Cứ mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, thì truyền thống đó lại phát huy cao độ, tập hợp được toμn thể nhân dân đấu tranh, tạo nên một sức mạnh phi thường, vô địch đưa nhân dân ta “lướt q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN TP HCM
-
TRẦN THỊ BÍCH LOAN
BÌNH ĐỊNH TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969-1973)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 05.03.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ HÀ MINH HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2004
Trang 2DẫN LUậN
1 ULý do chọn đề tμi - Mục đích nghiên cứu U:
Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nμn, sâu sắc, truyền thống
đấu tranh anh dũng bất khuất để bảo vệ độc lập , chủ quyền của dân tộc Cứ mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, thì truyền thống đó lại phát huy cao độ, tập hợp được toμn thể nhân dân đấu tranh, tạo nên một sức mạnh phi thường,
vô địch đưa nhân dân ta “lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước vμ cướp nước “ (Hồ Chủ Tịch)
Nói đến lịch sử dân tộc Việt Nam lμ nói đến không biết bao nhiêu những chiến công oanh liệt , vang dội mμ nhân dân ta đã giμnh được dưới sự chỉ huy của các anh hùng dân tộc, tất cả những chiến công đó tạo nên một bản thiên anh hùng ca vĩ đại của dân tộc ta, trong đó, thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở thế kỷ XX lμ một khúc nhạc chiến thắng, vút cao vμ mãi mãi vang vọng trong lịch sử dân tộc
Bình Định, một trong những tỉnh đất rộng, người đông ở vùng Trung Trung Bộ Việt Nam, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế lẫn quốc phòng Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, lμ vùng đất có truyền thống
đấu tranh anh dũng quật cường
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ Ngụy đã chọn Bình
Định lμm một trong những trọng điểm đánh phá trên toμn miền Nam Để đối phó với âm mưu của địch, Đảng bộ Bình Định luôn nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, dựa vμo dân để tổ chức lãnh đạo nhân dân trong tỉnh phát huy truyền thống quật khởi, tự lực, tự cường, bền bỉ tiến hμnh cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương Đặc biệt, trong giai đoạn 1969 - 1973, quân dân Bình
Định đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để góp
phần cùng nhân dân cả nước đánh bại Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
thâm độc của Mỹ, lμm cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giμnh thắng lợi cuối cùng
Trang 3Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đất nước ta đang có nhiều chuyển biến tốt đẹp về mọi mặt Nhưng trong quá trình đó, dường như những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường cũng xâm nhập vμo lĩnh vực văn hoá giáo dục, đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm, lối sống của một bộ phận nhân dân
vμ lớp trẻ Trong xã hội, xuất hiện những hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống vμ tư tưởng chính trị Một bộ phận trong thanh niên chạy theo lối sống xa hoa, thực dụng, đánh giá mọi giá trị bằng thước đo tiền bạc, vật chất mμ quên
đi các truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, thờ ơ quay lưng lại với truyền thống đấu tranh anh dũng, sự hy sinh cao cả cho nền độc lập dân tộc của cha ông
Để khắc phục tình trạng nμy, trong chương trình giảng dạy lịch sử ở trường Phổ thông trung học đã có thêm các tiết học về lịch sử địa phương nhằm cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức về lịch sử địa phương mình, tăng cường giáo dục truyền thống Nhưng giáo viên giảng dạy lại gặp khó khăn vì không có tμi liệu dạy lịch sử địa phương, do đó có một số giáo viên bỏ giảng dạy các tiết học nμy
Lμ một giáo viên giảng dạy lịch sử trưởng thμnh trên quê hương Bình
Định, tôi muốn đi sâu nghiên cứu lịch sử của tỉnh Bình Định trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1969 - 1973 nhằm:
Phân tích những đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở
đỉnh cao của nó trên một chiến trường cụ thể lμ Bình Định, qua đó, lý giải nguyên nhân thắng lợi của quân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ vì
độc lập tự do của dân tộc Từ cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân Bình
Định trong một giai đoạn đấu tranh phức tạp nhất, ác liệt nhất để phân tích vai trò, mối quan hệ giữa chiến trường Bình Định đối với chiến trường Liên Khu 5
vμ cả chiến trường miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước; Khẳng định giai đoạn đấu tranh chống “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” lμ giai đoạn giμnh thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước của nhân dân ta; Đồng thời rút ra những bμi học kinh nghiệm
Trang 4quý báu không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mμ còn có giá trị lý luận vμ thực tiễn sâu sắc cả trong công cuộc xây dựng vμ bảo vệ tổ quốc
Luận văn cũng nhằm cung cấp, bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử địa phương về phần kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phục vụ cho việc giảng dạy các tiết học lịch sử địa phương ở trường PTTH ở Bình Định, tăng cường giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, củng cố niềm tin vμo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng
đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2 ULịch sử nghiên cứu vấn đềU :
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu vμ tổng kết về phong trμo đấu tranh của nhân dân Bình Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Một
số tác phẩm tiêu biểu :
- Năm 1991 : Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định đã cho xuất bản cuốn
“Chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định” nhằm tổng kết
chiến tranh du kích trong chiến tranh giải phóng tỉnh Bình Định
- Năm 1992, Đại tá Cao Hùng vμ trung tá Nguyễn Hoμi An biên soạn
cuốn “Bình Định - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm”, tác phẩm
nμy phản ánh cuộc chiến tranh giải phóng của quân dân Bình Định dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương từ 1945 – 1975
- Năm 1994, Trung tá Hoμng Hữu Khoá biên soạn cuốn “Những chặng
đường chiến đấu vμ trưởng thμnh của lực lượng vũ trang Bình
Định” Tổng kết quá trình chiến đấu vμ trưởng thμnh của lực lượng vũ
trang Bình Định từ tháng 9/1945 cho đến 1989
- Cũng trong năm 1994, Thiếu tá Lê Văn Sáu, Trung tá Hoμng Hữu
Khoá đã tập hợp vμ biên soạn 3 tập : “Những trận đánh điển hình của các lực lượng vũ trang Bình Định” nhằm tái hiện lại một số trận đánh
tiêu biểu trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng Bình Định
- Năm 1995, Thiếu tướng, giáo sư, tiến sĩ , nhμ giáo nhân dân Huỳnh
Nghĩ đã viết cuốn “Hoμi Nhơn - Lịch sử đấu tranh cách mạng vμ kháng
Trang 5chiến cứu nước 1930 - 1975” tổng kết phong trμo đấu tranh 45 năm của
bộ địa phương đối với phong trμo đấu tranh trong tỉnh
- Năm 1998, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định đã xuất bản “Lịch sử bộ
đội đặc công tỉnh Bình Định” tổng kết những chiến công vang dội, phản
ánh tinh thần chiến đấu anh dũng của những chiến sĩ đặc công trong cuộc chiến tranh giải phóng lâu dμi , gian khổ ở Bình Định
- Cũng trong năm 1998, kỷ niệm 100 năm thμnh lập thμnh phố Qui Nhơn (10/1898 – 10/1998) nhμ xuất bản Thuận Hoá đã xuất bản cuốn
“Lịch sử thμnh phố Qui Nhơn”, đây lμ công trình nghiên cứu rất công
phu của phó tiến sĩ Đỗ Bang cùng phó tiến sĩ Nguyễn Tấn Hiểu, phản
ánh toμn diện về lịch đại thμnh phố vμ phản ánh bao quát phong trμo
đấu tranh của nhân dân thμnh phố Qui Nhơn – Tỉnh Bình Định trải qua các thời kỳ lịch sử
Trong những công trình vμ tác phẩm nêu trên, các tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quát về phong trμo đấu tranh của quân dân Bình Định trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng hoặc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) Những tác phẩm nμy chỉ nghiên cứu, phản ánh về một chủ đề chuyên khảo: về lịch sử Đảng, về cuộc đấu tranh của lực lượng vũ trang, của lực lượng đặc công, của du kích, mμ chưa có công trình nμo đi sâu phân tích, nghiên cứu một cách đầy đủ, toμn diện về phong trμo đấu tranh của
quân dân Bình Định trong cuộc đấu tranh chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” (giai đoạn 1969 - 1973) Vì vậy, luận văn của tôi muốn đi sâu
Trang 6phân tích, phản ánh đầy đủ, toμn diện về phong trμo đấu tranh chống “Việt Nam hoá chiến tranh” của quân dân Bình Định (1969 - 1973) để lμm rõ hơn
về thời kỳ đấu tranh gian khổ, phức tạp, đánh bại âm mưu vμ thủ đoạn thâm
độc của kẻ thù, tiến tới giμnh thắng lợi hoμn toμn
3 UĐối tượng vμ phạm vi nghiên cứuU:
Xuất phát từ mục đích khoa học vμ thực tiễn của đề tμi, luận văn xác
định đối tượng nghiên cứu lμ phong trμo đấu tranh của nhân dân Bình Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1969 – 1973 với những nội dung cụ thể bao gồm: âm mưu vμ thủ đoạn của địch trong chiến
lược “Việt Nam hoá chiến tranh”; chủ trương vμ sự lãnh đạo của Đảng bộ địa
phương nhằm đối phó với âm mưu của địch; phong trμo đấu tranh của quân
dân Bình Định chống lại “Việt Nam hoá chiến tranh” góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” vô cùng nguy hiểm,
thâm độc của Mỹ, tạo nên bước thay đổi quan trọng về cả thế vμ lực lμm nghiêng hẳn cán cân giữa ta vμ địch, tạo điều kiện cho nhân dân Bình Định nói riêng vμ nhân dân miền Nam nói chung tiến lên giμnh thắng lợi hoμn toμn Tuy nhiên, phong trμo đấu tranh ở Bình Định không tách rời phong trμo đấu tranh trong toμn miền, toμn quốc nói chung Do đó, luận văn cũng cũng sẽ trình bμy một số diễn biến chung trong phạm vi toμn miền, toμn quốc liên quan đến phong trμo đấu tranh vμ những chủ trương chỉ thị chung của Trung
ương Đảng, của Khu uỷ đối với phong trμo đấu tranh trong cả nước có liên quan đến phong trμo đấu tranh ở Bình Định
Việc nghiên cứu đề tμi sẽ được đặt trong bối cảnh cảnh lịch sử chung của cả nước, của toμn miền Nam, của liên khu V vμ tình hình cụ thể của địa phương tỉnh Bình Định Phạm vi thời gian của đề tμi lμ từ 1969 - 1973, tức lμ
từ khi Mỹ - Ngụy chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh “ cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết (27/01/1973) Tuy nhiên để
lμm rõ những tiền đề, điều kiện phát triển của phong trμo đấu tranh ở Bình
Định giai đoạn 1969 - 1973, Luận văn sẽ giμnh một chương trình bμy về đặc
Trang 7điểm đất nước, con người Bình Định, cuộc đấu tranh ở Bình Định từ cuối thế
kỷ XIX đến trước năm 1969
4 UNguồn tμi liệu vμ phương pháp nghiên cứuU:
Những nguồn tμi liệu chính được sử dụng trong luận văn lμ :
- Một số văn kiện, Nghị quyết , báo cáo của ban chấp hμnh trung ương
Đảng Cộng Sản Việt Nam vμ của Đảng bộ Tỉnh ủy tỉnh Bình Định được lưu trữ tại Ban tuyên huấn tỉnh Bình Định
- Những công trình nghiên cứu, tác phẩm, bμi viết của nhiều tác giả trong nước vμ của tỉnh Bình Định
- Một số ký sự, bμi báo, bản tin nước ngoμi vμ trong nước phản ánh tình hình ở Việt Nam, Bình Định trong giai đoạn 1969 –1973
- Những tμi liệu được lưu trữ tại trung tâm lưu trữ quốc gia II thμnh phố
Hồ Chí Minh Trong nguồn tμi liệu nμy, đa số lμ tμi liệu của địch (Hồ sơ, kế hoạch, bản huấn thị, công văn ) có liên quan đến những âm mưu, thủ đoạn của địch vμ phong trμo đấu tranh của nhân dân ở tỉnh Bình Định trong giai đoạn 1969 – 1973
Về phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tμi, hai phương pháp cơ bản được sử dụng lμ kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic Bên cạnh việc cố gắng nắm bắt chính xác chi tiết của sự kiện vμ diễn biến quá trình đấu tranh của nhân dân ở Bình Định giai đoạn 1969 -1973 với những tính chất vμ đặc trưng của nó Luận văn nỗ lực khái quát, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để đúc kết nêu lên những đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của phong trμo đấu tranh ở Bình Định trong giai đoạn 1969-1973 để từ
đó rút ra những bμi học kinh nghiệm mang tính tổng quát về phong trμo đấu tranh ở Bình Định trong giai đoạn nμy
5 UĐóng góp khoa học của luận văn:
- Dựng lại bức tranh toμn cảnh về cuộc kháng chiến của quân dân
Bình Định trong giai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đây
lμ giai đoạn đấu tranh phức tạp, gay go vμ ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Bình Định nói riêng vμ trên toμn miền Nam nói chung
Trang 8- Luận văn khẳng định giai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” lμ giai đoạn giμnh thắng lợi quyết định, tiến tới đưa cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoμn toμn
- Rút ra đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của phong trμo đấu tranh ở Bình
Định trong giai đoạn 1969-1973, khẳng định vai trò của chiến trường Bình
Định đối với chiến trường miền Trung vμ toμn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Bổ sung thêm nguồn tư liệu lưu trữ cho địa phương về phần kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần tăng cường giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ
Chương II : Quá trình chống chiến lược “Việt nam hóa chiến tranh” ở
bình định (1969-1973) Chương nμy trình bμy âm mưu, thủ đoạn của địch
trong chiến lược “ Việt nam hóa chiến tranh” ở Bình Định đồng thời trình bμy toμn bộ quá trình đấu tranh của quân dân Bình Định chống “Việt nam hóa chiến tranh” qua các giai đoạn đấu tranh từ chống các kế hoạch bình định ồ ạt
trên diện rộng cho đến chống các kế hoạch bình định có trọng điểm của địch
Chương III : Đặc điểm, vai trò vμ ý nghĩa của phong trμo đấu tranh của
quân dân Bình Định trong thời kỳ chống chiến lược “Việt nam hóa chiến tranh” (1969-1973) Trong chương nμy, từ thực tiễn của phong trμo đấu tranh
ở Bình Định trong giai đoạn (1969-1973) luận văn khái quát, nêu lên đặc
điểm, vai trò, ý nghĩa của phong trμo để từ đó rút ra những bμi học kinh nghiệm quý báu cho quá trình đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoμn toμn
Trang 9CHươNG 1 BìNH ĐịNH TRướC KHI BướC VμO THờI Kỳ CHốNG CHIếN
LượC “VIệT NAM HóA CHIếN TRANH”
1.1 BìNH ĐịNH TRướC THờI CHốNG Mỹ
1.1.1 Vμi nét về mảnh đất con người, vị trí chiến lược vμ truyền thống
đấu tranh yêu nước của Bình Định:
Bình Định lμ vùng đất nằm giữa vùng duyên hải miền Trung ở tọa độ địa
o
P35’ – 109P
o
P18’ kinh đông; bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Đông hướng ra biển Đông Với diện tích khoảng 6100 kmP
2
P, hiện nay Bình Định có thμnh phố Qui Nhơn vμ các huyện : Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoμi ân, Hoμi Nhơn, An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tây Sơn.(34:11)
Bình Định thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển nên khí hậu ôn hòa, mát mẻ Địa hình Bình Định khá đa dạng, có cả vùng rừng núi, đồng bằng, vùng ven biển, hải đảo, nhờ đó, cảnh quan thiên nhiên rất tươi đẹp, kỳ thú, có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng như Hầm Hô, Suối Tiên, bãi tắm Hoμng Hậu Tuy đồng bằng Bình Định nhỏ hẹp nhưng so với miền Trung lại lμ vựa lúa trong vùng, đất đai mμu mỡ, thích hợp với nhiều lại cây trồng, đặc biệt lμ cây dâu, cây dừa Đồi núi Bình Định chiếm 4/5 diện tích, tuy núi không cao nhưng địa hình khá hiểm trở vμ bị chia cắt thμnh nhiều mảnh nên Bình Định cũng giμu lâm thổ sản Với bờ biển dμi gần 140 km, có nhiều cửa sông, cồn, bãi, đầm, ghềnh, hải đảo vμ thềm lục địa khá rộng nên thủy hải sản rất phong phú Trung tâm lμ thμnh phố biển Qui Nhơn nằm ở phía
Đông Nam của tỉnh
Bình Định có vị trí giao thông quan trọng, nơi đây lμ giao điểm của một
số đường quốc gia về thủy bộ, hμng không vμ đường sắt như quốc lộ 19 nối bến cảng biển Qui Nhơn vμ miền Trung với các thị xã ở Tây Nguyên, quốc lộ
1 vμ đường sắt xuyên Việt ra Bắc vμo Nam đều thuận lợi (35:15)
Trang 10Bình Định lμ nơi sinh cơ lập nghiệp của các dân tộc người Bana, Rhé, Chăm vμ Việt, cư dân ở Bình Định sống chủ yếu bằng nghề nông rất cần cù, nhân ái, sáng tạo vμ kiên cường Bình Định lμ cái nôi đã sinh ra vμ nuôi dưỡng nhiều anh hùng dân tộc vμ nhiều nhμ văn hóa lớn, tiêu biểu nhất lμ người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ Bình Định cũng được đánh giá lμ trung tâm của một vùng văn hóa đa dạng, có sự hòa hợp, đan xen của nhiều nét văn hóa bản địa tiêu biểu cho bản sắc của một khu vực dân cư rộng lớn Nơi đây có nhiều công trình kiến trúc rất nổi tiếng như Tháp Dương Long, Tháp Cánh Tiên Bên cạnh đó, Bình Định còn lμ một trong những trung tâm phật giáo với nhiều chùa chiền cổ kính: chùa Thập tháp (An Nhơn), chùa Quang Hoa (Tuy Phước), Bình Định lμ vùng đất mμu mỡ của nền văn hóa dân gian với nhiều loại hình nghệ thuật (Tuồng cổ, bμi chòi) vμ nhiều lễ hội (Đua thuyền, Đâm trâu, Đua ngựa )(34:15 - 33)
Đầu thế kỷ XIX, sau khi lật đổ được nhμ Tây Sơn, vua Gia Long đã thực hiện nhiều chính sách trả thù, đμn áp dã man, đồng thời thực hiện nhiều chính sách kinh tế thâm độc (cướp đoạt ruộng đất của nông dân, đánh thuế rất nặng ) đã dẫn đến hậu quả nhiều lμng dân phải phiêu tán, bỏ lμng quê đi nơi khác kiếm sống Cuối thế kỷ XIX, những chính sách khai thác vμ bóc lột của thực dân Pháp lμm cho nền kinh tế Bình Định ngμy cμng kiệt quệ Trong gần
50 năm (1887 - 1925), hơn 40 công ty, hãng buôn của tư bản Pháp ồ ạt đến Qui Nhơn, Bình Định ra sức vơ vét, bóc lột sức của, sức người ở Bình Định; Các công ty “Paris, perignon, Đelignon, Mathey, Deibontpezat, Marvoire đã cướp hơn 40 mẫu rừng vμ đất ruộng của dân Bình Khê, An Nhơn, Hoμi Nhơn, Vân Canh, An Lão ” (27:15) Các ngμnh công nghiệp của Pháp ở Bình Định không phát triển Để vơ vét vμ bóc lột một cách nhanh chóng vμ hiệu quả nhất, Pháp còn thực hiện chính sách đánh tô thuế rất cao, một suất đinh (1931) lμ 3đ20 tương đương với 1 tạ thóc lúc ấy, năm 1931, riêng thuế nộp cho ngân sách Trung kỳ vμ Đông Dương của Bình Định tới 876.000đ, tương đương với 27.000 tấn theo giá lúa đầu 1932, chiếm gần 30% sản lượng thóc bình quân hμng năm của địa phương (27:17)
Trang 11Song song với chính sách bóc lột về kinh tế, Pháp còn thực hiện những chính sách văn hóa nô dịch, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Thực dân Pháp rất hạn chế việc mở mang trường học, bệnh viện, trong khi đó đầu tư xây dựng nhμ lao Qui Nhơn thật kiên cố, có thể giam một lúc từ 400 đến 600 tù nhân Năm 1932, cả tỉnh Bình Định chỉ có một bệnh viện vμ 3 trường tiểu học toμn cấp Năm 1886, Pháp dùng tμu Mê Kông chở hơn 80 tấn gồm tượng đồng
vμ tượng đá, phù điêu của các tháp Chμm đem về nước
Từ cuối thế kỷ XIX, phong trμo đấu tranh chống Pháp ở Bình Định đã diễn ra sôi nổi Từ 1885-1890, phong trμo Cần Vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ, những cuộc đấu tranh tiêu biểu như : các phong trμo đấu tranh của Mai Xuân Thưởng, Phạm Toản, Nguyễn Đa, Tăng Bạt Hổ những người con Bình Định cũng đã nêu cao truyền thống quật khởi Tây Sơn, tham gia lãnh đạo
vμ chiến đấu anh dũng trên cả vùng đất Nam Bộ vμ ở Huế: Nguyễn Văn Viên,
Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực Năm 1908, trong phong trμo chống thuế
ở Trung kỳ, cuộc nổi dậy ở Bình Định đã diễn ra quyết liệt trên qui mô toμn tỉnh, giáng đòn đau cho thực dân Pháp Trong những năm 1900 – 1914, đồng bμo miền núi Bình Định cũng liên tiếp đứng lên đấu tranh chống cướp đất, chống sưu thuế như phong trμo đấu tranh của nghĩa quân Kon Yon ở Vĩnh Hảo, Vĩnh Thạnh, phong trμo đấu tranh của đồng bμo Rhé ở An Lão Nổi bật nhất lμ phong trμo đấu tranh của nông dân Bình Định chống bóc lột của địa chủ
Những năm 20 của thế kỷ XX, phong trμo đấu tranh ở Bình Định đã có những bước phát triển mới Nhiều thanh niên yêu nước ở Tuy Phước, Qui Nhơn tham gia phong trμo đấu tranh dân tộc, dân chủ theo khuynh hướng dân chủ tư sản Trí thức, viên chức đã đứng ra mở hội buôn, lập trường học, phát triển sản xuất,cổ động nhân dân dùng hμng nội hoá Cuối năm 1925, rất nhiều học sinh đã gởi yêu sách cho toμ Khâm sứ trung kỳ đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu Hμng ngμn học sinh vμ người lao động ở Qui Nhơn, Tuy Phước đã tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh tại Chùa Bμ vμo tháng 4 năm 1926 Hμng trăm học sinh vμ giáo viên trường Quốc học Qui Nhơn tổ
Trang 12chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh tại chân núi Xuân Quang, sôi động nhất
lμ cuộc đấu tranh của hơn 500 học sinh Quốc học Qui Nhơn hưởng ứng phong trμo bãi khóa của học sinh thμnh phố Huế Học sinh Qui Nhơn còn tổ chức vận động nhân dân quyên tiền ủng hộ cụ Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế
đồng thời gởi yêu sách cho nhμ trường vμ Sở học chính Trung kỳ đòi tăng thêm những giờ học về môn quốc học vμ sử Việt Nam, đòi đổi một số giáo sư người Pháp có những lời nói vμ hμnh động khinh bỉ, nhục mạ người bản xứ (32: 300)
Bên cạnh phong trμo đấu tranh của tiểu tư sản, trí thức, phong trμo đấu tranh của nông dân chống sưu cao thuế nặng cũng nổ ra liên tục vμ rộng khắp nhiều huyện: Từ Phú Mỹ, An Nhơn, Phù Cát đến Bình Khê, Hoμi Nhơn Lúc bấy giờ, đồng chí Phan Đăng Lưu lμ đảng viên của Tân Việt Cách Mạng Đảng
đang lμ viên chức của trại tằm giống của Pháp ở thị trấn Bình Định – bị Pháp chuyển lên Đồng Nai thượng vì có những hoạt động chống Pháp
Cuộc đấu tranh của nhân dân Bình Định trong những năm cuối của thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã góp phần đẩy xã hội thuộc địa vừa mang tính chất thực dân vừa mang tính chất phong kiến ở Việt Nam lâm vμo cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn Những thế hệ yêu nước Bình Định đã đấu tranh anh dũng vμ hy sinh oanh liệt trong phong trμo giải phóng dân tộc, tuy nhiên trong hoμn cảnh chung của dân tộc, những phong trμo đấu tranh nμy chưa đạt được kết quả vì chưa đáp ứng được yêu cầu của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ,
đó lμ giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp vμ giải phóng xã hội
1.1.2 Vμi nét về phong trμo đấu tranh cách mạng Bình Định
1930-1954
Từ năm 1927 trở đi, chủ nghĩa Mác – Lênin, con đường cứu nước theo khuynh hướng cách mạng vô sản đã dần được truyền bá vμo Bình Định Tháng
2 năm 1928, kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Nam Kỳ đã phái
đồng chí Phan Trọng Quảng đến thôn Cửu Lợi, thuộc Tam Quan Nam, Hoμi Nhơn, sau đó được hội của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đầu tiên ở
Trang 13Bình Định được thμnh lập tại Cửu Lợi gồm 3 đồng chí : Nguyễn Trân, Tôn Chất vμ Huỳnh Triếp Từ Cửu Lợi, cơ sở của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhanh chóng phát triển rộng rãi ra nhiều nơi: An Đỗ, Vĩnh Thạnh, Hy Văn, Tường Sơn, An Thái, Thanh Xuân, Trung Lương (79: 32)
Song song với hoạt động của Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Hoμi Nhơn, một số nơi khác như Quy Nhơn, An Nhơn, Phù Mỹ tổ chức Tân Việt Cách Mạng đảng cũng ngμy cμng mở rộng hoạt động chủ yếu vận động công nhân, học sinh, viên chức
Sau khi 3 tổ chức cộng sản ra đời (Đông Dương Cộng Sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông dương cộng sản liên đoμn), từ ngμy 3 đến ngμy 7/2/1930, được sự ủy nhiệm của quốc tế cộng sản, Nguyễn Aí Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng để thống nhất 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam thμnh một tổ chức duy nhất lấy tên lμ Đảng Cộng Sản Việt Nam Đây lμ một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chứng
tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thμnh vμ đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Tại Bình Định, đầu tháng 3/1930, đồng chí Phan Thái ất, cán bộ cách mạng xứ ủy Trung kỳ được phân công phụ trách phong trμo Qui Nhơn, đồng chí AÁt đã chọn một số đảng viên ở Qui Nhơn, Phù Mỹ lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên của Bình Định tại nhμ máy đèn Qui Nhơn Chi bộ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Xuân Trữ (công nhân kỹ thuật nhμ máy đèn Qui Nhơn) lμm bí thư (27:41)
Đầu 1930, các hội viên thanh niên ở Hoμi Nhơn cũng đã bắt được liên lạc với Đảng bộ cộng sản Việt Nam tại Sμi Gòn, một số đồng chí như Nguyễn Trân, Đoμn Tính đã được kết nạp vμo Đảng Cộng Sản Việt Nam tại chi bộ
Đakao sau khi tham gia những cuộc đấu tranh nhân ngμy 1/5/1930 vμ ngμy 14/7/1930 Đầu tháng 8/1930, thμnh ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Sμi Gòn
đã phái đồng chí Nguyễn Du về Cửu Lợi, Hoμi Nhơn, Bình Định để xây dựng chi bộ cộng sản, từ đó, chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Hoμi Nhơn được thμnh lập do đồng chí Nguyễn Trân lμm bí thư Sau vμi tháng, tại Cửu Lợi,
Trang 14nhiều chi bộ ở các địa phương khác cũng được thμnh lập ở Hoμi Nhơn (79: 40)
Đầu tháng 10/1930, Đảng bộ huyện Hoμi Nhơn chính thức bắt được liên lạc với Đảng bộ thμnh phố Qui Nhơn, với Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, ban điều hμnh của xứ ủy Trung kỳ tại Đμ Nẵng, như vậy chỉ trong một thời gian ngắn sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa ra đời, các tổ chức cơ sở đảng đầu tiên
đã được thμnh lập kịp thời lãnh đạo phong trμo đấu tranh ở Bình Định hòa nhịp với xu thế phát triển tất yếu của phong trμo cách mạng cả nước
ở Bình Định, lần đầu tiên, công nhân, nông dân vμ các tầng lớp nông dân đã vùng lên, tấn công dồn dập vμo bộ máy chính quyền đế quốc vμ tay sai
Mở đầu lμ đợt đấu tranh nhân ngμy quốc tế chống chiến tranh đế quốc (1/8)
Đêm 28 rạng ngμy 29/7/1930, cờ Đảng vμ truyền đơn xuất hiện nhiều nơi: Qui Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoμi Nhơn sang tháng 9, tháng 10, cuộc đấu tranh ủng hộ cao trμo đấu tranh của công nông Nghệ Tĩnh cμng phát triển rầm rộ hơn Cuộc đấu tranh ở Hoμi Nhơn (23/07/1931) lμ đỉnh cao, tiêu biểu cho khí thế tiến công của nông dân Bình Định trong cao trμo 1930-1931 (79: 54 - 56)
Trong những năm 1935 –1936, nhiều chiến sĩ cộng sản Bình Định từ các nhμ lao Qui Nhơn, Buôn Mê Thuộc lần lượt ra tù, trở về địa phương Đến giữa năm 1937, cơ sở Đảng phát triển nhiều nơi ở Bình Khê, An Nhơn Chi bộ Hồng Lĩnh (An Nhơn) nối được liên lạc với xứ ủy lâm thời Trung kỳ, đồng chí Huỳnh Đăng Thơ thay mặt chi bộ Hồng Lĩnh tham gia cuộc họp cán bộ các tỉnh miền Trung tại Huế, chi bộ Hồng Lĩnh được xứ ủy Trung Kỳ giao nhiệm
vụ khôi phục vμ xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong phong trμo toμn tỉnh Bình Định Từ tháng 8-9/ 1936, nhóm cổ động Đông Dương đại hội được thμnh lập tại Hoμi Nhơn Tranh thủ sự đồng tình của một số hương lý, các cuộc họp được tổ chức ở Tân Mỹ (18/8/1936), Cửu Lợi (30/8/1936), Tμi Lương (22/9/1936), An Thái, Chương Hòa, Phước Lộc để thu thập nguyện vọng của quần chúng cho cuộc họp Đông Dương đại hội ở Trung kỳ tại Huế
Ngμy 20/9/1936, hμng chục ”Bản thỉnh nguyện” có hμng ngμn chữ ký của
Trang 15nhiều tầng lớp nhân dân được đoμn đại biểu nhân dân Hoμi Nhơn mang đến dự cuộc họp tại viện dân biểu Trung kỳ ở Huế (27: 89)
Để đáp ứng yêu cầu của phong trμo đấu tranh, Xứ uỷ lâm thời Trung kỳ chỉ định Tỉnh uỷ lâm thời Bình Định, do đồng chí Nguyễn Văn lμm bí thư Cuối 1937, ban cán sự Đảng liên tỉnh Quảng Ngãi- Bình Định-Phú Yên gồm 5
đồng chí được thμnh lập do đồng chí Nguyễn Trí lμm bí thư Tại Qui Nhơn, tháng 2/1938, ủy ban lâm thời ái hữu học sinh cũ trường kỹ nghệ thực hμnh Huế vμ ái hữu công nhân, viên chức Sở địa chính ra đời, sau đó, hội ái hữu thợ máy Qui Nhơn, ái hữu hoả xa Qui Nhơn-Diêu Trì được thμnh lập Đầu 1938, chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương của thμnh phố Qui Nhơn được thμnh lập
Năm 1939, phong trμo đấu tranh của nông dân đòi chia ruộng công điền theo lối mới, chống lại âm mưu chiếm đoạt ruộng công của bọn cường hμo địa chủ phát triển rất mạnh mẽ nhiều ở nhiều lμng xã: Mỹ Yên, Trường Định (Tây Sơn, tháng 2/1939), Vĩnh Nhơn (Hoμi Nhơn, tháng 3/1939), Lai Nghi, Thủ Thiên, Đông Hoμ, Vĩnh Lộc, Mỹ Thuận (Tây Sơn, tháng 6/1939), Tân Lộc, Dương Liễu (Phù Cát, tháng 6/1939), Tân Giảng, Ngọc Thanh (Tuy Phước, tháng 6/1939), Mỹ Thuận (tháng 10/1939), Trường Sơn (Hoμi Nhơn, tháng 7/1939)
Song song với phong trμo đấu tranh của nông dân ở nông thôn, phong trμo đấu tranh của giới lao động ở thμnh thị cũng có những bước phát triển mới Hội ái hữu hoả xa Qui Nhơn-Diêu Trì phát động một phong trμo học chữ Quốc ngữ cho công nhân vμ nhân dân lao động Tối 26/4/1939, nhân dân ở Hμo Nghĩa (Bình An, Tây Sơn) đã biến đám hát bội thμnh cuộc mít tinh kỷ niệm ngμy 1/5, truyền đơn đã được rải khắp một số lμng ở Bình Khê Tại nhμ lao Qui Nhơn, cuộc tuyệt thực của 150 tù nhân vμo ngμy 15/7/1939 đã lμm cho chính quyền thực dân lúng túng, bị động đối phó vμ phải thực hiện một số yêu sách của tù nhân Bên cạnh đó, phong trμo đấu tranh của đồng bμo các dân tộc ít người cũng liên tiếp nổ ra, các cuộc đấu tranh nμy tăng cường lực lượng vμ khí thế cho phong trμo đấu tranh trong toμn tỉnh.(32: 317)
Trang 16Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ ngμy 1/9/1939 đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi mặt của Đông Dương Tháng 9/1940, Nhật nhảy vμo
Đông Dương, Pháp - Nhật bắt tay nhau, đẩy nhân dân ta vμo tình cảnh “ một
cổ hai tròng”, cả hai kẻ thù Nhật - Pháp ra sức đμn áp, bóc lột, vơ vét sức
người sức của của nhân dân ta lμm cho cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân
ta lúc nμy vốn đã cùng cực nay lại cμng ngạt thở, khốn quẫn hơn Trước tình hình đó, hội nghị ban chấp hμnh trung ương Đảng lần thứ VIII tháng 5/1941
do Nguyễn ái Quốc chủ trì đã xác định: Nhiệm vụ trước mắt lμ giải phóng dân tộc, lập Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh) để tập hợp mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc, xu hướng chính trị vμ các cá nhân có tinh thần yêu nước Hội nghị còn chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của Đảng vμ nhân dân ta hiện nay lμ phải chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang để tiến tới giμnh chính quyền về tay nhân dân Hội nghị Ban chấp hμnh trung ương lần thứ 8 đánh dấu sự hoμn chỉnh về việc chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam Đường lối chủ trương đúng đắn của hội nghị lμ ngọn đuốc soi đường cho phong trμo cách mạng trong cả nước nói chung vμ phong trμo đấu tranh của nhân dân Bình
động hình thμnh nên các nhóm xây dựng lực lượng vμ bắt liên lạc với Đảng
ảnh hưởng của Đảng vμ của mặt trận Việt Minh lan rộng đến Bình Định, phong trμo đấu tranh của nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của các đảng viên ở địa phương đã chuẩn bị điều kiện cho phong trμo đấu tranh chống Nhật cứu nước Sau ngμy Nhật đảo chánh Pháp (9/3/1945) Cao trμo chống Nhật cứu nước lan ra mạnh mẽ trong toμn quốc, trong khí thế đó, cuộc khởi nghĩa
Ba Tơ (Quãng Ngãi) nổ ra ngμy 11/3/1945 tác động mạnh mẽ đến Bình Định
Trang 17Các tổ chức Việt Minh Bình Định đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, mít tinh tố cáo chính sách vμ chủ trương của Nhật, hô hμo quần chúng gia nhập các tổ chức cứu quốc, giới thiệu chương trình cứu quốc của Việt Minh v.v dấy lên một cao trμo chống Nhật cứu nước mạnh mẽ ở Bình Định; Đến cuối tháng 6/1945, các uỷ ban vận động cứu quốc ở nhiều tổng huyện, trong các giới lao động: công nhân, tiểu thương tiểu chủ đã lần lượt thμnh lập ở khắp các địa phương
Trong Hội nghị ở Trường An ngμy 17 đến 19 tháng 7 năm 1945, UÛy ban vận động cứu quốc tỉnh đề ra những công tác cấp bách để chỉ đạo phong trμo khởi nghĩa (79: 96) Để phát triển cao trμo quần chúng sẵn sμng xốc tới tổng khởi nghĩa, các tổ chức Việt Minh dồn sức vμo công tác phát động quần chúng, phát triển lực lượng vμ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
Công tác xây dựng lực lượng được chú trọng, số hội viên cứu quốc trong toμn tỉnh tăng nhanh ở khắp nông thôn đến thμnh thị, tính cho đến đầu tháng 8/1945, riêng thμnh phố Quy Nhơn đã có gần 200 đội viên tự vệ trong công nhân, học sinh vμ thanh niên Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giữa tháng 7/1945 Ban cán sự Đảng tỉnh Bình Định được thμnh lập tại Trường An (Hoμi Thanh, Hoμi Nhơn), do
đồng chí Trần Lương lμm bí thư, ban cán sự Đảng đã đề ra những công tác cần kíp lμ phải thống nhất các lực lượng Việt Minh trong tỉnh, tăng cường cán bộ cho các huyện, chuẩn bị ra tờ báo cho phong trμo Việt Minh toμn tỉnh
Ngμy 13/8/1945, sau khi Nhật tuyên bố đầu hμng quân Đồng Minh, Trung ương Đảng đã họp hội nghị tại Tân Trμo quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong toμn quốc để giμnh chính quyền trước khi quân đồng minh vμo Đông Dương Hưởng ứng quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng vμ lời kêu gọi của Nguyễn AÙi Quốc, Uỷ ban vận động Việt Minh tỉnh Bình Định đã họp khẩn cấp tại ga Quy Nhơn quyết định lập Uỷ ban khởi nghĩa do đồng chí Võ Xán lãnh đạo, lập đội tự vệ cứu quốc tập trung Ngμy 18/8/1945, uỷ ban vận
động cứu quốc tỉnh có cuộc họp bất thường tại An Sơn (Hoμi Nhơn), quyết
Trang 18định lập nên uỷ ban khởi nghĩa tỉnh do đồng chí Trần Quang Khanh lμm trưởng ban
Chiều ngμy 21/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa (thuộc ủy ban vận động cứu quốc) đã huy động gần 1000 quần chúng tham gia cuộc mít tinh tại bến ô tô thμnh phố Tối 21/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa (thuộc uỷ ban vận động Việt Minh) họp quyết định kế hoạch chiếm thμnh phố tỉnh lỵ Ngμy 23/8/1945 Hơn 10.000 người tập trung tại sân vận động Quy Nhơn, UÛy ban khởi nghĩa
đã đứng ra hiệu triệu quần chúng vùng lên khởi nghĩa, cuộc mít tinh trở thμnh tuần hμnh thị uy vũ trang, có các đội tự vệ cứu quốc đi đầu, chia thμnh hai
đoμn tiến chiếm hai mục tiêu quan trọng lμ Đốc bộ Đường (Dinh tỉnh trưởng, tức dinh công sứ cũ) vμ toμ đốc lý (toμ sứ cũ), rồi hợp lại tấn công trại bảo an tỉnh Quần chúng còn chia thμnh nhiều toán đi chiếm toμn bộ các công sở chính quyền bù nhìn tỉnh, trừ chi nhánh ngân hμng Đông Dương do quân Nhật giữ Sau đó, quần chúng tham gia mít tinh chμo mừng việc thμnh lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ do đồng chí Võ Xán lμm Chủ tịch (32:326)
Sau khi ra đời, uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Nguyễn Huệ xúc tiến việc đẩy mạnh quá trình khởi nghĩa ở các huyện, củng cố chính quyền cách mạng ở Quy Nhơn Chỉ trong hơn một tuần lễ (23/8 – 31/8/1945) khởi nghĩa đã nổ ra vμ giμnh thắng lợi trong toμn tỉnh Bình Định Trước cơn bão táp cách mạng của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc vμ phong kiến sụp đổ hoμn toμn
Chính quyền Cách mạng các cấp trong tỉnh được thμnh lập, đã ra sức tuyên truyền 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh
Bất chấp thiện chí hoμ bình của chính phủ vμ nhân dân ta, mặc dù đã ký kết hiệp định sơ bộ 6/3/1946 vμ tạm ước 14/9/1946 thực dân Pháp vẫn ngang nhiên mở rộng chiến tranh xâm lược trở lại Việt nam Ngμy 18/12/1946, Pháp
đã gửi tối hậu thư cho chính phủ ta buộc phải giải tán lực lượng tự vệ vμ trao lại quyền kiểm soát Thủ Dô cho chúng, hμnh động đó đã cắt đứt mọi con
đường đμm phán, do đó, ngay trong đêm 19/12/1946 Ban Thường vụ Trung
Trang 19ương Đảng ra mệnh lệnh toμn quốc kháng chiến Ngμy 20/12/1946, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi đồng bμo cả nước đứng lên kháng chiến, ngμy
22/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toμn dân kháng chiến” Cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ
cả nước chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng (59: 41 - 43)
Ngμy 22/1/1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất được triệu tập để kiểm điểm những công việc vừa qua vμ chuẩn bị cho kháng chiến, quán triệt chỉ thị toμn dân kháng chiến của Trung ương Đại hội chủ trương tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền để đủ sức lãnh đạo vμ điều hμnh công cuộc chuẩn bị kháng chiến, củng cố vμ xây dựng lực lượng vũ trang, mặt trận các
đoμn thể lμm chỗ dựa cho Đảng vμ chính quyền Đầu năm 1947, ủy ban kháng chiến vμ uỷ ban ủng hộ kháng chiến ở các cấp tỉnh, huyện, xã được thμnh lập, các đoμn thể đã đẩy mạnh hoạt động, lôi cuốn quần chúng tham gia các phong trμo chuẩn bị kháng chiến
Chính quyền Cách mạng vμ Mặt trận kêu gọi đồng bμo thực hiện vườn không nhμ trống ở bất cứ nơi nμo địch đến, nhân dân Bình Định đã tự nguyện phá hoại vườn tược của mình để thực hiện tiêu thổ kháng chiến Quân địch đi
đến đâu cũng gặp cảnh vườn không, nhμ trống, bị sập hầm chông, bị trúng mìn, nên rất hoảng sợ Ngμy 4/7/1947, địch tiến xuống Bồ Bồ thì lọt vμo trận
địa của ta, 150 tên bị giết tại chỗ, số còn lại phải bỏ chạy, ngμy 5/7/1947, địch rút toμn bộ quân về An Khê, vùng tự do của khu 5 được giữ vững, nhân dân Bình Định tự hμo với tấm gương anh hùng Ngô Mây ôm bom lao vμo đội hình của địch lμm tan xác một trung đội lính Âu-Phi trong trận đánh ở suối Vôi, gần An Khê (35:50)
Song song với việc củng cố, xây dựng chính quyền, mặt trận, các đoμn thể vμ việc phát triển lực lượng, chuẩn bị chiến đấu, việc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Những năm 1947-1949, Đảng bộ vμ nhân dân Bình Định đã hoμn thμnh xuất sắc hai nhiệm vụ trong thời kỳ nμy lμ chống chiến tranh lấn chiếm giữ vững tỉnh Bình Định lμ tỉnh tự do vμ tiếp tục xây dựng, phát triển thực lực về
Trang 20mọi mặt để chuẩn bị chuyển sang tổng phản công, lμm nhiệm vụ hậu phương
đối với chiến trường Liên khu V
Tháng 3/1950: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 3 tại Phù cát được triệu tập, trên cơ sở phân tích tình hình trong tỉnh vμ những nhiệm vụ do cấp trên đề ra, Đại hội xác định nhiệm vụ chính trị của tỉnh lúc nμy lμ gấp rút hoμn thμnh việc chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công Từ 1950, địch tập trung đánh phá ác liệt Bình Định, chúng tổ chức các ổ vũ trang (GUM) nhằm khủng bố đồng bμo, cμi gián điệp để thăm dò, chống phá lực lượng của ta,v.v Tỉnh uỷ đã chủ trương đẩy mạnh phong trμo nhân dân du kích chiến tranh, cùng kết hợp với lực lượng vũ trang đánh chặn các cuộc hμnh quân cμn quét của địch
Từ 11-19/2/1951, Đại hội Đảng toμn quốc lần thứ 2 họp ở Tuyên Quang, Việt Bắc đã quyết định những chủ trương, biện pháp nhằm đưa được kháng chiến đến thắng lợi hoμn toμn Đại hội còn quyết định đưa Đảng ra hoạt
động công khai trở lại với tên gọi lμ Đảng Lao Động Việt Nam Tháng 12/1952, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 4 được triệu tập tại Ân Đức với nhiệm vụ trọng tâm lμ củng cố, xây dựng Đảng bộ Trong 2 năm 1952-1953,
địch đã 23 lần cμn quét xuống Vĩnh Thạnh, Bình Khê vμ cho biệt kích xâm nhập vùng Tây An Lão, 50 lần đổ bộ lên ven biển, 86 lần thả bom các cầu cống, 91 lần thả bom các khu dân cư tập trung, chúng đã gây cho nhân dân Bình Định thiệt hại khá lớn về người vμ của (28:319) Quân dân Bình Định kiên quyết chống lại mọi thủ đoạn của kẻ thù, bộ đội địa phương vμ du kích anh dũng đánh trả các cuộc cμn quét đổ bộ, diệt nhiều sinh lực địch như trận Bình Quang (4/1952), trận Bình Giang (5/1952), trận Trường Xuân (6/1952), trận Bình Khê (12/1952), trận đổ bộ lên Qui Nhơn (1/1953), trận Vĩnh Lợi (2/1952), (32:333)
Thất bại liên tiếp trên chiến trường, địch bị động đưa ra kế hoạch NaVa, thực hiện một phần của kế hoạch Nava, thực dân Pháp mở chiến dịch át-lăng (atlante) đánh vμo vùng tự do Liên Khu V
Trang 21Đối phó với âm mưu của địch, Bộ tổng tư lệnh vμ bộ tư lệnh liên khu
5 giữ thế chủ động, đưa quân chủ lực tiến công lên Tây Nguyên giμnh thắng lợi, giải phóng được Kon Tum, ta tiếp tục tấn công Plây Ku, Biển Hồ, Cheo Reo lμm cho địch hoang mang, bị động phải lo chống đỡ Ngμy 12/3/1954,
địch cho 8 tiểu đoμn, nòng cốt lμ binh đoμn số 10, đổ bộ lên chiếm Qui Nhơn, sau đó sẽ chiếm một số nơi thuộc Tuy Phước (Trường úc, cầu Sông Ngang ) Một binh đoμn cơ động số 41 - 42 từ Phú Yên đánh ra đèo Cù Mông, chiếm Diêu Trì, phía Tây, địch từ An Khê chiếm Trường An, theo đường 19 đánh xuống Bình Định Một bất ngờ lớn cho địch lμ sau một ngμy chúng chiếm Qui Nhơn, ngμy 13/3/1954, quân ta mở mμn trận Điện Biên Phủ, địch phải điều binh đoμn dù từ An Khê ra tăng viện cho Điện Biên Phủ Nhân lúc nμy quân dân Phú Yên ráo riết tấn công buộc địch phải rút binh đoμn 41 từ Diêu Trì về giữ Tuy Hòa Ngay từ đầu, bộ đội địa phương vμ dân quân du kích trong tỉnh
đã chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên Đặc biệt, đơn
vị đặc công đã bất ngờ tập kích nhμ hát Trung Hoa (Qui Nhơn), diệt 200 sĩ quan vμ binh lính địch trú tại đậy (36:70)
Quân Pháp bị đánh khắp nơi ở liên khu 5, lại phải điều bớt quân để đối phó với các chiến trường khác vì thế bị động vμ không đủ khả năng tiếp tục thực hiện kế hoạch AÙt- lăng, nên ngμy 4/4/1954, địch phải rút các đồn bót ngoại vị về cố thủ ở Qui Nhơn cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, chiến dịch át- lăng hoμn toμn thất bại
Ngμy 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoμn toμn thắng lợi Hiệp
định Giơ-ne-vơ được kí kết ngμy 20/7/1954, chấm dứt chiến tranh vμ lập lại hòa bình ở Việt Nam, cũng lμ kết thúc giai đoạn chiến tranh quyết liệt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân Bình Định
Qua 9 năm kháng chiến đầy hy sinh gian khổ dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ địa phương, quân dân Bình Định đã đạt được những thμnh quả đáng
tự hμo Đó lμ đánh bại được âm mưu đánh chiếm của địch, giữ Bình Định lμ tỉnh tự do suốt những năm kháng chiến; xây dựng vμ phát triển kinh tế, văn
Trang 22hóa, xã hội thμnh một tỉnh có một tiềm lực lớn mạnh của liên khu 5 trong chiến tranh; Đã huy động một khối lượng khá lớn nhân tμi, vật lực vừa cho công cuộc kháng chiến của tỉnh, vừa lμm nhiệm vụ hậu phương đối với cả chiến trường Liên khu 5; đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, đảng viên
đông đảo, xứng đáng với sự nghiệp vμ lòng tin của nhân dân Những thμnh quả trên của Bình Định đã góp phần đáng kể vμo thắng lợi chung của toμn liên khu
5 vμ cả nước
1.2 BìNH ĐịNH GóP PHầN ĐáNH BạI CáC CHIếN LượC CHIếN TRANH CủA Mỹ ở MIềN TRUNG (1954 - 1968)
1.2.1 Bình Định góp phần chống chính quyền tay sai độc tμi phát xít Ngô Đình Diệm (1954-1960)
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước ta bước vμo một thời
kỳ mới : Miền Bắc hoμn toμn giải phóng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Quân dân Bình Định lại bước vμo một cuộc chiến đấu mới với những nét đáng chú ý: Bình Định lμ vùng tự do hoμn chỉnh, lμ hậu phương chiến lược trực tiếp trong kháng chiến của liên khu 5 suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, vừa lμ khu vực tập kết
300 ngμy của miền Nam Thuận lợi thì nhiều mμ khó khăn cũng không ít, Bình Định lμ một trong những nơi có phong trμo đấu tranh mạnh mẽ Về tổ chức, hầu hết lực lượng cách mạng đều bị nhận diện, ngoμi số cán bộ, đảng viên được sắp xếp tập kết ra Bắc, phần nhiều số cán bộ còn ở lại Miền Nam cũng chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động bí mật vμ đấu tranh hợp pháp
Đảng bộ Bình Định phải tổ chức chuyển hướng công tác như thế nμo vμ chuẩn
bị những gì để chống Mỹ Diệm với âm mưu hiểm độc vμ tμn bạo?
Đến tháng 8/1954, Tỉnh ủy Bình Định đã họp đánh giá tình hình các mặt vμ đề ra chủ trương trước mắt lμ phải xây dựng được một hệ thống tổ chức
bí mật từ Tỉnh xuống cơ sở, lμm hạt nhân lãnh đạo phong trμo cách mạng địa phương trong thời kỳ mới
Ngay từ đầu Mỹ-Diệm đã xác định Bình Định lμ một trong những tỉnh trọng điểm đánh phá trên toμn miền Nam, vạch ra kế hoạch đánh phá 2 tỉnh
Trang 23Bình Định, Quảng Ngãi mang tên “Chiến dịch giải phóng” Sau khi hình thμnh
bộ máy hμnh chính từ tỉnh xuống thôn, xã, thực hiện kiểm soát được tình hình
toμn tỉnh, địch phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, tập trung đμn áp,
khủng bố, trả thù một cách dã man những Đảng viên cộng sản, những người kháng chiến cũ, cơ sở cách mạng, gia đình có người đi tập kết vμ cả những người dân yêu chuộng hòa bình, độc lập, tán thμnh hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Song song với khủng bố, địch còn trắng trợn tước đoạt những quyền lợi của công dân vμ dùng thủ đoạn mua chuộc, lừa bịp nhân dân Ngμy 17/7/1955, Diệm ngang nhiên tuyên bố không có hiệp thương tổng tuyển cử
vμ Mỹ - Diệm đã tổ chức tuyển cử riêng rẽ, âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dμi
Do chưa có kinh nghiệm hoạt động bí mật, phong trμo cách mạng toμn tỉnh bị tổn thất nặng nề, cơ sở bị phá vỡ hμng loạt, sự liên lạc giữa tỉnh vμ huyện bị gián đoạn, tính đến cuối 1957, toμn tỉnh có 1/5 cán bộ bất hợp pháp
bị bắt Tuy nhiên, trong những ngμy tháng đầy thử thách nμy đã xuất hiện nhiều tấm gương trung kiên, bất khuất của cán bộ, đảng viên vμ quần chúng:
Lê Đình Giao, Đặng Thμnh Tân,Hồ Thị Hoμng Anh, Đinh Thị Vỹ dù bị tra tấn cực hình cũng thμ hy sinh chứ không khai báo, không nói xấu Đảng (29: 20)
Tháng 10/1955, Thường vụ Tỉnh ủy họp khẩn cấp tại Vĩnh Thạnh để
đánh giá những tổn thất to lớn của phong trμo địa phương, đề ra những chủ
trương khắc phục vμ phát động một phong trμo đấu tranh chống “tố cộng”
“diệt cộng” Từ cuối 1955 đầu 1956, nhiều nơi khắp trong toμn tỉnh, phong
trμo đấu tranh chính trị trực diện phát triển mạnh mẽ đòi hiệp thương tuyển cử,
đòi giải quyết đời sống, chống tố cộng tiêu biểu lμ những cuộc đấu tranh ở huyện Hoμi Nhơn, Qui Nhơn, Tuy Phước, Mỹ Lợi, Mỹ Phong(Phù Mỹ), Phù Cát, Vĩnh Thạnh
Từ tháng 7/1956, Mỹ - Diệm tiếp tục phát động chiến dịch “tố cộng”
trên toμn miền Nam với những âm mưu thủ đoạn đánh phá khốc liệt vμ hiểm
độc hơn: mở các cuộc hμnh quân, lùng sục, khủng bố những người cộng sản
Trang 24cướp lại ruộng đất mμ nông dân được cấp trong kháng chiến Đối phó với những âm mưu đó của địch, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng ở các địa phương, nhân dân ở các huyện đấu tranh mạnh mẽ, đặc biệt các vùng miền núi
được ta chú trọng xây dựng lμm chỗ dựa cho phong trμo toμn tỉnh : Vĩnh Thạnh, An Lão, Vân Canh chủ yếu do ta lμm chủ Bên cạnh đó, phong trμo
đấu tranh của cán bộ, đảng viên trong nhμ tù của địch cũng phát triển mạnh
mẽ, tiêu biểu lμ cuộc tuyệt thực của 18 đồng chí tại xμ lim số 1 từ ngμy 24/4/1957 Đầu 1958, Tỉnh ủy Bình Định họp ở Đắc Mang, Vĩnh Thạnh nghe phổ biến tμi liệu (Đề cương Cách mạng miền Nam) của đồng chí Lê Duẩn vμ nghiên cứu dự thảo Nghị quyết hội nghị Liên Khu ủy mở rộng Tỉnh ủy chủ trương lấy vùng cao Vĩnh Thạnh lμm căn cứ trung tâm của tỉnh, phát động phong trμo lμm rẫy cách mạng; xây dựng vμ củng cố các tổ chức quần chúng ở miền núi, chống âm mưu dồn dân của địch, khôi phục vμ phát triển phong trμo ở đồng bằng
18-Thực hiện các chủ trương trên của Tỉnh ủy, phong trμo chống dồn dân phát triển mạng mẽ ở 3 huyện miền núi, nhất lμ Vĩnh Thạnh, An Lão Bên cạnh đó, phong trμo ở các huyện đồng bằng cũng có những bước tiến mới, nhiều cơ sở cách mạng được khôi phục vμ phát triển (Phước An, An Nhơn, Hoμi Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ )
Tháng 5/1959, Mỹ-Diệm chuyển sang thực hiện chính sách “phát xít hóa”, ra luật 10/59 : đặt cộng sản ngoμi vòng pháp luật, lê máy chém khắp
miền Nam để giết hại những người cộng sản vμ đồng bμo miền Nam Tại Bình
Định chúng mở chiến dịch “tố cộng” mang tên Đoμn Đức Thoan, đánh phá ác
liệt phong trμo cách mạng toμn tỉnh, nhất lμ các vùng giáp ranh, chúng cưỡng
bức dân đi “dinh điền”, củng cố bộ máy tề lμng, xã, mật vụ, dồn dân các
huyện miền núi xuống ở ven các quận lỵ để cắt đứt quan hệ của dân với cách mạng hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng
Tại Hội nghị lần thứ XV (1/1959), Trung ương Đảng xác định: “Con
đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam lμ khởi nghĩa giμnh chính quyền về tay nhân dân con đường đó lμ lấy sức mạnh của quần chúng, dựa
Trang 25vμo lực lượng của quần chúng lμ chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để
đánh đổ quyền thống trị đế quốc vμ phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” (59: 65)
Đầu năm 1959, tuy Bình Định chưa nhận được Nghị quyết hội nghị lần thứ 15, nhưng trong xu thế phải vùng dậy của cách mạng miền Nam, đồng bμo một số nơi miền núi đã nổi dậy chống Mỹ-Diệm, tiêu biểu lμ cuộc khởi nghĩa Vĩnh Thạnh ngμy 6/2/1959 Để phát triển phong trμo toμn tỉnh, tháng 6/1960, tại Tu Kơ Roong(Vĩnh Thạnh) Đảng bộ Bình Định tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ V, đánh giá một cách toμn diện phong trμo địa phương vμ đề ra phương hướng, nhiệm vụ cách mạng trước mắt của tỉnh: Phải đẩy mạnh chiến tranh du kích để giải phóng toμn bộ các huyện miền núi, xây dựng miền núi vững mạnh mọi mặt, lμm căn cứ địa cho phong trμo toμn tỉnh Tích cực tiến hμnh vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng nổi dậy diệt ác phá kèm ở vùng đồng bằng, phát triển cơ sở, khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang huyện, tỉnh
Ngay sau Đại hội Đảng bộ, ban quân sự tỉnh được thμnh lập, trung đội
vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh ra đời Từ tháng 9/1960, Bình Định mở đợt hoạt động quân sự trong toμn tỉnh vμ đã tiến công địch ở các xã AÂn Nghĩa, Hoμi Tân, Hoμi Thanh (Hoμi Nhơn) ngμy 23/9/1960, Bình Khê (30/9/1960).(29: 51 - 53)
Tháng 12/1960 chμo mừng Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, quân dân Bình Định lại bước vμo đợt đấu tranh mới; tổ chức tấn công vμo các trụ sở xã, các đơn vị bảo an của địch ở Phước Thμnh (Tuy Phước) từ 21-31/12/1960, Bình Tân (Bình Khê) Đêm 3/12/1960, tổ chức rải truyền đơn, treo cờ, vũ trang tuyên truyền ở khắp nơi (Phước Thμnh, Cát Minh, Cát Hiệp, Mỹ Phong, Mỹ Hiệp, Hoμi Tân, Hoμi Đức, Hoμi Mỹ, An Hội,
An Đỗ, Hội Văn, AÂn Tμi, AÂn Nghĩa, Bình Quang )
Đến cuối 1960, ta giải phóng hầu hết huyện Vĩnh Thạnh, toμn bộ vùng cao huyện An Lão, vμ 3 vùng cao huyện Vân Canh Đây lμ vùng giải phóng
đầu tiên, lμ căn cứ địa của phong trμo cách mạng toμn tỉnh trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ Bình Định đã vượt qua được thử thách, từ đấu tranh
Trang 26giữ gìn lực lượng tiến lên giμnh thế tiến công, kết hợp khởi nghĩa từng phần vμ
du kích cục bộ, mở ra một thời kỳ mới cho phong trμo cách mạng Bình Định
góp phần đánh bại những âm mưu thủ đoạn của địch trong chiến lược “chiến tranh đơn phương”
1.2.2 Bình định góp phần chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965)
Thất bại trong việc cai trị bằng chế độ độc tμi phát xít Ngô Đình Diệm
ở miền Nam Việt Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” chủ yếu dùng lực lượng quân Ngụy dưới sự chỉ huy của các cố vấn
Mỹ với phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở Miền Nam Việt Nam, chúng coi việc gom dân vμo ấp chiến lược lμ quốc sách,
lμ xương sống của “Chiến tranh đặc biệt” Tháng 7/1961, Mỹ-Diệm triển khai
kế hoạch Stalay-Taylơ nhằm kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng (36)
Tại Bình Định, đầu năm 1961, địch mở “Chiến dịch tiến công Việt cộng” nhằm cản phá các hoạt động của ta Chúng tiến hμnh hơn 60 trận cμn
quét, thực hiện bắt lính tăng quân ở vùng đồng bằng duyên hải, xây dựng mạng lưới gián điệp ngầm ở cơ sở, hình thμnh hệ thống công sự, đồn trại tại các quận lị, các chốt vùng giáp ranh vμ dọc các trục giao thông, bắt bớ thủ tiêu người, đốt nhμ hμng loạt ở An Nhơn, Hoμi Nhơn, Phù Cát (34: 217 - 219)
Tháng 2/1961, tại căn cứ Vĩnh Thạnh, ủy ban lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh được thμnh lập Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, đầu 1961,
ta mở đợt tuyên truyền, phổ biến chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, phát động quần chúng nổi dậy, diệt ác phá kèm, xây dựng cơ sở Cách mạng ở thôn, xã Tháng 7/1961,các đội vũ trang công tác đã
mở hơn 60 cuộc vũ trang tuyên truyền ở 32 xã đồng bằng, diệt 32 tên tay sai nhiều nợ máu với nhân dân Lực lượng vũ trang đã đẩy lùi 20 trận cμn quét của địch vμ giμnh nhiều thắng lợi ở Hoμi ân, Hoμi Nhơn, Phù Cát, An Nhơn,
Vân Canh Từ tháng 10/1961-1/1962, quân dân Bình Định mở đợt ”Đồng khởi” ở vùng đồng bằng, lấy các xã Hoμi Sơn (Hoμi Nhơn), AÂn Hμo, AÂn Hảo
Trang 27(Hoμi AÂn) lμm trọng điểm Chủ trương của ta lμ tấn công bộ máy kềm kẹp vμ lực lượng vũ trang của địch, phát động quần chúng nổi dậy giμnh quyền lμm chủ xã, thôn Mở rộng vùng lμm chủ đồng bằng Kết quả bộ máy Ngụy quyền
ở 17 thôn, 7 xã thuộc các huyện Hoμi AÂn, Hoμi Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát bị tan rã; 9 thôn ở Tây sông An Lão được giải phóng Sang năm 1962, Mỹ - Diệm triển khai toμn diện kế Hoạch Stalay Taylơ trên toμn miền Nam Bình Định lμ
một trong 7 tỉnh trọng điểm thuộc vùng “ưu tiên quốc gia” của “ Kế hoạch lập
ấp chiến lược” Phối hợp với hoạt động vũ trang, nhân dân ở nhiều huyện của
tỉnh Bình Định đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt, phá tan 46 ấp, phá từng phần
134 ấp khác, tức lμ toμn bộ số ấp địch lập trong năm 1962 đều bị đánh phá, lμm tan rã ngụy quyền ở 36 thôn, tê liệt 42 thôn, nhân dân đã thực sự lμm chủ
vμ tranh chấp 59 thôn đồng bằng với 54630 dân (29: 61 - 63)
Sang năm 1963, Mỹ ngụy cμng đẩy mạnh biện pháp đánh phá ác liệt,
hòng thực hiện cho được quốc sách “ấp chiến lược”, chúng tăng cường lực
lượng bảo an, biệt kích ở các chốt vùng giáp ranh, dọc đường số 1 vμ số 19
Địch đã mở hơn 180 trận cμn tập trung đánh phá ở Hoμi ân, Hoμi Nhơn vμ bắc Phù Mỹ Đầu 1963, cùng với toμn khu, quân dân Bình Định liên tiếp mở hai
Trang 28tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầu lμm đảo chính giết anh em Diệm – Nhu Chớp lấy thời cơ, quân dân Bình Định vùng dậy tiến công địch quyết liệt, chỉ trong 2 tháng 11 vμ 12/1963, ta đánh 84 trận, có 3 trận chống cμn hμng tiểu đoμn vμo vùng mới giải phóng
Năm 1964, Bình Định vẫn nằm trong vùng trọng điểm “bình định” của
địch ở miền Nam, từ đầu năm, quân số các loại của địch tăng lên gần 18,000 tên Mỹ ngụy ra sức tăng cường công sự phòng thủ, mở hμng loạt các trận cμn, tập trung đánh phá, chμ xát vùng giải phóng từ Tây bắc Hoμi Nhơn đến Đông Bắc Bình Khê Để đối phó, tháng 4/1964, Tỉnh ủy Bình Định mở hội nghị nghiên cứu Nghị quyết liên Khu ủy V, Hội nghị chủ trương mở chiến dịch
“Đồng khởi khu Đông”, lấy các xã Đông nam Phù Cát, Đông An Nhơn vμ
Đông bắc Tuy Phước lμm trọng điểm, giμnh dân ở vùng sâu vμ tạo hμnh lang
vμ bμn đạp tiến công Qui Nhơn Phối hợp với tiến công quân sự của các lực lượng vũ trang, phong trμo phá ấp chiến lược ở nông thôn phát triển mạnh mẽ, phá tan hμng trăm ấp chiến lược, bên cạnh đó, phong trμo đấu tranh chính trị ở thị trấn, thị xã cũng phát triển dồn dập vμ sôi sục từ tháng 9 đến hết tháng 11/1964 Tiêu biểu nhất lμ cuộc biểu tình bao vây đμi phát thanh Qui Nhơn ngμy 27/9/1964, Nguyễn Khánh (Tổng thống Ngụy Quyền) phải bay ra Qui Nhơn, huy động cả xe tăng vμ trực thăng để đμn áp quần chúng (35: 119)
Để đáp ứng những yêu cầu khẩn trương của cách mạng, từ ngμy 20 - 25/11/1964, Đại hội tỉnh Đảng bộ Bình Định lần thứ VI được triệu tập tại AÂn Nghĩa (Hoμi ân) Sau khi phân tích ưu, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo cách mạng địa phương, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm
kỳ tới vμ quyết định mở đợt hoạt động Đông Xuân 1964 - 1965 để giμnh dân,
Trang 29phá ấp chiến lược Đầu năm 1965, ở Bình Định, Mỹ Ngụy tăng cường cố vấn quân sự vμ lực lượng lính đánh thuê, quân địa phương, ráo riết củng cố hệ thống phòng thủ quanh thị xã Qui Nhơn, điên cuồng phản kích, tiến công
đánh phá khủng bố, đμn áp, giết hại nhân dân cả 3 vùng, gây nhiều thương vong, thiệt hại cho nhân dân Bình Định Đối phó với địch, lực lượng địa phương ở các huyện phối hợp với quân chủ lực khu tấn công địch mạnh mẽ,
hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giμnh chính quyền lμm chủ nhiều nơi: Ngμy 8/2/1965,chủ lực của ta đã tiêu diệt 2 tiểu đoμn cộng hòa vμ một đoμn xe bọc thép tại Đèo Nhông (23 : 43) Đêm 10/2/1865, đặc công tỉnh phối hợp với cơ
sở nội thi đột nhập khách sạn Việt Cường, đánh bom sập các tầng lầu, loại hơn
55 sĩ quan Mỹ (121: 37)
Đầu tháng 3/1965, Tỉnh ủy Bình Định chủ trương mở chiến dịch Xuân
Hè với trọng điểm lμ giμnh dân ở vùng ven thị xã vμ các xã còn lại của An Nhơn, Tuy Phước, các lực lượng vũ trang của ta đẩy mạnh tiến công, chống
địch cμn quét, lấn chiếm Cho đến tháng 6/1965, ta đã giải phóng vμ lμm chủ
506 thôn, giải phóng hoμn toμn 56 xã ở vùng đồng bằng, 40 xã ở miền núi Nhằm bồi dưỡng sức dân trong vùng giải phóng, ta phát động nhân dân đẩy mạnh phong trμo sản xuất thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng, chú trọng công tác giáo dục, y tế để tiến tới cải thiện đời sống cho nhân dân về vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh đó, ta tiếp tục củng cố chính quyền nhân dân, củng cố lực lượng vũ trang vμ cơ sở của Đảng Thắng lợi của nhân dân Bình Định góp phần cùng toμn khu V vμ toμn miền Nam đánh bại những biện pháp chiến
lược vμ thủ đoạn chiến thuật chủ yếu của địch trong chiến lược “ Chiến tranh
Trang 30những cuộc phản công lớn tìm diệt quân chủ lực của ta ở miền Nam, ra sức
“bình định nông thôn” để quét sạch cơ sở chính trị của ta, đồng thời đưa không quân vμ hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện từ Bắc vμo Nam lμm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ta
Với vị trí chiến lược vμ những thắng lợi to lớn trong thời gian qua, Bình
Định trở thμnh một trong những địa bμn trọng điểm để Mỹ triển khai “Chiến tranh cục bộ” vμ kế hoạch “ tìm diệt” Cuối năm 1965, trong số 204,000 quân
Mỹ vμ quân chư hầu đưa vμo miền Nam thì ở Bình Định đã có 20,000 quân
Hệ thống căn cứ quân sự vμ cơ sở hậu cần được củng cố, xây dựng ở khắp nơi,
địch liên tiếp mở cμn quét, tập kích vμo vùng giải phóng của ta, gây nhiều thiệt hại cho đồng bμo ta Trước những thử thách nghiêm trọng, ủng hộ chủ trương tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị
vμ binh vận của trung ương Đảng (59: 88) Từ tháng 7 - 11/1965, Tỉnh ủy Bình
Định triệu tập hai cuộc họp mở rộng đề ra chủ trương “ra sức tiến công địch bằng 3 mũi giáp công ở 3 vùng chiến lược, nhằm đập tan kế hoạch phản công của địch, kiên quyết giữ vững vùng giải phóng, động viên đến mức cao nhất nhân tμi, vật lực phục vụ tiền tuyến”, đồng thời Tỉnh ủy còn phát động các phong trμo thi đua: “Tìm Mỹ mμ đánh, tìm ngụy mμ diệt”, “thanh niên xông lên hμng đầu đánh Mỹ vμ thắng Mỹ” Qua hơn 1 năm chiến đấu vμ xây dựng
cho đến tháng 7/1966, 3 thứ quân trong tỉnh đã lập nên nhiều chiến công hiển hách như: Chiến thắng ở Thuận Ninh (9/1965), Hội Sơn (10/1965), Chợ Cát (1/1966), Hoμi AÂn (2/1966), đặc biệt lμ chiến thắng ở Bắc Bình Định từ tháng 2/1966 đã đánh bại mũi phản công mạnh nhất, tiêu diệt nhiều quân Mỹ vμ máy bay trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 của đế quốc
Mỹ (33: 44 - 47) Trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, chỉ trong 6 tháng đầu năm
1966, đã có 1344 cuộc đấu tranh vμo đồn bót, quận lụy vμ thị trấn, thị xã với hơn 100,000 lượt người tham gia Sôi động nhất lμ phong trμo Phật giáo tại Qui Nhơn Cũng trong thời gian nμy, ta đã vận động được 1522 binh sĩ ngụy rã ngũ
Trang 31Mùa thu năm 1966, Mỹ tăng cường thêm quân viễn chinh từ 24 vạn lên
54 vạn cho cuộc phản công chiến lược mùa khô II (1966 -1967) Tại Bình
Định, chúng tập trung 60,000 quân các loại, mở hơn 100 cuộc cμn quét trong
Đông Xuân 1966-1967 Chủ yếu đánh phá vμo khu căn cứ Núi Bμ vμ vùng
Đông Bắc Phù Cát, Đông Nam Phù Mỹ Song song với trọng điểm tìm diệt,
địch còn đẩy mạnh hoạt động “bình định”, hủy diệt mọi cơ sở kinh tế của dân,
triệt nguồn sống để buộc dân vμo sống trong các khu dồn dân, ấp chiến lược Trước âm mưu vμ hμnh động đánh phá ác liệt của địch, phong trμo cách mạng trong tỉnh lúc nμy gặp nhiều khó khăn Đặc biệt ở núi Bμ, gần 1 vạn đồng bμo, chiến sỹ bị kẹt giữa vòng vây của địch, một số nơi ở phía nam tỉnh, Huyện ủy, lực lượng vũ trang bị bật khỏi dân, vùng giải phóng của ta bị thu hẹp, mất gần
35 vạn dân đồng bằng Đây lμ tổn thất lớn nhất của Bình Định trong 21 năm chống Mỹ cứu nước (29:141)
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ XII, lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh (17/7/1966) vμ Nghị quyết Bộ chính trị (10/1966), Tỉnh
ủy Bình Định khẳng định: “Nhiệm vụ chống cμn quét, lấn chiếm, chống xúc tác dân, giữ vững phong trμo phía Bắc, khôi phục phong trμo phía Nam lμ nhiệm vụ trọng tâm số 1 của Đảng bộ” (118:148) Để thực hiện nhiệm vụ trên,
Tỉnh ủy chủ trương mở đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi, động viên các ngμnh các giới trong Đảng, các lực lượng vμ toμn thể nhân dân tham gia phong trμo
“Hiến kế, hiến sức chống Mỹ cứu nước”, kiên quyết triển khai việc thực hiện chủ trương “4 bám” của Khu ủy (Đảng bám dân, trên bám dưới, dân bám đất,
lực lượng vũ trang bám địch) Theo tinh thần đó, quân dân Bình Định đẩy mạnh hoạt động vũ trang tấn công địch nhiều nơi: Hữu Lộc (đêm 7/9/1966), Núi Một (đêm 22/9/1966) vμ lập nên nhiều chiến công hiển hách ở Lộc Giang, Long Giang (17/12/1966), Đệ Đức (6/2/1967) Trong năm 1967, quân dân Bình Định đã đánh 1636 trận, loại khỏi vòng chiến hơn 20000 tên địch, trong
đó, hơn 1/2 lính Mỹ vμ chư hầu Phong trμo chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở các xã Hoμi Châu, Tam Quan Nam, Mỹ An, Mỹ Hiệp Bên cạnh
Trang 32đó, phong trμo đấu tranh chính trị vμ binh vận cũng được đẩy mạnh vμ giμnh
được kết quả tốt (29: 142)
Tháng 1/1968, Hội nghị lần thứ 14 của Ban chấp hμnh Trung ương
Đảng thông qua Nghị quyết Bộ chính trị: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giμnh thắng lợi quyết định” vμ “dùng phương pháp tổng công kích vμ tổng khởi nghĩa để giμnh thắng lợi quyết định” (59:90)
Từ 28/12/1967 - 25/1/1968, ở Bình Định, hai trung đoμn Nam Triều Tiên đánh phá dữ dội vùng Núi Bμ, Đông Nam Phù Cát vμ Đông Bắc An Nhơn, lữ đoμn 2 kỵ binh Mỹ cμn quét vùng Đông Nam Hoμi AÂn vμ Tây Phù
Mỹ, việc tăng cường đánh phá của địch gây không ít khó khăn cho ta trong việc chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công vμ nổi dậy Mặt trận Bình Định, đặc biệt lμ thị xã Qui Nhơn lμ một trong những điểm nổi dậy của Khu 5 trong mùa xuân 1968 Khu đã cử 2 đoμn cán bộ về Bình Định giúp Đảng bộ trong các công tác chuẩn bị Ban chỉ đạo mặt trận Bình Định được thμnh lập, chuẩn bị lực lượng đấu tranh chính trị vμ phân công lực lượng vũ trang theo các hướng tiến công Đảng bộ còn mở đợt chỉnh huấn trong Đảng, lực lượng vũ trang vμ quần chúng nhằm quán triệt tinh thần, chủ trương vμ Nghị quyết của Trung
ương Đảng, của Khu ủy, Tỉnh ủy về tiến công vμ nổi dậy trong Tết Mậu thân
đến từng xã trong vùng giải phóng
Đêm 30 rạng ngμy 31/1/1968, khắp miền Nam, quân dân ta tiến hμnh
đồng loạt cuộc tiến công vμ nổi dậy mùa Xuân năm Mậu Thân Do yếu tố bất ngờ, quân dân miền Nam đã giáng đòn mạnh vμo bộ máy chiến tranh của Mỹ Ngụy ở 64 thμnh phố, thị xã, huyện lỵ, chi khu quân sự Hμng trăm sân bay kho tμng, khu hậu cần dự trữ chiến lược của địch Hoμ cùng khí thế toμn miền
Nam, với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, quân dân Bình Định đã
đồng loạt tiến công vμ nổi dậy ở hầu hết các huyện lỵ, thị trấn, thị xã, sân bay, kho tμng, căn cứ xung yếu của địch trong tỉnh tại Qui Nhơn, 3h sáng ngμy 30/1/1968, các cánh quân của ta từ nhiều hướng đánh thốc vμo thị xã, chiếm lĩnh các vị trí quan trọng(dinh tỉnh trưởng, đμi phát thanh, ga xe lửa ) Trong
Trang 33thμnh phố, đồng bμo nổi dậy đốt pháo sáng trời lμm địch rối loạn ở các địa phương, các lực lượng vũ trang cùng lúc tiến công địch nhiều nơi (Tam Quan, Phù Cát, Hoμi An, Hoμi Nhơn, Tuy Phước ), phối hợp với công kích vũ trang, hμng vạn quần chúng ở các huyện xuống đường, bao vây quân lỵ, đấu tranh với Ngụy quyền, giμnh quyền lμm chủ (34:324 - 327)
Từ 30/1 - 29/2/1968, quân dân Bình Định đã loại khỏi vòng chiến đấu
4317 tên địch, bắn rơi vμ bắn hỏng 33 máy bay, 163 xe quân sự Tháng 8/1968
Bộ chính trị, Trung ương Đảng chủ trương tiến hμnh đợt 3 tổng công kích vμ nổi dậy Thực hiện chủ trương đó, lực lượng vũ trang tỉnh, tiểu đoμn đặc công
405 khu vμ tỉnh tiến công một loạt các cứ điểm của địch ở Quy Nhơn, Phước Sơn, An Nhơn, Hoμi Nhơn, Phù Mỹ Tính trong cả năm 1968, 3 thứ quân của Bình Định đã đánh 2313 trận, loại khỏi vòng chiến hơn 30000 tên địch, trong
đó diệt 42 đại đội, 76 trung đội, bắn rơi vμ phá huỷ 218 máy bay, 888 xe quân
sự của địch (29:166)
Tháng 11/1968 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII được tổ chức tại Vĩnh Thạnh Trên cơ sở đánh giá những ưu khuyết điểm của phong trμo vμ lãnh đạo của Đảng bộ, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Bình Định
lμ phải đẩy mạnh mọi mặt công tác, ra sức tăng cường xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt, coi trọng công tác xây dựng Đảng, tiếp tục tiến công
vμ nổi dậy đánh bại âm mưu vμ thủ đoạn của địch, cùng toμn khu, toμn miền Nam giμnh thắng lợi quyết định
Với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” vμ với tinh thần
“Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, trong 4 năm (1965-1968) quân dân Bình
Định dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã góp phần quan trọng cùng quân dân cả
nước lμm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” lμm đảo lộn thế chiến lược
của địch, lμm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vμo bμn đμm phán với ta ở Pari
***
Tóm lại, từ những năm 20 của thế kỷ XX, với truyền thống đấu tranh kiên cường, quật khởi, phong trμo ở Bình Định đã có những bước phát triển
Trang 34mới Dưới sự lãnh đạo kiên quyết của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng bộ địa phương, nhân dân Bình Định đã từng bước đã từng bước vượt qua khó khăn thử thách nổi dậy giμnh chính quyền về tay nhân dân vμo tháng 8/1945 Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Bình Định đã chiến đấu anh dũng, bảo vệ vμ giữ vững được Bình Định lμ tỉnh tự do, đồng thời hoμn thμnh xuất sắc nhiệm
vụ cụ thể xây dựng hậu phương chiến lược trực tiếp, cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến ở Liên Khu 5
Từ sau Hiệp định Gernever, Bình Định cùng với toμn miền Nam bước vμo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến cho đến tổng tấn công nổi dậy đồng loạt Xuân 1968, trải qua 14 năm kháng chiến chống Mỹ, quân dân Bình Định đã chiến đấu kiên cường, góp phần cùng nhân dân miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ Thắng lợi của quân dân Bình Định cho đến trước 1969 đã tạo
điều kiện tiền đề để nhân dân cả nước tiến lên giμnh thắng lợi hoμn toμn
Trang 352.1.1 Mỹ chuyển sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh để tiếp tục theo
đuổi cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở miền Nam Việt Nam
Trước thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, địch lâm vμo tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng về chiến lược, chiến thuật, khả năng huy
động tiềm lực chiến tranh của Mỹ cho Việt Nam, Đông Dương đang bị hạn chế vμ cả tinh thần của binh lính Mỹ, Ngụy đang sa sút nghiêm trọng
Trên thực tế, sau tổng tiến công Tết Mậu Thân, lực lượng của ta cũng tổn thất không nhỏ, ta bị mất trận địa nông thôn khiến không còn chỗ trụ bám
ở đô thị nữa Trong khi đó, lực lượng của địch đã phát triển hơn Tuy nhiên
địch cũng phải thừa nhận lực lượng của ta đang tăng lên vμ ta vẫn có thể bμnh
trướng vùng kiểm soát Chúng cho lμ: ”Sau khi đẩy lùi cộng sản có hiệu quả
ra khỏi đô thị vμ tiếp tục lμ giμnh lại nông thôn qua chiến dịch “Bình định đặc biệt”, để giμnh lại thế tiến công trên cả hai mặt bình định vμ tìm diệt, ngoμi ra
đã tăng cường phòng thủ đô thị, ngăn chặn xâm nhập của cộng sản cũng như lμm được công tác phát triển vμ tối tân hoá của quân đội” Mỹ đã tự kết luận:
“Mỹ không thể thắng bằng biện pháp quân sự với qui mô chiến tranh vμ thời gian kéo dμi như vừa qua, nhưng không thua về quân sự trước mắt Cộng sản không đủ khả năng thay đổi cục diện đột ngột thế chiến trường, cả hai bên đều mệt mỏi vμ cũng không thể thông qua thương lượng để chấm dứt chiến tranh
được ” (89: 175), thêm vμo đó, cuộc chiến tranh Việt Nam đang thua, vị trí
quốc tế của Mỹ suy yếu, nước Mỹ đang lâm vμo khủng hoảng tinh thần sâu sắc, xã hội Mỹ bị chia rẽ, phong trμo chống chiến tranh đang dâng cao, mặt
Trang 36khác, sức mạnh mọi mặt của hệ thống xã hội chủ nghĩa vμ phong trμo giải phóng dân tộc cũng đang phát triển nhanh chóng Trước tình hình đó, vừa
trúng cử vμo nhμ trắng (1/1969), Ních xơn đã đề ra “Học thuyết Ních Xơn” vμ chiến lược quân sự “ngăn đe thực tế” để thay cho chiến lược “phản ứng linh hoạt “ của Giôn Xơn đã bị phá sản Chiến lược quân sự mới nμy lμ một bước
lùi, hình thμnh trong thế yếu của Mỹ, nó chủ trương dùng sức mạnh hạt nhân
để giữ thế cân bằng vμ ngăn đe, tạm thời hoμ hoãn với Liên Xô, Trung Quốc nhằm tranh thủ khôi phục sức mạnh, đồng thời dùng chiến tranh thông thường
để đối phó với các cuộc chiến tranh giải phóng, nhưng lại nhấn mạnh nguyên tắc sử dụng tối đa các đạo quân tay sai ở các khu vực dựa vμo sự yểm trợ của
Mỹ, chủ yếu lμ yểm trợ về hoả lực vμ hậu cần nhằm mục tiêu tổng lực, duy trì vai trò lãnh đạo thế giới, duy trì cam kết với các lực lượng đồng minh vμ tay sai nhằm bảo vệ quyền lợi của Mỹ ở tất cả các khu vực trên thế giới, kể cả
Đông Nam á(31: 132)
Từ tinh thần vμ nội dung của “Học thuyết Ních Xơn”, Mỹ đề ra chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” cho cuộc chiến ở Việt Nam Theo báo cáo của Bộ Trưởng quốc phòng Mỹ Laird ngμy 15/12/1972 thì “Việt Nam hoá chiến tranh” lμ học thuyết Ních Xơn trong hμnh động (89: 177) Đây lμ sự
điều chỉnh chủ trương “Phi Mỹ hoá chiến tranh” của Giôn Xơn nhằm “dùng sức mạnh tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn về chính trị vμ ngoại giao rất xảo quyệt hòng giμnh thế mạnh, cô lập vμ bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta”(29: 172)
âm mưu cơ bản của Mỹ lμ vẫn bám giữ miền Nam Việt Nam, giảm bớt
sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ ở trên bộ nhưng phải giμnh thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng theo điều kiện của
Mỹ Thực chất chủ trương nμy lμ “dùng người Việt đánh lại người Việt” với vũ
khí, trang bị vμ chỉ huy của Mỹ, tập hợp liên minh phản động khu vực để cô lập vμ tiêu diệt cách mạng miền Nam, hay có thể nói một cách hoa mỹ như Bộ
Quốc phòng Sμi Gòn lμ: “San xẻ trách nhiệm nếu không nói lμ trao lại gánh
Trang 37nặng chiến tranh cho nhân dân Việt Nam Dμnh lại cho Việt Nam Cộng Hòa quyền điều khiển chiến tranh, chủ trì về chiến lược, chiến thuật ” (95:2)
“Việt Nam hoá chiến tranh” cũng lμ một hình thức của chiến tranh xâm
lược kiểu thực dân mới của Mỹ, thông qua một chính quyền tay sai bản xứ để che đậy bộ mặt xâm lược, cướp bóc bỉ ổi Nhưng thật nực cười, chính cái gọi
lμ “ Việt Nam hoá chiến tranh” lại phơi bμy bộ mặt thật của đế quốc Mỹ vμ
chính quyền tay sai, chính điều nμy cũng đã lμm cho tổng thống Ngụy quyền
Sμi Gòn lo lắng trước dư luận trong nước vμ thế giới :”phi Mỹ hoá chiến tranh” hay “ Việt Nam hoá chiến tranh” có nghĩa lμ từ trước tới nay, cuộc chiến tranh ở Việt Nam lμ do người Mỹ gây ra vμ tiến hμnh, đến nay đã thua nên lại sử dụng nhân dân miền Nam đánh giặc cho họ ” (94:1-3)
Để tiến hμnh “Việt Nam hoá chiến tranh” đế quốc Mỹ âm mưu từng bước chuyển giao trách nhiệm cho Ngụy, tiếp tục cuộc chiến, dùng “người Việt đánh người Việt”, tháo gỡ vai trò trực tiếp của Mỹ, trên cơ sở đó hướng
cuộc chiến tranh phát triển dưới dạng một cuộc nội chiến, vμ trách nhiệm Của
Mỹ lμ viện trợ quân sự, kinh tế vμ chỉ đạo thông qua hệ thống cố vấn vμ toμ
đại sứ
Mục tiêu của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” vẫn lμ thôn tính
cho được Nam Việt Nam, khống chế Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ, bất chấp kết quả của cuộc hội đμm ở Paris ra sao Những nhân tố cơ bản quyết
định cho sự thμnh công của “ Việt Nam hoá chiến tranh” lμ :
1 Xây dựng một quân đội Ngụy hùng mạnh, vừa đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang của ta kể cả lực lượng chính quyền miền Bắc vμo, vừa đủ sức lμm nòng cốt cho các lực lượng vμ tay sai của Mỹ ở Đông Nam á
2 Bình Định cho được nông thôn, kiểm soát được đại bộ phận đất đai vμ
dân số, coi đây lμ chìa khoá quyết định sự sống còn của “ Việt Nam hoá chiến tranh”
Trang 383 Ra sức củng cố hệ thống Ngụy quyền các cấp vững mạnh kết hợp ổn
định tình hình kinh tế, chính trị trong nội địa Nam Việt Nam
4 Thực hiện cuộc “chiến tranh bóp nghẹt”, xoá bμn đạp chiến lược của
ta ở Campuchia, chặn hμnh lang tiếp viện dọc Trường Sơn, phong toả biển, áp dụng chiến lược ngoại giao xảo quyệt kiềm chế Trung Quốc, Liên Xô nhằm hạn chế viện trợ cho ta
Để thực hiện chiến lược nμy, chính quyền Mỹ đã huy động sức mạnh to lớn về vật chất vμ kỹ thuật của nước Mỹ để tiến hμnh cùng một lúc 3 loại chiến tranh: chiến tranh giμnh dân, chiến tranh ngăn chặn vμ bóp nghẹt, chiến tranh huỷ diệt nhằm bình định cho được miền Nam Việt Nam Để thực hiện được âm
mưu trên đồng thời Mỹ đã vạch một kế hoạch chiến lược hoμn chỉnh : “Việt Nam hoá chiến tranh” sẽ được triển khai theo 3 giai đoạn :
- Giai đoạn I : (dự kiến đến 30/6/1972) : chuyển giao nhiệm vụ chiến
đấu trên bộ cho quân Ngụy, rút lính đánh bộ Mỹ về nước, đồng thời lμm suy yếu ta thông qua chương trình bình định
- Giai đoạn II : sẽ chuyển giao nhiệm vụ hoạt động trên không cho quân Ngụy, phát triển lực lượng Ngụy đủ sức đương đầu với ta dưới mọi hình thức vμ quy mô tác chiến, giữ được Nam Việt Nam vμ Đông Dương
- Giai đoạn III : Hoμn thμnh “ Việt Nam hoá chiến tranh”, ta hoμn toμn
suy yếu, chiến tranh tμn lụi
Trong 3 giai đoạn nμy, địch nhấn mạnh giai đoạn I (từ 1969 đến 6/1972)
lμ giai đoạn quyết định nhất cho sự thμnh công hay thất bại của “ Việt nam hoá chiến tranh” (89:178)
âm mưu chủ trương vμ kế hoạch chiến lược cụ thể đề ra cho “Việt Nam
hoá chiến tranh” đã phản ánh thực chất mục tiêu của chiến trận Ních Xơn đối với “Vấn đề Việt Nam” “Việt Nam hoá chiến tranh“ không phải lμ để rút khỏi
chiến tranh, bỏ rơi Ngụy để tìm một lối thoát gọn gμng cho Mỹ, mμ trái lại, lμ tiếp tục tìm kiếm một thắng lợi, tiếp tục bám giữ mục tiêu khống chế miền
Trang 39Nam Việt Nam thông qua biện pháp chiến tranh, song song với việc rút quân
Mỹ vμ giảm bớt chi phí chiến tranh, lμ bμnh trướng vμ tối tân hoá quân Ngụy, tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế, tiếp tục chỉ đạo cuộc chiến cho đến thắng
lợi âm mưu vμ kế hoạch của “Việt Nam hoá chiến tranh” phản ánh tư tưởng
cực kỳ chủ quan của một thế lực xâm lược có nhiều tiềm lực
2.1.2 Địch triển khai chương trình Việt Nam hóa chiến tranh trên chiến trường Bình Định
Triển khai Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Trung, Bình Định vẫn tiếp tục lμ một trọng điểm đánh phá khốc liệt của Mỹ, Ngụy Từ tháng 11/1968,
địch lấy một số xã ở vùng giải phóng Bắc tỉnh (ân Thạnh, Hoμi Mỹ, Mỹ Tμi)
lμm nơi thí điểm kế hoạch “bình định cấp tốc” Đầu năm 1969, chúng lại đưa
ra kế hoạch “bình định vμ xây dựng 1969” với mục tiêu: phải nắm thế chủ
động phản công quân sự vμ kiểm soát được tối thiểu 80% dân chúng miền
Nam (6:1-2) Tại Bình Định, kế hoạch “bình định vμ xây dựng 1969” được
triển khai cụ thể với mục tiêu lμ phải kiểm soát được 616 ấp/659 ấp trong toμn tỉnh, trong đó bình định vμ xây dựng trọng điểm lμ 182 ấp, củng cố 104 ấp vùng tranh chấp, nuôi dưỡng vμ phát triển 330 ấp vùng chúng kiểm soát (71:1-2), giμnh lại 160000 dân vùng giải phóng vμ lμm chủ của ta Tháng 4/1969, tên đại tá Nguyễn Mộng Hùng được điều từ đồng bằng sông Cửu Long về lμm tỉnh trưởng kiêm chi huy trưởng tiểu khu Bình Định Để thực hiện kế hoạch nμy, Mỹ Ngụy đã huy động lực lượng lμ hơn 97000 tên, quân chủ lực có lữ
đoμn dù 173 Mỹ, 2 trung đoμn của sư đoμn mãnh hổ Nam Triều Tiên, 2 trung
đoμn 40 vμ 41 thuộc sư đoμn 22 Ngụy, 73 đại đội quân địa phương vμ phụ quân, 6 trung đội bảo an, thám báo vμ cảnh sát dã chiến, 354 trung đội dân vệ
vμ thanh niên chiến đấu, 60 đoμn “Bình Định”, 104 đoμn cán bộ xây dựng nông thôn Ngoμi ra còn có 2 tiểu đoμn thuộc sư đoμn 4 Mỹ từ Gia Lai xuống,
1 trung đoμn của sư đoμn Bạch Mã Nam Triều Tiên từ Phú Yên ra (29:173) Với lực lượng quân Mỹ Ngụy vμ chư hầu lớn, địch ra sức phòng thủ ở thị xã, hậu cứ, giải toả vùng ven, các đường giao thông chiến lược số 1,số
Trang 4019, liên tục mở những cuộc hμnh quân chμ xát, mở chiến dịch xúc tác dân trên qui mô lớn, dồn dân ở vùng giáp ranh xuống vùng ven thị xã, thị trấn, đẩy mạnh chiến dịch “phụng hoμng “, thực hiện kế hoạch “đoμn ngũ hoá “, thiết lập những khu dồn dân hμng vạn người, dùng thủ đoạn tμn ác, xảo quyệt, đưa bọn ác ôn nắm giữ bộ máy kìm kẹp ở thôn, xã, truy tróc cơ sở cách mạng Còn
ở miền núi, địch tăng cường phi pháo, rải chất độc hoá học kết hợp với những cuộc hμnh quân “tìm diệt” sâu vμo vùng căn cứ của ta (Kim Sơn, An Lão Vĩnh Thạnh) nhằm tiêu diệt chủ lực vμ cơ quan lãnh đạo của tỉnh, chúng còn tích cực đánh phá ở vùng giáp ranh để ngăn chặn cửa khẩu, phá hoại sản xuất, bao vây phong toả kinh tế của ta Chúng cố gắng tạo nên sự tương phản giữa hai vùng: một bên lμ chết chóc, bom đạn, đói khổ, một bên lμ yên tĩnh, no đủ, nhằm mua chuộc, lừa bịp nhân dân tiến tới tiêu diệt hoμn toμn phong trμo cách mạng trong tỉnh Địch đã gây ra nhiều vụ khủng bố điển hình ở Mỹ Lộc, Tân Phụng, Cát Hanh, Hoμi Mỹ, Hoμi Thanh, AÂn Thạnh Đích thân Nguyễn Văn Thiệu vμ tướng Ngô Du ra tận Bồng Sơn, Tam Quan để đôn đốc binh lính vμ xây dựng ở đây 92 chốt điểm (34:345)
Sang năm 1970, kế hoạch “bình định vμ xây dựng” được đẩy mạnh lên
một bước nhằm mục tiêu đưa được 90% dân chúng miền Nam sống trong vùng A B (ấp đạt loại A, B), cải tiến chỉ đạo tổ chức vμ phương pháp của các
uỷ ban Phụng hoμng nhằm tiêu diệt cơ sở hạ tầng của cách mạng, đẩy mạnh các chương trình như phát triển kinh tế ở địa phương, thông tin giáo dục, chiêu hồi, nhân dân tự vệ, củng cố bộ máy hμnh chính địa phương, (7:1-6), bộ quốc phòng Ngụy quyền Sμi Gòn còn đặt ra các công tác chính yếu trong 2 năm
1970 vμ 1971 nhằm mục tiêu mở rộng vμ giữ vững vùng kiểm soát, tiêu diệt các lực lượng vμ căn cứ cộng sản, cải tiến quân lực Việt Nam cộng hoμ để có thể sẵn sμng thay thế các đơn vị quân đồng minh (97:1,2) Đối với Mỹ_ Ngụy,
hai năm 1970_1971 lμ thời đoạn có ý nghĩa quyết định đối với “Việt Nam hoá chiến tranh”, đây lμ giai đoạn chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho
quân Ngụy, rút quân chiến đấu trên bộ của Mỹ vμ kiểm soát hầu hết những
vùng đông dân bằng các kế hoạch “Bình Định nông thôn” Trong năm 1970,