Ở luận văn này, học viên sẽ cố gắng hệ thống và cập nhật tất cả những hiện vật có liên quan đến vàng Óc Eo - một kim loại quí đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước phát hiện được
Trang 1PHẠM THỊ NGỌC THẢO
HIỆN VẬT VÀNG TRONG VĂN HÓA ÓC EO
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ: 60 - 22 – 60
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2009
Trang 2PHẠM THỊ NGỌC THẢO
HIỆN VẬT VÀNG TRONG VĂN HĨA ĨC EO
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ: 60 - 22 – 60
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.PHẠM ĐỨC MẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2009
Trang 3DẪN LUẬN
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Khảo Cổ Học của học viên với đề tài có nhan đề là :
“ Hiện vật vàng trong văn hóa Óc Eo ở miền tây Nam Bộ”
Về mặt ý nghĩa khoa học của đề tài, học viên muốn trình bày một chuyên
khảo tập trung về một hiện vật chính đó là “ Vàng Óc Eo” Ở luận văn này, học
viên sẽ cố gắng hệ thống và cập nhật tất cả những hiện vật có liên quan đến vàng
Óc Eo - một kim loại quí đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước phát hiện được Tuy có rất nhiều hiện vật vàng tìm thấy trước năm 1975 đã bị thất thoát nhưng học viên vẫn hệ thống lại trong luận văn này nhằm đưa ra được một cái nhìn tổng thể về loại quí kim đã và từng tồn tại trong vùng đất miền tây nam
bộ này
Điểm mới của luận văn là với những tư liệu thu thập trong phạm vi có thể, học viên ngoài việc hệ thống hiện vật vàng của Óc Eo trong miền tây nam bộ mà
còn đối chiếu và so sánh nó với những hiện vật “ cùng thời” và “ khác thời” ở
các vùng lân cận của trong và ngoài nước Từ việc đối chiếu này, học viên hy vọng sẽ tìm ra những nguồn thông tin mới về mối quan hệ giao lưu rộng rãi giữa văn hóa Óc Eo và những vùng văn hóa khác Ngoài ra, học viên còn cố gắng khai thác về mảng kỹ thuật chế tác kim hoàn để tìm hiểu xem người xưa với những công nghệ thô sơ đã biến hóa kim loại quí này thành những vật trang sức lấp lánh và những mảnh vàng lá chứa nhiều thông tin còn bí ấn này như thế nào? Với những nghiên cứu của mình, học viên hy vọng sẽ góp thêm tư liệu và nhận thức mới trong sự nghiệp nghiên cứu di sản văn hóa vật chất – tinh thần và nghệ thuật của văn hóa Óc Eo trên đồng bằng châu thổ miền nam bộ
Trang 4Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Trước năm 1975:
Có thể nói rằng, người có công đầu tiên trong việc giới thiệu những hiện vật vàng nói riêng và những hiện vật khác nói chung của văn hóa Óc Eo với cộng đồng chính là nhà khoa học Pháp - Louis Malleret Từ những hoạt động nghiên cứu suốt những năm 1937 đến năm 1944, ông đã cho ra đời bốn tập về “
L’Archaéologie du delta du Mékong” ( Khảo cổ học đồng bằng sông Mê Kông)
được xuất bản vào những năm 1959 – 1963 Đây là tập sách nghiên cứu công phu và là cẩm nang không thể thiếu dành cho những ai muốn tiếp tục kế thừa công việc nghiên cứu đồng bằng này Trong 4 tập sách, ông đã dành 3 tập cho
Óc Eo với 136 địa điểm của miền tây sông Hậu ( Transbassac) và một tập về 167 địa điểm hạ lưu sông Tiền và Đông Nam Bộ ( Cisbasac) Với tác phẩm này, đặc biệt về hiện vật vàng, L Malleret đã thống kê được 1311 di vật vàng với trọng lượng 1120 gram Theo L Malleret và nhiều học giả Pháp thì nền văn minh cổ đại khắp vùng hạ lưu Mêkông đã trãi qua hai thời kỳ văn hóa:
Thời kỳ văn hóa Óc Eo: tương ứng với sự tồn tại của nhà nước Phù
Nam ( thế kỷ II – VII AD)
Thời kỳ Chân Lạp: thế kỷ VIII AD trở về sau
Sau 1975:
Từ sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, sự nghiệp nghiên cứu văn hóa
Óc Eo của giới khảo cổ học Việt nam được sang trang mới Nhiều công việc đã được tiến hành như: kiểm kê, phúc tra di sản cũ, phát hiện, khai quật và công bố những nghiên cứu mới Năm 1977, thư mục cơ bản về văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam được xây dựng Năm 1978, di vật Óc Eo ở bảo tàng Blanchard de
la Brosse đã được thống kê bao gồm: 3969 di vật vàng, bạc, thiếc, chì…Ở những
Trang 5năm kế tiếp, nhiều phát hiện mới về văn hóa Óc Eo được công bố và làm mở rộng thêm thêm hiểu biết về vùng văn hóa này Nhiều tỉnh thành khắp Nam bộ
và Nam tây nguyên như An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng… cung cấp rất nhiều những thông tin mới và quan trọng có liên quan đến vùng văn hóa đặc sắc này Nhiều cuộc hội thảo và công bố chính, như: “ Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long” ( Long Xuyên, 1984); “ Văn hóa Óc Eo những khám phá mới” ( 1995); “ Một số vấn đề khảo cổ học ở miền nam Việt Nam” ( 1997)…Ngoài ra, còn nhiều sách báo khác về văn hóa Óc Eo ở các tỉnh thành và Thành phố Hồ Chí Minh đã kế thừa thành quả của cả một thế kỷ khám phá văn hóa Óc Eo và đã mở rộng hơn phạm vi nghiên cứu của nền văn hóa này vượt ra
ngoài lằn ranh của “ tứ giác Long Xuyên”
Riêng về hiện vật vàng thì ngoài tập 3 về “ Văn hóa Phù Nam” của L.Malleret trong bộ sách bốn tập về “ Khảo cổ học đồng bằng sông Mêkông” thì
cho đến hiện nay chưa có ai thực hiện một công trình chuyên khảo riêng nào về loại quí kim này Có thể nói, trong tập 3 này L.Malleret đã thống kê một cách khá hoàn hảo về đồ kim hoàn ở đồng bằng sông Cửu Long Ông đã mô tả tỉ mỉ từng hiện vật và so sánh với những vùng lân cận Tuy cách tiếp cận của ông hơi dàn trãi và những hiện vật vàng của ông phần lớn không nằm trong hố khai quật
để có thể đưa ra những thông tin chính xác hơn, nhưng ta không thể phủ nhận công sức tận tụy, tri thức uyên bác và lòng đam mê khoa học của người mở đường trong việc nghiên cứu vùng đất Nam Bộ Tiến sĩ Lê Thị Liên trong công
trình “ Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước
thế kỷ X” cũng có dành một phần nhỏ cho các hiện vật vàng Ngoài ra, Lê Thị
Trang 6Liên cũng có nhiều bài viết có liên quan đến hiện vật vàng như “ Chủ đề của các
hiện vật vàng ở Gò Tháp, Đồng Tháp”, “ Thêm một cách đọc các chữ viết trên vàng ở khu mộ Đá Nổi ( An Giang)”, hoặc “ Gold plaques and their archaeological context in the Oc Eo culture” Với kiến thức khá sâu sắc về tiếu
tượng học, Lê Thị Liên đã góp phần không nhỏ trong việc giải mã những hình chạm khắc rất khó nhận dạng của những lá vàng Tuy nhiên, Lê Thị Liên cũng chỉ nghiên cứu về vàng ở những bài viết khoa học chứ chưa tập trung và hệ
thống lại thành một chuyên khảo riêng Trong luận án “ Khu di tích Cát Tiên ở
Lâm Đồng” của tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông ( 2002) hay ấn bản gần đây nhất của
tiến sĩ Lê Đình Phụng về “ Di tích Cát Tiên Lâm Đồng - Lịch sử và văn hóa”
cũng dành không ít vị trí cho hiện vật vàng với nhiều thông tin khoa học đáng tin cậy Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ tập trung về vàng ở Cát Tiên của miền đông nam bộ và còn để lại khoảng trống của vàng Óc Eo trong miền tây Nam bộ Một
ấn phẩm quan trọng không thể không kể đến khi nghiên cứu về văn hóa của vùng
đất nam Bộ là “ Văn hóa Óc Eo những khám phá mới” của các tác giả Lê Xuân
Diệm, Đào Linh Côn và Võ Sĩ Khải Có thể nói đây là một công trình khá công phu đã thu thập và thống kê toàn bộ di tích và di vật trong văn hóa Óc Eo từ
1975 – 1993, tuy nhiên hiện vật vàng ở đây chỉ xuất hiện với tính chất được thống kê sơ khảo và mô tả sơ lược
Nếu như L Malleret trước đây chỉ tập trung nhiều vào phần vàng trang sức với đa số hiện vật không có hồ sơ khoa học, thì giai đoạn sau 1975 các nhà khảo
cổ Việt Nam đã tìm thấy rất nhiều hiện vật mới - vàng lá trong mộ hay hố thiêng của các di chỉ kiến trúc với địa tầng rõ ràng Có thể nói, sự đa dạng của đồ trang sức và sự phong phú về số lượng của vàng lá Óc Eo đã hợp thành cánh cửa bí ẩn
Trang 7để chờ sự khám phá mới của các nhà khoa học trong lĩnh vực mới đầy thú vị nhưng cũng cực kỳ khó khăn
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn trên nguyên tắc chung là những di tích và
di vật khảo cổ học, và tất nhiên phần quan trọng nhất là tất cả các hiện vật vàng được tìm thấy và phát hiện ở các di chỉ của miền tây nam bộ Ngoài ra, học viên cũng tiếp cận thêm những hiện vật vàng ở các vùng lân cận khác ở trong và ngoài khu vực để thuận tiện cho công việc so sánh và đối chiếu
Phạm vi không gian nghiên cứu chính của luận văn là các tỉnh ở miền tây
nam bộ, đặc biệt là ở những di tích nơi tìm thấy những hiện vật vàng Ngoài ra , học viên cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu ở các tỉnh miền đông nam bộ cũng như các nước Đông Nam Á
Phạm vi thời gian nghiên cứu về cơ bản là phạm vi thời gian tồn tại của Phù
Nam: từ thế kỷ I –II đến thế kỷ VI – VII sau công nguyên ( theo ghi chép của thư
tịch cổ Trung Quốc) Tuy nhiên, về mặt khảo cổ học, khung niên biểu trên có thể
kéo dài giới hạn bao gồm cả thời gian “ Tiền Óc Eo” ( với văn hóa thời sơ sắt phát triển) và “ Hậu Óc Eo” ( từ thế kỷ VIII – X,XI sau công nguyên)
Phương pháp nghiên cứu: Ngoài việc áp dụng các phương pháp luận Mác
Lênin với quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, học viên còn áp dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống như: thống kê; phân loại; ghi chép; mô tả; cân đo, chụp ảnh, so sánh đối chiếu v.v
Trang 8Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương có bố cục như sau:
Chương I: Những di tích trong văn hóa Óc Eo có chứa vàng hiện biết
Trang 9CHƯƠNG I:
NHỮNG DI TÍCH TRONG VĂN HÓA ÓC EO
CÓ CHỨA VÀNG HIỆN BIẾT
1 An Giang
1.1 Óc Eo – Ba Thê:
Di tích nổi danh này nằm trong tứ giác Long Xuyên trãi dài từ sườn đông núi Ba Thê xuống cánh đồng Giồng Cát – Giồng Xoài, thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn Đây là một quần thể cực lớn với qui mô 15x15km ( Hình 258) Địa điểm này do các học giả Pháp phát hiện từ cuối thế kỷ XIX và được khảo sát nhiều lần Vào năm 1944, nhà khảo cổ học người Pháp là L.Malleret đã khai quật hàng chục địa điểm tại di tích này Mãi đến năm 1959 – 1963, các báo cáo khai quật của L Mallret mới được công bố rộng rãi
Qua các cuộc khai quật của mình, Malleret đã thu thập được rất nhiều hiện vật như tượng thờ, nhiều di tồn kiến trúc cổ và đặc biệt là rất nhiều hiện vật vàng Suốt những năm từ 1930 đến 1956, với các nghiên cứu không ảnh của mình, Mallret và các đồng sự đã ghi nhận Óc Eo – Ba Thê là một bình đồ đô thị
cổ rộng cỡ 450 ha và được xem là “ thị cảng” lớn nhất của văn hóa Óc Eo ( Coedes, G.1947) Không những là một thị cảng, Mallret còn cho rằng nơi đây là một trung tâm chính trị - tôn giáo- thực thể vật chất của văn minh Phù Nam Đây
là nơi có tên là Naravaranagara ( Na Phất Na) – là điểm dừng chân của vua Phù Nam sau khi kinh đô Đặc Mục bị Isanavarman chiếm đóng ( Malleret,L.1951) ( H.150 )
Nối tiếp bước chân các học giả người Pháp, từ năm 1979 đến nay, các công cuộc điền dã và khám phá Óc Eo – Ba Thê vẫn được các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục thực hiện “ Vàng Óc Eo” lại được tìm thấy cùng với nhiều chứng tích
Trang 10quan trọng khác Bắt đầu từ các cuộc đào 1983, từ chính gò Óc Eo, các nhà khai quật đã ghi nhận sự hiện diện của các “ mộ gò” có chứa vàng Điển hình là các
Trong công bố gần đây nhất, nhà khảo cổ Võ Sĩ Khải ( 2006) đã phác thảo tiến trình cư trú liên tục ở Óc Eo – Ba Thê qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1 ( thế kỷ III – II BC đến III – IV AD):
Đây là giai đoạn cư dân đầu tiên sống trên thế đất cao nổi trên mức nước
lũ ở Gò Da, Gò A3, Gò Cây Thị, Gò Óc Eo, Gò Cây Trôm, Giồng Cát, Giồng Xoài và trên sườn núi Ba Thê Có cả tập tục chôn tro xương người chết trong mộ chum Tầng sâu nhất ở Lĩnh Sơn Nam 1 ( C14: 40 – 70 +- 50 AD) có mộ chum bằng gốm thô, xương đen, áo đỏ Nắp chum được đậy bằng cái tô lớn, xương chắc mịn, trong có chứa vài mảnh nhỏ hữu cơ, 5 hạt chuỗi bằng vàng ( lớn nhất dài 6mm) và 1 hạt mã não vỡ
Theo thời gian, mật độ dân cư dần dần đông đúc khắp cánh đồng Óc Eo và biến khu vực này thành một thị trấn nhộn nhịp Nhiều ngành thủ công quan trọng đã được ra đời như: nghề làm gốm, nghề luyện kim loại, nghề làm hạt chuỗi vàng,
mã não, thủy tinh…Không những thế, giai đoạn này đã xuất hiện mối quan hệ mua bán giữa các vùng khác nhau với bằng chứng sau: một số trang sức có khắc
Trang 11chữ Phạn thế kỷ I – II sau công nguyên; 2 hiện vật vàng có mang tính chất của Hoàng đế La mã Antoninus ( 138 -161 AD) và Marcus Aurelius ( 161 – 180AD)
Giai đoạn 2 ( thế kỷ III – IV đến thế kỷ VI AD):
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ toàn diện của cảng thị Óc Eo, kiến thiết nhiều kiến trúc gạch, đá, đền đài tôn giáo lờn trên sườn đông núi Ba Thê và hơn
30 gò nổi cánh đồng Óc Eo Ảnh chụp máy bay ghi nhận trong vòng thành, đô thị cổ Óc Eo chia làm 10 khu đều nhau đối xứng hai bờ Lung lớn – nơi phần lớn
di vật Óc Eo được nông dân, những người tìm vàng và các nhà khảo cổ học tìm thấy
Giai đoạn 3 ( thế kỷ VI – VII đến thế kỷ IX – X AD):
Với sự phát hiện những minh văn đã cho thấy sự kết hợp thế quyền và thần quyền rất đậm nét Nhưng ngay từ thế kỷ VI – VII, sự ra đời trong phong cách mới trong nghệ thuật điêu khắc, trên kiến trúc, tượng thờ ghi nhận nơi đây trãi qua các biến động xã hội và văn hóa sâu sắc Vai trò thủ công nghiệp và thương nghiệp dần mờ nhạt với sự vắng bóng của sản phẩm trang sức truyền thống Dường như điều này phù hợp với sự kiện vị trí trung tâm thương mại chuyển từ Óc Eo qua vùng biển Malacca, và sự chuyển tiếp quyền lực chính trị
từ Phù Nam qua Chân Lạp từ thế kỷ VI về sau ( Võ Sĩ Khải, 2006) ( H.259 - 261)
Óc Eo – Ba Thê là quần thể di tích kiến trúc tôn giáo điển hình được Bộ Văn hóa thông tin ra quyết định công nhận là “ Di tích Lịch sử- Văn hóa quốc gia” của Việt nam Phần lớn các hiện vật vàng tìm được hiện đang tàng trữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng tỉnh An Giang
1.2 Đá Nổi:
Trang 12Di tích phân bố trên diện tích rộng 1500 ( đông tây) x 1000m ( bắc nam), nằm giữa cánh đồng thấp có Lung Xẻo Mây chảy ngang Di tích này thuộc địa phận ấp Hòa Tây B, xã Phú Hòa ( Thoại Sơn – An Giang), cách thị xã Long Xuyên khoảng 7km Năm 1984, tại di tích này đã bị những người tìm vàng đào bới hàng chục hécta gây hậu quả nặng nề: nhiều mô đất cao bị san bằng, làm xáo trộn các kiến trúc đá gạch Cuộc khai quật “ chữa cháy” tháng 3/ năm 1985 nhằm cứu vãn 7 di chỉ mộ táng chưa kịp bị đào phá trong diện tích khoảng 1500
m2 ở phía bắc Miếu Bà Chúa Xứ ( H.277 – 278)
Theo các nhà khai quật, đây là 7 ngôi mộ chôn theo tục hỏa táng, thuộc loại không có nấm Các ngôi mộ được chôn trong gò đất đắp cao 20 – 30cm Tất cả
mộ đều có huyệt vuông, có cấu trúc trung tâm hình trụ bằng gạch Bên ngoài khối trụ vuông được tấn hoa cương, cát trắng và được nện thêm bằng các lớp gạch vỡ và sét đen ( H.278) Có 2 ngôi mộ có đường móng kiến trúc xây bao bọc xung quanh vách huyệt và 5 ngôi ốp bằng gạch vỡ cùng sét đen mịn và hoa cương cùng cát trắng Trong 5 ngôi mộ có di vật chôn theo, các nhà khai quật thu được 331 hiện vật, trong đó bao gồm: 10 đá quí, 3 mảnh cắt của đồng tiền, 1 mảnh kim loại xám đen, 1 hạt chuỗi đá trong, riêng vàng là 316 tiêu bản
Trong đó, mộ 85 ĐN – M2 có chôn theo 104 hiện vật, gồm: 1 viên đá
trong, 1 nhẫn vàng, 101 lá vàng Hiện vật đặc biệt nhất trong ngôi mộ này là 1 bệ thờ bằng đồng gắn linga yoni vàng đâm thủng 1 lá vàng mỏng mạ đen Hiện vật này đã gây ấn tượng mạnh mẽ về tục thờ linga trong thời kỳ đó
Mộ 85ĐN – M3 có chôn theo 40 hiện vật, gồm: 5 viên đá quí, 1 hạt chuỗi
đá trong,2 mảnh cắt của đồng tiền, 1 nhẫn vàng và 31 lá vàng dát mỏng
Mộ 85 ĐN – M4 có chôn theo 165 hiện vật, gồm: 3 viên đá quí, 1 mảnh cắt đồng tiền, 1 mặt đeo vàng hình bông hoa, 1 nhẫn vàng và 159 lá vàng
Trang 13Mộ 85ĐN – M5 có chôn theo 19 hiện vật, gồm: 1 viên đá quí, 1 mảnh kim
loại đen, 17 lá vàng dát mỏng
Mộ 85 ĐN – M7 có chôn theo 3 lá vàng dát mỏng
Phần lớn lá vàng mỏng có chạm hình người, thần linh, động vật trong thiên nhiên và động vật các hóa thân của thần linh, thảo mộc, vật thể, văn tự cổ, hình hình học Các hình khắc hầu hết đều là biểu tượng thuộc tín ngưỡng Bà La Môn
và Phật giáo và những chữ cổ đều thuộc chữ Sanskrit ( Đào Linh Côn, 1994; Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995)
Di tích Đá Nổi là một trong những khu di tích kiến trúc văn hóa Óc Eo phát hiện được nhiều hiện vật vàng với các hình vẽ đa dạng, phong phú nhất Các phế tích kiến trúc Đá Nổi có lối xử lý phần trung tâm, kỹ thuật gia cố móng Đặc biệt
ở 2 phế tích chính chứa nhiều vàng nhất là 85 ĐN – M2 và 85 ĐN – M5 đều “ phù hợp với nghi thức và hình thức của một ngôi đền Hindu giáo” Trong sưu tập hiện vật vàng Đá Nổi hiện biết, các biểu tượng tôn giáo được định hình rõ hơn so với các biểu tượng cùng loại ở sưu tập vàng Gò Tháp Ngoài ra, các đặc điểm tiếu tượng có liên quan tới giai đoạn phát triển của điêu khắc Gupta ; chữ viết có nhiều ảnh hưởng của loại chữ Brahmi Nam Ấn Tất cả các điều trên cho phép xác định các di vật vàng Đá Nổi nằm chủ yếu trong khoảng thế kỷ IV - VI AD ( Witzel, M.2001 – Lê Thị Liên, 2006)
Toàn bộ hiện vật vàng được tìm thấy tại di tích Đá Nổi hiện được đang cất giữ
và trưng bày hình ảnh tại Bảo tàng An Giang
2 Kiên Giang
2.1 Nền Chùa
Di tích này từng được xem là tiền cảng của “ Thành phố cảng Óc Eo” ( Malleret, L.1959), thuộc địa phận ấp 3, xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp ( Kiên
Trang 14Giang) Địa điểm này cách khu di tích Óc Eo 12 km về phía tây nam, và cách thị
xã rạch Giá 12km về phía bắc Đây là vùng địa hình giồng lầy, thấp trũng, chỉ cao 1.5 – 2m/ mực nước biển Di tích này từng được Mallret khảo sát 3 lần tại hiện trường vào năm 1944 và quan sát trên máy bay vào năm 1946 ( Malleret, L.1959)
Sau 1975, di tích này được khai quật hai lần vào năm 1982 và năm 1983 Với những kết quả khảo cổ học thu được, di tích này được nhìn nhận là “ Kiến trúc bằng đá lớn nhất của văn hóa Óc Eo được phát hiện” cho đến lúc đó Các nhà khảo cổ đã tìm được 19 ngôi mộ phía nam khu kiến trúc, các ngôi mộ này thộc dạng “ mộ gò” hỏa táng, chôn trong các huyệt hình chữ nhật, hình vuông và hình phễu Trong các hộc thường lấp đầy cát và có trường hợp còn theo đá quí,
di vật bằng vàng hoặc mảnh gốm, than tro, xương mủn nát Có 3 trong 19 phế tích được xem là mộ có xuất hiện các lá vàng ( H.262 – 276):
Mộ 83NC –NC1: nằm ở trung tâm phía tây của một trong những kiến trúc đá
có qui mô lớn nhất hiện biết của nền văn hóa Óc Eo Các hiện vật được tìm thấy gồm có: 1 đá đỏ, 1 mảnh kim loại mủn nát, 1 đoạn nhẫn vàng, 4 lá vàng bị cháy sém, 17 lá vàng nguyên có chạm khắc hình liên quan đến Hindu giáo, tuy nhiên các hình này còn được thể hiện rất sơ lược Ngôi mộ này được nhận định có thể
là phần “hố thờ” của trung tâm kiến trúc Hindu
Mộ 82NC – PN1: có 3 mảnh vàng nằm dưới những thanh gỗ xếp ở trung tâm
Mộ 82 NC- BCX6 có 2 viên đá quí và 3 lá vàng thể hiện hình người và bò Toàn bộ hiện vật vàng tìm được trong các ngôi mộ trên hiện được cất giữ tại bảo tàng Kiên Giang
2.2 Mốp văn:
Trang 15Di tích nằm cách núi Ba Thê 8 km về phía tây bắc, cách thị xã Rạch Giá khoảng 25 km Di tích thuộc địa phận xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, được phát hiện vào năm 1944
Trong di tích có nhiều đường nước cổ được Mallret ghi nhận từ các quan sát trên máy bay, có đường nước nối liền với di tích nền Chùa cách đó 12 km về phía tây nam Dấu tích văn hóa xuất lộ ở nhiều nơi: gò hình chữ nhật về phía bắc kinh Ba Tôn; cụm “đá xây” và kiến trúc xây gạch về phía bắc kinh Lý Văn Cần; địa điểm Tám Lộ giáp phia nam Lung nhỏ Các nơi này được ghi nhận có vàng
lá, vàng cám, hạt chuỗi, gốm Óc Eo và các cọc gỗ tại chỗ ( Mallret, L.1959) Giồng Xoài:
Di tích có tọa độ: 10o 13’38” vĩ bắc – 105o 08’47” kinh đông, thuộc địa phận
ấp Sơn Hòa, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất Di tích nằm trên một giồng đất pha cát cao 1.5 m – 2m, trãi dài hướng bắc đông bắc – nam đông nam, cách chân núi ba Thê 1000m và cách gò Óc Eo khoảng 2000m về phía tây tây nam
Di tích được phát hiện từ năm 1984 – 1986, sau khi sự kiện những người đào vàng đã liên tiếp và vô tình tìm được tượng thần Brahma bốn mặt bằng đá sa thạch và hai pho tượng Phật bằng gỗ Sau đó, từ 1996 – 2002, các nhà khảo cổ
đã tiến hành đào thám sát và những cuộc khai quật lớn Kết quả tìm được là 2 kiến trúc gạch lớn được phát hiện Di tích Giồng Xoài thuộc loại hình kiến trúc đền thờ, nằm trong không gian chung của cả quần thể kiến trúc đài điện Óc Eo –
Ba Thê xưa
Trong di tích kiến trúc 02GX – KT1, trong hố thiêng tấn đá thạch anh và hoa cương ở chính điện đã phát hiện 42 hiện vật bằng vàng, 64 hạt chuỗi và 5 đá thủy tinh ( H.412 – 414)
Trang 16Hiện vật vàng gồm: 1 hiện vật có chữ viết, 16 chạm hình bò, 2 chạm hình voi? 3 chạm hình dê ( cừu)? 1 chạm hình ngọn lửa? 2 chạm hình bông sen; 4 có hình nhưng rất mờ; 4 mảnh vàng tứ giác; 7 mảnh vàng nhỏ, 1 dây đính 3 hạt vàng như trứng cá; 1 hạt chuỗi bằng đất nung bọc vàng
Những lá vàng có 2 lỗ thủng ( lỗ lớn chính tâm, lỗ nhỏ bên cạnh), cùng sưu tập 64 hạt chuỗi tìm thấy trong hố thiêng cho thấy chúng có thể xuyên thành chuỗi, mục đích dùng để trang trí và làm đẹp cho chủ nhân kiến trúc
Các dấu tích cư trú văn hóa bên ngoài kiến trúc, với một mẫu than sâu 80 – 85cm, cho kết quả C14: 2150 ± 90BP = 200BC Kết quả này đã ghi nhận nơi
đây còn là “ một trong những điẻm hội tụ đầu tiên của cư dân cổ văn hóa Óc Eo
tại khu di tích Óc Eo – Ba Thê” (Đào Linh Côn - Nguyễn Thị Mỹ Hồng, 2004)
Toàn bộ hiện vật vàng trên hiện đang được tàng trữ tại bảo tàng Kiên Giang
Lý, 1992)
Cuộc khai quật năm 1990 phát hiện một mộ gạch nằm dưới gốc cây dầu Mộ xây chìm sâu dưới lòng đất 0.93m, huyệt hình vuông đắp nền bằng hoa cương, cát và đất sét Giữa lòng huyệt gạch xây thành 2 hình vuông lồng nhau, chôn theo 40 di vật kim loại và đá quí như vòng tay, khuyên tai, nhẫn, 2 lá vàng chạm hình voi, những lá vàng khác chạm hình bông hoa, bánh xe, rắn, rùa, bò, các
Trang 17chấm tròn và 2 đồng tiền bằng hợp kim ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995)
Di tích kiến trúc Kè Một có cấu trúc tương tự như một số phế tích ở Gò Thành, có phần sàn gạch nằm sâu dưới đáy Trong sưu tập vàng, hình rắn và hoa sen thể hiện một phong cách khác biệt và phát triển hơn so với cá sưu tập vàng
Đá Nổi, Gò Tháp,Nền Chùa Việc xuất lộ tượng đồng Mahisasuramadini và nội dung các mảnh vàng cho phép nhận định rằng đây là một nền kiến trúc Hinduism vào thời kỳ phát triển của văn hóa Óc Eo ( niên đại cuối thế kỷ VI - thế kỷ VII AD) ( Lê Thị Liên, 2006)
Toàn bộ hiện vật vàng trên đang được tàng trữ tại bảo tàng Kiên Giang
3.Trà Vinh
3.1 Lưu Cừ
Di tích nằm trên giồng cát cao 1,2m – 2m, rộng 200 – 400m, kéo dài 11 km theo hướng đông tây, thuộc địa phận xã Lưu Nghiệp Anh, nằm cách huyện lỵ Trà Cú 8km về phía tây tây bắc Di tích này được phát hiện năm 1985, khi có nhiều người đến đào bới vàng, phá hủy miếu thờ ông tà, lật gốc cây đa cổ thụ, hất bệ đá Yoni và bệ thờ xuống chân gò Sau đó, từ những năm 1986 – 1987, nhiều cuộc thám sát và khai quật được tiến hành đã phát hiện thêm nhiều di chỉ
cư trú và kiến trúc cổ tại đây Điển hình như: Gò Lưu Cừ II – IIA, Nền Bót, Trường học, Gò Mã Lạng, Suối Sâu, Gò Xẻo Da
Tại Gò Lưu Cừ II, cá nhà khảo cổ làm phát lộ toàn bộ nền móng kiến trúc đồ
sộ ( 31.2 x 17.2m, bờ bao 18 hàng gạch cao 1.5m) Kiến trúc còn có nhiều cột giả và bậc thềm tam cấp, hành lang có các ô vuông lát gạch Bình đồ kiến trúc trung tâm xây gạch hình chữ nhật ( 11.3 x 3.6m) chia thành 2 phần: nền gạch ( 7.6 x 3.1m) và tiền sảnh phía đông, cùng kiến trúc trụ tròn xếp gạch phía tây (
Trang 183.7 x 3.1m) Phía ngoài kiến trúc lớn còn 5 kiến trúc khối trụ hình vuông dọc theo mạn tây, bắc và nam ( H.477)
Các nhà khảo cổ đã phát hiện thêm: 4 bệ thờ, 1 linga nhỏ, i linga-yoni bằng thủy tinh, 4 ly đồng, tay và vai của 3 pho tượng đồng, mảnh đồng, gốm mịn và 3
mề đay bằng lá vàng dập hình mặt trời, hình nhiều ngọn lửa và nhiều mảnh vàng cắt nhỏ khác
Di tích kiến trúc Lưu Cừ được xem như kiến trúc qui mô lớn nhất, bố cục phức tạp, ở vị trí trung tâm nên quan trọng nhất của cả quần thể kiến trúc khu vực này Một số hiện vật tìm được trong di tích đã phản ánh được tính chất Hindu giáo của quần thể này 2 mẩu than kiến trúc cho niên đại C14: 1870 ± 45
BP = 85AD và 1460 ± 45 BP = 490 AD ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ
Sĩ Khải, 1995; Lê Thị Liên, 2006)
Toàn bộ hiện vật vàng được tìm thấy ở trên đang được tàng trữ tại bảo tàng Trà Vinh
3.2 Sóc Chà
Di tích nằm trong vùng đất thấp bằng phẳng thuộc địa phận xã Thạnh Sơn,
đã bị những người đào vàng đào bới làm lộ ra nhiều mảnh gạch lớn Các nhà điều tra đến đây đã ghi nhận có thể là 4 kiến trúc gạch Trong lòng kiến trúc có một hộc vuông xây gạch cỡ lớn ( 30 x 15x 6cm ; 40 x 18x 8cm), giữa có chôn theo nhiều lá vàng chạm hình voi, trâu, bông sen
Những kiến trúc kiểu này được xem là “ những ngôi mộ cổ thuộc văn hóa
Óc Eo” ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung ( lê Xuân Diệm - Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995 )
4 Tiền Giang
4.1 Gò Thành
Trang 19Di tích thuộc ấp Tân Thành, xã Tân Thuận Bình, cách Mỹ Tho khoảng 12
km về hướng đông- đông bắc Di tích được phát hiện vào năm 1979 trước nguy
cơ bị phá hoại do những người đào bới vàng Đến năm 1988 – 1989, toàn bộ gò phía đông của di tích được tiến hành khai quật
12 ngôi mộ hỏa táng ở đây đều có huyệt hình giếng vuông có hoặc không có
gò nổi 3 mộ có gò có xây ô gạch hay xếp bằng gỗ dưới đáy, bên trong có cát, than tro và vàng lá 6 mộ không gò có xây hộc nhỏ hình tứ giác và chôn theo nhiều vàng mỏng
Tổng số hiện vật thu được là 271, gồm: 6 đồng ( 2 nhẫn với một hình đầu voi, 1 xập xõa, 1 ống, 2 mảnh hình thang); 22 đá ( 1 pho tượng Vishnu nguyên vẹn, 1 mảnh thân nam thần, 2 đá quí, 1 mảnh đá có minh văn sanskrit, các bệ thờ, yoni); 47 đất nung ( chì lưới hình quả lê, nắp ấm, gốm hình trái mận, hình oản, bánh xe, vòi bình ) và 196 di vật vàng ( 111 tiêu bản chôn trong mộ) gồm vòng đeo gắn hình lá cây, khuyên tai đính hoa 4 cánh, hạt chuỗi hình trái xoan, hình mũi tên 5 cạnh, hình hoa sen, hoa mai 6 cánh, một số mảnh vàng khắc hình voi
- Mộ 88GT –M1: 2 lá vàng nhỏ trong lỗ vuông của hình chữ thập xếp bằng
- Mộ 89GT –M2: 19 mảnh vàng ở trung tâm huyệt
- Mộ 89GT – M3: 1lá vàng dưới viên gạch xây trụ trung tâm
Trang 20- Mộ 89 GT –M4: 31 mảnh vàng nhỏ dưới gạch xây hộc 2 trung tâm
- Mộ 89GT – M5: 2 lá vàng nằm giữa sàn gạch
- Mộ 89 GT – M6: 1 hoa tai và 2 lá vàng ở giữa lớp than tro và sét pha cát
- Mộ 89GT – M7: 1 lá đồng chạy vòng quanh chu vi khối trụ vuông giữa 2 lớp gạch 2-3 Phần vách trụ vuông kẹp 2 lá vàng dài ( 17 x 2.5cm/ lá); 3 lá vàng nhỏ ở sát đáy 4 góc và 4 cạnh hộc mộ có đặt gạch nguyê kẹp lá vàng theo chiều thẳng đứng, các lá vàng đều chạm hình voi
- Mộ 89GT – M8: 4 lá vàng đều chạm hình voi kẹp giữa 2 lớp gạch và 2 lá vàng dài đặt đứng, 12lá vàng nhỏ rãi xung quanh trung tâm khối trụ, 1 khung đồng lót giữa Ngoài ra có 13 lá vàng xếp dưới 13 viên gạch xếp hình chữ thập ở ngoài hộc
Các mẫu C14 trong 4 mộ cho kết quả từ 1417 ± 75 BP = 533 AD ( 88GT – M2) đến 1200 ± 45 BP = 750 AD ( 89GT – M6)
Theo các nhà khai quật, ngoài những đặc trưng cơ bản chung của nền văn hóa Óc Eo, ở quần thể di tích Gò Thành còn có thêm nài loại hình di chỉ và di vật
“ mang tính chất vùng” như: 2 loại hình mộ táng xây gạch nằm chung 1 gò, và
voi là hình khắc chủ đạo trên các mảnh vàng tìm thấy ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995) ( H 467 – 476)
Toàn bộ hiên vật vàng tìm được hiện đang được cất giữ tại Bảo tàng Tiền Giang
5 Đồng Tháp
5.1 Gò Tháp
Di tích thuộc địa phận xã Tân Kiều, nằm gần trung tâm Đồng Tháp Mười Nơi đây đã được nhiều học giả Pháp khảo cứu ngay từ cuối thế kỷ XIX Nhiều vết tích của kiến trúc, tượng thờ, sản phẩm điêu khắc và 9 phiến văn bia phát
Trang 21hiện, ghi nhận Gò Tháp là “ một trung tâm tôn giáo khá quan trọng” ( Coedès, G.1931)
Năm 1984, các nhà khoa học đã tiến hành cuộc khai quật tại phía bắc Gò Tháp ở khu vực Gò Bà Chúa Xứ Đây là một di chỉ kiến trúc gạch qui mô lớn ( 20.9 x 13.3m, cao 1.4m) Gần khu vực Gò Bà Chúa Xứ, trên sườn phía bắc của một gò thấp có diện tích cỡ 1 ha, nằm cách Miếu Bà Chúa Xứ 150 m về phía tây nam, các nhà khảo cổ đã tiến hành đào 10 hố thám sát trong diện rọng 85 x 57m Trong 2 hố thám sát mở rộng mang ký hiệu 84GTTS2 – A7( M1) và 84 GTTS2 – A8 ( M2), họ đã khám phá ra 2 ngôi mộ thuộc dạng văn hóa Óc Eo Đó là loại
mộ “chôn theo tục hỏa táng” có huyệt hình vuông và bậc thềm ở vách huyệt, có khối trụ vuông xây gạch Trong lớp cát trắng mịn lẫn than tro ở lòng huyệt vuông đã thu được: 3 đá quí, 1 hạt chuỗi thủy tinh cùng 107 tiêu bản vàng ( 1 nhẫn, 1 khuyên tai, 1 hạt chuỗi, 1 bông hoa 4 cánh, 9 mảnh chạm hình bò, hình hoa và rất nhiều mảnh bị xé vụn)
Trong đó, mộ 84GTTS2-A7 ( M1) có 84 lá vàng và 3 viên đá quí; và mộ 84GTTS2- A8 ( M2) có 21 hiện vật vàng và 1 chuỗi ở trung tâm kiến trúc, cùng
2 lá vàng trên bề mặt lỗ vuông ( H.442 – 466)
Trong cuộc khai quật 1993, tại di tích này cũng phát hiện thêm trong 6 ngôi
mộ chôn theo sưu tập gồm: 2 chuỗi, 2 đá quí, 7 mảnh thủy tinh xanh, 2 nhẫn vàng,1 tiền vàng và 234 mảnh vàng Trong đó:
Mộ 93GT-M1: 49 lá vàng nhỏ chạm hình người, động vật ( voi, rùa) và thực vật ( hoa mai, cây cỏ), vật thể (đinh ba bánh xe, nhà sàn mái dốc); 1 viên đá quí màu cam trong lớo cát xám sáng ở trung tâm khối trụ vuông
Trang 22Mộ 93GT –M2: 12 lá vàng nhỏ có trang trí hình rất mờ ( trong đó có 10 là nhỏ ghép lại thành 5 lá lớn) được tìm thấy trong lớp cát mịn màu trắng hồng ở trung tâm hình khối trụ vuông
Mộ 93GT – M3: 34 hiện vật vàng ( gồm tiền vàng, lá vàng chạm hình đông vật, thực vật, vật thể khác ) và 1 chuỗi mả não đỏ cam được tìm thấy trong lớp cát trắng mịn ở trung tâm kiến trúc
Mộ 93GT – M4: 56 lá vàng có chạm hình thần Vishnu, hình động vật và thực vật ( hình hoa sen), hình hình học, vật thể khác (ốc, bánh xe, bình vòi, ngọn lửa ) Ngoài ra, cũng tìm thấy trong mộ này 3 viên đá quí, 7 mảnh thủy tinh màu xanh, vài mảnh đồng mủn nát Những hiện vật trên đều được tìm thấy trong lớp cát trắng mịn lẫn ít than tro ở trung tâm kiến trúc
Mộ 93 GT- M5: 2 nhẫn vàng, 72 lá vàng ( 39 lá trơn và 33 lá có chạm hình Garuda, động vật, thực vật vật thể khác), và 1 viên đá quí nằm trong lớp cát trắng hồng mịn ở trung tâm khối trụ vuông
Các niên đại C14 cho kết quả từ 1570 ± 50 BP = 380 AD ( 93GT- M4) đến
1529 ± 50 BP= 430 AD ( 93GT –M1) Quần thể di tích Gò Tháp được các nhà khảo cổ xem là di tồn văn hóa Óc Eo đầu tiên nhận biết trên vùng phia bắc sông Hậu Đây là địa điểm với nhiều loại hình di tích văn hóa phong phú, đa dạng như: di chỉ cư trú, mộ táng, kiến trúc đài điện chứa đựng nhiều hiện vật văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưõng độc đáo và hiếm quí ( lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995 ; Đào Linh Côn, 1997)
Khu mộ Gò Tháp có đặc điểm giống Đá Nổi vì đều tập trung trên gò đất đắp nhân tạo nhưng lại có một nền móng kiến trúc lớn Các sưu tập vàng tìm thấy trong các phế tích kiến trúc thể hiện tính chất nghệ thuật Hindu giáo bằng các biểu tượng thể hiện những hình thức rất sơ khai Nhóm di vật vàng Gò Tháp có
Trang 23thể từ các cứ liệu C14, văn khắc và tiếu tượng học đã chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa Ấn Độ và được hình thành không cùng lúc từ sau thế kỷ V – IV BC đến thế kỷ V AD ( Lê Thị Liên, 2006)
Gò Tháp là quần thể kiến trúc tôn giáo điển hình được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết đinh công nhận là “ Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia” của Việt nam Toàn bộ hiện vật vàng tìm được ở đây hiện được cất giữ tại bảo tàng Đồng Tháp
6 Long An
6.1 Gò Xoài
Di tích này còn có tên là Chòm Mả, từng được các học giả Pháp nghiên cứu
từ lâu Năm 1987, một cuộc khai quật được tiến hành trên địa điểm này và đã phát lộ kiến trúc đền thờ có bình đồ nền gạch gần vuông ( 15.2 x 15.5m) Bên trong hố thờ vuông ( 2.2 x 2.2m), xây vách 14 hàng gạch thẳng đứng
Trong lòng hố ( 1.5 x 1.5m), ở chính giữa là một trụ gạch xếp theo hình chữ Vạn gồm 16 lớp Dưới cùng có hộc cát trắng chứa hiện vật chôn theo gồm: ít than tro; một mảnh gốm Óc Eo; một số mẫu kim loại và khoáng chất Ngoài ra, còn tìm được 26 hiện vật vàng, gồm: 1 mề đay vàng nạm đá quí; 4 nhẫn vàng nạm đá quí; 1 vòng tay vàng dập hình rắn; 1 lá vàng chữ nhật có minh văn Phạn ngữ; 1 miếng vàng có hình người phụ nữ trong tư thế lệch hông; 8 lá vàng chạm hình voi; 1lá vàng chạm hình rùa; 2 lá vàng cắt hình bông sen 12 cánh, 1 lá vàng hình hoa sứ 8 cánh; 1 lá vàng chạm hình không rõ; 5 lá vàng trơn và ít vàng vụn Các di vật sắp xếp theo thể thức nhất định: 4 nhẫn đặt ngay ngắn trên bản minh văn; 8 hình voi chôn 4 góc cát với độ cao khác nhau tạo hình hộp Bản minh văn vàng gấp tư đặt chính giữa đồ trang sức và các lá vàng khác ( H.478 – 480; 482 – 502)
Trang 24Theo các nhà khai quật, các loại hình di tích – di vật phát hiện ở Gò Xoài mang nhiều điểm tương đồng với di chỉ ở Gò Thành ( Chợ Gạo - Tiền Giang)
Có thể xem kiến trúc Gò Xoài như là “ loại hình di tích kiến trúc mộ thờ” ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995) Tuy nhiên, cũng có những nhận định khác như tiến sĩ K.V Ramesh và các học giả Ấn Độ ở Chennai ( Madras) và giáo sư Hà Văn Tấn ( 1993 – 1997), thì đây chính là loại hình di tích Stupa ( tháp) do căn cứ vào sự hiện diện của minh văn kệ Pháp Thân tìm thấy trên lá vàng độc đáo ở đây ( Bùi Phát Diệm, 1997; Vương Thu Hồng, 1997; Bùi Phát Diệm – Đào Linh Côn – Vương Thu Hồng, 2001)
Sưu tập vàng Gò Xoài thể hiện sự tiến triển khá xa về hình thức và kỹ thuật
so với các sưu tập vàng Đá Nổi, nền Chùa hay Gò Tháp Ngoài ra, nó cũng phản ánh các liên hệ không quá xa với sưu tập vàng Kè Một và Lưu Cừ Riêng hình họa nữ thần tương đồng với các điêu khắc cuối thế kỷ VII trong hang động vùng Deccan ( Tây Ấn) ghi nhận chúng có thể nằm trong khoảng cuối thế kỷ VII - thế
kỷ VIII sau công nguyên ( Lê Thị Liên, 2006)
Đây là quần thể kiến trúc tôn giáo điển hình được Bộ Văn hoá Thông Tin ra quyết định công nhận là “ Di tích Lịch sử - Văn hóa quốc gia” của Việt Nam Toàn bộ hiện vật vàng tìm được đang cất giữ tại bảo tàng Long An
6.2 Gò Trâm Quỳ
Di tích thuộc địa phận ấp Thuận Hòa, xã Hòa Khánh Nam Nơi này từng được Malleret nghiên cứu ( 1963) và ghi nhận có 2 kiến trúc gạch nằm trên các
gò đất bên cạnh Bàu Tháp và bàu Dài
Năm 1987, Gò Trâm Quỳ được khai quật làm xuất lộ kiến trúc gạch với qui
mô khá lớn và hoàn chỉnh Đây là một kiến trúc gồm nhiều bộ phận tiếp nối nhau trên một tuyến dài 35m từ tây sang đông Kiến trúc đền thờ chính ở phía tây, hố
Trang 25thờ vuông ( 2.4 x 2.4m) ở trung tâm tiền sảnh Trong đền chính, hố thờ được ghi dấu bằng hàng gạch xếp 2 – 3 lớp, vách sét pha cát Ở lớp đáy hố thờ ( 30 -60cm), các nhà khai quật đã phát hiện 10 viên “đá cuội thờ” và nhiều di vật khác, như: 1 linga- yoni bằng thạch anh, 1 mảnh đất nung tam giác in hình giống Phật, 1 đầu tượng Ganesha cao 6.05cm, 1 phiến sa thạch có 3 lỗ, 15 chuỗi đá quí thạch anh, 1 cúp sắt rỉ, các đoạn nhẫn và 50 mảnh vàng vụn
Di tích kiến trúc Gò Trâm Quỳ được các nhà khai quật xác định có nhiều yếu tố đặc trưng cho quần thể kiến trúc Ấn Độ giáo, thuộc truyền thống văn hóa
Óc Eo ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995 ; Bùi Phát Diệm, 1997; Vương Thu Hồng, 1997; Bùi Phát Diệm – Đào Linh Côn – Vương Thu Hồng, 2001)
Toàn bộ hiện vật trên đang được cất giữ tại bảo tàng Long An
Các dấu tích văn hóa Óc Eo ghi nhận ở đây gồm các tấm đan vuông trang trí hoa lá, cánh tay nữ thần, tượng thần Ganesa cao 68cm, gốm và kiến trúc còn lại của một đền thờ chính ( phía Đông) cùng nền móng 2 trụ cổng dẫn vào đền phía Tây Niên đại ở di tích này được xếp tương đương với di tích Gò Trâm Quỳ ( 1 mẫu giám định từ than gỗ thu trong tầng văn hóa sâu 80cm cho kết quả: 1490 ± 50BP = 460 AD)
Trang 26Trong ô trống chứa đầy cát của trụ giới giữa đền thờ chính, các nhàkhai quật thu được một số mảnh vàng vụn không có hình chạm ( Bùi Phát Diệm, 1997; Vương Thu Hồng, 1997; Bùi Phát Diệm – Đào Linh Côn – Vương Thu Hồng, 2001)
Toàn bộ hiện vật vàng trên đang được cất giữ tại Bảo tàng Long An
Trang 27CHƯƠNG II VÀNG ÓC EO Ở MIỀN TÂY NAM BỘ Thống Kê – Loại Hình & Đề tài thể hiện II.1 Thống kê các hiện vật vàng Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ
II.1.1 Trước 1975:
Theo công bố của Malleret ( 1959 – 1963) trong công trình nghiên cứu đồ
sộ của mình về Khảo cổ học ở đồng bằng sông Cửu Long là 4 tập “ L’Archeologie du delta du Mékong” thì sưu tập hiện vật vàng trong văn hóa Óc
Eo có tới 1311 đồ trang sức, cân nặng 1120gr, 10062 hạt ngọc ( trong đó có 453
gr vàng và 9283 hạt ngọc sưu tầm trong dân Ngoài những hiện vật vàng của Óc
Eo thì trong bộ sưu tập này còn có những hiện vật mang nguồn gốc Trung Hoa,
Ấn Độ, Trung Á, Roma có khung niên đại là thế kỷ II – III sau công nguyên
Riêng về vàng, trong tập III: “ Văn hóa Phù Nam” ( La Culture du Funan), L.Malleret dành chuyên khảo cả phần đầu nhan đề : “ Nghề kim hoàn và tiền
bạc” ( L’Orfèvrerie et la Monnaie d’Argent) để khảo tả khá chi tiết, cân đo và
giám định tuổi vàng, cung cấp cho chúng ta hàng loạt bản ảnh và bản vẽ về các hiện vật vàng trong bộ sưu tập kim hoàn Óc Eo đầy hấp dẫn Lý do để thu hút sự chú ý vì đây không chỉ là một kim loại quí bậc nhất của thế giới mà còn do sự đồ
sộ về số lượng, sự đa dạng và phong phú về thể loại, sự sinh động và đặc sắc của họa tiết trang trí
Ngoại trừ ít dây sợi, phế phẩm , các dụng cụ dùng gia công vàng ( H.161),
đa phần sản phẩm kim hoàn “ vàng Óc Eo” được tác giả giới thiệu là đồ trang
sức cá nhân quí tộc Thể loại của các hiện vật này cũng rất đa dạng và phong phú như: nhẫn trơn, nhẫn nạm đá quí, nhẫn tạo hình mặt rắn, hình bò, hình bọ hung, nhẫn vẽ người và khắc chữ ; Vòng tay, bông tai, vòng cổ, hạt trang sức, mặt đeo
Trang 28kiểu mề đay, tiền vàng, ấn triện Đặc biệt, theo báo cáo của tác giả còn có những phiến vàng được gò dập, khắc miết để tạo hình lá dừa hay hình thiếu nữ cầm hoa sen cực kỳ tinh xảo và đặc sắc ( H.159 – 255)
Ở phần phụ lục của báo cáo ( III – V), tác giả còn giới thiệu các thống kê
về trọng lượng một số tiêu bản nữ trang vàng và kết quả phân kim 1 thanh và 1
lá vàng Óc Eo tại phòng thí nghiệm Boudet, 3 đường Haudriette ở Paris ( Bảng
Trọng lượng ( carat = 0,2gr)
Ký hiệu mẫu ( Bảo tàng Sài Gòn)
Trọng lượng ( carat = 0,2 gr)
Trang 29BẢNG II: KẾT QUẢ PHÂN KIM VÀNG ÓC EO TRƯỚC 1975
Ký hiệu mẫu ( Bảo tàng Sài Gòn) Nguyên tố
Trang 30Tuy nhiên, một điều đáng tiếc và một tổn thất khá lớn cho giới nghiên cứu
là rất nhiều tiêu bản quí giá trong “ Sưu tập Malleret” cho đến nay không còn nữa Năm 1975 – 1984, Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm kê di sản Óc Eo hiện tồn, và hiện vật vàng chỉ còn lại 498 hiện vật ( so với báo cáo của Malleret trước đây là 1311 hiện vật) với 3 loại hình chính: đồ trang sức; đồ dùng khác và vàng lá
II.1.1.1 Đồ trang sức:
a) Vòng đeo cổ và đeo tay : 8 ( 7 nguyên và 1 phế vật) Vòng cổ được tạo
dáng theo kiểu xương cá với một, hai lớp chồng lên nhau có hoặc không đính thêm mặt đeo ở giữa Vòng tay để trơn hay có lồng thêm mặt đeo trang trí hình hoa nhiều cánh và có điểm hạt nhỏ hai bên
b) Vòng nhỏ: 27
c) Nhẫn: 135, gồm:
Nhẫn mặt hình học: 47 ( 17 tròn, 9 chữ nhật, 9 vuông, 3 tam giác, 2 lục giác, 1 hình thoi, 3 bầu dục, 2 hình ngôi sao, 1 hình tháp)
Nhẫn có trang trí: 28 ( 7 nhẫn khắc bò thần Nandin trong nhiều tư thế
và hình dạng khác nhau: 3 bò có bướu, 1 bò không sừng, 2 bò quỳ, 1 bò nằm ; mắt bò có hay không có đính hạt màu; 3 nhẫn khắc bông lúa; 2 nhẫn khắc răng cưa; 2 nhẫn khắc nổi chấm tròn; 8 nhẫn hình dây thắt; 6 nhẫn gắn mặt đá màu với nhiều hình dạng khác nhau; có nhẫn khắc chữ sanskrit
Trang 31g) Hạt chuỗi: 118 hạt và 15 dây chuỗi ( phần lớn hạt hình tròn, hình cầu,
hình lục giác, hình khối vuông, hình hạt gạo…)
h) Vật trang sức: 14 Các vật này được thể hiện rất phong phú qua các loại
hình, như:hình cầu, hình giọt nước, hoa mai, hoa thị, quả tim, con rùa…Chức năng của các vật trang sức này có thể là các vật đeo ở cổ, tai, cài trên áo hoặc trang trí trên khăn, mũ…
i) Bút trâm: 1
k) Phế vật trang sức khác: 4
II.1.1.2 Đồ dùng khác:
a) Mề đay, đồng tiền kiểu La Mã: 2 Cả 1 hiện vật này đều có hình mặt
người và được cho đó là hình của vua Marc Aurele, Antonin le Pieux)
b) Kim khâu: 3
c) Ống hình hình học ( hình trụ, hình thang); 9
d) Khóa hình tròn: 10
II.1.1.3.Vàng lá : 72 Loại hình này gồm nhiều kích thước và kiểu dáng khác
nhau ( Lê Trung – Trịnh Thị Hòa, 1984; Trần Thị Thanh Đào, 2004) ( H 152 –
154 )
II.1.2 Sau 1975:
Từ sau 1975 đến nay, vàng được phát hiện ngày càng nhiều hơn ở khu vực này Sự hấp dẫn của kim loại quí báu này đã thu hút sự xâm nhập vô ý thức của lòng tham con người vào các quần thể kiến trúc chứa vàng với mục đích làm giàu Hậu quả đưa ra là rất nhiều hiện vật vàng - bảo vật của quốc gia - đã bị mất mát hoặc rơi vào các bộ sưu tập tư nhân trong và ngoài nước ( H.156) Có thể nói đây là một mất mát và tổn hại lớn mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn chưa thể khắc phục được
Trang 32Tuy nhiên, các sưu tập giàu giá trị nghiên cứu khoa học nhất mà chúng ta hiện biết lại bắt nguồn từ các cyộc khai quật có hệ thống và nghiêm túc của giới khảo cổ học Việt nam Các hiên vật tìm được này đã cung cấp nhiều tri thức đa dạng và thông tin phong phú về đời sống vật chất và tinh thần , tôn giáo và tín ngưỡng của một cộng đồng tộc người bản xứ từng khai phá và sáng tạo một nền văn hóa – văn minh của riêng mình từ hàng ngàn năm trước ( H 147; Bảng III – IV)
Theo những công bố gần đây nhất ( Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995; Hà Văn Tấn chủ biên, 2002; Trung tâm khảo cổ học, 2004; Lê Thị Liên, 2006), hiện vật vàng thuộc truyền thống Óc Eo có tổng thể là 929 tiêu bản, trong đó nhóm tượng thờ và đồ trang sức chiếm 57 tiêu bản ( 6,1%) còn lại là vàng lá chiếm 872 tiêu bản ( 93,9 %)
Trong nhóm vàng lá, những lá- mảnh có chạm khắc trang trí được ghi nhận
có 665 tiêu bản ( 76,2%); các lá mảnh không trang trí ( vàng trơn) chiếm 207 tiêu bản ( 23,8% tổng số lá vàng), với nhiều kiểu dáng và kích thước, trọng lượng khác nhau ( Bảng III –IV)
Tuy nhiên, theo học viên thì sự thống kê số lượng trên chỉ mang tính tương đối vì còn phụ thuộc vào tính chủ quan khi thống kê hiện vật của mỗi bảo tàng Trong quá trình đi thực tế, học viên nhận thấy đặc biệt với những hiện vật là lá vàng trơn thì có những tiêu bản rất nhỏ ( trọng lượng chưa tới 1 ly); hoặc có những tiêu bản nhỏ được xuất phát từ một tiêu bản lớn hơn mà thôi
Trang 33BẢNG III - THỐNG KÊ HIỆN VẬT VÀNG ÓC EO
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ ( SAU 1975)
Hoa tai
Mề đay
Hạt chuỗi
Bông chuỗi Bông
Trang 34BẢNG IV THỐNG KÊ VÀNG LÁ ÓC EO
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ ( SAU 1975)
A Đề tài về Nhiên thần – Nhân thần & Người
Nền Chùa
Gò Tháp
Gò Xoài
Giồng Xoài
Gò Thành
Kè Một
Gò Hàng
Tổng cộng
Nền Chùa
Gò Tháp
Gò Xoài
Giồng Xoài
Gò Thành
Kè Một
Gò Hàng
Tổng cộng
Trang 36Di tích
Di vật
Đá Nổi
Nền Chùa
Gò Tháp
Gò Xoài
Giồng Xoài
Gò Thành
Kè Một
Gò Hàng
Tổng Cộng
II.2 Loại hình hiện vật:
Về loại hình cụ thể, chưa tính tới các kiểu dáng sản phẩm đa dạng và phong phú do L.Malleret phát hiện và chuyên khảo ( 1961), hiện vật vàng trong văn hóa
Óc Eo ở miền tây nam bộ được phát hiện sau 1982 đến nay bao gồm các loại hình cơ bản sau:
Bệ thờ Linga –Yoni:
1 tiêu bản tìm thấy ở Đá Nổi ( 85ĐN – M2) Bệ đúc bằng hợp kim đồng thiếc, tạo dáng giống các bệ sa thạch từng được biết trong văn hóa Óc Eo, gồm: 3 khối
Trang 37vuông dẹt xếp chồng nhau cao 6cm ( mỗi cạnh chân bệ rộng 11cm) Linga vàng đặc gắn trên bệ cao 2,7cm Linga có cấu tạo 2 phần: dưới vuông, trên tròn Yoni
là một mảnh vàng vuông mạ đen ( 7x7cm), bề mặt có dấu rạch, tả thực bộ phận sinh dục nữ với 2 đường rạch lồng hẳn vào linga ( H.300 – 301)
Đồ trang sức:
Vòng tay: 3 chiếc, tìm thấy ở Kè Một ( 1), Gò Thành ( 1), Gò Xoài ( 1) Chiếc vòng ở Kè Một khá đơn giản, chiếc vòng ở Gò Thành có gắn thêm vật giống hình lá cây Riêng chiếc vòng ở Gò Xoài khá đặc biệt Vòng còn nguyên vẹn, được dập vắt từ lá vàng mỏng, tạo hình con rắn cuộn tròn ( 2R = 5,5cm) Hình rắn được thể hiện khá hiện thực với đầu nhọn, 2 vòng mắt có chấm con ngươi ở giữa, thân tạo sống nổi; phần thân gần đầu dập nổi 3 vạch dọc – 8 vạch ngang và phần thân sau có thêm 4 – 5 vạch dọc và nhiều vạch ngang diễn tả vảy rắn ( H.483)
Nhẫn:
Ngoài các nhẫn vàng Óc Eo có hình bò Nandin sừng ngắn, cong về phía trước, u lớn nổi gồ, mặt và cổ thể hiện nhiều nếp nhăn, hình khối cơ thể mập mạp nhưng khá sinh động ( Malleret, L.1962), có 13 chiếc nhẫn còn nguyên vẹn
và bị gãy được tìm thấy trong các di tích mộ táng và cư trú ở Đá Nổi ( 3), Nền Chùa ( 2), Gò Tháp ( 3), Gò Xoài ( 4), Kè Một (1)
Phần lớn các nhẫn được tìm thấy là nhẫn trơn, mặt cắt tròn Đặc biệt là 4 chiếc nhẫn ở Gò Xoài còn nguyên vẹn, đều có thiết diện tròn đặc, 4 chiếc nhẫn đều có đính đá quí với màu sắc khác nhau ( H.490 – 493)
Khuyên tai ( hoa tai):
10 chiếc, được tìm thấy ở Óc Eo ( 1 khuyên tai hình con đỉa, có chốt bấm),
Gò Tháp ( 1 tròn trơn, 1 có dây xoắn), Kè Một ( 4 tròn trơn và 1 hình nút vuông
Trang 38đính cẩm thạch có móc đeo, Gò Thành ( 1 hoa tai có hình bông lúa, 1 hoa tai có đính bông hoa với 4 cánh nhọn) ( H.464,470,517)
Mặt đeo kiểu mề đay:
10 chiếc, được tìm thấy ở Đá Nổi ( 1 hình hoa mai 6 cánh, nhụy đính đá màu mận chín); Gò Thành ( 1 mặt vòng đeo cổ, 1 mặt có hình ngọn lửa); Lưu Cừ ( 4 mặt có hình ngọn lửa); Gò Xoài ( 2 mặt hình ngọn lửa, 1 mặt đính đá đỏ) ( H.410, 464, 470,489)
Hạt chuỗi:
16 hạt chuỗi được tìm thấy tại các địa điểm sau: Gò Thành ( 5 hạt hình trái xoan có lỗ xuyên trục dọc ( 2R=35mm), 3 hình mũi tên); Ba Thê ( 5 hạt); Gò Tháp (2); Giồng Xoài ( 1 hạt bằng đất nung bọc vàng, tạo hình giống như trái bí ngô có 6 khía Đây là chuỗi bọc vàng lần đầu tiên được tìm thấy trong các di tích thuộc văn hóa Óc Eo của Nam bộ
Bông chuỗi:
11 bông được tìm thấy tại các địa điểm sau: Gò Thành : 10 bông (đều có hình hoa nhỏ 5 -6 cánh, có lỗ chính giữa); Giồng Xoài : 1 bông có đính 3 hạt vàng như trứng cá (đây là đoạn dây vàng nhỏ dài 1cm,nặng 5jem, có tạo 3 đoạn ngắn dính vào nhau, trên thân đính 3 hạt vàng hình trứng cá rất nhỏ ( 2R = 0,1cm) Có
lẽ đoạn vàng này là phần còn lại của dây chuỗi dùng xâu các lá vàng và hạt chuỗi với nhau)
Trang 39Vàng lá:
Đây là di vật phổ biến nhất trong các di tích thuộc truyền thống văn hóa Óc
Eo ở Nam Bộ Chúng có rất nhiều về số lượng, phong phú về hình loại và đa dạng về đề tài chạm khắc
Về hình dáng, vàng lá thường tìm thấy có hình dạng như: tứ giác, tròn hay gần tròn, bầu dục, bán nguyệt, hình lá nhọn, chữ D, chữ U Về kích thước thì đa
số vàng lá đều là những mảnh nhỏ ( 0,5cm -2cm) và trung bình ( 2 -5cm) Loại lớn hơn 5cm thường rất hiếm, chỉ có một vài mảnh được phát hiện ở Đá Nổi, Gò Thành và Gò Xoài
Về trọng lượng, phần nhiều các lá vàng nặng trung bình cỡ 1ly – 2 phân Ở
Đá Nổi, trong tổng số 312 lá vàng được cân thì có tới 143 lá cân nặng từ 1ly đến
1 phân ( chiếm 45,61%); 43 lá cân nặng từ 1,1 phân đến 2 phân ( chiếm 29,95%), 43 lá cân nặng từ 2,1 phân – 4 phân ( chiếm 13,42 %); 30 lá trọng lượng nặng từ 4,1 phân trở lên( chiếm 9,36%) ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải, 1995)
Ở Gò Tháp, trong tổng số 240 lá vàng học viên cân được thì có tới 238 lá vàng có trọng lượng từ 1 ly tới 2 phân ( chiếm 99,1%); chỉ có 2 lá có trọng lượng 2.2 phân ( chiếm 0,9%) Tổng số trọng lượng lá vàng của Gò Tháp là:
Có thể nói “Đây cũng là trọng lượng phổ biến chung của vàng lá tìm thấy
trong các di tích văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo ở vùng đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long” ( Lê Xuân Diệm – Đào Linh côn – Võ Sĩ khải, 1995)
Đặc điểm nổi bật nhất của sưu tập vàng lá Óc Eo là chúng thường được
trang trí hoa văn hay khắc chữ Vàng lá được tìm thấy ở các địa điểm sau
H.147):
Óc Eo: 5 tiêu bản ( 3 lá hình chữ nhật, 2 mảnh nhỏ)
Trang 40Đá Nổi: 386 tiêu bản Phần lớn lá vàng mỏng, có chạm hình người, thần
linh, bàn chân thần, động vật trong thiên nhiên, linh thú, thảo mộc, vật thể, văn
tự cổ, hình hình học Các hình khắc hầu như đều là những biểu tượng thuộc tín ngưỡng Bàlamôn giáo và Phật giáo Những chữ cổ đều thuộc chữ Sanskrit
Nền Chùa: 29 tiêu bản, khắc hình nhân sư, nam thần, nữ thần, động vật, hoa
sen, vật thể, hình hình học
Kè Một: 12 tiêu bản với các hình khắc như: voi, lá chạm bông hoa, bánh xe,
rắn, rùa, bò, minh văn và các chấm tròn
Giồng Xoài: 51 tiêu bản, trong đó có 29 lá vàng có khắc các hình: bò, voi,
dê, cừu, hoa sen
Gò Thành: 80 tiêu bản với 20 lá có khắc các hình: voi, hoa sen Đặc biệt, có
1 lá vuông ( 10x10cm) và 2 lá dài ( 17x2,5cm/ lá)
Gò Tháp: 321 lá vàng với 170 mảnh có chạm khắc hình nhân thần, nhiên
thần, linh thú, động vật, chim, hao sen, hoa súng, vật thể, hình hình học và rất nhiều mảnh bị xé vụn
Gò Hàng: 1 lá chạm hình Garuda
Gò Xoài: 17 tiêu bản với 1lá vàng hình chữ nhật có khắc minh văn Phạn
ngữ; 1lá hình phụ nữ trong tư thế lệch hông, 8 lá vàng chạm hình voi, 1 lá chạm hình rùa, 2 lá cắt hình bông sen 12 cánh, 1 lá cắt hình hoa sứ 8 cánh; 1 lá chạm hình không rõ; 5 lá vàng trơn và ít vàng vụn
Lưu Cừ: nhiều mảnh vàng cắt nhỏ
Gò Trâm Quỳ: 50 mảnh vàng vụn
II.3.Chủ đề trang trí trên vàng lá
Nhìn chung, các mảnh vàng có trang trí tập trung vào các chủ đề sau đây:
II.3.1 Nhiên thần, nhân thần và người: