1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

58 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 792,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tốt nghiệp với đề tài Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Đề tài luận văn có dung lượng 58 trang, trình bày khái quát các vấn đề lí luận pháp lý và qui định pháp luật dân sự Việt Nam về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do lựa chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 6

4 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG 8

1.1 Khái niệm hợp đồng 8

1.2 Khái niệm hiệu lực của hợp đồng 9

1.3 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 11

1.4 Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 13

1.4.1 Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên 13

1.4.2 Phân loại hợp đồng 14

1.4.3 Căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba 15 1.4.4 Căn cứ để tòa án xác định thời điểm vi phạm hợp đồng nếu có phát sinh tranh chấp 17

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG 18

Trang 2

2

2.1 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết hợp đồng

19

2.2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định theo thỏa thuận 25

2.3 Thời điểm có hiệu lực là thời điểm do luật liên quan quy định 26

2.3.1 Trường hợp hợp đồng phải được lập thành văn bản 28

2.3.2 Trường hợp hợp đồng phải được công chứng, chứng thực 31

2.3.3 Trường hợp hợp đồng phải thực hiện đăng ký 37

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG 41

3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể 41

3.1.1 Một số nhận xét chung 41

3.1.2 Một số vụ việc phát sinh bất cập do quy định pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 41

3.2 Một số kiến nghị về cách xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhằm hạn chế các bất cập phát sinh 47

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung quy định tại điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm giao kết hợp đồng 47

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung quy định tại điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 51

KẾT LUẬN 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 3

Lẽ dĩ nhiên, không phải lúc nào các bên trong hợp đồng cũng tuân thủ đầy đủ, chính xác các nghĩa vụ trong hợp đồng Khi có tranh chấp xảy ra, thì vấn đề hiệu lực của hợp đồng nói chung, vấn đề thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nói riêng trở nên đặc biệt quan trọng Nếu không xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì sẽ không có cơ sở để xác định được thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan

Trong thực tiễn giao dịch dân sự, đã xuất hiện một số trường hợp các bên vi phạm hợp đồng do không xác định được thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng nên họ không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ các nghĩa vụ của mình Do đó, câu hỏi đặt ra là để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và để thực hiện có hiệu quả các giao dịch dân sự nói chung và các hợp đồng dân sự nói riêng thì đòi hỏi các bên trong hợp đồng cần phải biết các kiến thức cơ bản về hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào các hợp đồng dân sự Bên cạnh, những hiểu biết về nội dung, hình thức, v.v… thì hiểu biết về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng

là một nội dung rất quan trọng để đảm bảo lợi ích của các bên trong khi thực hiện các giao dịch dân sự

Trong hợp đồng dân sự, thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là yếu tố pháp

lý rất quan trọng để xác định thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, bởi vì từ khi hợp đồng có hiệu lực thì các quyền và nghĩa vụ của các bên mới phát sinh và hợp đồng

Trang 4

“Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định pháp luật Việt Nam” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Luật Chất lượng cao của Trường Đại học Luật Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiệu lực của hợp đồng nói chung và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không còn là một chủ đề mới trong nghiên cứu pháp luật dân sự Tất cả các giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận về pháp luật dân sự Việt Nam đều có đề cập đến nội dung về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Tuy nhiên, riêng về vấn đề thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hiện vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học mang tính chuyên sâu tập trung vào vấn đề này

Có thể kể ra một số nghiên cứu về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, như

“Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự” của tác giả Đinh Văn Thanh, đăng trên Tạp chí Luật học số chuyên đề về BLDS năm 1996; “Về hình thức

và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” của tác giả Đoàn Đức Lương, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 3/2015; “Bàn về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định

Trang 5

5

của Bộ luật Dân sự năm 2015” của tác giả Phạm Văn Lợi, đăng trên Tạp chí Nghề luật số 06 năm 2018; “Kiến nghị hoàn thiện quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” của tác giả Nguyễn Văn Hợi và Nguyễn Tống Bảo Minh, đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2022

Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cụ thể, có những bài viết như: “Bàn về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” của tác giả Trần Thị Huệ, Trần Thị Giang, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 7/2013;

“Những bất cập trong quy định về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

về quyền sử dụng đất” của tác giả Đoàn Đức Lương, Nguyễn Thị Hồng Trinh, đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 19/2019; “Bàn về tài sản thế chấp và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp” của tác giả Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 8/2020; “Hoàn thiện pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở” của tác giả Lâm Tố Trang, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

số 6/2021

Nhìn chung, đây đều là những công trình nghiên cứu rất chuyên sâu, được thực hiện công phu bởi các nhà khoa học có uy tín trong ngành luật ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở mức bài báo khoa học trên tạp chí khoa học ngành luật, bị giới hạn dung lượng theo quy định của tạp chí chuyên ngành, nên mới chỉ là những “lát cắt” nhỏ nghiên cứu về vấn đề hiệu lực của hợp đồng Mặt khác, có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trước năm 2015, nên chưa cập nhật những quy định hiện hành của BLDS 2015 và các luật có liên quan

Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp, trên cơ sở những nghiên cứu đã có, tác giả

sẽ làm rõ hơn, và cập nhật hơn những quy định của BLDS 2015 và pháp luật có liên quan, để có thêm những đóng góp khoa học mới cho đề tài

Trang 6

6

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm hiểu xem những quy định của pháp luật hiện nay có quy định như thế nào về vấn đề này Từ đó, tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng những quy định của pháp luật vào thực tiễn và đánh giá thực trạng các tranh chấp về hợp đồng dân sự có liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hiện nay Để qua đó, tìm ra các giải pháp khắc phục và hạn chế vấn đề này

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình làm luận văn, để hoàn thành luận văn với hình thức, nội dung phù hợp với đề tài nghiên cứu thì việc sử dụng đúng phương pháp nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở khoa học pháp lý và những nội dung lý luận về luật học nên tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu:

- Phân tích luật viết nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành Bởi vì muốn hiểu pháp luật quy định như thế nào về vấn đề nào đó thì ta cần phải phân tích từng câu từng chữ, cũng như tổng hợp các quy định liên quan cùng điều chỉnh lĩnh vực mà chúng ta nghiên cứu thì mới hiểu được tinh thần của luật

Trang 7

7

- Phương pháp so sánh đối chiếu, tổng hợp thống kê, vận dụng các tài liệu của các nhà nghiên cứu luật học của các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm bổ sung những kiến thức về mặt lý luận, thực tiễn áp dụng pháp luật Từ đó tìm ra những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật ở lĩnh vực mình nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật viết khác

để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, đề tài khóa luận tốt nghiệp được kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lí luận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Chương 2 Quy định của pháp luật Việt Nam về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Chương 3 Thực tiễn thi hành và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Trang 8

8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

1.1 Khái niệm hợp đồng

Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt, theo đó mỗi người chỉ có thể đảm nhận một mảng nhỏ các công việc trong xã hội, trong khi nhu cầu của mỗi người về vật chất, tinh thần ngày càng tăng Do đó, nhằm đáp ứng nhu cầu của mình thì việc các bên thiết lập các giao dịch trao đổi các lợi ích vật chất, tinh thần cho nhau là một tất yếu đối với đời sống xã hội Trong các giao dịch đó thì không thể thiếu các hợp đồng dân sự, nếu xét ở góc độ cơ sở hình thành thì hợp đồng dân sự được hình thành từ hai cơ sở sau đây:

- Cơ sở khách quan: Với sự phát triển của xã hội hiện nay, để thỏa mãn nhu cầu của mình đòi hỏi các chủ thể phải có sự trao đổi với nhau hay còn gọi là có các hợp đồng để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân Và các giao dịch nói chung, hợp đồng dân sự nói riêng là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

- Cơ sở chủ quan: Tham gia các hợp đồng dân sự là nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu của mình cho nên việc các chủ thể tham gia vào các hợp đồng dân sự đều xuất phát từ ý chí đích thực của chủ thể đó

Nhà tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản Karl Marx đã viết: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người

mà ý chí nằm trong các vật đó”1 Còn theo định nghĩa tại điều 1, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua

1 Các Mác, Tư Bản, Quyển 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.163

Trang 9

9

bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch

vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dung” Còn theo điều 388 Bộ Luật Dân sự 2005, thì hợp đồng dân sự được định nghĩa một cách khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, trong lưu thông dân sự việc chuyển giao các quyền tài sản giữa người này với người khác không phải tự nhiên được hình thành mà phải thông qua những thỏa thuận nào đó của các bên

Còn theo điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 (hiện hành): “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận thì việc chuyển giao tài sản hoặc làm hay không làm một việc nào đó sẽ không được thực hiện Khi các bên phải chuyển giao tài sản hoặc làm hay không làm một việc nào đó thì giữa họ phải có sự thống nhất ý chí vì sự thống nhất ý chí của các chủ thể khi tham giao vào các giao dịch dân sự cũng được xem như là sự tự nguyện của các chủ thể Tuy nhiên, ý chí của các chủ thể cũng cần phải phù hợp với ý chí chung của nhà nước và pháp luật Tóm lại, theo quy định của pháp luật hiện hành thì khái niệm hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia, hoặc không được làm một việc nào đó mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự

1.2 Khái niệm hiệu lực của hợp đồng

Hiệu lực của hợp đồng đối với sự tồn tại của hợp đồng có thể được ví giống như

là “hơi thở” đối với sự sống của con người Nếu một hợp đồng không có hiệu lực cũng đồng nghĩa là giữa các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng

Trang 10

10

Nhưng việc đưa ra một định nghĩa chính xác về hiệu lực của hợp đồng là như thế nào là một điều không hề dễ dàng Trong từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có giải thích khái niệm hiệu lực của hợp đồng dân sự như sau: “Hiệu lực của hợp đồng

là giá trị bắt buộc thi hành đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng”2 Tuy ngắn gọn, nhưng định nghĩa này cũng phản ánh được phần nào bản chất của khái niệm hiệu lực của hợp đồng Trên phương diện giải thích thuật ngữ cũng đã đưa ra khái niệm hiệu lực của hợp đồng với dấu hiệu đặc trưng cơ bản của nó là giá trị ràng buộc các bên, buộc các bên phải thi hành nghiêm túc hợp đồng một khi hợp đồng phát sinh hiệu lực

Còn theo điều 1134, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp cũng có quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên, chỉ có thể bị hủy bỏ trên cơ sở có thỏa thuận chung, hoặc theo những căn cứ do pháp luật quy định và phải được thực hiện một cách thiện chí” Theo quy định này, một khi hợp đồng có hiệu lực thì nó có giá trị là luật đối với các bên, được pháp luật tôn trọng bảo vệ và các bên buộc phải tuân thủ thực hiện hợp đồng một cách nghiêm túc, có thiện chí Các bên không được hủy hợp đồng nếu không có sự thỏa thuận của tất cả các bên khác trong hợp đồng hoặc có các căn cứ được phép hủy do pháp luật quy định Các BLDS của Việt Nam ban hành vào năm 1995, 2005, và 2015 đều không đưa ra định nghĩa về hiệu lực của hợp đồng Điều 401 của BLDS 2015 (kế thừa điều

405 BLDS 2005) chỉ quy định khái quát “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác” Theo tác giả, quy định này chưa thể hiện được bản chất của khái niệm hiệu lực của hợp đồng là giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên, mà chủ yếu

nó chỉ xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng Trước đây, tại điều 4 BLDS 2005 có quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận: “cam

2 Đinh Văn Thanh & Phạm Công Lạc, Thuật ngữ Luật Dân sự, trong bộ Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999 tr 65

Trang 11

11

kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được

cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” Nhưng khi xây dựng BLDS 2015, nhà làm luật đã không còn giữ lại nội dung này trong phần nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Trên cơ sở nhận thức bản chất pháp lý của khái niệm “hiệu lực của hợp đồng”,

có thể định nghĩa: Hiệu lực của hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào hợp đồng

Giá trị pháp lý của hợp đồng đã phát sinh hiệu lực sẽ ràng buộc các bên tham gia hợp đồng phải tôn trọng, phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng

Một hợp đồng đã có hiệu lực thì có giá trị pháp lý để ràng buộc các bên, buộc các bên phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các cam kết các thỏa thuận trong hợp đồng Thậm chí, hợp đồng còn được xem như một nguồn của pháp luật, là cơ sở để buộc các bên trong hợp đồng thi hành nghĩa vụ của mình, tương tự như những quy định của pháp luật thành văn3

1.3 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Theo cách hiểu thông thường trong tiếng Việt, thì “thời điểm” được coi như một điểm mốc cụ thể trên dòng thời gian Nếu biểu diễn dòng thời gian là một đường thẳng, thì thời điểm chỉ là một điểm trên đường thẳng đó

Về từ “hiệu lực”, nếu giải nghĩa theo chiết tự thì “hiệu” là có công dụng, “lực”

là sức Hiểu theo nghĩa thông thường, hiệu lực là tác động tốt, công dụng tốt Trong bối cảnh pháp lý, từ “hiệu lực” thường gắn với giá trị pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật hay của hợp đồng

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2020, tr.304

Trang 12

12

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xét về mặt thời gian là thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực về mặt pháp lý, có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên Trong các BLDS của Việt Nam đã ban hành vào các năm 1995, 2005, và BLDS 2015 hiện hành không nêu định nghĩa hay khái niệm “thời điểm có hiệu lực của hợp đồng”,

mà chỉ quy định gián tiếp như tại điều 401 BLDS 2015

Tuy nhiên, như PGS-TS Ngô Huy Cương đã nhận định: “thường thì khi nói tới hiệu lực của hợp đồng, chủ yếu người ta thường nói tới thời điểm có hiệu lực của hợp đồng”4 Nghĩa là khi nhắc tới hiệu lực của hợp đồng thì người ta thường nói đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng (thời điểm mà hợp đồng bắt đầu phát sinh hiệu lực), ý kiến này có phần hợp lý bởi vì hiệu lực của hợp đồng chỉ bắt đầu được tình

từ thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực

Mặc dù quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa nào

cụ thể về thời điểm hiệu lực của hợp đồng là gì, nhưng ta cũng có thể hiểu thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm mà hợp đồng phát sinh hiệu lực và kể từ thời điểm đó thì các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mới phát sinh Và trong khoảng thời gian hợp đồng có hiệu lực thì thời điểm phát sinh hiệu lực là một yếu tố pháp lý rất quan trọng để xác định hiệu lực của hợp đồng Nó là mốc bắt đầu, đầu tiên nhất để tính khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng và bắt đầu từ thời điểm có hiệu lực thì hợp đồng mới thực sự phát sinh ý nghĩa của nó đối với các bên giao kết Nói tóm lại, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bắt đầu có sự ràng buộc pháp lý giữa các bên trong hợp đồng, là thời điểm làm phát sinh các quyền

và nghĩa vụ của các bên Kể từ thời điểm đó các bên không được đơn phương thay đổi hoặc rút lại các cam kết trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng

4 Ngô Huy Cương, Khái niệm hiệu lực của nghĩa vụ và vấn đề thực hiện nghĩa vụ, Nxb Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2008, tr 37

Trang 13

13

1.4 Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

1.4.1 Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng là ngoài việc phân loại hợp đồng như trên thì việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng còn có ý nghĩa là xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Khi hợp đồng đã có hiệu lực thì các bên trong hợp đồng không được tự ý thay đổi nội dung, rút lại, hoặc hủy bỏ các cam kết trong hợp đồng Bởi vì

từ khi hợp đồng có hiệu lực thì nó đã được phát luật bảo vệ và kể từ đó nó phát sinh các nghĩa vụ ràng buộc các bên trong hợp đồng Cụ thể bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho mình và bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu như các bên không thực hiện đúng các cam kết như đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tự ý thay đổi nội dung, rút lại hoặc hủy bỏ các cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng… mà không có sự đồng ý của bên kia hoặc pháp luật không cho phép thì sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự trước bên có quyền và có thể phải bồi thường thiệt hại nếu như có thiệt hại phát sinh Như vậy, ta có thể nói việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Việc xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cũng góp phần quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng của các bên Khi hợp đồng có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các bên bắt đầu phát sinh, các bên sẽ thực hiện hợp đồng bằng việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mà không có thể tự ý thay đổi nội dung, rút lại hoặc hủy bỏ hợp đồng mà không có căn cứ hợp pháp Cho nên việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sẽ giúp các bên trong hợp đồng thực hiện hợp đồng đúng lúc, đúng thời điểm tránh trường hợp chậm trễ thực hiện hợp đồng, gây ra các tranh chấp không cần thiết

Trang 14

14

1.4.2 Phân loại hợp đồng

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là cơ sở quan trọng để phân loại hợp đồng Dựa vào hiệu lực của hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, thời điểm hợp đồng bắt đầu phát sinh hiệu lực thì hợp đồng được phân thành hai loại đó là (i) hợp đồng ưng thuận và (ii) hợp đồng thực tế

Hợp đồng ưng thuận là những hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thỏa thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng Có thể hiểu thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ưng thuận là thời điểm giao kết Như vậy, hợp đồng ưng thuận là hợp đồng được giao kết chỉ do sự gặp gỡ của ý chí của các bên mà không cần xúc tiến bất kỳ thủ tục nào, bởi vì hợp đồng được giao kết do sự gặp gỡ ý chí của các bên nên thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên là thời điểm sau khi các bên thỏa thuận xong nội dung chủ yếu của hợp đồng Nghĩa là, trong trường hợp này thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng sẽ là thời điểm các bên thỏa thuận xong các nội dung chủ yếu của hợp đồng

Ví dụ: A và B giao kết hợp đồng mua bán 1 tấn cam thì khi A và B thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng như: giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao hàng… thì lúc này xem như hợp đồng đã được giao kết mặc dù hàng vẫn chưa được giao

Hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng Nói cách khác, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thực tế xảy ra sau thời điểm giao kết hợp đồng Hợp đồng thực tế là hợp đồng không chỉ từ sự gặp gỡ ý chí của các bên mà còn từ việc giao vật, đối tượng của hợp đồng, v.v Thời điểm phát sinh hiệu lực của loại hợp đồng này là thời điểm chuyển giao đối tượng của hợp đồng giữa các bên trong hợp đồng với nhau Nghĩa là thời điểm có hiệu lực của dạng hợp đồng thực

tế này là thời điểm chuyển giao vật, từ lúc vật được chuyển giao thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực

Trang 15

15

Ví dụ: Hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản…các loại hợp đồng này đều là hợp đồng thực tế vì kể từ khi vật được chuyển giao như cầm cố thì tài sản cầm cố phải được giao cho bên nhận cầm cố, gửi giữ tài sản thì tài sản gửi phải được giao cho bên nhận gửi, cho mượn tài sản thì tài sản phải được giao cho bên mượn… kể từ lúc vật được giao thì hợp đồng lúc này mới phát sinh hiệu lực

1.4.3 Căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba

Trong một số trường hợp, hợp đồng không phát sinh hiệu lực khi có được sự gặp gỡ ý chí giữa các bên trong thỏa thuận, mà còn căn cứ vào những quy định của pháp luật Chỉ khi hoàn thành những thủ tục do luật định, thì hợp đồng mới có hiệu lực Ngoài việc giao kết hợp đồng các bên cần phải lập hợp đồng dưới một hình thức nhất định (lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký) Một số học giả gọi đây là những hợp đồng trọng thức (coi trọng yếu tố hình thức hợp đồng): Hợp đồng trọng thức cũng chia ra nhiều trường hợp, một số hợp đồng trọng thức luật chỉ buộc phải lập thành văn bản không cần công chứng, chứng thực vẫn phát sinh hiệu lực Còn một số loại hợp đồng trọng thức khác thì luật buộc các bên ngoài việc lập thành văn bản còn phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì mới phát sinh hiệu lực

Ví dụ: Theo khoản 1, điều 22 của Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: “Hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc theo yêu cầu thì có hiệu lực từ thời điểm được công chứng, chứng thực” Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng buộc phải đăng ký, xin phép, công chứng, chứng thực là thời điểm hợp đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký (nếu như các bên không có thỏa thuận khác) Việc xác định đúng thời điểm có hiệu lực của

Trang 16

16

dạng hợp đồng này không chỉ là căn cứ ràng buộc nghĩa vụ đối với các bên mà còn

có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba

Ví dụ: A có quyền sử dụng một mảnh đất nhưng do mắc nợ B nên A đã thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho B Một thời gian sau A vẫn chưa trả được nợ cho B nhưng lại có ý định bán mảnh đất đã thế chấp đó cho C Nếu như, không có quy định

về thời điểm có hiệu lực đối với người thứ ba của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là thời điểm đăng ký thế chấp, thì lúc này A sẽ có thể bán đất của mình cho C một cách hợp pháp Từ đó có ta có thể thấy, nếu như không đăng ký việc thế chấp thì quyền lợi của B sẽ không được bảo đảm trong trường hợp nếu A giao kết hợp đồng mua với C Cho nên, việc quy định thời điểm có hiệu lực của một số hợp đồng trọng thức như thế này sẽ góp một phần lớn để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba Nói chung, hợp đồng cơ bản không đem lại lợi ích cũng như gây thiệt hại cho người thứ ba trừ một số trường hợp là các giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như: thế chấp, cầm cố, hay hợp đồng giao kết vì lợi ích của người thứ ba… Ngoài các trường hợp như ví dụ ở trên, cũng có một số loại hợp đồng mà thời điểm

có hiệu lực của nó cũng có ảnh hưởng đến lợi ích của người thứ ba

Ví dụ: Người thừa kế theo pháp luật, người sẽ tiếp nhận toàn bộ khối di sản của người giao kết hợp đồng (trừ trường hợp hợp đồng gắng với nhân thân người giao kết trước khi người đó chết) Trong trường hợp này việc giao kết hợp đồng của người

để lại di sản thừa kế trước khi người này chết sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người nhận thừa kế Bởi vì nếu người để lại thừa kế giao kết một hợp đồng mà hợp đồng đó sinh lãi thì người nhận thừa kế sẽ được hưởng còn nếu hợp đồng đó lỗ thì người nhận thừa kế sẽ phải dùng chính di sản mà mình được thừa kế để thanh toán nghĩa vụ của người để lại di sản Trường hợp này hợp đồng của người để lại di sản thừa kế sẽ ảnh hưởng đến người thứ ba đó là người nhận thừa kế di sản

Trang 17

Như vậy, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực trở về sau mà các bên không tuân thủ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng, thì lúc này nếu có tranh chấp phát sinh thì tòa án hay các cơ quan tài phán đã có thẩm quyền giải quyết Tùy từng trường hợp mà cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh

Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng Nó sẽ góp phần xác định được hợp đồng có vi phạm từ khi nào, bởi vì nếu như hợp đồng chưa có hiệu lực mà có tranh chấp thì sẽ không được pháp luật công nhận, giải quyết, chỉ khi nào hợp đồng phát sinh hiệu lực thì nó mới là căn cứ hợp pháp để pháp luật giải quyết (nếu các bên hoặc một trong các bên có đơn yêu cầu tòa án giải quyết)

Do đó, pháp luật chỉ có thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng nếu như nó đã thỏa đầy đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực và thời điểm để Tòa án hay trọng tài thương mại có căn cứ giải quyết tranh chấp là sau khi hợp đồng phát sinh hiệu lực Nghĩa là kể từ thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực thì Tòa án hay trọng tài thương mại mới có căn cứ giải quyết các tranh chấp của hợp đồng nếu như có tranh chấp phát sinh Vì thế, ta nói thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là căn

cứ để tòa án hoặc trọng tài thương mại xác định thời điểm vi phạm hợp đồng

Trang 18

“Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”

Riêng về vấn đề hiệu lực của hợp đồng, điều 401 BLDS 2015 quy định:

“Điều 401 Hiệu lực của hợp đồng

1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác

2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa

vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”

Như vậy, về mặt logic, khi nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là của BLDS 2015 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, sẽ có ba trường hợp

cụ thể, đó là: (i) thời điểm có hiệu lực là thời điểm giao kết hợp đồng; (ii) thời điểm

5 Theo điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Trang 19

vụ dân sự trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc và quy định của pháp luật cho từng giao kết hợp đồng cụ thể Một hình ảnh trực quan nhất về giao kết hợp đồng, chính là việc hai bên cùng kí vào bản hợp đồng và trao cho nhau những bản sao hợp đồng với chữ

kí của mỗi bên Giao kết hợp đồng cũng có thể được thực hiện bằng hành động (bắt tay), hay lời nói

Kể từ thời điểm được giao kết, hợp đồng chính thức được hình thành, không còn là những dự thảo hay nội dung đàm phán, thương lượng nữa Và cũng về nguyên tắc, nếu như hai bên không có thỏa thuận khác, và pháp luật liên quan không có quy định khác, thì thời điểm hợp đồng được giao kết cũng là thời điểm hợp đồng có hiệu lực

Kế thừa các quy định trong các BLDS trước đây, điều 400 BLDS 2015 quy định:

“Điều 400 Thời điểm giao kết hợp đồng

1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết

2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó

3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận

về nội dung của hợp đồng

Trang 20

Như vậy, về mặt nguyên tắc, thời điểm hợp đồng được giao kết là thời điểm bên

đề nghị nhận được chấp nhận giao kết Theo mô hình giao kết hợp đồng hai giai đoạn, thì một bên sẽ đưa ra đề nghị (offer) và một bên sẽ cân nhắc để đưa ra một sự chấp nhận (accept) Nếu như bên được đề nghị lại đưa ra một sửa đổi, bổ sung cho nội dung hợp đồng, thì đó sẽ được xem như một đề nghị mới, và vai trò bên đề nghị

- bên được đề nghị sẽ thay đổi Hợp đồng được giao kết khi bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ các đề nghị và không thay đổi hay bổ sung gì thêm Có thể minh họa

mô hình giao kết hợp đồng hai giai đoạn bằng một ví dụ như sau:

Cô Duyên muốn mua trứng ở quầy hàng của cô Dương trong chợ Cô Duyên đến hàng cô Dương hỏi: “Bán cho em chục trứng” Có thể coi đây như là một lời mời giao kết hợp đồng (invitation to treat), cô Duyên chỉ mới đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng mua bán tài sản cho cô Dương (bán 10 quả trứng) mà chưa xác định được giá

cụ thể

6 Theo điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 về Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

1 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp

có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên

Trang 21

21

Cô Dương trả lời: “35.000 đồng một chục” Đây được coi như một đề nghị (offer) Theo nội dung trao đổi giữa các bên, và theo tập quán, thói quen giao dịch dân sự, thì có thể hiểu nội dung của đề nghị này là: Cô Dương đề nghị bán cho cô Duyên 10 quả trứng với giá 35.000 đồng, giao hàng ngay lập tức sau khi người mua thanh toán tiền Cô Dương là bên đề nghị và cô Duyên là bên được đề nghị

Cô Duyên lại trả lời: “Đắt thế, chỉ 30.000 đồng thôi” Đây được coi như một đề nghị mới: Cô Duyên đề nghị cô Dương bán 10 quả trứng với giá 30.000 đồng, giao hàng ngay lập tức sau khi người mua thanh toán tiền

Lúc này, cô Dương lại là bên được đề nghị, trong khi cô Duyên là bên đề nghị Nếu cô Dương chấp nhận thì khi đó hợp đồng mua bán tài sản là 10 quả trứng sẽ được giao kết, và có hiệu lực ngay từ thời điểm cô Dương chấp nhận Hình thức chấp nhận có thể bằng lời nói (ví dụ như “thôi được rồi, bán rẻ cho cô đấy”) hoặc bằng hành động (gật đầu, đưa trứng cho cô Duyên)

Ví dụ trên đây cho ta những hình dung cơ bản nhất về giao kết hợp đồng Và thông thường, về mặt nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm hợp đồng được giao kết Đến lượt mình, thời điểm hợp đồng được giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết

Về lí thuyết là vậy, nhưng trên thực tế thì các hình thức biểu hiện của sự chấp nhận giao kết lại muôn hình vạn trạng Vì vậy, nhà làm luật đã dự liệu và xác định các nguyên tắc về thời điểm giao kết hợp đồng trong điều 400 BLDS 2015

Trường hợp im lặng cũng là đồng ý giao kết hợp đồng

Khoản 2 điều 400 BLDS 2015 quy định: Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó Quy định này chủ yếu điều chỉnh những trường hợp giữa các bên trong hợp đồng đã có quan

hệ làm ăn lâu dài, đã có những quy ước, thông lệ, thói quen thương mại, v.v… trong

Trang 22

là các pháp nhân, nên những hình thức biểu hiện của sự im lặng này là rất đa dạng Trường hợp giao kết hợp đồng bằng lời nói

Theo khoản 3 điều 400 BLDS 2015: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói

là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng Tuy nhiên, như thế nào

là “nội dung của hợp đồng” thì lại chưa được quy định pháp luật làm rõ

Theo điều 398 BLDS 2015: Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:

- Đối tượng của hợp đồng;

- Số lượng, chất lượng;

- Giá, phương thức thanh toán;

- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

- Quyền, nghĩa vụ của các bên;

- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

- Phương thức giải quyết tranh chấp

Tuy nhiên, trên thực tế, các bên trong hợp đồng có thể không thỏa thuận đầy đủ các nội dung của hợp đồng, nhưng pháp luật dân sự (cụ thể là BLDS và các luật có liên quan) sẽ bổ khuyết vào những chỗ không đầy đủ đó Lấy ví dụ: Khoản 2, điều

433 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không

rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng” Như vậy, kể cả khi các bên không có thỏa thuận về những vấn đề cơ

Trang 23

Trường hợp giao kết hợp đồng bằng văn bản

Theo khoản 4 điều 400 BLDS 2015: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản

là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

Cần lưu ý: Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được cũng coi là giao dịch bằng văn bản (theo khoản 1 điều 119 BLDS 2015) Nếu hợp đồng được giao kết bằng thư tín, điện tín thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận hợp lệ từ bên được đề nghị

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều điều 400, nghĩa

là theo nguyên tắc: Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên

đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản, tức là một hợp đồng được xác lập bằng nhiều hình thức khác nhau, thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng (theo hợp đồng bằng lời nói) Đây là quy định mới so với BLDS 2005, quy định bổ sung này nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giao kết hợp đồng Thực tiễn xét xử tại Tòa án đã từng gặp phải trường hợp các bên sử dụng nhiều hình thức, phương thức khác nhau để giao kết một hợp đồng, khi xảy ra tranh chấp Tòa án rất

Trang 24

ty PS Tuy nhiên, trước đó, vào thời điểm 10 giờ, xe ô tô chở nước giải khát bị tai nạn, toàn bộ số nước giải khát bị hư hỏng

Sau đó Công ty PS khởi kiện yêu cầu Công ty bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, vì cho rằng hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết từ 8 giờ sáng; ngược lại Công ty bảo hiểm lại cho rằng hợp đồng bảo hiểm được giao kết lúc 11 giờ 30 phút, nên thời điểm ô tô bị tai nạn hợp đồng bảo hiểm chưa được giao kết, nên không phát sinh nghĩa vụ bảo hiểm

Với nội dung tranh chấp này, nếu theo quy định của BLDS năm 2005 sẽ rất khó

để xác định hợp đồng bảo hiểm được giao kết vào thời điểm nào, nhưng với BLDS

2015 thì vấn đề xác định thời điểm giao kết của hợp đồng này không còn khó khăn, trong trường hợp này phải theo quy định về thời điểm giao kết của hợp đồng bằng lời nói, tức là vào lúc 8 giờ sáng và như vậy đồng nghĩa với việc Công ty bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm (đoạn 2 khoản 4, Điều 400 BLDS)7

7 Phạm Văn Lợi, Một số vấn đề về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS hiện hành, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử

Trang 25

25

Tuy nhiên, cần lưu ý: Có những trường hợp pháp luật có quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng, như phải lập thành văn bản, phải hoàn thành thủ tục công chứng, chứng thực, đăng kí Khi đó, hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đã thỏa mãn những điều kiện về hình thức của hợp đồng

2.2 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định theo thỏa thuận Mặc dù thiết lập nguyên tắc cơ bản “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết hợp đồng”, nhưng điều 401 BLDS 2015 vẫn dành không gian cho sự thỏa thuận của các bên (miễn là sự thỏa thuận đó không trái với các quy định pháp luật có liên quan)

Xuất phát từ một trong các nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của chế định hợp đồng là “Tự do thỏa thuận”, nên pháp luật dân sự cho phép các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận về một thời điểm có hiệu lực hợp đồng: Thời điểm đó có thể là một mốc thời gian xác định (ví dụ: hợp đồng có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày kí), hoặc khi một điều kiện

cụ thể xảy ra (ví dụ: hợp đồng có hiệu lực khi một sự kiện xảy ra trong tương lai) Tuy nhiên, sự thỏa thuận đó không được trái luật hoặc trái với bản chất của hợp đồng Ví dụ: Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính Do vậy, trường hợp này các bên không thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trước thời điểm đăng ký được

Cần lưu ý: Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo thỏa thuận chỉ có thể diễn

ra sau thời điểm hợp đồng được giao kết, chứ không thể xảy ra trước khi hợp đồng được giao kết Bởi lẽ: Nếu chưa có hợp đồng, hợp đồng chưa hình thành, thì không thể phát sinh hiệu lực của hợp đồng được, như vậy là trái với bản chất của hợp đồng

Trang 26

Vì vậy, các bên hoàn toàn có quyền tự thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, mà không nhất thiết phải là thời điểm giao kết hợp đồng

2.3 Thời điểm có hiệu lực là thời điểm do luật liên quan quy định

Trong một số trường hợp, vì nhiều lí do khác nhau, mà pháp luật quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mà không phải là thời điểm giao kết hợp đồng Lí do của các quy định này chủ yếu nhằm đảm bảo trật tự công, để phục vụ quản lý nhà nước, để bảo vệ bên thứ ba ngay tình, hoặc để bảo vệ bên yếu thế Đối với những giao dịch có giá trị lớn, giao dịch có nội dung phức tạp, có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba, thì việc pháp luật quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

là rất cần thiết

Cần lưu ý: Theo quy định của BLDS 2015, những trường hợp thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phải do luật quy định, nghĩa là phải được ghi nhận ở văn bản luật

do Quốc hội ban hành

Tùy trường hợp cụ thể, nhà làm luật có thể ấn định một thời điểm, một sự kiện

cụ thể để hợp đồng có hiệu lực, hoặc nêu ra một điều kiện cụ thể để hợp đồng có hiệu lực

Lấy ví dụ: Theo điều 458 BLDS 2015 về hợp đồng tặng cho động sản, thì hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Trang 27

Tuy nhiên, với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu, thì BLDS lại quy định hợp đồng tặng cho sẽ có hiệu lực từ thời điểm đăng ký

Rõ ràng, quy định như trên là hợp lí, bởi lẽ: Với các động sản không phải đăng

kí quyền sở hữu (ví dụ như một chiếc đồng hồ, một chiếc radio, hay máy ảnh) thì việc tặng cho tài sản cần ưu tiên sự nhanh gọn; khi giao nhận tài sản xong là hợp đồng sẽ có hiệu lực Tuy nhiên, với những động sản phải đăng ký quyền sở hữu (ví

dụ tiêu biểu là các phương tiện giao thông đường bộ), thì việc chuyển nhượng quyền

sở hữu tài sản có thể kéo theo sự thay đổi trong quản lý nhà nước, cũng như trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan Vì vậy, chỉ khi hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng tặng cho mới có hiệu lực

Nghiên cứu các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng do luật quy định, có thể thấy rằng một phần lớn các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực do luật định là những điều kiện về hình thức của giao dịch Như đã phân tích ở trên, đó là những hợp đồng trọng thức, khi yếu tố hình thức của hợp đồng quyết định hiệu lực của hợp đồng:

Theo Điều 119 BLDS 2015:

“Điều 119 Hình thức giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành

vi cụ thể

Trang 28

28

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản

có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”

Như vậy, có thể hiểu rằng, theo quy định của pháp luật, thì một số hợp đồng sẽ phải tuân thủ những điều kiện về hình thức thì mới có hiệu lực Những điều kiện về hình thức đó bao gồm:

(i) hợp đồng phải được lập thành văn bản;

(ii) hợp đồng phải được công chứng, chứng thực;

(iii) hợp đồng phải được đăng kí

2.3.1 Trường hợp hợp đồng phải được lập thành văn bản

Đối với những hợp đồng mà pháp luật yêu cầu hình thức phải được lập thành văn bản, thì việc giao kết hợp đồng bằng lời nói sẽ không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng

Pháp luật hiện hành có nhiều quy định theo hướng hợp đồng phải được lập thành văn bản như: Hợp đồng mua trả chậm, trả dần (khoản 2, điều 453 BLDS 2015), hợp đồng hợp tác (khoản 2, điều 504 BLDS 2015), v.v …

Đến đây phát sinh một câu hỏi về mặt lý luận: Trong trường hợp luật yêu cầu hợp đồng phải được thành lập bằng văn bản, thì điều đó là để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng hay việc lập thành văn bản này là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực? Nói cách khác, nếu hợp đồng mà luật định phải lập thành văn bản, nhưng lại không tuân thủ về hình thức, thì liệu hợp đồng đó có hiệu lực hay không?

Khoản 2, điều 119 BLDS 2015 về hình thức của giao dịch dân sự quy định:

“Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó” Điều luật này yêu

Trang 29

29

cầu các bên trong giao dịch dân sự là “phải tuân theo” khi pháp luật có quy định về hình thức của hợp đồng, trong đó có hình thức hợp đồng được lập thành văn bản nhưng không cần phải công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép

Trước đây, khoản 2 điều 401 BLDS 2005 (cũ) quy định: “Hợp đồng không bị

vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Như vậy, hình thức hợp đồng phải lập thành văn bản (mà không phải công chứng, chứng thực, đăng ký có được xem là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực không hay chỉ là mang giá trị chứng minh cho sự tồn tại của hợp đồng? Điều này, pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng nên đã dẫn đến nhiều bất cập như việc một số Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng

Ví dụ: Vào tháng 10/2008 ông Hải và bà Cúc có thương lượng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 4.750.000.000 đồng Hai bên thỏa thuận ông Hải đặt cọc cho bà Cúc 1.000.000.000 đồng, nhưng do khi đó ông Hải ở TP Hồ Chí Minh còn

bà Cúc ở Phú Quốc nên hai bên chưa lập hợp đồng đặt cọc bằng văn bản Thực tế thì ông Hải đã chuyển tiền đặt cọc 200 triệu đồng vào tài khoản của bà Cúc

Theo bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh số 1023/2011/DS-PT ngày 24/08/2011: “Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 358 BLDS năm 2005 thì việc đặt cọc phải được lập thành văn bản Xét việc đặt cọc sang nhượng đất giữa bà Cúc, ông Hải đã không tuân thủ theo quy định của pháp luật, hai bên chưa xác lập quyền sử dụng đất nên quyền và nghĩa vụ của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc chưa phát sinh Tòa án nhân dân Quận 3 áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự để giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ Do giao dịch dân sự này là vô hiệu, vì vậy án sơ thẩm đã xử buộc bà Cúc phải hoàn trả cho ông Hải 200.000.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.”

Ngày đăng: 02/07/2023, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Các Mác: Tư bản, quyển 1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, năm 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, quyển 1
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1973
24. Đinh Văn Thanh & Phạm Công Lạc (1999). Thuật ngữ Luật Dân sự, trong bộ Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb. CAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Luật Dân sự
Tác giả: Đinh Văn Thanh, Phạm Công Lạc
Nhà XB: Nxb. CAND
Năm: 1999
26. Đỗ Văn Đại (2010). Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luật án, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luật án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2010
29. Lê Đình Nghị (2019). Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Lê Đình Nghị
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2019
30. Ngô Huy Cương (2008). Khái niệm hiệu lực của nghĩa vụ và vấn đề thực hiện nghĩa vụ, Nxb Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm hiệu lực của nghĩa vụ và vấn đề thực hiện nghĩa vụ
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2008
31. Nguyễn Thùy Dương (1997). Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật dân sự, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật dân sự
Tác giả: Nguyễn Thùy Dương
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
32. Trường Đại Học Luật Hà Nội (2018). Giáo trình Luật Dân Sự Việt Nam, Nxb Công An Nhân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân Sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại Học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công An Nhân Dân
Năm: 2018
33. Huỳnh Minh Khánh, Trang Thông tin pháp luật Dân sự: Đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, có quyền rút hồ sơ không Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang Thông tin pháp luật Dân sự: Đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, có quyền rút hồ sơ không
Tác giả: Huỳnh Minh Khánh
22. Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 26/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w