1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hát sắc bùa ở phổ an, đức phổ, quảng ngãi công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2006

174 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hát sắc bùa ở Phổ An, Đức Phổ, Quảng Ngãi
Tác giả Cao Nguyễn Ngọc Anh
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Yến Tuyết
Trường học Trường đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ PHỔ AN, (13)
    • 1. Vị trí địa lý và dân cư (13)
    • 2. Hoạt động kinh tế (13)
    • 3. Đời sống tinh thần (13)
  • Chương 2: HÁT SẮC BÙA Ở PHỔ AN, QUẢNG NGÃI (21)
    • 1. Khái quát về hát sắc bùa Phổ An (21)
    • 2. Hình thức diễn xướng hát sắc bùa Phổ An (13)
    • 3. Giá trị nội dung và nghệ thuật hát sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi (14)
    • 1. Một số nét chung của hát sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi với hát sắc bùa Mường, hát sắc bùa Quảng Nam, Bến Tre … (57)
    • 2. Đặc trưng của hát sắc bùa Phổ An , Quảng Ngãi (62)
  • Chương 4: THỰC TRẠNG HÁT SẮC BÙA PHỔ AN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ MANG TÍNH GIẢI PHÁP (65)
    • 1. Thực trạng hát sắc bùa Phổ An (14)
    • 2. Những kiến nghị mang tính giải pháp (14)
  • KẾT LUẬN (14)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (14)
  • PHỤ LỤC (14)

Nội dung

Là sinh viên do có nhiều cơ hội tiếp cận với những nghệ nhân hát sắc bùa ở Phổ An nên chúng tôi muốn khảo sát về loại hình diễn xướng này để học hỏi và để đóng góp tư liệu nghiên cứu về

TỔNG QUAN VỀ XÃ PHỔ AN,

Vị trí địa lý và dân cư

Hoạt động kinh tế

Đời sống tinh thần

Chương 2: HÁT SẮC BÙA PHỔ AN, QUẢNG NGÃI

1 Khái quát về sắc bùa Phổ An

1.2 Vài nét về lịch sử sắc bùa Phổ An

1.3 Ý nghĩa của hát sắc bùa trong đời sống người dân Phổ An

2 Hình thức diễn xướng hát sắc bùa Phổ An

2.1 Biên chế, nhạc cụ và trang phục hát sắc bùa Phổ An 2.1.1 Biên chế

2.2 Trình tự diễn xướng sắc bùa Phổ An

3 Giá trị nội dung và nghệ thuật

Chương 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA HÁT SẮC BÙA PHỔ AN,QUẢNG NGÃI VỚI HÁT SẮC BÙA Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG KHÁC

1 Một số nét chung của sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi với sắc bùa Mường, sắc bùa Quảng Nam, Bến Tre…

2 Đặc trưng của sắc bùa Phổ An

Chương 4: THỰC TRẠNG HÁT SẮC BÙA Ở XÃ PHỔ AN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ MANG TÍNH GIẢI PHÁP

1 Thực trạng hát sắc bùa Phổ An

2 Những kiến nghị mang tính giải pháp vế hát sắc bùa Phổ An

3 Một số bài hát sắc bùa

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ PHỔ AN,

Để hiểu rõ về hát sắc bùa của cư dân Phổ An, cần tìm hiểu về địa lý, cảnh quan, môi trường sinh thái, lịch sử và đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của vùng đất này Bối cảnh này không chỉ tạo nền tảng cho đời sống văn hóa truyền thống mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa hiện đại của cư dân Phổ An, trong đó có hát sắc bùa.

1 Vị trí địa lý và dân cư

Phổ An là một trong 14 xã thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nổi bật với hơn 40 km bờ biển và vị trí nằm ở phía cực Nam của tỉnh.

Phổ An ở phía Đông Bắc của huyện Đức Phổ:

+ Phía Bắc giáp: thôn Văn Hà, xã Đức Phong (huyện Mộ Đức)

+ Phía Nam giáp: thôn Phần Thất, xã Phổ Quan

+ Phía Tây giáp: thôn Thạch Trụ, xã Đức Lân (huyện Mộ Đức),

Xã Phổ An có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.862 hecta, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.012 hecta, phần còn lại là động cát ven biển Kể từ năm 1946, Phổ An được hợp nhất từ 3 thôn: Hội An, An Thạch và An Thổ Trước đó, các thôn này được gọi là xã hoặc làng Hiện nay, xã được chia thành 4 thôn: Hội An 1, Hội An 2, An Thạch và An Thổ.

Phổ An nằm dọc theo bờ biển, chiều ngang hơi rộng là: 3630m, nơi hẹp là 2200m, chiều dài là 5870m Diện tích tự nhiên 1862 km 2, trong đó khoảng 50 ha rừng

Cư dân xã Phổ An chủ yếu là người Việt, với tổng dân số hiện tại là 11.783 người, sinh sống trong 2.346 hộ Họ tập trung chủ yếu ở 3 thôn Hội An.

1, Hội An 2, An Thạch, mỗi thôn có hơn 600 hộ Riêng thôn An Thổ chỉ có 275 hộ

+ 80% dân số Phổ An sống bằng nghề nông

+15 % dân số sống bằng nghề biển

+ 5% dân số sống bằng các nghề nghiệp khác (chủ yếu là buôn bán nhỏ)

Thôn Hội An trước kia có hai xóm Nam Giáp và Bắc Giáp đến năm 1945 thêm hai xóm Quần Huân và An Thạch

Thôn An Thạch có các xóm Bình An, Bảo An, Thuận Hoà Thượng, Thuận Hoà Hạ

Thôn An Thổ có các xóm Cùng Thi, An Lộc, xóm Phường, xóm Câu

Người dân Phổ An gắn bó với nghề nông nhờ vào con sông Thoa, một nhánh của sông Vệ, cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng chiêm trũng quanh năm Sông Thoa không chỉ đảm bảo nguồn nước dồi dào mà còn giúp cho đất đai ở Phổ An và các làng xã lân cận trở nên trù phú hơn.

Trước năm 1945, xã có 250 ha đất ruộng và 300 ha đất hoa màu Sau đó, diện tích đất được khai khẩn và mở mang, hiện nay xã có 336 ha đất ruộng, 386 ha đất màu và khoảng 200 ha đất cát chưa sử dụng.

1 Ban chấp hành Đảng bộ xã Phổ An, Phổ An 70 năm đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc –

Người dân Phổ An ít gắn bó với biển dù sống gần biển, do bờ biển nơi đây là bãi ngang, vực sâu và nhiều động cát, khiến tàu thuyền lớn khó vào ra và neo đậu Cư dân chủ yếu khai thác biển cận duyên bằng những thuyền thúng, thuyền câu và ghe mành nhỏ.

Cư dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá, với các phương pháp như đặt chài và thả lưới, tuy nhiên, sản lượng cá không nhiều Nghề đánh bắt cá ở biển chủ yếu là nghề mành và câu gần bờ, trong đó nghề câu cá hố rất nguy hiểm, đặc biệt vào mùa cá hố vào tháng 3 và tháng 4 Ngư dân thường sử dụng phương pháp chích điện để câu cá Trước đây, do không có thông tin thời tiết, nhiều ngư dân đã gặp rủi ro khi ra khơi xa bờ và không kịp trở về khi bão đến, dẫn đến nhiều trường hợp thương vong Vì vậy, hát sắc bùa trở nên phổ biến với các nghi lễ cầu an và chúc nghề, nhằm giúp ngư dân vượt qua khó khăn và tìm kiếm may mắn trong việc đánh bắt Theo trường phái chức năng của Maliknowski, văn hóa thể hiện nhu cầu thỏa mãn của con người, và ngư dân luôn tin tưởng vào hát sắc bùa để cầu mong an toàn và thu hoạch dồi dào.

Nghề kéo sợi dệt vải là một nghề truyền thống, bắt đầu từ việc chế biến múi bông thành sợi và dệt bằng khung cưỡi tay với khổ vải khoảng 0.4m Sau năm 1945, nghề dệt vải đã phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn thu nhập đáng kể cho người dân Ngoài ra, đan đác cũng đóng góp vào thu nhập, chủ yếu thông qua việc đan nong, nia, thúng mủng và lưới, chài.

Cư dân Phổ An chủ yếu theo đạo Phật, với truyền thống tu tại gia Ngoài ra, một số gia đình theo đạo Cao Đài và tất cả đều thờ cúng tổ tiên qua hình thức nhà thờ họ và bàn thờ tại nhà Các tín ngưỡng khác bao gồm thờ thần bản gia như ông Táo, ông Địa, Thần Tài, và thần Bảo mệnh Đặc biệt, vùng biển có tục thờ cúng cá Ông (cá Voi), được coi là thần hộ mệnh cho ngư dân Cá Voi được xem là hiện thân của Phật Bà Quan Am, người cứu vớt ngư dân gặp nạn Ngư dân thường gọi cá Ông bằng những danh xưng tôn kính như ông Cậu, ông Lớn, và Nam Hải Đại tướng quân Các lễ hội văn hóa dân gian như lễ nghinh Ông với múa hát bả trạo diễn ra sôi nổi, trong đó lễ hội cầu ngư vào ngày 12 tháng giêng hàng năm có sự tham gia của đội bả trạo và đội sắc bùa, thể hiện tín ngưỡng đặc sắc của ngư dân ven biển.

Tại Phổ An, tín ngưỡng thờ miếu Mộc Đồng được đặt ở cuối vườn mỗi gia đình, là vị thần bảo vệ cây trái và vật nuôi, giúp bà con thu hoạch mùa màng tốt Miếu Mộc Đồng rất nhỏ, chỉ có lư nhang để thắp hương và không thờ vật gì khác Trước đây, hầu hết các gia đình đều lập miếu này, nhưng hiện nay đã giảm do chiến tranh tàn phá và người dân phải tản cư Khi đội sắc bùa đến biểu diễn, nếu chủ nhà yêu cầu, họ sẽ hát tạ miếu Mộc Đồng.

3.2 Sinh hoạt văn hóa Ở Phổ An có một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc dân tộc đó là hát sắc bùa Vào dịp tết Nguyên đán, đội bùa được các gia đình trong xóm mời về nhà hát múa mừng năm mới, cầu mong mọi điều tốt lành

Hàng năm, ngư dân tại xã Phổ An, một xã ven biển, tổ chức lễ hát bả trạo tại lăng và vạn cầu thần biển, cầu mong cá Ông phù hộ cho mùa đánh bắt bội thu và sự bình an cho những chuyến ra khơi.

Trong văn hóa dân gian, có nhiều hình thức sinh hoạt đặc sắc như hát ống, hát giã gạo, hát tát nước và hát hố Mặc dù mỗi loại hình có tên gọi khác nhau, nhưng chúng đều mang đặc điểm chung là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, thường diễn ra trong quá trình lao động sản xuất Nhiều cặp đôi đã tìm thấy tình yêu và trở thành vợ chồng thông qua những buổi hát hò này Bài viết này sẽ tập trung giới thiệu về hát hố và hát ống, hai hình thức hát có tên gọi độc đáo.

Hát ống và hát hố là hình thức hát đối đáp giữa các đôi trai gái để bày tỏ tâm tư tình cảm Tuy nhiên, hai hình thức này có những điểm khác nhau đáng chú ý.

HÁT SẮC BÙA Ở PHỔ AN, QUẢNG NGÃI

Hình thức diễn xướng hát sắc bùa Phổ An

2.1 Biên chế, nhạc cụ và trang phục hát sắc bùa Phổ An 2.1.1 Biên chế

2.2 Trình tự diễn xướng sắc bùa Phổ An

Giá trị nội dung và nghệ thuật hát sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi

Chương 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA HÁT SẮC BÙA PHỔ AN,QUẢNG NGÃI VỚI HÁT SẮC BÙA Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG KHÁC

1 Một số nét chung của sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi với sắc bùa Mường, sắc bùa Quảng Nam, Bến Tre…

2 Đặc trưng của sắc bùa Phổ An

Chương 4: THỰC TRẠNG HÁT SẮC BÙA Ở XÃ PHỔ AN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ MANG TÍNH GIẢI PHÁP

1 Thực trạng hát sắc bùa Phổ An

2 Những kiến nghị mang tính giải pháp vế hát sắc bùa Phổ An

3 Một số bài hát sắc bùa

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ PHỔ AN,

Để hiểu rõ về hát sắc bùa của cư dân Phổ An, cần tìm hiểu về địa lý, cảnh quan, môi trường sinh thái, lịch sử và đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của vùng đất này Bối cảnh này có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa truyền thống và hiện đại của cư dân Phổ An, bao gồm cả hát sắc bùa.

1 Vị trí địa lý và dân cư

Phổ An là một trong 14 xã thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nổi bật với hơn 40 km bờ biển và vị trí nằm ở phía cực Nam của tỉnh.

Phổ An ở phía Đông Bắc của huyện Đức Phổ:

+ Phía Bắc giáp: thôn Văn Hà, xã Đức Phong (huyện Mộ Đức)

+ Phía Nam giáp: thôn Phần Thất, xã Phổ Quan

+ Phía Tây giáp: thôn Thạch Trụ, xã Đức Lân (huyện Mộ Đức),

Xã Phổ An có tổng diện tích tự nhiên là 1.862 hecta, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.012 hecta, phần còn lại là động cát ven biển Kể từ năm 1946, Phổ An được hợp nhất từ 3 thôn: Hội An, An Thạch và An Thổ Trước đó, các thôn này được gọi là xã hoặc làng Hiện nay, xã được chia thành 4 thôn: Hội An 1, Hội An 2, An Thạch và An Thổ.

Phổ An nằm dọc theo bờ biển, chiều ngang hơi rộng là: 3630m, nơi hẹp là 2200m, chiều dài là 5870m Diện tích tự nhiên 1862 km 2, trong đó khoảng 50 ha rừng

Cư dân xã Phổ An chủ yếu là người Việt, với tổng dân số hiện tại là 11.783 người, sinh sống trong 2.346 hộ Họ tập trung chủ yếu ở 3 thôn Hội An.

1, Hội An 2, An Thạch, mỗi thôn có hơn 600 hộ Riêng thôn An Thổ chỉ có 275 hộ

+ 80% dân số Phổ An sống bằng nghề nông

+15 % dân số sống bằng nghề biển

+ 5% dân số sống bằng các nghề nghiệp khác (chủ yếu là buôn bán nhỏ)

Thôn Hội An trước kia có hai xóm Nam Giáp và Bắc Giáp đến năm 1945 thêm hai xóm Quần Huân và An Thạch

Thôn An Thạch có các xóm Bình An, Bảo An, Thuận Hoà Thượng, Thuận Hoà Hạ

Thôn An Thổ có các xóm Cùng Thi, An Lộc, xóm Phường, xóm Câu

Người dân Phổ An gắn bó với nghề nông nhờ vào con sông Thoa, một nhánh của sông Vệ, cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng chiêm trũng quanh năm Sông Thoa không chỉ đảm bảo nguồn nước dồi dào mà còn giúp cho đất đai ở Phổ An và các làng xã lân cận trở nên trù phú hơn.

Trước năm 1945, xã có 250 ha đất ruộng và 300 ha đất hoa màu Sau đó, diện tích đất được khai khẩn và mở mang, hiện nay xã có 336 ha đất ruộng, 386 ha đất màu và khoảng 200 ha đất cát chưa sử dụng.

1 Ban chấp hành Đảng bộ xã Phổ An, Phổ An 70 năm đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc –

Người dân Phổ An không gắn bó nhiều với biển dù sống gần biển, vì bờ biển nơi đây có bãi ngang, vực sâu và nhiều động cát, khiến tàu thuyền lớn khó vào ra và neo đậu Cư dân chủ yếu khai thác biển cận duyên bằng những thuyền thúng, thuyền câu và ghe mành nhỏ.

Cư dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá, với các phương pháp như đặt chài và thả lưới, tuy nhiên, sản lượng cá không nhiều Nghề đánh bắt cá ở biển chủ yếu là nghề mành và câu gần bờ, trong đó nghề câu cá hố rất nguy hiểm, đặc biệt vào mùa cá hố vào tháng 3 và tháng 4 Ngư dân thường sử dụng phương pháp chích điện để câu cá Trước đây, do không có thông tin thời tiết, nhiều ngư dân đã gặp rủi ro khi ra khơi xa và không kịp trở về khi bão đến, dẫn đến nhiều cái chết thương tâm Vì vậy, hát sắc bùa trở nên phổ biến với các nghi lễ cầu an và chúc nghề, nhằm giúp ngư dân vượt qua khó khăn và tìm kiếm may mắn trong việc đánh bắt Theo trường phái chức năng của Maliknowski, văn hóa thể hiện nhu cầu thỏa mãn của con người, và ngư dân luôn tin tưởng vào hát sắc bùa để cầu mong an toàn và thành công trong nghề biển.

Nghề kéo sợi dệt vải là một nghề truyền thống, bắt đầu từ việc chế biến múi bông thành sợi và dệt bằng khung cưỡi tay với khổ vải khoảng 0.4m Sau năm 1945, nghề dệt vải đã phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn thu nhập đáng kể cho người dân Ngoài ra, đan đác cũng đóng góp vào thu nhập, chủ yếu thông qua việc đan nong, nia, thúng mủng và lưới, chài.

Cư dân Phổ An chủ yếu theo đạo Phật, với truyền thống tu tại gia và một số gia đình theo đạo Cao Đài Mọi gia đình đều thờ cúng tổ tiên qua hình thức nhà thờ họ và bàn thờ tại nhà, cùng với các tín ngưỡng khác như thờ thần bản gia Tại vùng biển, có tục thờ cúng cá Ông (cá Voi) như một vị thần hộ mệnh cho ngư dân, với sự tích cá Voi được coi là hiện thân của Phật Bà Quan Am Ngư dân thường gọi cá Ông bằng nhiều danh xưng tôn kính và tổ chức các lễ hội văn hóa dân gian sôi nổi như lễ nghinh Ông với múa hát bả trạo Hàng năm, vào ngày 12 tháng giêng, ngư dân Phổ An tổ chức lễ hội cầu ngư, trong đó có đội bả trạo và đội sắc bùa biểu diễn.

Tại Phổ An, tín ngưỡng thờ miếu Mộc Đồng được đặt ở cuối vườn mỗi gia đình, là vị thần bảo vệ cây trái và vật nuôi, giúp bà con thu hoạch mùa màng tốt Miếu Mộc Đồng rất nhỏ, chỉ có lư hương để thắp hương, không thờ vật gì khác Trước đây, hầu hết các gia đình đều lập miếu này, nhưng hiện nay đã giảm do chiến tranh và di cư Khi đội sắc bùa đến biểu diễn, nếu chủ nhà yêu cầu, họ sẽ hát tạ miếu Mộc Đồng.

3.2 Sinh hoạt văn hóa Ở Phổ An có một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc dân tộc đó là hát sắc bùa Vào dịp tết Nguyên đán, đội bùa được các gia đình trong xóm mời về nhà hát múa mừng năm mới, cầu mong mọi điều tốt lành

Hàng năm, ngư dân tại xã Phổ An tổ chức lễ hát bả trạo ở lăng và vạn cầu thần biển, cầu mong cá Ông phù hộ cho mùa đánh bắt bội thu và sự bình an cho những chuyến ra khơi.

Trong văn hóa dân gian, có nhiều hình thức sinh hoạt đặc sắc như hát ống, hát giã gạo, hát tát nước và hát hố Mặc dù mỗi loại hình có tên gọi khác nhau, nhưng chúng đều mang đặc điểm chung là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, thường diễn ra trong quá trình lao động sản xuất Nhiều cặp đôi đã tìm thấy tình yêu và trở thành vợ chồng thông qua những buổi hát hò này Bài viết này sẽ tập trung giới thiệu về hát hố và hát ống, hai hình thức hát có tên gọi độc đáo.

Hát ống và hát hố là hình thức hát đối đáp giữa các đôi trai gái, thể hiện tâm tư tình cảm của họ Tuy nhiên, hai hình thức này có những điểm khác biệt đáng chú ý.

Một số nét chung của hát sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi với hát sắc bùa Mường, hát sắc bùa Quảng Nam, Bến Tre …

Mường, hát sắc bùa Quảng Nam, Bến Tre …

Hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng tổng hợp có chức năng chúc tụng trong dịp Tết, có nguồn gốc từ sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường Qua thời gian, sắc bùa đã được bảo tồn và phát triển rộng rãi trên khắp cả nước, từ Bắc vào Nam, bao gồm các tỉnh như Hòa Bình, Nghệ Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Bến Tre Sắc bùa Quảng Ngãi có nhiều điểm tương đồng với các địa phương khác như sắc bùa Mường ở Mường Vang, sắc bùa Can Lộc – Hà Tĩnh, sắc bùa Đại Lộc – Quảng Nam, và sắc bùa Phú Lễ – Bến Tre, thể hiện sự đa dạng và phong phú trong mục đích diễn xướng.

Sắc bùa Quảng Ngãi là một hình thức diễn xướng nghi lễ nhằm “xua quỷ, trừ ma, tống cũ, rước mới”, thể hiện nét văn hóa dân ca ma thuật của cư dân nông nghiệp cổ xưa Các bài hát như Vô sân, Phạt mộc, Trấn bùa, và Múa trấn ngũ phương, đặc biệt là bài “Trấn bùa”, diễn ra cùng với các hình thức ma thuật Mục đích chính của hát sắc bùa là cầu chúc cho một năm mưa thuận gió hòa, người yên vật thịnh, mùa màng bội thu, công việc làm ăn phát đạt, và sống lâu trăm tuổi Đây không chỉ là mục đích của hát sắc bùa ở Quảng Ngãi mà còn là mục đích chung ở nhiều địa phương khác.

1.2 Nội dung từng bài hát

Sắc bùa Quảng Ngãi, giống như ở nhiều nơi khác, chứa đựng nhiều điển tích liên quan đến truyền thuyết khai thiên lập địa Trong các bài hát sắc bùa, những nhân vật huyền thoại như Thái Thượng Lão Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thần Nông, và Huỳnh Đế thường xuất hiện, đặc biệt là ở đầu các bài hát như "Mở ngõ", "Chúc nghề nông", "Chúc nghề dệt vải", và "Chúc nghề biển" Việc sử dụng điển tích nhằm nhấn mạnh nguồn gốc của các sự vật, hiện tượng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" Những bài sắc bùa Quảng Ngãi có nguồn gốc từ rất lâu và được cư dân Việt mang theo trong quá trình di cư vào phía Nam.

“Nhà ông cửa kín rào cao Tôi vô chẳng đặng đứng ngoài tôi rao (…… … )

Ngõ này ngõ nhà ai Trên thì xây gạch Dưới tợ rồng bay

Mang phụ sắp bày Khoen kia leo luống (………)”

+ Sắc bùa Đại Lộc – Quảng Nam

“ Nhà ai bên đó Đánh trống kiểng vang

Tả tướng :At sĩ Hữu tướng : Đ ầu xà Họa chữ tứ tung Khai môn mở ngõ”

+ Sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi

Ngõ đóng lại bên đường Trên dưới viễn vông

Trong ngoài nghiêm ngặt Trên thời lót gạch Dưới tợ rồng bay

Rồng năm leo luống trên mây Trước có phụng đứng bầy

Ngõ ông ngõ này Thời ta mở ngõ

+ Sắc bùa Phú Lễ-Bến Tre

“(……… ) Ngõ này ngõ ai Trên thời xây gạch Dưới chạm rồng bay

Mang phụ sắp bằng Khoen kia leo luống Gài chặt băn khoăn Hay là không mở (……… )”

So sánh các bài "Mở ngõ" của sắc bùa Mường ở Mường Vang, sắc bùa Can Lộc – Hà Tĩnh, sắc bùa Đại Lộc – Quảng Nam, và sắc bùa Phú Lễ – Bến Tre cho thấy những ý tứ và hình ảnh trong các bài hát có nhiều điểm tương đồng, thậm chí một số câu giống hệt nhau Điều này cũng được thể hiện rõ qua việc so sánh một đoạn trong các bài hát Chúc nghề nông.

+ Sắc bùa Phổ An , Quảng Ngãi

“Nhớ xưa chẳng biết cấy cày Đói thời ăn những trái cây

Uống những nước lưng dòng Đế thiên như dược

Vua Thần Nông xem xét núi sông Hóa ngũ cốc dạy trồng giống má Mấy chỗ gò khai phá

Nguồn lưu thủy đắp bồi

Trời sai xuống giúp dân làm ruộng Vua Thần Nông rộng lượng Dạy dân đóng cày bừa (……….)”

+ Sắc bùa Phú Lễ – Bến Tre

“Nhớ thuở xưa chẳng biết cấy cày Sống thời ăn những trái cây các loại Uống trong đầm nước Đồng áng tan hoang

Bà Cửu Thiên xem xét núi sông Khuyên vợ chồng ráng sức mua giống má Chỗ giồng cái khai phá, nay thấy đất bồi

Có một bầy trâu ở núi Đông Ngưu Đưa ngay xuống cho dân làm ruộng Ông vua Thần Nông mới độ lượng người Dạy cho dân đóng cày bừa

Cầu thiên đảo xuống cho dân làm ruộng”…

Từ so sánh trên đây có thể thấy “sắc bùa Phú Lễ có nguồn gốc từ sắc bùa

Quảng Ngãi và chúng được truyền trực tiếp từ Quảng Ngãi vào Bến Tre mà không qua giai đoạn trung chuyển nào” ( Lư Nhất Vũ- Huỳnh Ngọc Trảng)

Hát sắc bùa, dù xuất hiện ở bất kỳ đâu từ Nam ra Bắc, đều mang những đặc điểm tương đồng về nội dung, mục đích ý nghĩa và trình tự diễn xướng.

Đặc trưng của hát sắc bùa Phổ An , Quảng Ngãi

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình sắc bùa Quảng Ngãi đã tạo được những sắc thái riêng với các địa phương khác

2.1 Về biên chế và nhạc cụ

Sắc bùa Phổ An có từ 11-12 biên chế, sắc bùa Đại Lộc chỉ có 4 biên chế, sắc bùa Phú Lễ có 5 biên chế

+ Sắc bùa Mường – Hòa Bình:

Phường bùa gồm có 12 người biết đánh cồng(còn gọi là chiêng) Ngoài ra, còn có 2 người đi sau cùng đoàn khiêng các vật dụng

1 thanh la + Sắc bùa Đại Lộc- Quảng Nam

Tổng cộng: 4 người chơi nhạc cụ

+ Sắc bùa Phổ An – Quảng Ngãi

1 người chơi trống tùng vinh

1 người chơi phách( sinh cái)

6 người chơi sinh tiền (nữ)

Tổng cộng: 10 người chơi nhạc cụ (thêm 1 người phu cái, 1 người hậu cần là 12 người gồm 6 nam ,6 nữ)

+ Sắc bùa Tân Diêm, Phổ Thạnh, Quảng Ngãi

1 người chơi trống tùng vinh

1 người chơi phách( sinh cái)

12 người chơi sinh tiền (6 nữ và 6 nam)

Tổng cộng: 16 người chơi nhạc cụ

+ Sắc bùa Phú Lễ – Bến Tre

Tổng cộng: 6 người (vừa sử dụng nhạc cụ, vừa hát không có nữ)

Sắc bùa Quảng Ngãi nổi bật với sự phong phú về biên chế và nhạc cụ, đặc biệt là tại Phổ An, nơi số lượng nhạc cụ và người tham gia hát sắc bùa vượt trội hơn so với các địa phương khác Điều này tạo nên một đặc trưng riêng biệt cho sắc bùa Phổ An.

2.2 Về hệ thống bài bản , làn điệu

Hệ thống bài bản và làn điệu của sắc bùa Phổ An phong phú với 18-20 tiết mục khác nhau, trong khi sắc bùa Phú Lễ chỉ có 8-10 tiết mục Mỗi tiết mục của sắc bùa đều mang những đặc trưng riêng biệt.

Phổ An có nhiều bài hát phong phú hơn so với sắc bùa Phú Lễ Dưới đây là bảng so sánh giữa các sắc bùa: Phổ An, Phổ Thạnh, Đại Lộc và Phú Lễ.

Khởi đầu từ hát sắc bùa chúc Tết, việc hát chúc và đánh cồng tạo ra âm thanh thiêng liêng nhằm xua tan cái cũ và đón năm mới tốt lành Sắc bùa Phổ An, với cơ cấu nghi lễ trấn bùa và chúc tụng, thể hiện sự phát triển văn hóa của dân tộc Nó không chỉ phản ánh tính thống nhất văn hóa mà còn cho thấy sự đổi mới liên tục theo thời gian và sự biến đổi ở các không gian địa lý khác nhau.

Quá trình biến thiên của thể loại sắc bùa, từ sắc bùa Mường đến sắc bùa Quảng Ngãi và sắc bùa Phú Lễ, cho thấy nguồn gốc của nó gắn liền với nông nghiệp và các lễ nghi nông nghiệp Sắc bùa Phổ An, với ảnh hưởng từ vùng ven biển, thể hiện qua các bài hát liên quan đến nghề biển như chúc nghề biển và lễ vạn Trong xã hội truyền thống, khi khoa học chưa phát triển, con người tin vào bùa chú để trấn áp các thế lực siêu nhiên, dẫn đến sự ra đời và phát triển của hát sắc bùa Niềm tin vào lá bùa “trấn quỷ trừ tà” đã giúp hát sắc bùa lan rộng từ Bắc vào Nam, với sự kết hợp giữa yếu tố xưa và mới tùy theo từng vùng Điều này chứng tỏ văn hóa là yếu tố động, không ngừng phát triển Hệ thống bài bản, làn điệu và nội dung phong phú của hát sắc bùa Phổ An hiện nay là kết quả của quá trình kế thừa và phát triển liên tục qua dòng chảy lịch sử.

THỰC TRẠNG HÁT SẮC BÙA PHỔ AN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ MANG TÍNH GIẢI PHÁP

Ngày đăng: 02/07/2023, 22:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm