Để hiểu hơn về đời sống tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận, đề tài tập trung nghiên cứu mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mức độ tham gia hoạt động tham gia vui
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN
KCX TÂN THUẬN QUẬN 7, TP.HCM
Lĩnh Vực Nghiên Cứu: Xã hội
Chuyên Ngành: Xã hội học
Họ và tên nhóm tác giả Giới tính Sinh viên năm thứ
Trang 2ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN
KCX TÂN THUẬN QUẬN 7, TP.HCM
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Xã hội
CHUYÊN NGÀNH: Xã hội học
Mã số công trình:………
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
IPC Việt Nam: Công ty phát triển Tân Thuận
Công ty Đài Loan CT & D: Central Trading Development
BHYT: Bảo hiểm y tế
SKSS: Sức khỏe sinh sản
ĐHQG: Đại học Quốc gia
ĐHKHXH & NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1
DẪN NHẬP 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
I.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
I 2 Lý thuyết áp dụng cho đề tài 12
I.3 Khung phân tích 15
I.4 Các khái niệm liên quan đến đề tài 16
I.5 Giả thuyết nghiên cứu: 20
I.6 Phương pháp nghiên cứu 21
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
II.1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu 23
II.2.Một số đặc điểm của công nhân KCX Tân Thuận 25
II.3.Đời sống vật chất của công nhân KCX Tân Thuận, quận 7 TP.HCM 26
II.4 Đời sống tinh thần của công nhân KXC Tân Thuận, quận 7 TP.HCM 38 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 54
Trang 5TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Sự hình thành các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa dẫn đến nhu cầu lớn về lực lượng lao động Thực tế đội ngũ lao động trong các KCN, KCX đã và đang đóng vai trò đáng kể trong đời sống xã hội và có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng Trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội công nhân đều giữ vai trò quan trọng luôn tác động, ảnh hưởng và chi phối tới toàn
bộ hoạt động sống cũng như sự phát triển của xã hội
Khu Chế Xuất Tân Thuận TP.HCM là KCX đầu tiên của cả nước, lực lượng công nhân trong KCX Tân Thuận khá đông đảo khoảng 32.337 ngàn người1 Vì vậy, nghiên cứu về đời sống của công nhân không chỉ tác động đến đời sống của công nhân mà còn có tác động đến kinh tế xã hội của đất nước
Trong đề tài “đời sống vật chất và tinh thần của công nhân khu chế xuất Tân Thuận Quận 7 Tp.HCM”, nhóm nghiên cứu sẽ tìm hiểu về đời sống và tinh thần của công nhân
Về đời sống vật chất của công nhân KCX Tân Thuận Q7 Tp HCM
Một nhu cầu không thể thiếu được trong nhu cầu của mỗi người cũng như người công nhân, đó chính là nhà ở Do tính chất tập trung quy mô lao động tại các
cơ sở Tp.HCM cao hơn so với các tỉnh và bình quân cả nước chiếm 15,9% số lượng lao động của cả nước Với chi phí giá phòng trung bình từ 150 – 300.000đ/ người/tháng Đồng thời phòng trọ của công nhân chủ yếu là các dãy nhà cấp 4 với lối đi chật hẹp, một số phòng có gác xếp thì giá phòng lại tăng Với môi trường sống – nhà ở công nhân khó có thể an tâm nghỉ ngơi sau những giờ làm việc mệt nhọc
Theo kết quả khảo sát thì hầu hết bữa ăn của công nhân chỉ có rau mới đậu
hủ là chủ yếu và một số công nhân lại cho rằng không có thời gian để nấu được các món ăn cầu kỳ, cơm trong công ty thì một số công ty chưa đảm bảo chất dinh dưỡng, một số công nhân sau những giờ tăng ca phải về ăn thêm
1
Đề tài: “Sự hình thành và phát triển KCX – KCN ở TPHCM” – Đặng Thanh Thúy ĐHQGTPHCM – ĐHKHXH & NV- năm 2006
Trang 6Công nhân chủ yếu đi làm bằng xe đạp do họ đều muốn có thể tiết kiệm được một khoản nào đó, mặc dù có nhiều công nhân làm từ 6h đến 18h hya phải tăng cả tối về khuya như để có thêm tiền gửi về quê nên phần lớn đi lại của công nhân là chiếu xe đạp
Mức thu nhập của công nhân trung bình là khoảng từ 2.000.000 đến 2.500.000đ/người/tháng đó là tính cả tiền tăng ca Nhưng với mức thu nhập như vậy trong khi thị trường ngày càng tăng giá nên công nhân chỉ đủ cho việc chi tiêu đủ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Như vậy, mức thu nhập trung bình từ 2.000.000 đến2.500.000đ/người/tháng công nhân không những chi trả cho sinh hoạt cá nhân, mà công nhân còn phải trả một khoản tiền phòng, tiền điện…và tiền tiết kiệm để gửi về gia đình Vậy nên đời sống công nhân còn gặp nhiều khó khăn
Sự tiến bộ của đời sống vật chất tại các KCX cũng kéo theo sự phong phú đa dạng đời sống tinh thần của công nhân Để hiểu hơn về đời sống tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận, đề tài tập trung nghiên cứu mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mức độ tham gia hoạt động tham gia vui chơi giải trí, việc
sử dụng bảo hiểm y tế và mối quan hệ của công nhân
Qua quá trình thực hiện đề tài nhóm nghiên cứu thấy rằng việc tiếp cận phương tiện truyền thông đại chúng của công nhân KCX Tân Thuận còn tương đối
ít Nguyên nhân là do công nhân có ít thời gian, đi làm tăng ca mệt mỏi nên họ dành thời gian còn lại để nghỉ ngơi Nếu có tiếp cận thì đa số họ sử dụng các phương tiện truyền thông để giải trí, chứ không nhằm mục đích là tìm kiếm thông tin, để mở mang kiến thức Việc ít tiếp cận với các phương tiện truyền thông sẽ có tác động đến khả năng nâng cao nhận thức xã hội và ảnh hưởng tới việc thích ứng cuộc sống nơi đô thị, nhất là những công nhân ở tỉnh lẻ đến
Mức độ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí của công nhân còn thấp Nguyên nhân của vấn đề này được công nhân giải thích là: công ty không tổ chức hoạt động vui chơi giải trí, công nhân không có thời gian, không có tiền để tham gia hoặc do làm tăng ca nhiều mệt mỏi nên muốn ở nhà nghỉ ngơi
Thu nhập và tình trạng hôm nhân của công nhân cũng có ảnh hưởng đến mức
độ tham gia vào các hoạt động giải trí: nhóm công nhân có thu nhập cao hơn thì
Trang 7mức độ tham gia vào các hoạt động giải trí do công ty tổ chức nhiều hơn nhóm công nhân có thu nhập thấp hơn, mức độ tham gia vào các hoạt động giải trí của công nhân có gia đình thấp hơn so với công nhân chưa có gia đình
Qua khảo sát cho thấy có tới 95,3% công nhân có sử dụng Thẻ BHYT, một phần không sử dụng thẻ BHYT là do họ làm ở một số công ty không bắt buộc Bên cạnh đó, việc công ty tổ chức khám định kỳ cho công nhân là rất ít hoặc có công ty
tổ chức khám sức khỏe cho công nhân, mỗi năm một lần nhưng lại khám sức khỏe tổng quát cho tất cả các đối tượng, nên ít có điều kiện tổ chức cho công nhân nữ có thêm những đợt khám riêng Công nhân không sử dụng thẻ BHYT khám tại công ty, nếu có thì chỉ là xin những loại thuốc rất thông thường đau đầu, chóng mặt
Trong các mối quan hệ xã hội: mối quan hệ giữa công nhân với gia đình và bạn bè có tác động nhiều nhất đến đời sống của công nhân
Như vậy, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân luôn tác động qua lại lẫn nhau, việc nâng cao đồng bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của công nhân đang là mục tiêu hướng đến của chúng ta cho một sự phát triển lâu bền Công nhân là nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược CNH – HĐH, Toàn cầu hóa của đất nước, việc quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của công nhân là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi mà kinh tế thị trường đang diễn ra những biến động những thay đổi không ngừng
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước Tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra mục tiêu đẩy mạnh CNH - HĐH để đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp Có thể hiểu rằng, CNH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên những thành tựu của khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Vì vậy CNH phải đi đôi với HĐH
Quá trình CNH - HĐH đất nước và chuyển dịch cơ cấu lao động sang hướng công nghiệp và dịch vụ, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế xã hội, chất lượng sản phẩm, tổng sản phẩm quốc dân v.v có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ công nhân trong các KCN, KCX
Thực tế đội ngũ công nhân này đã và đang đóng vai trò đáng kể trong đời sống xã hội và có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng Công nhân Việt Nam chính thức ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần II của thực dân Pháp với số lượng khoảng 2,2 triệu công nhân Trước khi thực hiện đổi mới, 1985 đội ngũ công nhân nước ta có khoảng 4 triệu người, chiếm 16% lực lượng lao động xã hội2 Đến năm
2008 đội ngũ công nhân nước ta có khoảng 8 triệu người, chiếm 9,3% dân số và 25% lực lượng lao động toàn xã hội, sản xuất khối lượng sản phẩm chiếm 50% tổng sản phẩm quốc nội 3 Từ những số liệu trên cho thấy lực lượng công nhân Việt Nam ngày càng tăng nhanh về số lượng cũng như đang có một vị trí quan trọng trong xã hội hiện nay Trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội công nhân đều giữ vai trò quan trọng luôn tác động, ảnh hưởng và chi phối tới toàn bộ hoạt động sống cũng như sự phát triển của xã hội
Trong xu thế hội nhập quốc tế, phát triển các KCX, KCN nhằm thúc đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH tạo ra tiền đề vững chắc cho sự phát triển của lực
Trang 9lượng sản xuất Cả nước có 150 KCX, KCN, riêng tại TP.HCM theo ban Quản Lí các KCX, KCN hiện TP.HCM có 3 KCX và 12 KCN với tổng số lao động là 220.000 người Dự kiến năm 2010 các KCX, KCN cần khoảng 500.000 lao động 4 Các KCX, KCN này đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của TP.HCM và
cả nước, gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, đóng góp cho ngân sách nhà nước, kích thích sản xuất nội địa phát triển Đồng thời các KCX, KCN cũng là nơi tạo việc làm cho một lực lượng lớn lao động ở các khu vực lân cận và các tỉnh trong cả nước KCX Tân Thuận với diện tích rộng 300 ha (bằng 1,2% tổng diện tích các KCX, KCN của cả nước), với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 89 triệu USD 3
Lực lượng lao động trong KCX Tân Thuận khoảng 32.337 ngàn người 5, trong đó phần lớn công nhân là những người trẻ, khỏe, kiếm việc trong các nhà máy
xí nghiệp với mong muốn cải thiện cuộc sống khó khăn vất vả hiện tại Trên thực tế,
đã có nhiều công nhân tự tạo lập cho chính mình một cuộc sống tương đối ổn định
và có sự chuẩn bị khá vững chắc cho tương lai
Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về đời sống vật chất và tinh thần của công nhân chưa được mô tả một cách đầy đủ, với những biến động hàng ngày, hàng giờ tại nơi làm việc cũng như nơi ở của họ Với mức lương cơ bản 1.200.000 đồng/tháng6 liệu công nhân có đủ để chi phí cho sinh hoạt hàng ngày và dành một phần để tiết kiệm hay không? Bên cạnh đó, giá cả hàng hóa, các mặt hàng nhu yếu phẩm và giá phòng trọ ngày càng tăng Tất cả những yếu tố trên tác động trực tiếp đến đời sống vật chất kéo theo đời sống tinh thần của công nhân Đa số họ là những người trẻ, có nhu cầu rất lớn về hoạt động văn hóa tinh thần Trước những thay đổi
về giá cả thị trường và nhu cầu của công nhân ngày một tăng cao câu hỏi đặt ra là: Đời sống vật chất của công nhân có gặp khó khăn gì không?, công nhân có điều kiện để tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần hay không?
Trang 10Chính những lí do đó nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”
Bên cạnh đó, chúng tôi muốn thông qua đề tài này để cọ sát, học hỏi những kĩ năng, phương pháp cũng như kinh nghiệm trong khi nghiên cứu một đề tài khoa học
2 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận
2.2 Khách thể nghiên cứu
Công nhân đang làm việc tại KCX Tân Thuận
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: KCX Tân Thuận, Quận 7, TP HCM
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành thực hiện từ tháng 9/2009 đến tháng 4/2010
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
- Đời sống vật chất của công nhân trên các khía cạnh: Thu nhập, chi tiêu, nhà
ở, việc làm, ăn uống, đi lại
- Đời sống tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận trên các mặt: Hoạt động giải trí, y tế, thông tin đại chúng
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Mức độ chi tiêu giữa nhóm công nhân đã có gia đình và nhóm công nhân chưa có gia đình tại KCX Tân Thuận
- Điều kiện làm việc, nhà ở của công nhân KCX Tân Thuận
- Thấy được mức độ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí của công nhân
có gia đình và công nhân chưa có gia đình tại KCX Tân Thuận
- Thực trạng sử dụng thẻ BHYT của công nhân KCX Tân Thuận
- Các mối quan hệ xã hội của công nhân KCX Tân Thuận
Trang 114 Câu hỏi nghiên cứu
- Điều kiện làm việc của công nhân như thế nào?
- Mức độ tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí, tiếp cận thông tin của công nhân có gia đình và công nhân chưa có gia đình tại KCX Tân Thuận có sự khác nhau như thế nào?
- Công nhân sử dụng thẻ BHYT như thế nào?
- Các mối quan hệ xã hội của công nhân như thế nào?
5 Mô tả mẫu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cách chọn mẫu chỉ tiêu
Cụ thể, với 150 đơn vị mẫu, trong đó công nhân nữ tiến hành với 90 đơn vị mẫu (45 mẫu nữ có gia đình và 45 mẫu nữ chưa có gia đình); công nhân nam với 60 đơn vị mẫu (30 mẫu nam chưa có gia đình, 30 mẫu nam có gia đình)
Đề tài chọn 5 đơn vị mẫu dành cho phỏng vấn sâu, với 3 mẫu có gia đình và
2 mẫu chưa có gia đình
6 Ý nghĩa lí luận – ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lí luận của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những thông tin về đời sống vật chất và tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận hiện nay Đồng thời
đề tài góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về lĩnh vực đời sống của công nhân, cũng như cung cấp một phần tổng quan cơ sở khoa học của các đề tài về đời sống công nhân nói chung và đời sống vật chất, tinh thần của công nhân nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thông qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn đạt được một số kĩ năng, phương pháp khi thực hiện nghiên cứu các vấn đề xã hội
Việc nghiên cứu đời sống vật chất và tinh thần của công nhân giúp mọi người có cái nhìn khái quát về thực trạng đời sống công nhân hiện nay Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp phần làm cơ sở cho các nhà quản lí, các cấp lãnh đạo có khuynh hướng xây dựng và phát triển các chương trình có hiệu quả hơn, nhằm nâng cao đời sống của công nhân
Trang 12CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Công nhân là một trong những tầng lớp giữ vai trò quan trọng không những đối với lịch sử dân tộc mà đây còn là lực lượng lao động chủ yếu có nhiều đóng góp
to lớn cho kinh tế - chính trị - xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, công nhân đang là nguồn nhân lực chính phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Bởi vậy, công nhân trở thành khách thể nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Triết học và Xã hội học Những vấn đề liên quan đến đời sống của công nhân đã được triển khai nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên, cho đến hiện nay đời sống của công nhân vẫn là vấn đề nghiên cứu mới, mang tính chất thời đại bởi nó có liên quan mật thiết đến kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước Sau đây là một số tổng quan về các đề tài, các bài viết nghiên cứu đời sống công nhân mà nhóm đã thu thập trong quá trình nghiên cứu của mình
Đề tài “Công nhân tỉnh Bình Dương với sự nghiệp công nghiệp hóa”, 2008 của Phạm Thị Thu Hương nhấn mạnh đến vai trò của công nhân trong quá trình CNH –HĐH đất nước và xây dựng CNXH Đi sâu vào việc phân tích sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân đối với ĐCSVN và sự thành công Cách mạng Tác giả khẳng định đẩy mạnh CNH – HĐH và giữ vững định hướng XHCN là nội dung cơ bản, là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay Dù mức sống có cao hơn trước và công nhân có được tham gia quản lý thông qua đại biểu và hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự và chế độ ủy nhiệm” họ vẫn là người làm thuê, bán sức lao động, vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản, trực tiếp Tác giả tiếp cận công nhân trên phương diện CNXH Khoa học – tính lịch sử và tính giai cấp được đánh giá cao, đề tài tập trung nói đến vai trò, sứ mệnh lịch sử của công nhân, nên đời sống vật chất của công nhân chưa được phân tích sâu Tuy nhiên, đề tài cũng có thể là một trong những tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về công nhân
Đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư” (Nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại KCX Linh Trung, Quận Thủ Đức, TPHCM), năm 2009 của Nguyễn Thị Hồng Thủy Đề tài này chỉ tiếp cận công
Trang 13nhân ở khía cạnh của đời sống tinh thần đó là các quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội này chủ yếu là các đối tượng nam giới ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân Đây là một mảng nhỏ nằm trong mạng lưới xã hội rộng lớn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của công nhân Các mối quan hệ thông qua trung gian – người thân, bạn bè, người quen biết cần có sự phân tích sâu hơn, bởi nó đóng một vai trò quan trọng trong con đường tiến tới hôn nhân của nữ công nhân nhập cư Đa
số các mối quan hệ dẫn đến hôn nhân của nữ công nhân đều do bạn bè giới thiệu chứ họ không quen trực tiếp
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thắm với đề tài “Mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư ở KCN Việt Nam – Singapo”, năm 2009 Tác giả chủ yếu nói đến các đặc trưng của mạng lưới xã hội và cách sử dụng mạng lưới xã hội của công nhân nhập
cư KCN Việt Nam – Singapo Đây là mảng nghiên cứu còn khá mới trong khoa học nhưng đã được tác giả phân tích khá cụ thể Đề tài đã khái quát được toàn bộ các mối liên hệ, các mắt xích trong mạng lưới xã hội của công nhân nhập cư, bằng việc
đề cập đến cả mạng lưới xã hội trước và sau khi di cư của công nhân Với những luận cứ cụ thể, thuyết phục tác giả khẳng định mạng lưới xã hội chủ đạo của công nhân nhập cư chính là mối quan hệ với người thân ruột thịt, bà con họ hàng Mục đích phân tích chủ yếu hướng vào các câu hỏi: Ai là người giúp đỡ công nhân trong cuộc sống hàng ngày? Hiện nay khi gặp khó khăn trong đời sống công nhân thường tìm đến ai? Sự khác biệt trong cách sử dụng mạng lưới xã hội giữa nam công nhân
và nữ công nhân, giữa những người đã kết hôn và chưa kết hôn vẫn chưa được làm
rõ
Lê Thị Hồng Diệp trong nghiên cứu “Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần
ở các KCX – KCN hiện nay”, 2006 cho biết: Nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công nhân ở đây khá thiếu thốn và đơn giản, phần đông công nhân sau giờ lao động chỉ biết đến ngủ và làm việc nhà Chỉ một số ít là đến các khu vui chơi, công viên vào ngày nghỉ hoặc ngày cuối tuần Ngoài việc đi thăm bạn bè, người thân, việc giải trí của công nhân chủ yếu là xem ti vi, đọc truyện hoặc đi mua sắm những vật dụng cần thiết Tác giả cho biết: “nữ công nhân rất muốn tham gia các hoạt động vui chơi giải trí như: xem kịch, ca nhạc, đến vui chơi tại các khu du lịch (Suối Tiên, Đầm Sen v.v.) nhưng với đồng lương ít ỏi của họ thì những mong muốn kia xem như
Trang 14quá xa vời và hoang phí Còn đối với nam công nhân, do không có sân chơi lành mạnh để phục hồi sức khỏe sau những giờ làm việc nên họ thường chỉ “ngồi đồng nhậu nhẹt” để giảm Stress” Đề tài tập trung phân tích đời sống tinh thần và những khó khăn khiến công nhân không có điều kiện tham gia các hoạt động vui chơi, chưa đề cập đến vấn đề nhà ở, nguồn thu nhập.v.v…của công nhân
Tạp chí Xã hội học số 2 (106), năm 2009 có bài “Công nhân nhập cư và việc tìm kiếm bạn đời” của tác giả Bùi Thị Thanh Hà Tác giả đã phân tích sâu về những thuận lợi và khó khăn của công nhân trong việc tìm kiếm bạn đời, giúp người đọc hình dung rõ hơn về đời sống và việc làm hiện nay của công nhân tại Thủ đô Hà Nội Khi đề cập đến những khó khăn của công nhân nhập cư, tác giả phân tích sâu
về áp lực kiếm tiền, quá trình làm “ca kíp”, thêm giờ,.v.v…khiến đa số công nhân không còn thời gian để giải trí, nâng cao văn hóa tinh thần cho bản thân Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: có tới 80% công nhân không nghe đài, nghe nhạc, đọc báo; 81,5% công nhân không hoạt động thể dục thể thao Tác giả cho rằng: thiếu tiền, thiếu sức khỏe, thiếu thời gian có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tìm kiếm bạn đời của công nhân nhập cư Theo tác giả, việc tìm kiếm bạn đời của công nhân cũng tác động đến tâm trạng của họ và tạo ra những biến động về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân tại Thủ đô Bài viết tập trung đi sâu vào việc tìm kiếm bạn đời dựa trên những thuận lợi, khó khăn mà công nhân gặp phải trong cuộc sống Mặc dù, đã nói lên được những khó khăn thiếu thốn trong đời sống tinh thần, nhưng do hướng nghiên cứu là vấn đề tìm kiếm bạn đời nên những khó khăn thiếu thốn này không có cách giải quyết Hơn nữa, tên đề tài đề cập đến công nhân nhập cư nói chung, nhưng nội dung đề tài lại chủ yếu đề cập đến nữ công nhân mà nam công nhân thì ít quan tâm đến
Bài viết “Về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động trong các KCX, KCN ở Thành phố HCM” của tác giả Trần Quang Thái, đăng trên tạp chí Đảng cộng sản, năm 2006 Chỉ với bài viết ngắn tác giả đã khái quát được rất nhiều mặt
về đời sống của công nhân: Các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí và vấn
đề nhà ở của công nhân Viết về văn hóa nhưng tác giả không trực tiếp nói ngay đến đời sống văn hóa tinh thần của công nhân, mà lí giải từ đời sống vật chất của công nhân để rút ra kết luận về đời sống tinh thần của công nhân “Sự tiến bộ của đời
Trang 15sống vật chất tại các KCX, KCN không kéo theo sự phong phú đa dạng của đời sống văn hóa tinh thần” Qua phân tích, tác giả nói lên rằng giữa vật chất và tinh thần có mâu thuẫn với nhau: “Người lao động có thu nhập ngày càng tương đối và
ổn định, thì chất lượng cuộc sống ngày càng nghèo nàn” Trong bài viết này tác giả còn sử dụng một số đề tài để nói lên vấn đề xây dựng nhà ở cho công nhân như đề tài “Các giải pháp cải tiến môi trường đầu tư tại các KCX và KCN Thành phố HCM” do HEPZA xây dựng Tác giả còn lý giải được tại sao vấn đề nhà văn hóa, trung tâm giải trí ít được các nhà đầu tư chú trọng: “Các nhà đầu tư thường không quan tâm đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, xây dựng các thiết chế văn hóa tinh thần như: nhà lưu trú, rạp hát, công viên,.v.v…do lợi ích kinh tế thấp” Tóm lại, chỉ mang tính chất một bài viết nhưng tác giả đã sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu giúp người đọc hiểu hơn về đời sống công nhân Tuy nhiên, đời sống văn hóa tinh thần là một trong những khái niệm khá trừu tượng nhưng khi viết tác giả lại không cho biết tiếp cận đời sống văn hóa tinh thần theo hướng nào?
Nguyễn Văn Trịnh có bài viết “Nhà ở cho công nhân các Khu Công Nghiệp – thực trạng và một số giải pháp” in trên Tạp chí Cộng sản ngày 07/06/2007 Bài viết nhấn mạnh “nhà ở và vấn đề đời sống của công nhân tại các KCN đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Nó là lĩnh vực đòi hỏi sớm có những quốc sách mang tầm chiến lược” Trong bài viết tác giả đã chỉ ra được vị trí
và thực trạng vấn đề nhà ở của công nhân tại các KCN: khi lực lượng lao động gia tăng tại các KCN thì vấn đề nhà ở đối với người lao động, đặc biệt là vấn đề nhà ở cho người lao động có mức thu nhập thấp, những người lao động nhập cư Bài viết cũng tập trung phân tích những bất cập và bất hợp lý về vấn đề nhà ở tại các KCN:
Đó là việc quy hoạch phát triển KCN chưa đồng bộ với quy hoạch nhà ở cho công nhân, chính quyền địa phương và các chủ đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp chưa chú trọng tới việc đầu tư nhà ở cho công nhân thuê với giá thấp Dẫn tới tình trạng công nhân phải thuê nhà ở tại những nơi không đảm bảo chất lượng gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe cũng như đến đời sống văn hóa tinh thần của người lao động Hầu hết các pháp lệnh, quy định liên quan đến di cư đều mang tính khái quát mà không tập trung vào một nhóm đối tượng đặc thù Từ sự phân tích đó tác giả đưa ra một số kiến nghị đề xuất trong vấn đề nhà ở cho công nhân KCN nhằm
Trang 16hỗ trợ cho công nhân có điều kiện nhà ở tốt hơn Tuy nhiên, số liệu sử dụng trong bài viết không được tác giả trích nguồn cụ thể, khiến người đọc nghi ngờ về mức độ tin cậy của các con số này Trong bài viết tác giả có đưa ra một giả thuyết “Sự gia tăng nhanh về số lượng lao động nhập cư đến làm việc tại các KCN đã làm nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc cho các địa phương có các KCN, đặc biệt là nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp” Nhưng khi chứng minh, tác giả chỉ nói một cách chung
mà không đưa ra dẫn chứng cụ thể bởi vậy bài viết chưa có “độ sâu” mà chỉ mang tầm khái quát
Nhìn chung, các đề tài và bài viết trên đều đã phần nào làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về đời sống của công nhân Việt Nam trong thời kì CNH Những khó khăn, thuận lợi, những thách thức, rào cản và cả những cơ hội để người công nhân hội nhập cùng sự phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, các đề tài và các bài viết trên chỉ mới được tiếp cận ở một khía cạnh nào đó, ở những mặt nhất định của đời sống công nhân (đời sống tinh thần, vấn đề kết hôn, vấn đề nhà ở) Đề tài “Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh” sẽ làm rõ thực trạng về đời sống vật chất, tinh thần và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình chi phối hoạt động sống của người công nhân Trong quá trình phân tích tư liệu sẵn có, đa số các đề tài chỉ nghiên cứu chuyên sâu về công nhân nhập cư nên trong đề tài này sẽ mở rộng đối tượng nghiên cứu, không chỉ tập trung nghiên cứu công nhân nhập cư mà cả công nhân có hộ khẩu tại TP.HCM
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu khá rộng, đề tài mà nhóm thực hiện chỉ
có thể phản ánh một thực trạng đang tồn tại trong xã hội – đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, đó là một vấn đề hoàn toàn cấp thiết Bởi nếu chất lượng cuộc sống của người lao động không đảm bảo sẽ không chỉ ảnh hưởng đến số lượng mà
cả chất lượng nguồn lao động, tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong xã hội hiện nay – xã hội đang trong quá trình CNH – HĐH
I 2 Lý thuyết áp dụng cho đề tài
I.2.1 Lý thuyết tương tác xã hội
Mỗi hành động có mục đích của con người chỉ trở thành hành động xã hội khi nó nằm trong một số mối quan hệ giữa các chủ thể hành động Khái niệm này nói lên rằng mỗi quan hệ đều gắn liền với một hành động nhất định, sự tương tác xã
Trang 17hội tồn tại trong sự tác động qua lại của mỗi hiện tượng, quá trình hay hệ thống xã hội, nói lên những mối liên hệ, những quan hệ trong hiện thực nhưng không phải mọi thứ trong hiện thực xã hội đều có thể sử dụng khái niệm này để giải thích Sự tương tác xã hội chỉ tồn tại trong những điều kiện xã hội đặc thù, các điều kiện đó được thực hiện do sự kết hợp của ba nhân tố: hành động xã hội, chủ thể xã hội và quan hệ xã hội Quan hệ xã hội là quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, v.v… quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định trong quan hệ xã hội Mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có những quan hệ xã hội nhất định Việc phân tích đánh giá đúng các quan hệ xã hội là một trong những điểm xuất phát quan trọng cho việc đề ra chủ chương, chính sách đúng đắn của chính đảng cách mạng7
Tương tác xã hội được coi là quá trình hành động và hành động đáp trả của một chủ thể này đối với một chủ thể khác, hành động xã hội là tiền đề của tương tác
xã hội8
Hành động xã hội được Marx Weber định nghĩa là hành động được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng đến người khác trong đường lối quá trình của nó
Có nghĩa là, hành động xã hội là cái mà trong đó cá thể “hành động với người khác trong tâm trí ”, nói cách khác trong việc thực hiện một hành động, mọi người đồng thời cố gắng phán đoán tác động của nó lên actor khác có liên quan9
Trong đời sống xã hội cá nhân tham gia vào rất nhiều các hoạt động khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh và ý muốn của họ Hành động xã hội gắn liền với sự tồn tại và duy trì các mối quan hệ xã hội của cá nhân “Lý thuyết tương tác xã hội cho thấy sự đa dạng của các mối tương tác diễn ra trong xã hội Các hoạt động đó xét cho cùng chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu khách quan của con người như: Ăn, ở, sinh hoạt, văn hóa tinh thần v.v.”
Trang 18Lý thuyết tương tác xã hội được sử dụng trong đề tài nhằm làm rõ những nhu cầu khách quan về đời sống vật chất và tinh thần của công nhân Qua đó đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của công nhân hiện nay
I.2.2 Lý thuyết lối sống
Con người hành động để thỏa mãn các nhu cầu khách quan và chính việc thỏa mãn những nhu cầu khách quan đó đã hình thành nên lối sống của họ Lối sống
ở đây mang tính khái quát phổ biến rộng rãi do vậy với mỗi cộng đồng sẽ có những lối sống mang tính chất riêng, đặc thù của họ
“Lối sống như là phương thức đưa cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng các hoạt động của mình, là khả năng lựa chọn các hình thức cụ thể trong hoạt động sống của mình”10
Với vấn đề nghiên cứu là đời sống vật chất và tinh thần của công nhân chúng tôi sẽ áp dụng là lý thuyết lối sống để làm rõ lối sống mang tính đặc trưng của công nhân trong giai đoạn hiện nay
Các điều kiện khách quan tác động đến lối sống của công nhân trong giai đoạn mới đó là quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, quá trình hội nhập, sự nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm, v.v… tác phong nông nghiệp, lối suy nghĩ tiểu nông đã một thời cản trở sự phát triển của đất nước Và hiện nay nó đang dần được thay đổi, vì công nhân trong xã hội hiện đại phải chuẩn
bị cho mình một tác phong công nghiệp, một trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng trong xã hội Họ phải đảm trách nhiều vai trò khác nhau và thực hiện tốt các vai trò đó Bởi vậy, lối sống của công nhân cũng mang tính riêng biệt nhưng là riêng biệt trong sự thống nhất Cuộc sống gấp gáp với công việc, tăng ca, trợ cấp, nghỉ lễ, các suất ăn công nghiệp, tiền lương, tìm kiếm bạn đời đã hình thành nên lối sống đặc trưng của công nhân trong xã hội hiện đại dưới tác động của những điều kiện khách quan (kinh tế, chính trị, xã hội…)
10
Đề tài: Khía cạnh giới trong vấn đề hội nhập vào môi trường đô thị của những người nhập cư tại thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay(nghiên cứu trường hợp 3 cộng đồng: P.Bình Hưng Hòa- Q.Bình Tân, P.12-Q.Gò Vấp, P.11 – Q.3) – Nguyễn Đặng Minh Thảo, 2007)
Trang 19I.3 Khung phân tích
Trang 20I.4 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Các khái niệm liên quan đến Khu chế xuất (KCX)
Khái niệm về KCX: ở các nước trên thế giới có sự khác nhau và hiện nay
chưa có khái niệm thống nhất về KCX
Theo quan điểm của Hiệp hội KCX thế giới có viết “KCX là tất cả các khu vực được Chính phủ cho phép như cảng tự do, khu vực mậu dịch tự do, khu phi thuế quan, KCN tự do, khu ngoại thương tự do”
Với khái niệm này, KCX mang ngữ nghĩa khá rộng, gồm những khu vực được Chính phủ cho phép, riêng các khu vực này đã có ý nghĩa tương đối khác nhau
Theo quan điểm của của tổ chức công nghiệp Liên Hiệp Quốc trong tài liệu KCX tại các nước đang phát triển” vào năm 1990 cho rằng “KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lí trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho những ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà Trong đó, đặc biệt là KCX cho nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế
Theo quan điểm trên, KCX là khu vực riêng biệt, chuyên môn sản xuất hàng hóa nhằm mục đích xuất khẩu, được áp dụng quy chế thương mại tự do riêng, tách khỏi chế độ thương mại trong nước Quan điểm này khá rõ ràng về tính chất hoạt động kinh tế, không gian tổ chức hoạt động kinh tế và mục đích hoạt động kinh tế
Theo quy chế KCN, KCX, Khu Công Nghệ Cao ban hành theo nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính Phủ có đưa ra khái niệm “Khu Chế Xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập”
Từ những khái niệm trên, KCX được hiểu là khu vực chuyên sản xuất hàng hóa nhằm mục đích xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống, được áp dụng quy chế thương mại tự do riêng
Trang 21Khái niệm KCN: Theo quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao thì KCN là
khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất
Doanh nghiệp chế xuất: là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu
thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo quy chế này
Doanh nghiệp khu công nghiệp: là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập
và hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp
Như vậy, KCX khác với KCN ở chỗ không chỉ sản xuất mặt hàng công nghiệp mà còn sản xuất các mặt hàng khác như may mặc, chế biến thực thẩm, sản xuất đồ gỗ, đồ nhựa, vật liệu xây dựng v.v.và quá trình xuất khẩu các mặt hàng đều tiến hành trong phạm vi của KCX
Các khái niệm khác
Đời sống là khái niệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau và định nghĩa khác
nhau về đời sống: Theo Mác đời sống là “sinh hoạt”, “hoạt động” Mác viết: “Cuộc sống là gì nếu không phải là hoạt động sống”
Với nhiều cách hiểu khác nhau về đời sống, để phục vụ cho đề tài này nhóm chúng tôi phân ra làm hai loại: Đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Theo Mác quan niệm đời sống vật chất là: “Người ta phải sống rồi mới làm
ra lịch sử”
Trong đề tài đời sống vật chất được lượng hóa qua các tiêu chí: Điều kiện làm việc, thu nhập, chi tiêu, nhà ở, ăn uống và phương tiện sinh hoạt của công nhân
Đời sống tinh thần: Theo tác giả Ngô Tuấn Phương trong đề tài nghiên cứu
“Đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hoa ở TPHCM” Tác giả cho rằng “đời sống văn hóa tinh thần là tổng thể những giá trị tinh thần do con người
Trang 22sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình trên lĩnh vực tinh thần” Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu đời sống tinh thần cụ thể là việc tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mức độ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, việc sử dụng bảo hiểm y tế và các mối quan hệ của công nhân
Khái niệm công nhân: Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “công nhân là người
lao động trong nền kinh tế, làm công ăn lương” 11
Trong văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X
đã đưa ra khái niệm công nhân như sau: “giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và trí
óc, làm công ăn lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”
Công nhân là những người lao động chân tay, sản xuất ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp là làm việc ăn lương trong các nhà máy, xí nghiệp 12Công nhân là người lao động trong nền kinh tế, làm công ăn lương Do đó có thể nói công nhân là người lao động chân tay làm việc trong các công ty, xí nghiệp, nhà máy 13
Trong đề tài nghiên cứu này, công nhân được hiểu là những người lao động chân tay, làm công hưởng lương, họ trực tiếp tham gia vào lao động sản xuất trong
các nhà máy, xí nghiệp
Lối sống bao gồm những mối liên hệ và quan hệ đa dạng giữa con người với
nhau trong một xã hội nhất định, những điều kiện thực hiện chúng thông qua những đặc điểm điển hình về hoạt động sống của các giai cấp, các tập đoàn xã hội và các thành viên trong xã hội
Trang 23Lối sống là một phạm trù hết sức rộng rãi, nó vừa mang khía cạnh kinh tế (mức sống), vừa mang khía cạnh xã hội – tâm lý (nếp sống, phong cách sống)14 Trong cuộc sống con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau và cũng có muôn vàn cách thức để thỏa mãn những nhu cầu đó, thông qua những “đặc điểm điển hình” con người có thể tạo cho mình một lối sống phù hợp với hoàn cảnh và lối sống đó mang tính chất phổ biến, khái quát, đại thể cho cả một giai cấp, tập đoàn xã hội hay một nhóm các thành viên trong xã hội
Lối sống của công nhân là chấp nhận đối mặt với mọi khó khăn khi làm việc tại các KCX nhằm hướng tới một cuộc sống ổn định và tốt hơn sau này
Công nhân khi làm việc tại các KCX, KCN đều xuất phát từ mục đích kiếm tiền với hy vọng có cuộc sống ổn định hơn và tốt hơn so với hiện tại Nhưng để có cuộc sống ổn định đó họ sẽ phải đối mặt với những gì? Đó là sức ép về thời gian, làm việc, môi trường độc hại tại nơi làm việc, tai nạn, rủi ro ở nơi làm, giá cả sinh hoạt đắt đỏ, không biết gì về thông tin bên ngoài (mù thông tin) cách thức để người công nhân thỏa mãn nhu cầu là bỏ thời gian và sức lực vào công việc để cải thiện phần nào cuộc sống của họ (cả vật chất và tinh thần) và nhu cầu lớn nhất mà người công nhân hướng đến là một cuộc sống ổn định sau này
Khi nói đến công nhân ta sẽ nghĩ ngay tới tăng ca, các suất ăn công nghiệp tới trăm nỗi lo toan về tiên lương, giá cả leo thang, bảo hiểm xã hội v.v
Tức là ở mức độ phổ biến khi nói tới các vấn đề trên người ta sẽ nghĩ ngay
đó là công nhân, bởi vì từ những đặc tính đó đã hình thành nên lối sống của họ và lối sống đó nó mang tính chất ổn định
Nhà trọ là nhà nghỉ trọ qua đêm của khách vãng lai Nhà trọ thường ở những
nơi công cộng như bến tàu, bến xe có tiện nghi nội thất đơn giản Cơ sở kinh doanh nhà trọ chỉ được hoạt động sau khi người đứng đầu cơ sở đã cam kết thực hiện đúng các nội quy, điều kiện an ninh trật tự với cơ quan cấp tỉnh hoặc cấp huyện Cơ sở kinh doanh đó có trách nhiệm chấp hành việc hướng dẫn và kiểm tra về anh ninh trật tự của các cơ quan thẩm quyền15
14 Từ điển xã hội học – Thanh Lê - trang 147
15
Trích từ webside: Dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn
Trang 24Khái niệm nhà ở: đề tài sẽ nghiên cứu theo hướng: gắn liền với những công
nhân có hộ khẩu tại Tp Hồ Chí Minh, nghĩa là họ không phải là công nhân nhập cư, với những công nhân này họ thường sống chung với người thân của mình, mức độ kiểm soát, sự tự do, chi tiêu cho vấn đề nhà ở, điện nước cũng không gặp nhiều khó khăn như đối với công nhân nhập cư Còn công nhân nhập cư thì đa số trong số họ
là phải thuê nhà trọ, một số thì ở với người thân có nhà tại Tp Hồ Chí Minh, một số khác ở nhà lưu trú Nhà trọ thường do cá nhân xây dựng nên, xin cấp giấy phép hoạt động từ các cơ quan các thẩm quyền và chịu sự kiểm soát của các cơ quan này Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở đâu có KCX, KCN thì ở đó nhà trọ cũng mọc lên
“như nấm” để đáp ứng nhu cầu của hàng ngàn công nhân nhập cư làm việc tại đây Mọi chi phí cho nhà trọ điện nước, tức là tất cả những gì người công nhân được sử dụng đều được tính ra tiền hàng tháng công nhân sẽ phải trả cho chủ nhà trọ Nhà trọ là chỗ ở tạm thời cho công nhân, công nhân có thể chuyển chỗ trọ nếu muốn nhưng phải thỏa thuận với chủ nhà Một chủ nhà trọ có thể có nhiều nhà trọ vì đây
là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nên rất nhiều chủ nhà trọ đã nâng cao số lượng và hạn chế không gian nhà trọ dẫn đến công nhân phải ở một khu nhà trọ đông đúc lôn xộn với một không gian giành riêng cho mình chỉ với vài m2 Toàn
bộ khu nhà trọ đều đứng tên chủ nhà trọ, công nhân chỉ là người thuê, mướn nhà trọ
mà thôi Đa số công nhân đều chọn nhà trọ rẻ bởi thời gian họ có mặt tại nhà trọ là rất ít Đó chỉ là nơi nghỉ ngơi của họ sau giờ làm việc căng thẳng tại công ty mà thôi Gía cả nhà trọ thường không ổn định, mà chạy theo xu hướng thị trường cho nên đây thực sự là một vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống công
nhân
I.5 Giả thuyết nghiên cứu:
Đa số công nhân tại KCX không hài lòng với công việc đang làm nhưng lại không muốn thay đổi chỗ làm
Những công nhân có gia đình tham gia các hoạt động vui chơi giải trí ít hơn những công nhân chưa có gia đình
Hầu hết công nhân KCX Tân Thuận không sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để khám và chữa bệnh tại công ty
Trang 25I.6 Phương pháp nghiên cứu
I.6.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích, so sánh
I.6.2 Phương pháp cụ thể
I.6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có
Là thu thập thông tin sẵn có từ các bài báo, luận văn, trang web có liên quan đến vấn đề công nghiệp hóa hiện đại hóa tác động đến đời sống tinh thần của công nhân KCX Tân Thuận như các vấn đề về: nhà ở, việc làm và các hoạt động giải trí…
I.6.2.2 Phương pháp pháp sử dụng bảng hỏi
Bảng hỏi được đưa ra dưới dạng “phiếu thu thập thông tin” bao gồm 150 bảng hỏi, trong đó có 60 bảng hỏi dành cho nam công nhân và 90 bảng hỏi dành cho
nữ công nhân Bảng hỏi được soạn dưới dạng câu hỏi đóng và dạng câu hỏi mở Câu hỏi đóng với các phương án trả lời được soạn thảo trước Một số câu hỏi mở được dành cho vấn đề chưa lường trước được các khả năng có thể xảy ra Ngoài ra còn có một số câu hỏi mang tính tổng hợp nhằm thu thập được toàn bộ ý kiến đa dạng của công nhân
I.6.2.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được vận dụng trong quá trình nghiên cứu: quan sát địa bàn nghiên cứu, các khu nhà trọ, bữa ăn,điều kiện sinh hoạt của công nhân
I.6.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Để thu thập thông tin, đề tài thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu, một số câu hỏi phỏng vấn được soạn trước nhằm thu thập thông tin sâu hơn
I.6.2.5 Phương pháp xử lý thông tin
lý thông tin thông thường bao gồm:
- Thống kê bằng tay số lượng các mẫu khảo sát phát ra và thu lại
- Đánh mã số cho các bảng câu hỏi
- Các tính toán (tăng, giảm %) trong quá trình phân tích vấn đề
Phương pháp xử lý bằng SPSS:
- Mã hóa biến và nhập liệu trên cơ sở các câu hỏi trong bảng khảo sát (phân tích thống kê số liệu sơ cấp)
Trang 26- Chạy tần suất và khảo sát mối liên hệ giữa các biến để làm cơ sở phân tích
- Đưa từng phần thông tin đã được sử lý vào phân tích dựa trên kết cấu đề tài
Trang 27CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu
Quận 7 là một trong năm quận thành lập năm 1997 của thành phố Hồ Chí Minh Quận 7 bao gồm thị trấn Nhà Bè và 5 xã lân cận Phía Bắc giáp quận 4 và quận 2; phía Nam giáp huyện Nhà Bè, sông Phú Xuân; phía Đông giáp quận 2 và tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp quận 8 và huyện Bình Chánh
Kể từ khi được thành lập (4/1997) với dân số là 90.920 nhân khẩu, tính đến ngày 01/04/2001 dân số của quận đã lên đến 115.024 người, tốc độ tăng dân số đã lên đến 8,38% so với năm 1997 Đến năm 2002, quận đã tập trung đầu trang bị cho các ngành giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao v.v Trong đó, đầu tư cho Giáo dục là 56.536,763 triệu đồng chiếm tỷ trọng 29,965% trên tổng vốn đầu tư; Y tế là 12.708,476 triệu đồng chiếm tỷ trọng 6,736%; văn hóa - Thể dục Thể thao là 11.645,860 triệu đồng chiếm tỷ trọng 6,172%)
Quận 7 có vị trí chiến lược trong khai thác giao thông thuỷ và bộ, là cửa ngõ phía Nam của thành phố, là cầu nối mở hướng phát triển của thành phố với biển Đông và thế giới Với vị trí đó, quận 7 có điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Khu chế xuất Tân Thuận trên địa bàn quận là một trong những khu chế xuất lớn và hiệu quả nhất của thành phố16 KCX Tân Thuận được thành lập năm 1991 thông qua quy chế KCN, KCX, Khu Công Nghệ Cao17, ngay sau khi nghị định của chính phủ ban hành thì TPHCM đã xúc tiến xin giấy phép thành lập KCX Tân Thuận, đây là KCX đầu tiên của thành phố Hố Chí Minh được thành lập và cũng là KCX đầu tiên của Việt Nam Sự ra đời của KCX Tân Thuận là bước mở màn tích cực cho sự thành lập và phát triển hệ thống KCX – KCN của Thành phố Hồ Chí Minh KCX Tân Thuận – một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung theo lãnh thổ đầu tiên của thành phố cũng như của cả nước – đã tạo được một mô hình tổ chức sản xuất mới có hiệu quả
Trang 28KCX Tân Thuận là KCX đầu tiên của Việt Nam được cấp giấy phép đầu tư
số 245/GPĐT ngày 24 tháng 9 năm 1991 của chủ tịch hội đồng Bộ trưởng KCX Tân Thuận là liên doanh giữa công ty IPC Việt Nam (công ty phát triển Thân Thuận) và công ty Đài Loan CT & D (Central Trading Development) với diện tích
300 ha, vốn pháp định là 30 triệu USD được góp trong 3 năm Trong đó bên Việt Nam (IPC) 30% bằng quyền sử dụng đất trong 50 năm KCX Tân Thuận được xây dựng ở một xã ven đô, đầm lầy, ngập mặn18.KCX Tân Thuận được thành lập theo quyết định số 394/CT của thủ tướng chính phủ Tổng vốn đầu tư ban đầu là 89 triệu USD KCX Tân Thuận ở địa điểm thuộc phường Tân Thuận, Quận 7 KCX Tân Thuận nằm ở một vị trí rất thuận tiện, toàn bộ khu vực với diện tích 300 ha, nằm trên một bán đảo, được bao quanh bởi sông sài Gòn KCX Tân Thuận chỉ cách trung tâm thành phố 4km, liền kề với huyện nhà bè, Quận 4, Quận 5 là những nơi có nguồn nhân lục dồi dào Phía nam KCX là trung tâm đô thị mới và khu dịch vụ - thương nghiệp thuộc khu phát triển nam Sài Gòn KCX Tân Thuận sát với khu cảng thành phố Hồ Chí Minh Do gần như trực tiếp gần bến tàu cho nên các nhà đầu tư
có thể tiết kiệm lượng phí vận tải nội địa Giao thông đường bộ cũng rất thuận tiện, phía Tây nam KCX giáp tỉnh lộ 15 – nối với các tỉnh phía nam, đại lộ nam Sài Gòn rộng 120m, mặt đường rộng 60m với 10 làn xe sẽ là tuyền giao thông huyết mạch nối liền Quốc lộ 1 với hệ thống cảng dọc sông sài Gòn, tạo chất xúc tác cho tam giác KCX gồm: KCN Hiệp Phước, KCN Tân Thuận và khu đô thị Nam Sài Gòn
Về hạ tầng kỹ thuật, toàn bộ KCX có hệ thống đường bộ hoàn chỉnh, trải bê tông nhựa, rộng 30m và 12 – 20m, tải trọng 40 tấn Nguồn điện do nhà máy điện Hiệp Phước cung cấp với công suất 375000kw/tổ máy KCX Tân Thuận được cung cấp nước từ nhà máy nước Thủ Đức và một nhà máy lọc nước Sài Gòn Nhà mày nước dự phòng trong KCX có khả năng cung cấp 7000m3/ ngày khi cần thiết KCX Tân Thuận có một hệ thóng nước hoàn chỉnh, trạm xử lý nước thải công suất 10000m3/ ngày đêm Có hải quan, ngân hàng, hai kho ngoại quan, 1 trạm vận
18
Nguyễn Chơn Trung “KCX Tân Thuận – mô hình kinh tế mới đầu tiên ở Việt Nam”, tạp chí cộng sản, số
54 tháng 12/2004
Trang 29chuyển container đường biển nối với cảng Bến Nghé Một trạm vận chuyển hàng không đặt bên cạnh sân bay Tân Sơn Nhất
Các ngành công nghiệp trong KCX Tân Thuận là công nghiệp nhẹ, công nghiệp ít gây ô nhiễm môi trường như: dệt, may mặc, điện – điện tử - vi điện tử, sản xuất đồ gỗ, đồ nhựa, chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, dụng cụ thể thao… và các dự án có công nghệ cao như: chế tạo khuôn mẫu, máy vi tính, đĩa mềm, linh kiện ô tô và linh kiện điện tử
II.2.Một số đặc điểm của công nhân KCX Tân Thuận
II.2.1.Giới tính và độ tuổi
Trong tổng số 150 mẫu khảo sát có 90 nữ chiếm 60% và 60 nam chiếm 40%
Về độ tuổi: số công nhân trong độ tuổi từ 21 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 63,3% Tập trung chủ yếu ở tuổi từ 25 đến 27 tuổi chiếm 25,3% Trong đó, chỉ có 2 người ở tuổi cao nhất là 42 tuổi và dưới 20 tuổi chỉ có 17 người, chiếm 11,3%.(xem bảng 1 và bảng 2)
Như vậy, hầu hết công nhân là lực lượng lao động trẻ Độ tuổi còn trẻ nên họ khả năng thích ứng cao và có nhiều cơ hội để mở rộng các mối quan hệ mới
II.2.2 Quê quán
Trong tổng số mẫu nghiên cứu, công nhân chủ yếu sống ở vùng Bắc Bộ chiếm 31,3 %; Trung Bộ 30,7% Tỷ lệ công nhân có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 11,7%; ĐBSCL là 23,3%; Tây Nguyên 2,7%; Đông Nam
số 150 mẫu khảo sát (xem bảng 4)