh, trao đổi hàng hoá thông qua xuất nhập khẩu, đầu tư công nghiệp trực tiếp ra nước ngoài, các công ty liên doanh, liên kế kinh doanh phát triển mạnh Ngày nay xuất hiện các công ty đa quốc gia với quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, hình thành các tập đoàn kinh tế dưới nhiều hình thức Trong nhiều trường hợp vượt đã vượt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ
Trang 28- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và những ứng dụng của khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý diễn ra với tốc độ cao Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… và sự ứng dụng của chúng trong các ngành công nghiệp đã làm đảo lộn hành vi, nếp nghĩ của nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn, mức độ rủi ro trong kinh doanh ngày càng cao
- Nguồn tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng và môi trường bị khai thác cạn kiệt dẫn đến những cuộc khủng khoảng trong những lĩnh vực này
Với những lý do trên đã làm cho môi trường kinh doanh có nhiều biến động, mức độ cạnh tranh gay gắt, phương thức cạnh tranh đa dạng, phạm vi cạnh tranh ngày càng lớn Trong điều kiện như vậy các công ty đã nhận thấy rằng, quản lý nội
bộ trước đây đưa họ đến thành công thì nay chỉ là điều kiện cần Điều kiện đủ để một doanh nghiệp thành công giờ đây phụ thuộc nhiều vào khả năng phản ứng của
nó trước những biến đổi của môi trường
Các nhà công nghiệp Nhật Bản sớm nhận thức được điều đó, vào cuối những năm 1950 họ đã chú ý đến marketing, các giải pháp về con người và tài chính để đáp lại những thay đổi của môi trường kinh doanh, nên họ vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng đều đặn Trong khi đó nhiều công ty phương tây đã rơi vào đình đốn trong sự say sưa với quản lý nội bộ, hoàn thiện quy trình thao tác, tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động… những điều mà trước đây đã từng dẫn họ đến thành công
Trong điều kiện đó, quản lý chiến lược đã xuất hiện như một cứu cánh trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp Quản lý chiến lược là quản lý hành vi ứng xử của doanh nghiệp với môi trường, xuất hiện trong điều kiện có cạnh tranh Nhiều tác giả cho rằng không có đối thủ cạnh tranh thì không có chiến lược Mục đích của quản lý chiến lược là nhằm tạo ra ưu thế trước đối thủ cạnh tranh Quản lý chiến lược là một nội dung quan trọng của quản trị doanh nghiệp nói chung, là biện pháp đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Trang 29Ở nước ta khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường,các doanh nghiệp và các cơ quan đã bắt đầu có hoạt động quản lý chiến lược Đến nay quản lý chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quản lý nói chung
và quản lý doanh nghiệp nói riêng
pháp luận, phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội)
2.1.2 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về về chiến lược kinh doanh
2.12.1 Coi chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh
Micheal Porter cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi
thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” (Nguyễn Văn Nghiến (2005), Chiến lược
Quản lý, Trường Đại học Bách khoa, Hà Nội)
Còn Ohmae thì cho rằng: “Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại điều thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác
định gianh giới của sự thỏa hiệp” (Nguyễn Văn Nghiến (2005), Chiến lược Quản lý,
Trường Đại học Bách khoa, Hà Nội)
Không có đối thủ cạnh tranh thì không có chiến lược, mục đích của chiến lược là đảm bảo thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh
2.1.2.2 Coi chiến lược kinh doanh là một phạm trù của khoa học quản lý
Fred Chandler viết: “Chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lực chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bố các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó”
Theo cách tiếp cận kế hoạch hoá: James B.Quinn cho rằng: “Chiến lược
kinh doanh đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính,
Trang 30các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau”
Theo William J.Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục
tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện” (Nguyễn Văn Nghiến (2005),
Chiến lược Quản lý, Trường Đại học Bách khoa, Hà Nội)
2.1.2.3 Theo nghĩa của từ chiến lược
Từ chiến lược có rất nhiều nghĩa, mỗi tác giả sử dụng nó theo nghĩa riêng Năm 1976 Minzberg đã tổng kết những nghĩa của từ đã được các học giả sử dụng và đưa ra 5 nghĩa chính của từ chiến lược, đó là “5P” của chiến lược: Kế hoạch (Plan), Mưu lược (Ploy), Mô thức - dạng thức (Pattern), Vị thế (Position), Triển vọng (Perspective)
Theo nghĩa của những từ trên, chiến lược là kế hoạch hay một chương trình hành động được xây dựng một cách có ý thức Chiến lược là mưu mẹo Chiến lược
là tập hợp các hành vi gắn bó chặt chẽ với nhau theo thời gian Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp trong môi trường của nó Chiến lược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện sự nhận thức và đánh giá thế giới bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp
Rõ ràng khái niệm chiến lược được thể hiện qua nhiều quan niệm:
- Chiến lược như những quyết định, những hành động hoặc những kế hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và thực hiện các mục tiêu của một tổ chức
- Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến các mục tiêu đảm bảo sao cho năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội
và thách thức từ bên ngoài
- Chiến lược như là một mô hình, vì ở một khía cạnh nào đó, chiến lược của một tổ chức phản ánh cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định trong tương lai
Trang 31- Chiến lược như là một triển vọng, một quan điểm này muốn đề cập đến sự liên quan đến chiến lược với những mục tiêu cơ bản, vị thế chiến lược và triển vọng tương lai của nó
Vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các đơn vị
kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Nghiến
(2005), Chiến lược Quản lý, Trường Đại học Bách khoa, Hà Nội)
Chiến lược kinh doanh phản ánh các hoạch động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá trình đặt ra các mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó
2.1.3 Yêu cầu của chiến lược kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần đạt được trong từng thời kỳ và cần phải quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh nghiệp hoặc trong tổ chức
- Chiến lược kinh doanh phải bảo đảm huy động tối đa và kết hợp một cách tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong kinh doanh, nhằm phát huy được những lợi thế, nắm bắt những cơ hội để dành ưu thế trong cạnh tranh
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh trong một quá trình liên tục từ xây dựng đến thực hiện, đánh giá, kiểm tra, điều chỉnh chiến lược
- Chiến lược kinh doanh được lập ra cho một khoảng thời gian tương đối dài thường là 3 năm, 5 năm hoặc 10 năm
Chiến lược kinh doanh con đường đến thành công, Nhà xuất bản Lao động xã hội,
Hà Nội)
Trang 322.1.4 Phân loại chiến lược kinh doanh
2.1.4.1 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược
Căn cứ vào phạm vi tác dụng của chiến lược, ta có thể phân loại thành các chiến lược sau đây:
- Chiến lược chung (chiến lược công ty): Chiến lược chung thường đề cập
những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp
- Chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh hoặc lĩnh vực kinh doanh: Chủ yếu
là các chiến lược cạnh tranh, cạnh tranh bằng giá thấp, bằng khác biệt của sản phẩm
và dịch vụ, hoặc tạo ra một khúc chiến lược riêng
- Chiến lược bộ phận: là các chiến lược chức năng bao gồm: Chiến lược sản
xuất, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing, chiến lược nghiên cứu và phát triển
Chiến lược chung, chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của một doanh nghiệp
Chiến lược của một doanh nghiệp là tập hợp các quyết định ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến vị trí của doanh nghiệp trong môi trường và vai trò của nó trong việc kiểm soát môi trường Chiến lược của doanh nghiệp bao gồm nhiều chiến chức năng, trong đó chiến lược sản xuất và thương mại đóng vai trò trung tâm, là cơ sở để xây dựng các chiến lược chức năng khác Theo P.Y Barreyre có 6 chiến lược chức năng sau đây:
+ Chiến lược thương mại: là tập hợp các chính sách dài hạn nhằm xác định vị
trí của doanh nghiệp trên thị trường
+ Chiến lược tài chính: là tập hợp các chính sách nhằm đảm bảo sự phù hợp
giữa nhu cầu tài chính để theo đuổi các mục tiêu thương mại với những điều kiện đặt ra bởi thị trường vốn
Trang 33+ Chiến lược sản xuất: là tập hợp những chính sách nhằm xác định loại sản
phẩm cần sản xuất, số lượng sản phẩm từng loại và phân bổ phương tiện hay các nguồn sản xuất để sản xuất một cách có hiệu quả các sản phẩm cung cấp cho thị trường
+ Chiến lược xã hội: là tập hợp các chính sách xác lập hành vi của doanh
nghiệp đối với thị trường lao động, nói rộng hơn là đối với môi trường kinh tế xã hội
và văn hoá
+ Chiến lược đổi mới công nghệ: là tập hợp các chính sách nhằm nghiên cứu
phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới và hoàn thiện các sản phẩm hiện hành cũng như các phương pháp công nghệ đang sử dụng
+ Chiến lược mua sắm và hậu cần: là tập hợp các chính sách nhằm đảm bảo
cho doanh nghiệp “mua tốt” và sử dụng hợp lý các nguồn vật chất từ khâu mua sắm đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nếu chiến lược thương mại nhằm “bán tốt” thì chiến lược mua sắm nhằm “mua tốt” và “mua tốt cũng như bán tốt”
Các chiến lược trên có tác động qua lại với nhau, chiến lược này là tiền đề để xây dựng chiến lược kia, thực hiện một chiến lược sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến lược còn lại
2.1.4.2 Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược kinh doanh
Căn cứ vào những cơ sở lập luận cho các chiến lược, ta có thể phân loại một
số chiến lược sau:
- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo
hoạch định chiến lược kinh doanh ở đây là không dàn trải các nguồn lực mà cần tập trung cho những hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh dựa trên ưu thế tương đối: Tư tưởng chỉ đạo
hoạch định chiến lược kinh doanh ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh Thông qua sự
Trang 34phân tích đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh Ưu thế tương đối của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh
có thể là: chất lượng, giá bán sản phẩm, dịch vụ, công nghệ sản xuất, mạng lưới tiêu thụ…
- Chiến lược kinh doanh sáng tạo tấn công: Chiến lược kinh doanh này
được xây dựng bằng cách nhìn thẳng vào những vấn đề phổ biến, tưởng như khó làm khác được, đặt câu hỏi tại sao phải làm như vậy? Xét lại những vấn đề đã được kết luận trước đây để tìm những khám phá mới làm cơ sở cho những chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình
- Chiến lược kinh doanh khai thác khả năng tiềm tàng: Cách xây dựng
chiến lược kinh doanh ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng tiềm tàng các nhân tố thuận lợi, đặc biệt là tiềm năng sử dụng nguồn nhân lực dư thừa, nguồn lực hỗ trợ của các lĩnh vực kinh doanh trọng yếu
(Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý, Xây dựng và Triển khai Chiến lược kinh doanh con đường đến thành công, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội)
Tóm lại: Khi xây dựng các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp phải căn cứ
vào những định hướng phát triển kinh tế xã hội; chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước; kết quả điều tra nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường; kết quả phân tích tính toán, dự báo về nguồn nhân lực mà doanh nghiệp có thể khai thác được Chiến lược kinh doanh luôn được hoàn thiện và sửa đổi khi có những biến động lớn về chủ trương và sự thay đổi lớn của tình hình thị trường
2.2 QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
Quy trình hoạch định chiến lược kinh doanh gồm có 5 bước:
1 - Phân tích môi trường chiến lược;
2 - Xác định các quan điểm cơ bản (tầm nhìn) của chiến lược;
3 - Đề ra các mục tiêu chủ yếu của chiến lược;
Trang 354 - Định hướng phát triển các chiến lược bộ phận;
5 - Các giải pháp thực hiện chiến lược
(Nguồn: Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý, Xây dựng và Triển khai Chiến lược kinh doanh con đường đến thành công, Nhà xuất bản Lao động xã hội,
Hà Nội)
2.2.1 Phân tích môi trường chiến lược
Bước này phân tích và đánh giá về các căn cứ, cơ sở để xây dựng chiến lược Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thường được đưa ra và lập luận trên cơ sở phân tích môi trường kinh doanh và khả năng của doanh nghiệp
2.2.1.1 Phân tích môi trường kinh doanh
Hoạch định chiến lược tốt hay không phụ thuộc nhiều vào việc hiểu biết đầy
đủ về môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động Môi trường hoạt động của doanh nghiệp gồm 3 cấp: Môi trường quốc tế, môi trường kinh tế quốc dân (môi trường vĩ mô) và môi trường ngành (môi trường vi mô)
Phân tích môi trường vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Hiện nay doanh nghiệp đang đối phó với vấn đề gì? Mặc dù có nhiều vấn đề khác nhau của môi trường vĩ mô, tuy nhiên nổi lên 5 yếu tố quan trọng bao trùm, đó là: yếu tố kinh
tế, chính trị và pháp luật, văn hóa xã hội, tự nhiên và công nghệ
• Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt
động sản xuất kinh doanh, bao gồm các yếu tố chính như: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp, thu nhập quốc dân, xu hướng và thực tế đầu
tư nước ngoài…
Trang 36Mỗi yếu tố nêu trên đều có thể là cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, cũng
có thể là mối đe dọa đối với sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích các yếu tố của của môi trường kinh tế giúp cho các nhà quản lý tiến hành các dự báo và đưa ra kết luận về những xu thế chính của sự biến đổi môi trường trong tương lai, là cơ sở cho các dự báo ngành và dự báo thương mại
• Yếu tố chính trị và pháp lý
Các thể chế kinh tế xã hội như: các chính sách, quy chế, định chế, luật lệ, chế
độ, tiền lương, thủ tục hành chính… do Chính phủ đề ra cũng như mức ổn định về chính trị, tính bền vững của Chính phủ đều là những môi trường có thể tạo cơ hội hay nguy cơ đối với kinh doanh, nhiều khi quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường thế giới
• Yếu tố văn hoá - xã hội
Các yếu tố văn hóa - xã hội như: số dân, tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân cư, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, giá trị văn hóa, cộng đồng doanh nhân…đều có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đây là nhân tố chính trong việc hình thành thị trường sản phẩm và thị trường các dịch vụ yếu tố sản xuất
Các yếu tố văn hóa - xã hội thường biến đổi chậm nên các doanh nghiệp thường dễ lãng quên khi xem xét các vấn đề chiến lược, một số trường hợp đưa doanh nghiệp đến những thảm họa
• Yếu tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lượng, môi trường tự nhiên được coi là những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp và các doanh nghiệp Sự khai thác tài nguyên bừa bãi, nạn
ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí đang đặt ra nhiều
Trang 37vấn đề cần giải quyết ở cấp quốc gia và quốc tế, không thể coi là ngoài cuộc đối với các doanh nghiệp
Luật lệ và dư luận xã hội đòi hỏi kinh doanh của các doanh nghiệp tuân thủ ngày càng nghiêm ngặt các chuẩn mực môi trường, đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp với sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt cũng đặt ra cho các doanh nghiệp những định hướng như: thay thế nguồn nguyên liệu, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế
• Yếu tố công nghệ
Ngày nay những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng những tiến bộ
đó vào lĩnh vực sản xuất và quản lý đang là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kinh doanh của các doanh nghiệp Chu kỳ sống của sản phẩm và vòng đời công nghệ ngắn dần,
sự tiến bộ trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ siêu dẫn đang được sử dụng như những thế mạnh quan trọng nhằm tăng khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp
Sự phụ thuộc ngày càng nhiều của kết quả kinh doanh vào trình độ công nghệ
sử dụng đã và đang làm sôi động thị trường công nghệ trong nước và quốc tế
Để hạn chế nguy cơ tụt hậu về công nghệ và chớp cơ hội trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá hiệu quả công nghệ đang sử dụng, theo dõi sát sao diễn biến sự phát triển của công nghệ và thị trường công nghệ, tập trung ngày càng nhiều cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D )
Phân tích môi trường vi mô (môi trường ngành)
Môi trường ngành bao gồm các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp, một lĩnh vực hoạt động Nhiệm vụ của các nhà chiến lược
là nhận dạng và phân tích các yếu tố của môi trường đó xem chúng tác động đến
Trang 38chiến lược phát triển của doanh nghiệp như thế nào Từ đó nhận định các cơ hội và những nguy cơ tiềm ẩn đối với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường của một ngành công nghiệp bao gồm các yếu tố chính là: những đối thủ nhập ngành tiềm năng, sản phẩm thay thế, các nhà cung cấp, khách hàng và
sự cạnh tranh giũa các nhà sản xuất hiện tại
• Đối thủ tiềm năng
Bao gồm các công ty hiện chưa có mặt trong lĩnh vực hoạt động đó, nhưng có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai Nguy cơ đe dọa của thành phần này là
có khả năng chiếm thị phần của các nhà sản xuất hiện tại, làm giảm lợi nhuận trung bình của ngành trong tương lai, điều đó buộc các doanh nghiệp phải phán đoán và ứng phó Khi phân tích mức độ đe dọa của đối thủ nhập ngành tiềm năng, người ta thường phân tích các yếu tố tạo nên rào chắn nhập ngành, đó là tập hợp các yếu tố ngăn cản những người mới tham gia vào kinh doanh trong một ngành công nghiệp nào đó Nếu rào chắn nhập ngành cao, sự đe dọa của nó thấp và ngược lại
Doanh nghiệp phải biết được đối thủ nào mới xuất hiện, nó có bị cản trở xâm nhập thị trường từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì để cản trở đối thủ này
Trang 39Liệu có sản phẩm nào xuất hiện trên thị trường làm cho người tiêu dùng bỏ thói quen mua hàng của mình hay không? Vì sao người tiêu dung thích sản phẩm đó? Có bao nhiêu loại hàng hóa tương tự như thế cản trở sự tăng trưởng của doanh nghiệp? Làm thế nào để sản phẩm thay thế suy yếu hoặc không gây cản trở cung ứng hàng hóa ra thị trường của doanh nghiệp Những câu hỏi này cần có câu trả lời sau khi phân tích
• Quyền lực của nhà cung cấp
Các công ty cung cấp các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp như: máy móc thiết bị, vật tư, phụ tùng thay thế, dịch vụ tư vấn thiết kế, dịch vụ vận chuyển… Trong thương thuyết kinh doanh cũng có thể tạo ra những sức ép về giá, về phương thức cung cấp và phương thức thanh toán, có nguy cơ đe dọa lợi ích của doanh nghiệp, nhưng nhiều khi cũng tạo ra cơ hội kinh doanh tốt cho doanh nghiệp Tạo thế cạnh tranh trong quá trình cung cấp, liên minh chiến lược, hợp đồng cung ứng là những giải pháp giảm bớt sức ép của yếu tố môi trường này
Phân tích quyền lực của nhà cung cấp nào gây gây sức ép nhiều nhất đối với doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp có được những chiến lược ứng xử linh hoạt một khi đã có những sự chuẩn bị trước Việc phân tích này bắt đầu bằng những câu hỏi: Nhà cung cấp nguyên vật liệu hay dịch vụ nào có quyền lực mạnh nhất đối với doanh nghiệp? Nếu nhà cung cấp không hữu hảo đối với doanh nghiệp, thì họ sẽ làm gì và tại sao? Nếu họ gây cản trở bằng việc nâng giá dịch vụ hay sản phẩm hoặc thay đổi điều kiện cung cấp thì gây thiệt hại cho doanh nghiệp như thế nào? Doanh nghiệp phải làm gì để không bị lệ thuộc vào nhà cung cấp có quyền lực đó hoặc để nhà cung cấp tạo điều kiện cung cấp tốt nhất cho doanh nghiệp
Trang 40trong khi mua hàng, khách hàng cũng thường sử dụng quyền lực của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho người bán về giá mua, về điều kiện giao hàng, về chất lượng sản phẩm, về điều kiện thanh toán… tạo ra sức ép làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy khách hàng vừa là thượng đế vừa là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Khách hàng đem đến cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể lấy đi lợi nhuận của doanh nghiệp
Những khách hàng nào quan trọng nhất? Số lượng hàng hóa do những khách hàng đó tiêu thụ chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng số? Nếu khách hàng này từ bỏ doanh nghiệp thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp như thế nào? Liệu có đối thủ nào cản trở khách hàng trung thành với doanh nghiệp và họ sử dụng thủ đoạn nào? Phải làm gì để giữ được khách hàng hiện có và phát triển thêm khách hàng mới? Những câu hỏi này được trả lời góp phần làm cho căn cứ hoạch định chiến lược đầy đủ hơn
• Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Đối thủ cạnh tranh là các công ty đang hoạt động trong cùng ngành kinh doanh với doanh nghiệp, đang tìm cách tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp Vì dung lượng thị trường có hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh giành nhau thị phần bằng các biện pháp giảm giá, quảng cáo, khuyến mãi, thuyết phục khách hàng, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những nét khác biệt trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ, tạo ra giá trị cho khách hàng
Mức độ cạnh tranh trong một ngành thể hiện qua 3 yếu tố cơ bản: Cơ cấu cạnh tranh, nhu cầu thị trường và chu kỳ sống của sản phẩm, rào chắn ra khỏi ngành Cường độ cạnh tranh đặc trưng bởi số lượng đối thủ cạnh tranh và tỷ trọng đối thủ ngang sức chiếm bao nhiêu trong số đó? Các đối thủ ngang sức có những điểm nào mạnh hơn, điểm nào yếu hơn? Đánh giá chung bằng hệ thống điểm thì doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ mấy? Làm gì để doanh nghiệp vươn lên vị trí trội hơn? Các câu hỏi trên cần được phân tích và trả lời để có căn cứ vững chắc khi lập chiến lược