1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng Kiến-2023-Phuong Phap Dạy Viet Dung Viet Dep Cho Học Sinh Lớp 1-Dat - Copy.doc

26 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng Kiến-2023-Phuong Phap Dạy Viet Dung Viet Dep Cho Học Sinh Lớp 1-Dat - Copy
Tác giả Cao Thị Phương Thương
Trường học Trường Tiểu học An Khê, Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Giải pháp
Năm xuất bản 2020-2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 15,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy chữ viết ghi âm cho học sinh lớp 1 MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP, VIẾT SÁNG KIẾN HOÀN THIỆN 1 Người viết sáng kiến Cao Thị Phương Thương, giáo viên trường Tiểu học An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng[.]

Trang 1

MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP, VIẾT SÁNG KIẾN HOÀN THIỆN

1 Người viết sáng kiến

Cao Thị Phương Thương, giáo viên trường Tiểu học An Khê, quận ThanhKhê, thành phố Đà Nẵng

2 Lĩnh vực áp dụng giải pháp

Lĩnh vực áp dụng: Tiếng Việt

3 Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, thời gian

áp dụng giải pháp, tiến trình thực hiện các giải pháp

Áp dụng từ 21 tháng 9 năm 2020 đến tháng 01 năm 2021

4 Tình trạng của giải pháp đã biết

Như chúng ta đã biết, kĩ năng viết là một trong 4 kĩ năng nghe nói đọc viết

và đây là giải pháp mới để rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 Chương trình giáodục phổ thông 2018 đã chỉ rõ rằng tầm quan trọng của môn Tiếng Việt ở chỗ nóchiếm 420 tiết/năm học và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất trong 9 mônhọc ở lớp 1 Ở lớp 1, các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe, nói, đọc, viết.Chữ viết là công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện để ghichép và tiếp nhận các tri thức văn hoá, khoa học và đời sống Đối với học sinhtiểu học, việc rèn cho các em “viết đúng, viết đẹp” là một vấn đề rất quan trọng.Ngoài ra, việc rèn chữ viết sẽ rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như:tính cẩn thận, kiên trì, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ; sự bền bỉ, tự giác, độc lập ýthức vượt qua khó khăn, tính cẩn thận, yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm ýthức tự trọng và thái độ tôn trọng người khác (thể hiện qua chữ viết) Đặc biệt là

lòng tự hào về chữ mẹ đẻ Với phương châm: “Nét chữ nết người”, tuy nhiên ở

lớp 1 các em học viết là khó nhất Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải chú ý đến từngđối tượng, tác động trực tiếp đến từng học sinh trong lớp theo tinh thần dạy họctheo hướng phát triển người học

Lâu nay, nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở góp nhiều công sức cải tiếnphương pháp dạy tập viết nhưng việc thực hiện không hề dễ dàng Bởi vì, họcsinh vẫn viết sai, viết xấu do viết thiếu nét, thừa nét, sai chính tả, trình bày bàibẩn, nhiều chữ không đọc được, tốc độ viết chậm, … điều này ảnh hưởng không

Trang 2

nhỏ đến chất lượng học tập nói chung Vì vậy, tôi đã nghiên cứu và tìm ra giảipháp mới để rèn chữ viết hiệu quả cho học sinh

5 Mô tả giải pháp

5.1 Thực trạng trước khi áp dụng giải pháp

a/ Khó khăn, vướng mắc trong thực tế:

Qua kinh nghiệm của bản thân đã dạy lớp 1 nhiều năm, trong năm học 2022– 2023 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 1/1 với số lượng học sinh là 36 em.Thực tế khi dạy học viết ở lớp 1, các em vừa mới từ mầm non lên còn rất nonnớt, bước đầu làm quen với hoạt động học nói chung và viết chữ nói riêng đòihỏi các em phải cố gắng rất nhiều Thực tế, kỹ năng viết chữ của các em còn rấtnhiều hạn chế, chưa có kĩ năng cầm bút, tư thế ngồi chưa đúng, …Đầu năm học

đa số các em thường hiếu động, thiếu kiên trì nên khi viết bài các em thường haymắc một số lỗi cơ bản như: Chữ viết sai về độ cao, độ rộng (cao hơn hoặc thấphơn qui định, to hoặc nhỏ quá, không cân đối Chữ viết chưa đúng khoảng cáchgiữa các chữ và con chữ Chữ viết không ngay ngắn (các chữ hoặc nét chữthường nghiêng ngả hoặc nguệch ngoạc), chưa đúng điểm đặt bút, dừng bút, vởbẩn Cụ thể như sau:

Trang 3

rèn chữ viết, không cần quan tâm đến chữ viết đẹp hay xấu Tôi quan sát thấyhầu như những em không chú ý nghe giảng, muốn viết nhanh để hoàn thành bàiviết nhằm ghi “thành tích” với giáo viên và các bạn thì thường không cẩn thậnkhi viết Chính vì lí do đó mà các em viết chữ nguệch ngoạc chưa đúng, chưađẹp

b/ Vấn đề cần giải quyết:

Với kinh nghiệm của bản thân và trao đổi với các đồng nghiệp tôi thấy: Đểlàm tốt được công tác dạy học, đặc biệt là rèn luyện cho học sinh lớp 1 biết viết,viết đúng, viết đẹp là điều mà không phải người giáo viên nào cũng làm tốtđược Tôi đã rất băn khoăn làm sao để giúp các em tiến bộ hơn mỗi ngày, đápứng yêu cầu cần đạt của môn học và chương trình hiện tại, đáp ứng được chấtlượng chỉ đạo chung của nhà trường Tôi đã nghiên cứu và thực hiện đề tài

“Một số biện pháp rèn viết đúng viết đẹp cho học sinh lớp 1/1 trường tiểu học

An Khê”

5.2 Mục đích của giải pháp

Mục đích của giải pháp là đưa ra các biện pháp giúp học sinh viết đúng về

độ cao, độ rộng; khoảng cách giữa các chữ và con chữ, vị trí đặt dấu thanh, điểm

đặt và dừng bút Hơn thế nữa, rèn cho học sinh viết đẹp, có hứng thú khi viết

bài

5.3 Nội dung của giải pháp

5.3.1 Tìm hiểu đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh lớp 1

Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi Lứa tuổi này tư duy đangphát triển, nhận thức của các em còn nặng về nhận thức cảm tính, nhất là đối vớihọc sinh lớp 1, các em dễ có ấn tượng sâu sắc với các hình ảnh trực quan, có sắcthái cảm xúc Các em hay bắt chước và làm theo người lớn Vì thế các hoạt độnglàm mẫu, các gương người tốt việc thực đều có tác dụng giáo dục rất lớn đối vớicác em

Đối với lứa tuổi học sinh lớp 1 thì khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý cònhạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định (chú ý tự do) chiếm ưu thế hơnchú ý có chủ định Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ

Trang 4

bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Tri giáccủa các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, trigiác thường gắn liền với hình ảnh trực quan Khả năng tưởng tượng của học sinhlớp 1 đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển

và vốn kinh nghiệm ngày càng nhiều Tuy nhiên, khả năng tưởng tượng của các

em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Đặc biệt đây là năm đầutiên của đời học sinh nên trẻ rất bỡ ngỡ với việc chuyển hoạt động chủ đạo từchơi sang hoạt động học tập, tâm lý của các em rất dễ bị tác động do các yêu cầu

và nội quy của tiết học

5.3.2 Tầm quan trọng của việc dạy viết chữ trong sự hình thành nhân cách, phát triển tư duy và nhận thức của học sinh:

Việc rèn luyện các kỹ năng giải mã lớp 1 (như kỹ năng xem xét, nhận diệncác âm, vần tạo thành từ ngữ; kỹ năng nhận diện sự tương hợp giữa âm thanh vàchữ viết; kỹ năng đánh vần; kỹ năng đọc trơn….) nhằm bước đầu hình thành chohọc sinh khả năng nhận diện từ ngữ Nhận diện từ ngữ là hành động liên kết mặtchữ viết của một từ hay ngữ trong văn bản viết với nghĩa của nó Nhận diện từ làđiểm then chốt, quan trọng nhất của quá trình lĩnh hội năng lực đọc viết Các kỹnăng đọc cao cấp như hiểu, tư duy có cơ sở, phát triển vốn từ, đọc có mục đíchhay đọc giải trí và viết sau này đều cần phải dựa vào khả năng nhận diện từ.Trước khi có thể đạt đến trình độ đọc tự lực để mở rộng kiến thức, phát triển trítuệ, mỗi học sinh với tư cách là một người đọc nhất thiết phải nhận diện được từngữ, nghĩa là, các em muốn đọc được phải nhận diện mặt chữ viết của từ ngữkhi đọc và hình dung ra mặt chữ viết của các tiếng khi nghe rồi liên kết chữ viếtvới nghĩa của các từ ngữ ấy

Dạy viết chữ ghi âm cho học sinh lớp 1 ở đây thực chất là dạy viết đúngtiếng mẹ đẻ Đó là thuận lợi cơ bản của học sinh Ở lớp 1, việc dạy tập viết đượcphối hợp nhịp nhàng với dạy học âm Học sinh được luyện viết chữ ghi âm dướihai hình thức là chủ yếu: Luyện viết chữ ghi âm theo bài học và tập viết theoyêu cầu kỹ thuật trong các giờ tập viết, luyện viết thêm ở các giờ Tiếng Việttăng cường Trên cơ sở đó, người giáo viên phải có trách nhiệm dạy cho học

Trang 5

sinh tiếp thu mẫu chữ, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo trong tập viết Từ đó, giáoviên phải chú ý đến từng đối tượng, tác động trực tiếp đến từng học sinh tronglớp theo tinh thần dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, “Trẻ em là đối tượngchủ yếu của quá trình dạy và học nhà trường tồn tại là vì trẻ em Vì vậy trẻ emphải đặt vào vị trí trung tâm của giáo dục dạy học” (Theo Phạm Bá Hoành -Viện khoa học GD)

Trên nguyên tắc đó, phương pháp dạy học mới là dạy học tổ chức cho họcsinh hoạt động: Học theo lớp, học theo nhóm (tổ), tự học cá nhân Từ đó sẽ pháthuy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và phấn đấu vươn lên của từng cánhân Tiếp thu những lý luận trên tôi đã từng bước vận dụng và dạy viết chữ ghi

âm cho học sinh lớp tôi theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học theochương trình GDPT 2018

5.3.3 Các biện pháp và thực hiện:

Biện pháp 1: Sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh hợp lí

Đối với học sinh lớp 1 thì vị trí ngồi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kếtquả học tập của học sinh

Vị trí bàn 1 và bàn 2 dành cho những em mắt kém, nhỏ, tiếp thu chậm,chưa biết viết ngồi trên, những em cao ngồi dưới Tôi chú ý xếp xen kẽ những

em hiếu động ngồi kèm bên em hiền lành ít nói để các em nhắc nhở nhau chú ýnghe giảng Như vậy, giáo viên sẽ dễ theo dõi kèm cặp các em hàng ngày

Biện pháp 2: Các điều kiện, kĩ năng cơ bản khi rèn viết

a) Những điều kiện vật chất

Một nhân tố không thể thiếu được khi dạy tập viết cho học sinh là sự chuẩn

bị về phòng học, bàn ghế, bảng lớp cùng với bảng con, bút, vở…

* Phòng học

Nhân tố quan trọng đầu tiên là phòng học đúng quy định, có hệ thống cửa

sổ thoáng mát, đủ ánh sáng Được sự quan tâm của nhà trường lớp trang bị đầy

đủ bóng điện và quạt trong lớp để phục vụ cho việc dạy và học trong nhữngngày trời mưa, trời tôi không có ánh sáng mặt trời các em có đủ ánh sáng để học

Trang 6

tập và viết bài, các em không bị nóng bức chảy mồ hôi làm ướt vở trong nhữngngày hè.

* Bàn ghế học sinh

Bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 1 tạo điều kiện thuận lợi chohọc sinh ngồi học, ngồi viết tốt

* Bảng lớp

Bảng lớp là phương tiện rất cần thiết đối với giáo viên Việc trình bày bảng

là bài mẫu cho học sinh học tập và noi theo Bảng lớp là bảng từ có nhữngđường kẻ ô vuông chuẩn sẽ giúp cho giáo viên trình bày bài viết trên bảng lớpđược đúng đẹp và học sinh dễ dàng quan sát

* Bảng con của học sinh

Trong lớp tôi yêu cầu thống nhất 1 loại bảng nhựa cùng kích thước và loạibảng 4 ô li Hồng Hà

Dùng khăn ẩm giặt sạch, để lau bảng

* Phấn viết: tôi yêu cầu học sinh dùng phấn trắng, mềm

b) Rèn tư thế ngồi viết - cách cầm bút

Hoạt động viết thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào tư thế và cách cầm bút.Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư thếngồi viết đúng: Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vởkhoảng 25 đến 30cm Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàngmép vở để giữ vở

Trang 7

Cầm bút bằng 3 ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tayphải Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải

cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái

Việc giúp học sinh ngồi viết đùng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các emviết đúng và viết nhanh được

Khi học sinh chuyển viết bút mực, giáo viên thường xuyên nhắc nhở để các

Trang 8

của Tiếng Việt Luyện viết các nét cơ bản sau đó vận dụng các nét cơ bản để dạy chữ ghi âm

Để giúp các em viết đúng được các nét cơ bản, đầu tiên tôi dạy các em cácđường kẻ ngang, đường kẻ dọc, ô li nhỏ và ô li lớn trong bảng con cũng như vở

ô li Giải thích dòng kẻ li (dòng li) được tạo bởi 2 đường kẻ ngang, ví dụ đường

kẻ ngang 1 và 2 tạo thành dòng li 2 Bằng cách kẻ mô phỏng ô li trên bảng tohơn ô li bình thường để cả lớp cùng quan sát

Biện pháp 4: Rèn viết nét cơ bản và thực hành viết chữ

a) Luyện viết các nét cơ bản:

Khi học sinh đã biết được tên gọi của các nét cơ bản, tôi tiến hành hướngdẫn cho học sinh luyện viết từng nét thật cứng cáp rõ ràng và quen tay (vì cácchữ viết sau này đều do các nét cơ bản tạo thành)

Cụ thể là:

* Nhóm 1: Nét sổ * Nhóm 2: Nét móc * Nhóm 3: Nét cong

- Nét ngang - Nét móc xuôi - Nét cong hở trái

- Nét sổ - Nét móc ngược - Nét cong hở phải

- Nét xiên trái - Nét móc hai đầu - Nét cong kín

- Nét xiên phải

* Nhóm 4: Nét khuyết * Nhóm 5: Nét thắt

- Nét khuyết trên - Nét thắt trên (r, s, b, v)

Trang 9

- Nét khuyết dưới - Nét thắt giữa (k)

Ví dụ: Hướng dẫn viết nét móc ngược

Khi giới thiệu nét móc tôi phải có chữ mẫu trên khung dòng kẻ li để họcsinh qua sát và tôi hỏi:

Nét móc ngược cao mấy dòng kẻ li? Điểm đặt phấn và điểm dừng ở vị trínào trên dòng kẻ? Học sinh trả lời, tôi kết hợp vừa viết vừa giải thích: khi viếtnét móc ngược, điểm đặt phấn xuất phát từ đường kẻ ngang 3 rê phấn xuống 2dòng li, chạm dòng li dưới hất móc sang phải điểm dừng phấn ở đường kẻ ngang

2 ta viết được nét móc hoàn chỉnh Mỗi nét móc được viết cách nhau một ôvuông trong bảng Cứ như vậy tôi hướng dẫn cho học sinh rèn luyện viết hết cácnét cho thật đúng, đẹp Khi học sinh đã viết quen tay, đúng nét tôi hướng dẫncho học sinh nhận dòng kẻ trong vở và viết theo mầu từng dòng

Trong khi học sinh thực hành viết, tôi nhắc các em cách ngồi viết đúng tưthế, cầm phấn, bút đặt bảng (hoặc vở) sao cho đúng những việc làm này tưởngnhư rất đơn giản song lại là viếc hết sức quan trọng và cần thiết đối với học sinhlớp 1

Trang 10

Nếu cùng một lúc đòi hỏi học sinh viết đúng và đẹp ngay là điều rất khóthực hiện, mặt khác căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viếtcác chữ cái để học sinh viết đúng kĩ thuật ngay từ đầu tôi chia nhóm chữ và xácđịnh chữ trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ học sinh hay sai chỗ nào, họcsinh gặp khó khăn gì khi viết các chữ ở nhóm đó Cụ thể tôi chia như sau:+ Nhóm 1: Gồm các chữ m, n, i, u, ư, v, r, t, s, p

Với nhóm chữ này học sinh hay mắc lỗi viết chưa đúng nét nối giữa cácnét, nét móc thường bị đổ nghiêng, khi hất lên thường choãi chân ra nên khôngđúng Để khắc phục nhược điểm trên, ngay từ nét bút đầu tiên tôi đặt trọng tâmrèn luyện học sinh viết nét móc ngược, móc 2 đầu thật đúng, thật ngay ngắntrước khi ghép các nét tạo thành chữ Khi ghép chữ tôi luôn chú ý minh họa rõnét điểm đặt bút, điểm dừng bút của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp

Từ các nét cơ bản ở nhóm chữ thứ nhất được viết đúng kĩ thuật học sinh sẽ

có cơ sở viết chữ ở nhóm thứ 2 dễ hơn

+ Nhóm 2: gồm các chữ l, b, h, k, y

Ở nhóm chữ này học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét và chữ viếtcòn cong vẹo Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết tôiluôn cho học sinh xác định rõ ràng điểm giao nhau của nét khuyết bằng 1 dấuchấm nhỏ và rèn cho học sinh thói quen luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúngchấm rồi mới đưa bút lên tiếp thì mới viết đúng

Trang 11

Đối với học sinh lớp 1 để viết được nhóm chữ này thẳng, ngay ngắn thì cầnrèn cho học sinh biết viết nét sổ thật đúng, thật thẳng ở ngay các bài nét chữ cơbản khi nào thành thạo thì mới tiến hành viết nét khuyết.

+ Nhóm 3: Gồm các chữ o, ô, ơ, ă, â, d, đ, q, g

Với nhóm chữ này nhiều người cứ nghĩ là đơn giản nhưng thực tế hầu hếthọc sinh viết sai từ chữ o như chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữkhông đều đầu to, đầu bé

Vì vậy, ở nhóm chữ này tôi xác định cần dạy học sinh viết đúng chữ o đểlàm cơ sở cho viết đúng các chữ khác trong nhóm Vậy thì o viết thế nào chođúng? Điểm đặt bút từ đâu? Chiều ngang chiếm tỉ lệ bao nhiêu so với chiều cao?

Đó là việc làm rất khó để cho học sinh xác định được Vì vậy khi dạy chữ o tôithực hiện hướng dẫn độ cao độ rộng con chữ, cao 2 ô li, rộng 1 ô li rưỡi Tôithực hiện đánh dấu 4 điểm ở giữa các cạnh hình chữ nhật, dùng phấn màu chấmhình chữ o sau đó tô lên các dấu chấm, vừa tô vừa giảng kĩ, nhấn mạnh điểm đặtbút đầu tiên và điểm dừng bút của chữ o và điểm để nối các nét chữ khác khiviết nhanh Viết được chữ o đúng học sinh dễ dàng viết đúng các chữ cái kháctrong nhóm

b) Luyện viết âm (chữ cái theo bài học)

Phần này chủ yếu học sinh được luyện vào cuối tiết 1 (học Tiếng Việt)Thời gian được luyện viết rất ít nhưng rất quan trọng vì các em vừa được học

âm, nhận chữ ghi âm, đồng thời được luyện viết để khắc sâu chữ ghi âm họctrong ngày

Ví dụ: Khi dạy bài 15: n, m (sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1 trang 44 của bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống)

Sau khi học sinh đọc bài và nhận dạng được chữ n, m trong bài giáo viêntreo chữ mẫu hoặc giới thiệu chữ n, m trong khung dòng kẻ li cho học sinh quansát, giáo viên giới thiệu chữ n viết và hỏi: “chữ cái n” gồm mấy nét? Là nhữngnét nào? Học sinh trả lời: Giáo viên dùng que nhỏ chỉ theo và nhắc lại: chữ cái ngồm 2 nét, nét móc xuôi và nét móc hai đầu đều cao 2 dòng kẻ li Khi viết chữcái (n) điểm đặt bút, phấn và điểm kết thúc ở vị trí nào trên dòng kẻ?

Trang 12

Học sinh trả lời, Giáo viên kết hợp viết mẫu và giải thích: khi viết chữ cái nđiểm đặt phấn, bút từ giữa dòng li thứ 2 (từ dưới lên) viết nét móc xuôi dựa vàodòng kẻ dọc rê bút xuống, điểm dừng phấn, bút ở đường kẻ ngang thứ nhất, sau

đó rê phấn hoặc bút lên cao bằng nét móc xuôi để tạo nét móc hai đầu, điểmdừng của nét móc hai đầu ở đường kẻ 2 độ rộng từ nét móc xuôi sang nét móchai đầu là 1 ô li rưỡi ta được chữ n hoàn chỉnh Mỗi chữ cái n được viết cáchnhau 2 ô vuông trong bảng/ vở

Giáo viên cần lưu ý: khi viết mẫu nhất thiết phải để cho học sinh cả lớpđược quan sát thấy tay giáo viên viết Và giáo viên cần cho học sinh viết bóngnữa, có như vậy các em mới viết đúng, viết xuôi chiều, không viết ngược

Khi giáo viên hướng dẫn cách viết xong cho vài em nêu lại quy trình viết,

từ đó cả lớp cùng viết vào bảng con Luyện viết các chữ cái đều có sự liên kếtchữ trước với chữ sau như: đã viết đúng “con chữ n” thì viết sang “con chữ m”học sinh chỉ việc so sánh nhận ra điểm giống nhau (đều có các nét móc) nhưng

“con chữ n” chỉ có hai nét móc, còn “con chữ m” có ba nét móc nối liền nhau.Nét 1 là nét móc xuôi trái, nét 2 tiếp tục là nét móc xuôi trái nhưng độ rộng lớnhơn nét 1, nét 3 là nét móc hai đầu Giáo viên kết hợp viết mẫu cho các em quansát nhận diện quy trình và kỹ thuật viết và viết bóng Từ đó các em sẽ viết đượcchữ m dễ dàng

Khi dạy viết chữ l (bài 12 sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1 của bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống) giáo viên đưa chữ mẫu hướng dẫn học sinh nhận

biết độ cao, các nét và giáo viên hướng dẫn cách viết chữ l là nét viết kết hợpcủa hai nét cơ bản: Nét khuyết trên và nét móc ngược Đặt bút trên đường kẻ thứ

2 viết nét khuyết đầu chạm dòng kẻ li thứ năm đưa mềm thẳng xuống gần chạm

Trang 13

đường kẻ ngang 2 lượn mềm viết nét ngược rộng 1 ô li rưỡi điểm dừng ở đường

kẻ 2 Sau đó giáo viên viết mẫu đúng, đẹp, …

Ngoài dạy viết chữ cái ghi âm, tôi còn dạy cho học sinh viết liền mạch cácchữ để tạo thành tiếng, từ

c) Luyện viết chữ ghi tiếng, từ:

Khi dạy cho học sinh luyện viết chữ ghi tiếng, từ, giáo viên cần chú ý chohọc sinh nắm được cấu tạo chữ trong Tiếng Viết đúng độ cao, độ rộng của cácchữ, cách nối các chữ cái liền mạch và vị trí các dấu mũ, dấu phụ dấu thanh (ô,

ă, â, ê, i, ơ) các dấu này viết đúng vị trí không quá xa, cũng không gần quá hoặc

vị trí các dấu thanh đặt chúng trên đầu âm chính và xuôi chiều từ trên xuốnghoặc thanh nặng (.) cũng đặt dưới âm chính Có như vậy ngay từ ban đầu các em

sẽ viết đúng và đẹp

Ví dụ: Dạy viết chữ “bà’’ bài 2 trong sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1 trang 44của bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

Ngày đăng: 02/07/2023, 19:23

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w