1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận môn : quản lý công nghệ _ đề tài : việc thực hiện và thực trạng chuyển giao công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ ở việt nam hiện nay

20 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc thực hiện và thực trạng chuyển giao công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý công nghệ
Thể loại Bài thảo luận môn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 50,69 KB
File đính kèm bài thuyết trình pptx.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thảo luận môn quản lý công nghệ đề tài việc thực hiện và thực trạng chuyển giao công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ ở việt nam hiện này Bài thảo luận môn quản lý công nghệ đề tài việc thực hiện và thực trạng chuyển giao công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ ở việt nam hiện này

Trang 1

MỤC LỤC

I Tính cần thiết của việc thực hiện chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay 1

II Thực trạng chuyển giao công nghệ VN hiện nay 2

1 Môi trường chuyển giao công nghệ ở Việt Nam 2

a Khái niệm 2

b Môi trường chuyển giao công nghệ ở Việt Nam 2

2 Các hình thức chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay 11

3 Thực trạng áp dụng KHCN ở VN hiện nay 16

a Thực trạng công nghệ nước ta 16

b Áp dụng KHCN tại Việt Nam 18

III Đánh giá tác động của CGCN VN hiện nay 22

IV Giải pháp 26

Trang 2

I Tính cần thiết của việc thực hiện CGCN ở Việt Nam hiện nay

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại ngày càng phát triển với tốc độ như vũ bão, làm thay đổi một cách toàn diện và sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội Cùng với đó, các nước phát triển ngày càng bỏ xa phần còn lại, chính vì thế đòi hỏi các nước đang phát triển như Việt Nam phải có những chính sách để rút ngắn hay ít nhất phải duy trì khoảng cách với cách với các nước phát triển Bên cạnh việc tự tìm tòi nghiên cứu phát triển công nghệ riêng của mình trong hoàn cảnh nội lực về kinh tế, trình độ nhân lực còn thấp, với lợi thế của nước đi sau chúng ta có thể tận dụng quá trình chuyển giao công nghệ để phát triển nâng cao trình

độ công nghệ trong nước

Cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra ngày càng nhanh ở nước ta, thì việc chuyển giao công nghệ (CGCN) càng cần thiết hơn bao giờ hết Chuyển giao công nghệ sẽ đem lại những lợi ích như sau:

- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài kèm theo chuyển giao công nghệ

- Tiết kiệm được chi phí lớn về nghiên cứu và triển khai các công nghệ nội sinh

- Tiếp cận và sử dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại hơn những công nghệ đang có sẵn trong nước

- Khai thác và sử sụng hữu hiệu nguyên vật liệu trong nước

- Tạo công ăn việc làm cho người lao động có trình độ cao

- Thay thế nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ

Do đó, chúng ta cần có những đánh giá về việc chuyển giao công nghệ hiện nay của nước ta, để nắm rõ ưu nhược điểm của quá trình CGCN đang diễn ra, và có những giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, góp phần đẩy mạnh quá trình tăng trưởng của đất nước

Trang 3

II Thực trạng chuyển giao công nghệ Việt Nam hiện nay

1 trường chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

a Khái niệm

Môi trường chuyển giao công nghệ của một quốc gia là khung cảnh quốc gia, trong đó diễn ra các hoạt động chuyển giao công nghệ Nó bao gồm các yếu tố có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm quá trình chuyển giao, ứng dụng và phát triển công nghệ

b Môi trường chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

(1) Chính sách

Hệ thống tổ chức CGCN tại Việt Nam khá đa dạng, phong phú Hệ thống này gồm có: Các cơ quan quản lý nhà nước về CGCN; Các tổ chức KH&CN; Các doanh nghiệp KH&CN

- Các cơ quan quản lý nhà nước về CGCN tại Việt Nam hiện nay bao

gồm: Chính phủ, UBND các cấp Các cơ quan chuyên môn về CGCN gồm Bộ KH&CN, các Sở KH&CN, các Phòng kinh tế và cơ sở hạ tầng (trực thuộc UBND cấp huyện) Luật CGCN (số 80/2006/QH11 ngày 29.11.2006) quy định cụ thể trách nhiệm của các

cơ quan quản lý nhà nước về CGCN tại Chương V (Điều 51 đến 54); trong đó, Chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động CGCN

- Các tổ chức KH&CN tại Việt Nam bao gồm: Các tổ chức nghiên cứu

khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Các cơ sở giáo dục đại học; Các tổ chức dịch vụ KH&CN Các tổ chức KH&CN tại Việt Nam trong những năm trước đổi mới (1986), hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung của nhà nước Các tổ chức này thực sự phát triển, thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, bước đầu chuyển sang hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường kể

từ khi Nghị định 35 năm 1992 về công tác quản lý KH&CN do Hội đồng Bộ trưởng ban hành Năm 2005, 2006 Chính phủ ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5.9.2005, Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25.4.2006 nhằm thực hiện chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Theo Luật KH&CN

2013 (số 29/2013/QH13 ngày 18.6.2013), các tổ chức KH&CN nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam để hoạt động KH&CN, hoạt động

Trang 4

liên quan trực tiếp đến hoạt động KH&CN Các tổ chức KH&CN được đánh giá, xếp hạng nhằm xác định năng lực và hiệu quả hoạt động, phục vụ hoạt động hoạch định chính sách KH&CN, làm cơ sở xem xét việc tuyển chọn, xét giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KH&CN, và được hưởng các chính sách ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước, cho vay, tài trợ, bảo lãnh vốn vay của quỹ trong lĩnh vực KH&CN Đây là điểm mới tiến bộ của chính sách KH&CN Việt Nam đối với các tổ chức KH&CN trong giai đoạn hiện nay

- Doanh nghiệp KH&CN là một khái niệm mới xuất hiện trong thời gian gần đây

tại Việt Nam nhưng đang được đặc biệt khuyến khích phát triển Song song với các chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp KH&CN, Nhà nước đã chủ trương giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả R&D sử dụng ngân sách nhà nước nhằm làm cơ

sở để hình thành các doanh nghiệp KH&CN Vấn đề này, từng được đề cập từ năm

2006, gắn liền với sự ra đời Luật CGCN, Luật KH&CN 2013, nhưng nó chỉ thành hiện thực sau khi Bộ KH&CN ban hành Thông tư 15 quy định cụ thể trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả R&D sử dụng ngân sách nhà nước. 

Các chính sách về tổ chức CGCN mới được ban hành đã cung cấp môi trường thuận lợi cho các tổ chức CGCN hình thành và phát triển

(2) Cơ chế

Việc CGCN tại Việt Nam đang được thực hiện theo hai cơ chế: thị trường và phi thị trường Tuy nhiên cơ chế thị trường là hướng chủ đạo trong chính sách phát triển

- Chính sách CGCN theo cơ chế phi thị trường:

Cơ chế phi thị trường ở đây được hiểu là được cho, biếu tặng, tự do sử dụng, khai thác công nghệ một cách hợp lệ

Điển hình trong chính sách khuyến khích CGCN theo cơ chế phi thị trường là các văn bản liên quan đến chuyển giao sáng kiến Chính sách này được quy định cụ thể tại Nghị định 13 và Thông tư 18

Theo Nghị định 13: Sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (gọi chung là giải pháp) được cơ

Trang 5

sở công nhận là sáng kiến nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện: có tính mới trong phạm vi

cơ sở đó; đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở đó và có khả năng mang lại lợi ích thiết thực; không thuộc đối tượng loại trừ (giải pháp mà việc công bố, áp dụng trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội; là đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật tính đến thời điểm xét công nhận sáng

kiến) (Điều 3) Chính điều kiện đối tượng loại trừ “đối tượng đang bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” mới được công nhận là sáng kiến, quyết định cơ chế phi thị trường đối với việc CGCN của loại hình này Vì rất nhiều sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ, không có giá trị ứng dụng thực tiễn, và thực tiễn không thể triển khai áp dụng vì tính thương mại

và những lợi ích mang lại không cao Trong khi đó, điều kiện công nhận sáng kiến là

“phải được áp dụng hoặc áp dụng thử” và “phải mang lại lợi ích thiết thực” Rất nhiều sáng kiến sau khi được công nhận, có thể bảo hộ dưới hình thức văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế

Điểm khác biệt trong văn bản quy định về sáng kiến là tính mới trong phạm vi cơ

sở và có chế độ thù lao cho những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (tối thiểu 20% mức thù lao cho tác giả sáng kiến - Điều 10, Nghị định 13 Bên cạnh đó, Nhà nước chủ trương khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác các thông tin sáng chế từ các cơ sở dữ liệu sáng chế trong và ngoài nước hợp pháp để thực hiện đổi mới công nghệ thông qua Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10.5.2011, Kế hoạch KH&CN giai đoạn

2011-2015 theo Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25.7.2011 của Thủ tướng Chính phủ…

Chính sách CGCN theo cơ chế phi thị trường là những cơ hội tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam thực hiện đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực công nghệ,tạo sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. 

- Chính sách CGCN theo cơ chế thị trường:

Một trong những vấn đề đặt ra đối với thu hút CGCN từ nước ngoài vào trong nước liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) Từ những năm 80 của thế kỷ trước, nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về SHTT, như Điều lệ về

Trang 6

sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hóa sản xuất và sáng chế năm 1981; Pháp lệnh bảo

hộ sở hữu công nghiệp năm 1989; Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994…

Năm 2005, văn bản quy phạm pháp luật về SHTT được nâng lên thành luật Luật SHTT 2005 và Luật SHTT sửa đổi 2009 cũng như Bộ luật Dân sự 2005 đã mở rộng thêm đối tượng được bảo hộ, đáp ứng tương đối đầy đủ các đối tượng bảo hộ theo tiêu chuẩn tối thiểu của chuẩn mực quốc tế về SHTT Điều này giúp gia tăng các công nghệ tiên tiến có nguồn gốc từ các nước phát triển tham gia giao dịch trên thị trường Về cơ bản việc xác lập và bảo hộ độc quyền các đối tượng công nghệ của Việt Nam tương đối phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Hiện nay, nguồn đầu tư chủ yếu cho các hoạt động nghiên cứu tại Việt Nam là nhà nước, việc ban hành Thông tư 15 của Bộ KH&CN không chỉ có ý nghĩa đối với việc hình thành các tổ chức CGCN mà còn có ý nghĩa đối với thúc đẩy nguồn cung kết quả nghiên cứu để thực hiện đổi mới công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất kinh doanh Đây là điểm sáng nổi bật của chính sách CGCN của Việt Nam trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc gia phát triển đi trước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…

Thời gian qua, Luật KH&CN 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều chính sách mới khuyến khích, thu hút cá nhân tham gia hoạt động KH&CN, nhằm hình thành một kênh CGCN quan trọng tại Việt Nam Luật đã quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ, những lợi ích của cá nhân tham gia hoạt động KH&CN Bên cạnh đó, Nhà nước chủ trương đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển KH&CN; đổi mới

cơ chế thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN; hình thành các quỹ hỗ trợ đầu tư cho KH&CN; huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho KH&CN như Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, Quỹ phát triển KH&CN của các tổ chức và cá nhân thông qua các chính sách bắt buộc hoặc khuyến khích

Nhà nước chủ trương đầu tư, hỗ trợ và khuyến khích phát triển các tổ chức dịch

vụ KH&CN như các cơ sở ươm tạo công nghệ, tổ chức xúc tiến CGCN (sàn giao dịch

Trang 7

công nghệ, chợ công nghệ ) để phát triển nguồn cung công nghệ, phát triển các dịch

vụ KH&CN

(3) Hợp tác quốc tế:

Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ về hợp tác khoa học và công nghệ với gần 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ Hơn 80 hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ cấp chính phủ và cấp bộ đã được ký kết và đang thực hiện Việt Nam đang là thành viên của gần 100 tổ chức quốc tế và khu vực về khoa học và công nghệ Từ năm

2000 đến nay, có hơn 540 thỏa thuận, hợp đồng hợp tác quốc tế được thực hiện tại các

cơ sở nghiên cứu triển khai các cấp; hơn 400 nhiệm vụ nghiên cứu song phương giữa các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam với các tổ chức khoa học và công nghệ của các nước trên thế giới đã và đang được thực hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang tích cực triển khai thực hiện Đề án “Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020” được phê duyệt tại Quyết định số 735/QĐ-TTg, ngày 18-5-2011, của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và ban hành một số văn bản quy phạm liên quan, như Chương trình hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương về khoa học và công nghệ đến năm 2020, Chương trình tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam đến năm 2020, Chương trình Hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương về khoa học và công nghệ đến năm 2020, Chương trình Tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài đến năm 2020 Hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học

và công nghệ nói chung đã đạt được những kết quả quan trọng, nhiều hiệp định và thỏa thuận hợp tác liên chính phủ quan trọng được hoàn tất đàm phán và ký kết, như Hiệp định hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳ về sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (Hiệp định 123), đánh dấu bước tiến quan trọng về sự tin cậy trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, mở ra những triển vọng to lớn cho cả hai bên trong việc thúc đẩy những dự án hợp tác cụ thể về ứng dụng bức xạ cũng như phát triển điện hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Ngoài ra, còn có các hiệp định và thỏa thuận hợp tác khác được hai bên ký kết, như Hiệp định hợp tác giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về đối tác chiến lược trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ; Thỏa thuận về hợp tác công nghệ,

Trang 8

nghiên cứu và giáo dục giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Công nghệ I-ran; Biên bản thảo luận giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) về Dự án thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST); Hiệp định Dự án hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp (BIPP) với Vương quốc Bỉ và một số các văn bản hợp tác khác

2 Các hình thức chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay

+ Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiệp nước ngoài(FDI)

Phần lớn các nhà đầu tư đồng thời là bên chuyển giao công nghệ và đặc biệt phát triển dưới hình thức công ty mẹ chuyển giao công nghệ cho công ty con thông qua các dự án đầu tư 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Gắn liền với hoạt động FDI ở Việt Nam

Công nghệ được sử dụng để thực hiện dự án mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn dưới hình thức nào đó, ở mức độ nào đó

Loại I Thông q ua dự án 100% vốn nước ngoài

Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn vào nước sở tại Thực tế trong quá trình chuyển giao công nghệ bên nhận công nghệ không chỉ là doanh nghiệp mà còn là chính phủ nước sở tại

Nhược điểm của hình thức này là công ty mẹ có khả năng giữ bí mật công nghệ với công ty con Thổi phồng giá trị của công nghệ chuyển giao để tăng vốn đầu tư, tăng chi phí sản xuất một cách giả tạo và trốn thuế Sử dụng công nghệ như để gia tăng vị thế của công ty mẹ và tạo điều kiện cho công ty mẹ chiếm thêm được thị phần trên lãnh thổ, gây trở ngại cho các công ty con bản xứ còn non trẻ

Ưu điểm là quá trình thực hiện khá đơn giản về thủ tục Các nhà đầu tư hoàn toàn làm chủ dự án, do đó có thể đem công nghệ hiện đại nhất, tiến bộ nhất Nâng cao năng lực làm việc của lực lượng lao động bản xứ

Loại II Thông qua các dự án và doanh nghiệp liên doanh

Trang 9

Là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập ở nước sở tại trên cơ

sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước sở tại với Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp nước sở tại hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh

Vốn để thực hiện cuộc chuyển giao công nghệ chủ yếu là vốn đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài Do đó, quy mô phụ thuộc vào cơ hội đầu tư và môi trường đầu tư, hơn là phụ thuộc vào khả năng tài chính của các công ty, xí nghiệp nước sở tại

Ràng buộc bên giao công nghệ vào kết quả cuối cùng của dự án, khuyến khích việc tiếp tục cải tiến, đổi mới công nghệ

Bên cạnh kết quả tài chính thu được từ bản thân liên doanh, nước chủ nhà còn thu được nhiều mối lợi khác thông qua giá trị trình diễn của công nghệ nhằm nâng cao chuẩn mực quốc gia về công nghệ, học tập các yếu tố “văn minh công nghệ”…

Các công ty các nước sở tại sẽ học hỏi, nâng cao năng lực cung ứng các dịch

vụ nuôi dưỡng công nghệ tạo nên cơ sở hạ tầng công nghệ lành mạnh góp phần nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ

Các cơ quan quản lý nhà nước sở tại sẽ buộc phải tự mình nâng cao năng lực quản lý, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cải tiến lề lối làm việc… tạo ra “môi trường công nghệ” lành mạnh cho nền kinh tế quốc gia

Việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI thời gian vừa qua không

như mong muốn về cả số lượng lẫn chất lượng Thời gian vừa qua diễn ra tình trạng các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) không chuyển giao công nghệ sau thời hạn ký kết Thực trạng này không phải lỗi của các nhà đầu tư FDI mà cũng không phải lỗi của các doanh nghiệp Việt Nam Vấn đề rộng hơn nằm ở chính sách và môi trường thu hút FDI của chúng ta không được thiết kế để khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ

Ngoài ra, nếu nhìn ở nguồn FDI, rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến từ các nước trong khu vực, ở đó trình độ công nghệ không quá cao và không thể cạnh tranh

Trang 10

so với các nước phát triển Do đó, ngay cả khi các công nghệ này được chuyển giao thì trình độ công nghệ mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp nhận và học hỏi được cũng không phải là thứ chúng ta đặt kỳ vọng

Một số doanh nghiệp FDI quy mô lớn, tầm cỡ quốc tế, có trình độ công nghệ thuộc dạng hàng đầu thế giới cũng đã bắt đầu có mặt ở Việt Nam Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước của chúng ta đa phần là quy mô nhỏ, có tiềm lực tài chính yếu kém, không đủ khả năng tiếp cận công nghiệp hiện đại của thế giới, lại khó với tới các chuẩn mực cao để hợp tác được với các doanh nghiệp FDI có nền tảng công nghệ tiên tiến

Thêm nữa, một nguồn lực rất lớn lại được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng các doanh nghiệp này lại hiệu động kém hiệu quả, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực được nhà nước bảo hộ hoặc trao đặc quyền, trong khi không mấy doanh nghiệp có chiến lược vươn ra cạnh tranh toàn cầu, học hỏi, tiếp thu và chiếm lĩnh công nghệ thế giới Một số tập đoàn tư nhân có đủ nguồn lực để làm điều này thì cũng tự biến mình thành các doanh nghiệp thân hữu, tìm kiếm đặc quyền đặc lợi thay vì hướng đến mục tiêu sáng tạo và phát triển

+ Chuyển giao công nghệ theo hợp đồng”thuần túy”( không kèm đầu tư tài

chính bên giao)

Thực chất là hình thức mua bán một loại hàng hóa đặc biệt, đó là công nghệ Hai bên tham gia hoàn toàn độc lập nhau, không bị ràng buộc về tài chính Đây cũng là hình thức chuyển giao công nghệ điển hình và phổ biến nhất

Hai bên tham gia hoàn toàn độc lập với nhau , không bên nào kiểm soát , chi phối bên nào Vì vậy, bên nhận có nhiều thuận lợi để hoàn toàn làm chủ công nghệ được chuyển giao , phục vụ cho lợi ích lâu dài của mình

Bên nhận có vị thế tương đối thuận lợi để chủ động lựa chọn công nghệ chuyển giao, thương lượng về các điều khoản hợp đồng chuyển giao, đòi hỏi trách nhiệm theo quy định

Ngày đăng: 02/07/2023, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w