Lý do chọn đề tài Lý do khách quan: đây là đề tài cần thiết, giúp tìm hiểu một cách tổng quan, bao trùm nhiều phương diện về đời sống văn hóa của vùng đất Bến Tre – một trong những tỉnh
Trang 2**********
TRẦN THỊ NGỌC THOẠI
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN
MIỆT VƯỜN TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÝ TÙNG HIẾU PHẢN BIỆN 1: PGS TS PHAN THỊ YẾN TUYẾT PHẢN BIỆN 2: TS ĐẬU THỊ ÁNH TUYẾT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3thông tin, số liệu trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực Đó là những thông tin, số liệu tôi lấy từ cơ quan ban ngành tỉnh Bến Tre và từ những chuyến đi thực tế của mình Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực, chuẩn xác của nội dung trong luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2015
Học viên thực hiện Trần Thị Ngọc Thoại
Trang 4Để có thể hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, còn có sự giúp đỡ và hướng dẫn của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến:
- TS Lý Tùng Hiếu đã dành thời gian và công sức để hướng dẫn tôi rất tận tình trong quá trình từ khi viết đề cương cho đến lúc hoàn thành luận văn này
- Quý thầy cô trong Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức bổ ích trong chương trình học cao học
- Gia đình đã tạo điều kiện, khích lệ, động viên trong suốt quá trình học tập và viết luận văn
- Cơ quan ban ngành tỉnh Bến Tre đã cung cấp số liệu và tài liệu có liên quan một cách rất nhiệt tình
- Các anh chị, bạn bè đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Có thể nói, để hoàn thành luận văn là cả một sự cố gắng Tuy nhiên, luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 10 năm 2015
Học viên thực hiện Trần Thị Ngọc Thoại
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục bảng 4
Danh mục hình 5
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12
6 Cấu trúc luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 13
1.1 Cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan 13
1.1.1 Cách tiếp cận hệ thống 13
1.1.2 Cách tiếp cận địa văn hóa 15
1.1.3 Cách tiếp cận liên ngành 16
1.1.4 Một số khái niệm hữu quan 17
1.2 Tổng quan về tỉnh Bến Tre 19
1.2.1 Không gian văn hóa 19
1.2.2 Giao lưu tiếp biến văn hoá 27
1.2.3 Chủ thể văn hoá 29
1.2.4 Văn hoá vật thể và phi vật thể 31
1.3 Tiểu kết chương 1 35
Trang 6CHƯƠNG 2: VĂN HÓA MƯU SINH CỦA CƯ DÂN MIỆT VƯỜN TỈNH
BẾN TRE 37
2.1 Nghề làm vườn 37
2.1.1 Nghề làm vườn dừa 38
2.1.2 Nghề làm vườn cây ăn trái 49
2.1.3 Nghề sản xuất cây giống và hoa kiểng 51
2.1.4 Những đặc thù của nghề làm vườn ở Bến Tre 57
2.2 Các nghề khác 60
2.2.1 Nghề trồng lúa và hoa màu 60
2.2.2 Nghề thủ công 64
2.2.3 Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm 66
2.2.4 Nghề buôn bán 68
2.3 Những biến đổi của văn hóa mưu sinh 70
2.3.1 Sự biến đổi của các ngành nông nghiệp 70
2.3.2 Sự hình thành, phát triển các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ 74
2.4 Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3: CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN MIỆT VƯỜN TỈNH BẾN TRE 78
3.1 Văn hóa vật thể 78
3.1.1 Văn hóa ẩm thực 78
3.1.2 Văn hóa phục sức 85
3.1.3 Văn hóa cư trú 89
3.1.4 Văn hóa giao thông 93
3.2 Văn hóa phi vật thể 97
Trang 73.2.1 Văn hóa tổ chức cộng đồng 97
3.2.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 100
3.2.3 Phong tục, tập quán 108
3.2.4 Văn hóa lễ hội 113
3.2.5 Văn học nghệ thuật 117
3.3 Tiểu kết chương 3 129
KẾT LUẬN 132
Tài liệu tham khảo 134
Phụ lục 139
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất tính đến 01/01/2014 phân theo loại đất và phân theo
huyện 23
Bảng 1.2 Dân số và cơ cấu dân số chia theo tộc người, 1999 và 2009 31
Bảng 2.1 Diện tích gieo trồng, diện tích thu hoạch và sản lượng dừa ở tỉnh Bến Tre qua các năm 39
Bảng 2.2 Diện tích lúa, năng suất lúa, và sản lượng lúa cả năm tỉnh Bến Tre 61
Bảng 2.3 Số lượng gia súc, gia cầm ở Bến Tre 67
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động phân theo khu vực kinh tế, giai đoạn 2000 – 2010 74
Bảng 3.1 Số lượng và phân bố phần trăm số hộ có nhà ở chia theo thành thị/ nông thôn và loại nhà, năm 2009 90
Bảng 3.2 Dân số và cơ cấu dân số chia theo tôn giáo, 1999 và 2009 103
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 20
Hình 1.2: Thành phố Bến Tre về đêm 153
Hình 1.3: Một góc sông Hàm Luông 153
Hình 2.1: Một rừng dừa ở huyện Mỏ Cày Nam 38
Hình 2.2: Công việc đào mương ở huyện Châu Thành 40
Hình 2.3: Đào mương lên liếp trong vườn dừa ở thành phố Bến Tre 40
Hình 2.4: Lột dừa bằng cây nằm ở huyện Mỏ Cày Nam 48
Hình 2.5: Cây giống được bày bán ở huyện Chợ Lách 52
Hình 2.6: Công đoạn bỏ cây giống vào bầu ở huyện Chợ Lách 154
Hình 2.7: Một nghệ nhân đang tạo dáng cây kiểng ở huyện Chợ Lách 154
Hình 2.8: Hoa kiểng ở huyện Chợ Lách 53
Hình 2.9: Nghệ nhân Năm Công bên những kiểng hình do mình sáng tạo ở huyện Chợ Lách 54
Hình 2.10: Nghề quay chậu ở huyện Chợ Lách 155
Hình 2.11: Một cánh đồng lúa ở huyện Châu Thành 60
Hình 2.12: Một cánh đồng hoa màu xen bưởi ở huyện Châu Thành 63
Hình 2.13: Bình trà được làm từ 25.000 mảnh gáo dừa đạt kỉ lục GUINNESS Việt Nam 155
Hình 2.14: Phơi chỉ xơ dừa ở huyện Mỏ Cày Nam 65
Hình 2.15: Chợ Thom huyện Mỏ Cày Nam 69
Hình 2.16: Khách tham quan vườn chôm chôm ở huyện Châu Thành 75
Trang 10Hình 3.1: Tép rang dừa, một món ngon của Bến Tre 82
Hình 3.2: Bánh dừa Giồng Luông 156
Hình 3.3: Mứt dừa ngày tết 156
Hình 3.4: Một phụ nữ ở thành phố Bến Tre mặc áo bà ba 157
Hình 3.5: Các thiếu nữ Bến Tre mặc áo dài 87
Hình 3.6: Trang phục dừa 157
Hình 3.7: Một nhà dừa ở thành phố Bến Tre 91
Hình 3.8: Giao thông bằng đường thủy ở huyện Mỏ Cày Nam 158
Hình 3.9: Một góc cầu Rạch Miễu 95
Hình 3.10: Con đường rợp bóng dừa ở huyện Châu Thành 158
Hình 3.11: Một bữa nhậu ở huyện Châu Thành 99
Hình 3.12: Cây Bạch Mai ở đình Phú Tự 159
Hình 3.13: Đình Tân Thạch ở huyện Châu Thành 101
Hình 3.14: Tòa thánh Bến Tre ở thành phố Bến Tre 159
Hình 3.15: Chùa Hội Tôn Cổ Tự ở huyện Châu Thành 105
Hình 3.16: Nhà thờ Cái Mơn ở huyện Chợ Lách 160
Hình 3.17: Rước dâu bằng thuyền ở huyện Chợ Lách 110
Hình 3.18: Khai mạc lễ hội Dừa Bến Tre 115
Hình 3.19: Lễ hội cây – trái ngon, an toàn ở huyện Chợ Lách 160
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lý do khách quan: đây là đề tài cần thiết, giúp tìm hiểu một cách tổng quan, bao trùm nhiều phương diện về đời sống văn hóa của vùng đất Bến Tre – một trong những tỉnh thuộc miệt vườn Tây Nam Bộ với nhiều nét đặc sắc về văn hóa Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa đời sống văn hóa của cư dân miệt vườn với đời sống văn hóa của cư dân nơi khác
Lý do chủ quan: Bến Tre là vùng đất nơi tôi lớn lên và gắn bó nhiều năm Vì thế tôi nghĩ Bến Tre là nơi tôi có mức độ am hiểu nhiều hơn các tỉnh khác Ngoài ra tôi chọn đề tài này còn vì chủ đề nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành đào tạo và thể hiện tính đặc thù của vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long, nơi tôi đang sinh sống
Hơn nữa nghiên cứu văn hóa không chỉ ở những nơi phát triển, mà còn phải ở những nơi phát triển ở mức độ thấp như Bến Tre chẳng hạn Nghiên cứu như vậy mới
có thể tìm hiểu hết các khía cạnh khác nhau của văn hóa và có cái nhìn tổng thể
2 Lịch sử nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ có số lượng đồ sộ có thể kể
một số tác phẩm như Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa, Nói về miền Nam – Cá tính miền Nam – Thuần phong mỹ tục Việt Nam (2005) của Sơn Nam; Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo (1997) của Nguyễn Phương Thảo; Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam (2013) của Võ Văn Thành; Nam Bộ xưa và nay (2013) của nhiều tác giả; bộ sách Nam Bộ đất và người (2008); Nhà ở, trang phục,
ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (1993) của Phan Thị Yến Tuyết,…Trong số đó có các nghiên cứu về văn hóa miệt vườn nói chung như Văn minh miệt vườn (1992) của Sơn Nam; Huyền thoại miệt vườn (1994) của Nguyễn Phương Thảo cũng như được nhắc đến trong cuốn Văn hóa người Việt vùng Tây Nam
Bộ (2013) do Trần Ngọc Thêm chủ biên Đây là các nghiên cứu ở phạm vi rộng, mang
tính khái quát, phản ánh nhiều khía cạnh văn hóa của vùng đất Nam Bộ từ quá khứ
Trang 12đến hiện đại Mặc dù có số lượng lớn các công trình như vậy nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào một tỉnh cụ thể như Bến Tre chẳng hạn
Khi nghiên cứu về đời sống văn hóa của tỉnh Bến Tre thì có các công trình địa phương phản ánh các phương diện riêng lẻ như tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa Một số công trình tiêu biểu như sau:
Phản ánh tình hình kinh tế, xã hội thì hằng năm Tổng Cục thống kê tỉnh Bến
Tre ban hành những quyển Niên giám thống kê với các số liệu tổng quan Đây là
những dữ liệu thô nên cần có sự phân tích, đánh giá mới thể hiện được sự tăng trưởng hay thụt lùi trong một năm qua trong nhiều lĩnh vực
Phản ánh văn hóa thì có Đình làng Bến Tre các giá trị văn hóa (2006), Dừa trong văn hóa ẩm thực Bến Tre (2007), Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bến Tre (2009), Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre (2010) Đây là công trình chủ
yếu do Lư Hội sưu tầm, nghiên cứu và nhìn chung chỉ mô tả văn hóa chung chung chứ không đưa ra sự phân tích, đánh giá hay so sánh để thấy được nét đặc trưng riêng
Mô tả khá toàn diện hơn thì có Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre (1997), bài viết Miệt vườn và văn hóa miệt vườn Bến Tre trong Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo (1997) hay gần đây nhất là tập tiểu luận Văn hóa Bến Tre (2015) bao gồm những bài viết đã nghiên cứu trước đây của Nguyễn Chí Bền Những
công trình này cung cấp nhiều nét văn hóa đặc sắc của tỉnh Bến Tre tuy nhiên hướng nghiên cứu thiên về văn hóa dân gian và thời gian nghiên cứu cũng đã khá lâu, chưa phản ánh được những biến đổi của văn hóa hiện tại Một công trình khác cũng tương
đối bao quát về văn hóa Bến Tre đó chính là Địa chí Bến Tre (2001) do Thạch Phương
và Đoàn Tứ chủ biên Vì là ở dạng địa chí nên công trình này phản ánh tất cả các lĩnh vực từ lịch sử, kinh tế đến văn hóa, xã hội của tỉnh Bến Tre chứ chưa đi sâu vào vùng miệt vườn cụ thể
Về các luận văn đã được nghiên cứu trước đây thì chỉ nghiên cứu một khía
cạnh nhỏ trong đời sống văn hóa như Đời sống văn hóa của tín đồ Cao Đài ban chỉnh đạo Bến Tre (2011) của Đinh Quốc Bảo; Văn hóa làng nghề dừa ở Châu Thành, Bến
Trang 13Tre (2012) của Trần Thị Kim Ly; Văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre (2008) của Dương Hoàng Lộc
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: phác thảo toàn cảnh về đời sống văn hóa của cư dân
miệt vườn tỉnh Bến Tre trên bình diện văn hóa mưu sinh và các hoạt động văn hóa khác Từ đó giúp hiểu rõ hơn về văn hóa của tỉnh này đồng thời hình dung phần nào văn hóa miệt vườn Tây Nam Bộ
Đối tượng nghiên cứu: cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre nhằm tìm ra các đặc
trưng văn hóa riêng biệt trong đó tập trung nghiên cứu những cư dân sinh sống bằng nghề làm vườn là chủ yếu, những cư dân làm nghề khác chỉ là yếu tố phụ
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian chính là địa bàn miệt vườn của tỉnh Bến Tre, trong đó ở sáu đơn vị cấp huyện chủ yếu là thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam, huyện Giồng Trôm và huyện Chợ Lách vì đây là những vùng miệt vườn chiếm ưu thế Luận văn cũng sẽ dành một phần mở rộng tìm hiểu cộng đồng cư trú ở một số vùng lân cận nhằm so sánh làm rõ nét đặc trưng trong đời sống tỉnh Bến Tre
Về giới hạn thời gian, luận văn chủ yếu nghiên cứu đời sống văn hóa trong giai đoạn hiện nay nhưng có kết hợp với văn hóa trong quá khứ để nhằm có thể phản ánh những biến đổi, những tác động biến động trong đời sống của cư dân miệt vườn Bến Tre đang không ngừng chuyển mình đổi mới
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu người viết sử dụng để thực hiện đề tài này là:
Phương pháp khảo sát điền dã nhằm thu thập những tư liệu thực tế cập nhật và phù hợp với nhu cầu nghiên cứu
Phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu nhằm kế thừa những kiến thức của những công trình đi trước đồng thời phát triển cái mới của riêng mình
Trang 14Phương pháp phân tích hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu văn hóa học nhằm giúp tìm hiểu đặc trưng văn hóa miệt vườn của tỉnh Bến Tre với cái nhìn hệ thống
Bên cạnh đó đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp so sánh, liên ngành để có cái nhìn rộng rãi, xác thực hơn
Nguồn tư liệu:
Tư liệu chuyên khảo về Tây Nam Bộ nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng trên các bình diện khoa học trong đó các công trình về văn hóa và văn hóa học được chú trọng Các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài từ sách báo, tạp chí, luận văn, internet,…
Tư liệu từ chuyến đi thực tế Chúng tôi đã thực hiện các đợt khảo sát điền dã
ở tỉnh Bến Tre và thu được 15 tập tài liệu viết tay qua các đợt phỏng vấn cũng như những công trình nghiên cứu về văn hóa Bến Tre Số lần khảo sát như sau:
Tư liệu và hình ảnh về lễ hội
2 20/5/2015
Huyện Giồng Trôm
Làng nghề Quan sát Tư liệu về các
Tư liệu và hình ảnh về lễ hội
4 26/6/2015 Huyện
Chợ Lách Đám cưới Quan sát
tham gia
Hình ảnh đám cưới miệt vườn
5 26/7/2015 TP Bến
Tre
Sở Lao động, Thương binh và
Xã hội, Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Số liệu thống kê, thâu thập dữ kiện thứ cấp
Không thu được kết quả
Trang 156 29/7/2015 TP Bến
Tre
Cục Thống kê tỉnh Bến Tre, Thư viện Nguyễn Đình Chiểu
Số liệu thống kê, thâu thập dữ kiện thứ cấp
Tư liệu tổng hợp, số liệu thống kê về tỉnh Bến Tre
7 9/8/2015
Huyện Châu Thành,
TP Bến Tre
Nguyễn Thị Hồng Đặng Thị Thúy Vân Trần Công Trung
Quan sát, phỏng vấn sâu
Tư liệu về nghề làm vườn dừa, làm ruộng, trồng hoa màu, chăn nuôi
8 15/8/2015
Làng hoa kiểng Cái Mơn thuộc Huyện Chợ Lách
Dương Văn Huyền Đoàn Thị Trang Nguyễn Văn Công
Quan sát, phỏng vấn sâu
Tư liệu về nghề trồng cây giống
và hoa kiểng
9 23/8/2015
Huyện
Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam,
TP Bến Tre
Hồ Vĩnh An Trần Thị Hoa Nguyễn Văn Lộc
Võ Văn Phong Đặng Ngọc Diễn Đinh Văn Năm
Quan sát, phỏng vấn sâu
Tư liệu về nghề lột dừa, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, chợ Thom
10 6/9/2015
Huyện Châu Thành
Đình Tân Thạch, chùa Hội Tôn Cổ
Tự
Quan sát
Tư liệu về đình làng và Phật giáo
Tư liệu về đạo Cao Đài, nhà ở Bến Tre
Trang 1612 10/9/2015 Nguyễn Thị
Trăng Thanh
Phỏng vấn qua điện thoại
Tư liệu về nghề trồng cây ăn trái
Danh sách thông tin chi tiết người tham gia phỏng vấn xin xem ở phụ lục 4
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về mặt khoa học, nếu thành công đề tài góp phần nhận diện những hoạt động văn hóa của cư dân miệt vườn Bến Tre, tiêu biểu cho văn hóa miệt vườn Tây Nam Bộ; bổ sung vào nguồn tư liệu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực hoạt động văn hóa tỉnh Bến Tre
Về mặt thực tiễn, đề tài xác định các giá trị văn hóa miệt vườn, với những đặc điểm chung và đặc thù riêng trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam để giúp hiểu rõ hơn
về văn hóa miệt vườn, sự đa dạng, phong phú của đời sống văn hóa tỉnh Bến Tre
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Chương này nêu lên các cách
tiếp cận của đề tài, những khái niệm cơ bản có liên quan như khái niệm miệt vườn đồng thời định vị văn hóa miệt vườn tỉnh Bến Tre để từ đó làm cơ sở cho những phân tích ở các chương sau
Chương 2: Văn hóa mưu sinh của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre Chương
này tập trung trình bày các hình thức mưu sinh của cư dân nơi đây trong đó chủ yếu
là nghề làm vườn Mục tiểu kết đúc kết những đặc trưng chung
Chương 3: Các hoạt động văn hóa của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre
Chương này trình bày các hoạt động văn hóa vật thể và phi vật thể đồng thời nêu ra những đặc trưng, giá trị của các hoạt động đó Mục tiểu kết đúc kết những đặc trưng chung
Ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan
tự của một xã hội nhất định Cần vượt xa sự nghiên cứu những hiện tượng bề mặt để thâm nhập logic sâu hơn, khái quát hơn trong hệ thống văn hóa Còn theo thuyết chức năng luận, mỗi nền văn hóa có thể được hiểu như một toàn thể hữu cơ của những thể chế/ thiết chế Nghiên cứu chức năng của một thể chế có nghĩa là tìm kiếm vai trò của nó trong tương quan hệ với những thể chế, những thành tố văn hóa khác Chức năng của một thể chế, cấu trúc là sự đóng góp của nó đối với sự liên tục và sống sót của toàn thể Như vậy, chức năng và giá trị của các yếu tố trong hệ thống văn hóa là
do cấu trúc của hệ thống quy định, cụ thể là vị trí của từng yếu tố và quan hệ tương tác giữa các yếu tố Không phải mọi yếu tố trong hệ thống đều có chức năng và giá trị như nhau Vì hệ thống văn hóa do con người tạo lập, nên con người luôn giữ vị trí trung tâm, là hệ thần kinh vận hành hệ thống Về mặt này, chúng tôi theo quan điểm
giáo trình Các vùng văn hóa Việt Nam, do Lý Tùng Hiếu biên soạn và giảng dạy tại
Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học KHXHVNV, ĐHQG TPHCM Theo đó, chúng tôi xem văn hóa là một hệ thống bao gồm ba yếu tố
có quan hệ hữu cơ với nhau là chủ thể văn hoá, văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Trong đó ở vị trí trung tâm và có vai trò quan trọng nhất của hệ thống là chủ thể hoặc các chủ thể văn hoá Phân bố xung quanh chủ thể văn hóa là văn hoá vật thể và
văn hoá phi vật thể
“Chủ thể văn hoá (cultural subjects): bao gồm các tộc người, các cộng đồng
người cư trú trong một không gian văn hoá và có các hoạt động văn hoá, truyền thống
Trang 18văn hoá góp phần làm nên các đặc trưng văn hoá của không gian ấy Các thuộc tính của chủ thể văn hóa có thể bao gồm: thành phần tộc người, ngôn ngữ, giai cấp, tầng lớp xã hội, học vấn, nghề nghiệp, truyền thống văn hóa, ý thức hệ, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, lối sống, đạo đức,…” [28, tr.23-24] Chủ thể văn hóa là yếu tố quyết định khả năng vận động và biến đổi của toàn hệ thống Vì thế trong hệ thống văn hoá, chủ thể văn hoá là yếu tố trung tâm và đóng vai trò lựa chọn, quyết định nội dung, tính chất của hệ thống văn hóa
“Văn hoá vật thể (tangible culture): bao gồm những yếu tố văn hóa có thể
tiếp xúc được, như văn hóa mưu sinh, văn hóa ẩm thực, văn hóa phục sức, văn hóa
cư trú, văn hóa giao thông,…Tùy theo mục đích nghiên cứu, các yếu tố này có thể được chia nhỏ hơn nữa hoặc được gộp lại thành những nhóm lớn hơn Do mang đặc tính vật thể, đây là những yếu tố dễ biến đổi dưới tác động của môi trường văn hóa
Văn hoá phi vật thể (intangible culture): bao gồm những yếu tố văn hóa
không thể tiếp xúc và tương tác trực tiếp, như văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa phong tục, văn hóa lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp, Do mang đặc tính phi vật thể, đây là những yếu tố gắn chặt với chủ thể văn hoá và tương đối khó biến đổi dưới tác động của môi trường văn hóa Vì vậy, đây cũng là nơi thể hiện, bảo tồn bản sắc văn hóa, linh hồn dân tộc tương đối lâu bền.” [28, tr.24-25] Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể không chỉ là văn hóa nhân tạo
do con người tạo ra mà còn bao hàm cả yếu tố thiên tạo được con người nhận thức, tác động Việc phân biệt văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chỉ mang tính chất tương đối vì chúng thường hòa quyện vào nhau Văn hóa vật thể tưởng chừng như chỉ là những yếu tố văn hóa có thể tiếp xúc được nhưng trong những yếu tố đó luôn chứa đựng những giá trị mang tính tinh thần, và ngược lại trong văn hóa phi vật thể các giá trị văn hóa được thể hiện thông qua các trung gian truyền dẫn có tính vật chất (nghệ nhân dân gian, thợ thủ công, nhà tu, chủ lễ,…)
Cả 3 yếu tố chủ thể văn hóa, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể có sự tương tác qua lại lẫn nhau tạo nên một hệ thống văn hóa Hệ thống văn hóa này khác nhau
Trang 19giữa những bộ tộc, tộc người khác nhau
1.1.2 Cách tiếp cận địa văn hóa
Khi nghiên cứu văn hóa, các nhà nghiên cứu đã quan tâm mối quan hệ giữa địa lí và văn hóa Ngay từ ban đầu với cách tiếp cận ở góc độ địa lí, các nhà nghiên cứu thường xem yếu tố “địa” hay điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định, chi phối tất
cả mọi lĩnh vực trong đời sống con người Quan điểm này gọi chung là quyết định luận địa lí hay quyết định luận môi trường Sau đó với sự phát triển của khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu văn hóa thì vai trò của con người được coi trọng Những nhà nghiên cứu văn hóa nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Tự nhiên là một bộ phận trong môi trường sống của con người, còn con người muốn tồn tại phải
có môi trường sống Như vậy văn hóa muốn phát triển thì không thể nào tách rời với
điều kiện tự nhiên Nói về địa văn hóa, Đinh Thị Dung trong tập bài giảng Địa văn hóa và các vùng văn hóa Việt Nam cho rằng: “Trong văn hóa học, đây là khái niệm
chỉ hướng tiếp cận văn hóa từ góc độ không gian, khảo sát văn hóa theo chiều ngang,
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những đặc điểm “gốc” của một nền văn hóa” [6] Theo đó, tự nhiên là một trong những điều kiện quan trọng để sản sinh ra văn hóa nhưng không phải là yếu tố tiên quyết mà cần phải có cái nhìn đa chiều, bổ sung nhiều cách tiếp cận khác như mối quan hệ lịch sử – cội nguồn, giao lưu và tiếp biến văn hóa
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu chú trọng cách tiếp cận địa văn hóa đã được nhiều nhà khoa học áp dụng Theo Đào Duy Anh: “Cách sinh hoạt của con người, tức
là văn hóa có quan hệ rất mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của dân tộc ấy trước” [5, tr.14] Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng thì phân chia các vùng văn hóa dựa trên tiêu chí các hệ sinh thái: “Thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam Văn hóa là sự thích nghi và biến đổi tự nhiên Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên” [59, tr.120]
Trang 20Lý Tùng Hiếu thì cho rằng: “Sự hình thành và biến đổi của các hệ thống văn hoá tộc người, văn hoá vùng,… trước hết bắt nguồn từ hai nhân tố là điều kiện địa lí tự nhiên
và điều kiện giao lưu văn hoá Tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều của hệ thống văn hoá, đều phụ thuộc vào sự biến động của hai nhân tố ấy” [26, tr.19-28] Theo đó, những tác động của tự nhiên đối với văn hóa có thể chia làm hai loại: điều kiện địa lí tự nhiên (địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu, thực vật, sinh thái, địa thế (vị trí địa lí)) là nguồn nguyên vật liệu để kiến tạo văn hóa và giao lưu văn hóa quy định khả năng tiếp biến, tốc độ biến đổi của văn hóa
Khi nghiên cứu với cách tiếp cận địa văn hóa như trên, thì ta sẽ thấy rằng hai nhân tố điều kiện địa lí tự nhiên và giao lưu văn hóa là tiền đề của quá trình hình thành và biến đổi văn hóa tộc người Những tiền đề ấy sẽ được hiện thực hóa thông qua năng lực sáng tạo và lựa chọn của chủ thể văn hóa là các tộc người, các cộng đồng người Bến Tre cũng là một vùng đất có điều kiện tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hóa vừa thuận lợi vừa có những khó khăn, thách thức, cho nên cách tiếp cận địa văn hóa sẽ là cách tiếp cận mà chúng tôi sử dụng để làm nổi bật cách ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân nơi đây
D để xem xét hiệu quả và tìm những điểm nổi trội, giao thoa giữa các ngành khoa
Trang 21học Có thể nói cách tiếp cận liên ngành là một công cụ đặc biệt, cần thiết và hữu hiệu trong việc khai thác, xử lí hiệu quả nguồn tư liệu đa dạng, phong phú từ cách ngành khác nhau nhằm nghiên cứu những vấn đề văn hoá học hiện nay Vì thế “để nghiên cứu các biểu thị của văn hóa, người ta dụng nhiều môn học khác nhau: dân tộc chí, dân tộc học, nhân học, xã hội học, sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học,… mà trước hết và chủ yếu là các môn: dân tộc chí, dân tộc học, nhân học và xã hội học; ngoài ra
là các môn phụ trợ, song không thể thiếu” [7, tr.8]
1.1.4 Một số khái niệm hữu quan
1.1.4.1 Khái niệm đời sống văn hóa
“Đời sống văn hóa” là một cách nói phổ thông, dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động văn hóa vật thể và phi vật thể của một cộng đồng người Khái niệm “đời sống”
có ý nghĩa nhấn mạnh tính chất sống động, hiện tồn, hiện hữu của các hoạt động văn hóa ấy Về mặt này, khái niệm “đời sống văn hóa” có ý nghĩa tương đương với khái niệm “hoạt động văn hóa” mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này
Hoạt động văn hóa là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Thông qua các cách thức khác nhau bao gồm phương tiện (công cụ lao động, nguyên vật liệu dùng công cụ tác động vào, không gian làm việc,…) và ý tưởng, vốn hiểu biết của cá nhân, của cộng đồng cũng như kinh nghiệm thực tiễn, con người sẽ tác nghiệp (chế tác, chế tạo, xử lí, chế biến) và sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa Để làm được điều này đòi hỏi con người cần có tri thức, kĩ năng và kỹ thuật phối hợp theo một trình tự hay nghi thức nhất định Nếu được xã hội, cộng đồng tiếp nhận thì những sản phẩm văn hóa ấy sẽ có và mang giá trị văn hóa Nếu không được cộng đồng chấp nhận thì
nó sẽ bị đào thải, loại bỏ, trở nên vô giá trị Những giá trị văn hóa được truyền từ thế
hệ này đến thế hệ khác theo chiều thời gian và phổ biến theo không gian sẽ tạo ra truyền thống văn hóa Khi tiến hành các hoạt động văn hóa như vậy, chủ thể văn hóa chịu sự tác động của môi trường văn hóa và những truyền thống văn hóa của chính mình, nên các hoạt động văn hóa của họ mang đặc trưng văn hóa riêng và bản sắc văn hóa của dân tộc đó, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Như nhận định
Trang 22khái quát của Lý Tùng Hiếu về hoạt động văn hóa: “Hoạt động văn hóa bao gồm các hoạt động sáng tạo văn hóa, tiếp biến văn hóa và thực hành văn hóa, giúp chủ thể văn hóa sinh tồn và phát triển Để tiến hành các hoạt động này, chủ thể văn hóa sẽ vận dụng các kinh nghiệm, tri thức, giá trị, di sản, kỹ thuật, vật liệu, công cụ, phương tiện, phương thức sử dụng,… đã được họ thụ đắc, kế thừa, để tạo ra các sản phẩm văn hóa Nếu các sản phẩm ấy đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của cộng đồng thì sẽ được cộng đồng tiếp nhận, phổ biến, truyền lưu, để từ đó tạo ra giá trị văn hóa và truyền thống văn hóa” [28, tr.25] Như vậy hoạt động văn hóa sẽ bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau, tất cả đều đáp ứng cho nhu cầu, lợi ích, mục đích sinh tồn và phát triển của một cộng đồng người, một tộc người nhất định
1.1.4.2 Khái niệm văn hóa mưu sinh
Trong các hoạt động văn hóa thì hoạt động mưu sinh là quan trọng nhất Ngay
từ khi có con người xuất hiện thì đã có văn hóa mưu sinh Có thể sắp xếp văn hóa mưu sinh vào nhóm là một trong những khái niệm cơ bản thuộc văn hóa vật thể Văn hóa mưu sinh là những hoạt động của con người mà thông qua các hoạt động đó con người làm ra cái để ăn cũng như của cải vật chất để phục vụ cho cuộc sống làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và thực sự hữu ích Trong đó, cách thức, phương tiện, kĩ năng làm ra cái để ăn chứ không phải bản thân cái để ăn là phương tiện sinh tồn tiên quyết, xuyên suốt trong hoạt động sống của con người, giúp phân biệt rõ ràng giữa con người và con vật Văn hóa mưu sinh chứa đựng những yếu tố có liên quan như công cụ lao động, môi trường mưu sinh, các ngành nghề lao động,… Văn hóa mưu sinh thực chất là cách lựa chọn, cách ứng xử của các tộc người, nhóm người khác nhau đối với tự nhiên, thể hiện trực tiếp truyền thống văn hóa, sở trường văn hóa, trí thông minh, năng lực sáng tạo, kĩ năng khác nhau của các tộc người và nhóm người Quá trình này luôn gắn liền với tự nhiên, phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên Dấu ấn thiên nhiên trong văn hóa mưu sinh là rất quan trọng Vì vậy, để tìm hiểu văn hóa mưu sinh của một vùng thì trước hết phải dựa vào các truyền thống mưu sinh, sở trường mưu sinh của cư dân và những đặc điểm thiên nhiên của vùng đó Bởi vì đối với từng vùng
có đặc điểm thiên nhiên khác nhau thì văn hóa mưu sinh cũng khác nhau
Trang 23Nhìn chung văn hóa mưu sinh do con người tạo ra đều có mối liên hệ với các thành tố văn hóa khác Muốn hiểu văn hóa của một tộc người trước hết phải tìm hiểu văn hóa mưu sinh của tộc người đó và phải đặt văn hóa mưu sinh trong cấu trúc của
nó, bên cạnh những yếu tố văn hóa khác có liên quan Từ đó ta thấy rằng văn hóa mưu sinh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa học
1.1.4.3 Khái niệm miệt vườn
Miệt vườn là cách gọi của dân gian có từ lâu đời Nó cũng là một khái niệm phổ thông chứ không phải là một thuật ngữ khoa học Nhà nghiên cứu Nam Bộ Sơn Nam nhận định: “Miệt vườn, gọi tổng quát những vùng cao ráo, có vườn cam vườn quýt ở ven sông Tiền, sông Hậu, thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ”1
[49, tr.17] Ông còn cho rằng miệt vườn là xưng danh sẵn có và là tiêu biểu cho hình thức sinh hoạt vật chất, tinh thần cao nhất ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo nhận định trên, miệt vườn là địa bàn tương ứng với khu vực hạ châu thổ sông Cửu Long theo cách phân vùng của các nhà địa lí học mà tiêu biểu là Lê Bá Thảo: “Phần hạ châu thổ được tính từ nơi hai sông Tiền và sông Hậu bắt đầu chia nhánh và bao gồm, như chúng ta đã biết, không những phần đất nổi nằm tiếp giáp với biển, mà cả phần châu thổ ngầm nữa” [14, tr.263]
Theo đó, khái niệm miệt vườn ở đây được hiểu là khu vực có độ cao trung bình, thuộc sông Tiền sông Hậu, cách xa biển và cách xa vùng trũng, nơi có đất phù
sa màu mỡ, nước ngọt quanh năm và trồng được các vườn cây ăn quả đủ loại Nhìn chung đây là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất miền Tây Nam Bộ để cư dân có thể sinh sống và phát triển, là nơi cư dân sinh sống đông đúc Bến Tre hội tụ đầy đủ những đặc điểm đó nên có thể nói cư dân ở Bến Tre là cư dân miệt vườn
Trang 241.2.1.1 Phạm vi
Địa bàn khảo sát của luận văn là sáu đơn vị cấp huyện chủ yếu bao gồm thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành, huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Mỏ Cày Nam, huyện Giồng Trôm, huyện Chợ Lách Đây là vùng cách xa biển, cách xa vùng trũng và có những đặc điểm tiêu biểu của miệt vườn, nằm trên hai cù lao là của lao Minh và cù lao Bảo Địa bàn này có hình dáng như hình rẽ quạt mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn thì giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía đông Về ranh giới hành chính thì phía bắc giáp với tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp với tỉnh Trà Vinh, phía tây nam giáp với tỉnh Vĩnh Long, phía đông giáp với ba huyện ven biển của Bến Tre là huyện Bình Đại, huyện Ba Tri và huyện Thạnh Phú
Về mặt hành chính, vùng này bao gồm một thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh) (Xem thêm hình 1.2) và
Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre (Nguồn: Sở Công thương Bến Tre 2015)
Trang 255 huyện trong đó có 4 thị trấn, 10 phường, 88 xã, thuộc khu vực hạ châu thổ sông Cửu Long theo cách phân vùng của Lê Bá Thảo
1.2.1.2 Địa hình
“Bến Tre mang đặc trưng cơ bản của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao, chênh mực tuyệt đối giữa điểm thấp nhất và điểm cao nhất khoảng 3,5m Địa hình có xu thế thấp dần từ hướng tây bắc xuống đông nam và nghiêng ra biển, được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của dòng sông Cửu Long trên nền đá cổ” [45] Địa hình có độ cao thấp từ 1 đến 2m so với mặt nước biển trong đó cao nhất là ở huyện Châu Thành, huyện Chợ Lách, thành phố Bến Tre với độ cao trung bình từ 3 đến 3,5m Phần đất cao này thường là các giồng2 thích hợp cho việc trồng trọt các loại rau, màu,… Vùng đất có độ cao trung bình thì ít bị ngập khi triều cường lên (chỉ bị ngập khi gặp triều cường tháng 11, 12), chiếm khoảng 90% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho việc trồng lúa, lên liếp làm vườn,…Vùng đất thấp nhất là vùng đất ruộng ở lòng chảo, bãi bồi ven sông, biển, cồn3,… có độ cao dưới 1m và thường bị ngập do ảnh hưởng của thủy triều Nhìn chung, địa hình thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp và chịu sự chia cắt của các nhánh sông tạo thành ba cù lao4 lớn: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa, nên Bến Tre còn được gọi là ba dải cù lao Bến Tre như đầu cầu giáp biển án ngữ các cửa
2 Giồng: chính là gò nhưng lớn hơn gò, chỉ chỗ đất nhô cao ở ven sông, có hình dáng
dài Giồng được hình thành dọc theo con sông, càng gần bờ sông phù sa lắng đọng nhiều làm bờ sông cao hơn nội đồng Ngoài ra giồng còn được hình thành do chịu tác động của những dòng hải lưu quét, tạo thành vệt phù sa dạy dọc vào bờ biển, được sóng biển đánh dạt vào bờ Cấu tạo đất giồng là đất cát pha thịt nên khi mưa, nước không úng ngập, không tích nước
3 Cồn: một dải đất hình thành ở giữa con sông lớn nhờ quá trình bồi đắp phù sa lâu năm, vào mùa nước nổi (tháng 8 đến tháng 11 âm lịch) vùng đất này bị ngập nước
4 Cù lao: một dải đất hình thành ở giữa con sông lớn nhờ quá trình bồi đắp phù sa
lâu năm, vào mùa nước nổi (tháng 8 đến tháng 11 âm lịch) vùng đất này không bị ngập nước Đây là một từ có nguồn gốc từ tiếng Chăm palao, có nghĩa là đảo
Trang 26sông, là nơi cuối cùng của dòng sông Tiền chảy qua trước khi ra biển Đông Địa hình này đang có xu thế lấn dần ra biển theo hướng tây – tây nam tại các cửa sông (Ba Lai
và Cổ Chiên) bởi sự bồi tụ của các dòng hải lưu ven bờ và phù sa sông đổ ra biển hằng năm, nên diện tích Bến Tre không ngừng tăng lên
1.2.1.3 Thổ nhưỡng
Về địa chất, đây là vùng được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của dòng sông Cửu Long trên nền đá cổ Do chịu ảnh hưởng bởi nguồn gốc địa chất trầm tích, thủy triều, hoạt động của con người nên đất ở Bến Tre rất đa dạng và phong phú, nhưng về cơ bản có bốn nhóm đất chính gồm nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất phèn và nhóm đất giồng cát, trong đó nhóm đất phù
sa có vai trò quan trọng hơn cả trong sản xuất nông nghiệp Đất phù sa (chiếm 30% diện tích đất tự nhiên) phân bố ở các huyện phía tây như huyện Chợ Lách, huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Mỏ Cày Bắc Nhóm đất này được hình thành
từ trầm tích của các cồn cổ, các dòng sông cổ và là nhóm đất tốt, được bồi đắp phù
sa hằng năm nên rất màu mỡ, thích hợp trồng lúa, cây ăn trái và cây lâu năm Nhóm đất mặn chiếm 41,3% diện tích đất tự nhiên Nhóm đất phèn chiếm 1,3% diện tích tự nhiên, được sử dụng để canh tác các loại cây như: lúa, mía, dừa,… và một phần còn
bỏ hoang Nhóm đất giồng cát (chiếm 5,4% diện tích tự nhiên) được hình thành cách đây hơn 4000 năm bởi quá trình biển thoái của vùng châu thổ sông Cửu Long, mỗi chặng đường rút lui của biển là những dải giồng cát bắt đầu hình thành Nhóm đất này phân bố ở huyện Mỏ Cày Bắc, thành phố Bến Tre được sử dụng làm đất ở kết hợp trồng rau màu và cây lâu năm
Như vậy, bốn nhóm đất chính này đã được người dân Bến Tre sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau, đồng thời tiến hành khai thác vùng đất còn bỏ hoang Tuy nhiên, người dân Bến Tre sử dụng đất cho hoạt động nông nghiệp là chính, tỷ lệ đất
tự nhiên được sử dụng sản xuất nông nghiệp thuộc về 6 huyện thị miệt vườn trong đó diện tích đất nông nghiệp được sử dụng nhiều nhất lần lượt ở ba huyện Giồng Trôm,
huyện Mỏ Cày Nam và huyện Châu Thành (Xem bảng 1.1)
Trang 271.2.1.4 Khí hậu
“Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Bến Tre nói riêng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu, cận xích đạo; kết hợp với điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng và mặt đệm là những vườn dừa, cây ăn trái và những cánh đồng rộng lớn đan xen, tạo cho Bến Tre có sự tương đối đồng nhất về khí hậu, nền nhiệt trung bình tương đối cao và ổn định, không có sự phân hóa mạnh theo không gian giữa các huyện, các vùng ven biển và xa biển Nhiệt độ bình quân hằng năm khoảng từ 26 – 270C, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200C Lượng mưa trung bình hàng năm
từ 1.210mm – 1.500mm” [46]
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất tính đến 01/01/2014 phân theo loại đất và
phân theo huyện
Tổng diện tích
Đất SX nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng Đất ở
Trang 28Khí hậu Bến Tre thuộc miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa với hai hướng chính: gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió tây nam và đông bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp Gió mùa đông bắc tạo nên thời kỳ khô hạn còn gọi là mùa khô, gió mùa tây nam tạo nên thời kỳ mưa ẩm còn gọi là mùa mưa Do gần biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên độ ẩm tương đối ở Bến Tre nhìn chung khá cao Nhìn chung khí hậu Bến Tre rất thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm đều tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng, vật nuôi Bên cạnh đó Bến Tre là tỉnh ít chịu ảnh hưởng của gió bão, thiên tai Tuy nhiên, trong khoảng thời gian gần đây, tình hình khí hậu diễn biến khá phức tạp và thất thường Biến đổi khí hậu đã được dự báo là sẽ làm gia tăng số lượng các cơn bão biển, lốc xoáy gây nhiều thiệt hại cho đời sống người dân Bến Tre nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung
Trang 29Trên bờ của những con sông này là những vườn cây ăn trái sai trĩu quả, những cánh đồng xanh tươi tốt, những xóm làng đông đúc dân cư sinh sống, những bến sông, bến phà, chợ búa tấp nập thuyền bè tạo nên những vùng đất trù phú Sông nước cũng là môi trường thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá với các vùng xung quanh
Ngoài bốn con sông chính trên, Bến Tre còn một hệ thống sông, rạch nhỏ và kênh đào tạo thành mạng lưới thủy văn dày đặc, chằng chịt nối liền nhau, trong đó quan trọng nhất là các kênh Giao Hòa, rạch Cái Mơn, rạch Mỏ Cày, kênh Mỏ Cày, rạch Ba Tri, kênh Đồng Xuân, kênh Chẹt Sậy – An Hóa, Như vậy cả bốn mặt của tỉnh Bến Tre đều giáp sông Với vị trí như thế, sông rạch Bến Tre có nguồn nước dồi dào quanh năm, rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp vào mùa khô, đất đai thì màu mỡ, phì nhiêu do được phù sa bồi tụ hằng năm Bên cạnh đó còn tạo điều kiện phát triển giao thông thủy, hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hoá với các tỉnh lân cận Từ Bến Tre, tàu bè có thể đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Ngược lại, tàu bè từ Thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre
Về biến đổi khí hậu và tình hình xâm nhập mặn: Biến đổi khí hậu đang làm
nước biển dâng lên Tốc độ biển dâng ngày một tăng lên và không cách nào có thể chặn đứng lại được Bến Tre cũng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu tại Việt Nam Khi nước biển dâng cao thì sẽ có đến “50% diện tích đất bị ngập, ảnh hưởng trên 700 ngàn người” [64] gây xói lở bờ biển trầm trọng, làm suy thoái hệ sinh thái ven biển và tình hình xâm nhập mặn càng diễn ra trầm trọng Thêm vào đó, chế độ nước của sông, rạch lại phụ thuộc chế độ mưa và chịu tác động sâu sắc của chế độ thủy triều Thủy triều nơi đây có chế độ bán nhật triều không đều Mỗi ngày đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống “Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh, lòng sông hoạt động như một lạch triều khổng lồ và những lưỡi nước mặn từ đó ngấm dần vào trong đất” [14, tr.263] Vào mùa nắng hạn hán kéo dài, lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa từ bờ biển vô tới 60km, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt
Trang 30trầm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân Trồng cây ăn trái và làm lúa đều không được, hoặc nếu trồng được thì năng suất cũng không cao Vì thế một công trình thủy lợi lớn cũng là một trong chín hạng mục dự án ngọt hóa của tỉnh Bến Tre đã được xây dựng để ngăn mặn, giữ ngọt, giúp tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo đất, cung cấp nước sinh hoạt, đó chính là cống đập Ba Lai
1.2.1.6 Sinh thái
Do Bến Tre ở vị trí cửa sông lại có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng nên
cả thảm thực vật, hệ động vật đều có điều kiện sinh trưởng và phát triển mạnh
Về thảm thực vật, có quần thể thực vật trên các bãi lầy ven biển; quần thể thực vật trên các giồng cát với dải phi lao, cỏ chông, rau muống biển,…và quần thể thực vật ven sông, rạch Trong quần thể thực vật ven sông, rạch, do chịu ảnh hưởng của thủy triều nên quần thể này thể hiện rõ nét ba vùng sinh thái tiêu biểu: vùng mặn có các loại như mắm trắng, bần chua, dừa nước, vẹt,…; vùng lợ thì có bình bát, dứa gai, bòng bong,… còn vùng ngọt thì có các loài thân gỗ như: cà na, gáo, trâm bầu, bằng lăng nước, lau sậy, lục bình, lúa ma,… Ngày nay, sự định cư của con người đã làm cho tự nhiên biến đổi sâu sắc nên các thảm thực vật nguyên thủy đã được thay thế bởi vườn cây, ruộng, rẫy, hoa màu,…
Về động vật thì với bốn con sông lớn và vùng biển Đông, Bến Tre có nhiều loại cá sông, cá biển và nhiều loại hải sản khác Cá sông thì có cá lóc, cá trê vàng, cá bống, cá sặt, cá cơm, cá mè vinh, mè dãnh, cá đối,… Cá biển thì có cá bạc má, cá nục, cá đuối,… Hải sản thì có nghêu, cua biển, sò lông, sò huyết, tôm sú, tôm đất, đặc biệt là tôm càng xanh có giá trị kinh tế cao Với những ưu đãi của tự nhiên như thế, người dân đã phát triển đánh bắt thủy hải sản Tuy nhiên việc khai thác, đánh bắt quá mức đã khiến nguồn thủy hải sản suy giảm nghiêm trọng, nên ngoài nguồn hải sản tự nhiên, người dân còn đẩy mạnh phát triển theo hướng tăng cường nuôi trồng như nuôi nghêu, tôm sú, tôm thẻ là các loài thủy sản có hiệu quả kinh tế cao để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy hải sản của tỉnh
Trang 311.2.2 Giao lưu tiếp biến văn hoá
1.2.2.1 Giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các tộc người Việt – Khmer – Hoa – Chăm
Bến Tre cũng như các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới Đầu thế kỉ XVII, vùng này rất hoang vu, lầy lội chưa được khai phá, có nhiều loài bò sát như cá sấu, rắn, trăn sinh sống Trong sách “Phủ biên tạp lục” viết về xứ Đàng Trong giữa thế kỉ XVIII, Lê Quý Đôn ghi: “Từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [17, tr.32] Sau đó những lưu dân người Việt, gốc gác miền Trung vào Họ di dân bằng nhiều hình thức như đường
bộ và đường biển nhưng đường biển là chủ yếu vì thuận tiện hơn Họ xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, một bộ phận lớn là những người chịu nhiều áp bức dưới chế độ phong kiến; những binh lính, người trốn lính, tù nhân bị lưu đày, người có tội với triều đình nhà Nguyễn bị đày ải vào phương Nam trấn giữ nơi biên ải và khai phá đất đai Nhưng có thể nói những người đi tiên phong vào Nam đầu tiên là những người đi buôn, có tiền bạc và của cải giàu có Với vốn liếng có sẵn cộng với nhiều kinh nghiệm sản xuất, họ đã góp phần thúc đẩy quá trình khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa một cách nhanh chóng
Ngoài ra vào năm 1679, một số binh sĩ nhà Minh không theo nhà Mãn Thanh khi nhà Mãn Thanh chiếm miền Nam Trung Hoa nên họ di cư qua Việt Nam, được chúa Nguyễn cho vào nam khai hoang lập ấp “Cánh quân của tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch đến vùng sông Tiền Giang, theo cửa biển mà lần mò vào đất liền
và tìm nơi màu mỡ nhất Họ tập trung tại vùng Chợ Mỹ Tho rồi khai khẩn dần dần qua Bến Tre” [10, tr.8]
Từ khi có người Việt và người Hoa vào đây khai phá, bộ mặt vùng đất này có nhiều thay đổi mạnh mẽ Năm 1732, chúa Nguyễn chia đất tây nam dinh Phiên Trấn, đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (bao gồm Bến Tre và Vĩnh Long), lệ vào phủ Gia Định “Năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và
Trang 32tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ” [52, tr.285-286]
Sau nhiều thế kỷ cộng cư, người Minh Hương và một bộ phận người Hoa đến sau đã bị đồng hóa tự nhiên thành người người Việt Từ đó, người Việt ở Bến Tre nói riêng và Nam Bộ nói chung đã tiếp biến nhiều giá trị văn hóa Hoa trong các hoạt động thương mại, ẩm thực, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội Chẳng hạn như trong văn hóa tín ngưỡng có tục thờ Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng, Bổn Đầu Công,…; văn hóa ẩm thực có các món lẩu, mì xào, hủ tiếu xào, cơm dương châu, gà vịt tiềm thuốc bắc, bánh bao,…; nghệ thuật ngôn từ thì người Việt vay mượn vốn từ của người Hoa
Đối với văn hóa Khmer: Ảnh hưởng rõ rệt nhất của văn hóa Khmer đối với người Việt là văn hóa ẩm thực, tín ngưỡng, lễ hội và ngôn ngữ
Số lượng người Chăm ở Bến Tre rất ít nên họ không liên quan nhiều đến xây dựng đời sống văn hóa, nhưng trong đời sống văn hóa của vùng lại có yếu tố Chăm
vì nguyên nhân lịch sử Những người di cư vào Nam có nguồn gốc từ miền Trung mang vốn văn hóa Chăm vào miền Nam trong đó có Bến Tre Người Việt đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Chăm để bổ sung vào kinh nghiệm sản xuất của mình đặc biệt
là những kinh nghiệm chinh phục núi rừng và biển cả, được mở rộng và phát huy trên vùng đất mới “Các tôn giáo, thần linh, phong tục, lễ hội gốc Việt và gốc Chăm cũng được mang theo để phù trợ cho cuộc sống mưu sinh của cư dân” [28, tr.171]
Trải qua quá trình lâu dài, mặc dù có sự khác nhau về nguồn gốc cư dân, ngôn ngữ và văn hóa, các nhóm di dân vẫn vừa cạnh tranh với nhau vừa hợp tác với nhau
để cùng sinh tồn và phát triển Họ luôn gắn bó với nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm thắt chặt để vượt qua những khó khăn, thách thức trong ứng xử, thích nghi với điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội, cùng nhau phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc mình
Trang 331.2.2.2 Giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây
Từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta đã chiến đấu chống lại những ảnh hưởng mà văn hóa Pháp đã cưỡng bức áp đặt Tuy vậy vẫn có sự giao lưu với văn hóa Pháp điển hình là chữ quốc ngữ Nhiều trường học dạy tiếng Pháp và chữ quốc ngữ ra đời Nhiều học sinh được học chữ quốc ngữ nhưng càng lên lớp trên thì chữ Pháp, tiếng Pháp càng phải học nhiều hơn Ngôn ngữ tiếng Việt ngày nay đã vay mượn và Việt hóa rất nhiều từ tiếng Pháp Nhiều thể loại văn học, nghệ thuật ra đời như báo chí, quảng cáo, tiểu thuyết, ký sự, thơ mới
Về tiêu dùng thì sử dụng các mặt hàng như rượu, mỹ phẩm, thuốc lá, sữa bò, phô mai,…
Ngày nay với sự phát triển của internet và toàn cầu hóa thì chúng ta cũng tiếp thu văn hóa phương Tây Sự giao lưu với văn hóa phương Tây thể hiện ở những thành tựu khoa học công nghệ trong việc áp dụng những tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc Văn hóa nghệ thuật thì tiếp thu nhiều thể loại
âm nhạc mới như hip hop, rock, pop Lối sống thực dụng kiểu Mỹ cũng được một bộ phận giới trẻ đón nhận Nhìn chung quá trình tiếp biến văn hóa rất nhanh, để lại nhiều dấu ấn trong đặc trưng văn hóa nơi đây
1.2.3 Chủ thể văn hoá
1.2.3.1 Người Việt
Khi đến vùng đất Bến Tre, những lưu dân người Việt chọn những giồng đất cao ráo để sinh sống bởi vì giồng tương đối thoáng mát, không có cây to, rừng rậm, tránh được thú dữ Ngoài ra ““Giồng” thỏa mãn những yêu cầu ban đầu cho người dân đi khai phá: có nước ngọt, cao ráo tránh được muỗi mòng, rắn rết, trồng được những hoa màu ngắn ngày để có cái ăn mà tồn tại” [36, tr.47] Theo lịch sử khai phá
và định cư của người Việt trên đất Bến Tre thì vùng đất Ba Tri được khai phá sớm nhất Ban đầu dân cư thưa thớt nhưng dần dần ngày càng đông đúc và lập nên thôn, trại, làng Những kinh nghiệm của tổ tiên đã giúp họ biến những vùng đất mới mênh
Trang 34mông bạt ngàn thành những cánh đồng lúa bao la, những vườn dừa tươi tốt và những vườn cây ăn trái sum suê trĩu quả Chỉ trong hai thế kỉ từ đầu thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, diện mạo Bến Tre đã có những thay đổi mạnh mẽ
Năm 2009, theo Cục Thống kê tỉnh Bến Tre, người Việt sinh sống ở Bến Tre
là 1.251.364 người, chiếm 99,63% dân số toàn tỉnh Phân bố người Việt ở các đơn vị hành chính theo địa bàn khảo sát của chúng tôi như sau: thành phố Bến Tre có 114.579 người; huyện Châu Thành có 156.900 người; huyện Chợ Lách có 123.214 người; huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam5 có 241.784 người và huyện Giồng Trôm có 168.311 người [2, tr.226-229] Người Việt không chỉ là tộc người phân bố khắp tỉnh
cả nông thôn lẫn thành thị mà còn chiếm ưu thế ở mọi huyện Vì vậy có thể nói văn hóa Bến Tre mang đậm nét văn hóa của người Việt Có thể thấy điều này rõ nhất ở khía cạnh ngôn ngữ, chẳng hạn như mỗi tộc người đều có ngôn ngữ riêng của mình nhưng qua thời gian cùng sinh sống với nhau thì tiếng Việt mặc nhiên trở thành ngôn ngữ phổ thông được sử dụng trong giao tiếp, cuộc sống thường ngày bên cạnh tiếng của tộc người khác được sử dụng không phổ biến
1.2.3.2 Các tộc người khác
Người Hoa: có 3.811 người phân bố chủ yếu ở thành phố Bến Tre (1393
người), huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam (723 người), huyện Ba Tri (538 người) Nhìn chung người Hoa phân bố khắp tỉnh, không huyện nào mà không có người Hoa sinh sống Đa phần họ sinh sống ở nông thôn trừ thành phố Bến Tre và huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam thì người Hoa lại tập trung sinh sống ở thành thị nhiều hơn
Người Khmer: có 578 người Phân bố chủ yếu ở huyện Mỏ Cày Bắc và Mỏ
Cày Nam (126 người), huyện Châu Thành (85 người) Cũng giống người Hoa, người Khmer phân bố ở nông thôn khắp các huyện trong tỉnh nhưng số lượng ít hơn nhiều
5 Huyện Mỏ Cày được chia tách thành huyện Mỏ Cày Bắc và huyện Mỏ Cày Nam vào ngày 9 tháng 2 năm 2009 Số liệu mà Cục Thống kê tỉnh Bến Tre điều tra là trước khi huyện
Mỏ Cày chia tách
Trang 35Các tộc người khác như Chăm, Tày, Thái, Mường, Nùng, Hmông,… với số lượng 193 người phân bố rải rác một số nơi ở nông thôn Sự hiện diện của họ góp phần làm đa dạng phong phú văn hóa vùng đất này (Xem bảng 1.2)
1.2.4 Văn hoá vật thể và phi vật thể
Bến Tre là vùng đất mới trong quá trình Nam tiến Những con người tứ xứ khi
di cư vào vùng đất này, “đều phải xuất thân từ một nơi gốc, nơi chôn nhau, từ một truyền thống văn hóa nào đó và do vậy họ đã mang về nơi ở mới dù là ít ỏi những cái
gì mình đã từng có” [29, tr.308-309] và “người Việt ở Bến Tre vẫn mang trong mình truyền thống văn hóa Việt Nam Là những lưu dân đi khai phá một vùng đất mới, buổi ban đầu, người Việt không chỉ mang theo vốn tư liệu sản xuất, vật dụng, vợ con,
mà đã mang theo cả vốn văn hóa trong ý thức và tiềm thức Nơi đất mới, ý thức và tiềm thức văn hóa ấy cùng sự giao lưu văn hóa với các tộc người đã định cư trước để trở thành vốn văn hóa Việt Nam trên đất Bến Tre” [34, tr.217] Như vậy lưu dân người Việt vào vùng đất Bến Tre đã mang theo truyền thống văn hóa mưu sinh đa
Bảng 1.2: Dân số và cơ cấu dân số chia theo tộc người, 1999 và 2009
bình quân (%) Dân số
(Người)
Cơ cấu (%)
Dân số (Người)
Cơ cấu (%)
226
322
100
99.56 0.40 0.02 0.02
1.255.946
1.251.364 3.811
578
193
100
99.63 0.30 0.05 0.02
-0,35
-0,35 -3,05 9,85
-3,75
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bến Tre 2010
Trang 36dạng đã hình thành ở đồng bằng Trung bộ như: nông nghiệp lúa nước, ngư nghiệp biển, lâm nghiệp núi rừng Nhưng khi vào vùng đất Bến Tre, chịu sự tác động của những điều kiện lịch sử, xã hội, địa lí của Bến Tre thì vốn văn hóa ấy được tái tạo và sáng tạo theo cách riêng, tạo nên những sản phẩm văn hóa mang dấu ấn đặc trưng hài hòa với không gian văn hóa nơi đây Vì thế văn hóa Bến Tre vừa mới mẻ vừa mang những giá trị truyền thống
Đặc trưng nổi bật tiếp theo của văn hóa miệt vườn Bến Tre đó chính là gắn với đồng bằng châu thổ Với đặc điểm đất đai màu mỡ, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên thật khó mà sinh sống tách biệt với điều kiện tự nhiên nơi đây Môi trường ấy vừa có những thuận lợi nhưng cũng chứa đựng nhiều bất lợi Người dân tận dụng những thuận lợi của đồng bằng cũng như nguồn nước dồi dào để đào mương lên liếp, lập vườn sản xuất nông nghiệp, để buôn bán trên sông hình thành chợ nổi; khắc phục sự trở ngại của sông ngòi, kênh rạch bằng những cây cầu, những chiếc ghe xuồng có thể len lỏi khắp mọi nơi giúp giao thông bằng đường thủy thuận tiện hơn Từ môi trường đó nền văn hóa của người dân nơi đây cũng mang đậm tính đồng bằng châu thổ thông qua các hoạt động văn hóa vật thể và phi vật thể
Yếu tố con người cũng là một trong những yếu tố tạo nên đặc trưng văn hóa ở nơi đây Dù điều kiện tự nhiên có đa dạng, phong phú thế nào đi chăng nữa, nhưng không có nghĩa là con người ở đây chỉ sống bằng sự độ lượng của tự nhiên Chính vị trí địa lí và môi trường tự nhiên có nhiều thuận lợi nhưng cũng chứa đựng không ít những khó khăn đó đã đòi hỏi người dân Bến Tre luôn phải vượt lên chính mình, đổ biết bao công sức, mồ hôi và nước mắt để tự mình giải quyết những thách thức mà tự nhiên mang lại Để có được mảnh vườn, đòi hỏi con người phải lao động cần cù, nhẫn nại và biết cách cải tạo tự nhiên Không thể lấy những kinh nghiệm ở nơi khác áp dụng một cách máy móc Bởi đặc điểm tự nhiên ở mỗi vùng khác nhau “Ở miền Trung, ta quen thâm canh, rủ nhau tát nước, đắp bờ từng thửa ruộng nhỏ bé Đến đồng bằng bao la phải thí nghiệm những kiểu canh tác mới, đồng thời tổ chức canh phòng
ở vàm rạch, dựng đình chùa, tổ chức thôn xóm Dụng cụ bắt cá, dụng cụ canh tác,
Trang 37kiểu ghe xuồng cần thay đổi cho thích hợp hơn” [51, tr.25] Sự khác biệt tự nhiên đòi hỏi những lưu dân mà xuất phát từ miền Trung không thể lấy kinh nghiệm sản xuất
từ quê hương của mình để áp dụng hoàn toàn ở vùng đất Bến Tre này Hơn nữa, cũng không thể lấy kinh nghiệm làm lúa, trồng hoa màu mà áp dụng cho làm vườn Chính
vì thế mà đòi hỏi con người nơi đây cần cù chưa đủ mà với bàn tay, khối óc, nghị lực của mình còn phải sáng tạo và ứng xử thông minh Kinh nghiệm nào có thể áp dụng được thì áp dụng, không hiệu quả thì loại bỏ, sáng tạo ra cách làm mới, dần dà tạo nên kinh nghiệm mới tạo nên một cái gì đó rất riêng ở vùng đất Bến Tre
Con người Bến Tre thì cần mẫn cùng với những nét sinh hoạt độc đáo, mộc mạc đậm chất “miệt vườn”, “lối sống của cư dân ở đó, cách ăn nết ở của người dân ở
đó cũng được gọi là “văn minh miệt vườn”” [61, tr.10] Cuộc sống làng quê nơi đây luôn yên bình và thư thả gắn với những ngành nghề truyền thống được bảo tồn và phát triển theo thời gian Miền quê hiền hòa này luôn có những con người chất phác
mà hòa nhã, phóng khoáng, mến khách và rất trọng tình người Đi sâu tìm hiểu quá trình lao động sản xuất, sẽ thấy được những nét đặc trưng văn hóa nơi đây đều ít nhiều gắn với cây dừa Dừa có ở khắp mọi nơi, hiện hữu hằng ngày trong sản xuất, cuộc sống, sinh hoạt đời thường Dừa đã trở thành thương hiệu của vùng đất Bến Tre Chính vì thế Bến Tre được ưu ái với tên gọi là xứ dừa hay xứ ba đảo dừa xanh Có thể nói văn hóa Bến Tre là văn hóa dừa
Một số nét đặc trưng nổi bật trong hoạt động văn hóa vật thể và văn hóa phi
vật thể của cư dân miệt vườn Bến Tre:
Về văn hóa mưu sinh: Nghề làm vườn đóng vai trò chủ đạo trong văn hóa mưu
sinh bên cạnh các nghề khác như: nghề trồng lúa và hoa màu, nghề thủ công, nghề chăn nuôi, nghề buôn bán
Về văn hóa ẩm thực: Với văn hóa ẩm thực dừa, cư dân miệt vườn Bến Tre đã
tạo nên những hương vị đậm đà, đặc trưng vùng đất xứ dừa Bến Tre, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú của ẩm thực truyền thống Việt Nam
Trang 38Về văn hóa phục sức: Trang phục của cư dân miệt vườn chủ yếu hướng đến
sự tiện lợi, thoải mái chứ không cầu kì trau chuốt Nhưng không vì thế mà xuề xòa,
họ vẫn lịch sự và mặc trang phục phù hợp với từng hoàn cảnh Nhìn chung ảnh hưởng nhiều từ trang phục phương Tây
Về văn hóa cư trú: Đời sống người dân chưa cao nên nhà ở không giàu có,
kiên cố chắc chắn như chốn thị thành nhưng đối với họ nhà là tổ ấm, là chốn hạnh phúc, bình yên cũng là nơi gắn bó nắng mưa suốt cả cuộc đời Nhà đối với họ như một thành viên trong gia đình và là nơi để về nghỉ ngơi trong những lúc mỏi mệt
Về văn hóa giao thông: Với hai hình thức giao thông bằng đường thủy và
đường bộ đã giúp cho bà con nơi đây thuận tiện trong việc di chuyển, trao đổi hàng
hóa và giao lưu văn hóa ở khắp mọi nơi
Về văn hóa tổ chức cộng đồng: Mỗi cư dân miệt vườn đều sống trong mối
quan hệ gia đình và làng xóm Đó là những mối quan hệ không thể tách rời, luôn gắn kết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Đồng thời cư dân cũng có nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng
Về tín ngưỡng, tôn giáo: Là cư dân của vùng đất mới, người Việt ở Bến Tre
có hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo vô cùng đa dạng Hầu như tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo có mặt ở Nam Bộ đều có mặt ở Bến Tre Cho thấy cư dân miệt vườn Bến Tre dù được thiên nhiên ưu đãi, ít gặp thiên tai, bão lụt nhưng vẫn cần sự phù trợ, bảo
hộ của các vị thần từ giới tự nhiên cho đến nhân thần Điều đó chứng tỏ rằng đời sống văn hóa tâm linh của cư dân ở đây vô cùng phong phú
Về phong tục, tập quán: Vẫn giữ những nét truyền thống của phong tục, tập
quán cổ truyền của Việt Nam và ứng dụng trong cuộc sống để những giá trị văn hóa
ấy được giữ gìn và phát huy trong thời đại ngày nay Đồng thời những phong tục, tập quán nào lạc hậu, lỗi thời, trở thành hủ tục thì loại bỏ Đó là sự vận dụng linh hoạt phong tục, tập quán cho phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương
Trang 39Về văn hóa lễ hội: Các lễ hội ở Bến Tre đều hướng đến chủ thể chính là những
người nông dân, những người làm vườn nhằm tạ ơn những vị thần đã phù hộ cho họ
và tôn vinh những đóng góp, những thành quả lao động miệt mài mà họ đã tạo dựng nên miệt vườn trù phú như ngày hôm nay
Về văn học nghệ thuật: Cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre biết kế thừa và sáng
tạo nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật đặc sắc Văn học nghệ thuật góp phần làm cho đời sống tinh thần của cư dân nơi đây thêm phong phú và đa dạng
Nội dung chi tiết của mỗi phần sẽ được trình bày và giới thiệu ở chương 2 và chương 3
1.3 Tiểu kết chương 1
Việc minh định các thuật ngữ có liên quan đến đề tài như miệt vườn, đời sống văn hóa, văn hóa mưu sinh, chủ thể văn hóa, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, … bước đầu tạo cơ sở lý luận thuận tiện cho việc hiểu đúng các khái niệm và vận dụng chúng một cách có hiệu quả trong nghiên cứu đời sống văn hóa của cư dân miệt vườn tỉnh Bến Tre sau này
Bốn phía của Bến Tre đều tiếp giáp các con sông nên xung quanh vùng đất này toàn là sông nước Vị trí ấy tạo cho Bến Tre như một hòn đảo trong lòng một đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn Vị trí ấy khiến giao thông với tỉnh khác khá tách biệt nếu như không có hệ thống cầu đường Vì dù giao thông thủy có phát triển đến đâu thì đường bộ vẫn thuận tiện hơn Bên cạnh đó, chính sự tách biệt còn giúp bảo lưu những vốn văn hóa truyền thống của mình được vững bền hơn Nhưng không vì thế mà “bế quan tọa cảng” vì như thế sẽ vô hình dẫn đến sự tự nới rộng sâu ranh giới
tự nhiên, lạc hậu với thế giới bên ngoài Bến Tre còn được biết đến là vùng đất được thiên nhiên khá ưu đãi: khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, quanh năm ít thiên tai, bão
lũ Tất cả đã khiến cho cuộc sống của người dân nơi đây thật hiền hòa, ổn định, dư
dả quanh năm Sự trù phú đó đã góp phần tạo nên tính cách phóng khoáng của con người Bến Tre nói riêng và người Nam Bộ nói chung
Trang 40Ngoài người Việt, tỉnh Bến Tre là nơi cư trú của nhiều tộc người như người Hoa, người Khmer và các dân tộc khác Nhìn chung, các thành phần cư dân đều là những người “tứ xứ”, cùng chung cảnh ngộ phải xa quê hương, phải “tha phương cầu thực” nên dù thuộc nhiều dân tộc nhưng với lòng thương người, tinh thần nhân văn sâu sắc, sự trắc ẩn tồn tại trong mỗi con người Việt Nam nên họ dễ thông cảm cho nhau, chia sẻ lẫn nhau trong công việc làm ăn cũng như cuộc sống đời thường Đa phần lại xuất thân từ những người bị áp bức, bóc lột bởi chế độ phong kiến hà khắc nên họ càng ý thức hơn về sự đoàn kết cùng nhau để đấu tranh sinh tồn Hơn nữa, người Việt Nam vốn dĩ không phải là dân tộc hiếu chiến Họ siêng năng, chăm chỉ, cần cù làm ăn, không hề muốn chiến tranh với ai Thế là các tộc người sống cộng sinh với nhau, cùng chung tay xây dựng làng xóm, tổ chức đời sống, “sống với nhau một cách hòa hợp, thân ái, không có chiến tranh giữa các sắc tộc trong lịch sử” [60, tr.269], nhằm xây dựng cộng đồng xã hội ổn định, phát triển Họ xây dựng mối quan hệ dựa trên sự bình đẳng, đoàn kết, cạnh tranh, hợp tác, tương trợ cùng giúp nhau vượt qua khó khăn Tuy vậy mỗi tộc người lại có ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Vì thế trước vốn văn hóa đặc thù, tràn đầy sức sống của người Hoa và người Khmer, người Việt khi tiếp xúc những phong tục, tập quán khác lạ đó nảy sinh những va chạm, giao lưu
và tiếp biến nhưng vẫn phải giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người Việt mình Tức là trong quá trình chung sống, người Việt luôn cởi mở và ứng xử dung hợp đồng thời lại tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của các tộc người khác Quá trình giao lưu văn hóa vẫn không ngừng tiếp diễn tới tận ngày nay và được Việt hóa thành những giá trị văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa như phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật,…
Các tộc người không chỉ có sự giao lưu tiếp biến với nhau mà còn chịu sự tác động và ảnh hưởng từ văn hóa của phương Tây, chủ yếu là về khoa học công nghệ và
kỹ thuật hiện đại Tất cả những giao lưu đó đã hội tụ với vốn văn hóa truyền thống trong mỗi con người Bến Tre như một hạt giống nảy mầm trong vùng đất phù sa màu
mỡ, không ngừng lớn nhanh và phát triển tươi tốt, nhân giống khắp mọi nơi trở thành
vốn văn hóa đậm chất miệt vườn Bến Tre